Do sự phát triển của nền kinh tế, nhu cầu về tích vốn trong xã hội tăng lên và trở nên đa dạng, phong phú; người thì cần vốn cho mục đích tiêu dùng hay đầu tư, người thì có vốn nhàn rỗi muốn cho vay để sinh lời. Đầu tiên, họ tìm gặp nhau trực tiếp trên cơ sở quen biết. tuy nhiên sau đó, khi cung cầu vốn không ngừng tăng lên thì hình thức vay, cho vay trực tiếp dựa trên quan hệ quen biết không đáp ứng được; Vậy cần phải có một thị trường cho cung và cầu gặp nhau, đáp ứng các nhu cầu tài chính của nhau – Đó là thị trường tài chính. Thông qua thị trường tài chính, nhiều khoản vốn nhàn rỗi được huy động vào tiêu dùng, đầu tư, tạo đòn bẩy cho phát triển kinh tế. Căn cứ vào thời gian luân chuyển vốn, thị trường tài chính bao gồm: + Thị trường tiền tệ: mua bán, trao đổi các công cụ tài chính ngắn hạn dưới một năm. + Thị trường vốn: mua bán, trao đổi các công cụ tài chính trung và dài hạn. Tóm lại, ban đầu nhu cầu vốn cũng như tiết kiệm trong dân chưa cao và nhu cầu về vốn chủ yếu là vốn ngắn hạn. Theo thời gian, sự phát triển kinh tế, nhu cầu về vốn dài hạn cho đầu tư phát triển ngày càng cao; Chính vì vậy, Thị trường vốn đã ra đời để đáp ứng các nhu cầu này. Để huy động được vốn dài hạn, bên cạnh việc đi vay ngân hàng thông qua hình thức tài chính gián tiếp, Chính phủ và doanh nghiệp còn huy động vốn thông qua hình thức phát hành chứng khoán. Khi một bộ phận các chứng khoán có giá trị nhất định được phát hành, thì xuất hiện nhu cầu mua, bán chứng khoán; và đây chính là sự ra đời của Thị trường chứng khoán với tư cách là một bộ phận của Thị trường vốn nhằm đáp ứng nhu cầu mua, bán và trao đổi chứng khoán các loại.
Trang 1MÔN PHÁP LUẬT THỊ
TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN
Đề Tài: Vai trò của thị trường chứng khoán
trong sự ổn định nền kinh tế vĩ mô
Giảng viên: ThS.Nguyễn Vinh Hưng
Nhóm phụ trách: 09
Trang 2DANH SÁCH NHÓM 9
Phạm Hồng Nhung (nhóm
trưởng)
16061250
Nguyễn Quang Khải 16061242
Trang 3I.THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN:
Mở đầu – Sự hình thành
- Do sự phát triển của nền kinh tế, nhu cầu về tích vốn trong xã hội tăng lên và trở nên đa dạng, phong phú; người thì cần vốn cho mục đích tiêu dùng hay đầu tư, người thì có vốn nhàn rỗi muốn cho vay để sinh lời Đầu tiên, họ tìm gặp nhau trực tiếp trên cơ sở quen biết tuy nhiên sau đó, khi cung cầu vốn không ngừng tăng lên thì hình thức vay, cho vay trực tiếp dựa trên quan hệ quen biết không đáp ứng được; Vậy cần phải có một thị trường cho cung và cầu gặp nhau, đáp ứng các nhu cầu tài chính của nhau – Đó là thị trường tài chính Thông qua thị trường tài chính, nhiều khoản vốn nhàn rỗi được huy động vào tiêu dùng, đầu tư, tạo đòn bẩy cho phát triển kinh tế
- Căn cứ vào thời gian luân chuyển vốn, thị trường tài chính bao gồm:
+ Thị trường tiền tệ: mua bán, trao đổi các công cụ tài chính ngắn hạn dưới một năm
+ Thị trường vốn: mua bán, trao đổi các công cụ tài chính trung và dài hạn
Tóm lại, ban đầu nhu cầu vốn cũng như tiết kiệm trong dân chưa cao và nhu cầu về vốn chủ yếu là vốn ngắn hạn Theo thời gian, sự phát triển kinh tế, nhu cầu về vốn dài hạn cho đầu tư phát triển ngày càng cao; Chính vì vậy, Thị trường vốn đã ra đời
để đáp ứng các nhu cầu này Để huy động được vốn dài hạn, bên cạnh việc đi vay ngân hàng thông qua hình thức tài chính gián tiếp, Chính phủ và doanh nghiệp còn huy động vốn thông qua hình thức phát hành chứng khoán Khi một bộ phận các chứng khoán có giá trị nhất định được phát hành, thì xuất hiện nhu cầu mua, bán chứng khoán; và đây chính là sự ra đời của Thị trường chứng khoán với tư cách là một bộ phận của Thị trường vốn nhằm đáp ứng nhu cầu mua, bán và trao đổi chứng khoán các loại
1.1 Khái niệm
Trang 4- Thị trường chứng khoán là một bộ phận quan trọng của Thị trường vốn, hoạt động của nó nhằm huy động những nguồn vốn tiết kiệm nhỏ trong xã hội tập trung thành nguồn vốn lớn tài trợ cho doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế và Chính phủ để phát triển sản xuất, tăng trưởng kinh tế hay cho các dự án đầu tư
- Thị trường chứng khoán là nơi diễn ra các hoạt động giao dịch mua bán các loại chứng khoán Việc mua bán được tiến hành ở hai thị trường sơ cấp và thứ cấp do vậy thị trường chứng khoán là nơi chứng khoán được phát hành và trao đổi
+ Thị trường sơ cấp: người mua mua được chứng khoán lần đầu từ những người phát hành;
+ Thị trường thứ cấp: nơi diễn ra sự mua đi bán lại các chứng khoán đã được phát hành ở Thị trường sơ cấp
- Hàng hóa giao dịch trên Thị trường chứng khoán bao gồm: các cổ phiếu, trái phiếu và một số công cụ tài chính khác có thời hạn trên 1 năm
1.2 Bản chất
- Thị trường chứng khoán là nơi mà cung và cầu của các loại chứng khoán gặp nhau để xác định giá cả Số lượng của từng loại chứng khoán được giao dịch trên thị trường
- Thị trường chứng khoán không phải là cơ quan mua vào hoặc bán ra các loại chứng khoán Thị trường chứng khoán chỉ là nơi giao dịch, ở đó việc mua bán chứng khoán được thực hiện bởi những người môi giới chứng khoán Như vậy thị trường chứng khoán không phải là nơi giao dịch (mua - bán) chứng khoán của những người muốn mua hay bán chứng khoán mà là của những nhà môi giới Nếu một người muốn mua hay bán chứng khoán, người này sẽ thông qua người môi giới chứng khoán của anh ta trên thị trường chứng khoán để tiến hành việc mua bán chứ không trực tiếp tham gia mua bán Giá cả chứng khoán được hình thành một cách khách quan theo hệ thống bán đấu giá hai chiều Người môi giới mua khác được với giá thấp nhất, người môi giới bán cạnh tranh với những người môi giới bán khác để bán được giá cao nhất Vì thế mà thị trường chứng khoán là thị trường có tính tự do cao nhất trong các loại thị trường
1.3 Chức năng và vai trò
Trang 5a Chức năng
* Thu hút vốn nhàn rỗi vào đầu tư phát triển
- Ta biết muốn đầu tư phát triển thì phải tự tích luỹ hoặc huy động từ bên ngoài
- Vốn huy động từ bên ngoài bao gồm vốn vay tín dụng của các tổ chức tài chính
và phát hành cổ phiêú, trái phiếu
- Ưu điểm của phát hành trái phiêú, cổ phiếu đối với dân chúng là họ dễ dàng đầu
tư vào bất cứ DN nào họ muốn hoặc mua bán kiếm lợi Còn đối với các DN là họ không phải trả lãi suất hàng tháng và không phải trả nợ gốc khi bị thua kỗ
- Do tính chất của chu kỳ kinh doanh nên vốn tạm thời nhàn rỗi trong các DN là rất lớn, bên cạnh, còn có một lượng vốn lớn nằm rải rác trong dân chưa được huy động Tất cả những tiềm năng này sẽ được phát huy hiệu quả nếu có thị trường chứng khoán Vì thị trường chứng khoán với cơ sở pháp lý hoàn chỉnh và bộ má quản lý hữu hiệu, với sự phổ biến và hướng dẫn rộng rãi , người dân sẽ dễ dàng sử dụng nguồn tiết kiệm của họ hơn Đây là tác nhân kích thích ý thức tiết kiệm và tạo thói quen đầu tư trong công chúng
- Ngoài ra, trong xã hội cồn có các khoản tiền tạm thời nhàn rỗi như: quỹ bảo hiểm, quỹ phúc lợi tập thể…một phần vốn của quỹ này được gửi vào Nhân hàng để thực hiện vệc thanh toán, phần còn lại, những người quản lý quỹ luôn tự hỏi làm thế nào cho vốn của họ có khả năng sinh lãi nhiều nhất và vừa an toàn vừa có tính tạm thời…và thị trường chứng khoán có khả năng đáp ứng yêu cầu này
- Tóm lại,thị trường chứng khoán có chức năng thu hút mọi nguồn vốn nhàn rỗi trong xã hội để đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh, mở rộng quy mô doanh
nghiệp góp phần giải quyết việc làm, giảm thất nghiệp
* Điều tiết các nguồn vốn
- Phải thừa nhận rằng, một DN không phải lúc nào cũng thiếu hoặc thừa vốn Thừa hay thiếu là phụ thuộc vào tính chất của chu kỳ kinh doanh.Khi cần đầu tư mua nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ, các khoản phải thu lớn, thì đây là lúc mà DN đang thiếu vốn Khi quá trình sản xuất kết thúc, sản phẩm được bán ra và thu vốn
về, các khoản phải thu được thu về, lúc này DN lại tạm thời thừa vốn
- Trên thị trường vốn, luôn luôn có sự điều tiết vốn từ nơi thừa sang nơi thiếu Ở đây thị trường chứng khoán đóng vai trò rất quan trọng
Trang 6* Hoà nhập nền kinh tế thế giới
- Một DN có thể thu hút vốn bất vứ nơi nào và bằng con đường nào mà họ có thể thu hút một cách dễ dàng thông qua thị trường chứng khoán Nhờ vào hệ thống máy tính mà thị trường chứng khoán cho phép bất cứ ai, ở nơi nào trên thế giới và mua một loại cổ phiếu của bất kỳ một công ty nào mà họ thích Từ đó hình thành mối liên hệ tiền tệ quốc tế, đẩy nhanh tốc độ chu chuyển nguồn vốn giữa các nước, thực hiện quan hệ vay mượn lâu dài trên thế giới tạo điều kiện cho việc hoà nhập nền kinh tế thế giới
* Điểu tiết vĩ mô
- Thị trường chứng khoán là công cụ của Nhà nước thông qua Uỷ ban chứng khoán nhà nước, và Ngân hàng trung ương
- Nghiệp vụ chủ yếu là thắt chặt hay nới lỏng sự đầu tư trên thị trường Khi sản xuất sa sút, thiếu vốn, Nhà nước tung tiền ra mở rộng cho vay để khuyến khích sản xuất thông qua việc mua vào những lô chứng khoán có giá trị lớn Khi hiện tượng đầu tư quá mức, đầu cơ thịnh hành, thì bán chứng khoán nhằm thắt chặt tín dụng giảm bớt đầu tư kinh tế.Vậy thị trường chứng khoán là công cụ hữu hiệu để nhà nước kịp thời điều tiết nguồn vốn trên thị trường
b Vai trò
* Tạo vốn cho nền kinh tế quốc dân
- Do có thị trường chứng khoán nên việc đầu tư các nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi
dễ dàng hơn Từ việc nguồn vốn bị ứng đọng từ nhiều nơi, không có khả năng sinh lời, cho đến khi có thị trường chứng khoán việc đầu tư, tích luỹ vốn sôi động và dồi dào hẳn lên Thông qua đó nền kinh tế tăng trưởng mạnh mẽ, công ăn việc làm được giải quyết, thất nghiệp giảm Bên cạnh, thị trường chứng khoán như một trung tâm thu gom mọi nguồn vốn từ dân chúng, như một nam châm cực mạnh hút các nguồn vốn từ nước ngoài Ngoài ra còn giúp Nhà nước giải quyết vấn đề thiếu hụt ngân sách, có thêm vốn xây dựng hạ tầng cơ sở
* Tạo điều kiện cho các doanh nghiệp sử dụng vốn linh hoạt và có hiệu quả hơn
- Khi DN cần vốn để mở rộng qui mô sản xuất họ có thể phát hành chứng khoán, vào thị trường để huy động vốn Đây là phương thức tài trợ vốn qua phát hành và
Trang 7lúc đó nguồn vốn của DN tăng lên Lúc này rủi ro đối với doanh nghiệp là rất nhỏ
vì những cổ đông của họ đã gánh đỡ thay Một điều thuận lợi nữa, khi DN chưa có
cơ hội sản xuất kinh doanh, các DN có thể dự trữ chứng khoán như là một tài sản kinh doanh và các chứng khoán đó sẽ được chuyển nhượng thành tiền khi cần thiết thông qua thị trường chứng khoán Ngoài ra, khi DN niêm yết trên thị trường chứng khoán, có nghĩa là đã có chữ tín đối với công chúng đầu tư Như vậy các công ty chứng khoán sẽ là tác nhân kích thích giúp DN tạo vốn nhanh chóng hơn
* Thị trường chứng khoán là công cụ đánh gía DN, dự đoán tương lai
- Thị trường chứng khoán ngày càng đa dạng và phức tạp, liên quan đến vận mệnh của nền kinh tế quốc dân Sự hình thành thị giá chứng khoán của một DN trên thị trường chứng khoán đã bao hàm sự hoạt độngcủa DN đó trong hiện tại và dự doán tương lai Khi giá cổ phiếu của một DN cao (hay thấp) biểu hiện trạng thái kinh tế tức là khả năng mang lại cổ tức cao (hay thấp) cho các cổ đông của DN đó Triển vọng tương lai của các DN cũng được thể hiện một cách trực tiếp trên thị giá cổ phiếu và cũng như sự biến động của nó
- Ngoài ra, với phương pháp chỉ số hoá thị giá của các loại chứng khoán chủ yếu trong nền kinh tế và việc nghiên cưú phân tích một cách khoa học hệ thống chỉ số giá chứng khoán trên thị trường chứng khoán ở từng nước trong mối quan hệ với thị trường thế giới, đã dự đoán được trước sự biến động kinh tế của một hoặc hàng loạt các nước trên thế giới
1.4 Phân loại
a Phân loại theo tổ chức giao dịch
- Thị trường chứng khoán tập trung - các hoạt động mua bán chứng khoán được thực hiện theo các quy định đặt bởi sàn Trên thị trường này chỉ có cổ phiếu các công ty đã qua niêm yết;
- Thị trường chứng khoán OTC - các điều kiện hợp đồng được thỏa thuận giữa bên bán và bên mua Trên thị trường này có cổ phiếu của các công ty không qua hoặc không muốn niêm yết trên sàn
b Phân loại theo các giai đoạn phát hành và lưu thông chứng khoán
Trang 8- Thị trường sơ cấp – diễn ra sự phát hành cổ phiếu lần đầu Phát hành cổ phiếu có thể công khai (IPO -initial public offering) hay không công khai Trong trường hợp không công khai các cổ phiếu được mua bởi số lượng người nhất định, không công
bố thông tin tài chính Trong trường hợp công khai, việc phát hành cổ phiếu thông qua trung gian với các chỉ số tài chính được công bố;
- Thị trường thứ cấp – diễn ra sự bán lại các cổ phiếu đã được phát hành Thành viên chủ yếu của thị trường này là các nhà đầu cơ, kiếm tiền dựa trên chênh lệch giá mua và bán cổ phiếu
c Phân loại theo đặc điểm địa lý
- Thị trường chứng khoán quốc gia – hoạt động trong phạm vi 1 quốc gia nhất định, tái phân phối các nguồn lực tài chính giữa các chủ thể kinh tế;
- Thị trường chứng khoán khu vực – thị trường của một vùng nhất định với luân chuyển vốn khép kín Thị trường loại này có thể hình thành trong phạm vi 1 quốc gia, cũng như bao gồm vài thị trường chứng khoán quốc gia;
- Thị trường chứng khoán quốc tế - luân chuyển chứng khoán xảy ra giữa các nước
và khu vực, cho phép chuyển vốn giữa chúng
II Nền kinh tế vĩ mô:
1. Các yếu tố của nền kinh tễ vĩ mô tác động chính đến thị trường chứng khoán
1.1 Tổng sản phẩm trong nước GDP:
a) Ý nghĩa: GDP là thước đo tổng sản lượng và tổng thu nhập của một nền kinh
tế Đây là một trong những biến số kinh tế quan trọng nhất của nền kinh tế quốc dân, là chỉ báo tốt nhất về phúc lợi kinh tế xã hội
b) Khái niệm, công thức, phương pháp đo lường:
Tổng sản phẩm trong nước là giá trị thị trường của tất cả các hàng hóa và dịch vụ cuối cùng được sản xuất ra trong một nước trong một thời kỳ nhất định
- Phương pháp chỉ tiêu: GDP = C+I+G+X-M
C: là tiêu dùng hộ gia đình
I: là đầu tư tư nhân
G: là chi tiêu chính phủ
X: là xuất khẩu
M: là nhập khẩu
- Phương pháp thu nhập:
Trang 9GDP = W+R+I+Pr+OI+Te+Dep
W: là thù lao lao động
R: là tiền cho thuê tài sản
I: là tiền lãi ròng
Pr: là lợi nhuận doanh nghiệp
OI: là thu nhập của doanh nhân
Te: là thuế gián thu ròng
Dep: là khấu hao tài sản cố định
- Phương pháp sản xuất:
GDP = Tỏng giá trị tăng thêm theo sản xuất + Thuế giá trị gia tăng phải nộp + Thuế nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ
1.2 Chỉ số giá tiêu dùng (CPI)
a) Ý nghĩa: CPI là một chỉ tiêu tương đối phản ánh xu thế và mức độ biến động của giá bán lẻ hàng hóa tiêu dùng và dịch vụ trong sinh hoạt của dân cư và các hộ gia đình Bởi vậy nó được dùng để theo dõi sự thay đổi của chi phí sinh hoạt theo thừi gian Khi CPI tăng nghĩa là mứa gái trung bình tăng và ngược lại
b) Khái niệm, công thức, phương pháp đo lường:
Chỉ số giá tiêu dùng đo lường mức giá trung bình của giỏ hàng hóa và dịch vụ mà một người tiêu dùng điển hình mua
CPTt = Chi phí để mua giỏ hàng hóa thời kỳ t / Chi phí để mua giỏ hàng hóa kỳ cơ
sở *100%
1.3 Lạm phát:
Trong kinh tế vĩ mô, lạm phát là sự tăng mức giá chung một cách liên tục của hàng hóa và dịch vụ theo thời gianvà sự mất giá trị của một loại tiền tệ nào đó Khi mức giá chung tăng cao, một đơn vị tiền tệ sẽ mua được ít hàng hóa và dịch vụ hơn so với trước đây, do đó lạm phát phản ánh sự suy giảm sức mua trên một đơn vị tiền
tệ Khi so sánh với các nước khác thì lạm phát là sự giảm giá trị tiền tệ của một quốc gia này so với các loại tiền tệ của quốc gia khác
1.4 Cung ứng tiền tệ:
Cung ứng tiền tệ, gọi tắt là cung tiền, chỉ lượng cung cấp tiền tệ trong nền kinh
tế nhằm đáp ứng nhu cầu mua hàng hóa, dịch vụ, tài sản, v.v của các cá nhân (hộ gia đình) và doanh nghiệp (không kể các tổ chức tín dụng)
2 Ổn định nền kinh tế vĩ mô:
Trang 10Dường như cho đến nay vẫn chưa thấy một sự cắt nghĩa, giải thích chính thức và xác đáng về thế nào là "ổn định kinh tế vĩ mô”, mặc dù cụm từ này đã và đang được nêu ra bởi rất nhiều người và phổ biến
Điểm lại nhiều bài nói và viết của các chuyên gia, các tổ chức liên đới trong và ngoài nước ở Việt Nam trong mấy năm qua, có thể thấy cụm từ "ổn định kinh tế vĩ mô” đa phần nào được dùng như một nhiệm vụ riêng biệt, song song với những nhiệm vụ, mục tiêu khác như "kiềm chế lạm phát", "ổn định tỷ giá”, "thúc đẩy, hỗ trợ, ổn định tốc độ tăng trưởng"
Thực tế trên thế giới, cụm từ "ổn định kinh tế vĩ mô” được dùng với nghĩa bao hàm
cả những mục tiêu khác như giữ ổn định các chỉ tiêu về tốc độ tăng trưởng (tiệm cận với mức tăng trưởng tiềm năng), mức giá cả và tỷ lệ thất nghiệp Cách dùng này dựa trên khái niệm về "kinh tế vĩ mô” - là một hệ thống kinh tế của cả một quốc gia, với các chỉ tiêu đo lường "sức khỏe" của nó như tốc độ tăng trưởng thu nhập, thất nghiệp, lạm phát
Bởi vậy, ổn định kinh tế vĩ mô có nghĩa là giảm thiểu biến động (trong ngắn hạn) của những chỉ tiêu này Mục đích của ổn định kinh tế vĩ mô là để tạo điều kiện thúc đẩy đầu tư làm cải thiện tăng trưởng trong dài hạn
Ngoài lý do là chuẩn mực và phổ biến, cách dùng với nghĩa này còn tránh được sự
mơ hồ về mục đích như trong cách dùng đang phổ biến ở Việt Nam như nói ở trên
Theo cách dùng như ở Việt Nam hiện nay thì dường như "ổn định kinh tế vĩ mô” là cái gì đó khác và độc lập với ổn định giá cả, kiềm chế lạm phát, càng khác và độc lập với thúc đẩy, hỗ trợ, ổn định tăng trưởng kinh tế Vì rõ ràng hiện nay, việc thúc đẩy, duy trì tốc độ tăng trưởng (hiện đang được cho là ở mức thấp so với tăng trưởng tiềm năng) đã được gạt xuống hàng thứ yếu, sau mục tiêu "ổn định kinh tế
vĩ mô”