Luận văn đã hệ thống các quy định của LHS hiện hành về các tội phạm xâm phạm ATGT đường bộ, đường sắt và đối chiếu luật với thực tiễn xã hội cho thấy về cơ bản các quy định của pháp luật hiện hành đã bảo đảm là cơ sở pháp lý quan trọng để xử lý các tội phạm trong lĩnh vực này. Luận văn chỉ ra được những điểm bất cập của LHS hiện hành đã dẫn đến một số vụ vi phạm an toàn giao thông đường bộ gây hậu quả nghiêm trọng, rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng chưa được được xử lý hoặc xử lý không triệt để. Một số quy định trong các tội phạm cụ thể của BLHS chưa thực sự cụ thể, rõ ràng, còn mang nặng tính định tính mà chưa được định lượng, dẫn đến có sự khác biệt trong cách nhận diện bản chất của hành vi vi phạm. Vẫn còn có mâu thuẫn giữa các quy định của BLHS cũng như với một số văn bản pháp luật khác.
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
TRẦN THANH HẢI
CÁC TỘI XÂM PHẠM AN TOÀN GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ,
ĐƯỜNG SẮT THEO LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
(Trên cơ sở số liệu thực tiễn tại địa bàn thành phố Hải Phòng)
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2018
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
TRẦN THANH HẢI
CÁC TỘI XÂM PHẠM AN TOÀN GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ,
ĐƯỜNG SẮT THEO LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
(Trên cơ sở số liệu thực tiễn tại địa bàn thành phố Hải Phòng)
Chuyên ngành: Luật Hình sự và tố tụng hình sự
Mã số: 8380101.03
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Cán bộ hướng dẫn khoa học: PGS.TS TRỊNH QUỐC TOẢN
HÀ NỘI - 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN
Trần Thanh Hải
Trang 4AN TOÀN GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ, ĐƯỜNG SẮT 8 1.1 Khái niệm và đặc điểm của các tội xâm phạm an toàn giao
thông đường bộ, đường sắt 8
1.1.1 Khái niệm các tội xâm phạm an toàn giao thông đường bộ,
đường sắt 8 1.1.2 Các đặc điểm đặc trưng của các tội xâm phạm an toàn giao thông
đường bộ, đường sắt 10 1.1.3 Sự cần thiết quy định các tội xâm phạm an toàn giao thông
đường bộ, đường sắt trong Luật hình sự Việt Nam 17
1.2 Khái quát lịch sử phát triển của Luật hình sự Việt Nam về
các tội xâm phạm an toàn giao thông đường bộ, đường sắt 23
1.2.1 Giai đoạn từ Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến trước pháp
điển hóa lần thứ nhất - BLHS Việt Nam năm 1985 23 1.2.2 Giai đoạn từ khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1985 đến trước
khi pháp điển hóa lần thứ hai - Bộ luật hình sự năm 1999 31 1.2.3 Giai đoạn từ khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1999 đến khi
pháp điển hóa lần thứ ba - Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi năm 2017) 37
Trang 5Chương 2: NHỮNG QUY ĐỊNH VỀ CÁC TỘI XÂM PHẠM AN
TOÀN GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ, ĐƯỜNG SẮT TRONG
BỘ LUẬT HÌNH SỰ NĂM 2015 VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG 45 2.1 Những dấu hiệu pháp lý của các tội xâm phạm an toàn giao
thông đường bộ, đường sắt trong Bộ luật hình sự 2015 45
2.1.1 Những dấu hiệu pháp lý chung của các tội xâm phạm an toàn
giao thông đường bộ 45 2.1.2 Những dấu hiệu pháp lý đối với các tội xâm phạm an toàn giao
thông đường sắt 52 2.1.3 Hình phạt đối với các tội xâm phạm an toàn giao thông đường
bộ, đường sắt 56
2.2 Thực tiễn áp dụng những quy định về các tội xâm phạm an
toàn giao thông đường bộ, đường sắt trên địa bàn thành phố Hải Phòng 60
2.2.1 Tình hình chung về vi phạm trật tự an toàn giao thông đường bộ,
đường sắt thời gian gần đây trên địa bàn thành phố Hải phòng 60 2.2.2 Tình hình xét xử các tội vi phạm trật tự an toàn giao thông đường
bộ, đường sắt những năm gần đây tại Thành phố Hải Phòng 61 2.2.3 Đánh giá chung về những ưu điểm, thiếu sót, hạn chế trong áp
dụng các quy định về các tội xâm phạm an toàn giao thông đường bộ, đường sắt và nguyên nhân của nó 66
Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP TIẾP TỤC HOÀN THIỆN VÀ NÂNG
CAO HIỆU QUẢ ÁP DỤNG CÁC QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ NĂM 2015 VỀ CÁC TỘI XÂM PHẠM AN TOÀN GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ, ĐƯỜNG SẮT 84 3.1 Sự cần thiết tiếp tục hoàn thiện và nâng cao hiệu quả áp dụng
các quy định về các tội xâm phạm an toàn giao thông đường
bộ, đường sắt trong Bộ luật hình sự năm 2015 84
Trang 63.2 Giải pháp tiếp tục hoàn thiện quy định về các tội xâm phạm
an toàn giao thông đường bộ, đường sắt trong Bộ luật hình
sự năm 2015 86 3.3 Giải pháp hoàn thiện các văn bản pháp luật khác có liên quan 88 3.4 Tăng cường giải thích, hướng dẫn áp dụng pháp luật của cơ
quan có thẩm quyền 89 3.5 Một số giải pháp khác nâng cao chất lượng xét xử các tội xâm
phạm an toàn giao thông đường bộ, đương sắt 91 KẾT LUẬN 95 TÀI LIỆU THAM KHẢO 98
Trang 7DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
ATGT: An toàn giao thông BLHS: Bộ luật hình sự LHS: Luật hình sự TANDTC: Tòa án nhân dân tối cao TNHS: Trách nhiệm hình sự
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Số hiệu Tên bảng Trang
Bảng 2.1 Số liệu thống kê các vụ án Tòa án hai cấp thành phố
Hải Phòng giải quyết trong đó có các vụ án xâm phạm trật tự an toàn giao thông đường bộ từ năm 2013-2018
62
Bảng 2.2 Số liệu thống kê các vụ án Tòa án hai cấp thành phố
Hải Phòng giải quyết trong đó có các vụ án xâm phạm trật tự ATGT đường sắt từ năm 2013-2017
62
Bảng 2.3 Số liệu thống kê về kết quả xét xử đối với các bị cáo
phạm các tội xâm phạm trật tự an toàn giao thông đường bộ từ năm 2013 -6/2018
64
Bảng 2.4 Số liệu thống kê về kết quả xét xử đối với các bị cáo
phạm các tội xâm phạm trật tự an toàn giao thông đường sắt từ năm 2013 -6/2018
64
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong quá trình phát triển kinh tế xã hội của bất kỳ một quốc gia nào, giao thông là lĩnh vực luôn giữ một vị trí và vai trò vô cùng quan trọng, nhất
là giao thông đường bộ và đường sắt Thời gian qua, mặc dù Đảng, Nhà nước cũng như chính quyền các cấp địa phương đã nỗ lực cố gắng và đề ra nhiều giải pháp để kiềm chế gia tăng, tiến tới giảm dần tai nạn giao thông, ùn tắc giao thông, nhưng tình hình vi phạm an toàn giao thông (ATGT) vẫn diễn ra phức tạp, tai nạn giao thông vẫn ở mức cao và nghiêm trọng, nhất là số người chết, tiềm ẩn nhiều nguy cơ gia tăng, gây thiệt hại nghiêm trọng về người và tài sản, ảnh hưởng đến sự phát triển bền vững về kinh tế, văn hóa, xã hội và hình ảnh của đất nước Việt Nam với bạn bè quốc tế Thực trạng tai nạn giao thông đường bộ và đường sắt đã trở thành vấn đề xã hội hết sức bức xúc và làm đau đầu các cơ quan chức năng, các nhà quản lý ở nước ta
Trước tình hình đó, Ban Bí thư Trung ương Đảng đã ban hành Chỉ thị
số 18-CT/TW ngày 04 tháng 9 năm 2012 “Về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác bảo đảm trật tự, an toàn giao thông đường bộ, đường sắt, đường thủy nội địa và khắc phục ùn tắc giao thông” [11] Tiếp đó, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 30/NQ-CP ngày 01/3/2013 “Ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Chỉ thị số 18-CT/TW ngày 04 tháng 9 năm 2012 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác bảo đảm trật tự, an toàn giao thông đường bộ, đường sắt, đường thủy nội địa và khắc phục ùn tắc giao thông” [8] Nội dung các văn
bản trên đã xác định rõ các mục đích, yêu cầu, nhiệm vụ và giải pháp trọng tâm, phân công trách nhiệm, tổ chức thực hiện nhằm kiềm chế gia tăng và từng bước đẩy lùi tai nạn giao thông, đồng thời đã yêu cầu các cấp ủy Đảng, các cấp chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể, các ngành phải đặt
Trang 10nhiệm vụ bảo đảm trật tự ATGT là một trong những nhiệm vụ chính trị trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý của mình; Đề cao vai trò và gắn trách nhiệm của người đứng đầu các đơn vị, chính quyền địa phương đối với công tác bảo đảm trật tự, an toàn giao thông; phải tổ chức quán triệt, triển khai thực hiện nghiêm túc, đầy đủ, triệt để chỉ thị và nghị quyết trên
Ở các địa phương trong cả nước đều quyết tâm đầy lùi và ngăn chặn tình trạng tai nạn giao thông đường bộ, đường sắt Thành phố Hải Phòng là một trong những địa phương mà sự phối hợp chặt chẽ giữa các ngành công
an, giao thông, Tòa án, Viện Kiểm sát, đặc biệt là chính sách hình sự được triển khai thực hiện khá quyết liệt, thế nhưng kết quả vẫn chưa thực sự như mong muốn, thực tiễn điều tra, xét xử trong vi phạm an toàn giao thông đường bộ, đường sắt vẫn còn không ít sai sót, dẫn đến hiệu quả điều chỉnh của pháp luật chưa cao Vì vậy, việc nghiên cứu nhằm làm sang tỏ về lý luận các tội xâm phạm ATGT đường bộ, đường sắt theo Luật hình sự (LHS) Việt Nam một cách có hệ thống, đồng thời tìm ta những bất cập, vướng mắc trong thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật hiện hành về các tội xâm phạm ATGT đường bộ, đường sắt và nguyên nhân, từ đó đưa ra những yêu cầu và giải pháp tiếp tục hoàn thiện và nâng cao hiệu quả áp dụng các quy định của luật hiện hành mang ý nghĩa quan trọng về lý luận và thực tiễn, góp phần đấu tranh phòng, chống tội phạm về ANGT đường bộ, đường sắt và nâng cao chất lượng xét xử các tội này tại thành phố Hải Phòng Đây cũng chính là lý do để
tác giả quyết định lựa chọn đề tài “Các tội xâm phạm an toàn giao thông
đường bộ, đường sắt theo Luật hình sự Việt Nam (Trên cơ sở số liệu thực tiễn tại địa bàn thành phố Hải Phòng)” làm đề tài luận văn thạc sĩ Luật học
2 Tình hình nghiên cứu
Trong thời gian qua việc nghiên cứu về các tội xâm phạm ATGT đường bộ, đường sắt ở các mức độ khác nhau, trực tiếp và gián tiếp đã có một
Trang 11số nhóm công trình nghiên cứu được công bố, đồng thời thể hiện ở các bình diện như: luận văn, luận án, sách chuyên khảo, tham khảo, bình luận, cũng như giáo trình dành cho hệ đại học và một số bài viết bình luận khác Có thể
kể đến một số công trình nghiên cứu tiêu biểu như sau:
Thứ nhất, nhóm công trình nghiên cứu là các luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ luật học bao gồm:
Bùi Kiến Quốc, Các biện pháp đấu tranh phòng, chống tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ ở Thủ đô Hà Nội, Luận
án Tiến sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, 2001; Nguyễn Đắc Dũng,
Tội vi phạm các quy định về điều khiển giao thông đường bộ trong LHS Việt Nam (Trên cơ sở thực tiễn xét xử tại địa bàn tỉnh Bác Ninh), Luận văn thạc sĩ luật học, 2011; Nguyễn Ngọc Anh, Tội đua xe trái phép trong LHS Việt Nam Luận văn thạc sĩ luật học, 2012; Trần Văn Thảo, Các tội xâm phạm an toàn giao thông đường bộ theo LHS Việt Nam, Luận văn thạc sĩ luật học, 2013
Thứ hai, nhóm các sách chuyên khảo, tham khảo bao gồm:
ThS Đinh Văn Quế, Bình luận khoa học chuyên sâu BLHS- Phần các tội phạm, Tập VI - Các tội xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng, Nxb thành phố Hồ Chí Minh, 2005; ThS Hoàng Đình Ban, Hoạt động phòng ngừa tai nạn giao thông đường bộ ở Việt Nam hiện nay, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2008; TS Trần Minh Hường, Các tội xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng, trật tự quản lý hành chính, Nxb Văn hóa Dân tộc, Hà Nội, 2002; TS Nguyễn Đức Mai, Chương XIX - Các tội xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng, Trong sách Bình luận khoa học BLHSViệt Nam
năm 1999, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2001, v.v…
Thứ ba, nhóm giáo trình, đề tài, bài viết bao gồm:
1) GS.TS Đỗ Ngọc Quang, Chương XIX - Các tội xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng Trong sách: Giáo trình LHS Việt Nam (Phần
Trang 12các tội phạm), GS TSKH Lê Cảm chủ biên, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội,
2001 (tái bản năm 2007);
2) GS TS Võ Khánh Vinh, Chương X - Các tội xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng, Trong sách: Giáo trình LHS Việt Nam (Phần các tội
phạm), GS TS Võ Khánh Vinh chủ biên, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2001;
3) GS TS Nguyễn Ngọc Hòa, Chương XXV - Các tội xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng, Trong sách: Giáo trình LHS Việt Nam (Tập II) do
GS TS Nguyễn Ngọc Hòa chủ biên, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2010;
4) TS Phạm Văn Beo, Bài 10 - Các tội xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng, Trong sách: LHS Việt Nam (Quyển 2 - Phần các tội phạm),
Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2010;
5) TS Cao Thị Oanh (chủ biên), Chương X - Các tội xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2010; v.v
Ngoài ra, năm 2004 có đề tài nghiên cứu khoa học cấp Trường (Đại
học Luật Hà Nội) của TS Trương Quang Vinh (chủ trì): Tội tổ chức đua xe trái phép, tội đua xe trái phép và đấu tranh phòng, chống các tội này trên địa bàn thành phố Hà Nội Tiếp đến là một số bài viết đi sâu vào tranh luận
tội danh cụ thể, xác định lỗi của tội phạm này như: 1) ThS Lê Văn Luật,
Xác định lỗi trong các vụ án tai nạn giao thông, Tạp chí Tòa án nhân dân, số 6/2005; 2) ThS Huỳnh Quốc Hùng, Một số vấn đề về định tội và định khung tăng nặng trong các vụ án vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ, Tạp chí Tòa án nhân dân, số 9/2007; v.v Tuy nhiên, qua
nghiên cứu các công trình trên cho thấy một số công trình có phạm vi nghiên cứu rộng, các tội xâm phạm ATGT đường bộ chỉ được đề cập riêng rẽ từng tội bằng bình luận những dấu hiệu pháp lý hình sự và hình phạt hoặc chỉ xem xét dưới góc độ tội phạm học - phòng ngừa cả nhóm tội phạm xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng trong BLHS Việt Nam năm 1999,
Trang 13trong khi đó, chưa có công trình khoa học nào ở cấp độ một luận văn thạc sĩ luật học đề cập đến cả nhóm tội xâm phạm ATGT đường bộ, đường sắt trên một địa bàn cụ thể là thành phố Hải Phòng Vì vậy, việc tiếp tục nghiên cứu
để hoàn thiện các quy định của BLHS Việt Nam về các tội xâm phạm ATGT đường bộ, đường sắt cũng như đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng luôn có ý nghĩa về lý luận và thực tiễn, đặc biệt phục vụ trực tiếp yêu cầu chính trị - xã hội và đấu tranh phòng, chống các tội phạm đã nêu trên địa bàn thành phố Hải Phòng
3 Mục đích nghiên cứu của đề tài
Mục đích của luận văn là nghiên cứu bổ sung góp phần tiếp tục hoàn thiện quy định của pháp luật mà đặc biệt là BLHS năm 2015 và đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng pháp LHS trong xử lý các tội xâm phạm ATGT đường bộ, đường sắt
4 Nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu của đề tài
4.1 Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Để đạt được mục đích trên, luận văn tập trung vào những nhiệm vụ sau:
- Khái niệm và những dấu hiệu pháp lý hình sự của các tội xâm phạm ATGT đường bộ, đường sắt;
- Khái quát lịch sử hình thành và phát triển của các tội xâm phạm ATGT đường bộ, đường sắt trong LHS Việt Nam qua các thời kỳ;
- Nghiên cứu cấu thành tội phạm của các tội xâm phạm ATGT đường
bộ, đường sắt trong BLHS hiện hành
- Nghiên cứu thực trạng định tội danh và quyết định hình phạt đối với các tội xâm phạm ATGT đường bộ, đường sắt trên địa bàn Thành phố Hải Phòng từ 2013 đến tháng 6 năm 2018
- Đề xuất một số giải pháp tiếp tục hoàn thiện và nâng cao hiệu quả áp dụng các quy định về các tội xâm phạm ATGT đường bộ, đường sắt theo BLHS năm 2015
Trang 144.2 Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Phạm vi nghiên cứu của đề tài: phân tích, đánh giá thực tiễn xét xử các tội xâm phạm ATGT đường bộ, đường sắt địa bàn Thành phố Hải Phòng giai đoạn 2013-2018 trên địa bàn thành phố Hải Phòng
5 Cơ sở phương pháp luận và các phương pháp nghiên cứu
5.1 Cơ sở phương pháp luận
Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và những chủ trương, đường lối, chính sách hình sự của Đảng, Nhà nước ta về đấu tranh phòng, chống tội phạm, cũng như trong việc bảo vệ an toàn, trật tự xã hội
5.2 Các phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu của khoa học luật hình
sự như: phân tích, tổng hợp, so sánh, phân tích quy phạm pháp luật, khảo sát thực tiễn, điều tra án điển hình để tổng hợp các tri thức khoa học luật hình
sự và luận chứng các vấn đề cần nghiên cứu trong luận văn này
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
- Ý nghĩa lý luận
Luận văn được hình thành trên cơ sở khái quát lý luận và đánh giá thực tiễn áp dụng pháp luật xử lý các tội xâm phạm ATGT đường bộ, đường sắt trong thời gian qua, nên kết quả nghiên cứu sẽ góp phần hoàn thiện cơ sở pháp lý và làm rõ các nội dung của các tội xâm phạm ATGT đường bộ, đường sắt trong giai đoạn hiện nay Luận văn là một tài liệu tham khảo dùng cho các nhà nghiên cứu, giảng dạy học tập chuyên ngành LHS trong các cơ
sở đào tạo pháp luật
- Ý nghĩa thực tiễn
Các giải pháp nêu trong luận văn là một kênh tham khảo hữu ích cho các
cơ quan tiến hành tố tụng, mà đặc biệt là tòa án, áp dụng trong thực tiễn xử lý
Trang 15các tội xâm phạm ATGT đường bộ, đường sắt Bên cạnh đó, luận văn còn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo, phục vụ nghiên cứu và học tập môn học LHS Một số đề xuất, kiến nghị của luận văn sẽ cung cấp những luận cứ khoa học phục vụ cho công tác lập pháp và hoạt động thực tiễn áp dụng BLHS Việt Nam liên quan đến các tội xâm phạm ATGT đường bộ, đường sắt qua đó góp phần nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh phòng, chống tội này hiện nay và sắp tới ở địa bàn thành phố Hải Phòng nói riêng và cả nước nói chung
7 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận án được chia thành 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề chung về các tội xâm phạm an toàn giao
thông đường bộ, đường sắt trong luật hình sự
Chương 2: Những quy định về các tội xâm phạm an toàn giao thông
đường bộ, đường sắt trong Bộ luật hình sự năm 2015 và thực tiễn áp dụng trên địa bàn thành phố Hải Phòng
Chương 3: Một số giải pháp tiếp tục hoàn thiện và nâng cao hiệu quả
áp dụng các quy định của Bộ luật hình sự năm 2015 về các tội xâm phạm an toàn giao thông đường bộ, đường sắt
Trang 16Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CÁC TỘI XÂM PHẠM
AN TOÀN GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ, ĐƯỜNG SẮT
1.1 Khái niệm và đặc điểm của các tội xâm phạm an toàn giao thông đường bộ, đường sắt
1.1.1 Khái niệm các tội xâm phạm an toàn giao thông đường bộ, đường sắt
Tội phạm là chế định quan trọng và chủ yếu của LHS, mang bản chất là một hiện tượng pháp lý,
xuất hiện cùng với sự ra đời của nhà nước và pháp luật, cũng như khi xã hội phân chia thành giai cấp đối kháng [6, tr.287], là hiện tượng tiêu cực mang thuộc tính xã hội - pháp lý, tội phạm luôn chứa đựng trong nó đặc tính chống đối lại nhà nước, chống đối lại xã hội,
đi ngược lại lợi ích chung của cộng đồng, trật tự xã hội, xâm phạm đến quyền, tự do và các lợi ích hợp pháp của con người [40, tr.17] Khái niệm tội phạm cũng được các nhà làm luật nước ta ghi nhận tại điều 8 BLHS năm 1999 (được sửa đổi bổ sung năm 2009), đã được coi là khái
niệm “có tính khoa học thể hiện tập trung nhất quan điểm của Nhà nước ta về tội phạm” [28, tr.33] và đến BLHS năm 2015 đã đưa ra khái niệm thể hiện
đầy đủ các bình diện với các đặc điểm cơ bản của tội phạm
Khái niệm tội phạm được khoản 1 Điều 8 BLHS 2015 quy định:
Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc pháp nhân thương mại thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa,
Trang 17quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm quyền con người, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa mà theo quy định của Bộ luật này phải
bị xử lý hình sự [28, tr.4]
Như vậy, theo quy định của BLHS 2015, thì khái niệm của các loại tội phạm cụ thể được quy định trong các điều luật phân loại các tội phạm cụ thể, bằng mô tả các đặc điểm, dấu hiệu pháp lý của các tội phạm
Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội được quy định trong Bộ luật này, tội phạm được phân thành bốn loại: Tội ít nghiêm trọng, tội nghiêm trọng, tội rất nghiêm trọng, tội đặc biệt nghiêm trọng
ATGT đường bộ, đường sắt là trạng thái giao thông an toàn, trật tự, thông suốt, thuận lợi trong lĩnh vực giao thông đường bộ, đường sắt theo quy định của pháp luật được mọi người thực hiện nghiêm chỉnh nhằm hạn chế thấp nhất tai nạn giao thông đường bộ, gây thiệt hại về người và tài sản
Về bản chất, thì vi phạm ATGT đường bộ, đường sắt chính là những hành vi nguy hiểm, đặt tính mạng, sức khỏe của con người và tải sản vào tình trạng bị thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại Về hình thức, vi phạm an toàn giao thông đường bộ, đường sắt là trái với qui định trong Luật giao thông đường bộ năm 2008 và các văn bản pháp luật khác về giao thông vận tải đường bộ, đường sắt
Xuất phát từ tầm quan trọng của việc giữ gìn an toàn, trật tự công cộng trong đời sống xã hội, trên cơ sở các quy định của Hiến pháp, hệ thống văn
bản pháp luật, BLHS đã quy định Chương "Các tội xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng" để bảo vệ các lợi ích trên, xử lý các hành vi nguy
hiểm cho xã hội ở mức độ cao, qua đó bảo đảm mọi sinh hoạt, vui chơi, giải
Trang 18trí, hoạt động công cộng được an toàn, ổn định và tuân thủ các quy tắc xã hội
và quy tắc của pháp luật Vì vậy, tôn trọng và bảo vệ "an toàn công cộng, trật
tự công cộng" là “một trong những thước đo, tiêu chí để đánh giá sự ổn định của xã hội, đánh giá sức mạnh của các cơ quan bảo vệ pháp luật, khả năng quản lý của các cơ quan, tổ chức, đồng thời nó cũng đánh giá được ý thức pháp luật, văn minh pháp lý của công dân” [3, tr.439]
Những quan hệ xã hội được LHS bảo vệ mà bị các tội xâm phạm ATGT đường bộ, đường sắt xâm phạm đến, cùng với các khách thể khác, là một trong những khách thể quan trọng được BLHS Việt Nam bảo vệ, tôn trọng và bất kỳ hành vi nào xâm phạm đến nhóm khách thể này đều bị xử lý theo các quy định về những tội phạm tương ứng của BLHS
Do vậy, dưới góc độ khoa học LHS, chúng ta có thể đưa ra một khái
niệm chung về tội xâm phạm ATGT đường bộ, đường sắt như sau:
Các tội xâm phạm an toàn giao thông đường bộ, đường sắt là những hành vi nguy hiểm cho xã hội, được quy định trong BLHS, được thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý bởi những người có năng lực TNHS và đủ tuổi chịu TNHS, xâm hại đến an toàn giao thông đường bộ, đường sắt, gây ra những thiệt hại nghiêm trọng về tính mạng, sức khỏe của con người, thiệt hại về tài sản của Nhà nước, của tổ chức và công dân
1.1.2 Các đặc điểm đặc trưng của các tội xâm phạm an toàn giao thông đường bộ, đường sắt
Để xem xét và xác định hành vi nào là hành vi xâm phạm đến ATGT đường bộ, đường sắt cần phải xử lý theo LHS thì cần phải xem xét đến các dấu hiệu pháp lý đặc trưng của các tội này, bao gồm:
* Đặc điểm thứ nhất: Các tội xâm phạm an toàn giao thông đường bộ, đường sắt là những hành vi nguy hiểm đáng kể cho xã hội
Hành vi xâm phạm ATGT đường bộ, đường sắt là hành vi nguy hiểm
Trang 19cho xã hội xâm phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ và đường sắt, gây thiệt hại cho xã hội hoặc hành vi tạo khả năng gây ra các thiệt hại cho các quan hệ xã hội được LHS bảo vệ Các thiệt hại do hành vi vi phạm quy định
về an toàn giao thông đường bộ, đường sắt gây ra cho các quan hệ xã hội bao gồm: tính mạng, sức khỏe, tài sản của người khác Do vậy, trường hợp vi phạm các quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho chính bản thân người vi phạm mà không gây thiệt hại cho tính mạng, sức khỏe, tài sản của người khác, thì không bị coi là tội phạm
Hành vi phạm tội xâm phạm trật tự ATGT đường bộ, đường sắt bao gồm hành động và không hành động Hành động phạm tội xâm phạm ATGT đường bộ, đường sắt được quy định trong BLHS cụ thể gồm:
* Đối với đường bộ
- Hành vi vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khỏe, tài sản của người khác trong trường hợp: Không có giấy phép lái xe theo quy định; Tham gia giao thông trong tình trạng có sử dụng rượu, bia mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá mức quy định, có sử dụng chất ma túy hoặc chất kích thích mạnh khác; Bỏ chạy để trốn tránh trách nhiệm hoặc cố ý không cứu giúp người bị nạn; Không chấp hành hiệu lệnh của người điều khiển hoặc hướng dẫn giao thông;
- Hành vi cản trở giao thông đường bộ gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khỏe, tài sản của người khác trong các trường hợp: đào, khoan, xẻ trái phép các công trình giao thông đường bộ; đặt trái phép chướng ngại vật gây cản trở giao thông đường bộ; tháo dì, di chuyển trái phép, làm sai lệch, che khuất hoặc phá hủy biển báo hiệu, các thiết bị an toàn giao thông đường bộ; mở đường giao cắt trái phép qua đường bộ, đường
có giải phân cách; lấn chiếm, chiếm dụng vỉa hè, lòng đường; lấn chiếm hành lang bảo vệ đường bộ
Trang 20- Đưa vào sử dụng phương tiện giao thông đường bộ rõ ràng không đảm bảo an toàn về thông số kỹ thuật gây thiệt hại cho tính mạng hoặc thiệt hại nghiêm trọng cho sức khỏe, tài sản của người khác
- Điều động hoặc giao cho người không có giấy phép hoặc bằng lái xe hoặc không có đủ điều kiện khác như điều kiện về sức khoẻ, kinh nghiệm, trình độ chuyên môn v.v vào điều khiển phương tiện giao thông hoặc điều động người say rượu hoặc dùng các chất kích thích khác điều khiển các phương tiện giao thông vận tải đường bộ
- Hành vi gây rối an toàn giao thông đường bộ bằng phương tiện giao thông cơ giới thể hiện bằng các hành vi: tổ chức đua xe hoặc đua xe mô
tô, ô tô hoặc các loại xe có gắn động cơ trái phép
Hành vi phạm tội xâm phạm an toàn giao thông đường bộ được thực hiện dưới dạng không hành động là trường hợp không làm một việc mà pháp luật bắt buộc phải làm như: không có giấy phép hoặc bằng lái xe theo quy định, vi phạm quy định về bảo đảm an toàn giao thông khi thi công trên đường bộ…
* Đối với đường sắt
- Hành vi vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường sắt gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khỏe, tài sản của người khác trong trường hợp: Không có giấy phép, bằng hoặc chứng chỉ chuyên môn tương ứng với nhiệm vụ được giao; Trong tình trạng có sử dụng rượu, bia mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá mức quy định, có sử dụng chất ma túy hoặc chất kích thích mạnh khác;
Bỏ chạy để trốn tránh trách nhiệm hoặc cố ý không cứu giúp người bị nạn; Không chấp hành hiệu lệnh của người chỉ huy hoặc người có thẩm quyền điều khiển, giữ gìn trật tự, an toàn giao thông
- Hành vi cản trở giao thông đường sắt gây thiệt hại cho tính mạng
Trang 21hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khỏe, tài sản của người khác trong các trường hợp: đặt chướng ngại vật trên đường sắt; làm xê dịch ray, tà vẹt; khoan, đào, xẻ trái phép nền đường sắt; mở đường ngang, xây cống hoặc công trình khác trái phép qua đường sắt; làm hỏng, thay đổi, chuyển dịch, che khuất tín hiệu, biển hiệu, mốc hiệu của công trình giao thông đường sắt; để súc vật đi qua đường sắt không đúng quy định hoặc để súc vật kéo xe qua đường sắt mà không có người điều khiển; đưa trái phép phương tiện tự tạo, phương tiện không được phép chạy trên đường sắt; phá hoại phương tiện giao thông đường sắt; lấn chiếm hành lang an toàn giao thông đường sắt, phạm vi bảo vệ công trình giao thông đường sắt gây thiệt hại cho người khác
- Đưa vào sử dụng phương tiện giao thông đường sắt không đảm bảo an toàn: đưa vào sử dụng phương tiện, thiết bị giao thông đường sắt rõ ràng không bảo đảm tiêu chuẩn an toàn kỹ thuật, không có giấy chứng nhận đăng
ký, đăng kiểm
- Điều động hoặc giao cho người không có giấy phép lái tàu hoặc người đang trong tình trạng có sử dụng rượu, bia mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá mức quy định, có sử dụng chất ma túy, chất kích thích mạnh khác hoặc không đủ các điều kiện khác theo quy định của pháp luật điều khiển phương tiện giao thông đường sắt gây thiệt hại cho người khác
Tương tự như hành vi phạm tội xâm phạm an toàn đường bộ, hành vi phạm tội xâm phạm an toàn giao thông đường sắt được thực hiện dưới dạng không hành động là trường hợp không làm một việc mà pháp luật bắt buộc phải làm như: Khi điều khiển phương tiện giao thông đường sắt: Không có giấy phép, bằng hoặc chứng chỉ chuyên môn tương ứng với nhiệm vụ được giao; Trong tình trạng có sử dụng rượu, bia mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá mức quy định, có sử dụng chất ma túy hoặc chất kích thích mạnh khác; Bỏ chạy để trốn tránh trách nhiệm hoặc cố ý không cứu
Trang 22giúp người bị nạn; Không chấp hành hiệu lệnh của người chỉ huy hoặc người
có thẩm quyền điều khiển, giữ gìn trật tự, an toàn giao thông;…
* Đặc điểm thứ hai: Các tội vi phạm quy định an toàn giao thông đường bộ, đường sắt được quy định trong Bộ luật hình sự
Các tội vi phạm quy định an toàn giao thông đường bộ, đường sắt được
quy định trong BLHS là đặc điểm cơ bản của các tội phạm này Đây là đặc
điểm thể hiện nguyên tắc pháp chế trong luật hình sự Việt Nam Pháp chế là đòi hỏi quan trọng của pháp luật hình sự, là cơ sở để pháp luật hình sự được thực thi một cách có hiệu quả
Pháp chế như là tính thiêng liêng của pháp luật, tính bền vững của các quy phạm pháp lý Pháp chế có mối quan hệ chặt chẽ với pháp luật, với bình đẳng và với sự tuân thủ luật pháp, không một ai, không một người nào có bất kỳ một đặc quyền nào trước pháp luật [45]
Yêu cầu tội phạm vi phạm quy định an toàn giao thông đường bộ, đường sắt phải được BLHS quy định là cơ sở pháp lý quan trọng bảo đảm tính thống nhất trong đấu tranh phòng, chống tội phạm và bảo đảm các quyền con người không bị xâm phạm bởi sự tùy tiện trong hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng hình sự
Nguyên tắc pháp chế về quy định tội phạm - không có luật thì không có tội phạm có giá trị tuyệt đối, không có ngoại lệ Nói tội phạm vi phạm quy định an toàn giao thông đường bộ, đường sắt được BLHS quy định có nghĩa
là tất cả các nội dung liên quan đến tội phạm đều phải do BLHS quy định Ngoài ra, khi quy định từng loại tội phạm cụ thể cần phải xác định rõ ràng, chính xác các dấu hiệu đặc trưng, điển hình và bắt buộc của nó, Ở Việt Nam, trước đây, tội phạm và hình phạt được quy định không chỉ trong các văn bản pháp luật hình sự như sắc lệnh, sắc luật, pháp lệnh mà còn trong các văn bản
Trang 23pháp luật phi hình sự, nhưng kể từ khi luật hình sự được pháp điển hóa với việc ban hành BLHS năm 1985, thì tội phạm và hình phạt chỉ được quy định trong
BLHS Trong BLHS năm 2015 (sửa đổi năm 2017), Điều 2 BLHS quy định: Chỉ
người nào phạm một tội đã được Bộ luật hình sự quy định mới phải chịu
trách nhiệm hình sự Khoản 1 Điều 8 quy định: "Tội phạm là hành vi nguy
hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự "
Như vậy, theo quy định trên thì chỉ những hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định từ Điều 260 đến Điều 271 mới là các tội vi phạm quy định
về an toàn giao thông đường bộ và đường sắt Người thực hiện một trong những tội được quy định trong các điều luật về tội phạm ấy mới phải chịu trách nhiệm hình sự
* Đặc điểm thứ ba: Chủ thể thực hiện các tội vi phạm quy định an toàn giao thông đường bộ, đường sắt phải là người có năng lực TNHS và đạt đủ tuổi chịu TNHS thực hiện"
Người có năng lực TNHS là con người cụ thể đạt độ tuổi do LHS quy định, có khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình Người đó không mắc bệnh tâm thần hoặc bệnh tật khác làm mất khả năng nói trên
Năng lực TNHS được Nhà nước ta quy định theo phương pháp loại trừ, tức là khẳng định tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự là gì và nếu không phải là tình trạng đó, thì là tình trạng có năng lực TNHS Theo quy
định tại Điều 21 BLHS: “Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong khi đang mắc bệnh tâm thần, một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình, thì không phải chịu trách nhiệm hình sự” [28]
Tuy nhiên, để trừng trị những người phạm tội do say rượu hoặc dùng chất kích thích mạnh, Nhà nước vẫn truy cứu TNHS đối với họ Mặc dù trong thực tế có người do say rượu hoặc do dùng chất kích thích mạnh mà không
Trang 24nhận thức được hành vi họ thực hiện là nguy hiểm cho xã hội hoặc mất khả năng điều khiển hành vi của mình trong khi phạm tội Cho nên, tại Điều 13
BLHS 2015 quy định: "Người phạm tội trong tình trạng mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình do dùng rượu, bia hoặc chất kích thích mạnh khác, thì vẫn phải chịu TNHS" Tại điểm b khoản 2 Điều 260
và điểm b, khoản 2, Điều 267 BLHS 2015 cũng quy định phạm tội thuộc một
trong các trường hợp sau đây " b) Trong tình trạng có sử dụng rượu, bia mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá mức quy định, có sử dụng chất ma túy hoặc chất kích thích mạnh khác" là tình tiết tăng nặng định khung
hình phạt đối với tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ và vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường sắt
Chủ thể của các tội xâm phạm trật tự an toàn giao thông đường bộ, đường sắt là những cá nhân cụ thể không chỉ có năng lực TNHS mà còn đủ tuổi chịu TNHS Về nguyên tắc họ phải đặt đủ tuổi từ 16 tuổi trở lên Nếu từ
đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi thì họ chỉ chịu TNHS về một số tội rất nghiêm
trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng do LHS quy định
* Đặc điểm thứ tư: Các tội xâm phạm trật tự an toàn giao thông đường
bộ, đường sắt do chủ thể thực hiện là có lỗi
Trong LHS Việt Nam, nguyên tắc có lỗi là một trong những nguyên tắc
cơ bản Nội dung của nguyên tắc này là "không có tội nếu như không có lỗi"[12, tr.128] Lỗi là thái độ tâm lý của người thực hiện tội phạm đối với
hành vi nguy hiểm cho xã hội mà họ thực hiện và đối với hậu quả cho xã hội
do hành vi đó gây ra
Lỗi của các tội xâm phạm trật tự an toàn giao thông đường bộ, đường sắt được thể hiện dưới hình thức cố ý hoặc vô ý, nhưng nghiên cứu cho thấy tuyệt đại đa số các tội xâm phạm trật tự an toàn giao thông đường bộ, đường sắt là những tội được thực hiện dưới hình thức lỗi vô ý
Trang 25Vô ý phạm tội xâm phạm trật tự an toàn giao thông đường bộ, đường sắt là phạm tội thuộc một trong những trường hợp sau đây:
Một là, người phạm tội tuy thấy trước hành vi của mình có thể gây ra hậu quả nguy hại cho xã hội, nhưng cho rằng hậu quả đó
sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn ngừa được; Hai là, người phạm tội không thấy trước hành vi của mình có thể gây ra hậu quả nguy hại cho xã hội, mặc dù phải thấy trước và có thể thấy trước hậu quả đó [39, tr.10]
1.1.3 Sự cần thiết quy định các tội xâm phạm an toàn giao thông đường bộ, đường sắt trong Luật hình sự Việt Nam
Giao thông vận tải là mạch máu của nền kinh tế quốc dân, giao thông phát triển, an toàn, thuận lợi tạo điều kiện tốt cho sự phát triển về kinh tế, chính trị, văn hóa giữa các vùng, miền, giữa thành phố với nông thôn, giữa các quốc gia với nhau Ngày nay các hoạt động liên quan đến giao thông vận tải là nhu cầu không thể thiếu được của con người, cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, các phương tiện giao thông ngày càng đa dạng, phát triển manh và cùng với đó là cơ sở hạ tầng giao thông cũng phát triển vượt bậc nhằm đáp ứng nhu cầu thực tế đặt ra Vì thế vấn đề đặc ra cho cả xã hội là đảm bảo an toàn giao thông và hoạt động bình thường của các phương tiện giao thông là hết sức cần thiết
An toàn giao thông đường bộ và đường sắt có liên quan chặt chẽ tới các hoạt động kinh tế - văn hóa cũng như cuộc sống của mọi người dân, an toàn giao thông đang là vấn đề lớn được cả xã hội quan tâm Đi khắp nẻo đường, câu khẩu ngữ “An toàn giao thông là hạnh phúc cho mọi nhà” như lời nhắc nhở, cũng là lời cảnh báo với những người tham gia giao thông, hãy chấp hành luật giao thông để đem lại an toàn cho chính mình, cho gia đình mình và cho xã hội
Trang 26Vì thế vấn đề này luôn được sự quan tâm của Đảng, Nhà nước cũng như của toàn xã hội Ngày nay, cùng với sự tăng trưởng mạnh mẽ về kinh tế
và các phương tiện, sự phát triển của hệ thống cơ sở hạ tầng giao thông đường
bộ thì các vụ án xâm phạm an toàn giao thông đường bộ, đường sắt luôn có chiều hướng gia tăng với tính chất phức tạp và hậu quả ngày càng nghiêm trọng hơn Tai nạn giao thông đang diễn ra từng ngày từng giờ, chúng ta có thể dễ dàng bắt gặp trên các mặt báo hay chương trình thời sự hàng ngày những tin tức về các vụ tai nạn giao thông thường xuyên được cập nhật Mỗi ngày trôi qua là có không biết bao nhiêu sinh mạng bị đe dọa bởi tai nạn giao thông? Tai nạn giao thông có thể đến với bất kì ai mà không phân biệt tuổi tác, nghề nghiệp hay địa vị xã hội
Đảm bảo an toàn giao thông là một yêu cầu và nhiệm vụ cơ bản của mọi quốc gia và xem đó là điều kiện cần thiết để phát triển kinh tế, củng cố an ninh, quốc phòng và ổn định trật tự xã hội Đảm bảo an toàn giao thông còn là trách nhiệm của tất cả mọi người khi tham gia giao thông Những người trực tiếp tham gia giao thông đường bộ, đường sắt phải có văn hóa giao thông, chấp hành đúng và tự giác đối với các quy định của Luật giao thông đường
Bộ, đường sắt Nếu vi phạm phải chịu hình phạt theo luật định Theo đó, các hành vi ứng xử của những người tham gia giao thông trước hết phải đặt ý thức
tự giác lên trước tiên, thực hiện đúng quy định của pháp luật, gương mẫu chấp hành và tôn trọng những người liên quan, bảo đảm an toàn tài sản, an toàn công cộng và trật tự công cộng
Nhận định tình trạng trật tự an toàn giao thông và nguyên nhân của các hành vi xâm hại đến trật tự, an toàn giao thông, Chỉ thị số 18-CT/TW ngày 04-9-2012 của Ban Bí thư Trung ương nhận định rằng:
…tình hình vi phạm trật tự, an toàn giao thông còn diễn ra phức tạp; tai nạn giao thông vẫn ở mức cao và nghiêm trọng, nhất là
Trang 27số người chết, tiềm ẩn nhiều nguy cơ gia tăng, gây thiệt hại nghiêm trọng về người và tài sản Tai nạn giao thông và ùn tắc giao thông đường bộ vẫn đang là vấn đề bức xúc của toàn xã hội, ảnh hưởng đến sự phát triển bền vững về kinh tế, văn hóa, xã hội và hình ảnh của đất nước Việt Nam với bạn bè quốc tế [11]
Tình hình trên do nhiều nguyên nhân, trong đó chủ yếu là do ý thức tự giác chấp hành kỷ luật về trật tự, an toàn giao thông của người tham gia giao thông còn yếu kém Kết cấu hạ tầng giao thông còn nhiều hạn chế, bất cập…
Trước tình hình trên, trong thời gian qua để góp phần đảm bảo trật tự
an toàn giao thông một cách thông suốt, an toàn, Ban Bí thư Trung ương Đảng, Quốc hội, Chính phủ, các bộ, ban, ngành đã ban hành nhiều Nghị quyết, Chỉ thị, Thông tư và Quyết định cùng nhiều văn bản khác nhằm thiết lập trật tự kỷ cương và từng bước ổn định, nâng cao an toàn giao thông trên phạm vi cả nước
Toàn xã hội đang nỗ lực xây dựng văn hóa giao thông trong cộng đồng
để nâng cao ý thức tham gia giao thông của mọi tầng lớp nhân dân Xây dựng văn hóa giao thông nhằm tạo nên thói quen cư xử có văn hóa, đúng pháp luật Người tham gia giao thông như một chuẩn mực đạo đức truyền thống và là biểu hiện văn minh, hiện đại
Bên cạnh đó, công tác tuyên truyền, giáo dục về an toàn giao thông là một trong những biện pháp cấp bách nhằm đảm bảo an toàn giao thông tiến đến một xã hội thực sự an toàn
Thực tế cho thấy, phần lớn các vụ xâm phạm an toàn giao thông thường
do lỗi chủ quan, ý thức kém của người tham gia giao thông, không chấp hành quy định của pháp luật, như: chở quá tải, sử dụng rượu, bia, phóng nhanh, vượt ẩu khi tham gia giao thông, phương tiện giao thông không đảm bảo điều kiện an toàn (quá hạn, quá cũ, xe tự tạo)… coi thường tính mạng của mọi
Trang 28người và của chính mình… Vì thế, mục tiêu thay đổi thái độ và hành vi không đúng khi tham gia giao thông là rất quan trọng
Để cải thiện tình hình và giảm thiểu các vi phạm an toàn giao thông đường bộ, đường sắt, các yêu cầu đặt ra đối người người tham gia giao thông
cơ bản gồm những nội dung sau:
Một là, hiểu biết đầy đủ và tự giác chấp hành đúng các quy định của
pháp luật về đảm bảo an toàn giao thông đường bộ, đường sắt
Hai là, có trách nhiệm với bản thân và cộng đồng, tôn trọng, nhường
nhìn và giúp đỡ người khác
Ba là, có thái độ ứng xử văn minh, lịch sự khi xảy ra va chạm giao
thông và tinh thần thượng tôn pháp luật
Ngoài ra, những người tham gia giao thông đường bộ, đường sắt phải
có hành vi thể hiện văn hóa giao thông,
Từ lâu việc xây dựng văn hóa giao thông đã được nhiều chuyên gia xem là biện pháp quan trọng nhất nhằm kéo giảm tai nạn giao thông Tuy nhiên để hình thành và duy trì nếp “văn hóa giao thông” rất cần có sự vào cuộc của các cơ quan ban ngành, đặc biệt trước hết là người tham gia giao thông Khái niệm văn hoá giao thông là một biểu hiện cụ thể của khái niệm văn hóa nói chung Văn hóa giao thông là một khái niệm khá mới mẻ với nhiều
cách hiểu khác nhau, tuy nhiên có thể nói một cách tổng thể: “Văn hóa khi tham gia giao thông là một bộ phận của văn hóa nơi công cộng, là tập hợp các cách thức xử sự, ứng xử, chấp hành các quy định của pháp luật về giao thông,
là tuân thủ của các chuẩn mực đạo đức khi tham gia giao thông” [1]
Bảo đảm an toàn giao thông là nhiệm vụ trách nhiệm của mỗi người đều phải thực hiện khi tham gia giao thông, góp phần ngăn chặn các hành vi
vi phạm các quy định về trật tự ATGT, mang lại hành phúc cho chính mình, gia đình và cộng đồng xã hội
Trang 29Để hoạt động giao thông thông suốt đáp ứng kịp thời kịp thời các nhu cầu về kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh, đồng thời bảo đảm an toàn về tính mạng, sức khỏe, tài sản cho chính những người tham gia giao thông và những người xung quanh, khi tham gia hoạt động giao thông, những người tham gia giao thông phải tuyệt đối tuân thủ các quy định của pháp luật về giao thông đường bộ, không thực hiện các hành vi gây ảnh hưởng tới sự an toàn trong hoạt động giao thông
* Từ các yêu cầu trên của xã hội về vấn đề an toàn giao thông, Nhà nước cần phải đặt ra các chế tài khi có hành vi xâm phạm đến ATGT, đảm bảo tính răn đe và tinh thần thượng tôn pháp luật
Việc qui định các tội phạm xâm phạm ATGT đường bộ, đường sắt là hết sức quan trọng nhằm phòng ngừa và trừng trị các hành vi vi phạm luật giao thông đường bộ, đường sắt mà tính nguy hiểm của nó đã đến mức phải coi là tội phạm và cần phải xử lý bằng chế tài hình sự
Đồng thời, việc xây dựng các tội xâm phạm ATGT đường bộ, đường sắt phải thật sự hiệu lực, khả thi, đồng thời việc hướng dẫn áp dụng các điều luật trong thực tiễn phải thống nhất, rõ ràng Cụ thể:
+ Đối với giao thông đường bộ, phải đảm bảo các nguyên tắc cơ bản khi tham gia giao thông đường bộ: Hoạt động giao thông đường bộ phải bảo đảm thông suốt, trật tự, an toàn, hiệu quả; góp phần phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh và bảo vệ môi trường; Phát triển giao thông đường bộ theo quy hoạch, từng bước hiện đại và đồng bộ; gắn kết phương thức vận tải đường bộ với các phương thức vận tải khác; Quản lý hoạt động giao thông đường bộ được thực hiện thống nhất trên cơ sở phân công, phân cấp trách nhiệm, quyền hạn cụ thể, đồng thời có sự phối hợp chặt chẽ giữa các
bộ, ngành và chính quyền địa phương các cấp; Bảo đảm trật tự, an toàn giao thông đường bộ là trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân; Người tham gia
Trang 30giao thông phải có ý thức tự giác, nghiêm chỉnh chấp hành quy tắc giao thông, giữ gìn an toàn cho mình và cho người khác Chủ phương tiện và người điều khiển phương tiện phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc bảo đảm an toàn của phương tiện tham gia giao thông đường bộ; Mọi hành vi vi phạm pháp luật giao thông đường bộ phải được phát hiện, ngăn chặn kịp thời, xử lý nghiêm minh, đúng pháp luật
+ Đối với giao thông đường sắt, hoạt động bảo đảm trật tự, an toàn giao thông vận tải đường sắt bao gồm: Bảo đảm an toàn về người, phương tiện, tài sản của tổ chức, cá nhân trong hoạt động giao thông vận tải đường sắt; Bảo đảm điều hành tập trung, thống nhất hoạt động giao thông vận tải trên đường sắt; Phòng ngừa, ngăn chặn và đấu tranh chống hành vi phá hoại công trình đường sắt và các hành vi vi phạm hành lang an toàn giao thông đường sắt; Các biện pháp phòng ngừa tai nạn giao thông trên đường sắt và tại điểm giao cắt đồng mức giữa đường sắt và đường bộ
Tổ chức, cá nhân phải chấp hành quy định của pháp luật về bảo đảm trật tự, an toàn giao thông vận tải đường sắt
Hành vi vi phạm trật tự, an toàn giao thông vận tải đường sắt phải được phát hiện kịp thời, xử lý nghiêm minh, đúng pháp luật
Tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động giao thông vận tải đường sắt có trách nhiệm bảo đảm trật tự, an toàn giao thông vận tải đường sắt Lực lượng Công an và chính quyền địa phương các cấp nơi có đường sắt đi qua, trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm bảo đảm an ninh, trật
tự, ATGT vận tải đường sắt Cơ quan, tổ chức có trách nhiệm phối hợp trong hoạt động bảo đảm trật tự, an toàn giao thông vận tải đường sắt
* Các tội vi phạm ATGT đường bộ, đường sắt là hành vi nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm an toàn giao thông đường bộ, đường sắt
Trang 31Không phải bất kỳ hành vi xâm hại đến ATGT đường bộ, đường sắt đều là tội phạm Mà chỉ là tội phạm khi hành vi đó:
…nguy hiểm cho xã hội được quy định trong BLHS, do người
có năng lực TNHS thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm quyền con người, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, …mà theo quy định của Bộ luật này phải bị xử lý hình sự [28, Điều 8]
BLHS số 100/2015/QH13 ngày 27 tháng 11 năm 2015 của Quốc hội,
có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 20181, được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 12/2017/QH14 ngày 20 tháng 6 năm 2017 của Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS số 100/2015/QH13, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2018 đã quy định từ Điều 260 đến Điều 266 về các tội xâm phạm an toàn giao thông đường bộ; từ Điều 267 đến Điều 271 quy định về các tội xâm phạm an toàn giao thông đường sắt
Theo đó, các tội xâm phạm ATGT đường bộ, đường sắt là những hành
vi nguy hiểm cho xã hội, được quy định trong BLHS, được thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý bởi những người có đủ năng lực TNHS và đủ tuổi chịu TNHS, xâm hại đến an toàn giao thông đường bộ, đường sắt, gây ra những thiệt hại nghiêm trọng về tính mạng sức khỏe của con người, thiệt hại về tài sản của nhà nước, của tổ chức, của công dân
Người thực hiện hành vi phạm tội xâm phạm ATGT đường bộ, đường sắt có thể bị phạt tù có thời hạn, hưởng án treo, bồi thường thiệt hại hoặc bị tịch thu phương tiện vi phạm
1.2 Khái quát lịch sử phát triển của Luật hình sự Việt Nam về các tội xâm phạm an toàn giao thông đường bộ, đường sắt
1.2.1 Giai đoạn từ Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến trước pháp điển hóa lần thứ nhất - BLHS Việt Nam năm 1985
Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, chế độ thực dân phong
Trang 32kiến đã bị đập tan, đồng thời thiết lập nên Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Để bảo vệ thành quả cách mạnh, ngay sau khi giành được chính quyền về tay nhân dân, Nhà nước ta đã ban hành nhiều các văn bản pháp LHS quy định các tội chống chính quyền dân chủ nhân dân như: tội âm mưu lật đổ chính quyền, tội gián điệp, tội bạo loạn, tội hoạt động phỉ trong Sắc lệnh số 21 ngày 14/2/1946 Tuy nhiên, các tội xâm phạm an toàn giao thông đường bộ nằm trong hệ thống LHS Việt Nam được quy định muộn hơn nhiều so với các loại tội khác và chưa được quy định trong các văn bản pháp luật hình sự trong thời kỳ này Như vậy, các tội chống lại chính quyền dân chủ nhân dân ra đời rất sớm, gắn liền với sự xuất hiện của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Trong khi đó, các tội xâm phạm ATGT đường bộ có lịch sử ra đời muộn hơn
và quy phạm pháp luật quy định các tội phạm này là những quy phạm viện dẫn, nên một số tội trong nhóm các tội này chỉ ra đời khi có các quy định về ATGT vận tải - đường bộ tức là khi có Luật về giao thông đường bộ
Sau khi miền Bắc được hoàn toàn giải phóng, Nhà nước ta tiến hành xây dựng hàng loạt văn bản quy phạm pháp luật để quản lý xã hội, trong đó
có các văn bản pháp luật bảo đảm an toàn giao thông vận tải đường bộ Ngày 03/10/1955, Luật đi đường bộ mới được ra đời kèm theo Nghị định số 348/NĐ của Bộ Giao thông Bưu điện Đây là văn bản pháp lý đầu tiên của Nhà nước ta về an toàn giao thông vận tải, tạo cơ sở pháp lý cho sự hình thành các tội xâm phạm ATGT đường bộ Tiếp theo Nghị định 348/NĐ nói trên, hàng loạt các văn bản pháp lý khác về an toàn giao thông vận tải đã ra đời như: Nghị định số 139/NĐ ngày 19/12/1956; Nghị định số 44/NĐ ngày 27/5/1958 của Bộ Giao thông Bưu điện; Nghị định Liên bộ Giao thông Bưu điện - Công an số 09/NĐLB ngày 07/3/1956 ban hành tể lệ tạm thời về vận tải đường bộ; Nghị định số 10 ngày 11/01/1968 của Hội đồng Chính phủ ban hành Điều lệ về kỷ luật an toàn giao thông vận tải trong thời chiến; Nghị định
Trang 33số 36/CP ngày 29/5/1995 về tăng cường bảo đảm trật tự an toàn giao thông vận tải đường bộ và trật tự đô thị và đến nay là Nghị định số 36/CP ngày 10/7/2001 về bảo đảm trật tự ATGT đường bộ và trật tự an toàn giao thông đô thị Đáng chú ý là ngày 29/6/2001, Quốc hội đã thông qua Luật giao thông đường bộ đầu tiên của Việt Nam Luật này bắt đầu có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2002
Các văn bản chuyên ngành nói trên đã tạo cơ sở pháp lý cho sự hình thành và phát triển các quy phạm LHS quy định các tội xâm phạm ATGT đường bộ, đường sắt Tuy nhiên, phần lớn các văn bản chỉ tập trung vào tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông vận tải (ghép các hành
vi xâm phạm đến các lĩnh vực giao thông vào làm một nhóm)
Văn bản LHS đầu tiên của Nhà nước ta điều chỉnh tội vi phạm quy định
về nhóm tội phạm này là Thông tư số 442/TTg ngày 19/01/1955 của Thủ tướng Chính phủ Theo đó, Điểm 4 của Thông tư nói trên quy định:
Không cẩn thận hay không theo luật đi đường mà làm người khác bị thương sẽ bị phạt tù từ ba tháng đến ba năm Nếu gây tai nạn làm chết người thì có thể bị phạt tù đến mười năm Ngoài ra đối với những tội tương tự với những tội ở trên đây, các Toà án có thể phạt theo như những tội ở trên [33, tr.356]
Như vậy, qua nghiên cứu Thông tư này, thấy rõ những nội dung chủ
yếu sau đây:
“-Chỉ những vi phạm các quy định về ATGT vận tải đường bộ, đường sắt gây thương tích, gây chết người mới bị coi là tội phạm và bị xử phạt Nếu chỉ gây thiệt hại thuần túy về vật chất không bị coi là tội phạm và không bị xử
lý về hình sự;
- Điều luật này quy định tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ, đường sắt với hai khung hình phạt khác nhau;
Trang 34khung 1 quy định - phạt tù từ ba tháng đến ba năm (cấu thành tội phạm cơ bản) được áp dụng cho trường hợp chỉ gây thương tích Còn khung 2 quy định
- phạt tù đến mười năm (cấu thành tội phạm tăng nặng) được áp dụng cho trường hợp gây chết người” [10, tr.21]
Sau hơn một năm thực hiện Thông tư 442/TTg, ngày 29/6/1956, theo
đề nghị của Ban Nội chính Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã ra Thông tư
số 556/TTg bổ khuyết điểm 4 của Thông tư này Điểm 4 của Thông tư 556 quy định: Không cẩn thận hay không theo Luật đi đường mà làm người khác
bị thương thì sẽ phạt tù từ ba tháng đến ba năm Nếu gây tai nạn làm chết người thì có thể bị phạt tù đến mười năm Trong trường hợp gây tai nạn lớn làm chết nhiều người và gây thiệt hại lớn đến tài sản của nhân dân thì có thể
bị phạt đến tù chung thân hay tử hình
Như vậy, trước ngày giải phóng miền Nam, tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ, đường sắt (tội tương tự như đường bộ) đều được điều tra, truy tố, xét xử theo Thông tư 442/TTg và Thông
tư 556/TTg của Thủ tướng Chính phủ Qua xem xét quy định nói trên có thể rút ra một số nhận xét như sau:
- Việc quy định tội phạm này trong pháp LHS ở một chừng mực nhất định thời đó còn nhiều hạn chế, thể hiện ở chỗ: trật tự ban hành các loại văn bản cũng như nội dung của văn bản không đúng thẩm quyền (Thông tư của Thủ tướng Chính phủ ban hành những nội dung đáng lẽ phải do luật quy định; Bộ trưởng ban hành nghị định ); điều luật quy định tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ còn đơn giản, chưa thể hiện sự phân hóa cao TNHS (chỉ có hai khung hình phạt và khoảng cách giữa mức tối thiểu và mức tối đa của các khung hình phạt quá xa nhau; các tình tiết định khung tăng nặng còn bó hẹp trong giới hạn mức độ hậu quả, mà không
có các loại tình tiết khác như tình tiết phạm tội trong tình trạng say rượu, gây
Trang 35tai nạn rồi bỏ chạy để trốn tránh trách nhiệm hoặc cố ý không cứu giúp người
bị nạn nên không đáp ứng được tính đa dạng, phức tạp của hành vi phạm tội) Việc quy định về tội xâm phạm ATGT đường sắt không được thể hiện rõ thành tội phạm mà chỉ quy định những tội phạm tương tự như đường bộ đều
bị phạt như vậy: “Ngoài ra đối với những tội tương tự với những tội ở trên đây, các Toà án có thể phạt theo như những tội ở trên”
- Thông tư số 556/TTg ngày 29/6/1955 được ban hành bổ sung cho Thông tư 442/TTg ngày 29/6/1956 cho thấy sự hạn chế về mặt lập pháp và không có hiệu quả trong thực tiễn, xa rời thực tiễn Trong Thông tư này, các nhà lập pháp đã quá nhấn mạnh tới mặt khách quan của tội phạm (dấu hiệu hậu quả của tội phạm), mà không chú ý tới lỗi vô ý của người phạm tội nên chế tài cho tội này quá nghiêm khắc, không phù hợp với bản chất của loại tội
có lỗi vô ý và với yêu cầu thực tiễn đấu tranh phòng, chống tội phạm Ví dụ: Thông tư 556/TTg ngày 29/6/1956 quy định gây chết 01 người có thể bị phạt
tù đến 10 năm (khung 2), gây chết nhiều người và gây thiệt hại lớn về tài sản
có thể phạt tù chung thân hoặc tử hình (khung 3) Thực tiễn xét xử từ trước tới nay chưa có bị cáo nào bị phạt tù chung thân hoặc tử hình về tội này Những
bị cáo làm chết 1 người thông thường bị xử tù 3 năm hoặc nhẹ hơn, chưa có trường hợp nào xử phạt đến 10 năm Điều đó chứng tỏ luật pháp quá xa rời thực tiễn, cần phải được sửa đổi, bổ sung [12, tr.31]
Trước khi ban hành BLHS năm 1985, việc xử lý hành vi phạm tội vi phạm các quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ được thực hiện theo hướng dẫn tại Bản sơ kết kinh nghiệm về đường lối xử lý tội vi phạm luật lệ giao thông gây tai nạn (Công văn số 949/NCPL ngày 25/11/1968 của TANDTC) Theo Bản sơ kết này, thì tội vi phạm luật lệ giao thông gây tai nạn xâm phạm nền an toàn giao thông - một bộ phận của nền trật tự, trị an - vốn thuộc loại tội khinh xuất Đối với loại tội này, cần xác định chắc chắn là
Trang 36có hành vi phạm luật lệ giao thông, có hậu quả tác hại cụ thể do hành vi phạm tội gây nên Tội vi phạm luật lệ giao thông gây tai nạn thường xảy ra trong phạm vi hoạt động nghề nghiệp của người lái và nói chung là hoạt động của người điều khiển phương tiện vận chuyển Ngoài ra, đường lối xử lý đối với
người phạm tội vi phạm luật lệ giao thông gây tai nạn là “trừng trị thích đáng đối với những vi phạm nghiêm trọng, nghiêm trị đúng mức đối với những vi phạm đặc biệt nghiêm trọng, đồng thời kết hợp với thận trọng để xem xét đầy
đủ mọi tình tiết một cách toàn diện”, cụ thể:
- Vi phạm nghiêm trọng về luật lệ giao thông vận tải luôn thể hiện trên hai mặt: 1) Người lái xe thiếu tinh thần trách nhiệm không chú ý kiểm tra an toàn của phương tiện vận chuyển, phóng bừa, vượt ẩu, không tuân thủ luật lệ giao thông vận tải; 2) Tai nạn làm thiệt hại đến tài sản của xã hội hoặc tính mạng của nhân dân
Về mức án, nếu không có tình tiết đáng châm chước, thông thường có thể phạt tới hai năm tù giam, nhưng cá biệt cũng có vụ có thể xử phạt tới ba năm tù giam Châm chước đối với những vi phạm tuy nghiêm trọng nhưng xảy ra trong những hoàn cảnh đặc biệt của thời kỳ chiến tranh, như: đường sá, cầu, phà xấu vì bị phá hoại, xe chạy ban đêm không được bật đèn, lái xe mới được đào tạo, tay lái non, có ít kinh nghiệm do thời gian phục vụ còn ngắn, chưa kịp xử lý nhiều khó khăn, phức tạp đặc biệt, có khi lại bị mệt mỏi vì phải tăng cường độ lao động do yêu cầu cấp thiết của kế hoạch vận chuyển; địch
uy hiếp và bắn phá, người lái xe mất bình tĩnh, do tinh thần bị căng thẳng mà gây ra tai nạn; v.v [5, tr.135] Về mức hình phạt, trong trường hợp này có thể áp dụng hình phạt và biện pháp nhẹ như: cảnh cáo, án treo; trường hợp thật cần thiết giam giữ, không nên phạt quá một năm tù
- Phạm tội vi phạm đặc biệt nghiêm trọng về luật lệ giao thông, vận tải
là những vi phạm thể hiện đầy đủ trên các mặt sau đây:
Trang 371) Vi phạm có mức độ khinh xuất cao như: lái xe biết rõ ràng là phương tiện vận chuyển không an toàn, có thể dễ gây tai nạn mà không quan tâm sửa chữa hoặc đề nghị sửa chữa, cứ sử dụng phương tiện một cách tắc trách, không có biện pháp tối cần thiết phòng ngừa tai nạn; phóng bừa, vượt ẩu một cách quá mức, không tuân thủ luật lệ một cách trắng trợn; có biểu hiện rõ ràng
là ỷ lại vào tình hình thời chiến mà vi phạm luật lệ giao thông, trong trường hợp không có gì là ảnh hưởng trực tiếp do địch gây nên
2) Tai nạn gây nên tác hại lớn, như: chết nhiều người, tài sản bị thiệt hại có giá trị lớn làm trở ngại cho sự thực hiện chủ trương và kế hoạch của Đảng và Nhà nước; v.v
3) Nhân thân của bị cáo xấu, hoàn cảnh và điều kiện phạm tội nghiêm trọng, như: lái xe có phẩm chất chính trị xấu, sinh hoạt bê tha, đã có tiền án, tiền sự về vi phạm luật lệ giao thông vận tải, đang lợi dụng nhiệm vụ công tác
để có những hành vi phạm pháp khác (như thông đồng với gian thương, với những phần tử xấu chở hàng lậu thuê, đầu cơ, chở hàng thuê lấy tiền tiêu riêng; v.v )
- Về mức án, nếu không có tình tiết gì đáng châm trước và chưa xét đến những hành vi phạm tội khác với ý nghĩa là phạm tội độc lập, có thể áp dụng mức án đến năm năm tù giam; cá biệt có thể phạt tới bảy năm tù giam Mục IV - Đường lối xử lý đối với một số trường hợp cụ thể cũng đã nêu:
1) Việc định tội và việc phân định mức độ TNHS giữa người lái chính với lái phụ hoặc người nào khác cầm tay lái;
2) Vấn đề thu hồi bằng cầm lái (với tính chất là một biện pháp hành chính, vừa là một hình phạt phụ về hình sự)
Ngoài ra, Thủ tướng Chính phủ cũng ban hành Chỉ thị số 138-TTg ngày 15/8/1970 về việc cấm dùng xe ôtô vận tải trái phép Theo đó, các lái xe ôtô vận tải tuyệt đối không được mang xe ô tô của Nhà nước đi vận chuyển
Trang 38trái phép; nếu vi phạm sẽ bị thi hành kỷ luật nặng, phạt tiền, thu bằng lái, truy
tố trước Tòa án Tuy nhiên, cũng chưa khẳng định rõ, nếu ở mức độ nặng, thì
bị truy cứu TNHS về tội phạm gì
Đến năm 1976, Chính phủ mới ban hành Sắc luật số 03-SL/76 ngày 15/3/1976 quy định tội phạm và hình phạt đối với hành vi xâm phạm trật tự công cộng, an toàn công cộng và sức khỏe của nhân dân Tại Điều 9 Sắc luật này quy định về tội xâm phạm đến trật tự công cộng, an toàn công cộng và
sức khỏe của nhân dân như sau: "Tội vi phạm luật lệ giao thông gây tai nạn nghiêm trọng với các khung hình phạt tù từ ba tháng đến năm năm, trường hợp nghiêm trọng thì bị phạt tù đến mười lăm năm Trong mọi trường hợp có thể bị phạt tiền đến 1000 đồng ngân hàng"
Như vây, trước khi ban hành BLHS năm 1985, các hành vi vi phạm các quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ hay đường sắt chưa được quy định là một tội phạm độc lập Đường lối xử lý hành vi phạm tội vi phạm luật lệ giao thông gây tai nạn được thực hiện theo hướng dẫn của TANDTC tại Bản sơ kết kinh nghiệm về đường lối xét xử tội vi phạm luật lệ giao thông gây tai nạn Đến năm 1976, Nhà nước mới ban hành một văn bản dưới dạng Sắc luật quy định tội phạm và hình phạt đối với tội vi phạm luật lệ giao thông gây tai nạn nghiêm trọng Tội vi phạm luật lệ giao thông gây tai nạn nghiêm trọng chỉ là một trong số các tội xâm phạm đến trật tự công cộng,
an toàn công cộng và sức khỏe nhân dân; được quy định tại một điều luật có
tên tội danh là tội "xâm phạm đến trật tự công cộng, an toàn công cộng và sức khỏe nhân dân" [10]
Tựu chung lại, trong giai đoạn này, mặc dù Nhà nước đã ban hành một
số văn bản khác nhau, tuy nhiên, phần lớn các văn bản chỉ tập trung chủ yếu vào xử lý và hướng dẫn về tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ, đường sắt trong nhóm các tội xâm phạm an toàn công
Trang 391.2.2 Giai đoạn từ khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1985 đến trước khi pháp điển hóa lần thứ hai - Bộ luật hình sự năm 1999
Năm 1985, BLHS đầu tiên của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ra đời, được công bố bởi Lệnh của Chủ tịch nước ngày 09/7/1985 và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/1986 Về nhóm tội xâm phạm ATGT đường bộ, Bộ LHS đã quy định cụ thể các tội sau:
(1) Tội vi phạm các quy định về an toàn giao thông vận tải (Điều 186)
Trong Bộ luật này, tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ chưa có tên riêng, mà được quy định chung trong tội vi phạm các quy định về ATGT vận tải thuộc bốn lĩnh vực - đường bộ, đường sắt, đường thủy, đường không Quy phạm pháp luật quy định tội vi phạm quy định về an toàn giao thông vận tải của BLHS năm 1985 (Điều 186, Chương VIII - Các tội xâm phạm an toàn, trật tự công cộng và trật tự quản lý hành chính) có nội dung như sau:
1 Người nào điều khiển phương tiện giao thông vận tải mà vi phạm các quy định về an toàn giao thông vận tải đường bộ, đường sắt, đường thủy, đường không gây thiệt hại đến tính mạng, sức khỏe người khác hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản, thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc bị phạt tù từ sáu tháng đến năm năm:
a) Đi quá tốc độ, chở quá trọng tải, tránh, vượt trái phép; b) Không đi đúng tuyến đường, phần đường, luồn lách, đường bay và độ cao quy định;
c) Vi phạm các quy định khác về an toàn giao thông vận tải
2 Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm:
Trang 40a) Điều khiển phương tiện ATGT vận tải mà không có bằng lái; trong khi say rượu hoặc say do dùng chất kích thích khác;
b) Gây tai nạn rồi bỏ chạy để trốn tránh trách nhiệm hoặc cố
ý không cứu giúp người bị nạn
3 Phạm tội gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù
từ bảy năm đến hai mươi năm
4 Phạm tội trong trường hợp có khả năng thực tế dẫn đến hậu quả đặc biệt nghiêm trọng nếu không được ngăn chặn kịp thời, thì bị xử phạt cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc bị phạt tù
từ ba tháng đến ba năm
Tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ được quy định tại Điều 186 BLHS năm 1985 so với nội dung trong Điều 9 Sắc luật 03-SL/76 đã có một bước tiến bộ rất lớn cả về nội dung và kỹ thuật
lập pháp, cụ thể tên của tội đã được xác định rõ là "Tội vi phạm các quy định
về an toàn giao thông vận tải gây hậu quả nghiêm trọng" Đây là điều mà các
văn bản pháp luật trước đó đều chưa thể hiện được Ngoài ra, Điều 186 BLHS năm 1985 không chỉ nêu tội danh mà đã mô tả các dấu hiệu pháp lý đặc trưng của tội phạm cũng như quy định các khung hình phạt tương ứng với các loại trường hợp phạm tội khác nhau, khắc phục được hạn chế của Sắc luật 03-SL/76 (chỉ nêu tội danh và hình phạt) Đặc biệt, đường lối xử lý tội phạm theo Điều 186 BLHS năm 1985 cũng có sự thay đổi so với Sắc luật 03-SL/76, Thông tư 442/TTg và Thông tư 556/TTg Về hình phạt tù, Điều 186 BLHS năm 1985 đã nâng mức phạt tù tối đa từ 15 năm lên 20 năm cho phù hợp với các trường hợp đặc biệt nghiêm trọng của tội này
(2) Tội cản trở giao thông vận tải gây hậu quả nghiêm trọng (Điều 187)
Theo đó, Điều luật này quy định: