1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khuyến nghị xây dựng nội quy lao động cho các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Lai Châu

83 147 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 83
Dung lượng 663,08 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu chuyên sâu và trình bày một cách có hệ thống các vấn đề lý luận pháp luật về công tác xây dựng nội quy lao động cho các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh lai Châu; đề xuất các giải pháp về hoàn thiện hệ thống pháp luật và hiệu quả áp dụng pháp luật về công tác xây dựng nội quy lao động cho các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh lai Châu.

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

NGUYỄN VĂN CHUNG

KHUYẾN NGHỊ XÂY DỰNG NỘI QUY LAO ĐỘNG CHO CÁC DOANH NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH

LAI CHÂU

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

(Định hướng ứng dụng)

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

NGUYỄN VĂN CHUNG

KHUYẾN NGHỊ XÂY DỰNG NỘI QUY LAO ĐỘNG CHO CÁC DOANH NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH

Trang 3

HÀ NỘI - 2018

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội

Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

NGƯỜI CAM ĐOAN

Nguyễn Văn Chung

Trang 5

MỤC LỤC

Trang

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Mục lục

Danh mục bảng

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ NỘI QUY LAO ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP 6

1.1 Khái niệm, đặc điểm và vai trò của nội quy lao động của doanh nghiệp 6

1.1.1 Khái niệm nội quy lao động của doanh nghiệp 6

1.1.2 Đặc điểm của nội quy lao động của doanh nghiệp 7

1.1.3 Vai trò của nội quy lao động của doanh nghiệp 10

1.2 Nội dung điều chỉnh pháp luật về nội quy lao động của doanh nghiệp ở Việt Nam 12

1.2.1 Thẩm quyền ban hành nội quy lao động 13

1.2.2 Nội dung cơ bản của nội quy lao động 14

1.2.3 Thủ tục ban hành nội quy lao động 20

1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc xây dựng và thực hiện nội quy lao động của doanh nghiệp 23

1.3.1 Điều kiện kinh tế - xã hội 23

1.3.2 Hệ thống quy phạm pháp luật 24

1.3.3 Hoạt động của cơ quan, tổ chức có chức năng quản lý, kiểm tra, giám sát về lao động 24

1.3.4 Ý thức chấp hành pháp luật của người sử dụng lao động và người lao động 25

Kết luận chương 1 27

Trang 6

Chương 2: THỰC TRẠNG THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ NỘI

QUY LAO ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN

TỈNH LAI CHÂU 28

2.1 Khái quát đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội và tình hình hoạt động của các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Lai Châu 28

2.1.1 Khái quát đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội của tỉnh Lai Châu 28

2.1.2 Tình hình hoạt động của các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Lai Châu 29

2.2 Đánh giá thực trạng thực hiện pháp luật về nội quy lao động của doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Lai Châu 31

2.2.1 Kết quả đạt được 31

2.2.2 Một số tồn tại, hạn chế và nguyên nhân 34

Kết luận chương 2 44

Chương 3: MỘT SỐ KHUYẾN NGHỊ XÂY DỰNG NỘI QUY LAO ĐỘNG CHO CÁC DOANH NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH LAI CHÂU 45

3.1 Khuyến nghị về nội dung nội quy lao động của doanh nghiệp 45

3.1.1 Về cơ sở ban hành nội quy lao động 45

3.1.2 Những nội dung cơ bản của nội quy lao động 46

3.2 Khuyến nghị hoàn thiện pháp luật và đảm bảo thực hiện nghiêm chỉnh nội quy lao động của các doanh nghiệp 59

3.2.1 Yêu cầu hoàn thiện pháp luật về nội quy lao động 60

3.2.2 Một số khuyến nghị hoàn thiện pháp luật về nội quy lao động và bảo đảm hiệu lực, hiệu quả nội quy lao động của doanh nghiệp 63

Kết luận chương 3 71

KẾT LUẬN 72

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 74

Trang 7

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1 Kết quả đăng ký thừa nhận nội quy lao động của

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Quản lý lao động và duy trì kỷ luật lao động là điều kiện quan trọng đảm bảo hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ Vì vậy, để hiện thực hóa quyền quản lý lao động của mình, người sử dụng lao động sử dụng nhiều biện pháp, cách thức khác nhau, trong

đó có việc thiết lập trật tự lao động thông qua “Nội quy lao động” Từ đó,

nhằm tạo cơ sở thống nhất cho các doanh nghiệp xây dựng nội quy lao động phù hợp với đặc thù sản xuất, kinh doanh; góp phần hạn chế tranh chấp lao động cũng như bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người lao động, Bộ luật Lao động và các văn bản hướng dẫn thi hành đã có những quy định cụ thể về nội quy lao động như: thẩm quyền, nguyên tắc; nội dung cơ bản của nội quy lao động; thủ tục ban hành và đăng ký nội quy lao động …

Trên cơ sở các quy định pháp luật về nội quy lao động và việc tuyên truyền, phổ biến pháp luật của các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền, qua đánh giá trong thời gian qua cho thấy tình hình chấp hành pháp luật về nội quy lao động của các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Lai Châu có nhiều chuyển biến tích cực Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, việc chấp hành pháp luật về nội quy lao động của các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh cũng còn những tồn tại, hạn chế nhất định Cụ thể như: Một số doanh nghiệp chưa nhận thức đúng về tầm quan trọng của nội quy lao động nên chưa ban hành nội quy lao động; một số doanh nghiệp xây dựng nội quy lao động chỉ mang tính đối phó với cơ quan quản lý nhà nước; vì lợi nhuận nên chưa quan tâm thực hiện các cam kết trong nội quy lao động về nâng lương hàng năm, điều chỉnh mức lương tối thiểu, đảm bảo an toàn vệ sinh lao động; một bộ phận người lao động còn thiếu hiểu biết về pháp luật lao động nên ý thức chấp hành kỷ luật lao động, tác phong làm việc còn hạn chế…

Trang 9

Thực trạng trên đòi hỏi phải có những phương hướng, giải pháp để khắc phục tồn tại, hạn chế và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật lao động nói chung, pháp luật về nội quy lao động nói riêng của các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Lai Châu Vì vậy, từ thực tiễn công tác của mình,

tác giả chọn đề tài “Khuyến nghị xây dựng nội quy lao động cho các

doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Lai Châu" nhằm đánh giá thực trạng thực

hiện pháp luật về nội quy lao động và đưa ra một số khuyến nghị xây dựng nội quy lao động phù hợp với đặc thù của các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Lai Châu trong thời gian tới

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Liên quan đến nội quy lao động và thực hiện nội quy lao động của các doanh nghiệp, trong thời gian qua đã có một số công trình nghiên cứu được công bố dưới những góc độ khác nhau Có thể kể đến một số công trình nghiên cứu sau đây:

- "Tìm hiểu Bộ luật lao động Việt Nam” của tác giả Phạm Công Bảy,

Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002

- "Pháp luật về kỷ luật lao động ở Việt Nam- Thực trạng và giải pháp"

của tác giả Trần Thị Thúy Lâm, Luận án Tiến sĩ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, 2005

- "Pháp luật lao động Việt Nam về nội quy lao động- Thực trạng và

phương hướng hoàn thiện" của tác giả Đặng Thị Oanh, Luận văn Thạc sĩ luật

học, Trường Đại học Luật Hà Nội, 2010

- "Nội quy lao động - một số vấn đề pháp lý và thực tiễn” của tác giả

Hoàng Thị Thanh Hoa và Lê Đăng Đào đăng trên http://www.moj.gov.vn

- "Pháp luật về kỷ luật lao động: Một số vướng mắc và hướng hoàn thiện"

của tác giả Nguyễn Thị Phương Thúy đăng trên http://tapchicongthuong.vn (cập nhật ngày 29/11/2017)

Trang 10

- "Một số vướng mắc bất cập về xử lý kỷ luật lao động đối với người lao động" của tác giả Phạm Thị Hồng Đào đăng trên http://www.moj.gov.vn

- "Pháp luật về quyền quản lý lao động của người sử dụng lao động ở

Việt Nam" của tác giả Đỗ Thị Dung, Luận văn Thạc sĩ luật học, Trường Đại

về nội quy lao động đối với các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Lai Châu để từ

đó đưa ra một số khuyến nghị về xây dựng nội quy lao động để đảm bảo hoạt động quản lý của các doanh nghiệp và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người lao động trên địa bàn tỉnh Lai Châu trong thời gian tới

3 Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu của luận văn

3.1 Mục đích nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của luận văn là phân tích, làm sáng tỏ một số vấn

đề lý luận về thực hiện các quy định pháp luật nội quy lao động của các doanh nghiệp; đánh giá thực trạng và đưa ra một số khuyến nghị về xây dựng nội quy lao động đối với các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Lai Châu

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích trên, luận văn có một số nhiệm vụ sau:

- Nghiên cứu một số vấn đề lý luận về nội quy lao động của các doanh nghiệp như: khái niệm, nội dung, vai trò, các yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện nội quy lao động của các doanh nghiệp

Trang 11

- Đánh giá thực trạng thực hiện pháp luật về nội quy lao động của các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Lai Châu

- Đưa ra một số khuyến nghị về xây dựng nội quy lao động và bảo đảm thực hiện nội quy lao động đối với các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Lai Châu trong thời gian tới

3.3 Phạm vi nghiên cứu

Nội quy lao động của các doanh nghiệp có thể được nghiên cứu, tiếp cận ở nhiều góc độ khác nhau, tuy nhiên, dưới góc độ pháp luật lao động, luận văn tập trung nghiên cứu thực trạng thực hiện pháp luật về nội quy lao động của các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Lai Châu theo quy định pháp luật lao động hiện hành của Việt Nam

4 Đối tượng nghiên cứu

- Các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Lai Châu

- Người lao động, công nhân viên trong các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Lai Châu

5 Phương pháp nghiên cứu

Để đạt được mục tiêu nghiên cứu, luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu duy vật biện chứng của triết học Mác - Lênin; kết hợp các phương pháp nghiên cứu như: Phân tích, tổng hợp, so sánh, thống kê, tổng kết thực tiễn Cụ thể là:

- Phương pháp phân tích, tổng hợp được sử dụng chủ yếu tại chương

1 của luận văn để nêu và phân tích cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu là nội quy lao động của các doanh nghiệp để từ đó khái quát hóa thành những luận điểm, quan điểm làm cơ sở cho việc nghiên cứu các nội dung khác trong luận văn

- Phương pháp phân tích, so sánh được áp dụng nhằm làm rõ những nội dung của Chương 2 là đánh giá thực trạng thực hiện pháp luật về nội quy lao

Trang 12

động của các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Lai Châu để từ đó đưa ra các khuyến nghị tại Chương 3 của luận văn

- Phương pháp phân tích, chứng minh được sử dụng chủ yếu ở Chương 3 của luận văn nhằm phân tích, luận giải những khuyến nghị về xây dựng nội quy lao động đối với các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Lai Châu trong thời gian tới

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn

- Luận văn là công trình nghiên cứu tương đối có hệ thống về cơ sở lý luận, thực tiễn thực hiện nội quy lao động của các doanh nghiệp theo pháp luật lao động ở Việt Nam

- Luận văn chỉ ra những ưu điểm, tồn tại và nguyên nhân của thực trạng thực hiện nội quy lao động của các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Lai Châu

để từ đó đưa ra khuyến nghị xây dựng nội quy lao động đối với các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Lai Châu

- Kết quả nghiên cứu luận văn có thể sử dụng tham khảo phục vụ công tác nghiên cứu, tập huấn về nội quy lao động cho các doanh nghiệp và cá nhân, tổ chức quan tâm

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn được kết cấu gồm 3 chương, 7 tiết

Chương 1: Một số vấn đề lý luận và các quy định của pháp luật về nội

quy lao động của doanh nghiệp

Chương 2: Thực trạng thực hiện pháp luật về nội quy lao động của

doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Lai Châu

Chương 3: Một số khuyến nghị xây dựng nội quy lao động cho các

doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Lai Châu

Trang 13

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT

VỀ NỘI QUY LAO ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP

1.1 Khái niệm, đặc điểm và vai trò của nội quy lao động của doanh nghiệp

1.1.1 Khái niệm nội quy lao động của doanh nghiệp

Hoạt động của các doanh nghiệp đóng vai trò rất quan trọng đối với

sự phát triển kinh tế- xã hội, vì vậy, để phát huy được vai trò này thì các doanh nghiệp cần phải được quản lý tốt theo những mục tiêu đặt ra Quản

lý doanh nghiệp cũng như quản lý bất cứ cơ quan, tổ chức nào là một quá trình phức tạp, đó là quá trình tổ chức làm việc giữa các cá nhân, các nhóm trên cơ sở các nguồn lực khác (thiết bị, vốn, công nghệ) để đạt được những mục tiêu của doanh nghiệp Từ đó, để quản lý doanh nghiệp hiệu quả thì người sử dụng lao động, ngoài việc tuân thủ pháp luật nói chung, cần phải

có những quy định riêng đối với hoạt động của doanh nghiệp mình, trong

đó có nội quy lao động

Nội quy lao động có thể được hiểu theo các cách tiếp cận khác nhau Theo Từ điển tiếng Việt, nội quy được hiểu là “những quy định để đảm bảo trật tự và kỷ luật trong một tập thể, một cơ quan”; lao động được hiểu là

“hoạt động có mục đích của con người nhằm tạo ra các loại sản phẩm vật chất và tinh thần cho xã hội” Từ đó, có thể hiểu nội quy lao động là những quy định để đảm bảo trật tự và kỷ luật lao động trong một tập thể, cơ quan nhằm tạo ra các loại sản phẩm vật chất và tinh thần cho xã hội Tuy nhiên,

có quan điểm cho rằng:

Nội quy lao động là văn bản định việc tuân theo thời gian, công nghệ, trật tự trong đơn vị lao động và sự điều hành công việc của người sử dụng lao động [20]

Trang 14

Quan điểm khác cho rằng: Nội quy lao động là văn bản cụ thể hóa các quy định của pháp luật về kỷ luật lao động để áp dụng trong đơn vị sử dụng lao động [23]

Cũng có quan điểm cho rằng: Nội quy lao động là văn bản quy định do người sử dụng lao động ban hành, gồm những quy tắc xử sự chung và xử sự riêng biệt cho từng loại lao động hoặc khu vực sản xuất: các hành vi vi phạm kỷ luật lao động và các biện pháp xử lý đối với những người có hành vi vi phạm kỷ luật lao động [21]

Tuy có nhiều quan điểm khác nhau về nội quy lao động, nhưng theo nghĩa chung nhất dưới góc độ pháp luật lao động và hoạt động của các doanh

nghiệp, có thể quan niệm: Nội quy lao động của doanh nghiệp là những quy

tắc xử sự; các hành vi kỷ luật lao động, cách thức xử lý và trách nhiệm vật chất do người sử dụng ban hành để người lao động tuân thủ khi tham gia các quan hệ lao động tại doanh nghiệp

Với quan niệm trên, nội quy lao động có thể được hiểu là văn bản quy định các quy tắc ứng xử có tính nội bộ của doanh nghiệp, theo đó quy định về nghĩa vụ, trách nhiệm của người lao động đối với doanh nghiệp cũng như các biện pháp xử lý đối với người lao động không chấp hành hoặc chấp hành không đầy đủ nghĩa vụ, trách nhiệm quy định nhằm đảm bảo cho hoạt động của doanh nghiệp được ổn định và phát triển

1.1.2 Đặc điểm của nội quy lao động của doanh nghiệp

Một là, nội quy lao động do người sử dụng lao động (doanh nghiệp)

ban hành

Về nguyên tắc, quan hệ lao động phát sinh giữa người lao động và người sử dụng lao động khi thỏa thuận được với nhau về công việc người lao động cần phải thực hiện, về điều kiện để người lao động làm việc và những gì mà người lao động sẽ nhận được từ người sử dụng lao động (trong

Trang 15

đó quan trọng nhất là tiền lương) Chính vì vậy, để đảm bảo hiệu quả quản lý lao động, pháp luật của nước ta cũng như pháp luật của đa số các nước đều quy định người sử dụng lao động có quyền ban hành nội quy lao động để quy định các quy tắc xử sự giữa người sử dụng lao động và người lao động

Về bản chất, quyền ban hành nội quy lao động của người sử dụng lao động xuất phát từ thực tế địa vị của người sử dụng lao động trong mối quan hệ lao động với người lao động, theo đó người sử dụng lao động là người có quyền

tổ chức, điều hành, phân công các hoạt động để thiết lập trật tự nội bộ trong doanh nghiệp do mình lập ra Tiếp cận dưới góc độ quyền quản lý lao động thì người sử dụng lao động cũng chính là người chủ doanh nghiệp nên họ có toàn quyền trong việc ban hành và tổ chức thực hiện nội quy lao động, miễn

là trên cơ sở căn cứ pháp luật cụ thể và không vi phạm quy định cấm của pháp luật Tuy nhiên, để hài hòa mối quan hệ lao động và thực tế hóa nội quy lao động khi được ban hành, pháp luật quy định trước khi ban hành nội quy lao động, người sử dụng lao động phải tham khảo ý kiến của tổ chức đại diện tập thể lao động tại cơ sở (ví dụ như Ban Chấp hành công đoàn cơ sở) nhưng những ý kiến của tổ chức đại diện tập thể lao động tại cơ sở chỉ mang tính khuyến nghị và quyền quyết định cuối cùng vẫn thuộc về người sử dụng lao động (chủ doanh nghiệp)

Hai là, nội quy lao động mang tính qui phạm

Như đã đề cập ở trên, người sử dụng lao động ban hành nội quy lao động để buộc người lao động tuân thủ những quy tắc xử sự khi tham gia quan

hệ lao động Đó là những quy tắc, nghĩa vụ mà người lao động phải thực hiện

về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi, vấn đề an toàn lao động, vệ sinh lao động, đảm bảo trật tự tại nơi làm việc, vấn đề bảo vệ tài sản, bí mật kinh doanh Đây là những quy định được ban hành có tính đơn phương của người sử dụng lao động theo đúng trình tự, thủ tục theo quy định pháp luật

Trang 16

nên có tính bắt buộc đối với toàn thể người lao động trong doanh nghiệp Từ

đó, có thể nói rằng nội quy lao động là những quy tắc xử sự nội bộ và có vai trò như là “Luật lao động của doanh nghiệp” Tuy nhiên, sau khi ban hành, pháp luật quy định người sử dụng lao động (doanh nghiệp) người sử dụng lao động (doanh nghiệp) phải đăng ký nội quy lao động với cơ quan quản lý lao động có thẩm quyền và công khai với người lao động để đảm bảo hiệu lực của nội quy lao động và chính thức duy trì trật tự lao động tại doanh nghiệp Điều này cũng cho thấy việc ban hành nội quy lao động vừa là yêu cầu bắt buộc vừa là yêu cầu khách quan xuất phát từ các hoạt động lao động tại doanh nghiệp Tính quy phạm của nội quy lao động không chỉ thể hiện ở những quy tắc xử sự có tính bắt buộc mà còn thể hiện là cơ sở để xử lý kỷ luật lao động đối với những người lao động không tuân thủ đúng nội quy lao động Khi có hành vi vi phạm kỷ luật lao động xảy ra, người sử dụng lao động (doanh nghiệp) sẽ căn cứ vào nội quy lao động và các quy định pháp luật liên quan để

xử lý đối với người lao động (ví dụ như: khiển trách, kéo dài thời hạn nâng bậc lương, sa thải)

Ba là, nội quy lao động thể hiện đặc thù hoạt động của doanh nghiệp

Nội quy lao động quy định nghĩa vụ của người lao động tại doanh nghiệp, trong đó có các nghĩa vụ tuân thủ trật tự lao động, thời gian lao động,

an toàn lao động, hình thức xử lý kỷ luật Tuy nhiên, để đảm bảo tính khả thi thì nội quy lao động phải xuất phát từ điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của doanh nghiệp như: Lĩnh vực sản xuất kinh, kinh doanh, thậm chí ở từng địa phương,

ví dụ như: Đối với việc lao động trong doanh nghiệp dịch vụ thì người lao động có thể không phải làm việc theo ca, mà làm việc theo giờ hành chính; hoặc đối với doanh nghiệp có chức năng xây dựng thì người lao động phải làm theo ca và vấn đề an toàn lao động được quy định chặt chẽ Vì vậy, nhìn vào nội quy lao động có thể nhận biết những đặc thù hoạt động của doanh nghiệp, thậm chí thấy được cả triển vọng phát triển của doanh nghiệp

Trang 17

1.1.3 Vai trò của nội quy lao động của doanh nghiệp

Nội quy lao động được coi là “Luật lao động của doanh nghiệp”, bởi

vậy có vai trò quan trọng đối với việc duy trì quan hệ lao động trong doanh nghiệp và trong đời sống xã hội Cụ thể là:

Thứ nhất, nội quy lao động góp phần đảm bảo hiệu lực, hiệu quả quản

lý nhà nước về lao động

Quản lý nhà nước về lao động bao gồm những nội dung chủ yếu là ban hành thể chế; xây dựng các cơ chế, thiết chế hỗ trợ phát triển quan hệ lao động hài hòa, ổn định và phát triển; thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại,

tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về lao động; giải quyết tranh chấp lao động theo quy định của pháp luật… Bởi vậy, khi nội quy lao động được ban hành thì cũng đồng nghĩa với việc thể chế hóa các quy định của pháp luật lao động trong doanh nghiệp, qua đó các cơ quan có thẩm quyền gián tiếp tham gia vào quá trình quản lý lao động tại doanh nghiệp đó Đồng thời, với mục đích duy trì trật tự lao động tại doanh nghiệp- một thực thể quan trọng trong đời sống

xã hội, vì thế nội quy lao động góp phần đảm bảo ổn định và phát triển của doanh nghiệp, qua đó góp phần phát triển kinh tế - xã hội Từ đó, có thể nói rằng khi nội quy lao động được ban hành trên cơ sở pháp luật và được thực hiện nghiêm túc thì cũng chính là một công cụ nối dài việc quản lý lao động của Nhà nước tại các doanh nghiệp, góp phần đảm bảo hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về lao động trong xã hội

Thứ hai, nội quy lao động là cơ sở pháp lý để người sử dụng lao động

duy trì ổn định và phát triển của doanh nghiệp

Như đã đề cập ở trên, nội quy lao động được coi như luật lao động của doanh nghiệp, do đó khi được đăng ký với cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền về lao động, nội quy lao động là cơ sở pháp lý để người sử dụng lao động duy trì mối quan hệ lao động với người lao động theo trật tự phù hợp

Trang 18

với đặc thù của doanh nghiệp, góp phần đảm bảo cho doanh nghiệp hoạt động hiệu quả (ví dụ như khi người lao động thực hiện đúng quy định về bảo hộ lao động thì sẽ tránh được những rủi ro, tai nạn lao động, qua đó tránh được thiệt hại cho cả người sử dụng lao động và người lao động) Đồng thời, do được ban hành theo ý chí đơn phương của người sử dụng lao động nên khi tham gia quan hệ lao động tại doanh nghiệp mà người lao động vi phạm kỷ luật lao động thì chính nội quy lao động là cơ sở để xử lý các vi phạm nội quy lao động, xác định trách nhiệm vật chất cũng như các biện pháp xử lý kỷ luật đối với người lao động

Thứ ba, nội quy lao động là cơ sở để nâng cao tính kỷ luật lao động và

bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người lao động

Nội quy lao động do người sử dụng lao động ban hành, vì vậy, mục đích chính của nội quy lao động là đảm bảo cho người lao động thực hiện các nghĩa vụ của mình khi tham gia quan hệ lao động tại doanh nghiệp Bởi vậy, nội quy lao động không chỉ cần thiết cho doanh nghiệp sử dụng lao động mà còn có ý nghĩa thiết thực với chính bản thân người lao động Thông qua các quy định bắt buộc phải tuân thủ, các hành vi vi phạm kỷ luật lao động và biện pháp xử lý trong nội quy lao động, người lao động sẽ nhận thức được trách nhiệm, nghĩa vụ của mình để kiềm chế vi phạm, tạo lập tính kỷ luật của người lao động trong công việc, góp phần nâng cao năng suất lao động và xây dựng thương hiệu của doanh nghiệp, đặc biệt là yêu cầu về kỷ luật lao động, tính cạnh tranh trong lao động ngày càng khắt khe hơn trong điều kiện hội nhập quốc tế hiện nay Hơn nữa, nội quy lao động cũng là cơ sở để người lao động bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình khi tham gia lao động như: Quyền được đảm bảo an toàn, vệ sinh lao động; quyền hưởng các chế độ phúc lợi của doanh nghiệp; quyền được khiếu nại khi bị xử lý kỷ luật không đúng với nội quy lao động và pháp luật lao động…

Trang 19

Từ đặc điểm và vai trò của nội quy lao động như phân tích nêu trên cho thấy, về bản chất, nội quy lao động là ý chí đơn phương của người sử dụng lao động nhằm đảm bảo duy trì kỷ luật lao động, sự ổn định và phát triển của doanh nghiệp cũng như góp phần đảm bảo hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về lao động đối với các doanh nghiệp

1.2 Nội dung điều chỉnh pháp luật về nội quy lao động của doanh nghiệp ở Việt Nam

Nội quy lao động do doanh nghiệp ban hành ban hành liên quan trực tiếp đến các quyền của người lao động và ảnh hưởng rất lớn đến việc phát huy vai trò duy trì trật tự lao động tại doanh nghiệp cũng như hiệu quả quản lý nhà nước về lao động Vì vậy, pháp luật quy định việc ban hành nội quy lao động của doanh nghiệp phải trên cơ sở nguyên tắc, trình tự, thủ tục nhất định

Nghiên cứu lịch sử pháp luật ở nước ta, có thể thấy rằng các quy định pháp luật về lao động nói chung, điều chỉnh về nội quy lao động nói riêng ngày càng được hoàn thiện với các dấu mốc lập pháp quan trọng như: Sắc lệnh số 29/SL ngày 12/3/1947 của Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa qui định những giao dịch về việc làm công, giữa các chủ nhân, người Việt Nam hay người ngoại quốc và các công nhân Việt Nam làm tại các xưởng kỹ nghệ, hầm mỏ, thương điếm và các nhà làm nghề tự do; Bộ luật Lao động năm 1994 (sửa đổi vào các năm 2002, 2006, 2007); Nghị định số 41/1995/NĐ-CP ngày 6/7/1995 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một sổ điều của Bộ luật Lao động về kỷ luật lao động và trách nhiệm vật chất; Nghị định

số 33/2003/NĐ-CP ngày 02/04/2003 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều Nghị định 41/1995 NĐ-CP ngày 6/7/1995 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật Lao động về kỷ luật lao động và trách nhiệm vật chất; Bộ luật Lao động năm 2012, Nghị định số 05/2015/NĐ-CP ngày 12/01/2015 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng

Trang 20

dẫn thi hành một số nội dung của Bộ luật Lao động; Thông tư số BLĐTBXH ngày 16/11/2015 của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội hướng dẫn thực hiện một số điều về hợp đồng lao động, kỷ luật lao động, trách nhiệm vật chất của Nghị định số 05/2015/NĐ-CP của Chính phủ

47/2015/TT-Theo pháp luật Việt Nam, nội dung điều chỉnh pháp luật về nội quy lao động của doanh nghiệp bao gồm:

1.2.1 Thẩm quyền ban hành nội quy lao động

Mục đích của việc ban hành nội quy lao động là để duy trì trật tự lao động tại doanh nghiệp, vì vậy, xu hướng pháp luật của nhiều nước đều quy định việc ban hành nội quy lao động thuộc thẩm quyền của người sử dụng lao động, nhất là đối với các đơn vị, tổ chức sử dụng nhiều người lao động Nghiên cứu lịch sử pháp luật Việt Nam cho thấy vấn đề này đã được đề cập ở một số dấu mốc lập pháp như: Sắc lệnh số 29/SL ngày 12/3/1947 của Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa, theo đó tại Điều thứ 21 quy định:

Các xưởng kỹ nghệ, hầm mỏ và thương điếm dùng quá 25 công nhân phải lập một bản nội quy Bản nội quy định thể lệ về cách tổ chức làm việc,

về việc giữ trật tự, kỷ luật, vệ sinh và bảo an trong sở, về cách tuyển người làm, cách tính và trả tiền công, về thời hạn báo trước khi bị sa thải hay xin thôi việc, về điều kiện nghỉ hàng tuần…

Tiếp đó, Bộ luật Lao động năm 1994 (sửa đổi vào các năm 2002, 2006,

2007) quy định: “Doanh nghiệp sử dụng từ 10 người lao động trở lên phải có

nội quy lao động bằng văn bản” và hiện nay Bộ luật Lao động năm 2012 hiện

hành tiếp tục quy định: “Người sử dụng lao động sử dụng từ 10 người lao

động trở lên phải có nội quy lao động bằng văn bản” [12, Điều 119]

Như vậy, qua các dấu mốc lập pháp nêu trên có thể thấy rằng việc ban hành hành nội quy lao động vừa là quyền và nghĩa vụ bắt buộc đối với người

sử dụng lao động (người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp) ở những

Trang 21

đơn vị, doanh nghiệp có sử dụng nhiều lao động Mục đích của việc ban hành nội quy lao động là để người sử dụng lao động tự thiết lập và duy trì kỷ luật lao động trong doanh nghiệp nhằm nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả của quá trình lao động sản xuất, kinh doanh Việc trao quyền ban hành nội quy lao động cho người sử dụng lao động chính là sự hiện thực hóa quyền tự chủ trong lĩnh vực tổ chức và quản lý lao động của người sử dụng lao động Quyền tự chủ này của người sử dụng lao động xuất phát từ bản chất của mối quan hệ giữa người sử dụng lao động và người lao động là mối quan hệ không bình đẳng, theo đó người sử dụng lao động là người tổ chức, tạo ra công việc còn người lao động là người thực hiện công việc, lệ thuộc vào người sử dụng lao động và bởi vậy phải tuân thủ các quy tắc lao động theo ý chí của người

sử dụng lao động Tuy nhiên, để đảm bảo tính khả thi của nội quy lao động và hài hòa mối quan hệ lao động, pháp luật cũng quy định nguyên tắc chung là việc ban hành nội quy lao động không được trái với pháp luật về lao động và quy định khác của pháp luật có liên quan

1.2.2 Nội dung cơ bản của nội quy lao động

Nội quy lao động được coi như Luật lao động của doanh nghiệp, thể hiện ý chí của người sử dụng lao động (người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp), do vậy, để tránh việc người sử dụng lao động lạm quyền, đặt

ra các quy định khắt khe đối với người lao động và bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động, pháp luật quy định nguyên tắc chung là việc ban hành nội quy lao động phải tuân theo các quy định của pháp luật, trong đó

có quy định những nội dung cơ bản của nội quy lao động

Nghiên cứu các quy định pháp luật của Việt Nam cũng như nhiều nước trên thế giới cho thấy nội dung cơ bản của nội quy lao động của doanh nghiệp bao gồm các quy định về tổ chức lao động đối với người lao động (ví dụ như thời giờ làm việc; vệ sinh, an toàn lao động…) và biện pháp xử lý kỷ luật khi

Trang 22

người lao động vi phạm quy định của nội quy lao động) Ví dụ như theo Điều thứ 21 của Sắc lệnh số 29/SL ngày 12/3/1947 của Chính phủ Việt Nam dân

chủ cộng hòa thì nội quy lao động phải quy định: “thể lệ về cách tổ chức làm

việc, về việc giữ trật tự, kỷ luật, vệ sinh và bảo an trong sở, về cách tuyển người làm, cách tính và trả tiền công, về thời hạn báo trước khi bị sa thải hay xin thôi việc, về điều kiện nghỉ hàng tuần "

Theo quy định tại khoản 2, Điều 119 Bộ luật Lao động năm 2012 và các văn bản quy phạm hướng dẫn thi hành, nội quy lao động gồm những nội

dung cơ bản sau đây:

- Quy định về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi

Việc quy định thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi gắn bó chặt chẽ với nhau trong cuộc sống và lao động của con người, bởi vậy là một nội dung cơ bản của nội quy lao động Theo quy định của Bộ luật Lao động năm

2012, thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi bao gồm việc xác định thời giờ làm việc bình thường của người lao động (không quá 08 giờ trong 01 ngày

và 48 giờ trong 01 tuần); thời giờ làm việc ban đêm, làm thêm giờ; thời giờ nghỉ trong giờ làm việc, nghỉ hàng tuần, nghỉ hàng năm; nghỉ lễ, nghỉ phép năm, nghỉ ốm, nghỉ không hưởng lương; thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi đối với người làm công việc có tính chất đặc biệt… Để hướng dẫn cụ thể quy định của Bộ luật Lao động về về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi, Nghị định 05/2015/NĐ-CP quy định thời giờ làm việc bình thường trong 01 ngày, trong 01 tuần; ca làm việc; thời điểm bắt đầu, thời điểm kết thúc ca làm việc; làm thêm giờ (nếu có); làm thêm giờ trong các trường hợp đặc biệt; thời điểm các đợt nghỉ ngắn ngoài thời gian nghỉ giữa giờ; nghỉ chuyển ca; ngày nghỉ hàng tuần; nghỉ hàng năm, nghỉ việc riêng, nghỉ không hưởng lương (khoản 1 Điều 27)

Ngoài ra, việc quy định thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi cũng cần

Trang 23

tính đến những yếu tố đặc thù của người lao động như lao động nữ, lao động chưa thành niên, lao động là người khuyết tật… Ví dụ như: Người sử dụng lao động không được sử dụng lao động nữ làm việc ban đêm, làm thêm giờ và

đi công tác xa trong các trường hợp mang thai từ tháng thứ 07 hoặc từ tháng thứ 06 nếu làm việc ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo; đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi; người sử dụng lao động không được sa thải hoặc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động đối với lao động nữ vì lý do kết hôn, mang thai, nghỉ thai sản, nuôi con dưới 12 tháng tuổi…[12, Điều 155]

Như vậy, việc quy định thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi trong nội quy lao động không chỉ có ý nghĩa bảo vệ quyền lợi, sức khỏe của người lao động mà còn có ý nghĩa thiết thực trong việc xây dựng một môi trường lao động nề nếp, văn minh và góp phần xây dựng hình ảnh của doanh nghiệp

- Quy định về trật tự tại nơi làm việc

Để đảm bảo trật tự lao động, pháp luật quy định chung về việc đảm bảo trật tự lao động tại nơi làm việc Đó là quy định về phạm vi làm việc, phạm vi làm việc, đi lại trong thời giờ làm việc; văn hóa ứng xử, trang phục; tuân thủ phân công, điều động của người sử dụng lao động (trừ trường hợp thấy rõ nguy cơ xảy ra tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, đe dọa nghiêm trọng tính mạng và sức khỏe của mình) Điều này có ý nghĩa quan trọng để các doanh nghiệp căn cứ vào đặc thù ngành nghề, lĩnh vực hoạt động của mình để đưa ra các quy tắc đảm bảo trật tự nơi làm việc Ví dụ như: Đối với doanh nghiệp sản xuất hóa chất thì chỉ những người lao động được phân công làm việc tại khu vực sản xuất mới được ra vào khu vực làm việc Hoặc như người lao động phải mặc trang phục riêng của doanh nghiệp để đảm bảo tính bình đẳng

và xây dựng hình ảnh của doanh nghiệp với xã hội

- Quy định về an toàn lao động, vệ sinh lao động ở nơi làm việc

Đây là vấn đề quan trọng đối với các doanh nghiệp nhằm đảm bảo

Trang 24

phòng ngừa, giảm thiểu rủi ro cho người lao động Bởi vậy, Bộ luật Lao động năm 2012 đã dành một chương riêng (Chương IX) quy định về an toàn lao động, vệ sinh lao động, theo đó quy định cụ thể trách nhiệm của người sử dụng lao động và người lao động đối với công tác này Vì vậy, trong nội quy lao động cần thể hiện rõ các nghĩa vụ của người lao động như: Chấp hành các quy định, quy trình, nội quy về an toàn lao động, vệ sinh lao động có liên quan đến công việc, nhiệm vụ được giao; sử dụng và bảo quản các phương tiện bảo vệ cá nhân đã được trang cấp; các thiết bị an toàn lao động, vệ sinh lao động nơi làm việc; báo cáo kịp thời với người có trách nhiệm khi phát hiện nguy cơ gây tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, gây độc hại hoặc sự cố nguy hiểm, tham gia cấp cứu và khắc phục hậu quả tai nạn lao động khi có lệnh của người sử dụng lao động Để hướng dẫn vấn đề này, Nghị định 05/2015/NĐ-CP đã quy định trách nhiệm của người lao động là: Nắm vững các quy định về an toàn, vệ sinh lao động, phòng chống cháy nổ; chấp hành biện pháp bảo đảm an toàn lao động, vệ sinh lao động, phòng ngừa tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; tuân thủ nội quy, quy trình, quy chuẩn, tiêu chuẩn an toàn lao động, vệ sinh lao động; sử dụng và bảo quản phương tiện bảo vệ cá nhân; vệ sinh, khử độc, khử trùng tại nơi làm việc

Như vậy, nội dung quy định của doanh nghiệp về an toàn, vệ sinh lao động không được trái với những tiêu chuẩn pháp luật quy định Từ đó, việc quy định chi tiết nội dung về an toàn, vệ sinh lao động tại nơi làm việc trong nội quy lao động có ý nghĩa rất lớn đối với cả người sử dụng lao động và người lao động, nhất là giảm thiểu trách nhiệm, chi phí của doanh nghiệp khi tai nạn lao động, sự cố xảy ra và tạo ra môi trường lao động đảm bảo an toàn, góp phần để người lao động yên tâm, tự tin trong lao động, tăng năng suất lao động và lợi nhuận cho người sử dụng lao động Tuy nhiên, việc người lao động tuân thủ đúng những quy định về an toàn lao động, vệ sinh lao động ở

Trang 25

nơi làm việc tại doanh nghiệp còn phụ thuộc vào nghĩa vụ của người sử dụng lao động đối với về việc bảo đảm an toàn lao động, vệ sinh lao động Cụ thể như: Bảo đảm nơi làm việc đạt yêu cầu về không gian, độ thoáng, bụi, hơi, khí độc, phóng xạ, điện từ trường, nóng, ẩm, ồn, rung, các yếu tố có hại khác được quy định tại các quy chuẩn kỹ thuật liên quan và các yếu tố đó phải được định kỳ kiểm tra, đo lường; Bảo đảm các điều kiện an toàn lao động, vệ sinh lao động đối với máy, thiết bị, nhà xưởng đạt các quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về an toàn lao động, vệ sinh lao động hoặc đạt các tiêu chuẩn về an toàn lao động, vệ sinh lao động tại nơi làm việc đã được công bố, áp dụng; Kiểm tra, đánh giá các yếu tố nguy hiểm, có hại tại nơi làm việc của cơ sở để

đề ra các biện pháp loại trừ, giảm thiểu các mối nguy hiểm, có hại, cải thiện điều kiện lao động, chăm sóc sức khỏe cho người lao động; Định kỳ kiểm tra, bảo dưỡng máy, thiết bị, nhà xưởng, kho tàng; Phải có bảng chỉ dẫn về an toàn lao động, vệ sinh lao động đối với máy, thiết bị, nơi làm việc và đặt ở vị trí dễ đọc, dễ thấy tại nơi làm việc; Lấy ý kiến tổ chức đại diện tập thể lao động tại cơ sở khi xây dựng kế hoạch và thực hiện các hoạt động bảo đảm an

toàn lao động, vệ sinh lao động

- Quy định về bảo vệ tài sản và bí mật kinh doanh, bí mật công nghệ, sở hữu trí tuệ của doanh nghiệp

Trong quá trình người lao động tham gia vào quan hệ lao động, người

sử dụng lao động của doanh nghiệp sẽ hướng dẫn quy trình lao động, giao quyền sử dụng máy móc, tài sản có liên quan để người lao động thực hiện công việc được giao Trong quá trình lao động, người lao động có thể nắm được những thông tin, bí mật kinh doanh, bí mật công nghệ, sở hữu trí tuệ của người sử dụng lao động, vì vậy, trong nội quy lao động cần quy định nghĩa vụ của người lao động phải bảo vệ tài sản và các bí mật nêu trên theo danh mục

cụ thể khi cam kết tham gia quan hệ lao động tại doanh nghiệp

Trang 26

- Quy định các hành vi vi phạm kỷ luật lao động, hình thức xử lý kỷ luật lao động và trách nhiệm vật chất

Đây là nội dung của nội quy lao động tạo cơ sở để người sử dụng lao động xử lý kỷ luật khi người lao động có hành vi vi phạm, tuy nhiên, việc quy định xử lý kỷ luật phải không được trái điều cấm của pháp luật Ví dụ như: Xâm phạm thân thể, nhân phẩm của người lao động; dùng hình thức phạt tiền, cắt lương thay việc xử lý kỷ luật lao động; xử lý kỷ luật lao động đối với người lao động có hành vi vi phạm không được quy định trong nội quy lao động [12, Điều 128] Bởi vậy, để đảm bảo kỷ luật lao động thì doanh nghiệp phải liê ̣t kê đầy đủ toàn bô ̣ các hành vi vi pha ̣m cùng hình thức xử pha ̣t tương ứng trong nội quy lao động

Để đảm bảo việc quy định và xử lý vi phạm kỷ luật, buộc người lao động thực hiện trách nhiệm vật chất khi có vi phạm, nội quy lao động cần bám sát các quy định của pháp luật, cụ thể như: Hình thức xử lý kỷ luật lao động (Khiển trách; kéo dài thời hạn nâng lương không quá 06 tháng; cách chức và sa thải); nguyên tắc, trình tự xử lý kỷ luật lao động; thời hiệu xử lý kỷ luật lao động; những quy định cấm khi xử lý kỷ luật lao động; nguyên tắc và trình tự, thủ tục xử lý bồi thường thiệt hại; khiếu nại về kỷ luật lao động, trách nhiệm vật chất Đặc biệt việc quy định việc xử lý kỷ luật còn cần tính đến những quyền hợp pháp của người lao động tại doanh nghiệp mà được miễn trừ trách nhiệm cho dù có hành vi vi phạm kỷ luật lao động, ví dụ như:

“Người lao động có quyền từ chối làm công việc hoặc rời bỏ nơi làm việc mà vẫn được trả đủ tiền lương và không bị coi là vi phạm kỷ luật lao động khi thấy rõ có nguy cơ xảy ra tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, đe dọa nghiêm trọng tính mạng hoặc sức khỏe của mình và phải báo ngay với người phụ trách trực tiếp” [12, Điều 40]

Ngoài những nội dung cơ bản nêu trên được quy định trong Bộ luật Lao

Trang 27

động, tùy vào đặc điểm, điều kiện cụ thể, doanh nghiệp có thể quy định trong nội quy lao động những nội dung khác theo nguyên tắc không trái pháp luật, thỏa ước lao động tập thể (nếu có) và đảm bảo tốt hơn quyền, lợi ích hợp pháp của người lao động Ví dụ như: quy định việc khen thưởng cho người lao động có sáng kiến góp phần nâng cao năng suất, hiệu quả lao động; quy định

về phúc lợi cho người lao động được khám sức khỏe định kỳ mà không phải chịu chi phí; quy định về những trường hợp miễn trách nhiệm kỷ luật, trách nhiệm vật chất

1.2.3 Thủ tục ban hành nội quy lao động

Để ngăn ngừa sự lạm quyền của người sử dụng lao động làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động, pháp luật hiện hành quy định cụ thể về trình tự, thủ tục ban hành nội quy lao động

- Tham khảo ý kiến của tổ chức công đoàn cơ sở về nội quy lao động:

Người sử dụng lao động căn cứ vào đặc điểm, tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp để xây dựng dự thảo bản nội quy lao động, sau đó phải tham khảo ý kiến của tổ chức công đoàn cơ sở về các nội dung dự thảo, trường hợp doanh nghiệp chưa có tổ chức công đoàn cơ sở thì người sử dụng lao động phải tham khảo ý kiến của tổ chức công đoàn cấp trên trực tiếp Đây

là quy định mới được bổ sung nhằm tăng cường vai trò của tổ chức công đoàn

kể cả những nơi chưa có công đoàn cơ sở trong việc tham gia với người sử dụng lao động khi ban hành nội quy lao động và bảo đảm sự phù hợp với pháp luật về công đoàn Việc tham khảo ý kiến này được coi là thủ tục có tính chất bắt buộc nhằm để tổ chức công đoàn bảo vệ quyền và lợi ích cho người lao động, đồng thời ngăn ngừa kịp thời hành vi vi phạm pháp luật do người sử dụng lao động lạm quyền

- Ký quyết định ban hành nội quy lao động: Sau khi tham khảo ý kiến

của tổ chức đại diện của người lao động, người sử dụng lao động ký quyết

Trang 28

định ban hành nội quy lao động Trường hợp do có những vấn đề phát sinh hoặc trong trường hợp cần thiết mà cần sửa đổi, bổ sung nội quy lao động thì người sử dụng lao động có thể ban hành nội quy lao động mới thay thế nội quy lao động cũ hoặc ban hành quyết định sửa đổi, bổ sung nội quy lao động

- Đăng ký nội quy lao động: Đây là thủ tục để đảm bảo yêu cầu quản

lý nhà nước và xác định hiệu lực của nội quy lao động tại doanh nghiệp có

sử dụng từ 10 người lao động trở lên Nội quy lao động gắn liền với quyền

và lợi ích hợp pháp của người lao động, vì vậy, nội quy lao động phải được đăng ký tại cơ quan quản lý nhà nước về lao động cấp tỉnh để tiến hành việc kiểm tra, rà soát và tham chiếu tính hợp pháp để hạn chế tối đa sự lạm quyền của doanh nghiệp Quy định việc đăng ký nội quy lao động không chỉ ngăn ngừa tình trạng doanh nghiệp là người sử dụng lao động vì lợi ích của mình quy định những nội dung gây bất lợi cho người lao động mà còn nhằm tăng cường tinh thần trách nhiệm của doanh nghiệp trong việc tuân theo các quy định của pháp luật

Trước đây quy định này được quy định từ rất sớm tại Sắc lệnh số 29/SL ngày 12/3/1947 của Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa, theo đó Điều thứ

22 quy định: “Phải đem trình các nội quy ấy cho Sở thanh tra lao động duyệt

y Mỗi khi có sửa đổi điều gì, cũng phải đem duyệt y lại Những điều khoản của nội quy đưa trình phải hợp với luật lệ lao động hiện hành" Hiện nay,

theo quy định Điều 120 Bộ luật Lao động và Điều 28 Nghị định số

05/2015/NĐ-CP của Chính phủ thì người sử dụng lao động phải đăng ký nội quy lao động tại cơ quan quản lý nhà nước về lao động ở cấp tỉnh nơi đăng ký kinh doanh trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày ban hành nội quy lao động Hồ sơ đăng ký nội quy lao động bao gồm: Văn bản đề nghị đăng ký nội quy lao động; các văn bản của người sử dụng lao động có quy định liên quan đến kỷ luật lao động và trách nhiệm vật chất; biên bản góp ý kiến của tổ chức đại diện tập thể lao động tại cơ sở và nội quy lao động Theo quy định của Điều 122 Bộ luật

Trang 29

Lao động thì nội quy lao động có hiệu lực sau thời hạn 15 ngày, kể từ ngày cơ quan quản lý nhà nước về lao động cấp tỉnh nhận được hồ sơ đăng ký nội quy lao động, trừ trường hợp nội quy lao động có quy định trái với pháp luật thì

cơ quan quản lý nhà nước về lao động cấp tỉnh thông báo, hướng dẫn người

sử dụng lao động sửa đổi, bổ sung và đăng ký lại

- Thông báo nội quy lao động: Mục đích của việc thông báo nội quy lao

động là để người lao động biết và thực hiện đúng nội quy lao động, bởi vậy, pháp luật quy định khi nội quy lao động có hiệu lực thực hiện, người sử dụng lao động phải thông báo đến người lao động (bằng văn bản hay phổ biến miệng) và nội dung chính của nội quy lao động phải được niêm yết ở những nơi cần thiết tại nơi làm việc Do đó, trường hợp người sử dụng lao động không thông báo và có căn cứ người lao động không biết nội dung của nội quy lao động thì người sử dụng lao động không được xử lý kỷ luật lao động; trường hợp người lao động đã biết nội dung quy định mà không thực hiện, hoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ sẽ bị xử lý kỷ luật lao động và trách nhiệm vật chất theo quy định của nội quy lao động [12, Điều 119]

Như vậy, để đảm bảo hiệu lực của nội quy lao động, người sử dụng lao động phải tuân thủ các trình tự, thủ tục nêu trên, nếu không tuân thủ đúng thủ tục pháp luật thì doanh nghiệp sử dụng lao động sẽ bị phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với hành vi không thông báo công khai hoặc không niêm yết nội quy lao động ở những nơi cần thiết trong doanh nghiệp; phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với một trong các hành vi không đăng ký nội quy lao động với cơ quan quản lý nhà nước về lao động cấp tỉnh; sử dụng nội quy lao động không được đăng ký hoặc đã đăng ký nhưng chưa có hiệu lực hoặc đã hết hiệu lực; xử lý kỷ luật lao động, bồi thường thiệt hại không đúng trình tự, thủ tục, thời hiệu theo quy định của pháp luật [5]

Trang 30

1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc xây dựng và thực hiện nội quy lao động của doanh nghiệp

Thực hiện quy định pháp luật về nội quy lao động là việc người sử dụng lao động, người lao động và cơ quan, tổ chức liên quan phải tuân thủ để đảm bảo ổn định và phát triển các quan hệ lao động nói chung, tại các doanh nghiệp nói riêng Từ thực tiễn thực hiện pháp luật lao động cho thấy, việc xây dựng và thực hiện nội quy lao động của doanh nghiệp chịu ảnh hưởng bởi một

số yếu tố cơ bản sau đây:

1.3.1 Điều kiện kinh tế - xã hội

Điều kiện kinh tế - xã hội luôn là yếu tố có ảnh hưởng và đảm bảo cho hoạt động của doanh nghiệp nói chung, thực hiện nội quy lao động của doanh nghiệp nói riêng Thực tế cho thấy rằng đặc điểm kinh tế - xã hội, mức độ phát triển kinh tế ở từng địa phương có ảnh hưởng lớn đến cơ cấu ngành nghề sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp; yêu cầu trình độ của người lao động

và bởi vậy chi phối đến việc hình thành các quy định nghĩa vụ ứng xử của người lao động trong doanh nghiệp Ví dụ như đối với những vùng nuôi trồng thủy, hải sản thì nội quy lao động của các doanh nghiệp trong lĩnh vực này sẽ khác với nội quy lao động của các doanh nghiệp ở những địa phương phát triển trồng rừng, trồng cây công nghiệp Đặc biệt là do trình độ văn hóa, kỹ năng lao động ở từng địa phương, ngành nghề khác nhau nên ý thức tuân thủ pháp luật và nội quy lao động tại doanh nghiệp cũng khác nhau, vì vậy, việc quy định các nghĩa vụ của người lao động trong nội quy lao động của doanh nghiệp cũng phải tùy thuộc vào hoàn cảnh, điều kiện nhất định không chỉ của mỗi doanh nghiệp mà còn căn cứ vào điều kiện phát triển kinh tế -xã hội ở từng địa phương Từ đó để đảm bảo tính phù hợp của nội quy lao động, các doanh nghiệp cần phải thường xuyên rà soát, đánh giá để sửa đổi, hoàn thiện theo điều kiện kinh tế - xã hội của đất nước cũng như của từng địa phương trong từng thời kỳ nhất định

Trang 31

1.3.2 Hệ thống quy phạm pháp luật

Ban hành và tổ chức thực hiện nội quy lao động của doanh nghiệp thực chất là việc thực thi pháp luật để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của cả người sử dụng lao động và người lao động của doanh nghiệp Vì vậy, pháp luật là cơ sở quan trọng để các doanh nghiệp ban hành nội quy lao động, người lao động thực hiện đúng nghĩa vụ lao động của mình cũng như nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước của các cơ quan quản lý lao động về vấn đề này Hệ thống quy phạm pháp luật là cơ sở cho quản lý nhà nước về nội quy lao động cũng như việc ban hành, thực hiện nội quy lao động của các doanh nghiệp hiện nay được quy định trong Hiến pháp năm 2013, Bộ luật Lao động năm 2012, Nghị định số Nghị định số 05/2015/NĐ-CP ngày 12/01/2015 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số nội dung của Bộ luật Lao động và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan như Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư, Luật Bảo hiểm xã hội, Luật Hợp tác xã Vì vậy, để việc ban hành và thực hiện nội quy lao động của doanh nghiệp thực

sự có hiệu quả, góp phần đảm bảo trật tự lao động tại doanh nghiệp thì các quy định pháp luật phải thống nhất, đồng bộ, minh bạch và khả thi Điều này đòi hỏi các cơ quan có thẩm quyền phải không ngừng hoàn thiện các quy định pháp luật, kịp thời bãi bỏ các quy định không khả thi và bổ sung các quy định mới phù hợp với tình hình, yêu cầu quản lý nhà nước về lao động nói chung, về việc thực hiện nội quy lao động của các doanh nghiệp nói riêng (Ví dụ như trong thời gian tới cần sửa đổi, bổ sung quy định về việc người lao động được quyền khởi kiện quyết định xử lý kỷ luật lao động của người sử dụng lao động tại Tòa án có thẩm quyền mà không nhất thiết phải thông qua thủ tục hòa giải hoặc khiếu nại)

1.3.3 Hoạt động của cơ quan, tổ chức có chức năng quản lý, kiểm tra, giám sát về lao động

Nội quy lao động do người sử dụng lao động (doanh nghiệp) ban hành

Trang 32

nhằm duy trì tật tự lao động tại doanh nghiệp nhưng để đảm bảo tuân thủ đúng quy định pháp luật và bảo vệ được các quyền, lợi ích hợp pháp của người lao động thì không thể thiếu vai trò của các cơ quan, tổ chức có chức năng quản lý, kiểm tra, giám sát việc thực hiện pháp luật về nội quy lao động Chức năng của cơ quan, tổ chức này là tổ chức thực hiện pháp luật về nội quy lao động, thanh tra, kiểm tra, giám sát, giải quyết khiếu nại, tố cáo, xử lý vi phạm pháp luật về lao động và giải quyết tranh chấp lao động giữa người sử dụng lao động và người lao động trên cơ sở nội quy lao động của doanh nghiệp và các quy định pháp luật, nhất là các cơ quan quản lý nhà nước về lao động ở địa phương Thực tế cho thấy rằng nếu các cơ quan, tổ chức có chức năng, nhiệm vụ quản lý, kiểm tra, giám sát việc thực hiện pháp luật lao động buông lỏng quản lý, thiếu giám sát thì có thể dẫn đến các doanh nghiệp không ban hành nội quy lao động theo quy định pháp luật, hoặc ban hành nội quy lao động mang tính đối phó hay nội quy lao động xâm phạm các quyền, lợi ích hợp pháp của người lao động Vì vậy, để đảm bảo việc thực hiện nội quy lao động của các doanh nghiệp đòi hỏi cán bộ, công chức được giao nhiệm vụ quản lý, giám sát việc chấp hành pháp luật tại các doanh nghiệp phải nâng cao trách nhiệm thực thi công vụ không chỉ ở việc thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật và xử lý vi phạm mà quan trọng hơn là hướng dẫn, chia sẻ thông tin pháp luật để người sử dụng lao động và người lao động thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình trong quan hệ lao động được thiết lập nói chung và thực hiện pháp luật về nội quy lao động nói riêng

1.3.4 Ý thức chấp hành pháp luật của người sử dụng lao động và người lao động

Nội quy lao động có ý nghĩa quan trọng đối với việc duy trì kỷ luật lao động và sự phát triển của doanh nghiệp, do đó việc thực hiện đúng các quy định của nội quy lao động phụ thuộc nhiều vào ý thức chấp hành pháp luật của người sử dụng lao động, người lao động và cơ quan, tổ chức, cá

Trang 33

nhân liên quan Thực tiễn cho thấy rằng nội quy lao động được ban hành và thực hiện là kết quả thực hiện quyền của người sử dụng lao động và cơ quan quản lý lao động, do đó khi được tổ chức thực hiện tại doanh nghiệp, nếu người lao động và người sử dụng lao động, đặc biệt người lao động nhận thức được đầy đủ được trách nhiệm, nghĩa vụ của mình và tự nguyện, tích cực tuân thủ thì sẽ tạo thuận lợi, đảm bảo phát huy hiệu quả của nội quy lao động trong việc duy trì trật tự lao động tại doanh nghiệp

Thực tế cho thấy rằng nội quy lao động ảnh hưởng trực tiếp đến việc duy trì quan hệ lao động nên tâm lý, thái độ của người sử dụng lao động và người lao động thường có tính đối ngược nhau Người sử dụng lao động có xu hướng muốn đưa ra những quy định chặt chẽ, khắt khe trong nội quy lao động để duy trì kỷ luật lao động trong khi đó người lao động thường có tâm lý muốn các quy định về lao động linh hoạt, thoải mái hơn Do đó, để đảm bảo ban hành nội quy lao động phù hợp với đặc thù hoạt động của doanh nghiệp cũng như thực trạng người lao động thì người sử dụng lao động không chỉ cần am hiểu pháp luật, thực hiện đúng các trình tự ban hành nội quy lao động mà còn chú ý làm tốt công tác tuyên truyền, đối thoại để người lao động nhận thức đúng quyền và nghĩa vụ lao động của mình theo quy định pháp luật để từ đó tích cực thực hiện đúng nội quy lao động, giảm thiểu hành vi vi phạm dẫn đến phải chịu biện pháp xử lý kỷ luật (thực tế cho thấy có nhiều trường hợp người lao động không tuân thủ đúng nội quy lao động dẫn đến phải bị sa thải)

Trang 34

Kết luận chương 1

Chương này tập trung phân tích một số vấn đề lý luận về nội quy lao động của doanh nghiệp làm cơ sở cho việc đánh giá thực trạng thực hiện pháp luật về nội quy lao động của các doanh nghiệp Theo đó, nội quy lao động của doanh nghiệp là những tắc xử sự; các hành vi kỷ luật lao động, cách thức xử

lý và trách nhiệm vật chất do người sử dụng ban hành để người lao động tuân thủ khi tham gia các quan hệ lao động tại doanh nghiệp

Đặc điểm cơ bản của nội quy lao động của doanh nghiệp là do người sử dụng lao động (doanh nghiệp) ban hành; mang tính qui phạm và thể hiện những đặc thù hạt động của doanh nghiệp Nội quy lao động là phương tiện thể hiện quyền quản lý lao động của người sử dụng lao động có vai trò góp phần đảm bảo hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về lao động; là cơ sở pháp

lý để người sử dụng lao động duy trì ổn định, phát triển của doanh nghiệp và

là cơ sở để nâng cao tính kỷ luật lao động và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người lao động

Nội dung điều chỉnh pháp luật về nội quy lao động của doanh nghiệp ở Việt Nam gồm: Thẩm quyền ban hành nội quy lao động; các nội dung cơ bản của nội quy lao động (quy định về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi; trật

tự tại nơi làm việc; an toàn lao động, vệ sinh lao động ở nơi làm việc; bảo vệ tài sản và bí mật kinh doanh, bí mật công nghệ, sở hữu trí tuệ của doanh nghiệp; các hành vi vi phạm kỷ luật lao động, hình thức xử lý kỷ luật lao động

và trách nhiệm vật chất); Thủ tục ban hành nội quy lao động

Việc ban hành và thực hiện nội quy lao động của doanh nghiệp cũng chịu ảnh hưởng của những yếu tố nhất định như: Điều kiện kinh tế - xã hội;

hệ thống quy phạm pháp luật; hoạt động của cơ quan, tổ chức có chức năng quản lý, kiểm tra, giám sát về lao động và ý thức chấp hành pháp luật của người sử dụng lao động và người lao động

Trang 35

Chương 2 THỰC TRẠNG THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ NỘI QUY LAO ĐỘNG

CỦA DOANH NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH LAI CHÂU

2.1 Khái quát đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội và tình hình hoạt động của các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Lai Châu

2.1.1 Khái quát đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội của tỉnh Lai Châu

Lai Châu là một tỉnh biên giới thuộc vùng Tây Bắc Việt Nam, có diện tích 9.059km², là tỉnh có diện tích lớn thứ 10/63 tỉnh, thành phố ở Việt Nam; dân số có 403.200 người, gồm 20 dân tộc cùng sinh sống, 08 đơn vị hành chính cấp huyện (7 huyện, 1 thành phố thuộc tỉnh) Về giao thông, chủ yếu

là đường bộ Tỉnh có quốc lộ 12 chạy qua nối từ Thành phố Điện Biên Phủ tới Trung Quốc (qua cửa khẩu Ma Lù Thàng), có quốc lộ 4D chạy tới thị trấn Sa Pa (Lào Cai) Là cầu nối quan trọng giữa vùng lục địa rộng lớn phía Tây Nam Trung Quốc với vùng tam giác tăng trưởng kinh tế Hà Nội-Hải Phòng-Quảng Ninh qua các tuyến quốc lộ 4D, 70, 32 và đường thuỷ sông

Đà Trong định hướng phát triển kinh tế-xã hội giai đoạn 2006-2020, tỉnh đề

ra mục tiêu: Khảo sát xây dựng sân bay cỡ nhỏ, nghiên cứu xây dựng tuyến đường sắt Yên Bái - Văn Chấn - Mù Căng Chải - Than Uyên - Tam Đường góp phần cải thiện điều kiện giao thông giữa các địa phương và các tỉnh, thành khác trong cả nước

Về tiềm năng kinh tế, do điều kiện địa hình phức tạp và bị chia cắt mạnh cùng với diện tích tự nhiên lớn, mật độ dân cư thấp và phân bố không đều, tập trung chủ yếu ở các thị trấn, thị xã và các vùng chuyên canh sản xuất lương thực tập trung nên việc đi lại giao lưu hàng hoá giữa các vùng trong tỉnh, giữa tỉnh với các địa phương khác của cả nước gặp rất nhiều khó khăn Điều đó cũng là trở ngại lớn trong việc đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng kinh

Trang 36

tế - xã hội do đơn giá quá cao, suất đầu tư lớn, khả năng huy động và sự đóng góp của nhân dân hạn chế Bên cạnh những khó khăn, hạn chế trên, điều kiện

tự nhiên của tỉnh cũng có nhiều tiềm năng để phát triển kinh tế, nhất là phát triển nông - lâm nghiệp và thương mại - dịch vụ - du lịch với các ưu thế nổi bật như: Diện tích đất đai chưa được khai thác rất rộng lớn; có hai khu kinh tế cửa khẩu với Trung Quốc và Lào; có nhiều danh lam thắng cảnh, địa danh lịch sử, có nhiều dân tộc cư trú với bản sắc và truyền thống văn hoá đặc thù hình thành lợi thế so sánh lớn để trở thành một trong những trung tâm dịch vụ

- thương mại và du lịch của khu vực Tính riêng năm 2017, tốc độ tăng trưởng

GRDP ước đạt 10,75% (KH:9,89%) Cơ cấu kinh tế các ngành, lĩnh vực năm

2017: Nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm 17,71%; công nghiệp - xây dựng chiếm 43,09%; dịch vụ và thuế nhập khẩu chiếm 39,19%; tổng sản phẩm trên

địa bàn bình quân đầu người ước đạt 25 triệu đồng (KH:25 triệu đồng), tăng

2,5 triệu đồng so với 2016 [22]

2.1.2 Tình hình hoạt động của các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Lai Châu

Về hoạt động của doanh nghiệp, theo báo cáo của Sở Kế hoạch và Đầu

tư, tính đến hết năm 2018, toàn tỉnh có 1.258 doanh nghiệp, trong đó có 96%

là doanh nghiệp vừa và nhỏ, tập trung trong các nhóm ngành dịch vụ và xây dựng Tuy nhiên, trong số 272.212 người trong độ tuổi lao động của tỉnh, chiếm 60,4% dân số, thì các doanh nghiệp trên địa bàn mới chỉ giải quyết được việc làm cho khoảng 29.745 người, trong đó lao động thời vụ là 13.519 người; phần lớn lao động đang làm việc tại khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản (82,2%) năng suất lao động thấp, trình độ chuyên môn kỹ thuật hạn chế, tác phong công nghiệp, ý thức tổ chức kỷ luật còn nhiều hạn chế; lao động thủ công chiếm tới 70 - 80%, và có tới gần 80% các khâu trong dây chuyền công nghệ mà người lao động phải làm việc trong điều kiện nặng nhọc, độc hại,

Trang 37

trong khi địa phương vẫn chưa hình thành các khu công nghiệp nên chưa thu hút được nhiều lao động vào làm việc, đặc biệt là lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao Đáng chú ý là, do điều kiện kiện kinh tế - xã hội của tỉnh còn nhiều khó khăn, trên 80% ngân sách phụ thuộc vào Trung ương nên hiệu quả sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp vừa và nhỏ thấp, không ổn định; tổ chức sản xuất, tổ chức lao động không hợp lý, công nghệ sản xuất và

tổ chức lao động tại các cơ sở sản xuất tư nhân còn lạc hậu, đặc biệt là các cơ

sở sản xuất vật liệu xây dựng, khai thác đá, đúc kim loại

Tính riêng năm 2017, có 155 doanh nghiệp, 18 hợp tác xã đăng ký thành lập mới Trong tổng số doanh nghiệp hoạt động, có 1.126/1.258 doanh nghiệp kê khai thuế, chiếm 89,7% tổng số doanh nghiệp; 400 doanh nghiệp làm ăn có lãi, tăng 130 doanh nghiệp; số thuế nộp ngân sách tỉnh đạt 600 tỷ đồng, tăng 241,3 tỷ đồng; 117 doanh nghiệp tạm dừng hoạt động, giảm 03 doanh nghiệp Quyết định chủ trương đầu tư 34 dự án với tổng vốn đăng ký đầu tư là 4.209 tỷ đồng, tăng 12 dự án so với cùng kỳ; thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp 15 doanh nghiệp Về thực hiện Nghị quyết số 19-2017/NQ-CP ngày 6/2/2017 của Chính phủ, đến nay, thời gian giải quyết thủ tục trong lĩnh vực đăng ký kinh doanh không quá 3 ngày, trong đó 95% thủ

tục giải quyết từ 1-2 ngày, thời gian thực hiện khởi nghiệp còn 05 ngày (KH:

dưới 6 ngày); tỷ lệ doanh nghiệp kê khai thuế điện tử đạt 100%, trong đó tỷ lệ

doanh nghiệp nộp thuế điện tử đạt 98%, thời gian nộp thuế 117 giờ/năm, đạt 100% kế hoạch; 100% đơn vị sử dụng lao động thực hiện thủ tục nộp bảo hiểm xã hội cho đơn vị sử dụng lao động, người lao động qua hệ giao dịch điện tử; hồ sơ, thủ tục kê khai thu, chi bảo hiểm y tế, bảo hiểm y tế được đơn giản hóa, thời gian hoàn thành thủ tục nộp bảo hiểm bắt buộc đối với doanh nghiệp còn 49,5 giờ/năm; thời gian tiếp cận điện năng đối với lưới điện trung

áp dưới 35 ngày, đạt kế hoạch (KH dưới 35 ngày) [22]

Trang 38

Những điều kiện tự nhiên, kinh tế- xã hội và tình hình hoạt động của các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Lai Châu như nêu trên có ảnh hưởng nhất định đến hoạt động của doanh nghiệp nói chung và việc thực hiện pháp luật

về lao động nói riêng, trong đó có việc thực hiện pháp luật về nội quy lao động tại doanh nghiệp, nhất là liên quan đến điều kiện làm việc đảm bảo an toàn, vệ sinh cho người lao động

2.2 Đánh giá thực trạng thực hiện pháp luật về nội quy lao động của doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Lai Châu

2.2.1 Kết quả đạt được

Một là, về phía các cơ quan quản lý nhà nước về lao động

Để đảm bảo thực hiện nghiêm quy định pháp luật về lao động nói chung, pháp luật về nội quy lao động của các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh, các cấp, các ngành của tỉnh Lai Châu đã quan tâm ban hành các văn bản hướng dẫn, tạo cơ sở cho các doanh nghiệp ban hành và thực hiện nội quy lao động phù hợp với đặc thù của địa phương Ví dụ như: UBND tỉnh Lai Châu triển khai Kế hoạch thực hiện Chương trình hành động của Chính phủ triển khai Kết luận số 96-CT/TW ngày 07/4/2014 của Ban Bí thư tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Chỉ thị số 22-CT/TW của Ban Bí thư Trung ương khóa X về tăng cường công tác lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định, tiến bộ trong doanh nghiệp; UBND tỉnh Lai Châu ban hành Quyết định số 65/2017/QĐ-UBND ngày 08/11/2017 quy định về quản lý an toàn lao động trong thi công xây dựng công trình trên địa bàn tỉnh Lai Châu Đặc biệt là, với vai trò là cơ quan quản lý nhà nước về lao động trên địa bàn tỉnh, Sở Lao động-Thương binh và Xã hội đã chỉ đạo các Phòng Lao động-Thương binh và

Xã hội huyện, thành phố tổ chức các lớp tập huấn nghiệp vụ quản lý nhà nước

về an toàn vệ sinh lao động cho cán bộ cấp huyện, cấp xã và người sử dụng lao động, người làm công tác an toàn vệ sinh lao động và người lao động tại

Trang 39

các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Riêng năm 2017, đã tổ chức 5 lớp tập huấn nghiệp vụ cho 285 người sử dụng lao động, người làm công tác an toàn

vệ sinh lao động và người lao động tại các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh; tổ chức 06 lớp bồi dưỡng cho 190 cán bộ nòng cốt làm công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật cho cho người sử dụng lao động và cán bộ làm công tác công đoàn trong 120 doanh nghiệp; 05 lớp tuyên truyền phổ biến các quy định của Bộ Luật lao động năm 2012 cho 250 người lao động trong doanh nghiệp; thông qua lớp tập huấn phát 6.500 tờ rơi tuyên truyền về pháp luật lao động cho 5.000 lao động [18]

Để đảm bảo thực hiện nghiêm pháp luật về lao động nói chung, pháp luật về nội quy lao động nói riêng, hàng năm Sở Lao động - Thương binh và

Xã hội quan tâm triển khai, hướng dẫn các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh, đơn vị sử dụng lao động thực hiện các quy định về hợp đồng lao động,

kỷ luật lao động, trách nhiệm vật chất; điều chỉnh tiền lương và thu nhập tháng đóng bảo hiểm xã hội; chính sách bảo hiểm thất nghiệp, an toàn vệ sinh lao động, phòng chống cháy nổ; trợ cấp thôi việc cho người lao động; về ban hành nội quy lao động và đăng ký thừa nhận nội quy lao động qua mạng điện tử; triển khai phiếu tự kiểm tra về pháp luật lao động và kiểm tra, thanh tra chấp hành pháp luật lao động tại một số doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Đặc biệt là, trong thời gian qua, UBND tỉnh đã chỉ đạo Sở Lao động- Thương binh

và Xã hội phối hợp các ngành chức năng, địa phương, đơn vị, doanh nghiệp trên địa bàn đẩy mạnh tuyên truyền, hướng dẫn các doanh nghiệp thi công xây dựng ban hành hệ thống nội quy lao động, quy chuẩn kỹ thuật an toàn, vệ sinh lao động; tổ chức khám sức khỏe, bệnh nghề nghiệp cho người lao động, tổ chức kiểm tra về an toàn vệ sinh lao động tại các doanh nghiệp đóng trên địa bàn huyện Tam Đường, Phong Thổ, Sìn Hồ, Tân Uyên Đồng thời, để đảm bảo minh bạch, thuận lợi cho doanh nghiệp đăng ký nội quy lao động, Sở Lao

Trang 40

động - Thương binh và Xã hội đã công khai thủ tục hành chính về đăng ký nội quy lao động trên Trang thông tin điện tử của Sở, đồng thời đẩy mạnh cải cách hành chính, ứng dụng công nghệ thông tin trong việc hướng dẫn xây dựng và đăng ký nội quy lao động Ví dụ như hiện nay việc đăng ký thừa nhận nội quy lao động của doanh nghiệp có thể thực hiện qua mạng điện tử

Hai là, về phía các doanh nghiệp sử dụng lao động

Trên cơ sở các quy định pháp luật và hướng dẫn của cơ quan, tổ chức

có thẩm quyền, về cơ bản các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Lai Châu đã nhận thức và triển khai thực hiện các quy định pháp luật về lao động nói chung, về nội quy lao động nói riêng Qua đó góp phần đảm bảo duy trì trật tự lao động tại các doanh nghiệp và hạn chế các tranh chấp lao động xảy ra trên địa bàn tỉnh Qua khảo sát cho thấy nhiều doanh nghiệp đã quan tâm đến việc ban hành nội quy lao động và đăng ký với cơ quan nhà nước có thẩm quyền Trước khi ban hành nội quy lao động, nhiều doanh nghiệp đã tham khảo ý kiến của tổ chức đại diện cho người lao động (điều này thể hiện qua các biên bản lấy ý kiến của tổ chức công đoàn cơ sở tại doanh nghiệp trong hồ sơ đăng

ký nội quy lao động gửi Sở Lao động - Thương binh và Xã hội) Nội quy lao động của doanh nghiệp được đăng ký nhìn chung có đủ những nội dung theo pháp luật quy định, đặc biệt là một số doanh nghiệp đã quy định chi tiết nhiều hành vi vi phạm của người lao động bị xử lý kỷ luật theo các hình thức khiển trách, chuyển làm công việc khác, sa thải phù hợp với đặc thù của doanh nghiệp Ví dụ như: Nội quy lao động của Công ty TNHH MTV quản lý thủy nông Lai Châu được ban hành theo Quyết định số 256/QĐ-CTQLTN ngày 09/8/2017 quy định hình thức kỷ luật lao động chuyển làm công việc khác có mức lương thấp hơn trong thời hạn tối đa là 6 tháng được áp dụng đối với những trường hợp: Người lao động đã bị khiển trách bằng văn bản mà tái phạm trong thời gian 3 tháng, kể từ ngày ký quyết định; một năm vi phạm 2

Ngày đăng: 15/11/2019, 20:36

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Phạm Công Bảy (2002), Tìm hiểu Bộ luật lao động Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu Bộ luật lao động Việt Nam
Tác giả: Phạm Công Bảy
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2002
2. Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội (2015), Thông tư số 47/2015/TT- BLĐTBXH ngày 16/11 hướng dẫn thực hiện một số điều về hợp đồng lao động, kỷ luật lao động, trách nhiệm vật chất của Nghị định số 05/2015/NĐ-CP của Chính phủ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 47/2015/TT-BLĐTBXH ngày 16/11 hướng dẫn thực hiện một số điều về hợp đồng lao động, kỷ luật lao động, trách nhiệm vật chất của Nghị định số 05/2015/NĐ-CP của Chính phủ
Tác giả: Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội
Năm: 2015
3. Chính phủ (2003), Nghị định số 33/2003/NĐ-CP ngày 02/04/2003 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều Nghị định 41/1995 NĐ-CP ngày 6/7/1995 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật Lao động về kỷ luật lao động và trách nhiệm vật chất, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 33/2003/NĐ-CP ngày 02/04/2003 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều Nghị định 41/1995 NĐ-CP ngày 6/7/1995 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật Lao động về kỷ luật lao động và trách nhiệm vật chất
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2003
4. Chính phủ (2015) Nghị định số 05/2015/NĐ-CP ngày 12/01 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số nội dung của Bộ luật Lao động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 05/2015/NĐ-CP ngày 12/01 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số nội dung của Bộ luật Lao động
5. Chính phủ (2015), Nghị định số 88/2015/NĐ- CP ngày 07/10 sửa đổi bổ sung Nghị định số 95/2013/NĐ-CP ngày 22/8/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động, bảo hiểm xã hội, đưa người lao động Việt nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 88/2015/NĐ- CP ngày 07/10 sửa đổi bổ sung Nghị định số 95/2013/NĐ-CP ngày 22/8/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động, bảo hiểm xã hội, đưa người lao động Việt nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2015
6. Đỗ Thị Dung (2014), Pháp luật về quyền quản lý lao động của người sử dụng lao động ở Việt Nam, Luận văn Thạc sĩ luật học, Trường Đại học luật Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp luật về quyền quản lý lao động của người sử dụng lao động ở Việt Nam
Tác giả: Đỗ Thị Dung
Năm: 2014
7. Phạm Thị Hồng Đào (2016), Một số vướng mắc bất cập về xử lý kỷ luật lao động đối với người lao động, http://www.moj.gov.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vướng mắc bất cập về xử lý kỷ luật lao động đối với người lao động
Tác giả: Phạm Thị Hồng Đào
Năm: 2016
8. Hoàng Thị Thanh Hoa và Lê Đăng Đào (2017), Nội quy lao động - một số vấn đề pháp lý và thực tiễn, http://www.moj.gov.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nội quy lao động - một số vấn đề pháp lý và thực tiễn
Tác giả: Hoàng Thị Thanh Hoa và Lê Đăng Đào
Năm: 2017
9. Trần Thị Thúy Lâm (2005), Pháp luật về kỷ luật lao động ở Việt Nam- Thực trạng và giải pháp, Luận án Tiến sĩ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp luật về kỷ luật lao động ở Việt Nam- Thực trạng và giải pháp
Tác giả: Trần Thị Thúy Lâm
Năm: 2005
10. Đặng Thị Oanh (2010), Pháp luật lao động Việt Nam về nội quy lao động - Thực trạng và phương hướng hoàn thiện, Luận văn Thạc sĩ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ệt Nam về nội quy lao động - Thực trạng và phương hướng hoàn thiện
Tác giả: Đặng Thị Oanh
Năm: 2010
14. Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh Lai Châu (2013), Báo cáo kết quả thực hiện công tác Lao động - Thương binh xã hội năm 2013, phương hướng nhiệm vụ công tác năm 2014, Lai Châu Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo kết quả thực hiện công tác Lao động - Thương binh xã hội năm 2013, phương hướng nhiệm vụ công tác năm 2014
Tác giả: Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh Lai Châu
Năm: 2013
15. Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh Lai Châu (2014), Báo cáo kết quả thực hiện công tác Lao động - Thương binh xã hội năm 2014, phương hướng nhiệm vụ công tác năm 2015, Lai Châu Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo kết quả thực hiện công tác Lao động - Thương binh xã hội năm 2014, phương hướng nhiệm vụ công tác năm 2015
Tác giả: Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh Lai Châu
Năm: 2014
16. Sở Lao động-Thương binh và Xã hội tỉnh Lai Châu (2015), Báo cáo kết quả thực hiện công tác Lao động - Thương binh xã hội năm 2015, phương hướng nhiệm vụ công tác năm 2016, Lai Châu Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo kết quả thực hiện công tác Lao động - Thương binh xã hội năm 2015, phương hướng nhiệm vụ công tác năm 2016
Tác giả: Sở Lao động-Thương binh và Xã hội tỉnh Lai Châu
Năm: 2015
17. Sở Lao động-Thương binh và Xã hội tỉnh Lai Châu (2016), Báo cáo kết quả thực hiện công tác Lao động - Thương binh xã hội năm 2016, phương hướng nhiệm vụ công tác năm 2017, Lai Châu Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo kết quả thực hiện công tác Lao động - Thương binh xã hội năm 2016, phương hướng nhiệm vụ công tác năm 2017
Tác giả: Sở Lao động-Thương binh và Xã hội tỉnh Lai Châu
Năm: 2016
18. Sở Lao động-Thương binh và Xã hội tỉnh Lai Châu (2017), Báo cáo kết quả thực hiện công tác Lao động - Người có công và Xã hội năm 2017, phương hướng nhiệm vụ công tác năm 2018, Lai Châu Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo kết quả thực hiện công tác Lao động - Người có công và Xã hội năm 2017, phương hướng nhiệm vụ công tác năm 2018
Tác giả: Sở Lao động-Thương binh và Xã hội tỉnh Lai Châu
Năm: 2017
19. Nguyễn Thị Phương Thúy (2017), “Pháp luật về kỷ luật lao động: Một số vướng mắc và hướng hoàn thiện”, http://tapchicongthuong.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp luật về kỷ luật lao động: Một số vướng mắc và hướng hoàn thiện”
Tác giả: Nguyễn Thị Phương Thúy
Năm: 2017
21. Trường Đại học Luật Hà Nội (2013), Giáo trình Luật lao động Việt Nam, Nxb Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật lao động Việt Nam
Tác giả: Trường Đại học Luật Hà Nội
Nhà XB: Nxb Hà Nội
Năm: 2013
22. Ủy ban nhân dân tỉnh Lai Châu (2018), Báo cáo tình hình thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo Quốc phòng - An ninh năm 2017, Kế hoạch năm 2018, Lai Châu Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tình hình thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo Quốc phòng - An ninh năm 2017, Kế hoạch năm 2018
Tác giả: Ủy ban nhân dân tỉnh Lai Châu
Năm: 2018
23. Viện khoa học pháp lý - Bộ Tư pháp (2006), Từ điển luật học, Nxb từ điền Bách khoa và Nxb Tư pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển luật học
Tác giả: Viện khoa học pháp lý - Bộ Tư pháp
Nhà XB: Nxb từ điền Bách khoa và Nxb Tư pháp
Năm: 2006

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w