1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hợp tác giữa các quốc gia trong phòng, chống tội phạm có tính chất quốc tế trên biển Đông

129 88 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 129
Dung lượng 1,59 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luận văn nghiên cứu đưa ra những kết luận, đề nghị và các khuyến nghị nhằm phục vụ cho công tác đào tạo và nghiên cứu khoa học, đồng thời kết quả nghiên cứu có thể dùng làm tài liệu tham khảo hữu ích cho việc nghiên cứu và cho công tác phòng ngừa và đấu tranh phòng, chống tội phạm có tính chất quốc tế trên biển Đông. Thông qua kết quả nghiên cứu, luận văn muốn nhấn mạnh đến tầm quan trọng của vấn đề hợp tác giữa các quốc gia, của hệ thống pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia trong việc điều chỉnh các quan hệ quốc tế nói chung và trong cuộc chiến chống tội phạm có tính chất quốc tế trên biển Đông nói riêng.

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

HÀ TUẤN ANH

HỢP TÁC GIỮA CÁC QUỐC GIA TRONG PHÕNG, CHỐNG TỘI PHẠM CÓ TÍNH CHẤT QUỐC TẾ

TRÊN BIỂN ĐÔNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Hà Nội - 2018

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

HÀ TUẤN ANH

HỢP TÁC GIỮA CÁC QUỐC GIA TRONG PHÕNG CHỐNG TỘI PHẠM CÓ TÍNH CHẤT QUỐC TẾ

TRÊN BIỂN ĐÔNG

Chuyên ngành: Luật Quốc tế

Mã số: 60 38 01 08

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Cán bộ hướng dẫn khoa học: TS GVC LÊ VĂN BÍNH

Hà Nội - 2018

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Học viên xin cam đoan Luận văn thạc sĩ này là công trình nghiên cứu của riêng cá nhân Các kết quả nghiên cứu nêu trong Luận văn này có sự kế thừa các công trình, ấn phẩm, bài viết đã công bố Các số liệu nghiên cứu, ví

dụ, trích dẫn, diễn giải trong Luận văn này được đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Học viên cam đoan đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội

Kính đề nghị Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội xem xét để cho học viên bảo vệ luận văn theo đúng kế hoạch

Xin trân trọng cảm ơn!

NGƯỜI CAM ĐOAN

Hà Tuấn Anh

Trang 4

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Tình hình nghiên cứu 6

3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn 8

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 8

5 Phương pháp nghiên cứu 9

6 Những điểm mới của đề tài 9

7 Kết quả nghiên cứu của đề tài 10

8 Kết cấu của đề tài 10

Chương 1 TÌNH HÌNH HỢP TÁC GIỮA CÁC QUỐC GIA TRONG ĐẤU TRANH PHÕNG, CHỐNG TỘI PHẠM CÓ TÍNH CHẤT QUỐC TẾ TRÊN BIỂN ĐÔNG 11

1.1 Một số vấn đề về địa chính trị của biển Đông 11

1.2 Tội phạm có tính chất quốc tế và tội phạm có tính chất quốc tế trên biển 15 1.3 Các loại tội phạm có tính chất quốc tế trên biển Đông 20

1.4 Trách nhiệm pháp lý quốc tế của quốc gia trong hợp tác đấu tranh phòng, chống tội phạm có tính chất quốc tế trên biển 25

1.5 Tầm quan trọng của việc hợp tác giữa các quốc gia trong đấu tranh phòng, chống tội phạm có tính chất quốc tế ở biển Đông 31

Chương 2 PHÁP LUẬT QUỐC TẾ VÀ PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ HỢP TÁC ĐẤU TRANH PHÕNG CHỐNG TỘI PHẠM CÓ TÍNH CHẤT QUỐC TẾ TRÊN BIỂN ĐÔNG 35

2.1 Pháp luật quốc tế trong hợp tác đấu tranh phòng, chống tội phạm có tính chất quốc tế trên biển 35

2.2 Quy định của pháp luật quốc tế, pháp luật Việt Nam về đấu tranh phòng, chống tội phạm có tính chất quốc tế trên vùng biển nằm ngoài quyền tài phán quốc gia 38

Trang 5

2.3 Hợp tác giữa các quốc gia nhằm bảo đảm an ninh, đấu tranh phòng, chống

tội phạm trên các vùng biển thuộc quyền tài phán quốc gia 57

2.4 Hợp tác quốc tế trong dẫn độ tội phạm có tính chất quốc tế trên biển Đông

65

2.5 Quan điểm của Đảng, Nhà nước Việt Nam về hợp tác quốc tế trong đấu

tranh phòng, chống tội phạm có tính chất quốc tế trên biển 70

2.6 Quy định của pháp luật về các lực lượng chức năng của Việt Nam hoạt

động trên biển 72

Chương 3 HỢP TÁC GIỮA CÁC LƯỢNG THỰC THI PHÁP LUẬT TRÊN

BIỂN: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ ĐẤU TRANH CHỐNG TỘI PHẠM CÓ TÍNH CHẤT QUỐC TẾ TRÊN BIÊN

ĐÔNG 88

3.1 Kết quả phối hợp hoạt động giữa các lực lượng chức năng của Việt Nam

hoạt động trên biển 88

3.2 Kết quả hoạt động hợp tác quốc tế của lực lượng chức năng Việt Nam với các

cơ quan, tổ chức, lực lượng quốc gia khác trong đấu tranh phòng, chống tội phạm

có tính chất quốc tế trên biển Đông 91

3.3 Thực trạng công tác phòng, chống tội phạm có tính chất quốc tế trên biển

của Việt Nam; xu hướng, diễn biến mới trong giai đoạn hiện nay 93

3.4 Thực trạng hợp tác giữa các quốc gia trong đấu tranh chống tội phạm có

tính chất quốc tế ở biển Đông 99

3.5 Một số khó khăn, vướng mắc và giải pháp nâng cao hiệu quả hợp tác giữa các quốc gia trong đấu tranh phòng chống tội phạm có tính chất quốc tế ở biển Đông 103 KẾT LUẬN 114

Trang 6

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

Từ viết tắt Từ viết đầy đủ Nghĩa tiếng Việt của từ viết tắt

ARF Asian Regional Forum Diễn đàn khu vực châu Á ASEAN Association of

Southeast Asian Nations

Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á ASEANAPOL ASEAN Association

of Police

Hiệp hội Cảnh sát các nước Đông

Nam Á BAKORKAMLA Cơ quan Điều phối an ninh biển

Indonesia CGA Coast Guard Agency Cơ quan Quản lý Cảnh sát biển COC Code Of Conduct Bộ quy tắc ứng xử ở biển Đông CHXHCN Cộng hòa xã hội chủ nghĩa

CLC 92

International Convention on Civil Liability for Oil Pollution Damage 1992

Công ước quốc tế về trách nhiệm dân dự đối với tổn thất ô nhiễm dầu

năm 1992 DOC

FUND 92 International Oil Pollution

Compensation Fund 1992

Công ước Quỹ bồi thường do ô nhiễm dầu năm 1992 INTERPOL International Criminal

Police Organization Tổ chức Cảnh sát hình sự quốc tế IMO International Maritime

Organization Tổ chức hàng hải quốc tế

IOPC International Oil

Pollution Compensation

Tổ chức bồi thường do

ô nhiễm dầu JCG Japan Coast Guard Cảnh sát biển Nhật Bản

VCG Vietnam Coast Guard Cảnh sát biển Việt Nam

MMEA Malaysian Maritime

Enforcement Agency Cục tuần tra hải phận Malaysia MSPA Maritime security

patrol area Khu vực tuần tra an ninh hàng hải ReCAAP

Regional Cooperation Agreement on Combating Piracy and Armed Robbery against Ships in Asia

Hiệp định chống cướp biển và cướp

có vũ trang với tàu thuyền ở châu Á SPCG Singapore Police Cảnh sát biển Singapore

Trang 7

Từ viết tắt Từ viết đầy đủ Nghĩa tiếng Việt của từ viết tắt

SOLAS

International Convention for the Safety of Life

at Sea, 1960

Công ước Quốc tế về

An toàn sinh mạng con người

trên biển SAR Search and rescue Tìm kiếm cứu nạn

SCG Singapore Police

Coast Guard Cảnh sát biển Singapore UNCLOS 1982 United Nations Convention

on the Law of the Sea

Công ước của Liên Hợp Quốc

về Luật Biển năm 1982 USCG United States Coast Guard Cảnh sát biển Hoa Kỳ

UNODC United Nations Office on

Drugs and Crime

Văn phòng kiểm soát ma túy và tội

phạm Liên Hợp quốc

Trang 8

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Thế kỷ 21, các quốc gia trên thế giới ngày một coi trọng vị trí, tiềm năng mang lại của biển, đảo, đại dương, xác định đây là định hướng chiến lược phát triển chủ yếu Biển, đảo, đại dương đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội, gắn bó mật thiết tới bảo đảm quốc phòng, an ninh và đời sống của nhân dân mỗi quốc gia Xu thế toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc

tế hiện nay thúc đẩy các quốc gia ngày càng vươn xa hơn ra biển, đại dương Không chỉ các nước có biển mà các nước không có biển cũng đã, đang tìm cách vươn ra biển, lấy biển là hướng mở rộng không gian sinh tồn, phát triển Xu thế nêu trên đã làm cho tình hình biển, đảo xuất hiện nhiều diễn biến phức tạp, bên cạnh các tranh chấp về chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán và lợi ích kinh tế của các quốc gia trên biển là sự gia tăng của tình hình tội phạm, vi phạm mang tính chất quốc tế Vấn đề an ninh biển, đại dương ngày càng trở nên cấp bách, cần tới sự hợp tác, chung tay của nhiều quốc gia có liên quan

Biển Đông có diện tích rộng khoảng 3,5 triệu km², được bao bọc bởi 9 quốc gia: Việt Nam, Trung Quốc, Campuchia, Thái Lan, Malaysia, Singapore, Indonesia, Bruney và Philippines Biển Đông được coi là một trong những bồn trũng chứa dầu khí lớn của thế giới; có trữ lượng lớn băng cháy, nhiều khoáng sản quý như mănggan, titan, uranium, phốt phát Mặt khác, biển Đông nằm trên tuyến hàng hải quan trọng, mật độ giao thông hàng hải quốc tế nhộn nhịp thứ hai thế giới, là tuyến vận tải biển huyết mạch nối giữa Đông Á với châu Âu, Trung Đông, châu Phi, có hơn 30% lượng hàng hoá giao thương trên thế giới

và 80% lượng dầu mỏ thế giới vận chuyển qua Ngoài tiềm năng giao thông vận tải và kinh tế, biển Đông còn có ý nghĩa chiến lược về quốc phòng, an ninh với nhiều quốc gia Với 16 tuyến đường hàng hải, 12 tuyến đường hàng không quốc tế từ Đông sang Tây, từ Bắc xuống Nam, biển Đông nằm án ngữ lối ra vào lục địa châu Á, có ý nghĩa chiến lược đối với nhiều quốc gia trên thế giới

cả trong thời bình và thời chiến Do vậy, biển Đông trở thành là một vùng biển chiến lược, then chốt trong cấu trúc an ninh khu vực Châu Á – Thái Bình Dương – khu vực phát triển năng động nhất thế giới thế kỷ XXI

Trang 9

Việt Nam là quốc gia ven bờ biển Đông, có đường bờ biển dài khoảng 3.260 km trải dài dọc biển Đông; có diện tích biển trên 1 triệu km²; trong 63 tỉnh, thành phố của cả nước, có 28 tỉnh, thành phố ven biển; có hơn 3.000 hòn đảo lớn, nhỏ; 2 quần đảo xa bờ là quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa

án ngữ trên tuyến đường hàng hải quốc tế, có vị trí chiến lược quan trọng về quốc phòng - an ninh và phát triển kinh tế - xã hội

Quần đảo Hoàng Sa gồm 30 đảo, bãi đá, cồn, san hô, bãi cạn, nằm trên vùng biển có diện tích khoảng 16.000 km², cách đảo Lý Sơn của Việt Nam khoảng 120 hải lý, cách đảo Hải Nam (Trung Quốc) khoảng 140 hải lý Quần đảo Trường Sa gồm hơn 100 đảo, bãi đá, cồn, san hô và bãi cạn, vùng biển có diện tích rộng khoảng 160.000 – 180.000 km², cách Cam Ranh (Khánh Hòa) khoảng 243 hải lý, cách đảo Phú Quý (Bình Thuận) khoảng 203 hải lý, cách đảo Hải Nam (Trung Quốc) khoảng 585 hải lý [26]

Để bảo vệ chủ quyền, lợi ích quốc gia, dân tộc trên biển, Việt Nam đã có nhiều hoạt động thực thi pháp luật trên biển Đông Lập trường nhất quán của Việt Nam là khẳng định chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa; quyền chủ quyền, quyền tài phán trong vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý và thềm lục địa theo quy định của Công ước của Liên Hợp Quốc về Luật biển năm

1982 (UNCLOS 1982) Việt Nam đã chủ động, tích cực triển khai đồng bộ chính sách, pháp luật và các hoạt động quản lý nhà nước trên biển nhằm tạo cơ

sở vững chắc cho việc bảo vệ chủ quyền, lợi ích quốc gia, dân tộc trên biển Đông, cụ thể:

Một là, Việt Nam đã ban hành Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020,

thể hiện rõ quan điểm hợp tác quốc tế về biển, góp phần xây dựng vùng biển hòa bình, hợp tác, hữu nghị, cùng phát triển trên cơ sở tôn trọng chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ Mở rộng hợp tác quốc tế về biển nhằm phát huy tiềm năng, thế mạnh của Việt Nam, khai thác biển hiệu quả, phát triển bền vững kinh tế biển gắn với bảo đảm an ninh biển, giải quyết những tranh chấp trên biển bằng biện pháp hòa bình, trên cơ sở tôn trọng pháp luật quốc tế Qua 10 năm thực hiện, trên cơ sở đánh giá các thành tựu, hạn chế, yếu kém và các bài học kinh nghiệm, ngày 22-10-2018, tại Hội nghị lần thứ 8 Ban chấp hành Trung ương khóa XII đã ban hành Nghị quyết số 36 – NQ/TW về Chiến lược phát triển bền

Trang 10

vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn 2045, trong đó tư tưởng xuyên suốt là phát triển bền vững kinh tế biển Đặc biệt nhấn mạnh, với tính chất mở, xuyên biên giới của biển và đại dương, đòi hỏi sự hợp tác chặt chẽ, toàn diện của các quốc gia trên thế giới để giải quyết các vấn đề về biển, đặc biệt là vấn đề bảo đảm an ninh hàng hải, đấu tranh phòng, chống tội phạm, vi phạm pháp luật trên biển và ứng phó với biến đổi khí hậu, bảo vệ môi trường

Hai là, về pháp lý, bên cạnh Tuyên bố của Chính phủ nước CHXHCN

Việt Nam ngày 12/5/1977 về lãnh hải, vùng tiếp giáp, vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa Việt Nam và ngày 12/11/1982 về đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải, Việt Nam đã xây dựng và trình Liên Hợp Quốc báo cáo xác định ranh giới ngoài thềm lục địa khu vực phía Bắc, đồng thời phối hợp với Malaysia xây dựng và trình Liên Hợp Quốc báo cáo xác định ranh giới ngoài thềm lục địa phía nam Các vùng biển, đảo, quần đảo của Việt Nam đã được ghi nhận trong các Hiến pháp Việt Nam (1992, 2013) Năm 2003, Việt Nam đã ban hành Luật Biên giới quốc gia; năm 2012 ban hành Luật biển Việt Nam; năm 2014 ban hành Luật bảo vệ tài nguyên môi trường biển và hải đảo; năm

2015 ban hành Bộ luật Hàng hải; năm 2016 ban hành Luật Điều ước quốc tế; năm 2018 ban hành Luật Cảnh sát biển Việt Nam

Ba là, về quản lý hành chính, Việt Nam đã triển khai thành lập huyện

đảo Hoàng Sa thuộc thành phố Đà Nẵng; huyện đảo Trường Sa thuộc tỉnh Khánh Hòa; trong đó có thị trấn Trường Sa và 2 xã Song Tử Tây, Sinh Tồn; hiện có nhiều hộ gia đình sinh sống; xây dựng nhà khách, nhà tưởng niệm Bác

Hồ, dựng tượng Quốc công Tiết Chế Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn, xây dựng các chùa cũng như đã triển khai một số dự án quan trọng như nuôi trồng hải sản, chương trình năng lượng sạch, nước sạch và hệ thống chiếu sáng

ở các đảo trên huyện đảo Trường Sa; đã phủ sóng truyền hình, đài phát thanh, điện thoại di động lên toàn bộ biển Đông Tổ chức nhiều đoàn công tác trong cả nước thường xuyên ra thăm hỏi, động viên cán bộ, chiến sĩ và nhân dân đang sinh sống, làm việc trên quần đảo Trường Sa;

Bốn là, về kinh tế biển, Việt Nam đã, đang thực hiện một cách bình

thường các hoạt động về thăm dò, khai thác dầu khí trên các vùng biển và thềm lục địa quốc gia Tiếp tục duy trì hợp tác với các tập đoàn dầu khí lớn của các

Trang 11

quốc gia trên thế giới, như: Nga, Hoa Kỳ, Canada, Öc, Ấn Độ, Nhật Bản, Hàn Quốc trên vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý và thềm lục địa Các bộ, ngành chức năng và chính quyền địa phương đã tổ chức thực hiện nhiều biện pháp, giải pháp và chương trình hỗ trợ ngư dân khai thác thủy hải sản trên biển Ngư dân Việt Nam đã có truyền thống từ lâu đời đã và đang tiếp tục đánh bắt hải sản

ở khu vực quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa; sản lượng khai thác của khối tàu cá xa bờ chiếm khoảng 40% tổng sản lượng khai thác hải sản cả nước;

Năm là, về quốc phòng - an ninh, Việt Nam đã thành lập, kiện toàn về

biên chế, tổ chức, đầu tư nâng cao năng lực cho các lực lượng như Cảnh sát biển Việt Nam, Hải quân, Không quân, Bộ đội Biên phòng, Kiểm ngư, Hải quan để tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước đối với các vùng biển thuộc chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán của Việt Nam Ban hành một loạt các văn bản quy phạm pháp luật liên quan tới hoạt động của các lực lượng thực thi pháp luật trên biển nhằm nâng cao sức mạnh tổng hợp, năng lực phòng thủ, tạo thành thế trận quốc phòng – an ninh trên biển Các lực lượng tuần tra, kiểm soát của Việt Nam thường xuyên tổ chức tuần tra, kiểm tra, kiểm soát để thực thi pháp luật trên biển, đấu tranh phòng, chống tội phạm, vi phạm pháp luật; xua đuổi, xử lý hành chính các vụ việc tàu cá nước ngoài xâm phạm; ngăn chặn hoạt động nghiên cứu, thăm dò trái phép vùng biển Việt Nam

Sáu là, về ngoại giao, Việt Nam luôn kiên trì đấu tranh có lý, có tình ở

các cấp khác nhau, song phương và đa phương, qua cả kênh chính thức và không chính thức; kết hợp đấu tranh ngoại giao với tranh thủ dư luận và vận động quốc tế Việt Nam đã chủ động vận động qua nhiều kênh, nhiều cấp khác nhau, kể cả cấp cao để làm rõ lập trường đúng đắn của Việt Nam; phê phán yêu sách “đường lưỡi bò” phi lý của Trung Quốc, ủng hộ thực hiện Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở biển Đông giữa các nước ASEAN và Trung Quốc năm 2002 (DOC, Declaration on Conduct of the Parties in the East Sea), tiến tới xây dựng Bộ quy tắc ứng xử của các bên ở biển Đông (COC, Code of Conduct for the East Sea) nhằm duy trì hòa bình, ổn định ở biển Đông Việt Nam luôn tranh thủ nhận được sự đồng tình, ủng hộ của cộng đồng quốc tế, tạo sức mạnh tổng hợp trong các hoạt động đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển, đảo Việt Nam trên biển Đông

Trang 12

Hiện nay, tình hình tội phạm trên thế giới nói chung, tình hình tội phạm xảy ra trên biển Đông có nhiều diễn biến bất ổn, khó lường, ngày một đa dạng, đan xen, gắn kết giữa các lĩnh vực, vùng miền; phương thức, thủ đoạn hoạt động của tội phạm, đối tượng ngày một tinh vi, manh động; phương thức liên lạc, phương tiện sử dụng để phạm tội trên biển liên tục thay đổi, có tốc độ nhanh và hiện đại; tội phạm phi truyền thống, tội phạm có tổ chức, tội phạm xuyên quốc gia, cướp biển và cướp có vũ trang chống lại tàu thuyền không có chiều hướng giảm Các loại tội phạm thường lợi dụng yếu tố vùng biển rộng, thời tiết khó lường, lực lượng chức năng mỏng để thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật như: khai thác thác thủy, hải sản bất hợp pháp; thăm dò, nghiên cứu khoa học biển trái phép; cướp biển, buôn bán người, ma túy, vũ khí, chất nổ; buôn lậu, gian lận thương mại diễn biến ngày càng phức tạp, hầu hết đều

là tội phạm mang tính chất quốc tế

Chính vì vậy, việc hợp tác giữa các quốc gia trong đấu tranh phòng, chống tội phạm có tính chất quốc tế trên biển Đông đóng vai trò quan trọng trong giữ gìn an ninh, trật tự, giữ gìn vùng biển hòa bình, ổn định và phát triển

Do đặc tính của biển cả là mở, nếu các quốc gia chỉ hoạt động đơn lẻ, thiếu tính hợp tác sẽ dẫn đến việc tội phạm trên biển ngày càng khó kiểm soát hơn Hợp tác quốc tế vừa là quyền và cũng là nghĩa vụ của tất cả các quốc gia trên thế giới nói chung, các quốc gia khu vực biển Đông nói riêng nhằm hướng tới xây dựng vùng biển an ninh, hòa bình, ổn định và phát triển bền vững

Trong bối cảnh các nước ASEAN đang phối hợp chặt chẽ với cộng đồng quốc tế thông qua nhiều hình thức, trong đó có kênh các thành viên Diễn đàn hợp tác Á - Âu (ASEM) nhằm bảo đảm hòa bình, ổn định, an ninh an toàn, tự

do hàng hải, hàng không ở biển Đông; bảo đảm các tuyến giao thương trong và ngoài khu vực không bị cản trở [75], vấn đề hợp tác giữa các quốc gia trong đấu tranh phòng, chống tội phạm có tính chất quốc tế trên biển Đông được đặt

ra vô cùng cấp bách và mang tính tất yếu

Xuất phát từ những lý do nói trên, việc nghiên cứu hợp tác giữa các quốc gia trong phòng, chống tội phạm có tính chất quốc tế trên biển Đông có ý nghĩa

lý luận và thực tiễn quan trọng không những cho Việt Nam mà cho cả các quốc gia trong khu vực biển Đông, góp phần nâng cao hiệu quả hợp tác thực thi pháp

Trang 13

luật trên biển, thúc đẩy việc hợp tác giữa có hiệu quả giữa các quốc gia, hướng tới một mục tiêu chung xây dựng vùng biển hòa bình, ổn định và phát triển

Để góp phần thực hiện mục tiêu bảo đảm an toàn, an ninh hàng hải, giữ gìn an ninh, trật tự và duy trì thực thi pháp luật trên biển, làm chỗ dựa vững chắc cho người dân bám biển, phát triển kinh tế biển [1, 5, 8], học viên đã lựa

chọn đề tài “Hợp tác giữa các quốc gia trong phòng chống tội phạm có tính chất quốc tế trên biển Đông” để làm luận văn Thạc sỹ luật học, đây là vấn đề

hết sức cần thiết, phù hợp với chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước về tăng cường công tác đối ngoại và hợp tác quốc tế về biển; khai thác hiệu quả mọi tiềm năng kinh tế biển, đồng thời đảm bảo tốt nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ quốc gia trong giai đoạn hiện nay

2 Tình hình nghiên cứu

Hợp tác giữa các quốc gia trong phòng chống tội phạm có tính chất quốc

tế trên biển Đông là vấn đề quan trọng và rất rộng Liên quan đến các khía cạnh của đề tài này đã được một số nhà học giả, nhà luật học trong và ngoài nước quan tâm, nghiên cứu, ví dụ: về công tác dẫn độ có đề tài nghiên cứu khoa học

cấp bộ “Dẫn độ tội phạm và tương trợ tư pháp hình sự trong phòng chống tội phạm ở Việt Nam - Thực trạng và giải pháp” (Tổng cục Cảnh sát, Hà Nội, 2000) [21]; luận văn thạc sĩ “Quan hệ phối hợp giữa lực lượng cảnh sát nhân dân Việt Nam với cảnh sát nước ngoài trong đấu tranh phòng, chống tội phạm”, Bùi Anh Dũng, Học viện Cảnh sát nhân dân, 2000 [14]; luận văn thạc sĩ

“Phòng ngừa tội phạm buôn lậu theo chức năng của lực lượng cảnh sát biển ở vùng biển đông bắc”, Hoàng Quốc Dũng, Học viện an ninh nhân dân, 2017 [15]; luận văn thạc sỹ Luật học “Vấn đề dẫn độ trong pháp luật Việt Nam”,

Đào Thị Hà, Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, 2006 [17]; luận văn thạc sỹ

Luật học “Kiểm tra, kiểm soát theo thẩm quyền Cảnh sát biển Việt Nam”,

Nguyễn Quốc Khánh, Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, 2005 [19]; luận

văn thạc sỹ Luật học “Thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính của Cảnh sát biển Việt Nam”, Bùi Thị Kim Cúc, Khoa Luật, Đại học quốc gia Hà Nội, 2010 [11]; luận văn thạc sỹ “Thực hiện pháp luật xử lý vi phạm hành chính của vùng cảnh

Trang 14

sát biển 1”, Phạm Văn Đồng, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, 2013 [11]; luận văn thạc sỹ quản lý công “Xử lý vi phạm hành chính của CSBVN, một số vấn đề lý luận và thực tiễn”, Nguyễn Xuân Lâm, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, 2013 [16]; luận văn thạc sỹ Luật học “Dẫn độ - thực trạng và các giải pháp nâng cao hiệu quả”, Nguyễn Việt Hồng, Đại học Luật

Hà Nội, 2006 [18] Bên cạnh đó là sách giáo trình, sách tham khảo, các bài viết của học giả nghiên cứu về hợp tác giữa các quốc gia về nhiều lình vực khác nhau liên quan đến biển và đại dương, ví dụ, Giáo trình Công pháp quốc tế và Giáo trình Tư pháp quốc tế, do PGS.TS Nguyễn Bá Diến (chủ biên), Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội, 2013 [37, 38]; Ban Biên giới Bộ ngoại giao,

Giới thiệu một số vấn đề cơ bản của luật biển ở Việt Nam, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004 [27]; Ban Tuyên giáo Trung ương, Chiến lược biển của Việt Nam từ quan điểm đến thực tiễn, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2010 [28]; Công ước của Liên Hợp quốc về Luật biển năm 1982 và chiến lược biển của Việt Nam, Nguyễn Hồng Thao, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia,

Hà Nội, 2008 [58]; tại Kỷ yếu Hội thảo khoa học Quốc tế về biển Đông lần thứ nhất năm 2009 có các bài viết tham luận: Masahiro Akiyama, chủ tịch của tổ

chức Nghiên cứu chính sách về đại dương Nhật Bản về Lực lượng bảo vệ bờ biển trên thế giới và những nguy cơ đe dọa an ninh hàng hải mới nổi lên; Zuo

Keyuan, Giáo sư Trường luật Lancashire, Đại học Central Lancashire, nước

Anh “Trấn áp nạn cướp biển ở Biển Đông hướng tới thiết lập mối quan hệ hợp tác mới” và GS Liu Nam Lai, Trung tâm nghiên cứu luật pháp quốc tế, Viện Khoa học xã hội Trung Quốc với bài viết Vì sự ổn định và an ninh Biển Đông thì các quốc gia cần có một cơ chế hợp tác thiện chí mà các bên cùng chấp nhận được [46, 47, 62] hoặc bài báo về “Hợp tác trên biển và an ninh trên biển khu vực châu Á - Thái Bình Dương”, Luận Thùy Dương, Tạp chí nghiên cứu

quốc tế, Học viện ngoại giao số 31, 2012 [41]

Tuy nhiên, học viên chưa tìm thấy công trình nào nghiên cứu chuyên sâu

và có hệ thống về “Hợp tác giữa các quốc gia trong phòng chống tội phạm có

Trang 15

tính chất quốc tế trên biển Đông”, đặc biệt là mối quan hệ hợp tác của quốc gia

khu vực biển Đông thông qua hoạt động của các lực lượng cảnh sát biển/bảo vệ

bờ biển/thực thi pháp luật trên biển của các quốc gia khu vực biển Đông; cũng như các tài liệu nghiên cứu thực trạng hoạt động phối hợp giữa các lực lượng chức năng Việt Nam trên biển với nhau (Cảnh sát biển Việt Nam - VCG, Bộ đội Biên phòng, Kiểm ngư, Hải quan, Thanh tra hàng hải ) và hợp tác với các lực lượng thực thi pháp luật trên biển của các quốc gia khác trong khu vực biển Đông và thế giới [55, 56, 57] như hợp tác với: JCG của Nhật Bản, MMEA của Malaysia, SPCG của Singapore, Barkokamla của Indonesia, PCG của Philippines, CCG của Trung Quốc, USCG của Mỹ, ICG của Ấn Độ

Do vậy, việc nghiên cứu vấn đề hợp tác giữa các quốc gia trong phòng chống tội phạm có tính chất quốc tế trong bối cảnh tình hình biển Đông giai đoạn hiện nay mang tính thời sự và hết sức cần thiết

3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn

Làm rõ các vấn đề lý luận và thực tiễn của hoạt động về hợp tác giữa các quốc gia trong phòng chống tội phạm có tính chất quốc tế trên biển Đông;

Hệ thống hóa các hành vi vi phạm pháp luật có tính chất quốc tế trên biển Đông; nghiên cứu pháp luật quốc tế, pháp luật quốc gia trong lĩnh vực đấu tranh phòng, chống các hành vi vi phạm pháp luật có tính chất quốc tế trên biển theo thẩm quyền của các lực lượng thực thi pháp luật trên biển;

Hệ thống hóa một số quy định về đấu tranh phòng chống tội phạm có tính chất quốc tế trên biển Đông, nghiên cứu các quy định pháp luật về tội phạm, tội phạm có tính chất quốc tế trên biển; phân tích, so sánh, đánh giá, tìm

ra hạn chế của các quy định của các loại văn bản và sự hợp tác về lĩnh vực này;

Đề xuất một vài khuyến nghị và giải pháp nhằm hoàn thiện quy định pháp luật (quốc gia và quốc tế) về đấu tranh phòng chống tội phạm có tính chất quốc tế trên biển Đông, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân hoạt động hợp pháp trên biển Đông

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: các lực lượng thực thi pháp luật trên biển của Việt Nam và một số lực lượng thực thi pháp luật trên biển của quốc gia khác

Trang 16

cũng như sự hợp tác với nhau giữa các quốc gia trong đấu tranh chống tội phạm

có tính chất quốc tế trên biển Đông; các văn bản pháp luật quốc tế, điều ước song phương, đa phương, pháp luật quốc gia có liên quan đến đề tài, các ấn phẩm, bài viết đã được công bố trên các tạp chí chuyên ngành

Phạm vi nghiên cứu: biển Đông và các quan hệ hợp tác có liên quan đến

đề tài nghiên cứu ở biển Đông

5 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình nghiên cứu, học viên sử dụng các phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau đây: phương pháp nghiên cứu số liệu, thống kê; phương pháp phân tích; phương pháp tổng hợp; và phương pháp so sánh

Mục đích kết hợp bốn phương pháp nói trên để thống kê, tổng hợp, phân tích các quy định về hợp tác giữa các quốc gia trong khu vực biển Đông, và các hợp tác khác có liên quan đến biển Đông nhằm đấu tranh với các hành vi phạm tội và đấu tranh chống tội phạm có tính chất quốc tế trên biển Đông, nhằm đưa

ra những đánh giá cụ thể về thực trạng thực thi pháp luật, thực trạng của việc hợp tác giữa các quốc gia nhằm đấu tranh, phòng ngừa đối với các loại tội này,

có sự so sánh giữa các quy định trong các điều ước, trong văn bản pháp luật quốc gia, viện dẫn số liệu cụ thể về tình hình tội phạm trên biển quốc tế và phân tích, trích dẫn các quy định tương ứng có liên quan của pháp luật

6 Những điểm mới của đề tài

Đề tài “Hợp tác giữa các quốc gia trong phòng chống tội phạm có tính chất quốc tế trên biển Đông” được lựa chọn không chỉ dừng lại ở việc nghiên

cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn trong hợp tác quốc tế của các quốc gia trong bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán quốc gia trên biển; bảo vệ tính mạng, sức khỏe, tài sản của cá nhân, tổ chức hoạt động trên biển; hướng tới mục tiêu xây dựng vùng biển hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển, mà còn nêu lên được những tồn tại, thiếu sót trong hợp tác quốc tế cũng như những tồn tại của hệ thống pháp luật điều chỉnh các hoạt động nói trên, từ

đó đề xuất một vài phương án có tính chất khuyến nghị nhằm hỗ trợ việc hợp tác giữa các quốc gia trong thực thi pháp luật, đấu tranh có hiệu quả với tội phạm có tính chất quốc tế trên biển Đông theo các quy định của pháp luật quốc gia và pháp luật quốc tế

Trang 17

7 Kết quả nghiên cứu của đề tài

Luận văn nghiên cứu nhằm đưa ra những kết luận, những đề nghị và các khuyến nghị nhằm phục vụ cho công tác đào tạo và nghiên cứu khoa học, đồng thời kết quả nghiên cứu có thể dùng làm tài liệu tham khảo hữu ích cho việc nghiên cứu, công tác phòng ngừa và đấu tranh phòng, chống tội phạm có tính chất quốc tế trên biển Đông

Thông qua kết quả của việc nghiên cứu, luận văn muốn nhấn mạnh đến tầm quan trọng của vấn đề hợp tác giữa các quốc gia; các vấn đề của hệ thống pháp luật quốc tế, pháp luật quốc gia trong điều chỉnh các quan hệ hợp tác quốc tế nói chung và cuộc chiến phòng, chống tội phạm có tính chất quốc tế trên biển Đông nói riêng

8 Kết cấu của đề tài

Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu thành 3 Chương:

Chương 1: Tình hình hợp tác giữa các quốc gia trong đấu tranh phòng,

chống tội phạm có tính chất quốc tế trên biển Đông;

Chương2: Pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia về hợp tác đấu tranh

chống tội phạm có tính chất quốc tế trên biển Đông Đông;

Chương3: Hợp tác giữa các lực lượng thực thi pháp luật trên biển: thực

trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả đấu tranh chống tội phạm có tính chất

quốc tế trên biển Đông

Trang 18

Bảng 3.1: Toàn bộ khu vực biển Đông

Địa hình của biển Đông phức tạp xuất phát tính chất quần đảo tại các rìa phía đông và nam, đa số các điểm vào ra biển Đông (các tuyến, luồng hàng hải quốc tế) đều hẹp và là các nút thắt cổ chai, gồm:

Trang 19

- Eo biển Singapore và Malacca – tuyến đường ngắn nhất nối biển Đông với Ấn Độ Dương, thông qua biển Andaman;

- Eo biển Karimata – nối với biển Java và sau đó là các Eo biểm Sunda

- Kênh Bashi và Kênh Balingtang – nối với biển Philippines và Thái Bình Dương giữa Đài Loan và Luzon;

- Eo biển Đài Loan [73]

Theo quy định của UNCLOS 1982 [58], biển Đông chứa đựng hầu hết các các vấn đề của luật biển quốc tế, như: quốc gia ven biển, quốc gia quần đảo, quốc gia không có biển, quốc gia bất lợi về mặt địa lý, các vùng biển thuộc quyền tài phán quốc gia, vùng nước lịch sử, phân định biển, biển kín, biển nửa kín, eo biển quốc tế, hợp tác quản lý tài nguyên biển, bảo vệ môi trường biển, chống cướp biển, an toàn hàng hải, tìm kiếm cứu nạn Đặc biệt, những khái niệm được ghi nhận trong UNCLOS 1982 về vùng đặc quyền kinh tế (Exclusive Economic Zone – EZZ, Điều 55) và thềm lục địa (Continental Shelf

- Điều 76) đã làm biển Đông bị bao phủ bởi các vùng biển thuộc quyền chủ quyền, quyền tài phán quốc gia của các nước ven biển Đông, xuất hiện nhiều hơn các vùng biển chồng lấn; khoảng cách về biên giới một số quốc gia trong khu vực trước đây vốn rất xa cách nhau trở thành các quốc gia cùng chia sẻ lợi ích biển do có đường biên giới biển chung

Các quốc gia ven biển Đông với các đặc tính chính trị, văn hóa, dân tộc, lịch sử, ngôn ngữ và chính sách, chiến lược biển khác nhau đã làm cho biển Đông luôn tiềm ẩn các tranh chấp hoặc xung đột không thường trực Trung Quốc với tham vọng biến biển Đông thành “ao nhà”, với tư cách là một cường quốc khu vực đã sử dụng tất cả các công cụ kinh tế, chính trị, ngoại giao, thậm

Trang 20

chí sắp đặt mâu thuẫn trong mối đoàn kết các nước ASEAN nhằm cưỡng ép, hướng tới mục tiêu kiểm soát hoàn toàn Biển Đông Tháng 2/2009, Trung Quốc

đã gửi một số tàu chiến tới vịnh Aden, hoàn thành việc xây dựng một căn cứ tàu ngầm hạt nhân trên đảo Hải Nam Trung Quốc cũng công khai bộc lộ ý định triển khai theo học thuyết Thayer Mahan [25], nhằm biến Trung Quốc thành một cường quốc biển Với tham vọng vươn ra đại dương, Trung Quốc đã vạch đường nối hai chuỗi đảo chính, trong đó biển Đông nằm trong chuỗi đảo số 1, như là cửa ngõ để Trung Quốc có thể vươn ra chuỗi đảo số 2, dần dần tiến ra Thái Bình Dương, Ấn Độ Dương và có thể thỏa mãn giấc mộng siêu cường Bên cạnh đó, Trung Quốc còn tiến hành nạo vét, bồi đắp, tôn tạo các cấu trúc địa lý trên biển Đông; đưa vũ khí, thiết bị kỹ thuật quân sự lên các điểm đảo chiếm đóng trái phép, vi phạm nghiêm trọng luật pháp quốc tế, DOC, hủy hoại môi trường, hệ sinh thái biển, làm phức tạp thêm tình hình, đe dọa an ninh hàng hải và các tuyến hàng hải trên biển Đông; là nhân tố ảnh hưởng trực tiếp và có tác động không nhỏ đến việc hợp tác giữa các quốc gia ven biển Đông và ASEAN trong giữ gìn vùng biển hòa bình, ổn định, phát triển [74]

Bên cạnh đó, Trung Quốc tiếp tục triển khai đồng bộ biện pháp chính trị, ngoại giao, tuyên truyền trên thực địa; tiến hành các hoạt động quân sự, chấp pháp, nghiên cứu, thăm dò và sử dụng tàu giả ngư, tàu cá bán vũ trang; hoàn thiện các công trình quân sự trên các đảo chiếm đóng trái phép; thành lập các nhóm tàu (tàu Hải cảnh, chấp pháp, tàu thăm dò, tàu cá dân binh) di chuyển dọc xuống phía Nam; huy động 13 cơ quan vẽ lại bản đồ biển, chỉnh lý chứng cứ địa hình, địa mạo, pháp lý của “đường 9 khúc”, thử nghiệm tàu lặn có người lái lặn sâu đến 4.500m, truyền hình ảnh về tàu mẹ nhằm mục đích nghiên cứu, thăm dò đáy biển, vẽ hải đồ phục vụ quốc phòng, an ninh; liên tục tổ chức các hội nghị, hội thảo, xuất bản quốc tế nhiều công trình nghiên cứu khoa học nhằm hoàn thiện cơ sở pháp lý, đưa nhiều đoàn cấp cao ra thăm các điểm đảo chiếm đóng trái phép tại Hoàng Sa, Trường Sa; tăng cường thuyết phục quốc tế thừa nhận Trung Quốc là nước phát hiện sớm nhất, đặt tên sớm nhất, quản lý sớm nhất các đảo trên biển Đông nhằm chiếm thế chủ động trong chuẩn bị luận chứng pháp lý, chống lại đòi hỏi chủ quyền của các nước khác trên biển Đông [77]

Trang 21

Philippines có hành động cứng rắn, quyết liệt hơn trong chấp pháp trên biển, thực hiện truy đuổi, bắt giữ và sử dụng vũ khí bắn vào tàu cá Việt Nam gây thiệt hại về tính mạng và tài sản của ngư dân Các nước Thái Lan, Malaysia tiếp tục tăng cường hoạt động tuần tra, kiểm soát, truy đuổi bắt giữ tàu cá Việt Nam vi phạm vùng biển để xử lý

Khu vực giáp ranh đường phân định thềm lục địa Việt Nam – Indonesia, tàu Hải quân, Kiểm ngư Indonesia (Bakamla) thường xuyên truy đuổi, bắt tàu

cá của ngư dân Việt Nam; khu vực biển thuộc Vùng nước lịch sử Việt Nam – Campuchia lực lượng chức năng của Campuchia tăng cường tuần tra, kiểm soát, có trường hợp dùng vũ khí tấn công, gây thiệt hại cho ngư dân Việt Nam

Hiện nay, biển Đông được coi là vùng biển nóng nhất thế giới, trật tự và

an ninh ở Biển Đông đang đối mặt với một loạt các thách thức, từ các mối đe dọa ở mức độ thấp mang tính phi truyền thống cho tới các mối lo ngại mang tính truyền thống về cướp biển và các loại hình tội phạm có tổ chức, tội phạm xuyên quốc gia có tính chất quốc tế trên biển; sự suy thoái của môi trường biển, mức độ thịnh vượng kinh tế của các quốc gia ASEAN phụ thuộc ngày một nhiều vào kinh tế biển và sự phức tạp của Biển Đông xuất hiện cùng các toan tính chiến lược, tham vọng biển của các quốc gia khu vực và thế giới dẫn tới biển Đông luôn tiềm ẩn nguy cơ xung đột trên biển liên quan tới các quyền tự

do hàng hải, tự do hàng không hoặc xuất phát từ nhận thức khác nhau, cách hiểu khác nhau về vùng biển thuộc quyền chủ quyền, quyền tài phán quốc gia làm xuất hiện nhiều vùng biển chồng lấn, khó đàm phán, phân định, xảy ra nhiều hoạt động phức tạp liên quan tới tranh chấp tài nguyên biển giữa các quốc gia khu vực biển Đông [47]

Về đặc điểm địa lý các vùng biển, đảo, thềm lục địa Việt Nam Việt

Nam là quốc gia ven biển, nằm bên bờ Tây của biển Đông, có vị trí địa chính trị và địa kinh tế rất quan trọng Về mặt an ninh quốc phòng, Việt Nam có bờ biển dài trên 3.260 km, gần 3.000 đảo lớn nhỏ và 02 quần đảo xa bờ là quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa; diện tích biển Việt Nam rộng trên 1 triệu km2

trải đều theo chiều dài đất nước Các vùng biển, đảo và thềm lục địa của Việt Nam

có vị trí đặc biệt quan trọng như tuyến phòng thủ tiền tiêu, là lá chắn biển, bảo

vệ sườn phía đông Tổ quốc Về mặt kinh tế xã hội, tương quan chiều dài bờ

Trang 22

biển Việt Nam với diện tích đất liền của nước ta là xấp xỉ 0,01 (nghĩa là cứ

100 km2 đất liền có 1 km bờ biển), có nhiều cảng biển, cảng nước sâu chiến lược Trong 63 tỉnh, thành phố của cả nước thì có tới 28 tỉnh, thành phố có biển; gần một nửa dân số sinh sống tại các tỉnh, thành ven biển mưu sinh nhờ biển Thực tiễn các hoạt động kinh tế biển luôn có đóng góp quan trọng đối với sự nghiệp phát triển kinh tế Việt Nam

Trong lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc, biển, đảo Việt Nam luôn đóng vai trò quan trọng hàng đầu về mặt quốc phòng, an ninh cũng như sự phát triển kinh tế, xã hội của Tổ quốc Điều này đã được khẳng định trong các Nghị quyết của Đảng và Nhà nước [1, 6, 7, 9, 10]

1.2 Tội phạm có tính chất quốc tế và tội phạm có tính chất quốc tế trên biển

1.2.1 Tội phạm có tính chất quốc tế

Tội phạm có tính chất quốc tế là tội phạm hình sự mà hành vi phạm tội không chỉ xâm hại tới trật tự pháp lý quốc gia mà còn xâm hại tới lợi ích của cộng đồng quốc tế; cấu thành tội phạm có chứa đựng yếu tố nước ngoài, tính tổ chức và tính quốc tế cao, luật quốc tế đã định danh các loại tội phạm này trong các điều ước quốc tế, tuy nhiên thẩm quyền xét xử thuộc về quốc gia, theo luật hình sự quốc gia Giai đoạn hiện nay, tội phạm có tính chất quốc tế diễn biến ngày một phức tạp, thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt, kết hợp với công nghệ cao, có tính chất, mức độ nguy hiểm rất cao đối với xã hội, đây không còn là vấn đề của một quốc gia mà đã trở thành vấn đề của chung cộng đồng thế giới, đòi hỏi

sự tích cực, chủ động và chặt chẽ của các quốc gia để hợp tác phòng ngừa, ngăn chặn, đấu tranh đối với các loại tội phạm này

Chúng ta cần có sự phân biệt tội phạm xuyên quốc gia với tội phạm quốc tế Trong Luật hình sự quốc tế, “tội phạm quốc tế” và “tội phạm có tính chất quốc tế” là hai phạm trù khác nhau:

- Tội phạm quốc tế: là loại tội phạm đặc biệt nguy hiểm, xâm hại các giá trị chung được nhân loại thừa nhận, pháp luật quốc tế bảo vệ, đó là: quyền con người; quyền, lợi ích quốc gia; dân tộc; hòa bình và an ninh của nhân loại

- Tội phạm có tính chất quốc tế xâm hại lợi ích quốc gia, lợi ích chính đáng của cá nhân, tổ chức được xác lập, bảo vệ bởi pháp luật quốc gia Các tội

Trang 23

phạm có tính chất quốc tế (tội phạm có tổ chức, xuyên quốc gia, có yếu tố nước ngoài) xâm phạm trật tự pháp luật quốc tế, tuy có xâm hại hòa bình và an ninh quốc tế, nhưng về mức độ nguy hiểm, không đến mức gây nguy hại cho toàn thể cộng đồng quốc tế Chủ thể tội phạm có tính chất quốc tế là thể nhân, pháp nhân, trong độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự không nhất thiết phải đủ 18 tuổi như đối với tội phạm quốc tế, do các công ước quốc tế liên quan qui định [34]

Tội phạm có tính quốc tế [43], gồm bốn nhóm sau:

Nhóm thứ nhất: Các tội xâm phạm sự hợp tác hữu nghị và sự tồn tại bình thường của các quan hệ quốc tế như tội khủng bố, tội cướp máy bay, phương tiện giao thông khác…

Nhóm thứ hai: Các tội xâm hại môi trường sống của con người, di sản văn hóa của dân tộc trên thế giới như buôn lậu, buôn bán trái phép chất ma túy, làm và buôn bán tiền giả…

Nhóm thứ ba: Các tội xâm phạm nhân phẩm, danh dự con người, tội cướp biển, tội tuyên truyền các xuất bản phẩm đồi trụy…

Nhóm thứ tư: Các tội phạm có tính quốc tế khác như phá hoại các công trình ngầm dưới biển, các tội phạm được thực hiện trên máy bay, tàu thủy

1.2.2 Tội phạm có tính chất quốc tế trên biển

Đa số tội phạm trên biển đều là tội phạm có tính chất quốc tế (tội phạm

có tổ chức, xuyên quốc gia, mang yếu tố nước ngoài) xảy ra trên các vùng biển quốc tế, vùng biển thuộc chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán quốc gia Tội phạm có tính chất quốc tế trên biển có diễn biến phức tạp do: đặc thù rộng lớn và mở của biển; thời tiết, khí hậu, thủy văn khắc nghiệt, khó lường, thường xuyên có sóng to, gió lớn dẫn tới tội phạm có thể dễ dàng bỏ trốn, dấu vết phạm tội nhanh chóng biến mất; sự đa dạng về quốc tịch của các chủ thể hoạt động trên biển và nguyên tắc tự do hàng không, hàng hải trên các vùng biển Giai đoạn hiện nay, tội phạm có tính chất quốc tế trên biển có xu hướng diễn biến phức tạp, khó lường, mang tính nguy hiểm cao xâm phạm tới lợi ích, trật tự pháp luật của nhiều quốc gia ven biển Chính vì vậy, cần phải có sự hợp tác, nỗ lực chung của cộng đồng quốc tế, bên cạnh nỗ lực của mỗi quốc gia ven biển nhằm tổ chức, nâng cao hiệu quả phối hợp hoạt động và thực hiện các giải pháp hợp tác quốc tế hiệu quả trong đấu tranh, chống loại tội phạm này [59]

Trang 24

Có thể kể tới các loại tội phạm có tính chất quốc tế trên biển, như: cướp biển, cướp có vũ trang chống lại tàu thuyền; tội phạm buôn người; tội phạm vận chuyển trái phép vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ; tội phạm ma túy; tội phạm khủng bố; hủy hoại môi trường; xâm phạm an ninh hàng hải; an ninh quốc gia; buôn lậu, gian lận thương mại Tương tự tội phạm có tính chất quốc

tế trên đất liền, trên không, tội phạm có tính chất quốc tế trên biển xâm phạm các giá trị xã hội được thừa nhận chung được quy định trong các văn bản pháp luật quốc tế hoặc pháp luật quốc gia Trong xu thế hiện nay, bản thân pháp luật hình sự mỗi quốc gia đều quy định trách nhiệm hình sự với nhiều loại tội phạm

có tính chất quốc tế trên biển nhằm đáp ứng nhu cầu đấu tranh, ngăn chặn sự đe dọa của các tội phạm này Tội phạm có tính chất quốc tế trên biển sẽ bị xét xử tại Tòa án hình sự của quốc gia có thẩm quyền, theo pháp luật quốc gia

Tội phạm có tính chất quốc tế, xuyên quốc gia hoạt động trên các vùng

biển được điều chỉnh bởi UNCLOS 1982, Công ước của Liên Hợp Quốc về chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia năm 2000 và nhiều điều ước quốc tế toàn cầu, khu vực khác nhưng cơ sở để truy cứu trách nhiệm hình sự với các loại tội này vẫn là luật hình sự của quốc gia Theo đó, hành vi phạm tội của chúng được thực hiện ở lãnh thổ (trên bộ, trên không và trên các vùng biển) của nhiều quốc gia; có thể hành vi ở một quốc gia (trên bộ, trên không và trên các vùng biển) nhưng chủ yếu việc chuẩn bị lên kế hoạch, chuẩn bị, chỉ đạo hoặc điều hành lại ở một quốc gia (trên bộ, trên không và trên các vùng biển) khác; hành vi ở một quốc gia (trên bộ, trên không và trên các vùng biển) nhưng liên quan đến một nhóm tội phạm có tổ chức tham gia phạm tội ở nhiều quốc gia (trên bộ, trên không và trên các vùng biển); hành vi ở (trên bộ, trên không và trên các vùng biển) một quốc gia nhưng có ảnh hưởng lớn ở (trên bộ, trên không và trên các vùng biển) một quốc gia khác

Tội phạm có tính chất quốc tế hoạt động trên bộ, trên không và trên các vùng biển nói chung, thường có các đặc điểm:

- Được thể hiện ở tính đa quốc gia thông qua tên gọi;

- Phương pháp, thủ đoạn thực hiện tội phạm xuyên quốc gia thường mang tính có tổ chức và chuyên nghiệp cao;

- Có khả năng gây hậu quả trên phạm vi lớn, gây hậu quả hàng loạt;

Trang 25

- Xâm hại tới các lợi ích quốc gia, quyền, lợi ích chính đáng của cá nhân, tổ chức một cách nghiêm trọng ở mức độ đe dọa trật tự, an ninh một khu vực hoặc thế giới (trên bộ, trên không, trên biển, kể cả vùng biển quốc tế);

- Thẩm quyền tài phán thuộc quốc gia và trách nhiệm pháp lý được xác định trên cơ sở pháp luật quốc gia (có thể có sự hợp tác quốc tế trên cơ sở các hiệp định tương trợ tư pháp);

- Thường tiến hành mua chuộc, hối lộ và lôi kéo các nhà lãnh đạo nước ngoài nhằm dung túng bao che cho các hoạt động phạm tội của tổ chức mình

Tội phạm có tính chất quốc tế, xuyên quốc gia là tội phạm có yếu tố nước ngoài hoạt động trên không, trên bộ, trên biển là hành vi nguy hiểm cho

xã hội do cá nhân, tổ chức thực hiện, xâm hại tới những lợi ích của các quốc gia hoặc của các cá nhân, tổ chức và có yếu tố nước ngoài; hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong luật hình sự quốc tế hoặc luật hình sự quốc gia Khi so sánh với tội phạm hình sự quốc tế, cần chú ý đến: khách thể bị xâm hại; tính chất, mức độ nguy hiểm; chủ thể thực hiện; thẩm quyền tài phán; phạm vi không gian thực hiện; tính chất, mức độ nguy hiểm; chủ thể thực hiện

Có thể liệt kê một số tội phạm có tính chất quốc tế, xuyên quốc gia như: tội khủng bố; tội phạm ma túy; tội rửa tiền; tội buôn bán người; tội tham nhũng (Công ước của Liên Hợp Quốc về chống tham nhũng năm 2003 ghi nhận các tội: hối lộ; tham ô; lợi dụng ảnh hưởng để trục lợi; lạm dụng chức năng; làm giàu bất hợp pháp; rửa tiền do phạm tội mà có; che dấu tài sản); vi phạm an ninh hàng hải quốc tế; vi phạm an ninh, an toàn hàng không quy định tại Nghị định thư về chống đưa người di cư trái phép bằng đường bộ, đường biển và đường không; Nghị định thư về việc ngăn ngừa, phòng, chống và trừng trị việc buôn bán người, đặc biệt là phụ nữ và trẻ em

Như vậy, để đấu tranh phòng, chống tội phạm có tính chất quốc tế hoạt động trên bộ, trên không hoặc trên biển không thể không có sự hợp tác giữa các quốc gia [40] và cơ sở pháp lý để trừng phạt tội phạm là luật quốc tế bao gồm: Hiến chương Liên Hợp Quốc năm 1945, UNCLOS 1982, bốn Công ước Geneve năm 1958 về biển cả; lãnh hải và vùng tiếp giáp lãnh hải; thềm lục địa

và đánh cá và bảo tồn các tài nguyên của biển cả, Công ước về an toàn sinh mạng con người trên biển (SOLAS 74); Công ước về ngăn ngừa các hành vi bất

Trang 26

hợp pháp chống lại an toàn hàng hải năm 1988 và Nghị định thư (2005) bổ sung cho Công ước và pháp luật quốc gia (ở Việt Nam là Hiến pháp 2013,

Bộ Luật Tố Tụng hình sự 2015, Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự 2015,

Bộ Luật Hàng Hải năm 2015, Luật Biển Việt Nam 2012, Luật Biên giới quốc gia năm 2003, Luật An ninh Quốc gia năm 2004 Bên cạnh đó, là hệ thống các điều ước song phương, đa phương giữa các quốc gia điều chỉnh về lĩnh vực này Tội phạm có tính chất quốc tế trên biển theo Luật quốc tế hiện đại bao gồm các hành vi phạm tội được quy định cụ thể trong Công ước của Liên Hợp Quốc về Luật biển năm 1982 và trong những điều ước quốc tế khác (như đã nêu trên) Đây là dạng tội phạm ngày càng có xu hướng gia tăng về hình thức, mức độ, tính nguy hiểm của hành vi phạm tội do sự phát triển ngày càng tăng,

đe dọa trực tiếp đến an ninh hải vận, gồm các yếu tố sau đây:

Một là, đảm bảo an ninh hải vận, xét về ý nghĩa ngăn ngừa va chạm

đụng độ) tàu thuyền, tai nạn trên biển, kết quả là thiệt mạng con người - safety

of navigation (Số liệu ước tính của IMO trong khoảng 150 năm gần đây, chỉ tính trong thời bình đã có hơn 40 nghìn tàu thuyền thương mại bị tai nạn Điều

đó ngang với việc làm đắm trong một phần tư thế kỷ tất cả các tàu thuyền đang trong tình trạng khai thác Tai nạn tàu thuyền từ thời kỳ La Mã cổ đại, thì trên

biển đã có hơn một triệu tàu thuyền bị tai nạn) Hai là, đảm bảo an ninh hàng hải có liên quan đến đấu tranh chống khủng bố trên biển (security) Ba là, đảm

bảo an ninh hải vận có liên quan đến đấu tranh chống các hành vi vi phạm pháp luật trên biển, ví dụ như đấu tranh chống hải tặc và các loại vi phạm pháp luật khác, trong đó bao gồm cả lừa đảo trên biển (số liệu lừa đảo trên biển của UNODC ước tính riêng tàu chở dầu, hàng năm gây ra thiệt hại ước tính trung

bình khoảng 7,2 tỷ đô la Mỹ) Bốn là, đảm bảo an ninh hàng hải có liên quan

đến phòng ngừa, ngăn chặn cướp tàu biển bằng việc sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực, hoặc có thể bằng cách đe dọa khác bất kỳ làm cho kinh sợ;

Năm là, đảm bảo an ninh hải vận bằng cách phòng ngừa việc thực hiện các

hành vi bạo lực chống những người trên boong tàu, nếu các hành vi đó có thể

đe dọa đến an toàn, an ninh hải hành của tàu thuyền đó Sáu là, đảm bảo an

ninh hải vận, trong đó cần phòng ngừa việc phân bổ trên tàu thuyền loại trang

Trang 27

thiết bị nào đó hoặc chất mà có thể phá hủy tàu thuyền, mang đến hư hỏng cho tàu hay hàng hóa, đe dọa hoặc có thể đe dọa an ninh hải hành của tàu thuyền

đó Bảy là, đảm bảo an ninh hàng hướng tới phòng ngừa giảm chất nổ từ tàu,

chất phóng xạ hoặc các loại vũ khí sinh học, hóa học hoặc hạt nhân, các loại chất đó có thể mang đến tốn thất hoặc làm chết hoặc gây ra thương tích nghiêm trọng cho con người Việc liệt kê ra các yếu tố tạo nên khái niệm an ninh hải

vận chỉ mang tính chất tương đối, vì thực tế có thể có nhiều hơn các yếu tố đó

Tội phạm trên biển có tính chất quốc tế có nhiều hình thức tinh vi và phức tạp Trên cơ sở nghiên cứu các quy định của UNCLOS 1982 và các điều ước quốc tế có liên quan, học viên thấy rằng có thể đưa ra một số hành vi tội phạm trên biển chủ yếu sau đây: hoạt động cướp biển; vận chuyển và buôn bán trái phép các chất ma túy và các chất kích thích, hướng thần; vận chuyển nô lệ; đưa người nhập cư hoặc đưa người ra nước ngoài trái phép khiến một số người thành nạn nhân của nạn buôn người; tội phá hoại hệ sinh thái biển: bao gồm các hành vi xả các chất thải, chất độc hại, khai thác thủy sản một cách bất hợp pháp gây ô nhiễm môi trường biển, sử dụng thuốc độc, thuốc nổ, chất độc để khai thác thủy hải sản; tội phạm đe dọa an toàn hàng hải, an toàn trên các dàn khoan; vận chuyển, buôn lậu hàng hóa bằng đường biển; tội khủng bố trên biển

1.3 Các loại tội phạm có tính chất quốc tế trên biển Đông

Như trên đã nêu, bên cạnh nhận thức, hành động, yêu sách, tranh chấp trên biển của các quốc gia ven biển Đông làm phức tạp tình hình, các hoạt động tội phạm có tính chất quốc tế diễn ra ngày càng đa dạng, nghiêm trọng Việc khai thác tài nguyên biển, các hoạt động kinh tế, dân sự diễn ra ở mức độ cao trên biển nhưng chưa có cơ chế quản lý hữu hiệu Các tranh chấp, va chạm lợi ích quốc gia trên biển ngày càng tăng song chưa có cơ chế giải quyết hữu hiệu;

an ninh, an toàn hàng hải đối diện nhiều với các thách thức an ninh truyền thống và phi truyền thống; môi trường biển bị ô nhiễm, suy thoái nghiêm trọng

Tội phạm có tính chất quốc tế trên biển đa số thuộc về lĩnh vực an ninh phi truyền thống (những vấn đề an ninh phi quân sự, không liên quan đến quân sự) [60] Có thể chia các vấn đề an ninh phi truyền thống làm 5 nhóm chính:

một là, các vấn đề an ninh liên quan đến sự phát triển bền vững, bao gồm bảo

Trang 28

vệ môi trường, sự phát triển nguồn tài nguyên, sinh thái và kiểm soát ngăn chặn

dịch bệnh trên biển; hai là, những mối đe dọa đối với sự ổn định trên các khu

vực biển do việc mất kiểm soát hay mất trật tự, bao gồm an ninh hàng hải, trật

tự, an toàn trên biển, nhân quyền, di cư bất hợp pháp; ba là, tội phạm có tổ chức, xuyên quốc gia bao gồm buôn bán người, vũ khí, nô lệ, ma túy; bốn là,

các tổ chức phi quốc gia thách thức trật tự quốc tế hiện tại, tiêu biểu là chủ

nghĩa khủng bố; năm là, các vấn đề an ninh liên quan đến sự phát triển của

công nghệ và toàn cầu hóa bao gồm an ninh mạng, an ninh thông tin và an ninh ứng dụng được sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội trên biển

Tội phạm buôn lậu, gian lận thương mại trên biển: Hiện nay, loại tội

phạm này trên biển Đông nói chung, biển Việt Nam nói riêng diễn biến phức tạp, khó lường, nhất là tội phạm buôn lậu, mua bán, vận chuyển trái phép khoáng sản, xăng dầu, gỗ, thực phẩm chức năng, thuốc lá điếu, chất nổ, pháo

nổ Phương thức, thủ đoạn hoạt động của các đối tượng ngày càng tinh vi, phức tạp, sử dụng công nghệ cao trong liên lạc, phối hợp thực hiện hành vi phạm tội, thanh toán, rửa tiền bằng đồng tiền điện tử, thanh toán online Đối tượng mua bán, vận chuyển hàng hóa không có nguồn gốc hợp pháp, quay vòng hóa đơn, thông qua nhiều doanh nghiệp nhằm đối phó với cơ quan chức năng; câu kết với đối tượng người nước ngoài sử dụng tàu, thuyền không treo cờ quốc tịch;

sử dụng tàu cá cải hoán thành tàu có các khoang chứa dầu; mang biển số giả trong nước và của nước ngoài để mua bán, vận chuyển, sang mạn trái phép xăng, dầu trên biển Tàu buôn lậu dầu của nước ngoài có trang bị vũ khí; sử dụng lao động người Việt Nam bất hợp pháp trên tàu Khi bị lực lượng chức năng phát hiện, các tàu thuyền vi phạm nhanh chóng chạy trốn (đã có trường hợp tàu vi phạm chặt cả dây neo để bỏ chạy)

Đáng chú ý, năm 2018 nổi lên hoạt động của một số đối tượng buôn lậu trong nước câu kết, móc nối với tổ chức, cá nhân nước ngoài thực hiện sang mạn than từ các tàu nằm trong danh sách khuyến cáo của Mỹ vận chuyển than

có nguồn gốc từ Triều Tiên (vi phạm Nghị quyết của Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc) sau đó qua nhiều khâu trung gian hợp thức hóa giấy tờ để vận chuyển về Việt Nam tiêu thụ, hoạt động này diễn ra thường xuyên trong năm

Trang 29

Tội phạm mua bán, vận chuyển, tàng trữ trái phép chất ma túy: khu vực

Đông Nam Á bao gồm cả quốc gia sản xuất, quốc gia tiêu thụ, quốc gia trung chuyển ma túy, lợi dụng sự đa dạng và thuận lợi của loại hình vận tải biển, đặc biệt là sử dụng các tuyến hàng hải đi qua biển Đông, cộng với giá trị siêu lợi nhuận thu được từ việc mua bán, vận chuyển trái phép các chất ma túy mang lại, tình hình vận chuyển, mua bán ma túy qua đường biển ở Việt Nam nói riêng, khu vực biển Đông nói chung trong thời gian qua vẫn tiếp tục phức tạp

và tiềm ẩn khó lường Cụ thể, cùng với việc hình thành thị trường mua bán, vận chuyển, tiêu thụ trái phép các loại ma tuý ở trong nước, các đối tượng phạm tội

ma tuý quốc tế cũng đã triệt để lợi dụng vùng biển Việt Nam làm khu vực trung chuyển ma túy đi nước thứ ba Phương thức thủ đoạn vận chuyển đặc biệt tinh

vi, xảo quyệt, việc cất giấu ma tuý trên các phương tiện vận tải biển cũng được các đối tượng phạm tội thực hiện rất chuyên nghiệp và đặc biệt manh động, liều lĩnh Tội phạm ma túy trên biển được trang bị các loại vũ khí rất nguy hiểm, sẵn sàng chống trả quyết liệt khi bị phát hiện, bắt giữ hoặc truy đuổi Ngoài ra, chúng còn được trang bị các thiết bị kỹ thuật rất hiện đại, công nghệ cao trong quá trình trao đổi, giao dịch và vận chuyển ma tuý (như xuồng cao tốc, cano tự hành, liên lạc trên tần số vô tuyến điện, điện thoại vệ tinh ) dẫn tới khó khăn trong phát hiện, theo dõi và truy bắt các đối tượng

Tội phạm buôn người và nhập cư (di cư) bất hợp pháp trên biển: hiện nay, diễn biến của tội phạm buôn người trên biển Đông ngày một phức tạp Các đối tượng hoạt động thành đường dây, có tổ chức, xuyên quốc gia, với phương thức, thủ đoạn ngày càng tinh vi, tính chất nghiêm trọng, được thực hiện dưới nhiều hình thức khác nhau Chúng triệt để lợi dụng sự phát triển của công nghệ thông tin để lừa gạt nạn nhân như: thông qua các trang mạng xã hội (Facebook, Zalo, Instagram, Wechat…), sử dụng tên giả, địa chỉ giả để dụ dỗ, giả vờ yêu đương, rủ tham gia các tour du lịch trên biển và lừa bán ra nước ngoài hoặc lừa gạt người có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, không có việc, hứa giới thiệu việc làm lương cao, sau đó bán cho các chủ tàu khai thác hải sản trên biển

Cùng với làn sóng di cư bất hợp pháp diễn ra trên thế giới, hiện tượng di

cư bất hợp pháp bằng đường biển từ biển Đông sang Châu Öc, Châu Âu cũng xuất hiện nhiều diễn biến phức tạp Bất chấp việc phải mạo hiểm tính mạng,

Trang 30

đương đầu với nhiều rủi ro khi thực hiện di cư bất hợp pháp, xuất nhập cảnh trái phép bằng đường biển những người nghèo khổ ước mơ về đổi đời ở nước ngoài; tội phạm bị truy nã quốc tế, lẩn trốn nhà chức trách vẫn tiếp tục câu móc với các tổ chức tội phạm xuyên quốc gia, có tổ chức để thực hiện di cư bất hợp pháp trên biển Đông

Khai thác đánh bắt hải sản bất hợp pháp: đây là một trong những vấn

nạn diễn ra hết sức phức tạp tại biển Đông giai đoạn hiện nay Các quốc gia khu vực biển Đông đều có hành động rất cứng rắn như: truy đuổi, bắt giữ, giam cầm người, tàu thuyền, phương tiện đánh bắt vi phạm vùng biển của họ Riêng đối với tàu cá Việt Nam vi phạm vùng biển nước ngoài, có 06 quốc gia thường xuyên bắt tàu cá Việt Nam như Indonesia, Trung Quốc, Thái Lan, Campuchia, Malaysia, Philippin Ngoài ra, các nước như Brunei, Öc, Palau, Micronesia cũng nhiều lần bắt giữ tàu cá Việt Nam vi phạm Nguyên nhân của tình trạng này xuất phát từ việc nguồn lợi thủy sản vùng biển Việt Nam suy kiệt trong khi các vùng biền quốc gia khác lại dồi dào; biển Đông có nhiều khu vực chồng lấn chưa phân định song nước ngoài vẫn gia tăng tuần tra, kiểm tra, kiểm soát; nhận thức một bộ phận ngư dân còn hạn chế; ý thức chấp hành pháp luật chưa tốt; cá biệt có trường hợp vi phạm vùng biển nước ngoài theo sự môi giới, nhận hối lộ của nhà chức trách các quốc gia khác

Tình hình tàu cá nước ngoài (chủ yếu là tàu cá Trung Quốc) xâm phạm trái phép vùng biển của các quốc gia khác vẫn tiếp tục diễn ra Trong đó, tần suất tàu cá Trung Quốc hoạt động sâu trong vùng đặc quyền kinh tế các quốc gia khu vực biển Đông để khai thác hải sản trái phép ngày càng gia tăng, thủ đoạn hoạt động không thay đổi, thường lợi dụng đêm tối, sương mù để vào sâu vùng biển quốc gia khác khai thác hải sản, quá trình di chuyển tập trung theo nhóm từ 3 đến 20 chiếc, thường xuyên đi cùng tàu chấp pháp, tàu Cảnh sát biển, tàu cá dân binh, tiếp cận, thả xuồng nhỏ vào khai thác hải sản sâu trong vùng biển quốc gia ven biển (không loại trừ trường hợp khảo sát luồng, địa chất, thủy văn, hỗ trợ xây dựng các đảo và rạn san hô); khi bị lực lượng chức năng kiểm tra, yêu cầu rời khỏi vùng biển thì các tàu cá này tản ra xung quanh, chạy lòng vòng Mục đích chủ yếu của hoạt động này của Trung Quốc không

Trang 31

nằm ngoài việc tạo vùng đánh cá truyền thống, biến khu vực không tranh chấp thành khu vực có tranh chấp trên biển Đông

Về cướp biển, cướp có vũ trang chống lại tàu thuyền: số vụ hải tặc (cướp

biển) ở vùng biển Đông Nam Á chiếm một tỉ lệ không nhỏ trong tổng số các vụ cướp biển xảy ra trên các vùng biển trên thế giới, gần đây vùng biển Đông Nam

Á đã trở thành vùng biển nóng nhất thế giới về hải tặc [49] Phương thức tấn công của hải tặc chủ yếu cướp bóc tài sản của các tàu thuyền, cướp hàng hoá trên thuyền, đồng thời cũng có những thuyền viên bị bắt làm con tin để đòi tiền chuộc, một khối lượng lớn tiền bạc mà hải tặc thu về lại chuyển sang mua vũ khí và nhu yếu phẩm khác nuôi dưỡng bọn cướp biển, từ đó đã tạo ra một vòng luẩn quẩn, dẫn đến an ninh, an toàn hàng hải, vận tải hàng hải không đảm bảo

Vấn đề khủng bố: nổi lên kể từ sau ngày 11/9/2001 ở Mỹ; ở vùng Biển

Đông, các nhóm khủng bố địa phương có liên hệ với Al Queda, IS vẫn đang hoạt động, là lời cảnh tỉnh về một thực tế khủng bố vẫn còn tồn tại ở các quốc gia trong khu vực Hai vụ đánh bom trên đảo Ba Li thuộc Indonesia diễn ra vào các năm 2002 và 2005 cho thấy rõ sự tàn bạo của hoạt động khủng bố Các nước xung quanh Biển Đông như Philippines, Indonesia, Singapore, Malaysia

và cả Thái Lan là những khu vực luôn có nguy cơ bị khủng bố cao Vì vậy, ở vùng biển Việt Nam, nếu không có biện pháp đề phòng hoặc tiến hành hoạt động tuần tra, kiểm soát thường xuyên chặt chẽ của các lực lượng chức năng, các tổ chức khủng bố ở những nước khác sẽ có điều kiện phát triển gây dựng cơ

sở, khi đó hoạt động khủng bố sẽ trở thành mối đe doạ tiềm ẩn đối với an ninh, trật tự, an toàn ở các vùng biển, ảnh hưởng trực tiếp đến phát triển kinh tế, xã hội, củng cố quốc phòng - an ninh của đất nước

Những tội phạm mới cần phải nghiên cứu và định danh rõ ràng: diễn

biến tội phạm trên biển hiện nay có nhiều điểm mới cho thấy cần phải có những biện pháp xác định tội danh ngoài các tội cướp biển, buôn bán ma tuý, vũ khí, tội khủng bố buôn người, nhập cư trái phép, buôn lậu, gian lận thương mại, đánh bắt khai thác hải sản bất hợp pháp có ý kiến cho rằng còn một số các tội phạm khác cần đề cập đến như: việc bắt giữ tàu biển, đâm chìm tàu ngư dân trên biển bởi các tàu công vụ, tàu Nhà nước; việc quan chức thi hành luật của

Trang 32

một nước ven biển ngược đãi thuyền viên, phá hoại tài sản, ngư cụ, ép buộc ngư dân nộp tiền lệ phí trái pháp luật phải được coi là tội cướp biển

1.4 Trách nhiệm pháp lý quốc tế của quốc gia trong hợp tác đấu tranh phòng, chống tội phạm có tính chất quốc tế trên biển

Trong khoa học luật quốc tế, quy phạm pháp luật quốc tế được hiểu là những quy tắc xử sự do các chủ thể của Luật quốc tế (quốc gia, tổ chức liên chính phủ, tổ chức quốc tế ) hợp tác nhằm thỏa thuận xây dựng hoặc công nhận hiệu lực pháp lý của chúng nhằm điều chỉnh các quan hệ quốc tế Quy phạm pháp luật quốc tế là công cụ cơ bản và quan trọng nhất, có chức năng điều chỉnh các quan hệ giữa các chủ thể luật quốc tế và là hạt nhân trong cấu trúc của hệ thống pháp luật quốc tế

Trách nhiệm pháp lý quốc tế [29] là một trong những chế định cơ bản của luật quốc tế, điều chỉnh mối quan hệ giữa các chủ thể của luật quốc tế khi xuất hiện các hành vi vi phạm luật quốc tế (hoặc hành vi luật quốc tế không cấm) trên biển gây thiệt hại cho chủ thể khác hoặc cho cộng đồng quốc tế Một trong những khía cạnh quan trọng là trách nhiệm pháp lý quốc tế của quốc gia chính là sự tận tâm, thiện chí thực hiện các cam kết quốc tế và sự chủ động, tích cực trong hợp tác quốc tế để bảo đảm việc thực thi và tuân thủ nghiêm chỉnh pháp luật quốc tế; bảo đảm việc bảo vệ khôi phục các quyền và lợi ích chính đáng hợp pháp của các chủ thể bị thiệt hại do hành vi vi phạm pháp luật gây ra Đây chính là “công cụ” pháp lý buộc các quốc gia phải thực hiện nghĩa

vụ hợp tác quốc tế nhằm bảo đảm sự thực thi và tuân thủ pháp luật quốc tế Bên cạnh đó, đây cũng là cơ sở để giải quyết các quan hệ pháp luật quốc tế phát sinh giữa các chủ thể khi xảy ra sự kiện pháp lý xâm hại đến quyền và lợi ích chính đáng hoặc lợi ích của cộng đồng quốc tế; là cơ sở để chủ thể bị thiệt hại

và cộng đồng quốc tế áp dụng các biện pháp truy cứu trách nhiệm pháp lý quốc

tế của quốc gia

Do quốc gia là chủ thể chủ yếu của Luật quốc tế nên cũng là chủ thể chủ yếu chịu trách nhiệm pháp lý quốc tế [38] Quốc gia phải chịu trách nhiệm

về những hành vi nhất định của các cơ quan, tổ chức và cá nhân, không phụ thuộc vào việc họ ở trong hay ngoài phạm vi lãnh thổ quốc gia hoặc chịu trách nhiệm hợp tác với các quốc gia khác để hạn chế, ngăn chặn các hành vi vi

Trang 33

phạm pháp luật quốc tế Quốc gia phải chịu trách nhiệm pháp lý quốc tế đối với các hành vi vi phạm sau:

* Thứ nhất: Hành vi của các cơ quan, đơn vị, lực lượng chức năng nhà nước của quốc gia (thuộc cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp):

- Quốc gia có thể gánh chịu trách nhiệm pháp lý quốc tế do hành vi vi phạm pháp luật quốc tế của cơ quan lập pháp (Quốc hội, Nghị viện) được thể hiện dưới những biểu hiện như:

+ Không ban hành các văn bản pháp luật cần thiết để thực hiện một nghĩa vụ quốc tế

Ví dụ: Việt Nam chính thức trở thành thành viên của Công ước quốc tế

về chống bắt cóc con tin (1979) vào năm 2014 Chính vì thế, nội luật hóa các quy định của Công ước này trong pháp luật Việt Nam được xác định là một trách nhiệm của Việt Nam Trong Bộ Luật hình sự năm 2015, bên cạnh việc sửa đổi, bổ sung 02 tội danh trực tiếp quy định về hành vi khủng bố (Tội khủng

bố nhằm chống chính quyền nhân dân và Tội khủng bố), Bộ luật còn tội phạm hóa một số hành vi khác mà pháp luật quốc tế xem là tội phạm khủng bố, trong

đó có hành vi bắt cóc con tin (“Taking of hostages” hay “Hostages taking”) Như vậy, việc tội phạm hóa hành vi bắt cóc con tin vào Bộ Luật hình sự 2015

đã góp phần nội luật hóa yêu cầu của Công ước 1979 về chống bắt cóc con tin Ngoài quy định tại Điều 301 về tội bắt cóc con tin, còn quy định tội cướp biển tại Điều 302 Quy định này không những khẳng định chính sách hình sự nhất quán của Nhà nước ta trong việc xử lý nghiêm minh hành vi cướp biển, đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm, mà còn nhằm thực thi cam kết của Việt Nam trong các điều ước quốc tế về phòng, chống tội phạm trên biển

mà Việt Nam là thành viên, như Công ước về an toàn sinh mạng người trên biển năm 1974, UNCLOS 1982

+ Ban hành các văn bản pháp luật trái với nghĩa vụ pháp lý quốc tế của quốc gia

+ Không hủy bỏ các văn bản trái với nghĩa vụ quốc tế

- Quốc gia có thể gánh chịu trách nhiệm pháp lý quốc tế do hành vi vi phạm pháp luật của cơ quan hành pháp (trung ương lẫn địa phương)

Trang 34

- Quốc gia có thể gánh chịu trách nhiệm pháp lý quốc tế do hành vi vi phạm pháp luật quốc tế của cơ quan tư pháp như các hành vi sau:

+ Ra một bản án sai trái với nghĩa vụ quốc tế

+ Ra một bản án sai trái xâm phạm bôi nhọ quyền và lợi ích của quốc gia hay tổ chức công dân của quốc gia khác

+ Từ chối xét xử

* Thứ hai: Quốc gia có thể gánh chịu trách nhiệm pháp lý quốc tế do hành vi vi phạm pháp luật quốc tế của viên chức nhà nước khi họ thực hiện nhiệm vụ nhân danh nhà nước hay trường hợp thực hiện vượt quá phạm vi thẩm quyền của mình

* Thứ ba: Quốc gia có thể gánh chịu trách nhiệm pháp lý quốc tế do hành vi vi phạm pháp luật quốc tế của công dân Quốc gia phải chịu trách nhiệm pháp lý quốc tế đối với hành vi cá nhân là công dân của quốc gia trong những trường hợp sau:

- Việc ngăn chặn những hành vi đó là nghĩa vụ của quốc gia nhưng có

cơ sở khẳng định quốc gia đã không thực hiện

- Quốc gia đã không áp dụng các biện pháp cần thiết để trừng trị những

kẻ phạm tội

- Quốc gia đã không áp dụng các biện pháp cần thiết để điều tra truy tố tội phạm

Ví dụ: Ngày 22/9/2017, tàu cá PY 96173 TS của các ngư dân Việt Nam

đã bị tàu BRP Miguel Malvar của Philippines bắn, hậu quả làm 02 ngư dân Việt Nam chết [78] Trước hành động sử dụng vũ lực, đối xử vô nhân đạo với ngư dân trên biển của phía Philippines, Việt Nam đã có tuyên bố phản đối hành động nêu trên, yêu cầu phía Philippines làm rõ, xử lý trách nhiệm hình sự với tổ chức, cá nhân liên quan Phía Philippines tiến hành điều tra vụ việc, kết quả 10 lính Hải quân Philippines đã phải chịu trách nhiệm hình sự về vụ việc này, chính quyền Philippines đã xin lỗi và bồi thường gia đình các ngư dân Việt Nam Trong trường hợp này, nếu Philippines không thực hiện các nghĩa vụ của mình nhằm ngăn chặn các hành vi tương tự tái diễn thì phải gánh chịu trách nhiệm pháp lý quốc tế

Trang 35

* Thứ tư: Quốc gia gánh chịu trách nhiệm pháp lý do hành vi vi phạm của tổ chức quốc tế gây ra thiệt hại mà quốc gia là thành viên

Cũng cần phân biệt giữa hành vi vi phạm pháp luật quốc tế của chủ thể luật quốc tế với hành vi vi phạm được xác định là loại tội phạm có tính chất quốc tế [34] Tội phạm mang tính chất quốc tế là các tội phạm hình sự, do các

cá nhân thực hiện, xâm phạm tới trật tự pháp lý quốc tế hoặc quốc gia và mang tính chất nguy hiểm trên phạm vi quốc tế Cơ sở pháp lý để truy cứu trách nhiệm đối với các loại tội phạm này là các công ước quốc tế về đấu tranh chống một số loại tội phạm đặc biệt (tội không tặc, tội khủng bố, tội buôn bán ma túy, buôn bán người, vận chuyển, mua bán trái phép chất phóng xạ…) và các quy phạm pháp luật hình sự của các quốc gia được ban hành trên cơ sở các công ước đó Đặc điểm khác biệt của tội phạm mang tính chất quốc tế là ở chỗ, những tội phạm này được thực hiện bởi các cá nhân, không có liên quan tới các chính sách của quốc gia Nói cách khác, các cá nhân khi phạm tội phạm có tính chất quốc tế đều không phải là các nhà chức trách hoặc công chức thay mặt quốc gia khi thi hành công vụ Về nguyên tắc, quốc gia không chịu trách nhiệm

về hoạt động của các cá nhân, do vậy, các loại tội phạm có tính chất quốc tế nêu trên không là cơ sở để truy cứu trách nhiệm pháp lý quốc tế của chủ thể luật quốc tế Tuy nhiên, quốc gia có thể phải chịu trách nhiệm pháp lý quốc tế khi thiếu thiện chí, không tận tâm thực hiện các cam kết quốc tế của mình trong hợp tác với các quốc gia khác để phòng, chống các tội phạm có tính chất quốc

tế được quy định trong các điều ước quốc tế mà quốc gia đó là thành viên

Bên cạnh đó, trường hợp các hành vi vi phạm pháp luật quốc tế không phải các hành vi tội phạm quốc tế được quy định cụ thể tại Điều 6 Quy chế Tòa

án Nuremberg, Quy chế của Tòa Hình sự quốc tế ICC 1998 [35] theo Quy chế Roma ngày 17/7/1998 thì được coi là vi phạm pháp luật quốc tế thông thường (hành vi của chủ thể luật quốc tế trái với pháp luật quốc tế với mức độ không nghiêm trọng như tội ác quốc tế nhưng đã gây thiệt hại cho một hoặc một số chủ thể luật quốc tế khác)

Ví dụ: như việc không hành động cần thiết của các quốc gia để dẫn tới hành động đối xử vô nhân đạo với ngư dân Việt Nam trên biển của các lực lượng thực thi pháp luật Trung Quốc, Indonesia, Thái Lan, Campuchia Trong

Trang 36

các trường hợp đó, trách nhiệm pháp lý đặt ra trong quan hệ giữa chủ thể vi phạm pháp luật quốc tế với chủ thể bị thiệt hại

Hơn nữa, khi xác định đâu là vi phạm pháp luật quốc tế, cần phải có sự phân biệt với hành vi thiếu thân thiện của quốc gia, làm thiệt hại cho quốc gia khác nhưng chưa tới mức vi phạm cam kết quốc tế Các hành vi thiếu thân thiện đó làm thiệt hại lợi ích không được luật quốc tế bảo vệ của quốc gia khác

Ví dụ: hành vi ban bố lệnh cấm đánh bắt cá của Trung Quốc tại các ngư trường truyền thống của ngư dân Việt Nam trên biển Đông [79]; hành vi nhà nước Trung Quốc sử dụng tàu Cảnh sát biển, tàu chấp pháp để bảo vệ tàu cá Trung Quốc xâm phạm, đánh bắt cá trái phép tại các vùng biển thuộc quyền chủ quyền của quốc gia khác trên biển Đông

Trong các trường hợp này, quốc gia bị đối xử thiếu thân thiện có quyền

tự hành động để đối phó lại nhưng không được vi phạm các quy định và cam kết quốc tế Hiện tại, Luật quốc tế chưa có quy định cấm áp dụng các hành vi thiếu thân thiện kiểu nêu trên trong quan hệ quốc tế Do vậy vai trò quan trọng trong vấn đề điều chỉnh các quan hệ loại này thuộc về các quy phạm đạo đức, chính trị quốc tế và sự lên án của cộng đồng quốc tế

Tội phạm có tính chất quốc tế trên biển là hành vi vi phạm luật quốc tế, mang đầy đủ những dấu hiệu đặc trưng của tội phạm quốc tế nói chung, sự thiếu thân thiện, không hợp tác đầy đủ, không tận tâm thiện chí thực hiện các cam kết quốc tế là cơ sở để truy cứu trách nhiệm pháp lý quốc tế của quốc gia Hoạt động tội phạm trên biển được quy định trong nhiều điều ước quốc tế khác nhau, chịu sự điều chỉnh của luật quốc tế, trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của Luật quốc tế, trong đó đặc biệt quan trọng là trách nhiệm hợp tác, tận tâm, thiện chí của các quốc gia thành viên trong thực thi các điều ước quốc tế đó

Tội phạm có tính chất quốc tế trên biển được quy định trong nhiều quy phạm pháp lý quốc tế, chủ yếu do các quốc gia, tổ chức quốc tế xây dựng trên

cơ sở tự nguyện bình đẳng, thực thi trên cơ sở tuân thủ các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế, theo đó các chủ thể bình đẳng về chủ quyền, cấm dùng vũ lực hay đe dọa dùng vũ lực, giải quyết hòa bình các tranh chấp quốc tế [39], không can thiệp vào công việc nội bộ giữa các quốc gia khác, các quốc gia có nghĩa

Trang 37

vụ hợp tác, các dân tộc có quyền tự quyết trong thực thi các quy phạm pháp luật quốc tế đã cam kết

Quy phạm pháp luật quốc tế [30] là sản phẩm thể hiện sự thỏa thuận về

ý chí, lợi ích của các quốc gia trong quan hệ quốc tế Nội dung của quy phạm pháp luật quốc tế luôn chứa đựng các quyền, nghĩa vụ pháp lý quốc tế của chủ thể luật quốc tế với nhau trong đó bao gồm cả nghĩa vụ hợp tác quốc tế Vì vậy,

có thể khẳng định rằng, nội dung các quy phạm pháp luật quốc tế là cơ sở pháp

lý để đánh giá tính pháp lý các hành vi của các chủ thể khác khi tham gia vào các quan hệ pháp luật quốc tế Mọi hành vi vi phạm các quy định của pháp luật quốc tế trên biển là cơ sở pháp lý để xác định trách nhiệm pháp lý quốc tế của quốc gia trong hợp tác đấu tranh, phòng chống các hành vi vi phạm

Cũng như mọi lĩnh vực khác của đời sống pháp lý quốc tế, trong quá trình thực thi và tuân thủ pháp luật quốc tế liên quan đến biển, bên cạnh sự tuân thủ, thực hiện nghiêm chỉnh các quy tắc ứng xử chung thì hiện tượng cá nhân,

tổ chức có hành vi vi phạm pháp luật quốc tế là không thể tránh khỏi Vì vậy, việc xác định các hành vi tội phạm trở nên vô cùng quan trọng, cần sự hợp tác giữa các quốc gia để làm cơ sở xem xét và truy cứu trách nhiệm hình sự trên cơ

sở quy định của pháp luật có liên quan Hoạt động tội phạm của các tổ chức tội phạm xuyên quốc gia không chỉ thực hiện trên đất liền mà cả trên các vùng biển nằm dưới quyền tài phán của nhiều quốc gia và các vùng biển cả nằm ngoài quyền tài phán của các quốc gia; mức độ tác động của tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia là đặc biệt nghiêm trọng, đe dọa đến hòa bình và an ninh quốc tế, có thể làm suy yếu tính hợp pháp và hiệu quả của các chính phủ, xâm hại tới các quan hệ xã hội, vi phạm các quyền cơ bản của con người, chà đạp lên nhân phẩm, sức khỏe lấy đi tính mạng của người dân vô tội, do vậy cần sự hợp tác giữa các quốc gia để đấu tranh, phòng chống hiệu quả

Trong xu hướng quốc tế hóa hiện nay, cùng với sự phát triển vũ bão của khoa học, công nghệ và kỹ thuật thì tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia có xu hướng ngày càng tăng và mức độ ngày càng nghiêm trọng Sẽ xuất hiện những

tổ chức tội phạm xuyên quốc gia mới do sự mở rộng quy mô hoạt động của các nhóm tội phạm truyền thống sang phạm vi, lĩnh vực hoạt động mới; lợi dụng những tiến bộ khoa học công nghệ để thực hiện và che dấu hành vi phạm tội

Trang 38

Do vậy, thực tiễn trên biển đòi hỏi các quốc gia, tổ chức liên chính phủ,

tổ chức quốc tế có trách nhiệm phải hợp tác đấu tranh phòng, chống tội phạm

có tính chất quốc tế trên biển, nâng cao hiệu quả bảo vệ an ninh, trật tự, an toàn trên biển góp phần xây dựng vùng biển hòa bình, ổn định, phát triển bền vững

1.5 Tầm quan trọng của việc hợp tác giữa các quốc gia trong đấu tranh phòng, chống tội phạm có tính chất quốc tế ở biển Đông

Theo Từ điển tiếng Việt [61], “hợp tác” là “cùng chung sức giúp đỡ lẫn nhau trong một công việc, một lĩnh vực nào đó nhằm một mục đích chung”; còn thuật ngữ “quốc tế” (thường dùng phụ sau danh từ) là chỉ các nước trên thế giới trong quan hệ với nhau; theo nghĩa rộng, thuật ngữ “quốc tế” còn bao gồm

cả cộng đồng quốc tế, các tổ chức quốc tế khu vực, toàn cầu hoặc tổ chức quốc

tế đa phương hoặc có thể là cả song phương Hiểu theo nghĩa của Từ điển Tiếng Việt thì hợp tác quốc tế là thuật ngữ đa nghĩa, nhưng đều phản ánh bản chất của hợp tác gắn bó với nhau “nhằm một mục đích chung” về một lĩnh vực nào đó của đời sống quốc tế giữa các quốc gia hoặc giữa quốc gia với tổ chức quốc tế Hay nói theo cách khác, hợp tác quốc tế là cùng hoạt động hoặc hoạt động hỗ trợ nhau; cùng chung ý chí, hành động thực hiện một công việc nào

đó, trong một lĩnh vực cụ thể nhằm đạt được mục đích chung đã được xác định trước Bên cạnh đó, sự hợp tác giữa các quốc gia còn nhằm giải quyết những vấn đề tự thân mỗi quốc gia không thể thực hiện được; đòi hỏi sự hợp tác của các chủ thể luật quốc tế Nội dung, tính chất lĩnh vực cần hợp tác quốc tế được xác định từ chính nhu cầu, mục đích hợp tác của các bên và được quyết định bởi chính sách đối ngoại của từng quốc gia Trong thực tiễn, hợp tác quốc tế giữa các chủ thể luật quốc tế đều được triển khai trên cơ sở thỏa thuận của các bên và được cụ thể hóa bằng các văn bản pháp lý liên quan đến việc hợp tác

Hiện nay, xu thế hợp tác giữa các quốc gia để giải quyết các vấn đề liên quan đến biển trên mọi lĩnh vực là rất cấp thiết Việc hợp tác giữa các quốc gia

là tất yếu, xuất phát từ đặc điểm quản lý, bảo vệ vùng biển và thực thi chính

sách biển của từng quốc gia, gồm các đặc điểm sau: thứ nhất, tùy thuộc chế độ

pháp lý của từng vùng biển theo quy định của luật biển quốc tế, trên mỗi vùng

biển đều có các hoạt động tội phạm mang tính chất quốc tế; hai là, các loại tội

phạm quốc tế hay tội phạm xuyên quốc gia có xu hướng phát triển mạnh ở

Trang 39

hướng biển, lợi dụng sự thuận lợi của môi trường biển để phạm tội; ba là, nhiều

vùng biển đang còn tồn tại bất đồng, mâu thuẫn và nhận thức khác nhau giữa các quốc gia về biên giới biển, quyền chủ quyền trên biển, cần hợp tác để cùng thực thi pháp luật trên đó, từng bước giải quyết tranh chấp bằng biện pháp dân

sự, hòa bình; bốn là, tính đa quốc tịch của tổ chức, cá nhân hoạt động trên biển

và nguyên tắc tự do hàng hải, tự do hàng không trên biển; năm là, giải quyết

các vấn đề quốc tế (nhất là liên quan đến biển) cần phải có sự hợp tác quốc tế;

sáu là, vấn đề bảo vệ an ninh hàng hải trên biển là vấn đề chung, tất yếu khách

quan, cần thiết phải có sự hợp tác quốc tế [45, 46]

Mặt khác, vấn đề phòng, chống tội phạm có tính chất quốc tế trên biển

là một trong những nội hàm của vấn đề an ninh phi truyền thống (những vấn đề phi quân sự, không liên quan tới quân sự) đe dọa đến sự phát triển bền vững của quốc gia, ảnh hưởng đến sức khỏe của con người và cộng đồng quốc tế [60] Việc hợp tác giữa các quốc gia trong đấu tranh phòng, chống tội phạm có tính chất quốc tế trên biển cũng là một trong những nội dung quan trọng của luật hình sự quốc tế, xuất phát từ đặc điểm của tội phạm có tính chất quốc tế trên biển rộng lớn, khắc nghiệt, khó lường về khí hậu, thủy văn, rủi ro lớn, hiện trường dễ biến mất, việc phát hiện bắt giữ khó khăn, đòi hỏi cấp thiết phải xây dựng quan hệ hợp tác giữa các quốc gia toàn diện, chặt chẽ trong đấu tranh phòng, chống loại tội phạm này thông qua các hoạt động từ trao đổi thông tin, liên lạc, kinh nghiệm, phối hợp xử lý tình hình, tập huấn, diễn tập Qua đó, tùy thuộc nội dung, tính chất, nhu cầu, mục đích của mỗi chủ thể luật quốc tế mà

cơ chế hợp tác quốc tế được hình thành, nhưng phải thông qua việc xác lập và thỏa thuận được những quy tắc, cách thức thực hiện chung, trên cơ sở tự nguyện giữa hai hoặc nhiều chủ thể luật quốc tế

Đấu tranh phòng, chống tội phạm có tính chất quốc tế trên biển là một vấn đề mang tính chất toàn cầu, bao gồm cả khu vực biển Đông, đòi hỏi phải có

sự hợp tác tích cực của các quốc gia, bởi: biển Đông có sự phát triển chóng mặt của các hành vi tội phạm có tính chất quốc tế, đặc biệt nguy hiểm, ngày càng

mở rộng trên biển [46]; không còn chỉ bó hẹp trong một vùng biển của một quốc gia mà trở thành tội phạm xuyên quốc gia, tội phạm có tổ chức, có tính chất quốc tế; tác động mạnh mẽ đến an ninh con người, an ninh xã hội và chủ

Trang 40

thể tham gia là thể nhân, cá nhân, tổ chức nhiều quốc tịch khác nhau hoạt động trên biển Đông; xâm hại tới trật tự pháp lý của quốc gia và luật pháp quốc tế

Cùng với xu thế toàn cầu hóa đang diễn ra sôi động, các quốc gia trong khu vực biển Đông cần kết hợp tham gia vào việc đấu tranh phòng, chống tội phạm có tính chất quốc tế trên biển Đông Để giải quyết được vấn đề này, cần

sự chung tay hợp tác toàn diện, tích cực của các quốc gia ven biển Đông và cộng đồng quốc tế, đây không phải là công việc của một quốc gia riêng lẻ có thể giải quyết được Qua đó, kết quả của hợp tác sẽ dẫn tới sự gia tăng mức độ ảnh hưởng, sự phụ thuộc lẫn nhau, gia tăng nhu cầu liên kết, hợp tác giữa các quốc gia trong quá trình giải quyết những thách thức do tội phạm có tính chất quốc tế trên biển Đông gây ra

Trước tình hình tội phạm có tính chất quốc tế trên biển như đã trình bày

ở mục 1.2, các quốc gia khu vực đã đặt vấn đề này lên vị trí hàng đầu trong số các thách thức cần phải tập trung mọi nguồn lực, chính sách, ưu tiên hợp tác để đối phó Vì vậy, việc tìm ra các giải pháp hữu hiệu trong việc hợp tác quốc tế nhằm phòng, chống tội phạm có tính chất quốc tế trên biển Đông là một vấn đề hợp tác cấp thiết giữa các quốc gia Đây không chỉ là yêu cầu khách quan trong quá trình phát triển của quốc gia ven biển Đông mà còn là một đòi hỏi của việc giải quyết các vấn đề quốc tế phát sinh, trong đó có vấn đề đấu tranh phòng, chống tội phạm có tính chất quốc tế trên biển là một trong những điểm cơ bản, những thách thức hàng đầu trong quan hệ hợp tác quốc tế hiện nay Như vậy,

có thể hiểu hợp tác quốc tế giữa các quốc gia, tổ chức quốc tế trong lĩnh vực phòng, chống tội phạm có tính chất quốc tế trên biển Đông là hoạt động tự nguyện nhằm hỗ trợ lẫn nhau, cùng chung hành động thực hiện các công việc cần thiết nhằm phòng, chống có hiệu quả tội phạm có tính chất quốc tế trên biển Đông, từ đó góp phần vào việc xây dựng biển Đông trở thành một vùng biển hòa bình, ổn định và phát triển

Có thể khẳng định, hợp tác giữa các quốc gia trong đấu tranh phòng, chống tội phạm có tính chất quốc tế trên biển Đông có ý nghĩa rất quan trọng nhằm: góp phần tăng cường quan hệ hợp tác toàn diện giữa các quốc gia khu vực biển Đông; đẩy mạnh sự phối hợp toàn diện của các quốc gia trong việc giải quyết những vấn đề cấp thiết đặt ra liên quan đến tội phạm có tính chất

Ngày đăng: 15/11/2019, 20:40

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w