phá giá tiền tệ và thực tiễn tại việt nam
Trang 1MỤC LỤC
L I M Ờ Ở ĐẦ 2U
I T NG QUAN V PHÁ GIÁ TI N TỔ Ề Ề Ệ 3
1 Khái ni m phá giá ti n tệ ề ệ 3
2 Nguyên nhân c a vi c phá giá ti n tủ ệ ề ệ 4
3 Tác động c a phá giá ti n t ủ ề ệ 4
3.1 Đố ới v i ho t ạ động xu t nh p kh uấ ậ ẩ 4
3.2 Tác động đố ới v i cán cân thanh toán 6
3.3 Đố ới v i quá trình s n xu t ả ấ 8
3.4 Đố ới v i ngân sách Nh nà ướ 9c 3.5 Đố ới v i các v n ấ đề xã h iộ 9
4 i u ki n d n Đ ề ệ ẫ đến phá giá ti n t ề ệ 11
II NH HẢ ƯỞNG C A PHÁ GIÁ TI N T LÊN CÁN CÂN THANH TOÁNỦ Ề Ệ 12
1 i u ki n Marshell – LernerĐ ề ệ 13
2 Hi u ng tuy n Jệ ứ ế 15
3 M t s nhân t nh hộ ố ố ả ưởng đến th i gian tác ờ động lên cán cân thương m i sau khi phá giá bao g m:ạ ồ 17
III TH C TI N PHÁ GIÁ C A M T S QU C GIA TRÊN TH GI I VÀ Ự Ễ Ủ Ộ Ố Ố Ế Ớ BÀI H C KINH NGHI M CHO VI T NAMỌ Ệ Ệ 20
1.Phá giá ti n t Mexico n m 1994ề ệ ở ă 20
1.1.Nguyên nhân phá giá ti n t Mexico n m 1994ề ệ ở ă 20
1.2.Di n bi n phá giá ti n t Mexico n m 1994ễ ế ề ệ ở ă 22
1.3 nh h ng c a phá giá ti n tê 1994 Ả ưở ủ ề đến n n kinh t Mexico.ề ế 24
2 Phá giá ti n t c a Trung Qu cề ệ ủ ố 26
2.1 Nguyên nhân 26
2.2 Di n bi nễ ế 26
2.3 K t qu ế ả đạ đượ 28t c 3.Phá giá ti n t Thái Lan n m 1997ề ệ ở ă 31
3.1 Nguyên nhân phá giá ti n t Thái Lan n m 1997ề ệ ở ă 31
3.2 Di n bi n.ễ ế 34
3.3 Tác động c a cu c phá giá ti n t c a Thái Lan.ủ ộ ề ệ ủ 35
4 B i h c kinh nghi m cho Vi t Namà ọ ệ ệ 36
4.1 Tình hình kinh t c a Vi t Namế ủ ệ 36
4.2 B i h c s d ng chính sách phá giá nh m c i thi n cán cân à ọ ử ụ ằ ả ệ thương m i ạ đố ới v i Vi t Namệ 45
K T LU NẾ Ậ 47
TÀI LI U THAM KH OỆ Ả 49
Trang 2LỜI MỞ ĐẦU
Mỗi nước và khối nước trên thế giới đều có những đồng tiền riêng phảnánh giá trị của nền kinh tế Mối liên hệ kinh tế giữa các quốc gia với nhauthông qua quan hệ đầu tư, buôn bán dẫn đến sự trao đổi đồng tiền của quốcgia này với quốc gia khác Qua thời gian đã hình thành nên giá cả trao đổiđồng tiền giữa các nước hay là tỷ giá hối đoái
Tỷ giá hối đoái đóng vai trò như là một công cụ có hiệu lực, có hiệuquả trong việc tác động đến quan hệ kinh tế đối ngoại của mỗi nước đồng thời
là yếu tố cực kỳ quan trọng đối với chính sách của một quốc gia Đặc biệt, tạithời điểm tài chính toàn cầu đang rơi vào sự khủng hoảng với sự suy giảm củacác nền kinh tế lớn có tác động rất lớn đến tâm lý của các nhà đầu tư cũngnhư sự phát triển kinh tế nói chung Chính sách tỷ giá của một quốc gia càngcần phải linh hoạt để có những bước đi vững chắc làm thay đổi bộ mặt củanền kinh tế
Phá giá tiền tệ là một trong những biện pháp của chính sách thương mạiquốc tế liên quan đến quy định của chính phủ trong chế độ tỷ giá Nó có tácđộng rất lớn đối với nền kinh tế, đặc biệt là đối với cán cân thanh toán củamột quốc gia Việc áp dụng chính sách có hiệu quả cẩn phải phân tích tìnhhình thực tế, dựa trên những điều kiện kinh tế, chính trị phù hợp cả trong vàngoài nước, hạn chế các nguy cơ xấu xảy ra do chính sách này mang lại
Từ khi gia nhập tổ chức thương mại thế giới WTO, Việt Nam trở thànhmột bộ phận không thể thiếu trong quá trình phân công lao động và chuyênmôn hóa của thế giới Là một nước đi sau và có nền kinh tế còn khó khăn đòihỏi Việt Nam phải học hỏi, vận dụng phù hợp kinh nghiệm của các nước đitrước Để hội nhập ngày càng sâu hơn vào sân chơi quốc tế mà không bị lu
mờ, chính phủ nước ta cần phải đưa ra các chính sách hiệu quả, phù hợp vớitình hình Việt Nam
Xuất phát từ những lý do trên, nhóm chúng tôi đã lựa chọn đề tài “Phântích ảnh hưởng của phá giá tiền tệ, thực tiễn và bài học kinh nghiệm cho ViệtNam”
Trang 3I TỔNG QUAN VỀ PHÁ GIÁ TIỀN TỆ
1 Khái niệm phá giá tiền tệ
Nền kinh tế thế giới là tổng thể các mối quan hệ lợi ích của các nền kinh
tế các quốc gia, các tổ chức quốc tế, có mối liên hệ hữu cơ và tác động qua lạilẫn nhau Đó là một thực thể đa dạng, không ngừng vận động và phát triểntheo xu hướng khách quan, ảnh hưởng đến chính sách kinh tế nói chung vàchính sách kinh tế đối ngoại nói riêng
Tỷ giá hối đoái là giá cả của đơn vị tiền tệ này thể hiện bằng một sốlượng đơn vị tiền tệ khác Mỗi một quốc gia khi tham gia quan hệ kinh tếquốc tế đều phải thiết lập mối quan hệ giữa đồng tiền của nước mình với đồngtiền nước khác,từ đó hình thành nên chính sách tỷ giá hối đoái Chính sách tỷgiá hối đoái bao gồm các biện pháp liên quan đến việc hình thành các quan hệsức mua giữa đồng tiền một nước so với sức mua của các ngoại tệ khác,qua
đó giúp điều chỉnh tỷ giá hối đoái nhằm đạt được những mục tiêu cần thiết Phá giá tiền tệ là làm giảm giá của đồng nội tệ so với đồng ngoại tệ, làmcho đồng nội tệ mất giá trị ở một mức đáng kể nào đó Giá trị của mỗi đồngtiền nằm ở sức mua hàng hóa của nó, các đồng tiền cũng là hàng hóa nên mộtđồng tiền càng mua được nhiều hàng hóa càng được con người thích và quýhơn các đơn vị tiền tệ khác Theo quy luật sức mua tương đương, giá cả nộiđịa của một đơn vị hàng hóa nước ngoài sẽ tương đương với giá cả nội địacủa chính đơn vị hàng hóa hoàn toàn giống như thế được sản xuất trong nước.Một loại tiền nào đó có giá trị cao hơn một loại tiền khác là do sức mua của
nó tại thị trường
Khi sức mua của đồng nội tệ giảm sút nghiêm trọng không thể đại diệncho sức mua danh nghĩa của nó và khi trong suốt thời gian dài tỷ giá hối đoáibiến động mạnh, xuất khẩu giảm sút do khả năng cạnh tranh của hàng hóaxuất khẩu trên thị trường thế giới giảm thì lúc này vấn đề xác định lại tỷ giá là
Trang 4trị, xã hội của quốc gia Phá giá tiền tệ là một chính sách kinh tế, tài chính củaNhà nước để tác động đến tỷ giá hối đoái và cán cân thanh toán quốc tế Dovậy, thời điểm và mức độ phá giá như thế nào được Chính phủ các quốc giacân nhắc kỹ, phụ thuộc vào mục đích kinh tế và chính trị của họ.
2 Nguyên nhân của việc phá giá tiền tệ
Nguyên nhân của việc phá giá tiền tệ có thể nói được sau dây:
• Nên tảng vĩ mô yếu kém: liên quan đến việc điều hành kinh tế yếu kémdẫn tới lạm phát cao, mất cân đối cán cân thanh toán (thâm hụt thương mạicao)
• Các dòng vốn nước ngoài kéo vào: Chính sách tiền tệ nới lỏng và việc tự
do hóa tài chính ở Mỹ, châu Âu và Nhật Bản cuối thập niên 1980 đã khiếncho tính thanh khoản toàn cầu trở nền cao quá mức Các nhà đầu tư ở cáctrung tâm tiền tệ nói trên của thế giới tìm cách thay đổi danh mục tài sản củamình bằng cách chuyển vốn đầu tư ra nước ngoài Trong khi đó, các nướcchâu Á lại thực hiện chính sách tự do hóa tài khoản vốn Lãi suất ở các nướcchâu Á cao hơn ở các nước phát triển Chính vì thế, các dòng vốn quốc tế đã ồ
ạt chảy vào các nước châu Á.Ngoài ra, những xúc tiến đầu tư của chính phủ
và những bảo hộ ngầm của chính phủ cho các thể chế tài chính cũng góp phầnlàm các công ty bất chấp mạo hiểm để đi vay ngân hàng trong khi các ngânhàng bắt chấp mạo hiểm để đi vay nước ngoài mà phần lớn là vay nợ ngắnhạn và nợ không tự bảo hiểm rủi ro
• Tấn công đầu cơ và rút vốn đồng loạt: yếu kém về vĩ mô và nghịch lýchính sách tiền tệ tạo điều kiện để xảy ra các cuộc tấn công của nhà đầu cơ
3 Tác động của phá giá tiền tệ
3.1 Đối với hoạt động xuất nhập khẩu
Trong nền kinh tế, sự biến động của tỷ giá có lợi cho xuất khẩu thì sẽ
có hại cho nhập khẩu và ngược lại Tác động tích cực nhất của phá giá tiền tệ
là tăng khả năng cạnh tranh của hàng hóa sản xuất trong nước trên thị trường
Trang 5quốc tế và qua đó tăng xuất khẩu, hạn chế nhập khẩu.
3.1.1 Đối với hoạt động xuất khẩu
Sau khi phá giá, giá cả hàng hóa xuất khẩu tính bằng nội tệ tăng lên,nếu hàng hóa xuất khẩu có chi phí đầu vào lấy ở trong nước không có khănăng xuất khẩu (không phải hàng hoá có tính thương mại quốc tế) thì chi phícận biên không đổi, kích thích tăng xuất khẩu Các nhà xuất khẩu sẽ mở rộngquy mô xuất khẩu và các ngành sản xuất khác cũng chuyển hướng đầu tư vàothị trường hàng hóa xuất khẩu Lợi nhuận của nhà xuất khẩu tăng lên nhờ giátăng và khối lượng xuất khẩu tăng, doanh nghiệp nào càng tăng được khốilượng sản xuất xuất khẩu thì thu được lợi nhuận càng nhiều
Tuy nhiên tác động của phá giá cũng làm chi phí đầu vào của nhiềungành sản xuất hàng xuất khẩu tăng lên Đối với những ngành sử dụng đầuvào có nguyên liệu nhập khẩu thì chi phí đầu vào lập tức tăng lên do giá cảhàng hóa tăng lên Khi tỷ gía tăng làm cho giá cả những hàng hóa có thể xuấtkhẩu nếu bán cho nước ngoài sẽ có giá cao hơn so với giá bán trong nước,điều này làm cho ngành sản xuất có đầu vào là hàng hóa nội địa có khả năngxuất khẩu tăng Trong dài hạn, phá giá làm mặt bằng giá hàng hóa tăng lên kếtquả làm giảm tiền lương thục tế Nếu muốn duy trì mức thu nhập thực tếkhông đổi thì tiền lương danh nghĩa phải tăng, chi phí nhân công trong nềnkinh tế phải được nâng lên Sau khi phá giá thu nhập và chi phí của các doanhnghiệp xuất khẩu đều tăng Nếu giá của hàng hóa xuất khẩu tính bằng ngoại tệtăng nhiều hơn so với chi phí sản xuất thì sau khi phá giá các doanh nghiệpxuất khẩu sẽ có lợi nhuận Ngược lại nếu giá của hàng hóa xuất khẩu tínhbằng ngoại tệ giảm nhiều so với chi phí sản xuất các doanh nghiệp xuất khẩu
sẽ rơi vào tình trạng thua lỗ
3.1.2 Đối với hoạt động nhập khẩu
Nhìn chung nhà nhập khẩu sẽ bị thiệt hại khi nội tệ phá giá, tuy nhiên
Trang 6trường Giá hàng hóa tính bằng ngoại tệ không đổi nhưng do đồng nội tệ phágiá cho nên giá cả tính bằng nội tệ sẽ tăng lên Giá tăng sẽ làm cầu hàng nhậpkhẩu giảm Đường cầu thường co giãn nên tỷ lệ giảm khối lượng nhập khẩunhanh hơn tỷ lệ tăng giá tức là nếu giá nhập khẩu tăng 1% thì khối lượngnhập khẩu giảm nhiều hơn 1% Cầu co giãn sẽ làm cho tổng chi phí và tổngthu nhập của nhà nhập khẩu giảm xuống, và thường thì lợi nhuận thu đượcsau khi phá giá sẽ giảm Lợi nhuận của nhà nhập khẩu giảm sẽ hạn chế nhậpkhẩu những mặt hàng không cần thiết, tìm kiếm các mặt hàng trong nước cókhả năng thay thế.
3.2 Tác động đối với cán cân thanh toán
Khi phá giá nội tệ sẽ tạo ra hiệu ứng tăng khối lượng xuất khẩu và hạnchế khối lượng nhập khẩu, song xét về kim ngạch xuất nhập khẩu không hẳnnhư vậy Phá giá gây ra hiệu ứng giá cả và hiệu ứng khối lượng Hiệu ứng giá
cả là xuất khẩu trở nên rẻ hơn tính bằng ngoại tệ và nhập khẩu trở nên đắt hơnkhi tính bằng nội tệ, cán cân vãng lai trở nên xấu hơn Nhưng đồng thời, khốilượng xuất khẩu tăng, khối lượng nhập khẩu bị hạn chế gây ra hiệu ứng khốilượng, cải thiện cán cân vãng lai Như vậy cán cân vãng lai có được cải thiệnhay không phụ thuộc vào tính trội của hai hiệu ứng trên.Khi hiệu ứng giá cả
có tính trội thì khối lượng xuất khẩu tăng và khối lượng nhập khẩu giảmkhông đủ bù đắp cho giá trị xuất khẩu tính bằng ngoại tệ và tăng giá trị nhậpkhẩu tính bằng nội tệ Trường hợp hai hiệu ứng trên trung hoà, điều này cónghĩa là khối lượng xuất khẩu tăng và khối lượng nhập khẩu giảm vừa đủ để
bù đắp cho giảm giá trị xuất khẩu và tăng giá trị nhập khẩu,kết quả là trạngthái cân bằng của cán cân vãng lai được duy trì Ngược lại, hiệu ứng khốilượng có tính trội thì sau khi phá giá, khối lượng xuất khẩu tăng và lượngnhập khẩu giảm thừa đủ để bù đắp cho hiệu ứng giá cả, do đó cán cân vãng laiđược cải thiện
Khi đồng tiền giảm giá, dân chúng cần phải mất một thời gian nhất định
Trang 7để điều chỉnh ưu tiên hàng hóa thay thế, cầu trong ngắn hạn có độ co giãnthấp hơn so với cầu trong dài hạn Giá hàng hóa nhập khẩu sẽ tăng sau khiphá giá nhưng người tiêu dùng trong nước vẫn tiếp tục mua hàng nhập khẩu
vì người tiêu dùng trong nước chưa điều chỉnh ngay việc ưu tiên mua hàngnội thay thế Các nhà sản xuất trong nước cũng cần phải có thời gian nhấtđịnh mới sản xuất được hàng thay thế nhập khẩu Tương tự như vậy, đối vớihàng xuất khẩu chỉ thực sự tăng khi nhà sản xuất mở rộng sản xuất và ngườitiêu dùng nước ngoài chuyển sang tiêu dùng hàng xuất khẩu của nước cóđồng tiền giảm giá Như vậy, trong ngắn hạn có thể cán cân thanh toán trởnên xấu đi do giá trị nhập khẩu tăng, trong khi giá trị xuất khẩu tăng không đủ
bù đắp cho tăng nhập khẩu Nhưng sau một thời gian giá trị nhập khẩu giảmdần và giá trị xuất khẩu tăng dần cán cân thương mại được cải thiện dần vàtăng lên Chẳng hạn, ở Việt Nam trong 2 năm 1997, 1998 khi đồng Việt Nammất giá mạnh thì cán cân vãng lai vẫn ở mức thâm hụt cao Cán cân vãng lạichỉ thay đổi vào hai năm 1999 và 2000
Tốc độ giảm giá của đồng Việt Nam và mức thâm hụt cán cân vãng lai
Tốc độ giảm giá Cán cân Cán cân vãng lai Năm của đồng Việt Nam vãng lai năm sau so với
Trang 8nước tăng giúp cân bằng cung cầu ngoại tệ trên thị trường, cán cân vốn đượccải thiện Giá cả trong nước tính bằng ngoại tệ trở nên rẻ hơn so với hàng hóacùng loại được tiêu thụ ở nước ngoài Vì vậy hạn chế được người dân du lịch
ra nước ngoài mà thu hút du lịch vào trong nước, cán cân dịch vụ tăng lên.Đối với các quốc gia hàng nhập khẩu đóng vai trò quan trọng thì phá giálàm tăng giá hàng nhập khẩu dẫn đến chi phí sản xuất và mặt bằng giá chungtăng, làm giảm sản lượng mà doanh nghiệp muốn sản xuất Nếu có sự thay thếgiữa hàng nhập khẩu và hàng hóa sản xuất trong nước thì tác động làm giảmsản lượng của phá giá không đáng kể Nếu không, phá giá có thể dẫn đến suythoái và lạm phát, cán cân thanh toán không được cải thiện
3.3 Đối với quá trình sản xuất
Hậu quả của phá giá là ngay lập tức tăng giá nội địa của hàng nhập khẩu,chi phí đối với hàng tiêu dùng nhập khẩu cũng như nguyên vật liệu, máy mócthiết bị tăng lên Người tiêu dùng trong nước sẽ hạn chế dùng hàng nhập khẩu
và tìm kiếm hàng nội địa thay thế Nhập khẩu giảm sẽ khuyến khích sử dụngnhững nguyên vật liệu sẵn có trong nước, các ngành nghề sản xuất hàng hóathay thế nhập khẩu được chú trọng đầu tư phát triển và được người tiêu dùngbiết đến nhiều hơn Đối với một số ngành phụ thuộc nhiều vào nhập khẩu thì
do chi phí nhập khẩu tăng lên kéo theo chi phí sản xuất tăng, nhu cầu đầu tưsản xuất giảm Chi phí sản xuất và mặt bằng giá chung tăng làm giảm sảnlượng mà doanh nghiệp muốn sản xuất Một số doanh nghiệp do chưa phảnứng kịp để đổi mới sản xuẩt nguồn thu lợi nhuận không đủ để bù đắp phầntăng lên, nguy cơ phá sản tăng cao
Phá giá có tác động tích cực đến việc bảo đảm khả năng cạnh tranhhàng hóa của nước đó trên thị trường quốc tế, góp phần giảm bớt những khókhăn cho người làm hàng xuất khẩu Những doanh nghiệp sản xuất và kinhdoanh hàng xuất khẩu có khả năng kiếm lợi cao hơn trên thị trường quốc tế,kích thích họ đầu tư nâng cao chất lượng cũng như số lượng sản phẩm để xuất
Trang 9khẩu Mức độ đầu tư phụ thuộc vào khả năng hấp thụ của thị trường và vị thếcủa hàng hóa nước đó đối với người tiêu dùng Quá trình sản xuất hàng xuấtkhẩu sẽ phát triển mạnh đối với những mặt hàng xuất khẩu chủ chốt, đã chiếmlĩnh được thị trường
3.4 Đối với ngân sách Nhà nước
Phá giá tác động đến thu nhập và chi tiêu của ngân sách nhà nước Vềthu ngân sách khi giá hàng hóa xuất nhập khẩu tăng lên tính theo đồng nội tệthì nguồn thu thuế xuất nhập khẩu cũng tăng lên Mức tác động tuỳ thuộc vàoquy mô của thuế, độ co giãn của thuế xuất nhập khẩu trong tổng nguồn thu vềthuế, độ co giãn của thuế và hàng xuất nhập khẩu đối với giá Nguồn viện trợnước ngoài cũng tăng theo tỷ lệ phá giá Về chi ngân sách, chi phí nội tệ đểtrả lãi vay nợ cũng tăng lên bằng với tỷ lệ phá giá Chính phủ phải chi mộtkhoản tiền lớn hơn để mua các hàng hóa của nước ngoài như dầu mỏ, máymóc, thiết bị quân sự…
Nếu Chính phủ vay nợ nước ngoài nhiều thì khi phá giá mạnh lượng nợnước ngoài tính bằng nội tệ tăng đột biến Ngân sách Nhà nước phải dành mộtphần đáng kể từ nguồn thu để cho trả nợ và nguy cơ phải vay nợ mới để bùđắp thâm hụt Khi mất giá đồng tiền các nước có tăng thu ngân sách nhưngtốc độ tăng thu thấp hơn tốc độ tăng chi Đặc biệt những nước có nguồn chingoại tệ nhiều và nguồn thu ngoại tệ ít, thâm hụt ngân sách không được cảithiện mà cả nợ nước ngoài sẽ tăng lên
3.5 Đối với các vấn đề xã hội
Hạn chế cơ bản của phá giá là làm giá cả tăng lên ảnh hưởng đến tất cảcác chủ thế kinh tế Mức độ tăng giá tỷ lệ nghịch với tỷ trọng hàng nhập khẩutrong chi tiêu nội địa Mức giá cao còn bị tác động do người xuất khẩu áp đặtgiá đối với người tiêu dùng trong nước bằng mức giá mà họ xuất khẩu Nếutiền lương được điều chỉnh theo lạm phát quá khứ và chính sách tiền tệ thích
Trang 10khi lạm phát lại tăng nhanh, ảnh hưởng tiêu cực đến tiết kiệm, đầu tư, phânphối thu nhập và ổn định chính trị Tác động của lạm phát do phá giá đối vớinền kinh tế có thể được giảm bớt bằng cách thắt chặt tín dụng và giảm chingân sách.
Tiền lương thực tế trong ngắn hạn và tài sản thực tế giảm nhất là tài sảntính bằng đồng nội tệ Tác động lên tài sản tính bằng ngoại tệ sẽ nhỏ hơn tínhbằng đồng nội tệ Thu nhập của người dân và doanh nghiệp ít đi, trong khigiá cả tăng nhanh làm mức tiêu dùng nội địa giảm, đời sống nhân dân gặpnhiều khó khăn
Thất nghiệp giảm nhờ những ngành sản xuất hàng xuất khẩu sử dụngnguồn lực trong nước phát triển Đối với những mặt hàng sử dụng nhiều laođộng thì cơ hội tăng thêm việc lớn, thất nghiệp giảm càng cao Đối với nhữngnền kinh tế non yếu, phá giá làm cho nền kinh tế bị xáo trộn không ít trongngắn hạn, đời sống nhân dân bị giảm sút, thất nghiệp tăng, kéo theo sự bấtbình trong dân chúng tăng lên, niềm tin vào Chính phủ giảm, làm mất ổn định
về chính trị và xã hội Lúc này cần có nhiều biện pháp đồng bộ tháo gỡ nhữngkhó khăn này Thực tế trong những năm khủng hoảng kinh tế ở các nướcĐông Nam Á (1997- 1998), khi đồng tiền mất giá mạnh nhiều doanh nghiệpphá sản, nhu cầu về lao động giảm đáng kể: tại Thái Lan tình trạng thấtnghiệp tăng khoảng 50% lên đến 1,5 triệu người, tại Indonesia có thêm 10triệu người thất nghiệp Bên cạnh thất nghiệp là tệ nạn xã hội, tình hình chínhtrị bất ổn, nhiều cuộc biểu tình xảy ra, bạo động tăng lên, bộ máy cai trị thayđổi, nhiều nhà lãnh đạo phải từ chức…
Một cuộc phá giá muốn thành công thì nền kinh tế phải có một nănglực sản xuất nhất định Tỷ lệ hàng hóa sản xuất trong nước đạt tiêu chuẩnthương mại quốc tế phải cao Khi phá giá người tiêu dùng sẽ hạn chế dùnghàng nhập khẩu mà tăng cường sùng hàng nội địa bởi vì giá cả của hàng nộiđịa rẻ hơn và có khả năng thay thế cho hàng nhập Đồng thời khi hàng trong
Trang 11nước đạt được tiêu chuẩn quốc tế thì khả năng xuất khẩu cao, lợi nhuận thuđược lớn kích thích nền sản xuất phát triển, tăng thu nhập quốc dân, tạo thêmcông ăn việc làm Thị trường tài chính cũng phải linh hoạt, cần dỡ bỏ nhữngrào cản liên quan đến chu chuyển vốn để đáp ứng được nhu cầu tăng vốn chongành xuất khẩu kịp thời và đầy đủ Thị trường lao động cũng phải linh hoạt
để sau khi phá giá lao động mới có thể nhanh chóng chuyển từ những ngànhsản xuất có năng suất lao động thấp sang các ngành sản xuất hàng nhập khẩu
4 Điều kiện dẫn đến phá giá tiền tệ
Để thực hiện chính sách phá giá đồng nội tệ, phá giá phải được xem xét
và cân nhắc một cách kỹ lưỡng các mặt lợi và hại dựa trên tất cả các khíacạnh của nền kinh tế; phải đảm bảo nền kinh tế đã có đủ các điều kiện để cóthể phát huy tốt mặt tích cực và hạn chế được những mặt tiêu cực của việcphá giá Thêm vào đó, mức độ phá giá là bao nhiêu cũng phải được cân nhắccẩn thận, dựa trên tình hình cụ thể
Áp dụng phá giá ở quốc gia có ngành sản xuất sử dụng nguyên liệu trong nước chiếm ưu thế: Một số lĩnh vực sản xuất tại một quốc gia, cần
thiết phải nhập nguyên liệu thô hoặc sản phẩm sơ chế làm đầu vào cho sảnxuất xuất khẩu Trong trường hợp này, phá giá tiền tệ làm tăng giá thành sảnxuất hàng xuất khẩu, và làm hạn chế cơ hội có giá cả cạnh tranh hơn so vớinhững hàng xuất khẩu mà đầu vào chỉ bao gồm hàng hóa trong nước Do đóphá giá tiền tệ đặc biệt thuận lợi cho các ngành sản xuất mà nguyên liệu đầuvào là các hàng hóa nội địa – ví dụ khoáng sản và nông nghiệp, khi áp dụngphá giá tiền tệ cần xem xét ở nền kinh tế mà ngành SX dung nguyên liệutrong nước chiếm ưu thế
Các sản phẩm thiết yếu cần được hỗ trợ về giá cho người tiêu dùng:
Các nước đang phát triển đặc biệt phụ thuộc vào một số sản phẩm nhập khẩu,đầu tư, năng lượng và sản phẩm y tế Phá giá tiền tệ làm giá thành các sảnphẩm này tương đối đắt đỏ và có thể có tác động tiêu cực đến tăng trưởng và
Trang 12đời sống nhân dân, và những ngành này khi phá giá tiền tệ cần được hỗ trợ vềthuế hay chính sách giá.
Kiểm soát chính sách thuế và chi tiêu chính phủ: Một số nước nghèo
luôn ở trong tình trạng vay nợ nước ngoài nhiều Việc phá giá danh nghĩađồng tiền nội địa làm tăng nợ nước ngoài tính bằng đồng nội địa Điều này đặt
ra nhiều vấn đề cho ngân sách nhà nước, do phải trả lãi, và các khoản trả gópnước ngoài cao do đồng ngoại tệ tăng giá Trong những trường hợp này, cầnthay đổi thuế và chi tiêu chính phủ Các công ty tư nhân có nợ nước ngoàicũng có thể bị ảnh hưởng lớn đặc biệt nếu sản phẩm của các công ty nàyhướng vào thị trường nội địa
Vấn đề cơ cấu chính sách: Khi có tác động của những chính sách như
trợ giá, kiểm soát giá hoặc hạn ngạch xuất khẩu, sẽ làm cản trở sự cân bằngcác nhân tố bên ngoài theo qui luật kinh tế Những vấn đề này cần được xử lýngay nếu không phá giá tiền tệ sẽ không có ý nghĩa
Phá giá tiền tệ không chỉ tác động đến những vấn đề kinh tế mà còn ảnhhưởng đến những vấn đề mang tính chính trị, xã hội Vì thế, để thực hiệnchính sách phá giá đồng nội tệ, các nước đều phải xem xét và cân nhắc mộtcách kỹ lưỡng các mặt lợi và hại của biện pháp này dựa trên tất cả các khíacạnh của nền kinh tế
Phá giá tiền tệ phải có lộ trình: Để tránh việc phá giá sẽ dẫn đến lạm
phát tăng cao và từ đó dẫn đến bất ổn định vĩ mô, đi kèm với phá giá cần phải
có một sự phối hợp chặt chẽ giữa các chính sách kinh tế vĩ mô mà trong đóquan trọng nhất là sự phối hợp giữa chính sách tiền tệ thắt chặt và chính sáchtài khóa với hiệu quả đầu tư cao Thêm nữa, có lẽ cần có một quỹ dự trữ ngoạihối đủ mạnh để can thiệp trong thời gian đầu sau khi tiến hành phá giá
II ẢNH HƯỞNG CỦA PHÁ GIÁ TIỀN TỆ LÊN CÁN CÂN THANH TOÁN
Như đã nói ở trên, phá giá nội tệ chỉ ảnh hưởng tới cán cân thương mại
và cán cân dịch vụ Chính vì vậy, khi phân tích ảnh hưởng của phá giá nội tệ
Trang 13lên cán cân thanh toán bài nghiên cứu chỉ nói đến cán cân vãng lai trong đókhông bao gồm cán cân thu nhập và chuyển giao vãng lai.
1 Điều kiện Marshell – Lerner
Thông thường có 2 cách tiếp cận để nghiên cứu vấn đề này Đó là phương pháp tiếp cận hệ số co dãn và phương pháp tiếp cận chi tiêu Ở đây chúng tôi sử dụng phương pháp tiếp cận hệ số co dãn - Điều kiện Marshall – Lerner để phân tích
Trước hết ,cần thấy rằng cán cân thương mại được biểu thị bằng giá trịhàng hóa xuất khẩu và nhập khẩu.Nếu giá trị hàng hóa xuất khẩu lớn hơn giátrị nhập khẩu thì cán cân thương mại thặng dư và ngược lại
Cán cân thương mại tính bằng nội tệ:
Trang 14-Thay hệ số co gĩan nx = , nm =
dTB/dE = M(nx + nm-1)
-Giả sử ban đầu cán cân thương mại cân bằng: TB = X – EM = 0
=>dTB/dE = M(nx - nm - 1) (1)
Điều kiện Marshall-Lerner phát biểu rằng: nếu trạng thái ban đầu CCTM
cân bằng, khi phá giá nội tệ làm cho:
• Cải thiện CCTM: để cho việc phá giá tiền tệ có tác động tích cực tới
cán cân thanh toán, thì giá trị tuyệt đối của tổng hai độ co dãn theo giá cả của
xuất khẩu và độ co dãn theo giá cả của nhập khẩu phải lớn hơn 1 (nx+nm)>1
Phá giá dẫn tới giảm giá hàng xuất khẩu định danh bằng ngoại tệ, do đónhu cầu đối với hàng xuất khẩu (ngoại nhu) tăng lên Đồng thời, giá hàngnhập khẩu định danh bằng nội tệ trở nên cao hơn, làm giảm nhu cầu đối vớihàng nhập khẩu
Hiệu quả ròng của phá giá đối với cán cân thanh toán tùy thuộc vào các độ
co dãn theo giá Nếu hàng xuất khẩu co dãn theo giá, thì tỷ lệ tăng lượng cầu
về hàng hóa sẽ lớn hơn tỷ lệ giảm giá; do đó, kim ngạch xuất khẩu sẽ tăng.Tương tự, nếu hàng nhập khẩu co dãn theo giá, thì chi cho nhập khẩu hànghóa sẽ giảm Cả hai điều này đều góp phần cải thiện cán cân thanh toán
Nghiên cứu thực nghiệm cho thấy, hàng hóa thường không co dãn theogiá cả trong ngắn hạn, bởi vì thói quen tiêu dùng của người ta không thểthay đổi dễ dàng Do đó, điều kiện Marshall-Lerner không được đáp ứng,dẫn tới việc phá giá tiền tệ chỉ làm cho cán cân thanh toán trong ngắn hạnxấu đi Trong dài hạn, khi người tiêu dùng đã điều chỉnh thói quen tiêudùng của mình theo giá mới, cán cân thanh toán mới được cải thiện
• Thâm hụt CCTM khi : nx+nm<1
• CCTM không thay đổi khi : nx+nm=1
Phá giá tạo ra 2 hiệu ứng: hiệu ứng giá cả và hiệu ứng khối lượng
Trang 15• Hiệu ứng giá cả: ( xuất rẻ, nhập đắt) là nhân tố làm cho cán cân
vãng lai xấu đi
• Hiệu ứng khối lượng: (tăng khối lượng xuất khẩu, giảm khốilượng nhập khẩu) là nhân tố góp phần cải thiện CCVL
Tình trạng cán cân vãng lai sau khi phá giá sẽ phụ thuộc vào tính trội củahiệu ứng khối lượng hay hiệu ứng giá cả Cụ thể là:
• Đối với cán cân thương mại tính bằng VND:
- Hiệu ứng khối lượng: giống như đối với TB bằng VND
- Hiệu ứng giá cả: phá giá, tức làm E tăng làm cho giá hàng hóa tính bằng ngoại tệ giảm, tức E/P giảm làm TB giảm
2 Hiệu ứng tuyến J
Như đã phân tích ở trên, cán cân thương mại được cải thiện hay xấu điphụ thuộc vào tính trội của hiệu ứng giá cả hay hiệu ứng khối lượng Nhiềunghiên cứu đã chỉ ra rằng sau thời gian 2 đến 3 năm, phá giá sẽ cải thiện đượccán cân thanh toán Tuy nhiên, phá giá thường không tránh khỏi hiệu ứngtuyến J: trong ngắn hạn, cán cân vãng lai thường xấu đi, sau đó dần cải thiệntheo thời gian Do trong ngắn hạn khối lượng xuất nhập khẩu không co dãn,
do đó chỉ có hiệu ứng giá cả tác động ngay sau khi phá giá và ảnh hưởng xấu
Trang 16đến cán cân vãng lai Trong dài hạn khối lượng xuất khẩu và nhập khẩu bắtđầu co dãn, trở nên trội hơn hiệu ứng giá cả, cải thiện được cán cân vãng lai.
Nguyên nhân dẫn đến hiệu ứng tuyến J:
+ Ngoài ra, trong ngắn hạn, cầu hàng nhập khẩu không nhanh chóng
giảm còn do tâm lý người tiêu dùng trong nước Khi phá giá, giá hàng nhập
khẩu tăng lên, tuy nhiên, người tiêu dùng có thể lo ngại về chất lượng hàngnội chưa có hàng thay thế xứng đáng hàng nhập làm cho cầu hàng nhập khẩu
Trang 17chưa thể giảm ngay Do đó, số lượng hàng xuất khẩu trong ngắn hạn khôngtăng lên nhanh chóng và số lượng hàng nhập cũng không giảm mạnh
+ Đối với nước ngoài, tuy giá xuất khẩu của Việt Nam rẻ hơn songkhông vì thế mà người nước ngoài chuyển ngay sang dùng hàng Việt Nam vì
họ cần có một thời gian để tìm hiểu và an tâm mua hàng Việt Nam
+ Xuất hiện sự cạnh tranh từ các nhà kinh doanh nước ngoài, họ có thể
hạ giá hàng hóa xuất khẩu để tăng tính cạnh tranh, nhằm duy trì thị phần củamình ở nước có đồng tiền phá giá, làm cho nhu cầu nhập khẩu ở nước cóđồng tiền giảm chậm Hay hạ giá hàng hóa bán trên thị trường trong nước đểcạnh tranh với hàng nhập rẻ hơn từ nước có đồng tiền mất giá, làm lượng xuấtkhẩu của nước có đồng tiền phá giá tăng chậm
Vì vậy, trong ngắn hạn hiệu ứng giá cả thường có tính trội hơn hiệu ứng số lượng làm cho cán cân thương mại xấu đi.
- Trong dài hạn, giá hàng nội địa giảm đã kích thích sản xuất trongnước và người tiêu dùng trong nước cũng đủ thời gian tiếp cận và so sánhchất lượng hàng trong nước với hàng nhập Mặt khác, trong dài hạn, doanhnghiệp có thời gian tập hợp đủ các nguồn lực để tăng khối lượng sản xuất.Lúc này sản lượng bắt đầu co giãn, hiệu ứng số lượng có tính trội hơn hiệuứng giá cả làm cán cân thương mại được cải thiện
3 Một số nhân tố ảnh hưởng đến thời gian tác động lên cán cân thương
mại sau khi phá giá bao gồm:
- Năng lực sản xuất hàng hóa thay thế nhập khẩu: Đối với các nền kinh
tế đang phát triển (Việt Nam thuộc nhóm nước này), có một số hàng hóa cácnền kinh tế này không thể sản xuất được hay có sản xuất được đi nữa thì chấtlượng không tốt bằng hoặc giá cả có thể cao hơn Vì vậy, mặc dù giá nhậpkhẩu có đắt hơn, người tiêu dùng cũng không thể lựa chọn hàng trong nước.Điều này làm kéo dài thời gian của hiệu ứng giá cả
Trang 18- Tỷ trọng hàng hóa đủ tiêu chuẩn xuất khẩu: Đối với các nước đangphát triển, yêu cầu về chuẩn hàng hóa tham gia thương mại quốc tế cao, chonên một sự phá giá tiền tệ làm cho khối lượng xuất khẩu tăng chậm hơn Điềunày làm cho hiệu ứng khối lượng ít có tác động đến cán cân thương mại hơn ởcác nước đang phát triển Vì vậy, tác động cải thiện cán cân thương mại củaphá giá ở các nước phát triển thường mạnh hơn ở các nước đang phát triển.
- Tỷ trọng hàng nhập khẩu trong giá thành hàng sản xuất trong nước:Nếu tỷ trọng này cao, giá thành sản xuất của hàng hóa trong nước sẽ tăng lênkhi hàng nhập khẩu tăng giá Điều này làm triệt tiêu lợi thế giá rẻ của hàngxuất khẩu khi phá giá Cho nên, phá giá tiền tệ chưa hẳn đã làm tăng khốilượng hàng xuất khẩu
- Mức độ linh hoạt của tiền lương: Động thái phá giá tiền tệ thường làmchỉ số giá hàng tiêu dùng tăng lên Nếu tiền lương linh hoạt, nó sẽ tăng theochỉ số giá Điều này làm tăng chi phí sản xuất, từ đó làm cho giá hàng trongnước giảm bớt lợi thế có được từ phá giá tiền tệ
- Tâm lý người tiêu dùng và thương hiệu quốc gia của hàng hóa trongnước: Nếu người tiêu dùng trong nước có tâm lý sùng hàng ngoại, thì một sựđắt lên của hàng nhập và sự rẻ đi của hàng trong nước có tác động đến hành vitiêu dùng của họ, họ sẽ tiếp tục sử dụng hàng nhập mặc dù giá có đắt hơn.Tiếp theo, mức độ gia tăng số lượng hàng xuất khẩu phụ thuộc vào sự tintưởng và ưa chuộng hàng hóa xuất khẩu của người tiêu dùng nước ngoài
Tóm lại, phá giá nội tệ làm cho khối lượng xuất khẩu tăng và khốilượng nhập khẩu giảm, nhưng không vì thế mà cán cân thương mại được cảithiện Trong ngắn hạn, hiệu ứng giá cả có tính trội hơn so với hiệu ứng khốilượng làm cho cán cân thương mại bị xấu đi; trong dài hạn, hiệu ứng khốilượng có tính trội hơn so với hiệu ứng giá cả nên cán cán thương mại được cảithiện Hơn nữa, phá giá nội tệ dễ thành công với các nước công nghiệp pháttriển, nhưng lại không chắc chắn đối với các nước đang phát triển Chính vì
Trang 19vậy, đối với một nước đang phát triển, trước khi chọn giải pháp phá giá cầnthiết phải tạo được các điều kiện tiền đề để có thể phản ứng tích cực vớinhững lợi thế mà phá giá đem lại, có như vậy cán cân thương mại cũng nhưcán cân thanh toán được cải thiện trong dài hạn.
Trang 20III THỰC TIỄN PHÁ GIÁ CỦA MỘT SỐ QUỐC GIA TRÊN THẾ GIỚI VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM
1.Phá giá tiền tệ ở Mexico năm 1994
1.1.Nguyên nhân phá giá tiền tệ ở Mexico năm 1994
1.1.1 Nguyên nhân kinh tế
- Có sự sai lầm và chậm trễ trong việc điều hành chính sách tỷ giáVào đầu những năm 1990, cuộc cải cách nền kinh tế sâu rộng củaMexico đã giúp nền kinh tế nước này vượt qua sự trì trệ và bất ổn định đãkéo dài suốt những năm 1980 mà điển hình là cuộc khủng hoảng nợ nướcngoài của Mexico vào năm 1982 Ngay từ khi bắt đầu tiến trình cải cách kinh
tế, giải quyết vấn đề lạm phát luôn là một trọng điểm của các nhà hoạch địnhchính sách Cụ thể là giá trị đồng nội tệ đều bị gắn kết một cách cứng nhắcvào đồng USD, bị định giá quá cao và kéo dài Chính phủ coi đó như là biểuhiện và sự cần thiết để ổn định và phát triển kinh tế cũng như để khuyến khíchđầu tư và tạo điều kiện cho vốn nước ngoài đổ vào trong nước Đồng pêsôMêxico được Chính phủ thường xuyên can thiệp nâng giá suốt từ năm 1987,khiến tỷ giá danh nghĩa của nó chỉ trên 3 Pêso/USD thay vì thực chất phải là 9pêsô/USD
Với chính sách tỷ giá trên đã làm giảm sức cạnh tranh hàng xuất khẩucủa mỗi nước, giảm nguồn thu ngoại tệ do xuất khẩu mang lại cũng như làmtiêu hao nhanh chóng nguồn dự trữ ngoại tệ quốc gia, do những cố gắng bánUSD ra để giữ giá đồng bản tệ, chính nó đã tạo điều kiện và làm tăng tác hạicủa hoạt động đầu cơ tài chính trong nước
-Cơ cấu nền tài chính quốc gia không lành mạnh do thiếu sự định hướng,kiểm soát và điều chỉnh đúng đắn kịp thời, biểu hiện ở chỗ thâm hụt về tàikhoản vãng lai cao, mất khả năng thanh toán các khoản nợ, đầu tư kém hiệuquả, tăng tiêu dùng xa xỉ…
Trang 21Sự lên giá của đồng Peso, kết hợp chính sách tự do hóa thương mại đơnphương đã khiến nhập khẩu của nước này tăng mạnh và nhanh chóng vượtqua xuất khẩu Thâm hụt cán cân thương mại ngày càng tăng diễn ra đồngthời với sự bùng nổ đầu tư từ nước ngoài vào những năm đầu của thập kỷ 90.
Thâm hụt về tài khoản vãng lai lớn tới 8% GDP và chịu sức ép nặng nềcủa gánh nặng nợ nần, trong đó chủ yếu là nợ ngắn hạn Từ đầu năm 1991đến tháng 12/1994 có đến 90 tỷ USD vốn ngắn hạn đổ vào Mêhicô, trong đóhơn 50% là bằng con đường phát hành tín phiếu kho bạc và trái phiếu chínhphủ Đến cuối năm 1993, nợ nước ngoài của Mêhicô là 140 tỷ USD bằng 39%GDP, tương đương 294% thu nhập xuất khẩu và gấp nhiều lần dự trữ ít ỏi củanước này
-Tình trạng đầu tư không hiệu quả như chi cho bảo vệ cá nhân và an ninhquốc gia, chi cho bất động sản, khu vực kinh tế nhà nước, chiếm 18% GDP và
tỷ trọng những khoản nợ khó đòi trong nước rất cao, làm mất khả năng thanhtoán toàn bộ nền kinh tế
- Sau vụ ám sát vào tháng 3, Mexico chứng kiến sự sụt giảm của dòng
Trang 22phải tài trợ cho thâm hụt tài khoản vãng lai bằng cách sử dụng dự trữ ngoạihối Chỉ đến cuối tháng 3, dự trữ ngoại hối của Mexico giảm từ 26 tỷ USDxuống còn 18 tỷ USD Để ổn định sự mất cân bằng ngày càng tăng của cáncân thanh toán, chỉnh phủ Mexico đã quyết định tăng lãi suất mhằm bảo vệ tỷgiá hối đoái làm biện pháp giải quyết tạm thời Sự kiện chính trị này diễn racùng lúc với quyết định tăng lãi suất của Cục dự trữ liên bang Mỹ vào tháng
2 Nhìn chung, việc tăng lãi suất của Mỹ khiến các dòng vốn chảy ra khỏi cácthị trường mới nổi Thực tế này sẽ làm tỷ lệ rủi ro của Mexico tăng cao hơnnữa
1.2.Diễn biến phá giá tiền tệ ở Mexico năm 1994
- Trong 2 tháng đầu năm 1994, các nguồn vốn nước ngoài vẫn tiếptục đổ vào Mexico
- Tháng 3, sau sự kiện ứng cử viên tổng thống Colosio bị ám sát,các nhà đầu tư nước ngoài lo lắng về tình hình tài chính ở Mexico dẫn đếngiảm nhu cầu về chứng khoán của Mexico Peso chịu sức ép mất giá và chínhphủ đã tung khoảng 10 tỷ dollar dự trữ ngoại hối nhà nước ra để bảo vệ tỷ giádanh nghĩa
- Tháng 4, lãi suất trái phiếu chính phủ định danh bằng peso có xuhướng tăng Lo ngại rằng điều này có thể gây tổn thương cho khu vực ngânhàng chưa đủ mạnh của đất nước và sợ rằng lãi suất cao có thể gây ra suythoái kinh tế vào một năm có bàu cử tổng thống, nên chính phủ đã một mặtdùng dự trữ ngoại hối để chống lại xu hướng tăng lãi suất, một mặt tiến hànhđổi các trái phiếu chính phủ từ định danh bằng peso sang định danh bằngdollar
- Tháng 8, tổng thống mới nhậm chức, chính sách tài chính, tiền tệvẫn được giữ như cũ
- Giữa tháng 10, sau khi một số công ty lớn của Mexico công khaitình trạng lợi nhuận giảm sút, thị trường chứng khoán Mexico chao đảo Áp
Trang 23lực mất giá peso càng thêm mạnh Các nhà đầu tư bắt đầu rút khỏi thị trườngMexico.
- Cuối tháng 10, dữ trữ ngoại hối của Mexico chỉ còn 17,12 tỷdollar
- Ngày 20 tháng 12 năm 2004, peso bị mất giá mạnh Chính phủ
đã can thiệp nhằm giảm tốc độ mất giá, song không có hiệu quả mà lại mất rấtnhiều dự trữ ngoại hối nhà nước
- Đến ngày 22/12/1994, Chính phủ tuyên bố thả nổi đồng peso
- Trong vòng hai ngày sau lần công bố phá giá vào 20/12, ước tínhkhoảng 5 tỷ USD đã bị rút khỏi Mexico Đến 22/12 chính phủ Mexico đãquyết định thả nổi đồng nội tệ Vào những tuần sau đó, các nhà đầu tư ồ ạt rútkhỏi Mexico, nền kinh tế lâm vào khủng hoảng trầm trọng
- Ngay sau khi chính phủ Mexico tuyên bố thả nổi đồng Peso,22/12/1994, đồng Peso nhanh chóng giảm giá thêm 15%
- Ngày 26/12, Bộ trưởng Bộ tài chính Mexico tổ chức một cuộchọp báo cung cấp thông tin về kế hoạch của Chính phủ nhằm giải quyếtkhủng hoảng nhưng lại hủy bỏ vào phút cuối khiến các nhà đầu tư tiếp tụcphàn nàn về sự thất bại của chính phủ trong việc lên kế hoạch xử lý khủnghoảng Do vây, đồng Peso tiếp tục mất giá
- Ngày 27/12, đồng Peso tiếp tục mất giá và khủng hoảng kinh tếlan rộng Đồng Peso giảm tới mức 5,45 Peso/USD, tức mất giá khoảng 36%
so với ngày trước đó
Biều đồ: Mức biến động tỷ giá hối đoái của Peso
Trang 24Nguồn: http://www.galbithink.org/topics/mex/excri.htm
Trong vòng một tuần kế từ 20/12/1994, mức tỷ giá Peso/USD đã tăng
từ khoảng 3,5 Peso đổi 1 USD lên tới gần 6 Peso đổi 1 USD Sự mất gíanhanh chóng của đồng Peso cho thấy trong giai đoạn này đồng Peso đã khôngđược định giá đúng với giá trị thực tế của nó Và hành động phá giá đồngPeso của chính phủ Mexico cùng với sự mất giá mạnh của đồng tiền này ngaysau khi phá giá đã có những ảnh hưởng nhất định đến nền kinh tế của quốcgia này
1.3.Ảnh hưởng của phá giá tiền tê 1994 đến nền kinh tế Mexico.
- Cuộc khủng hoảng ở Mexico đã làm chao đảo nền tài chính khuvực Bắc Mỹ và thế giới
- Song song với sự gia tăng hiện tượng rút vốn ra khỏi nền kinh tếđất nước và khu vực, khủng hoảng đã làm đảo lộn hoạt động kinh tế, làmchậm tăng trưởng kinh tế và gây ra lạm phát cao trong nước, làm chựng dòngFDI và sự gia tăng nhanh chóng các món nợ nước ngoài bằng ngoại tệ do sựmất giá của nội tệ và phải thu hút các khoản tín dụng quốc tế mới để khắcphục khủng hoảng
- Sau tuyên bố thả nổi tỷ giá, đồng pêso Mêxicô sụt giá 120%.Năm 1995, Tỷ lệ tăng trưởng thực tế của GDP Mexico năm 1994 là khoảng4.415% thì năm 1995 giảm xuống -6.167% Trong năm 1995, nền kinh tếMexico suy thoái sâu sắc đi kèm với GNP giảm 9.3% là nguyên nhân khiếncán cân thương mại chuyển từ trạng thái thâm hụt sang thặng dư chỉ khoảng 2tháng sau khi phá giá bắt đầu Rất nhiều tổ chức tài chính và các doanhnghiệp tư nhân cảm thấy gánh nặng nợ nước ngoài càng lớn do đồng Peso mấtgiá dẫn đến khủng hoảng tài chính trong toàn bộ hệ thống, lạm phát 52%, thấtnghiệp lên tới 7,6 %
* Những hệ quả tích cực của khủng hoảng: