Trong luật hình sự, việc xác định Trách nhiệm hình sự của một tội phạm hay một nhóm tội phạm là rất quan trọng. Bởi trách nhiệm hình sự là một trong những chế định cơ bản và quan trọng của Luật hình sự Việt Nam. Việc xác định đúng trách nhiệm hình sự cho một loại tội phạm là kết quả phản ánh chính xác hiệu quả của nhà làm luật cũng như phát huy được tác dụng răn đe của pháp luật hình sự trong việc phòng chống tội phạm. Ngày nay cùng với sự phát triển của xã hội, tình hình tội phạm cũng gia tăng với mức độ ngày càng tinh vi, nguy hiểm cho xã hội. Cuộc cách mạng khoa học công nghệ phát triển trên phạm vi toàn cầu kéo theo sự bùng nổ của công nghệ thông tin với hệ quả là số lượng người sử dụng internet và các thiết bị viễn thông ngày một gia tăng nhanh chóng. Công nghệ thông tin, viễn thông trở thành một lĩnh vực mà các đối tượng tập trung khai thác, sử dụng để thực hiện tội phạm. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy các quy định về trách nhiệm hình sự đối với các tội phạm công nghệ thông tin còn chưa hợp lý còn gặp nhiều khó khăn, dẫn đến việc phòng chống loại tội phạm này ở nước ta và Bắc Ninh chưa được nâng cao, chưa đủ tính răn đe. Bởi vậy, học viên quyết định chọn đề tài “Trách nhiệm hình sự đối với các tội phạm về công nghệ thông tin theo pháp Luật hình sự Việt Nam (Trên cơ sở thực tiễn địa bàn tỉnh Bắc Ninh)” làm đề tài tốt nghiệp cao học Luật. Việc nghiên cứu một cách toàn diện những vấn đề lý luận và thực tiễn về Trách nhiệm hình sự của tội phạm công nghệ thông tin đánh giá thực trạng áp dụng các quy định của pháp luật hình sự Việt Nam trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh đối với tội phạm công nghệ thông tin của các cơ quan tiến hành tố tụng là việc làm hết sức cần thiết. Từ đó, có thể đưa ra các giải pháp hoàn thiện về kỹ thuật lập pháp và giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật trong giải quyết các vụ án hình sự về tội phạm công nghệ thông tin là vấn đề có ý nghĩa quan trọng và mang tính cấp thiết, góp phần nâng cao chất lượng giải quyết vụ án hình sự.
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN THỊ THƯ
TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ ĐỐI VỚI CÁC TỘI PHẠM
VỀ CÔNG NGHỆ THÔNG TIN THEO PHÁP LUẬT
HÌNH SỰ VIỆT NAM
(Trên cơ sở thực tiễn địa bàn tỉnh Bắc Ninh)
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI – 2018
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN THỊ THƯ
TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ ĐỐI VỚI CÁC TỘI PHẠM
VỀ CÔNG NGHỆ THÔNG TIN THEO PHÁP LUẬT
HÌNH SỰ VIỆT NAM
(Trên cơ sở thực tiễn địa bàn tỉnh Bắc Ninh)
Chuyên ngành : Luật hình sự và tố tụng hình sự
Mã số : 8380101.03
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Trí Tuệ
Hà nội – 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN
Nguyễn Thị Thư
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
MỤC LỤC ii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT iv
DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ v
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VỀ TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ ĐỐI VỚI TỘI PHẠM CÔNG NGHỆ THÔNG TIN 8
1.1.Khái niệm, đặc điểm của trách nhiệm hình sự đối với các tội phạm về công nghệ thông tin 8
1.1.1.Khái niệm, đặc điểm trách nhiệm hình sự 8
1.1.2.Khái niệm tội phạm về công nghệ thông tin và trách nhiệm hình sự đối với tội phạm về công nghệ thông tin 19
1.1.3 Đặc điểm của trách nhiệm hình sự đối với các tội phạm về công nghệ thông tin 22
1.2 Cơ sở của TNHS đối với tội phạm công nghệ thông tin 26
Chương 2 TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ ĐỐI VỚI CÁC TỘI PHẠM VỀ CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG BỘ LUẬT HÌNH SỰ VÀ THỰC TIẾN ÁP DỤNG 33
2.1 Trách nhiệm hình sự đối với các tội phạm về công nghệ thông tin trong Bộ luật hình sự 33
2.1.1.Khái quát quá trình phát triển các quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về trách nhiệm hình sự đối với các tội phạm về công nghệ thông tin 33
2.1.2.Trách nhiệm hình sự đối với các tội phạm về công nghệ thông tin trong Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi bổ sung năm 2009) 35
2.1.3.Các quy định của Bộ luật hình sự năm 2015 về trách nhiệm hình sự đối với các tội phạm về công nghệ thông tin 39
Trang 52.2 Phân tích, đánh giá quy định về Trách nhiệm hình sự đối với các tội phạm về công nghệ thông tin trong Bộ luật hình sự 44 2.3 Thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi bổ sung năm 2009) về trách nhiệm hình sự đối với các tội phạm về công nghệ thông tin trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh 49 2.4 Những tồn tại trong thực tiễn áp dụng trách nhiệm hình sự đối với các tội phạm về công nghệ thông tin trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh 53 2.5 Nguyên nhân của những tồn tại trong thực tiễn áp dụng trách nhiệm hình
sự đối với các tội phạm về công nghệ thông tin trên cả nước nói chung và tại Bắc Ninh nói riêng 56
Chương 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ TRONG VIỆC ÁP DỤNG TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ ĐỐI VỚI TỘI PHẠM CÔNG NGHỆ THÔNG TIN 62
3.1 Các định hướng tiếp tục hoàn thiện quy định của Bộ luật hình sự năm
2015 về trách nhiệm hình sự đối với các tội phạm về công nghệ thông tin 62 3.2 Một số giải pháp khác bảo đảm áp dụng quy định về trách nhiệm hình sự đối với các tội phạm về công nghệ thông tin 65
KẾT LUẬN 75 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 78
Trang 6DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BLHS: Bộ luật hình sự CSĐT: Cảnh sát điều tra
HĐXX: Hội đồng xét xử TAND: Tòa án nhân dân TP: Thành phố VKS: Viện kiểm sát VKSND: Viện kiểm sát nhân dân XHCN: Xã hội chủ nghĩa
Trang 7Bảng 2.3.3 Hình phạt áp dụng đối với các bị cáo phạm tội công nghệ
thông tin trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh 2013 – 2017 50
Bảng 2.3.3
Các hình phạt bổ sung được áp dụng đối với các bị cáo phạm tội công nghệ thông tin trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong luật hình sự, việc xác định Trách nhiệm hình sự của một tội phạm hay một nhóm tội phạm là rất quan trọng bởi trách nhiệm hình sự là một trong những chế định cơ bản và quan trọng của Luật hình sự Việt Nam Tính chất và mức độ thể hiện của các nguyên tắc cơ bản của Luật hình sự Việt Nam như pháp chế, nhân đạo, dân chủ xã hội chủ nghĩa phụ thuộc chủ yếu vào việc giải quyết vấn đề trách nhiệm hình sự Việc xác định đúng trách nhiệm hình sự cho một loại tội phạm là kết quả phản ánh chính xác hiệu quả của nhà làm luật cũng như phát huy được tác dụng răn đe của pháp luật hình sự trong việc phòng chống tội phạm Ngày nay cùng với sự phát triển của xã hội, tình hình tội phạm cũng gia tăng với mức độ ngày càng tinh vi, nguy hiểm cho xã hội.Cuộc cách mạng khoa học - công nghệ phát triển nhanh như vũ bão trên phạm vi toàn cầu kéo theo sự bùng nổ của công nghệ thông tin, viễn thông với hệ quả là số lượng người sử dụng internet và các thiết bị viễn thông ngày một gia tăng nhanh chóng Công nghệ thông tin, viễn thông trở thành một lĩnh vực mà các đối tượng tập trung khai thác, sử dụng để thực hiện tội phạm
Như vậy, cũng như bất kỳ thành tựu nào của nhân loại, khi mà các thành tựu càng được ứng dụng rộng rãi trong đời sống xã hội thì càng dễ bị lợi dụng, sử dụng hoặc là mục tiêu của tội phạm Các thành tựu do công nghệ thông tin cũng không nằm ngoài quy luật đó Vì vậy, trong thế giới mà công nghệ thông tin đã tạo ra cho con người đã hình thành một khái niệm mới về tội phạm - tội phạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin Đây là loại tội phạm mới và vô cùng tinh vi Chính vì vậy, thách thức mới hiện nay đối với các nhà làm luật cũng như các cơ quan thực thi pháp luật là việc đưa ra những quy định pháp luật phù hợp và các biện pháp khả thi để có thể phòng chống và đấu tranh một cách có hiệu quả loại tội phạm này trong giai đoạn hiện nay
Trang 9Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy các quy định về trách nhiệm hình sự đối với các tội phạm công nghệ thông tin còn chưa hợp lý, chưa phù hợp với tình hình tội phạm thực tế, việc áp dụng các quy định về trách nhiệm hình sự đối với loại tội này trên cả nước nói chung và Bắc Ninh nói riêng còn gặp nhiều khó khăn, dẫn đến việc phòng chống loại tội phạm này ở nước ta và Bắc Ninh chưa được nâng cao, chưa đủ tính răn đe Bởi vậy, học viên quyết định chọn
đề tài “Trách nhiệm hình sự đối với các tội phạm về công nghệ thông tin theo pháp luật hình sự Việt Nam (Trên cơ sở thực tiễn địa bàn tỉnh Bắc Ninh)”
làm đề tài tốt nghiệp cao học Luật Việc nghiên cứu một cách toàn diện những vấn đề lý luận và thực tiễn về Trách nhiệm hình sự của tội phạm công nghệ thông tin đánh giá thực trạng áp dụng các quy định của pháp luật hình
sự Việt Nam trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh đối với tội phạm công nghệ thông tin của các cơ quan tiến hành tố tụng là việc làm hết sức cần thiết Từ đó, có thể đưa ra các giải pháp hoàn thiện về kỹ thuật lập pháp và giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật trong giải quyết các vụ án hình sự về tội phạm công nghệ cao là vấn đề có ý nghĩa quan trọng và mang tính cấp thiết, góp phần nâng cao chất lượng giải quyết vụ án hình sự
2 Tình hình nghiên cứu
Trách nhiệm hình sự là một vấn đề đ ư ợ c nhiều nhà khoa học quan tâm, nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau Ở nước ta tính đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu về TNHS được công bố, đáng chú ý là các công
trình như: Trách nhiệm hình sự và hình phạt do PGS.TS Nguyễn Ngọc Hòa (2001) chủ biên, NXB CAND, Hà Nội; Trách nhiệm hình sự và miễn trách nhiệm hình sự của các tác giả GS.TSKH Lê Cảm (chủ biên), TS Phạm Mạnh Hùng, TS Trịnh Tiến Việt (2005), NXB Tư Pháp, Hà Nội; Tội phạm và TNHS của tác giả TS Trịnh Tiến Việt (2013), NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội; Luận án tiến sĩ Chế định TNHS theo luật hình sự Việt
Trang 10Nam của tác giả Phạm Mạnh Hùng, bảo vệ tại Trường đại học Luật Hà Nội năm 2004; Về TNHS của hành vi chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa đạt của GS.TSKH Lê Cảm, tạp chí Luật học, số 4/2012; Chế định miễn TNHS trong luật hình sự Việt Nam của tác giả PGS.TS Nguyễn Ngọc Chí, tạp chí Khoa học, số 4/2017; Về chế định miễn TNHS trong BLHS năm 1999
của PGS.TS Phạm Hồng Hải, tạp chí Dân chủ và Pháp luật, số 12/2001;
Chương 12: Trách nhiệm hình sự và hình phạt, giáo trình Luật hình sự Việt
Nam (tập I) của Trường Đại học Luật Hà Nội năm 2015… Trong đó, luận án
tiến sĩ Chế định TNHS theo luật hình sự Việt Nam của tác giả Phạm Mạnh
Hùng, bảo vệ tại Trường đại học Luật Hà Nội năm 2004 là một công trình nghiên cứu về vấn đề trách nhiệm hình sự khá đầy đủ, toàn diện
Các nghiên cứu về phạm công nghệ thông tin đáng chú ý như: Tội phạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin của TS Phạm Văn Lợi (2007),
NXB T ư pháp, Hà Nội, trong đó, tác giả phân tích các dấu hiệu đặc trưng của các tội phạm công nghệ thông tin, đồng thời phân tích các vụ án về tội phạm công nghệ thông tin trên thực tế mà còn có nhiều ý kiến về vấn đề định tội danh, qua đó đưa ra quan điểm của cá nhân đối với từng vụ việc; Ngoài ra, tội phạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin còn được đề cập trong một số giáo trình và sách tham khảo như: Giáo trình luật Hình sự Việt Nam phần riêng - NXB Đại học Quốc Gia Hà Nội -2003,PGS-TS Lê Cảm 2) Hoàn thiện pháp luật Hình sự Việt Nam trong giai đoạn xây dựng nhà nước pháp quyền, NXB Công an nhân dân năm 1999 của PGS.TS Lê Cảm 3) Tội phạm học Việt Nam hiện đại và phòng ngừa tội phạm - NXB Công an Nhân Dân -
2001 của PGS.TS Nguyễn Xuân Yêm Hoặc được đề cập đến trong một số bài viết trên các tạp chí chuyên ngành
Các công trình này nghiên cứu vấn đề TNHS và về các tội phạm công nghệ thông tin một cách độc lập trên nhiều góc độ Tuy nhiên, có thể nói rằng
Trang 11chưa có công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện và cụ thể về “Trách nhiệm hình sự đối với các tội phạm về công nghệ thông tin theo pháp luật hình
sự Việt Nam” với tư cách là một đề tài độc lập, chuyên biệt Vì vậy, việc tiếp
tục nghiên cứu về đề tài này là cần thiết
3 Mục đích, yêu cầu, nhiệm vụ, đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
Mục đích, yêu cầu: làm rõ một cách cơ bản và toàn diện những vấn đề
lý luận và thực tiễn các quy định và việc áp dụng các quy định về trách nhiệm hình sự đối với các tội phạm công nghệ thông tin theo Bộ luật hình sự để từ
đó tìm ra những điểm còn tồn tại, bất cập và đề xuất một số giải pháp góp phần hoàn thiện về mặt lập pháp có liên quan đến trách nhiệm hình sự của các tội phạm công nghệ thông tin, qua đó nâng cao hiệu qua áp dụng nó trong thực tiễn và góp phần nâng cao chất lượng giải quyết các vụ án hình sự về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
+ Đánh giá thực tiễn việc áp dụng các quy định về trách nhiệm hình sự đối với các tội phạm công nghệ thông tin của các cơ quan tiến hành tố tụng hình sự ở Việt Nam;
+ Đưa ra giải pháp hoàn thiện các quy định của Luật hình sự Việt Nam
về trách nhiệm hình sự đối với các tội phạm công nghệ thông tin và giải
Trang 12pháp nâng cáo hiệu quả thực tiễn áp dụng những quy định đó của các cơ quan tiến hành tố tụng
Đối tượng: đối tượng nghiên cứu của luận văn là các quy định của Bộ
luật hình sự về trách nhiệm hình sự, về các tội phạm công nghệ thông tin trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh từ năm 2013 đến năm 2017
Phạm vi: Luận văn nghiên cứu về trách nhiệm hình sự của các tội
phạm công nghệ thông tin theo quy định của Bộ luật hình sự một cách tổng thể trong phạm vi chung của các giai đoạn tố tụng ở Việt Nam từ năm
1985 đến nay Nghiên cứu quy định của Bộ luật hình sự và một số nước về trách nhiệm hình sự của các tội phạm công nghệ thông tin Đánh giá thực tiễn việc áp dụng các quy định về trách nhiệm hình sự đối với các tội phạm công nghệ thông tin của các cơ quan tiến hành tố tụng hình sự tại địa bàn tỉnh Bắc Ninh trong khoảng thời gian 05 năm trở lại đây
4 Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu của luận văn
Cơ sở lý luận của luận văn là quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lê Nin, quan điểm của Đảng và nhà nước ta về đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung và về giải quyết vụ án hình sự nói riêng, những thành tựu của các khoa học: triết học, luật hình sự, luật TTHS, logic học, tội phạm học, điều tra hình
sự và các học thuyết chính trị pháp lý
Cơ sở sự thực tiễn của luận văn dựa trên cơ sở nghiên cứu luật hình
sự và việc áp dụng các quy định về trách nhiệm hình sự của tội phạm công nghệ thông tin của các cơ quan THTT cũng như các văn bản của 3 ngành Công an, Kiểm sát, Toà án hướng dẫn về hoạt động, điều tra, xử lý
vụ án hình sự
Phương pháp nghiên cứu: Dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử Kết hợp với một số phương pháp nghiên cứu cụ thể như phương pháp: hệ thống, logic, phân
Trang 13tích, tổng hợp, so sánh, khảo sát thực tế để chọn lọc tri thức khoa học, kinh nghiệm thực tiễn liên quan đến những vấn đề trách nhiệm hình sự của các tội phạm công nghệ thông tin, từ đó làm sáng tỏ nội dung của luận văn
5 Những đóng góp mới về khoa học của luận văn
Luận văn làm rõ những vấn đề lý luận về trách nhiệm hình sự của các tội phạm công nghệ thông tin theo quy định của Bộ luật hình sự Việt Nam Luận văn phát hiện những điểm còn bất cập trong luật hình sự Việt Nam về trách nhiệm hình sự của các tội phạm công nghệ thông tin Những thiếu sót, hạn chế trong hoạt động của các cơ quan THTT hình sự liên quan đến trách nhiệm hình sự của tội phạm công nghệ thông tin, tìm ra những nguyên nhân của những thiếu sót, hạn chế đó Đề xuất một số giải pháp hoàn thiện những quy định của luật TTHS Việt Nam về trách nhiệm hình sự của tội phạm công nghệ thông tin và nâng cao hiệu quả áp dụng những quy định của luật TTHS về đối tượng chứng minh nói chung
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của Luận văn
Về mặt lý luận: Nội dung và kết quả nghiên cứu của Luận văn có thể
được khai thác sử dụng trong công tác nghiên cứu lý luận của các cơ quan THTT hình sự và có thể làm tài liệu tham khảo trong xây dựng, sửa đổi BLTTHS và một số văn bản pháp luật khác có liên quan đến t rách nhiệm hình sự về tội phạm công nghệ thông tin để hoàn thiện hơn
Về mặt thực tiễn: Các cơ quan THTT có thể khai thác vận dụng
những kết quả nghiên cứu của Luận văn để nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của mình trong việc áp dụng các quy định về trách nhiệm hình sự của tội phạm công nghệ thông tin
7 Bố cục của Luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục và danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn gồm 3 chương:
Trang 14Chương 1: Một số vấn đề lí luận về trách nhiệm hình sự đối với tội
phạm công nghệ thông tin
Chương 2: Trách nhiệm hình sự đối với các tội phạm về công nghệ
thông tin và thực tiễn áp dụng
Chương 3: Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu
quả trong việc áp dụng trách nhiệm hình sự đối với tội phạm công nghệ thông tin
Trang 15Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VỀ TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ ĐỐI VỚI
TỘI PHẠM CÔNG NGHỆ THÔNG TIN 1.1.Khái niệm, đặc điểm của trách nhiệm hình sự đối với các tội phạm về công nghệ thông tin
1.1.1 Khái niệm, đặc điểm trách nhiệm hình sự
Trong thực tiễn chính trị, pháp lý, sách báo khoa học, các công trình nghiên cứu đã công bố trước đây, khái niệm trách nhiệm hình sự không được ghi nhận dưới dạng định nghĩa Mà theo bộ luật Hình sự Việt Nam thì Trách nhiệm hình sự là chế định cơ bản và quan trọng trong luật hình sự Việt Nam
Do đó hiện nay trong khoa học Luật hình sự Việt Nam có rất nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm trách nhiệm hình sự
Trong đó “trách nhiệm” thường được hiểu theo hai nghĩa Thứ nhất,
trách nhiệm là nghĩa vụ, bổn phận của một người trước người khác, trước xã hội hoặc nhà nước Ví dụ: trách nhiệm của công dân trong việc bảo vệ môi trường sống, trách nhiệm của bố mẹ trong chăm sóc, bảo vệ và giáo dục con
cái… Thứ hai, trách nhiệm là hậu quả bất lợi mà một người phải gánh chịu
trước người khác, trước xã hội hoặc Nhà nước do đã có hành vi vi phạm nghĩa
vụ, bổn phận nào đó [19, tr.8]
Trách nhiệm pháp lí trong đó có trách nhiệm hình sự được dùng theo nghĩa thứ hai Trách nhiệm pháp lý là một loại quan hệ pháp luật đặc biệt giữa nhà nước (thông qua các cơ quan có thẩm quyền) với chủ thể vi phạm pháp luật, trong đó bên vi phạm pháp luật phải gánh chịu những hậu quả bất lợi, những biện pháp cưỡng chế nhà nước được quy định ở phần chế tài trong các quy định pháp luật và bao gồm bốn loại Hiện nay vẫn còn tồn tại nhiều quan điểm khác nhau trong khoa học luật hình sự về khái niệm “trách nhiệm hình
Trang 16sự”, có thể kể đến một vài quan điểm như sau:
Trách nhiệm hình sự là một dạng trách nhiệm pháp lí, là trách nhiệm của người khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong pháp luật hình sự bằng một hậu quả bất lợi do Tòa án áp dụng tùy thuộc vào tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi mà người đó đã thực hiện [25, tr.14]; Trách nhiệm hình sự là hậu quả pháp lí của việc phạm tội, thể hiện ở chỗ người đã gây ra tội phải chịu trách nhiệm về hành vi của mình trước Nhà nước [45, tr.41];
Trách nhiệm hình sự là một dạng của trách nhiệm pháp lí, bao gồm: nghĩa vụ phải chịu sự tác động của hoạt động truy cứu trách nhiệm hình sự, chịu bị kết tội, chịu biện pháp cưỡng chế của trách nhiệm hình sự (hình phạt, biện pháp tư pháp) và chịu mang án tích [18, tr.21];
Trách nhiệm hình sự là sự phản ứng của Nhà nước đối với người thực hiện tội phạm, thể hiện tập trung ở sự áp dụng hình phạt với chủ thể
đó [40, tr.157]
Các quan điểm đó tuy có sự khác nhau về một số nội dung như thời điểm bắt đầu trách nhiệm hình sự, các yếu tố của trách nhiệm hình sự… nhưng tựu chung lại, đa số các quan điểm đều phản ánh thống nhất một số đặc điểm của trách nhiệm hình sự là:
Thứ nhất, trách nhiệm hình sự là hậu quả pháp lí của việc thực hiện hành vi phạm tội Hậu quả này chỉ phát sinh khi có người thực hiện hành vi
nguy hiểm cho xã hội bị pháp luật hình sự cấm hoặc không thực hiện những nghĩa vụ mà pháp luật hình sự yêu cầu phải thực hiện Điều này có nghĩa, không có việc thực hiện hành vi bị luật hình sự coi là tội phạm thì không thể
có trách nhiệm hình sự
Trong quá trình áp dụng pháp luật hình sự, để quy kết hành vi nào đó là tội phạm và buộc người thực hiện hành vi phải chịu trách nhiệm hình sự,
Trang 17người áp dụng pháp luật phải trên cơ sở đối chiếu hành vi đã thực hiện với các dấu hiệu của cấu thành tội phạm được quy định trong Bộ luật hình sự, chứ không được áp đặt theo ý thức chủ quan, bất chấp những quy định của pháp luật Nếu trong quá trình áp dụng pháp luật, người áp dụng pháp luật xác định được hành vi của một người thỏa mãn các dấu hiệu của cấu thành tội phạm được Bộ luật hình sự quy định thì mới có thể buộc người thực hiện hành vi phải chịu trách nhiệm hình sự [19, tr.17]
Thứ hai, trách nhiệm hình sự chỉ có thể được xác định bằng trình tự đặc biệt theo quy định của pháp luật mà các cơ quan tiến hành tố tụng có nghĩa vụ phải thực hiện Việc xác định các căn cứ để có thể áp dụng trách
nhiệm hình sự là kết quả của cả một quá trình điều tra, truy tố, xét xử của các
cơ quan tố tụng có thẩm quyền Quá trình này được thực hiện bởi các cơ quan
có thẩm quyền và phải tuân theo các quy định của luật Tố tụng hình sự về
trình tự, thủ tục… Song, cần lưu ý rằng, “quá trình giải quyết vụ án cùng với việc áp dụng các biện pháp đó của cơ quan tiến hành tố tụng không phải là quá trình thực hiện trách nhiệm hình sự mà chỉ là quá trình xác định những điều kiện cần và đủ” [19, tr.31] để có thể truy tố người phạm tội và buộc tội
họ trước Tòa án
Thứ ba, trách nhiệm hình sự được biểu hiện tập trung nhất ở việc người phạm tội phải chịu biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước là hình phạt Trách nhiệm hình sự bao gồm hai nội dung cơ bản là người phạm
tội phải bị kết tội (bởi cơ quan có thẩm quyền duy nhất là Tòa án) và người phạm tội phải chịu biện pháp cưỡng chế của TNHS bao gồm hình phạt và các biện pháp tư pháp Trong đó, hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của nhà nước nhằm tước bỏ, hạn chế quyền, lợi ích của người phạm
tội “Trách nhiệm hình sự có nội hàm rộng hơn hình phạt Hình phạt chỉ là một dạng đặc trưng, điển hình và phổ biến do Tòa án áp dụng trên thực tế
Trang 18của trách nhiệm hình sự” [46, tr.227] Trong nhiều trường hợp, người phạm
tội được miễn hình phạt Điều đó không đồng nghĩa với việc người phạm tội không có trách nhiệm hình sự, bởi họ vẫn bị Tòa án kết tội, mà chỉ là người phạm tội trong trường hợp đó không phải chịu biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của nhà nước do đã thực hiện hành vi phạm tội mà thôi
Thứ tư, trách nhiệm hình sự mà người phạm tội phải gánh chịu là trách nhiệm trước nhà nước chứ không phải với người mà quyền và lợi ích hợp
pháp của họ bị hành vi phạm tội trực tiếp xâm hại Trách nhiệm hình sự chỉ được thực hiện trong phạm vi của quan hệ pháp luật hình sự giữa hai bên với tính chất là hai chủ thể của quan hệ pháp luật hình sự, đó là Nhà nước và
người phạm tội Trong đó “Nhà nước, mà đại diện cho Nhà nước là các cơ quan tiến hành tố tụng có thẩm quyền – có quyền khởi tố, điều tra, truy tố, xét
xử người phạm tội” [46, tr.225] có nghĩa vụ chỉ được xử lí người phạm tội
dựa trên các căn cứ và trong các giới hạn của pháp luật quy định:
Người phạm tội có nghĩa vụ phải chịu sự tước bỏ hoặc hạn chế quyền,
tự do nhất định, nhưng đồng thời họ cũng có quyền yêu cầu sự tuân thủ nghiêm minh, đầy đủ và thực hiện đúng quy định của pháp luật từ phía nhà nước, từ phía các cơ quan tiến hành tố tụng hình sự có thẩm quyền và
từ các cán bộ thực thi pháp luật [46, tr.226]
Thứ năm, trách nhiệm hình sự phải được phản ánh trong bản án hay quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án Như đã trình bày ở nội dung
trên, căn cứ vào kết quả điều tra và quá trình tranh tụng tại phiên tòa, Tòa án
sẽ ra phán quyết về việc có kết tội người bị truy tố hay không Nếu có đủ cơ
sở, Tòa án sẽ ra bản án kết tội đối với người đó Bản án kết tội của Tòa án chính là sự thể hiện của trách nhiệm hình sự áp dụng đối với người phạm tội Việc thực hiện trách nhiệm hình sự từ phía nhà nước và việc phải chịu trách nhiệm hình sự từ phía người phạm tội chỉ bắt đầu khi bản án kết tội của Tòa
Trang 19án đối với người bị kết tội có hiệu lực pháp luật
Như vậy, từ các phân tích trên, tác giả xin đưa ra khái niệm trách nhiệm
hình sự như sau: trách nhiệm hình sự là một dạng trách nhiệm pháp lí, là hậu quả pháp lí bất lợi mà người phạm tội phải gánh chịu trước nhà nước do việc người đó thực hiện tội phạm, được thể hiện ở việc người phạm tội phải chịu
bị kết tội bởi bản án kết tội có hiệu lực pháp luật của Tòa án và phải chịu các biện pháp cưỡng chế của trách nhiệm hình sự (bao gồm hình phạt và các biện pháp tư pháp)
1.1.1.1 Cơ sở của trách nhiệm hình sự
Cơ sở của TNHS là một trong những vấn đề quan trọng của TNHS
Cơ sở của TNHS bao gồm cơ sở triết học của TNHS, cơ sở pháp lí của TNHS và cơ sở thực tế của TNHS Trong đó, vấn đề cơ sở triết học của
TNHS nhằm giải quyết câu hỏi “dựa trên cơ sở nào mà xã hội có thể buộc con người phải chịu TNHS về hành vi của họ?” [16, tr.219] Còn vấn đề cơ
sở pháp lí của TNHS nhằm trả lời câu hỏi “căn cứ vào đâu mà Nhà nước có thể buộc con người phải chịu TNHS về hành vi của mình” [16, tr.219]
Về cơ sở triết học của TNHS: xã hội có thể buộc con người phải chịu
TNHS về hành vi của họ là bởi hành vi của con người vừa có tính tất yếu vừa có tính tự do Tính tất yếu của hành vi của con người thể hiện ở chỗ hành vi được hình thành không phải một cách ngẫu nhiên, tách rời những điều kiện xã hội mà được hình thành một cách có quy luật Nó là kết quả của sự tác động qua lại giữa những điều kiện xã hội và con người Nhưng, điều đó không có nghĩa hành vi của con người trong một tình huống cụ thể
là tất yếu, là duy nhất, là không thể tránh được
Mọi xử sự của con người đều chịu sự chi phối của quy luật khách quan nhưng con người, nhờ hoạt động ý thức, có khả năng nhận thức được quy luật
là lợi dụng quy luật thực hiện mục đích của mình Đó là sự tự do của con
Trang 20người [16, tr.138] Lí giải cụ thể hơn:
Các nguyên nhân bên ngoài tác động đến con người không phải một cách máy móc mà phải thông qua sự suy xét (lí trí) và sự quyết định (ý chí) của họ Để thỏa mãn bất kì nhu cầu nào trong đời sống cũng đều có nhiều biện pháp giải quyết và việc lựa chọn biện pháp nào là kết quả của hoạt động lí trí và ý chí Chính vì vậy, trong những điều kiện khách quan giống nhau, mỗi người có thể lựa chọn biện pháp xử sự khác nhau Con người khi đã có quyền lựa chọn là có tự do [16, tr.139]
Như vậy, tự do là cơ sở triết học của trách nhiệm và tránh nhiệm chỉ đặt ra cho con người khi họ có tự do
Cơ sở pháp lí của TNHS: Theo Điều 2 BLHS năm 1999 thì “chỉ người nào phạm một tội đã được BLHS quy định mới phải chịu trách nhiệm hình sự” Để kết luận hành vi đã được thực hiện của người nào đó có phải là tội
phạm không và là tội gì, hình phạt áp dụng đối với họ ra sao, cần phải xác định hành vi đó thỏa mãn những dấu hiệu cấu thành tội phạm cụ thể chưa? Nếu đã thỏa mãn tức là người ấy đã thực hiện tội phạm cụ thể được quy định
trong BLHS và người thực hiện hành vi này phải chịu TNHS Như vậy, “cấu thành tội phạm là cơ sở pháp lí của trách nhiệm hình sự, là điều kiện cần và
đủ của trách nhiệm hình sự” [16, tr.219]
Cơ sở thực tế của TNHS: tội phạm là sự kiện pháp lí làm phát sinh
TNHS Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội, có lỗi, trái pháp luật hình
sự [16, tr.50) Cơ sở thực tế của trách nhiệm hình sự “là việc thực hiện hành
vi thỏa mãn các dấu hiệu của cấu thành tội phạm được luật hình sự quy định” [19, tr.74] Trên thực tế, để có thể xác định một hành vi nào đó là hành
vi phạm tội để áp dụng trách nhiệm hình sự đối với người thực hiện hành vi, các cơ quan có thẩm quyền phải xác định được sự thỏa mãn, sự phù hợp của hành vi đã thực hiện với các dấu hiệu của một cấu thành tội phạm được quy
Trang 21định trong luật hình sự
1.1.1.2 Các biện pháp cưỡng chế của trách nhiệm hình sự
Các biện pháp cưỡng chế của trách nhiệm hình sự bao gồm hình phạt
và biện pháp tư pháp Cụ thể:
Hình phạt: Theo định nghĩa tại Điều 26 BLHS, “Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước nhằm tước bỏ hoặc hạn chế quyền, lợi ích của người phạm tội Hình phạt được quy định trong Bộ luật hình sự và
do Tòa án quyết định” Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất
trong hệ thống các biện pháp cưỡng chế của Nhà nước, được Nhà nước sử
dụng như là một công cụ hữu hiệu để đấu tranh phòng, chống tội phạm “Hình phạt không phải là cái gì khác ngoài phương tiện để tự bảo vệ mình của xã hội chống lại sự vi phạm các điều kiện tồn tại của nó” [16, tr.230] Tính nghiêm
khắc của hình phạt thể hiện ở chỗ người bị kết án có thể bị tước bỏ hoặc bạn chế quyền tự do, quyền về tài sản, về chính trị, thậm chí cả quyền cơ bản nhất của con người là quyền sống Hình phạt cũng để lại án tích cho người bị kết án Trong BLHS Việt Nam, hình phạt được quy định trong cả phần chung và phần các tội phạm, và Tòa án là cơ quan duy nhất có quyền quyết định hình phạt đối với người phạm tội Hình phạt chỉ có thể áp dụng đối với người đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị coi là tội phạm Hình phạt trong luật hình sự Việt Nam bao gồm hình phạt chính và hình phạt bổ sung Trong đó:
Hệ thống hình phạt chính bao gồm: cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ, trục xuất, tù có thời hạn, tù chung thân và tử hình;
Hệ thống hình phạt bổ sung bao gồm: cấm đảm nhiệm công nghệ thông tin, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định; cấm cư trú; quản chế; tước một số quyền công dân; tịch thu tài sản; phạt tiền; trục xuất
Biện pháp tư pháp “Các biện pháp tư pháp là các biện pháp hình sự được BLHS quy định, do các cơ quan tư pháp áp dụng đối với người có hành vi
Trang 22nguy hiểm cho xã hội, có tác dụng hỗ trợ hoặc thay thế hình phạt” [16, tr.257]
Các biện pháp tư pháp có ý nghĩa hỗ trợ cho hình phạt trong những trường hợp cần thiết phải xử lí cơ bản, toàn diện người phạm tội về hành vi nguy hiểm cho xã hội của họ Trong trường hợp người mắc bệnh tâm thần mất khả năng nhận thức hoặc điều khiển hành vi, các biện pháp tư pháp đóng vai trò
thay thế hình phạt “loại bỏ nguyên nhân, điều kiện dẫn đến hành vi nguy hiểm cho xã hội và thể hiện nội dung cao cả của nguyên tắc nhân đạo Xã hội chủ nghĩa” [16, tr.258]
Trong BLHS Việt Nam, các biện pháp tư pháp bao gồm: tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm; trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại; buộc công khai xin lỗi; bắt buộc chữa bệnh Đối với người phạm tội chưa thành niên thì các biện pháp tư pháp có thể áp dụng là giáo dục tại xã, phường, thị trấn hoặc đưa vào trường giáo dưỡng
1.1.1.3 Trách nhiệm hình sự trong một số trường hợp đặc biệt
Một là: trách nhiệm hình sự trong trường hợp đồng phạm
Theo quy định tại Điều 20 BLHS, đồng phạm là trường hợp có hai người trở lên cố ý cùng thực hiện một tội phạm Đồng phạm phải thỏa mãn các dấu hiệu khách quan và chủ quan như sau:
Dấu hiệu khách quan đòi hỏi: thứ nhất, có hai người trở lên và tất cả những người tham gia phải có đủ điều kiện của chủ thể của tội phạm, đó là điều kiện về độ tuổi chịu TNHS và điều kiện về năng lực TNHS; thứ hai, những người này phải cùng thực hiện tội phạm, tức là tham gia vào tội phạm với một trong bốn dạng hành vi: 1) Hành vi thực hiện tội phạm (thực hiện hành vi được mô tả trong cấu thành tội phạm), người có hành vi này được gọi
là người thực hành; 2) Hành vi tổ chức thực hiện tội phạm (tổ chức thực hiện hành vi được mô tả trong cấu thành tội phạm), người có hành vi này được gọi
là người tổ chức; 3) Hành vi xúi giục người khác thực hiện tội phạm (xúi giục
Trang 23người khác thực hiện hành vi được mô tả trong cấu thành tội phạm), người có hành vi này được gọi là người xúi giục; 4) Hành vi giúp sức người khác thực hiện tội phạm (giúp người khác thực hiện hành vi được mô tả trong cấu thành tội phạm), người có hành vi này được gọi là người giúp sức Trong vụ đồng phạm có thể có một loại hành vi nhưng cũng có thể có đầy đủ cả bốn loại hành vi Người đồng phạm có thể tham gia từ đầu, cũng có thể tham gia khi tội phạm đã xảy ra nhưng chưa kết thúc
Dấu hiệu chủ quan của đồng phạm bao gồm dấu hiệu lỗi và dấu hiệu mục đích
Về dấu hiệu lỗi, đồng phạm chỉ có thể xảy ra với những trường hợp phạm tội với lỗi cố ý Khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội, mỗi người đồng phạm không chỉ cố ý với hành vi của mình mà còn biết và mong muốn
sự cố ý tham gia của những người đồng phạm khác Về lí trí, mỗi người đồng phạm đều biết hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội và họ đều biết người khác có hành vi nguy hiểm cho xã hội cùng với mình Đồng thời, mỗi người đồng phạm đều thấy trước hậu quả nguy hiểm cho xã hội của hành vi của mình cũng như hậu quả chung của tội phạm mà họ tham gia thực hiện Về ý chí, những người đồng phạm cùng mong muốn có hoạt động chung hoặc cùng
có ý thức để mặc cho hậu quả phát sinh
Về dấu hiệu mục đích, đây là dấu hiệu đòi hỏi với những tội có dấu hiệu mục đích là dấu hiệu bắt buộc Với những tội này, ngoài dấu hiệu cùng thực hiện và dấu hiệu cùng cố ý, đồng phạm còn đòi hỏi dấu hiệu cùng mục đích Được coi là cùng mục đích khi những người tham gia đều
có chung mục đích được phản ánh trong cấu thành tội phạm hoặc biết rõ và tiếp nhận mục đích đó
Khi xác định TNHS trong trường hợp đồng phạm cần lưu ý: về nguyên tắc, những người đồng phạm phải chịu TNHS đối với tội mà họ cùng phạm
Trang 24Tuy nhiên, khi xác định TNHS của những người đồng phạm cần tuân thủ các nguyên tắc:
1) Nguyên tắc chịu trách nhiệm chung về toàn bộ tội phạm, theo đó tất cả những người đồng phạm đều bị truy tố, xét xử về cùng tội danh, theo cùng điều luật và trong phạm vi chế tài mà điều luật ấy quy định; các nguyên tắc chung về việc truy cứu TNHS, về quyết định hình phạt, về thời hiệu đối với loại tội những người đồng phạm đã thực hiện được áp dụng chung cho tất cả
2) Nguyên tắc chịu trách nhiệm độc lập về việc cùng thực hiện vụ đồng phạm Theo nguyên tắc này, những người đồng phạm không phải chịu trách nhiệm về hành vi vượt quá của người đồng phạm khác; việc miễn TNHS hoặc miễn hình phạt đối với người đồng phạm này không loại trừ TNHS của những người đồng phạm khác; hành vi của người tổ chức, xúi giục hay giúp sức dù chưa đưa đến việc thực hiện tội phạm vẫn phải chịu TNHS; sự tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội của người đồng phạm này loại trừ TNHS của những người đồng phạm khác
3) Nguyên tắc cá thể hóa TNHS của những người đồng phạm Thể hiện nguyên tắc này, luật hình sự Việt Nam xác định chính sách hình sự của nhà nước ta là “nghiêm trị kết hợp khoan hồng”, “nghiêm trị người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy, ngoan cố chống đối… khoan hồng đối với người tự thú, thành khẩn khai báo, tố giác người đồng phạm, lập công chuộc tội…” (khoản 2 Điều 3 BLHS)
Bên cạnh hành vi của người đồng phạm, còn có những hành vi khác
liên quan đến các tội xâm phạm sở hữu “là hành vi cố ý liên quan đến tội phạm được thực hiện bởi người khác nhưng không có ý nghĩa quyết định đến việc thực hiện tội phạm đó nên họ phải chịu TNHS độc lập về một tội phạm
do Luật hình sự quy định” [6, tr.160] Có ba dạng hành vi, ba tội danh liên
Trang 25quan đến tội phạm đó là hành vi (tội) che giấu tội phạm (Điều 313), hành vi (tội) không tố giác tội phạm (Điều 314) và hành vi (tội) chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có (Điều 250)
Hai là: TNHS trong trường hợp chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa đạt
Trước hết cần khẳng định, theo lí luận chung được thừa nhận, việc phân chia các giai đoạn phạm tội thành chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt, tội phạm hoàn thành chỉ có thể thực hiện được với những tội được thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp Trong đó:
Chuẩn bị phạm tội là giai đoạn trong đó người phạm tội có hành vi tạo
ra những điều kiện cần thiết cho việc thực hiện tội phạm nhưng chưa bắt đầu thực hiện tội phạm đó [16, tr.162] Các dạng hành vi chuẩn bị phạm tội có thể
là chuẩn bị công cụ, phương tiện phạm tội; tìm kiếm những người đồng phạm; thăm dò địa điểm phạm tội; loại trừ trước những trở ngại khách quan… Vấn
đề trách nhiệm hình sự không đặt ra đối với người chuẩn bị phạm tội ít nghiêm trọng và tội nghiêm trọng vì chuẩn bị phạm tội là trường hợp có mức
độ nguy hiểm cho xã hội thấp nhất so với phạm tội chưa đạt và tội phạm hoàn thành Hành vi trong chuẩn bị phạm tội chưa trực tiếp xâm hại đến khách thể của tội định thực hiện và riêng hành vi chuẩn bị chưa thể gây ra được những hậu quả nguy hiểm cho xã hội Do vậy, luật hình sự Việt Nam chỉ đặt vấn đề trách nhiệm hình sự khi tội định phạm là tội rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng (Điều 17 BLHS) [16, tr.161]
Việc quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội phải tuân thủ quy định tại Điều 52 BLHS Theo quy định tại khoản 2 Điều 52 BLHS, đối với trường hợp chuẩn bị phạm tội, nếu điều luật được áp dụng
có quy định hình phạt cao nhất là tù chung thân hoặc tử hình thì mức cao nhất được áp dụng là không quá hai mươi năm tù; nếu hình phạt cao nhất quy định
là tù có thời hạn thì mức cao nhất được áp dụng là không quá một phần hai
Trang 26mức phạt tù cao nhất mà điều luật quy định
Phạm tội chưa đạt là cố ý thực hiện tội phạm nhưng không thực hiện
được đến cùng vì những nguyên nhân ngoài ý muốn của người phạm tội (Điều 18 BLHS) Đối với phạm tội chưa đạt, luật hình sự Việt Nam không đặt vấn đề giới hạn những trường hợp phải chịu trách nhiệm hình sự mà xác định
mọi trường hợp phạm tội chưa đạt phải chịu trách nhiệm hình sự “vì đây là những trường hợp người phạm tội đã có hành vi trực tiếp xâm hại khách thể,
đã trực tiếp đe dọa gây ra những hậu quả nguy hiểm cho xã hội” [16, tr.161]
Việc quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội phải tuân thủ quy định tại Điều 52 BLHS Theo quy định tại khoản 3 Điều 52 đối với trường hợp phạm tội chưa đạt, nếu điều luật được áp dụng có quy định hình phạt cao nhất là tù chung thân hoặc tử hình, thì chỉ có thể áp dụng các hình phạt này trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng; nếu là tù có thời hạn thì mức hình phạt không quá ba phần tư mức phạt tù mà điều luật quy định
1.1.2 Khái niệm tội phạm về công nghệ thông tin và trách nhiệm hình sự đối với tội phạm về công nghệ thông tin
Thực tiễn hiện nay, trên thế giới cũng có nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm các tội phạm về công nghệ thông tin và truyền thông Bởi lẽ, cuộc cách mạng công nghệ thông tin mới chỉ hình thành và phát triển vài chục năm, nhưng đã khiến cho nhiều ngành kinh tế, xã hội và văn hoá phụ thuộc vào các công nghệ mới của nó, trong đó đặc biệt phải kể đến vai trò của máy tính điện tử và internet Sự phát triển nhanh chóng của công nghệ thông tin, cũng làm biến đổi diện mạo của thế giới, hình thành một thế hệ mới, khác so với thế hệ cách họ chỉ vài chục năm, nếu trước đây nhiều quốc gia chậm phát triển còn xa lạ với công nghệ thông tin thì nay các quốc gia này cũng đã phụ thuộc vào công nghệ thông tin, coi máy tính, internet, email, điện thoại di động, máy ảnh số, máy nghe nhạc số là những công cụ không thể thiếu
Trang 27trong cuộc sống Cuộc cách mạng về công nghệ thông tin cũng phát triển những khái niệm, những từ ngữ mới và mới cách đây vài chục năm chưa được nhắc đến nhưng nay đã trở lên quen thuộc trong đời sống xã hội như: thư điện
tử (email), mạng thông tin toàn cầu (internet), thông tin di động (mobile phone), thương mại điện tử, công nghệ số (digital technology) công nghệ không dây (wifi, Bluetooth), trò chuyện trên mạng (chatting), trò chơi trên mạng (game online) v.v
Chính sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin và truyền thông, các thành tựu của công nghệ thông tin ứng dụng rộng rãi trong đời sống xã hội thì càng dễ bị con người lợi dụng, sử dụng hoặc là mục tiêu của giới tội phạm, hình thành nên một loại tội phạm mới đó là tội phạm về công nghệ thông tin và truyền thông Chính việc tên gọi của loại tội phạm này hiện cũng
có nhiều cách gọi khác nhau như: Tội phạm mạng, tội phạm tin học, tội phạm máy tính, dẫn đến việc xây dựng khái niệm về tội phạm này cũng gặp nhiều khó khăn và chưa có sự thống nhất, có nhiều quan điểm khác nhau về vấn đề trên và quan điểm nào cũng có những khiếm khuyết nhất định, nên hiện nay cũng chưa thể có một khái niệm hoàn chỉnh được mọi người nhất trí cao Tại cuộc họp lần thứ 10 của Đại hội đồng Liên hợp quốc về ngăn chặn
và xử lý tội phạm được tổ chức tại thành phố Viên (áo) từ ngày 10 đến ngày
17 tháng 10 năm 2000, một cuộc hội thảo đã được tổ chức để bàn về vấn đề tội phạm công nghệ thông tin, việc định nghĩa tội phạm này đã được chia ra thành hai dạng tội phạm:
- Thứ nhất, tội phạm công nghệ thông tin theo nghĩa hẹp: được định nghĩa là các hành vi phạm tội sử dụng máy tính và mạng máy tính với mục đích xâm phạm đến an toàn của hệ thống máy tính và quy trình lưu trữ dữ liệu của hệ thống đó Loại tội phạm theo định nghĩa này có thể được hiểu là loại
Trang 28tội phạm mới có quan hệ trực tiếp đến máy tính, mạng máy tính, làm ảnh hưởng và gây thiệt hại cho người sử dụng
- Thứ hai, tội phạm công nghệ thông tin được hiểu theo nghĩa rộng: được định nghĩa là các hành vi phạm tội sử dụng máy tính hoặc các phương pháp khác có liên quan đến máy tính, mạng máy tính, bao gồm các loại tội phạm như chiếm giữ bất hợp pháp và đe doạ hoặc làm sai lệnh thông tin bằng phương pháp sử dụng mạng máy tính Loại tội phạm theo định nghĩa này là rất rộng, bao gồm nhiều loại hành vi của tội phạm truyền thống được thực hiện với sự trợ giúp của công cụ máy tính mà phổ biến hiện nay như các hành
vi lừa đảo, trốn lậu cước viễn thông, mạo danh
Định nghĩa này tuy chưa phải là một định nghĩa hoàn chỉnh, còn hết sức chung chung và sơ sài tuy nhiên nó có ý nghĩa quan trọng ở chỗ lần đầu tiên khái niệm thế nào là tội phạm công nghệ thông tin (hay tội phạm mạng) đã được các nước trên thế giới thảo luận và đi tới nhất trí Tội phạm công nghệ thông tin, theo định nghĩa nêu trên, là những tội phạm liên quan đến máy tính và mạng thông tin Định nghĩa thừa nhận tội phạm công nghệ thông tin bao gồm cả các tội phạm mới hình thành trong môi trường của công nghệ thông tin và cả những tội phạm truyền thống nhưng được thực hiện với sự giúp đỡ của các công nghệ thông tin Cũng giống như các tội phạm khác, người thực hiện các hành vi phạm tội thuộc nhóm các tội phạm công nghệ thông tin cũng phải chịu hậu quả pháp
lý bất lợi đó là bị áp dụng các hình thức của trách nhiệm hình sự như hình phạt, biện pháp tư pháp, miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt, án treo, miễn chấp hành hình phạt, giảm thời hạn chấp hành hình phạt, xóa án tích… tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, cũng như khi có những căn cứ luật định
Từ các phân tích tội phạm về công nghệ thông tin và khái niệm trách nhiệm hình sự như trên, tôi đưa ra khái niệm trách nhiệm hình sự đối với các
Trang 29tội phạm công nghệ nghệ thông tin như sau: “Trách nhiệm hình sự đối với các tội phạm công nghệ thông tin là một dạng trách nhiệm pháp lý, là hậu quả pháp lý bất lợi mà người phạm tội phải gánh chịu trước Nhà nước, do việc người phạm tội có hành vi sử dụng trực tiếp đến máy tính, mạng máy tính, làm ảnh hưởng và gây thiệt hại cho người khác, được thể hiện bằng việc các
cơ quan tư pháp hình sự có thẩm quyền áp dụng hình phạt và một số biện pháp cưỡng chế hình sự khác do luật hình sự quy định”
Trách nhiệm hình sự đối với tội phạm công nghệ thông tin được thể hiện trong sự tác động mang tính cưỡng chế của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền
áp dụng các hình thức trách nhiệm hình sự nhất định theo quy định của BLHS Trách nhiệm hình sự đối với các tội phạm công nghệ thông tin được quy định trong BLHS là căn cứ pháp lý quan trọng để áp dụng trong xử lý các tội phạm
công nghệ thông tin, với các ý nghĩa như sau: Thứ nhất, tạo cơ sở cho việc truy
cứu trách nhiệm hình sự đối với các tội phạm công nghệ thông tin, thực hiện nguyên tắc "chỉ người nào phạm một tội đã được Bộ luật hình sự quy định mới
phải chịu trách nhiệm hình sự" Thứ hai, bảo đảm pháp chế và xử lý thống nhất, công minh nghiêm minh, đúng pháp luật các tội phạm công nghệ thông tin Thứ
ba, bảo đảm nguyên tắc công bằng, mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật,
không thoát khỏi trách nhiệm và sự tương xứng của trách nhiệm đối với hành vi
phạm tội Thứ tư, răn đe những người lợi dụng máy tính và mạng máy tính,
những thiết bị công nghệ cao có ý định phạm tội, cổ vũ, động viên nhân dân tin tưởng vào sự nghiêm minh, công bằng của pháp luật để tố giác những hành vi phạm tội cho dù đó là tội phạm công nghệ
1.1.3 Đặc điểm của trách nhiệm hình sự đối với các tội phạm về công nghệ thông tin
Là một dạng của trách nhiệm pháp lý nói chung, trách nhiệm hình sự nói riêng, trách nhiệm hình sự đối với các tội phạm công nghệ thông tin có những
Trang 30đặc điểm chung của trách nhiệm hình sự Cũng như trách nhiệm hình sự tương ứng đối với các loại tội phạm khác, trách nhiệm hình sự đối với các tội phạm về công nghệ thông tin mang đặc điểm của cái riêng trong cái chung như sau:
1.1.3.1 Đặc điểm chung
Thứ nhất, trách nhiệm hình sự đối với các tội phạm về công nghệ thông
tin là hậu quả pháp lý của việc thực hiện tội phạm bằng công nghệ thông tin Một người khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong luật hình sự, khi đó trách nhiệm hình sự sẽ phát sinh đối với họ qua tiến trình truy cứu trách nhiệm hình sự Nói cách khác khi một người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị coi là tội phạm, thì đồng thời trách nhiệm hình sự được đặt ra để giải quyết hậu quả của người thực hiện hành vi nguy hiểm cho
xã hội Người thực hiện tội phạm phải chịu trách nhiệm hình sự, có thể đưa đến hậu quả bất lợi và nghiêm trọng - khi hình phạt được áp dụng đối với họ,
có thể họ bị hạn chế hoặc tước bỏ quyền, lợi ích, thậm chí có thể bị tước bỏ cả tính mạng
Thứ hai, trách nhiệm hình sự đối với các tội phạm về công nghệ thông
tin luôn luôn được thực hiện trong phạm vi của quan hệ pháp luật hình sự giữa hai bên với tính chất là hai chủ thể có các quyền và nghĩa vụ nhất định - một bên là Nhà nước, còn bên kia là người phạm tội Nhà nước có quyền truy
tố, xét xử và buộc người phạm tội phải chịu hình phạt nhất định tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm của tội phạm
Thứ ba, trách nhiệm hình sự đối với các tội phạm về công nghệ thông tin
được xác định bằng một trình tự đặc biệt bởi các cơ quan tư pháp hình sự có thẩm quyền, việc thực hiện trình tự đó phải do pháp luật tố tụng hình sự quy định Khi một công dân thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội thì chỉ có một
số cơ quan được pháp luật quy định rõ ràng với các chức năng và nhiệm vụ
Trang 31của mình mới có quyền tiến hành những thủ tục nhất định để áp dụng trách nhiệm hình sự Cụ thể các cơ quan này được Bộ luật tố tụng quy định rất cụ thể - Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án Bản thân các cơ quan này cũng không phải là có "siêu quyền", mà phụ thuộc vào từng giai đoạn giải quyết vụ án hình sự có những quyền tương ứng, bản thân các cơ quan này cũng có sự phụ thuộc, kiểm chế, giám sát nhau
Thứ tư, trách nhiệm hình sự đối với các tội phạm về công nghệ thông tin
được thể hiện chủ yếu trong bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật, bằng việc áp dụng đối với người phạm tội một hoặc nhiều biện pháp cưỡng chế của Nhà nước do luật hình sự quy định Đặc điểm này của trách nhiệm hình sự đã được Hiến pháp và Bộ luật tố tụng hình sự khẳng định: không ai bị coi là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật
1.1.3.2 Đặc điểm riêng
Đối với tội phạm công nghệ thông tin, trách nhiệm hình sự có các đặc điểm riêng khá rõ nét sau đây:
Thứ nhất, trách nhiệm hình sự đối với các tội phạm công nghệ thông tin
thể hiện chính sách hình sự nghiêm trị, kiên quyết đấu tranh không bỏ lọt tội phạm với loại tội phạm mới hoạt động hết sức tinh vi này Trong số các loại hình phạt, hình phạt phổ biến nhất là hình phạt tù có thời hạn - hình phạt tước quyền tự do của người phạm tội, buộc họ phải cách ly khỏi xã hội trong một thời gian nhất định Đây là những điểm chung về trách nhiệm hình sự đối với tội phạm về công nghệ thông tin trong pháp luật Việt Nam và nhiều nước khác trên thế giới
Thứ hai, đối với những tội phạm về công nghệ thông tin, hình phạt tiền
được áp dụng tương đối phổ biến với tính chất là hình phạt chính và hình phạt
bổ sung Phạt tiền là hình phạt có tính chất trừng phạt về kinh tế, nhằm vào
Trang 32kinh tế của người phạm tội, khi bị Tòa án tuyên phạt hình phạt tiền, người phạm tội phải nộp một khoản tiền nhất định sung công quỹ Nhà nước Hình phạt tiền được áp dụng tương đối phổ biến, bởi lẽ, lợi ích vật chất là loại lợi ích cơ bản mà người phạm tội hướng tới, điển hình là các tội phạm như tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet hoặc thiết bị số thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản Ngoài việc trừng trị bằng cách tước đi quyền tự do, phạt tiền người phạm tội còn là “đánh vào” lợi ích vật chất, động
cơ phạm tội, qua đó cũng đem lại nguồn thu cho ngân sách nhà nước và còn
có tác dụng cảnh báo, răn đe đối với những người khác Hình phạt bổ sung phạt tiền cũng được đặt ra với ý nghĩa như trên Vì vậy, Tòa án có thể phạt bổ sung từ 5 triệu đồng đến 50 triệu đồng Hình phạt bổ sung khác là cấm đảm nhiệm chức vụ, hành nghề công nghệ thông tin cũng cần được áp dụng phổ biến và phù hợp với người phạm tội như một biện pháp phòng ngừa, hạn chế những điều kiện phạm tội sau khi thi hành xong hình phạt chính hoặc trong trường hợp người bị kết án được hưởng án treo
Thứ ba, về miễn trách nhiệm hình sự:
Trong một số trường hợp, miễn trách nhiệm hình sự thường được áp dụng khi người phạm tội tự thú trước khi bị phát giác, khai rõ sự việc, góp phần có hiệu quả vào việc phát hiện và điều tra tội phạm, cố gắng hạn chế đến mức thấp nhất hậu quả của tội phạm, thì cũng có thể được miễn trách nhiệm hình sự Cụ thể là người phạm tội đã chủ động khai báo trước khi bị phát giác, quy định này nhằm động viên họ khai báo, giúp cơ quan có thẩm quyền phát hiện, điều tra và xử lý loại tội phạm thường có khả năng “ẩn” rất cao này trong thực tiễn
Thứ tư, trách nhiệm hình sự đối với các tội phạm về công nghệ thông tin
chỉ mang tính chất cá nhân (thể nhân) Hiện nay, BLHS năm 2015 mặc dù đã chính thức ghi nhận và quy định trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân
Trang 33thương mại, tuy nhiên, phạm vi các tội phạm mà pháp nhân thương mại phải chịu trách nhiệm hình sự chỉ thuộc về 31 tội phạm cụ thể chủ yếu thuộc về 20 các chương tội phạm về trật tự quản lý kinh tế, về môi trường và một số tội phạm khác mà chưa bao gồm các tội phạm về công nghệ thông tin
1.2 Cơ sở của TNHS đối với tội phạm công nghệ thông tin
Cơ sở của trách nhiệm hình sự là một trong những vấn đề phức tạp, quan trọng trong luật hình sự và liên quan mật thiết đến nội dung trách nhiệm hình
sự, bởi lẽ, cơ sở của trách nhiệm hình sự chính là các căn cứ pháp lý để từ đó, các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng đặt ra vấn đề trách nhiệm hình
sự của người phạm tội - người đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội mà BLHS quy định là tội phạm Theo luật hình sự Việt Nam cũng như nhiều nước trên thế giới, chỉ người nào phạm tội được BLHS quy định mới phải chịu trách nhiệm hình sự (Điều 2 BLHS) Quy định này đặt ra 2 vấn đề: Thứ nhất, là chỉ người nào phạm tội mới phải chịu trách nhiệm hình sự Thứ hai là tội phạm đó phải được BLHS quy định Cơ sở của TNHS đối với các tội phạm công nghệ thông tin là cấu thành tội phạm của những tội phạm này được ghi nhận trong BLHS Tội phạm là hành vi mà một người thực hiện thỏa mãn các điều kiện do BLHS quy định về tính nguy hiểm cho xã hội của hành
vi, tuổi, năng lực chịu trách nhiệm hình sự của chủ thể thực hiện hành vi, lỗi của người thực hiện hành vi làm phát sinh trách nhiệm hình sự Các điều kiện này chính là các dấu hiệu pháp lý cần và đủ của mỗi tội phạm được quy định trong BLHS được khoa học luật hình sự gọi là dấu hiệu cấu thành tội phạm Bởi vì, trước hết đó là những dấu hiệu mà BLHS quy định, hai là cần phải có đủ những dấu hiệu đó, thì hành vi mới bị coi là tội phạm, và ba là chỉ cần có đủ những dấu hiệu đó, thì hành vi đó mới coi là tội phạm Như vậy, suy cho cùng, thì cơ sở trách nhiệm hình sự là cấu thành tội phạm Đặc trưng
cơ bản của tội phạm cho phép phân định nó với các vi phạm pháp luật khác là
Trang 34tính chất nguy hiểm cho xã hội của nó Tính nguy hiểm cho xã hội được xác định, trước hết bởi thiệt hại mà hành vi tội phạm gây ra hoặc có khả năng gây
ra cho các quan hệ xã hội mà luật hình sự bảo vệ Nói cách khác, khách thể của tội phạm – các quan hệ xã hội - với giá trị và tầm quan trọng của nó – là yếu tố không thể thiếu được của tội phạm Các quan hệ xã hội khách thể của tội phạm, chỉ có thể bị xâm hại thông qua hành vi cụ thể, bằng hành động hoặc không hành động, nhưng nhất thiết phải là sự biểu hiện bên ngoài thế giới khách quan Hơn nữa, thiệt hại do hành vi gây ra hoặc có khả năng gây ra những thông số biểu hiện hậu quả đã gây ra hoặc có khả năng xảy ra Bởi vậy, cũng không thể có tội phạm nếu không có hành vi và không có hậu quả - những dấu hiệu thuộc về phương diện khách quan của tội phạm Một hành vi chỉ bị coi là nguy hiểm cho xã hội khi nó không phù hợp với lợi ích của Nhà nước và xã hội, khi nó đi ngược lợi ích Nhà nước và xã hội Còn những hành
vi phù hợp với lợi ích của Nhà nước và xã hội, thì ngay cả khi chúng gây ra những thiệt hại nhất định nào đó, về khách quan, các quan hệ xã hội mà luật hình sự bảo vệ, thì cũng không phải là hành vi nguy hiểm cho xã hội (theo quan hệ của giai cấp thống trị) Chẳng hạn, những hành vi được thực hiện trong trường hợp phòng vệ chính đáng, tình thế cấp thiết v v chỉ có thể nói đến tính chất nguy hiểm cho xã hội khi hành vi đó có lỗi, lỗi là phương diện chủ quan của tội phạm Do đó không thể truy cứu trách nhiệm hình sự đối với mọi hành vi nào nếu không xác định được yếu tố có lỗi Cơ sở của trách nhiệm hình sự đối với các tội phạm về công nghệ thông tin được thể hiện dưới các phương diện sau:
(i) Cơ sở khách quan của trách nhiệm hình sự đối với các tội phạm về công nghệ thông tin - đó là việc thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội mà BLHS quy định là tội phạm cụ thể có các hành vi phạm tội như sử dụng máy tính và mạng máy tính với mục đích xâm phạm đến an toàn của hệ thống máy
Trang 35tính và quy trình lưu trữ dữ liệu của hệ thống đó nhằm gây thiệt hại cho người
sử dụng hoặc các hành vi phạm tội sử dụng máy tính hoặc các phương pháp khác có liên quan đến máy tính, mạng máy tính, bao gồm các loại tội phạm như chiếm giữ bất hợp pháp và đe doạ hoặc làm sai lệch thông tin bằng phương pháp sử dụng mạng máy tính
(ii) Cơ sở hình thức của trách nhiệm hình sự đối với các tội phạm về công nghệ thông tin là căn cứ chung, có tính chất bắt buộc và do BLHS quy định mà cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải dựa vào đó để truy cứu trách nhiệm hình sự người đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội xâm phạm đến khách thể bảo vệ của các tội phạm về công nghệ thông tin
(iii) cơ sở pháp lý của trách nhiệm hình sự đối với các tội phạm về công nghệ thông tin là những hành vi nguy hiểm cho xã hội có đầy đủ các dấu hiệu của cấu thành tội phạm cụ thể thuộc các tội phạm công nghệ thông tin được BLHS quy định Khoa học luật hình sự xác định các yếu tố cấu thành tội phạm từ bốn bộ phận: khách thể, mặt khách quan, mặt chủ quan, chủ thể của tội phạm Cấu thành tội phạm về công nghệ thông tin cũng được xem xét từ bốn bộ phận đó như sau:
a, Khách thể của tội phạm
Trên cơ sở khái niệm về tội phạm công nghệ thông tin được nêu ở phần trên, chúng ta có thể chia khách thể của tội phạm này thành 2 loại:
Thứ nhất, tội phạm công nghệ thông tin xâm phạm, làm ảnh hưởng đến
hoạt động bình thường của hệ thống máy tính, mạng máy tính và thiết bị liên quan Sự xâm phạm ở đây được hiểu theo nghĩa rộng, nghĩa là từ các việc làm hỏng hóc, chiếm đoạt, làm sai lệnh thông tin của máy tính, mạng máy tính, các thiết bị liên quan cũng như các thông tin trong hệ thống máy tính và mạng máy tính Các khách thể này rất đa dạng, từ chiếc máy tính đơn nhất, các thiết
bị của mạng máy tính đến các chương trình máy tính, các thông tin chứa
Trang 36đựng trong hệ thống máy tính và hệ thống mạng Đây là nhóm khách thể của
03 tội danh về tin học trong Bộ luật hình sự 1999 của nước ta
Thứ hai, tội phạm công nghệ thông tin sử dụng máy tính và mạng máy
tính như là công cụ để xâm phạm đến lợi ích chính đáng của cá nhân, pháp nhân, tổ chức, ảnh hưởng đến trật tự công cộng Đây là khách thể rất rộng và liên quan đến các tội phạm truyền thống nhưng đã sử dụng các thành tựu của công nghệ thông tin để thực hiện hành vi phạm tội Với sự trợ giúp của khoa học kỹ thuật mới, các tội phạm này có thể gây ra những thiệt hại vô cùng nghiêm trọng về nhiều mặt cho hoạt động bình thường của các cơ quan Nhà nước, các tổ chức và đời sống xã hội không chỉ giới hạn trong phạm vi một quốc gia
b, Mặt khách quan của tội phạm
Các hành vi của tội phạm công nghệ thông tin thường rất đa dạng và phức tạp Các hành vi này cũng phát triển, thay đổi không ngừng cùng với sự phát triển của các công nghệ mới
Hiện nay, theo Bộ luật hình sự 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009 của nước
ta thì có 5 nhóm hành vi chính, đó là:
- Nhóm hành vi tạo ra và lan truyền, phát tán các chương trình vi rút qua mạng máy tính hoặc bằng các phương thức khác Tạo ra các chương trình vi-rút là hành vi sản xuất ra các chương trình vi-rút tin học, lan truyền các chương trình vi-rút là hành vi truyền đi các chương trình vi-rút tin học thông qua hệ thống (mạng) máy tính trong nước hoặc quốc tế (internet) Phát tán các chương trình vi-rút là hành vi truyền các chương trình vi-rút tin học không thông qua hệ thống mạng máy tính mà bằng các sản phẩm phần mềm máy tính (Điều 224)
- Nhóm hành vi vận hành, khai thác và sử dụng mạng máy tính điện tử trái với các quy định của Nhà nước Vận hành mạng máy tính điện tử là hành
Trang 37vi khởi động, truy cập vào hệ thống mạng máy tính điện tử Khai thác mạng máy tính điện tử là hành vi tìm kiếm nhằm rút ra hoặc ghi lại các thông tin cần thiết cho nhu cầu của mình từ các dữ liệu trong mạng máy tính điện tử
Sử dụng mạng máy tính điện tử là hành vi phát huy tính năng, công dụng của mạng máy tính điện tử nhằm khai thác các thông tin có trong các dữ liệu của máy tính (Điều 225)
- Nhóm hành vi sử dụng thông tin trên mạng và trong máy tính hoặc đưa vào mạng máy tính các thông tin trái với các quy định của Nhà nước
Sử dụng trái phép thông tin trong các dữ liệu của máy tính, không được phép của cơ quan Nhà nước hoặc người có thẩm quyền Đưa trái phép vào mạng máy tính các thông tin là hành vi đưa các thông tin vào trong các dữ liệu của máy tính không được phép của các cơ quan Nhà nước hoặc người
có thẩm quyền (Điều 226)
- Nhóm hành vi truy cập bất hợp pháp vào mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet hoặc thiết bị số của người khác Người nào cố ý vượt qua cảnh báo, mã truy cập, tường lửa, sử dụng quyền quản trị của người khác hoặc bằng phương thức khác truy cập bất hợp pháp vào mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet hoặc thiết bị số của người khác chiếm quyền điều khiển; can thiệp vào chức năng hoạt động của thiết bị số; lấy cắp, thay đổi, hủy hoại, làm giả dữ liệu hoặc sử dụng trái phép các dịch vụ (Điều 226a)
- Nhóm hành vi sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet
hoặc thiết bị số thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản như: Sử dụng thông tin
về tài khoản, thẻ ngân hàng của cơ quan, tổ chức, cá nhân để chiếm đoạt hoặc làm giả thẻ ngân hàng nhằm chiếm đoạt tài sản của chủ thẻ hoặc thanh toán hàng hoá, dịch vụ; Truy cập bất hợp pháp vào tài khoản của cơ quan, tổ chức,
cá nhân nhằm chiếm đoạt tài sản; Lừa đảo trong thương mại điện tử, kinh doanh tiền tệ, huy động vốn tín dụng, mua bán và thanh toán cổ phiếu qua
Trang 38mạng nhằm chiếm đoạt tài sản của cơ quan, tổ chức, cá nhân; Hành vi khác
nhằm chiếm đoạt tài sản của cơ quan, tổ chức, cá nhân (Điều 226b)
Thông thường, các hành vi phạm tội của nhóm tội phạm về công nghệ thông tin cần phải gây ra hậu quả thiệt hại nhất định thì mới bị truy cứu trách nhiệm hình sự Điều 224 Bộ luật hình sự 1999 quy định nếu chỉ tạo ra các chương trình vi-rút nhưng không lan truyền hoặc phát tán chúng, không gây
ra hậu quả thiệt hại thì không cấu thành tội phạm như vậy các nhóm tội phạm
về công nghệ thông tin là nhóm tội phạm cấu thành vật chất tức là chỉ những hành vi gây ra hậu quả thiệt hại nhất định thì mới coi là tội phạm
c, Chủ thể của tội phạm
Cũng giống như các tội phạm truyền thống khác, chủ thể của tội phạm công nghệ thông tin là những cá nhân ở độ tuổi có đủ năng lực trách nhiệm hình sự Bộ luật hình sự 1999 nước ta quy định là công dân Việt Nam, người nước ngoài, người không có quốc tịch từ đủ 16 tuổi trở lên có năng lực trách nhiệm hình sự Đối với các tội phạm công nghệ thông tin, các chủ thể này thường là những người có hiểu biết về công nghệ máy tính, công nghệ mạng
và đã lợi dụng những hiểu biết này để thực hiện hành vi phạm tội Tuy nhiên, cũng có trường hợp chủ thể là những người không hiểu biết đầy đủ về các quy định liên quan đến vận hành, khai thác và sử dụng mạng máy tính điện tử dẫn đến những thiệt hại (ví dụ Điều 225 Bộ luật hình sự 1999 về tội vi phạm các quy định về vận hành, khai thác và sử dụng mạng máy tính điện tử) Một vấn
đề nữa đáng lưu ý hiện nay đối với chủ thể của nhóm tội phạm này là tình trạng ngày càng "trẻ hoá" của các tội phạm công nghệ thông tin Với sự phát triển của công nghệ thông tin và các chương trình phần mềm, giới trẻ luôn là thế hệ nhận biết nhanh nhạy những công nghệ mới, cộng với tính cách còn bồng bột, thích thể hiện mình nên rất dễ dẫn đến việc rơi vào con đường phạm tội với những động cơ và mục đích hết sức đơn giản, ngây thơ, chẳng hạn tạo
Trang 39ra và phát tán virus tin học gây hại chỉ để đùa vui, hoặc thâm nhập các trang thông tin chỉ để thể hiện khả năng của bản thân
d, Mặt chủ quan của tội phạm
Đối với các tội phạm về công nghệ thông tin, thông thường được thực hiện do lỗi cố ý Trong 3 tội danh có liên quan đến tội phạm tin học trong Bộ luật hình sự 1999 có một tội danh được thực hiện do lỗi vô ý do cẩu thả hoặc quá tự tin là tội vi phạm các quy định về vận hành, khai thác và sử dụng mạng máy tính điện tử (Điều 225) Tuy nhiên, trong trường hợp lỗi vô ý, thì thường
là những hành vi gây ra hậu quả thiệt hại nghiêm trọng Tội phạm hoàn thành
từ thời điểm xảy ra các thiệt hại Trong trường hợp tuy hành vi phạm chưa gây ra hậu quả nghiêm trọng nhưng trước đó đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm thì hành vi vẫn cấu thành tội phạm
Các yếu tố về động cơ, mục đích phạm tội của nhóm các tội phạm công nghệ thông tin thường không phải là dấu hiệu bắt buộc của loại tội phạm này
mà quan trọng nhất để xác định tội phạm là hành vi phạm tội và hậu quả thiệt hại Sở dĩ như vậy vì chúng ta có thể thấy động cơ, mục đích của nhóm tội về công nghệ thông tin rất đa dạng và đôi khi động cơ, mục đích rất đơn giản nhưng lại gây ra những hậu quả rất nghiêm trọng Do đó, đối với nhóm tội phạm này, chúng ta không thể coi động cơ, mục đích là dấu hiệu bắt buộc mà chỉ nên coi chúng nhưng là những tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ có liên quan mà thôi
Trang 40Chương 2 TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ ĐỐI VỚI CÁC TỘI PHẠM VỀ
CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG BỘ LUẬT HÌNH SỰ
Cùng với sự phát triển về kinh tế của đất nước, sau khi máy tính xuất hiện tại Việt Nam và chúng ta được hòa vào mạng Internet toàn cầu Từ đó đã dẫn đến sự ra đời của những tội phạm công nghệ thông tin Loại tội phạm này
là loại tội phạm mới, chỉ mới phát sinh khi internet được phát triển rộng khắp Chính vì vậy, sau khi nhận thức nguy cơ và hậu quả của tội phạm trong lĩnh vực tin học trên thế giới, sự xuất hiện tội phạm này tại Việt Nam Khi thông qua Bộ luật Hình sự năm 1999 Quốc Hội Việt Nam đã thông qua ba điều luật quy định về tội phạm trong lĩnh vực tin học Ba điều này (Điều 224, 225, 226) được đặt trong Chương XIX - Chương về các tội xâm phạm trật tự công cộng,
an toàn công cộng Điều 224 - tội phát tán vi rút, chương trình tin học có tính năng gây hại cho hoạt động của mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng internet, thiết bị số; Điều 225-Tội cản trở hoặc gây rối hoạt động của mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng internet, thiết bị số; Điều 226 - Tội đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin trên mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet Tuy nhiên, đây mới chỉ là những quy định về một số hành vi trực tiếp tấn công dữ liệu máy tính, xâm hại trật tự an ninh CNTT chứ chưa đề cập tới hành vi sử dụng CNTT như công cụ phạm tội