Về lý thuyết: Với tư cách là hệ thống, tổ chức nghiên cứu và triển khai có tính thích nghi dưới tác động của môi trường để tồn tại và phát triển. Luận án đã giải quyết một cách cơ bản tính thích nghi hóa của tổ chức nghiên cứu và triển khai trong nền kinh tế thị trường là đa dạng hóa chức năng để tiến đến thiết chế tự chủ. Nghiên cứu đã cho thấy việc đa dạng hóa chức năng và cơ cấu thực chất là quá trình tái cơ cấu các tổ chức nghiên cứu và triển khai. Tái cơ cấu theo hướng đa dạng hóa chức năng và cơ cấu thúc đẩy tiến trình tự chủ và tạo ra năng lực tự chủ cho các tổ chức nghiên cứu và triển khai. Ngược lại, tự chủ lại là động lực cho việc hoàn thiện tái cơ cấu. Vì vậy, nghiên cứu đã đưa ra kết luận rằng tái cơ cấu và tự chủ là cặp song hành, không thể thiếu nhau, cả hai sẽ hỗ trợ và giúp nhau hoàn thiện. Về thực tiễn: Nghiên cứu đã đưa ra được các bước để tiến hành tự chủ là: Đa dạng hóa hoạt động; Đa dạng hóa chức năng; Đa dạng hóa cơ cấu; Đa dạng hóa nguồn tài chính; Đa dạng hóa nguồn nhân lực; Đa dạng hóa sở hữu. Nghiên cứu đã cho thấy kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế vừa là điều kiện, vừa là động lực cho tái cơ cấu và nền khoa học tự chủ, biến quyền tự chủ thành năng lực tự chủ của các viện nghiên cứu và triển khai. Nghiên cứu đã chứng minh điều kiện để tự chủ trong khoa học chính là điều kiện tái cơ cấu các tổ chức nghiên cứu và triển khai.
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
PHẠM THỊ BÍCH NGỌC
TÍNH TẤT YẾU VỀ ĐA DẠNG HÓA CHỨC NĂNG VÀ CƠ CẤU
TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU VÀ TRIỂN KHAI TRONG THIẾT CHẾ
TỰ CHỦ CỦA KHOA HỌC
LUẬN ÁN TIẾN SĨ QUẢN LÝ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
HÀ NỘI, 2018
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
PHẠM THỊ BÍCH NGỌC
TÍNH TẤT YẾU VỀ ĐA DẠNG HÓA CHỨC NĂNG VÀ CƠ CẤU
TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU VÀ TRIỂN KHAI TRONG THIẾT CHẾ
TỰ CHỦ CỦA KHOA HỌC
Chuyên ngành: Quản lý Khoa học và Công nghệ
Mã số: Đào tạo thí điểm
LUẬN ÁN TIẾN SỸ QUẢN LÝ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi là Phạm Thị Bích Ngọc, nghiên cứu sinh Khóa QH-2013-X, Chuyên ngành Quản lý Khoa học và Công nghệ, Khoa Khoa học Quản lý, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn/Đại học Quốc gia Hà Nội, xin cam đoan:
Đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, dưới sự hướng dẫn của hai nhà khoa học: PGS TS Vũ Cao Đàm và TS Trần Xuân Định
Các thông tin thu được là từ các kết quả nghiên cứu tài liệu, điều tra phỏng vấn, do tôi trực tiếp thực hiện
Đề tài nghiên cứu trong bản luận án này không trùng với bất cứ đề tài nghiên cứu nào khác ở trong và ngoài nước
Hà Nội, tháng 11 năm 2018
Tác giả
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận án, tôi đã nhận được sự giúp đỡ quý báu của Khoa Khoa học Quản lý, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn/Đại học Quốc gia Hà Nội, các thầy hướng dẫn, các đồng nghiệp và người thân
Tôi xin bày bỏ sự kính trọng và lòng biết ơn sâu sắc tới Thầy Vũ Cao Đàm và Thầy Trần Xuân Định Các thầy đã trực tiếp hướng dẫn tôi trong suốt thời gian viết luận án, các thầy đã tạo cho tôi một tác phong làm việc nghiêm túc, lối tư duy độc lập và sáng tạo trong nghiên cứu khoa học
Tôi xin gửi lời cảm ơn tới Lãnh đạo Viện Cơ học và các đồng nghiệp đã tạo điều kiện về vật chất và tinh thần giúp đỡ cho tôi hoàn thành luận văn này
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới những người thân trong gia đình tôi đã hỗ trợ tôi rất nhiều trong thời gian học tập
Luận án được hoàn thành với rất nhiều nỗ lực của tác giả, tuy nhiên không thể tránh khỏi thiếu sót Tôi rất mong nhận được ý kiến đóng góp của thầy, cô và đồng nghiệp để luận án được hoàn thiện hơn
Xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, tháng 11 năm 2018
Tác giả
Trang 51
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN ÁN 5
DANH MỤC CÁC BẢNG, HÌNH, BIỂU ĐỒ TRONG LUẬN ÁN 6
MỞ ĐẦU 8
Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ ĐA DẠNG HÓA CHỨC NĂNG VÀ CƠ CẤU TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU VÀ TRIỂN KHAI TRONG THIẾT CHẾ TỰ CHỦ CỦA KHOA HỌC 15
1.1 CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU VỀ THIẾT CHẾ TỰ CHỦ, ĐA DẠNG HÓA CHỨC NĂNG VÀ CƠ CẤU TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU VÀ TRIỂN KHAI TRONG THIẾT CHẾ TỰ CHỦ CỦA KHOA HỌC Ở VIỆT NAM 15
1.1.1 Các nghiên cứu trong nước đã công bố trên tạp chí từ năm 2006 đến nay (sau khi ra đời Nghị định 115/2005/NĐ-CP về quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các tổ chức nghiên cứu và triển khai công lập) 15
1.1.2 Các nghiên cứu của các đề tài, dự án trong nước 20
1.1.3 Các nghiên cứu trong khuôn khổ luận văn thạc sĩ 22
1.2 CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU VỀ THIẾT CHẾ TỰ CHỦ, ĐA DẠNG HÓA CHỨC NĂNG VÀ CƠ CẤU TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU VÀ TRIỂN KHAI TRONG THIẾT CHẾ TỰ CHỦ TRÊN THẾ GIỚI 23
1.2.1 Các nghiên cứu bàn về thiết chế tự chủ trong khoa học trên thế giới 23
1.2.2 Các nghiên cứu về chuyển đổi sang thiết chế tự chủ ở các nước xã hội chủ nghĩa: 29
1.3 TỔNG HỢP TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ LUẬN ÁN CẦN TẬP TRUNG GIẢI QUYẾT 31
1.3.1 Kết quả đã đạt được: 31
1.3.2 Những vấn đề chưa được giải quyết 32
1.3.3 Vấn đề luận án tập trung nghiên cứu 33
1.4 TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 33
Trang 62
Chương 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐA DẠNG HÓA CHỨC NĂNG VÀ CƠ CẤU CỦA CÁC TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU VÀ TRIỂN KHAI TRONG THIẾT CHẾ TỰ CHỦ
CỦA KHOA HỌC 35
2.1 TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU VÀ TRIỂN KHAI VÀ THIẾT CHẾ TỰ CHỦ TRONG KHOA HỌC 35
2.1.1 Tổ chức nghiên cứu và triển khai và hoạt động nghiên cứu và triển khai 35
2.1.2 Cơ sở lý luận về thiết chế tự chủ trong khoa học 36
2.2 ĐA DẠNG HÓA CHỨC NĂNG VÀ CƠ CẤU CỦA CÁC TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU VÀ TRIỂN KHAI TRONG THIẾT CHẾ TỰ CHỦ CỦA KHOA HỌC 44
2.2.1 Đa dạng hóa chức năng của các tổ chức nghiên cứu và triển khai trong thiết chế tự chủ của khoa học 44
2.2.2 Đa dạng hóa cơ cấu của các tổ chức nghiên cứu và triển khai trong thiết chế tự chủ của khoa học 50
2.2.3 Thực chất của Đa dạng hóa chức năng và cơ cấu của các tổ chức nghiên cứu và triển khai trong thiết chế tự chủ của khoa học 55
2.3 TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 61
Chương 3 TIẾN HÓA CỦA CÁC TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU VÀ TRIỂN KHAI Ở VIỆT NAM TRONG TIẾN TRÌNH PHÁT TRIỂN THIẾT CHẾ TỰ CHỦ 63
3.1 MÔ HÌNH CỦA NHA NGHIÊN CỨU KỸ THUẬT 63
3.1.1 Giới thiệu về Nha nghiên cứu kỹ thuật 63
3.1.2 Chức năng của Nha nghiên cứu kỹ thuật 65
3.1.3 Cơ cấu của Nha nghiên cứu kỹ thuật 66
3.1.4 Thiết chế tự chủ của Nha nghiên cứu kỹ thuật 69
3.1.5 Bài học từ Nha nghiên cứu kỹ thuật 69
3.2 QUÁ TRÌNH TIẾN HÓA VỀ CHỨC NĂNG CỦA CÁC VIỆN NGHIÊN CỨU VÀ TRIỂN KHAI Ở VIỆT NAM 71
3.2.1 Chức năng của các Viện nghiên cứu và triển khai trong nền kinh tế chỉ huy tập trung 71
Trang 73
3.2.2 Biến động về chức năng các viện nghiên cứu và triển khai trong điều kiện
chuyển sang nền kinh tế thị trường 71
3.2.3 Tác động của các chính sách đối với quá trình đa dạng hóa chức năng 73
3.3 QUÁ TRÌNH TIẾN HÓA VỀ CƠ CấU CỦA CÁC VIỆN NGHIÊN CỨU VÀ TRIỂN KHAI Ở VIỆT NAM 75
3.3.1 Cơ cấu của các viện nghiên cứu và triển khai trong nền kinh tế chỉ huy tập trung 75
3.3.2 Biến động về cơ cấu của các viện nghiên cứu và triển khai trong điều kiện chuyển sang nền kinh tế thị trường 76
3.3.3 Tác động của chính sách đến quá trình đa dạng hóa cơ cấu 78
3.4 TIẾN HÓA VỀ THIẾT CHẾ Tự CHủ CỦA CÁC VIỆN NGHIÊN CỨU VÀ TRIỂN KHAI Ở VIỆT NAM 79
3.4.1 Quá trình tự điều chỉnh của các viện nghiên cứu và triển khai dẫn đến nhu cầu tự chủ 79
3.4.2 Tự chủ - tự chịu trách nhiệm 80
3.5 TIẾN HÓA VỀ CHỨC NĂNG VÀ CƠ CấU Ở MỘT SỐ VIỆN NGHIÊN CỨU VÀ TRIỂN KHAI 84
3.5.1 Viện Dầu khí Việt Nam 84
3.5.2 Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam 92
3.6 ĐA DẠNG HÓA CHỨC NĂNG, ĐA DẠNG HÓA CƠ CấU CÁC TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU VÀ TRIỂN KHAI MANG TÍNH TẤT YẾU TRONG THIẾT CHẾ Tự CHủ CủA KHOA HọC 119
3.6.1 Nhu cầu đa dạng hóa chức năng, đa dạng hóa cơ cấu 119
3.6.2 Mối quan hệ giữa đa dạng hóa chức năng và cơ cấu với thiết chế tự chủ 124
3.7 TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 126
Chương 4 ĐIỀU KIỆN ĐẢM BẢO HIỆN THỰC HÓA ĐA DẠNG CHỨC NĂNG VÀ CƠ CẤU CỦA TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU VÀ TRIỂN KHAI 128
Trang 84
4.1 ĐIỀU KIỆN CầN VÀ Đủ CHO THựC HIệN ĐA DẠNG CHỨC NĂNG VÀ CƠ CẤU CỦA TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU VÀ TRIỂN KHAI (ĐẢM BẢO THỰC HIỆN
Tự CHủ TRONG KHOA HỌC) 128
4.1.1 Điều kiện cần - Chính sách đảm bảo quyền tự chủ (Quản lý vĩ mô) 128
4.1.2 Điều kiện đủ - Chính sách đảm bảo năng lực tự chủ (quản lý vi mô) 144
4.2 QUÁ TRÌNH CHUYỂN ĐỔI CỦA CÁC TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU VÀ TRIỂN KHAI TRONG TIẾN TRÌNH THỰC HIỆN Tự CHủ 151
4.2.1 Nguyên tắc chuyển đổi: 151
4.2.2 Phương thức chuyển đổi 153
4.2.3 Các bước chuyển đổi: 154
4.3 TIỂU KẾT CHƯƠNG 4 158
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 159
DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ 161
CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 161
TÀI LIỆU THAM KHẢO 162
PHỤ LỤC 172
Trang 95
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN ÁN
GDP: Tổng sản phẩm quốc nội
KH&CN: Khoa học và công nghệ
KIST: Viện Khoa học và Công nghệ Hàn Quốc
KT-XH: Kinh tế - xã hội
NCCB: Nghiên cứu cơ bản
NCKT: Nha nghiên cứu kỹ thuật
NC&TK: Nghiên cứu và triển khai
Viện KH&CN Việt Nam: Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam
Viện HLKHCNVN: Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam XHCN: Xã hội chủ nghĩa
Trang 106
DANH MỤC CÁC BẢNG, HÌNH, BIỂU ĐỒ TRONG LUẬN ÁN
1 Danh mục các bảng
Bảng 3.1 Các văn bản chính sách về khoa học và công nghệ 73
Bảng 3.2 Kinh phí hợp đồng và kinh phí nhà nước giai đoạn 1986- 1988 94
Bảng 3.3 So sánh giữa nguồn thu từ Hợp đồng nghiên cứu khoa học không thuộc nguồn ngân sách nhà nước với nguồn kinh phí nhà nước của các đơn vị thuộc Trung tâm Khoa học tự nhiên và Công nghệ quốc gia (Năm 1995) 95
Bảng 3.4 Tình hình đào tạo của Viện Hàn lâm KHCNVN năm 2016 [93] 102
Bảng 3.5 Tổng hợp số lượng và kinh phí thực hiện các đề tài, dự án KH&CN 103
Bảng 3.6 Số lượng đề tài NCCB từ Quỹ Nafosted của Viện HLKHCNVN giai đoạn 2010-2016 [93] 105
Bảng 3.7 Tổng hợp số lượng các công bố khoa học, sáng chế, 105
Bảng 3.8 Phân loại nhân lực của Viện Hóa học các hợp chất thiên nhiên 115
Bảng 4.1 Đầu tư từ NSNN của Việt Nam cho hoạt động KH&CN [6] 133
Bảng 4.2 Tổng chi quốc gia cho hoạt động KH&CN 133
2 Danh mục các hình Hình 2.1 Sơ đồ hoạt động khoa học và công nghệ [21] 36
Hình 3.1 Sơ đồ cơ cấu của các viện nghiên cứu và triển khai trong nền kinh tế chỉ huy tập trung 76
Hình 3.2 Sơ đồ cơ cấu của các viện nghiên cứu và triển khai 77
Hình 3.3 Cơ cấu của Viện Dầu khí Việt Nam 87
Hình 3.4 Cơ cấu Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam [93] 99
Hình 3.5 Cơ cấu của Phòng Hóa học các Hợp chất thiên nhiên 112
Hình 3.6 Cơ cấu của Trung tâm Hóa học các hợp chất thiên nhiên 113
Hình 3.7 Cơ cấu của Viện Hóa học các hợp chất thiên nhiên 114
Trang 128
MỞ ĐẦU
1 Lý do nghiên cứu
Sau cách mạng tháng 8, Chính phủ Việt Nam tiếp quản các cơ sở nghiên cứu
và triển khai của Pháp để lại nhưng sau đó không lâu cả nước lại bước vào cuộc kháng chiến chống Pháp kéo dài hơn 9 năm Năm 1947, Bộ Quốc phòng đã thành lập Nha Nghiên cứu kỹ thuật (thường gọi là “NCKT”) trực thuộc Cục Quân giới thực chất là Viện kỹ thuật quân giới, đây là viện công nghệ đầu tiên ở nước ta Thời gian này, NCKT hoạt động rất hiệu quả và đóng góp rất nhiều trong việc thiết kế và sản xuất vũ khí trong cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nước
Sau năm 1975, khi nước ta hoàn toàn giải phóng, giống với hầu hết các nước
xã hội chủ nghĩa lúc đó, nước ta đã thành lập một hệ thống tổ chức nghiên cứu và triển khai chỉ có chức năng nghiên cứu là chính với một cơ cấu tổ chức cơ học cứng nhắc, chịu sự chỉ đạo và bao cấp của nhà nước vì vậy mà các tổ chức này chưa thể
có được thiết chế tự chủ trong khoa học Trong nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung khi đó thì các tổ chức nghiên cứu và triển khai này phát huy được thế mạnh của mình
Cuối thập niên 80, Việt Nam chuyển sang nền kinh tế thị trường, hệ thống tổ chức nghiên cứu và triển khai này bắt đầu bộc lộ những khiếm khuyết, do chỉ quen dựa vào bao cấp của nhà nước nên không tự đứng vững được trong kinh tế thị trường Khi nhà nước ban hành Nghị định 115/2005/NĐ-CP về quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong khoa học điều tất yếu xảy ra là các tổ chức nghiên cứu và triển khai của ta bắt đầu lúng túng và gặp khó khăn trong việc thi hành Nghị định
115 Một trong những lý do chính để các tổ chức nghiên cứu và triển khai không thực hiện được quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong khoa học là cho đến nay các
tổ chức nghiên cứu và triển khai này chưa đa dạng hóa chức năng và cơ cấu để có được thiết chế tự chủ trong khoa học
Khi đã có một nền kinh tế thị trường thực sự thì các tổ chức nghiên cứu và triển khai phải tiến hóa để thích nghi với kinh tế thị trường Tiến hóa ở đây có nghĩa
Trang 139
là phải đa dạng hóa chức năng và cơ cấu tổ chức Đây chính là tính tất yếu trong thiết chế tự chủ của khoa học Hay nói cách khác, đa dạng hóa chức năng và cơ cấu
là điều kiện tiên quyết cho thực thi thiết chế tự chủ trong khoa học
Ở nước ta hiện nay, tuy đã chuyển sang nền kinh tế thị trường được gần ba chục năm nhưng các tổ chức nghiên cứu và triển khai gần như vẫn giữ chức năng nghiên cứu là chính và cơ cấu tổ chức cơ học cứng nhắc như thời bao cấp mà chưa tiến hóa để phù hợp với kinh tế thị trường Các tổ chức này chưa đa dạng hóa chức năng và cơ cấu tổ chức thì không thể có được thiết chế tự chủ trong khoa học Vì vậy mà các tổ chức nghiên cứu và triển khai hiện nay không thể tự chủ, tự chịu trách nhiệm theo yêu cầu của nhà nước và theo xu thế phát triển tất yếu của nền kinh tế thị trường
Đa dạng hóa chức năng và cơ cấu của tổ chức nghiên cứu và triển khai không phải là điều mới mẻ ở nước ta Mô hình Nha “NCKT” của Cục Quân giới thuộc Bộ Quốc phòng được thành lập từ tháng 1/1947 ngay trong những ngày đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp là mô hình của một Viện công nghệ hiện đại dù đã qua 70 năm NCKT đã kết hợp được nghiên cứu cơ bản với nghiên cứu ứng dụng và triển khai công nghệ, kết hợp nghiên cứu với sản xuất và đào tạo và mang tính tự chủ cao, dù mới chỉ ở mức sơ khai và thiếu thốn nhiều về cơ sở vật chất
Như vậy, để phát triển nền khoa học nước nhà phù hợp với quy luật tự nhiên của kinh tế thị trường và xu thế chung của toàn thế giới thì một vấn đề cấp thiết đặt
ra hiện nay là phải đa dạng hóa chức năng và cơ cấu của tổ chức nghiên cứu và triển khai để tạo nên thiết chế tự chủ trong khoa học Có được thiết chế tự chủ trong khoa học thì hệ thống tổ chức nghiên cứu và triển khai của ta mới phát huy được hết khả năng và sức mạnh của mình để tự chủ, đứng vững và phát triển mạnh mẽ trong nền kinh tế thị trường
2 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu tổng quát: chứng minh đa dạng hóa chức năng và cơ cấu của các tổ
chức nghiên cứu và triển khai mang tính tất yếu trong thiết chế tự chủ của khoa học
Mục tiêu cụ thể:
Trang 143 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
- Hệ thống tổ chức nghiên cứu và triển khai công lập ở Việt Nam gồm có: Viện Dầu khí Việt Nam và Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam
- Đa dạng hóa chức năng và cấu trúc, thiết chế tự chủ và mối quan hệ giữa đa dạng hóa và thiết chế tự chủ của các tổ chức nghiên cứu và triển khai ở Việt Nam
- Tiến hóa về chức năng và cấu trúc của các tổ chức nghiên cứu và triển khai ở Việt Nam
3.2 Phạm vi nghiên cứu:
- Phạm vi nội dung: Đa dạng hóa chức năng và cơ cấu của tổ chức nghiên cứu
và triển khai về khoa học tự nhiên và công nghệ và thiết chế tự chủ trong khoa học
- Phạm vi không gian: Hệ thống các tổ chức nghiên cứu và triển khai về khoa học tự nhiên và công nghệ công lập của Việt Nam gồm có: Viện Dầu khí Việt Nam
và Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam; các chính sách về khoa học và công nghệ của Việt Nam
- Phạm vi thời gian: Hoạt động của các tổ chức nghiên cứu và triển khai về khoa học tự nhiên và công nghệ từ năm 1945 đến nay và các chính sách về khoa học
và công nghệ từ năm 1981 đến nay
4 Câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu
4.1 Câu hỏi nghiên cứu
Trang 154.2 Giả thuyết nghiên cứu
- Tự chủ trong khoa học là tự quyết định phương hướng phát triển khoa học, các chương trình hợp tác, tự quyết định về tổ chức, về nhân sự, tự tìm kiếm nguồn tài trợ và tự quyết định về tài chính, xóa bỏ ràng buộc hành chính, tự chủ trong xác định các tiêu chí đánh giá kết quả và hiệu quả hoạt động khoa học , để có được thiết chế tự chủ trong khoa học các tổ chức nghiên cứu và triển khai cần đa dạng về chức năng và cơ cấu tổ chức
- Thiết chế tự chủ trong khoa học hiện hữu ở các nước phát triển với hệ thống các tổ chức nghiên cứu và triển khai có chức năng và cơ cấu đa dạng
- Thiết chế tự chủ trong khoa học đang hình thành ở các nước có nền kinh tế chuyển đổi và ở Việt Nam, đang thúc đẩy các tổ chức nghiên cứu và triển khai phát triển theo xu hướng đa dạng hóa chức năng và cơ cấu tổ chức
- Tái cơ cấu hệ thống tổ chức nghiên cứu và triển khai nhằm hiện thực hóa đa dạng chức năng và cơ cấu của các tổ chức nghiên cứu và triển khai
5 Phương pháp nghiên cứu
5.1 Nghiên cứu tài liệu:
Thu thập, tổng hợp, phân tích, đánh giá các thông tin, tài liệu liên quan đến cơ cấu, chức năng, và thiết chế tự chủ trong khoa học của tổ chức nghiên cứu và triển khai trong và ngoài nước gồm các tài liệu nghiên cứu về cơ sở lý luận, các công trình công bố, các chính sách nhà nước, các số liệu thống kê về hoạt động, nhân lực, thành tựu của các tổ chức nghiên cứu và triển khai
5.2 Nghiên cứu phi thực nghiệm:
- Phương pháp phỏng vấn sâu chuyên gia:
Tác giả luận án đã tiến hành phỏng vấn sâu, với lý do chọn các đối tượng thuộc các nhóm:
Trang 1612
+ Nhà quản lý, nhà khoa học đã và đang công tác tại các tổ chức nghiên cứu
và triển khai
+ Giám đốc các doanh nghiệp khoa học và công nghệ
+ Nhà quản lý đã từng công tác tại cơ quan xây dựng chính sách về khoa học
+ Nhà quản lý đã từng công tác tại Viện Chiến lược và Chính sách Khoa học
và Công nghệ
Cách phỏng vấn: tác giả gửi câu hỏi trước, hẹn gặp trực tiếp để trao đổi xung quanh chủ đề của luận án để có cơ sở phân tích, đánh giá thực trạng của các tổ chức nghiên cứu và triển khai và nhu cầu đa dạng hóa chức năng và cơ cấu của các tổ chức này và có cơ sở đưa ra các điều kiện để đảm bảo đa dạng hóa chức năng và cơ cấu của các tổ chức nghiên cứu và triển khai
- Hội thảo/tọa đàm khoa học
Để có cơ sở trong việc đưa ra các điều kiện để đảm bảo đa dạng hóa chức năng và cơ cấu của các tổ chức nghiên cứu và triển khai, tác giả đã thu nhận các bài phát biểu của các nhà quản lý, nhà khoa học trong các buổi hội thảo và tọa đàm:
+ Hội thảo về “Những vấn đề lý luận và các quan điểm tổ chức hệ thống KH&CN trong nền khoa học tự chủ”, tổ chức ngày 31/01/2015 tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn
+ Tọa đàm góp ý báo cáo trung hạn đề tài “Đánh giá kết quả và đề xuất giải pháp tăng cường triển khai thực hiện Nghị định 115/2015/NQ-CP và Nghị định 80/2007/NĐ-CP” ngày 08/12/2015 tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn
Trang 1713
+ Tọa đàm “Thị trường và Khoa học - Công nghệ” ngày 27/9/2017 tại Viện HLKHCNVN
6 Nguồn dữ liệu và công cụ hỗ trợ nghiên cứu
6.1 Nguồn dữ liệu nghiên cứu:
- Dữ liệu sơ cấp thông qua các nghiên cứu phi thực nghiệm
- Dữ liệu thứ cấp thu thập thông qua: tạp chí khoa học, luận văn, luận án, báo cáo tại hội nghị, sách chuyên khảo, giáo trình, văn bản pháp luật và các nguồn tài liệu khác
6.2 Công cụ hỗ trợ nghiên cứu:
Các phần mềm máy tính văn phòng như Microsoft Word và Microsoft Excel
Đa dạng hóa nguồn nhân lực; Đa dạng hóa sở hữu
Nghiên cứu đã cho thấy kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế vừa là điều kiện, vừa là động lực cho tái cơ cấu và nền khoa học tự chủ, biến quyền tự chủ thành năng lực tự chủ của các viện nghiên cứu và triển khai
Trang 187.3 Tính mới của Luận án
Về lý luận: Với tư cách là hệ thống, tổ chức nghiên cứu và triển khai có tính thích nghi dưới tác động của môi trường để tồn tại và phát triển Luận án đã giải quyết một cách cơ bản tính thích nghi hóa của tổ chức nghiên cứu và triển khai trong nền kinh tế thị trường là đa dạng hóa chức năng để tiến đến thiết chế tự chủ.Luận án đã đưa ra được quan hệ song hành giữa tự chủ và tái cơ cấu các tổ chức nghiên cứu và triển khai theo hướng đa dạng hóa
Về thực tiễn: Luận án xác định được các điều kiện để tự chủ và các bước tiến đến tự chủ của các tổ chức nghiên cứu và triển khai
Trang 1915
Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ ĐA DẠNG HÓA
CHỨC NĂNG VÀ CƠ CẤU TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU VÀ TRIỂN KHAI
TRONG THIẾT CHẾ TỰ CHỦ CỦA KHOA HỌC
1.1 CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU VỀ THIẾT CHẾ TỰ CHỦ, ĐA DẠNG HÓA CHỨC NĂNG VÀ CƠ CẤU TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU VÀ TRIỂN KHAI TRONG THIẾT CHẾ TỰ CHỦ CỦA KHOA HỌC Ở VIỆT NAM
1.1.1 Các nghiên cứu trong nước đã công bố trên tạp chí từ năm 2006 đến nay (sau khi ra đời Nghị định 115/2005/NĐ-CP về quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các tổ chức nghiên cứu và triển khai công lập)
Sau khi ra đời Nghị định 115/2005/NĐ-CP ban hành ngày 05/9/2015, đã có rất nhiều công bố bàn về việc thực hiện thiết chế tự chủ ở Việt Nam Có thể kể đến một
số công bố điển hình đã đưa ra các giải pháp để thực hiện tự chủ trong khoa học (xếp theo thứ tự thời gian):
Ngay sau khi ra đời Nghị định 115/2005/NĐ-CP, tại Tạp chí hoạt động Khoa học số tháng 1/2006 Doãn Minh Tâm đã có bài viết “Trao đổi về việc lập đề án chuyển đổi cơ chế hoạt động của tổ chức khoa học và công nghệ (KH&CN) công lập” Bài báo cho rằng vấn đề quan trọng nhất của các tổ chức nghiên cứu và triển khai trong việc chuyển đổi sang cơ chế tự chủ đó là phải xây dựng thành công đề án chuyển đổi cơ chế hoạt động của đơn vị để trình cấp có thẩm quyền phê duyệt Bài báo đã đưa ra kết luận là hiện nay hoạt động của các tổ chức nghiên cứu
và triển khai còn đang bị hành chính hóa và dựa vào bao cấp của nhà nước Cần chuyển mạnh các tổ chức KH&CN nghiên cứu và triển khai sang hoạt động theo cơ chế doanh nghiệp, để các tổ chức thông qua việc cung cấp kết quả nghiên cứu cho
xã hội mà tự trang trải và phát triển [77]
Bài viết về “Đổi mới chính sách tài chính đối với KH&CN” trên tạp chí Hoạt động khoa học số tháng 3/2006 của Nguyễn Thị Anh Thu trình bày về hiện trạng về
Trang 2016
tình hình tài chính ở nước ta như chính sách đầu tư, chính sách phân bổ tài chính cho hoạt động khoa học và công nghệ, cơ chế giao kinh phí trong thực hiện các nhiệm vụ khoa học và công nghệ, định mức chi tiêu, chính sách thu nhập và tiền lương, chính sách thưởng tài chính trong hoạt động khoa học và công nghệ, thủ tục thanh quyết toán hiện nay Từ hiện trạng, tác giả đã nêu lên những hạn chế của chính sách tài chính Cuối cùng, tác giả đã đưa ra những giải pháp đối với chính sách tài chính cho khoa học và công nghệ để tạo quyền tự chủ cho các tổ chức nghiên cứu và triển khai [81]
Bài báo “Bàn về tổ chức thực hiện Nghị định 115” đăng trên tạp chí Hoạt động khoa học số tháng 9/2006 của Hồ Sơn Lâm đã nêu lên thực trạng của cơ quan khoa học, con người làm khoa học và mô hình doanh nghiệp khoa học và công nghệ
ở Việt Nam hiện nay Qua đó, tác giả đã đưa ra giải pháp để thực hiện tự chủ cho các tổ chức nghiên cứu và triển khai [62]
Trong bài viết “Doanh nghiệp KH&CN-một lực lượng sản xuất mới” trên tạp chí Hoạt động khoa học do Nguyễn Quân đăng số tháng 10/2006 cũng đưa ra hướng
tự chủ cho các tổ chức KH&CN theo hướng chuyển đổi thành doanh nghiệp khoa học và Công nghệ Bài báo đã nêu lý do phải tạo lập và phát triển doanh nghiệp khoa học và công nghệ là: hoạt động khoa học và công nghệ hiện nay chưa đáp ứng được yêu cầu ngày càng tăng của công nghiệp hóa, hiện đại hóa Hội nghị trung ương 6 đã yêu cầu “từng bước chuyển các tổ chức khoa học và công nghệ sang hoạt động theo cơ chế doanh nghiệp”; xuất phát từ thực tế hiện nay, nhiều nhà khoa học
đã có kết quả nghiên cứu mang tính thực tiễn cao có thể đưa vào sản xuất để tạo ra sản phẩm có giá trị cho xã hội; kinh nghiệm của nhiều nước phát triển và mới công nghiệp hóa như Mỹ, Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc về doanh nghiệp spin-off hay start-up rất ấn tượng và đáng học tập; ở Việt Nam nhiều doanh nghiệp đang hoạt động đã có yếu tố của doanh nghiệp khoa học và công nghệ như Viện Máy và dụng cụ công nghiệp IMI… Bài báo cũng đưa ra chính sách đối với doanh nghiệp khoa học và công nghệ, đó là: nhà nước phải hỗ trợ ban đầu về tài sản, chính sách thuế, quyền tự chủ, cho phép tính vào chi phí hợp lý trước thuế khoản trích đầu tư
Trang 21Hồ Sĩ Thoảng trong bài “Bàn về cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các tổ chức KH&CN” trên tạp chí Hoạt động khoa học số tháng 12/2006 đưa ra một số ý kiến: Cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm cần được quán triệt một cách nhất quán và cân bằng: các tổ chức nghiên cứu và triển khai và các cá nhân nhà khoa học được quyền tự chủ thực sự trong tổ chức, đồng thời phải chịu trách nhiệm pháp lý đầy đủ
về những cam kết của mình trước cơ quan quản lý, các tổ chức nghiên cứu và triển khai phải được cơ cấu trên cơ sở các hướng nghiên cứu, không phải theo ngành hoặc theo hệ hành chính, cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế xây dựng, tuyển chọn và nghiệm thu đề tài Sự tự do đó là hết sức cần thiết để tạo dựng được những tập thể khoa học năng động, làm việc có hiệu quả, làm xuất hiện những tài năng khoa học thật sự [80]
Công bố của Phạm Huy Tiến “Bàn về thực hiện Nghị định 115/2005/NĐ-CP” trên tạp chí Hoạt động khoa học số tháng12/2006 cho rằng nếu chỉ đạo và thực hiện tốt riêng Điều 4 của Nghị định về chuyển đổi tổ chức và hoạt động cũng sẽ tạo bước chuyển quan trọng cho nền KH&CN nước ta [83]
Đỗ Nguyên Khoát trong bài báo “Bàn về trách nhiệm của cơ quan chủ quản đối với tổ chức chuyển đổi theo Nghị định 115” đăng trên tạp chí Hoạt động khoa học số tháng 2/2007 cho rằng các cơ quan chủ quản của tổ chức nghiên cứu và triển khai đang thực hiện chuyển đổi cần nâng cao trách nhiệm của mình, tăng cường chỉ đạo, quán triệt làm tốt những vấn đề sau: Xây dựng và triển khai nghiêm túc Đề án
Trang 2218
chuyển đổi các tổ chức nghiên cứu và triển khai sang hình thức tự chủ, tự trang trải chi phí; khắc phục khuynh hướng khoán trắng mọi thứ cho tổ chức nghiên cứu và triển khai; khắc phục những biểu hiện dựa dẫm, ỷ lại do hậu quả của cơ chế cũ, tính
ỷ lại ở nhiều người, nhiều bộ phận đã trở thành thói quen; thực hiện tốt chính sách
ưu đãi đối với đội ngũ các nhà khoa học; thường xuyên quan tâm, theo dõi hoạt động của tổ chức nghiên cứu và triển khai nhưng không can thiệp quá sâu vào hoạt động của các tổ chức này [60]
Ở bài báo “Đổi mới tư duy về tổ chức nghiên cứu tại các tổ chức KH&CN trong giai đoạn chuyển đổi” trên tạp chí Hoạt động khoa học số tháng 5/2007, Doãn Minh Tâm cho rằng để có được những chuyển biến trong hoạt động của các tổ chức nghiên cứu và triển khai công lập theo hướng tự chủ điều quan trọng là phải đổi mới trong tư duy, công việc và thói quen làm việc hàng ngày, tất cả đều phải được đánh giá và quy đổi ra giá trị lao động, có như vậy tiến trình chuyển đổi mới thành công Bài báo cũng đưa ra các biện pháp tổ chức thực hiện việc xác định nhiệm vụ khoa học và công nghệ hàng năm trong thời kỳ chuyển đổi sang cơ chế tự chủ [78]
Nguyễn Hải Hằng trong bài “Câu chuyện 115 tại các địa phương-vẫn còn nhiều bất cập” đăng trên tạp chí Hoạt động khoa học số tháng 4/2008 cho rằng khó khăn tựu chung trong thực hiện Nghị định 115 tại các địa phương đúc rút qua 4 chữ
“nhân lực” và “vật lực” Bài báo đã nêu lên vướng mắc tại các địa phương trong quá trình tự tự chủ là: nhận thức chưa đúng hoặc chưa đầy đủ về Nghị định 115, thiếu sự chỉ đạo và phối hợp giữa các ban/ngành; tiềm lực của các tổ chức nghiên cứu và triển khai còn yếu; thị trường công nghệ chưa phát triển [32]
Bài viết “Mô hình nào cho tổ chức KH&CN trong trường đại học” của Nguyễn Ngọc Điện đăng trên tạp chí Hoạt động khoa học số tháng 9/2001 cho thấy những khó khăn trong môi trường của các tổ chức KH&CN thuộc các trường đại học khi tiến hành tự chủ Tác giả cho rằng trường đại học có thể quản lý doanh nghiệp khoa học và công nghệ trong trường đại học, nhưng điều quan trọng là cần
bỏ suy nghĩ trường đại học là cơ quan chủ quản của doanh nghiệp [28]
Trang 2319
Bài “Hai “khoán 10” và một bài học” đăng trên tạp chí Hoạt động khoa học số tháng 1/2012 của Nguyễn Sỹ Lộc đã đề cập một số nguyên nhân gây cho “khoán 10” trong khoa học chưa có hồi kết là: các cơ quan hoạch định chính sách chưa thật
sự nắm chắc lợi ích cốt lõi của các tổ chức nghiên cứu và triển khai và chưa đề xuất được với lãnh đạo các quyết định chính xác, kịp thời về khoa học và công nghệ [64]
Tháng 11/2012 Vũ Cao Đàm đã có bài viết “Sớm tháo gỡ những vướng mắc trong việc thực hiện Nghị định 115/2005/NĐ-CP” đăng trên tạp chí Hoạt động khoa học bàn về Nghị định 115 trong vài tình huống điển hình và đưa ra kết luận vướng mắc cơ bản tập trung ở các thiết chế vĩ mô về KH&CN, sau đó là các thiết chế vĩ
mô trong hệ thống kinh tế - xã hội, tháo gỡ các thiết chế vi mô đã là việc khó, tháo
gỡ các thiết chế vĩ mô càng là một nan đề lớn lao gấp bội Kết thúc bài báo đã đưa
ra một số điểm ghi nhận: xác lập quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các tổ chức KH&CN công lập là xu thế tất yếu của một nền KH&CN phi nhà nước, đó là xu thế hình thành một nền khoa học và đại học tự chủ; đó là một đòi hỏi khách quan của
xu thế phát triển ở nước ta sau sự cáo chung của nền kinh tế chỉ huy tập trung, quan liêu, bao cấp sang nền kinh tế thị trường [23]
Bài “Thực hiện cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm: cần đồng bộ hóa giữa các
cơ chế, chính sách” của Đinh Việt Bách đã đưa ra giải pháp tháo gỡ cho những vướng mắc trong thực hiện tự chủ của các tổ chức KH&CN là đồng bộ hóa giữa các nội dung của Nghị định 115/2005/NĐ-CP và Nghị định 96/2010/NĐ-CP với các văn bản quy phạm pháp luật, tiếp tục hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật về
cơ chế tự chủ, có biện pháp đầu tư, nâng cao tiềm lực về tài chính, nhân lực, cơ sở vật chất [2]
Dương Nguyên Vũ cũng bàn về quyền tự chủ của các viện qua bài “Quyền tự chủ của viện nghiên cứu theo mô hình tam giác tri thức” và đã đi đến kết luận là Việc giao quyền tự chủ cho viện nghiên cứu khoa học cần phải đi kèm theo trách nhiệm và trách nhiệm – liên đới của viện nói trên và cơ quan chủ quản Khi nói đến
Trang 24độ tự đảm bảo chi thường xuyên và chi đầu tư của tổ chức KH&CN công lập, cho phép tổ chức KH&CN công lập tự đảm bảo chi thường xuyên và chi đầu tư được vận dụng cơ chế tài chính như doanh nghiệp hoặc chuyển thành doanh nghiệp, nhà nước cần tiếp tục đầu tư đẻ nâng cao tiềm lực cho tổ chức KH&CN công lập, điều chỉnh một số quy định để cơ chế tự chủ đồng bộ với các quy định khác có liên quan [3]
1.1.2 Các nghiên cứu của các đề tài, dự án trong nước
Ở Việt Nam đã có một số nghiên cứu cả trực tiếp và gián tiếp về quá trình chuyển đổi hệ thống KH&CN từ nền kinh tế kế hoạch hóa sang nền kinh tế thị trường, trong đó quá trình chuyển đổi mô hình của khoa học tự chủ đã diễn ra trong khoảng thời gian khá dài
01 đề tài cấp Bộ (1998) về “Cải tiến cơ chế quản lý các cơ quan R&D trong bối cảnh kinh tế thị trường ở Việt Nam” do Nguyễn Văn Học thực hiện Đề tài nghiên cứu hai vấn đề: tổ chức hoạt động NC&TK trong doanh nghiệp và tổ chức sản xuất kinh doanh trong cơ quan KH&CN Đề tài cho rằng quá trình chuyển đổi của hệ thống cơ quan KH&CN là một quá trình tự điều chỉnh, thích nghi của hệ thống dựa trên nguyên tắc “tự sắp xếp” trong “một trật tự pháp luật-sự điều tiết của nhà nước” Đề tài mới chỉ dừng ở mức độ mô tả, phân loại các loại hình tổ chức KH&CN trong dạng chuyển đổi [35]
Đề tài “Cải cách hành chính trong quản lý nhà nước về khoa học và công nghệ” do PGS TS Vũ Cao Đàm thực hiện giai đoạn 1997-1999, sau khi phân tích tình hình các viện, tác giả đưa ra một số hình thức khả dĩ trong chuyển đổi như sau:
Trang 2521
- Giữ nguyên trạng các viện công nghệ hiện nay và chuyển đổi thành các viện đầu ngành quốc gia
- Nhập vào một xí nghiệp sản xuất
- Chuyển thành các xí nghiệp engineering
- Chuyển thành các công ty tư vấn đa chức năng [19]
Đề tài cấp Bộ (2003-2004) “Nghiên cứu sự hình thành và phát triển doanh nghiệp khoa học và công nghệ và sự chuyển đổi một số tổ chức nghiên cứu và phát triển ở Việt Nam sang hoạt động theo cơ chế doanh nghiệp” do Bạch Tân Sinh thực hiện Sau khi đưa ra một số vấn đề lý luận của doanh nghiệp KH&CN, đề tài kết luận nên chuyển đổi một số tổ chức KH&CN thành doanh nghiệp KH&CN Đề tài cung cấp một số chứng minh thực tế phục vụ cho việc xây dựng chính sách chuyển đổi các tổ chức KH&CN thành doanh nghiệp KH&CN [75]
Đề tài cấp Bộ (2005) về “Nghiên cứu sự chuyển đổi một số tổ chức R&D sang hoạt động theo cơ chế doanh nghiệp và sự hình thành và phát triển doanh nghiệp KH&CN ở Việt Nam” do Bạch Tân Sinh làm chủ nhiệm đã nghiên cứu về nội dung chuyển đổi tổ chức KH&CN sang tự chủ, tự chịu trách nhiệm và các điều kiện thực hiện tự chủ, tự chịu trách nhiệm của tổ chức R&D khi chuyển sang hoạt động theo
cơ chế doanh nghiệp [76]
Đề tài cấp bộ về “Nghiên cứu sự phát triển của tổ chức R&D ở một số nước chọn lọc và Việt Nam” năm 2007 của tác giả Phạm Quang Trí, Viện Chiến lược chính sách KH&CN, đã đưa ra lý luận về phát triển mạng lưới cơ quan R&D của một số nước như Đức, Trung Quốc, Việt Nam và đề xuất định hướng phát triển của các tổ chức R&D của Việt Nam [85]
Đề tài cấp Bộ (2009-2010) “Nghiên cứu chính sách phát triển các loại hình tổ chức và hoạt động KH&CN ở các tập đoàn và doanh nghiệp lớn tại Việt Nam” do Hoàng Văn Tuyên thực hiện đã đưa ra kết luận rằng trong các tập đoàn kinh tế lớn việc có các tổ chức KH&CN là thực sự cần thiết Tuy nhiên, cũng còn nhiều vấn đề
về chính sách cần xem xét để có được hỗ trợ thiết thực và khả thi hơn cho các tổ chức KH&CN trong các tập đoàn kinh tế của Việt Nam hiện nay [89]
Trang 2622
1.1.3 Các nghiên cứu trong khuôn khổ luận văn thạc sĩ
Các luận văn thạc sĩ về Quản lý KH&CN tại Trường Đại học Khoa học Xã hội
và Nhân văn Hà Nội và luận văn thạc sĩ về Chính sách KH&CN tại Viện Chiến lược và Chính sách KH&CN thuộc Bộ Khoa học và Công nghệ
Trong các nghiên cứu liên quan đến tự chủ của các tổ chức KH&CN, có thể kể đến một số luận văn cao học sau (xếp theo thú tự ABC tên tác giả):
Đinh Việt Bách với đề tài “Đề xuất một số điều kiện để các tổ chức nghiên cứu và triển khai của nhà nước có năng lực tự chủ trong hoạt động KH&CN” Luận văn tập trung nêu những điều kiện để các viện thực hiện việc chuyển đổi theo Nghị định 115 [1]
Nguyễn Thanh Bình viết về đề tài “Những khó khăn trong việc chuyển đổi các đơn vị R&D của ngành Năng lượng Nguyên tử Việt Nam theo cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm và giải pháp khắc phục” [5]
Võ Thị Ngọc Hương, đề tài “Vận dụng Nghị định 43/2006/NĐ-CP vào việc tạo lập quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm đối với đơn vị sự nghiệp khoa học và công nghệ công lập thuộc ngành Y tế (Nghiên cứu trường hợp Bệnh viện Đa khoa tỉnh Long An)” [58]
Lê Thu Hương nghiên cứu về “Nhận diện những yếu tố cản trở việc thực hiện
cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm của tổ chức KH&CN theo Nghị định 115/2005/NĐ-CP” Luận văn chủ yếu bàn trên tầm các triết lý cho một chính sách
tự chủ hóa tổ chức KH&CN [59]
Trần Thị Hồng Lan với đề tài “Điều kiện chuyển đổi sang cơ chế tự chủ và tự chịu trách nhiệm của các tổ chức nghiên cứu và triển khai thủy lợi (nghiên cứu trường hợp Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam” [61]
Phạm Thị Bích Ngọc thực hiện luận văn về “Tái cơ cấu hệ thống tổ chức nghiên cứu và triển khai của Việt Nam (nghiên cứu trường hợp Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam)” Luận văn đi theo một hướng riêng biệt, cho rằng việc xác lập quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm phải bao gồm cả việc chuyển đổi về hình thức
Trang 2723
tổ chức Tác giả đề cập việc chuyển đổi một tổ chức nghiên cứu sang hình thức một
tổ chức vừa nghiên cứu vừa đào tạo [66]
Phạm Thị Hồng Vân thực hiện luận văn về “Phân tích vai trò của nhà nước trong việc thực hiện cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các tổ chức KH&CN công lập tại Hải Dương (nghiên cứu trường hợp của Trung tâm Thông tin KH&CN
và Tin học Hải Dương)” [91]
Nguyễn Thu Hợp đã nghiên cứu về “Các nhân tố ảnh hưởng đến sự thành công của việc chuyển đổi các tổ chức khoa học và công nghệ công lập theo hướng
tự chủ, tự chịu trách nhiệm” Luận văn đã nghiên cứu hiện trạng chuyển đổi của các
tổ chức nghiên cứu và triển khai công lập, phân tích những khó khăn, thuận lợi và nguyên nhân để từ đó đánh giá một số yếu tố dẫn đến thành công trong việc chuyển đổi theo hướng tự chủ, tự chịu trách nhiệm [36]
Qua việc tìm hiểu tình hình nghiên cứu trong nước, ta thấy rằng các công trình công bố, đề tài, dự án, luận văn thạc sỹ chỉ quan tâm đến việc chuyển các tổ chức nghiên cứu và triển khai thành các doanh nghiệp và xoay quanh việc tìm cách để các tổ chức tự chủ về tài chính như thế nào Trong khi đó cốt lõi của tự chủ là trao quyền cho các tổ chức để họ biến quyền đó thành năng lực tự chủ, mà năng lực tự chủ quan trọng nhất là năng lực nội tại của bản thân các tổ chức Năng lực nội tại này phải bắt đầu từ đa dạng hóa hoạt động từ đó dẫn đến đa dạng hóa chức năng và
cơ cấu Tác giả thấy rằng đa dạng hóa chức năng và cơ cấu là xu thế tất yếu của thiết chế tự chủ trong khoa học mà chưa một nghiên cứu nào trong nước đề cập đến Tác giả tiếp tục tìm hiểu về các nghiên cứu của nước ngoài về thiết chế tự chủ,
về các loại hình nghiên cứu và triển khai
1.2 CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU VỀ THIẾT CHẾ TỰ CHỦ, ĐA DẠNG HÓA CHỨC NĂNG VÀ CƠ CẤU TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU VÀ TRIỂN KHAI TRONG THIẾT CHẾ TỰ CHỦ TRÊN THẾ GIỚI
1.2.1 Các nghiên cứu bàn về thiết chế tự chủ trong khoa học trên thế giới
Trên thế giới, hướng nghiên cứu về tự chủ của các tổ chức NC&TK ở các nước được quan tâm từ rất sớm xoay quanh một chủ đề có tên gọi là quyền tự chủ
Trang 2824
của khoa học Đây là mối quan tâm của nhiều hướng nghiên cứu khác nhau về Xã hội học khoa học, Xã hội học chính trị của khoa học Đặc biệt sôi động là những thảo luận hầu như trong suốt thập niên 1990 về quyền tự chủ của khoa học sau khi Liên Xô và một loạt nước XHCN Đông Âu sụp đổ
Sau khi tìm hiểu, phân tích về chất lượng nghiên cứu và quyền tự chủ của các
tổ chức nghiên cứu và triển khai, một số nghiên cứu đã đưa ra kết luận là chất lượng của các đơn vị nghiên cứu và triển khai có thể được cải tiến một cách tuyến tính so với mức độ tự chủ được trao [112,113]
Triết lý Giáo dục của Trường Đại học Mumbai đã nêu rõ Quyền tự chủ, khi thực hiện với tinh thần trách nhiệm (responsibility) và trách nhiệm-liên đới (accountability) chắc chắn sẽ dẫn đến sự xuất sắc trong học thuật, quản trị và quản
lý tài chính của các tổ chức Nếu nó không dẫn đến điều này, ta có thể kết luận một cách an toàn là quyền tự chủ đó đã bị lạm dụng [94]
Các dự thảo của Hiệp ước Bologna năm 2003 (P Nyborg 2003) cho thấy việc
tự quản về tài chính và tự do học thuật của một tổ chức là những yếu tố cần thiết cho sự phát triển giáo dục và nghiên cứu khoa học tại Châu Âu Họ định nghĩa như sau:
- Quyền tự chịu trách nhiệm trong học thuật (academic autonomy) là quyền tự
do quyết định về các vấn đề học thuật như chương trình đào tạo, giáo trình và các công cụ giảng dạy, phương pháp sư phạm, kỹ thuật đánh giá học tập của sinh viên
- Quyền tự chủ hành chính (administrative autonomy) là quyền tự do trong việc quản trị của cơ quan, đơn vị đối với cơ quan chủ quản Đó là quyền tự do được quản lý các công việc theo hướng tác động và khuyến khích các tư duy cầu tiến, sáng tạo (initiatives) trong công việc và phát triển con người đang công tác cho cơ quan, và như vậy phát triển cơ quan theo chiều hướng năng động và sang tạo Việc phát triển nguồn nhân lực là một trong những việc quản trị, và quyền tự do tuyển nhân sự và quyết định lương của các nhân sự này là một thành phần của quyền tự chủ
Trang 2925
- Quyền tự quản về tài chính là quyền tự do của một cơ quan trong việc sử dụng một cách cẩn trọng các nguồn tài chính cơ quan đó vận động được, đảm bảo được các ưu tiên nhiệm vụ của cơ quan Trách nhiệm (responsibility) và Trách nhiệm – liên đới (accountability) là hai mặt của một bàn tay tự quản
- Sự tự chủ của các tổ chức nghiên cứu được thiết kế gần giống như sự phân quyền (decentralized management), tuy nhiên trách nhiệm liên đới (accountability) chính là khung văn hoá đảm bảo sự thành công của việc tự quản của một đơn vị Phải chăng quyền luôn luôn đi với trách nhiệm, mà nếu trách nhiệm không được đảm bảo thì quyền này sẽ đi đến đâu? Có ảnh hưởng gì cho cơ quan, đơn vị được giao quyền? [109]
Theo báo cáo về quản trị đại học trên thế giới của World Bank năm 2008, hiện vẫn đang tồn tại 4 mô hình quản trị đại học với các mức độ tự chủ khác nhau, từ mức độ hoàn toàn không tự chủ là mô hình Nhà nước kiểm soát (state control) ở Malaysia, đến các mô hình tự chủ ngày càng nhiều là bán tự chủ (semi-autonomous)
ở Pháp và New Zealand, mô hình bán độc lập (semi-independent) ở Singapore, và
mô hình độc lập (independent) ở Anh, Úc [98] Mặt khác, cũng theo báo cáo này, xu hướng chung trên toàn cầu hiện nay là thay đổi từ mô hình Nhà nước kiểm soát sang các mô hình có mức độ tự chủ cao hơn – một sự thay đổi có tên gọi là sự chuyển dịch từ mô hình Nhà nước kiểm soát (state control) sang mô hình Nhà nước giám sát (state supervision) [99] Khi xem xét các dự án cải cách giáo dục được tiến hành trên thế giới trong thời gian vừa qua, trong đó bao gồm cả việc xây dựng mới
và ban hành luật giáo dục đại học lần đầu tiên, hoặc điều chỉnh bổ sung các đạo luật mới cho giáo dục đại học, có thể thấy vấn đề tự chủ luôn được xem là một trong những vấn đề cốt lõi nhất cần giải quyết trước khi có thể quyết định những khía cạnh cụ thể khác [100]
Nghiên cứu về tự chủ trong nghiên cứu khoa học ở Châu âu trong bài
“Governing Higher Education: Comparing National Perspectives, in Governing Higher Education: National Perspectives on Institutional Governance” Amaral,
Jones và Karseth đã nêu rõ trường đại học (ĐH) tại các nước châu Âu lục địa được
Trang 3026
xây dựng trên khái niệm tự do học thuật Tự chủ của trường ĐH về các vấn đề học thuật được coi là một giá trị thiêng liêng và đặt ở mức ưu tiên cao nhất Trường ĐH được coi là một thể chế của nhà nước nên vai trò của nhà nước trong việc quản lý trường ĐH được coi là tất yếu Tại các nước này, nhà nước thường quy định khung chương trình quốc gia và các tiêu chuẩn chung về đào tạo [95]
Một nghiên cứu của Cơ quan Phát triển Quốc tế Mỹ (USAID) đã có đánh giá
về thành công trong mô hình tự chủ của Viện KIST (Hàn Quốc) và so sánh với các viện nghiên cứu cùng thời ở những nước đang phát triển như sau:
Ngay từ ban đầu, viện KIST đã được xác định là sẽ được trao quyền tự chủ tối
đa Tổng thống Park Chung Hee đã ban hành một sắc lệnh đặc biệt, Luật Hỗ trợ KIST, trong đó đảm bảo cấp tiền và đất đai cho viện KIST, và không cho phép bất
kỳ cơ quan chức năng nào được phép kiểm toán tài khoản hay can thiệp vào kế hoạch hoặc hoạt động của viện KIST Chính phủ Hàn Quốc đã chấp nhận làm một điều chưa từng có tiền lệ, đó là lập ra một quỹ hiến tặng và vốn hóa quỹ này Chính phủ cũng được yêu cầu cấp rất nhiều tiền và đất đai có giá trị, đặt những tài sản này dưới quyền quản trị của một Hội đồng được ủy thác và đa số các thành viên hội đồng này không phải là những người thuộc cơ quan chính phủ Hội đồng này bổ nhiệm chủ tịch của KIST Tổng chi phí đầu tư ban đầu cho viện KIST là 24,1 triệu USD, bao gồm chi cho xây dựng, mua trang thiết bị, tuyển dụng, đào tạo, và tiền từ quỹ hiến tặng Nhờ có cơ chế tự chủ và nguồn đầu tư đáng kể ban đầu nên viện KIST có thể cấp được mức lương rất cao so với mặt bằng lương công chức, tạo được môi trường làm việc thuận lợi, bao gồm cả nhà ở, phương tiện đi lại, qua đó đã thu hút được các nhà khoa học và chuyên gia hàng đầu, trong đó có những người trước đó làm việc ở nước ngoài Ngay từ đầu viện KIST đã mời được gần 30 nhà khoa học có năng lực chuyên môn cao từng có tối thiểu 5 năm làm việc ở trình độ tiến sĩ ở nước ngoài Các nhà tư vấn của Viện Battelle Memorial của Mỹ từng dự đoán rằng viện KIST sẽ cần hỗ trợ tài chính trong giai đoạn khoảng 5 tới 10 năm, dựa trên kinh nghiệm của chính họ: Phòng thí nghiệm Battelle tại Columbus, Ohio,
đã mất tới 9 năm mới hòa vốn Trong thực tế, sau năm tài khóa 1970 khi tài trợ của
Trang 3127
Mỹ kết thúc thì về cơ bản viện KIST đã tự tồn tại được Về phía Chính phủ Hàn Quốc, ngoài khoản đầu tư ban đầu họ cũng chưa bao giờ phải dùng chi tiêu ngân sách Nhà nước để hỗ trợ cho viện KIST, ngoại trừ hằng năm họ vẫn để dành một khoản để trả cho những nghiên cứu đặt hàng với viện KIST Nguồn thu nào để KIST tự tồn tại sau 4 năm? Viện KIST tồn tại được chỉ sau 4 năm là nhờ cách triển khai xây dựng và phát triển rất hợp lý Đầu tiên, họ tiến hành một cuộc khảo sát rất chi tiết về các lĩnh vực công nghiệp của Hàn Quốc để đảm bảo rằng họ hiểu rõ các vấn đề mà các ngành công nghiệp đang gặp phải, cũng như những tiến trình cần thiết để thúc đẩy những ngành này phát triển hơn nữa Trước khi viện KIST tiến hành nghiên cứu thử nghiệm đầu tiên, một nhóm 80 người gồm các nhà khoa học,
kỹ sư, chuyên gia cơ khí, bao gồm người Hàn Quốc và nước ngoài, đã tiến hành điều tra, phân tích kỹ lưỡng trên 600 nhà máy công nghiệp Ngày nay, viện KIST vẫn không ngừng liên tục cập nhật thông tin về tình hình phát triển công nghệ và các ngành công nghiệp, cũng như các cơ hội xuất khẩu trên thị trường quốc tế
So sánh với các viện nghiên cứu cùng thời ở những nước đang phát triển:
Một nghiên cứu của James P.Blackledge thực hiện cho USAID đã khảo sát khoảng
60 viện nghiên cứu tại 30 nước đang phát triển từ những năm 70, giai đoạn gần với thời điểm viện KIST của Hàn Quốc ra đời Blackledge đánh giá rằng đa số các viện trên đều hoạt động kém hiệu quả, lệ thuộc vào một bộ ngành nào đó, thường bị coi
là „tháp ngà‟ do chỉ nghiên cứu theo sở thích thuần túy của một số nhà khoa học, hoặc mô phỏng lại các nghiên cứu đã được thực hiện ở nơi khác, hầu như không gắn kết với các doanh nghiệp và ngành công nghiệp Nghiên cứu đã có sự đối chiếu giữa mô hình viện KIST và một số viện khác của Châu Á, có thể tóm tắt như sau:
Viện SISIR của Singapore (Singapore Institute of Standards and Industrial Research):
Được thành lập từ năm 1969 với mục tiêu ban đầu nhằm tiến hành những nghiên cứu dẫn tới sự phát triển của các ngành công nghiệp mới ở Singapore Tuy nhiên, viện đã hoạt động rất khó khăn trong những năm đầu tiên Phải tới khi viện học tập theo mô hình của viện KIST, tiến hành liên hệ và liên kết chặt chẽ với các doanh
Trang 3228
nghiệp tư nhân, nghiên cứu về những yêu cầu cho đổi mới công nghệ và khảo sát thị trường trong nước cũng như quốc tế, SISIR mới thực sự trở thành một nguồn lực hiệu quả trong công cuộc hiện đại hóa Singapore
Viện Nghiên cứu Khoa học và Công nghiệp Malaysia (NISIR): Mục tiêu ban
đầu của viện là trở thành một viện nghiên cứu và phát triển đa mục tiêu, nhưng mục tiêu này không thành công do sự chi phối lợi ích của một số viện chuyên ngành ở Malaysia Hậu quả gây ra là sự lãng phí vì những nghiên cứu chồng chéo và tệ hành chính quan liêu NISIR có quan hệ kết nối tốt với các doanh nghiệp và các ngành công nghiệp, nhưng doanh thu của viện chỉ được khoảng 5-10% chi phí thực hiện các hợp đồng Như vậy viện phải lệ thuộc nhiều vào tài trợ của chính phủ, và các kế hoạch hoạt động của viện thường xuyên bị các quan chức chính phủ chi phối
Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Công nghiệp Kim loại (MIRDC), Philippines: Được thành lập từ năm 1966, MIRDC có mức độ tự chủ khá cao, dù có
tới 4 quan chức chính phủ trong tổng số 7 thành viên hội đồng quản trị MIRDC có một chương trình chủ động phát triển các hợp đồng với các ngành công nghiệp và thường xuyên đi khảo sát tại các nhà máy Tiền thu về từ các hợp đồng được chuyển vào một quỹ do MIRDC quản lý và có thể được dùng để thưởng cho các chuyên gia, nhà khoa học MIRDC học tập khá sát theo mô hình của viện KIST trên nhiều khía cạnh, nhưng không thực hiện nhiều lĩnh vực nghiên cứu như KIST
Hội đồng Nghiên cứu Khoa học và Công nghiệp Pakistan (PCSIR): Được
thành lập từ năm 1953, PCSIR là tổ chức công nghệ lớn nhất ở Pakistan Mặc dù tự coi mình là tự chủ nhưng tổ chức này vẫn bị chính phủ kiểm soát tài chính PCSIR bắt đầu tích cực làm dịch vụ cho các ngành công nghiệp từ năm 1965, nhưng doanh thu không đáng kể so với chi phí hoạt động Trở ngại lớn nhất của PCSIR là mức lương quá thấp so với khu vực tư nhân, khiến tổ chức này không thể giữ chân được người tài
Hội đồng Nghiên cứu Khoa học Công nghiệp (CSIR), Ấn Độ: Được thành lập
năm 1942 với mục tiêu nhằm thúc đẩy khoa học và ứng dụng vào phát triển quốc gia, SCIR là một tổ chức gắn với Vụ Khoa học và Công nghệ của Bộ Kế hoạch, có
Trang 3329
nhiệm vụ đưa khoa học và công nghệ vào các kế hoạch phát triển kinh tế đất nước Toàn bộ ngân sách của SCIR được cấp bởi chính phủ và mọi khoản tiền thu được của tổ chức này được nộp vào ngân sách Hoạt động của tổ chức bị tệ quan liêu hành chính chi phối, hoàn toàn không có tính tự chủ, dù nền khoa học và công nghệ của Ấn Độ vốn vẫn được thế giới coi trọng
Tập đoàn Nghiên cứu Khoa học Ứng dụng Thái Lan (ASRCT): Được thành lập
từ năm 1963 và đi vào hoạt động từ năm 1964, ASRCT là trung tâm chính thực hiện các nghiên cứu phục vụ Chính phủ Tuy được coi là một đơn vị tự chủ ứng dụng công nghệ của Nhà nước, hội đồng quản trị của tổ chức này được bổ nhiệm bởi Chính phủ Các nhà khoa học thiếu động lực nghiên cứu vì thù lao thấp, chỉ cao gấp rưỡi lương công chức thông thường, và thiếu chế độ thưởng Mọi doanh thu đều nộp hết vào quỹ do giám đốc tổ chức (kiêm chủ tịch hội đồng quản trị) quản lý mà không được phân vào ngân quỹ cho từng dự án Hậu quả là hoạt động nghiên cứu kém hiệu quả, thu không đủ bù chi [42]
Từ những ví dụ trên đây cho thấy rằng tự chủ là điều kiện đầu tiên để các viện nghiên cứu ứng dụng khoa học và công nghệ hoạt động hiệu quả Sự kiểm soát quá mức về thu nhập và thù lao của chính phủ đối với các viện này đều gây kìm hãm động lực sáng tạo của cá nhân và tổ chức Nghiên cứu trên cũng cho thấy sự quan trọng trong việc gắn kết chặt chẽ với doanh nghiệp, thường xuyên chủ động tiến hành những khảo sát về tình hình phát triển của công nghệ, các ngành công nghiệp, các thị trường trong và ngoài nước của các viện nghiên cứu và triển khai
1.2.2 Các nghiên cứu về chuyển đổi sang thiết chế tự chủ ở các nước xã hội chủ nghĩa:
Ở các nước có nền kinh tế chuyển đổi, đang phát triển, một trong những biện pháp tái cơ cấu các viện nghiên cứu là chuyển các viện nghiên cứu công nghệ sang hoạt động theo cơ chế doanh nghiệp, hoặc thành đơn vị tự trang trải kinh phí, hoặc thành viện thuộc các doanh nghiệp Trung Quốc là một minh chứng điển hình cho điều này Trong bài viết “The structural Reform of the R&D System in China” của Yan [115] Trung Quốc đã từng bước chuyển đổi các viện nghiên cứu sang hoạt
Trang 3430
động theo cơ chế doanh nghiệp bằng cách buộc các viện phải tự hạch toán kinh tế, chuyển các viện nghiên cứu thành doanh nghiệp… Bên cạnh đó, các viện chuyển đổi được hưởng một số quyền tự chủ nhất định theo phương châm “nhà nước khuyến khích các viện liên kết chặt chẽ với khu vực sản xuất trên cơ sở phát huy tiềm lực khoa học và công nghê nhằm thúc đẩy sản xuất” Một trong số 6 loại hình tập đoàn kinh tế của Trung Quốc, có “Tập đoàn hòa nhập nghiên cứu khoa học với sản xuất kinh doanh” Loại tập đoàn này lấy những đơn vị nghiên cứu khoa học trong cùng ngành hoặc xí nghiệp công nghiệp lớn làm chủ thể, bổ sung cho nhau lợi thế khoa học-kỹ thuật và vốn nhằm phát triển sản phẩm kỹ thuật cao từ đó chế tạo sản phẩm có giá trị, nâng cao năng lực cạnh tranh
Liên quan đến chính sách chuyển đổi hệ thống khoa học và công nghệ phải kể đến phân tích khá toán diện của tác giả Zhu Sendi năm 1995 trong bài “The re-structure of the R&D system of machinery industry ans its impact on the development of economy in China” [116] Sau khi phân tích các điểm trọng tâm về các biện pháp chính sách của nhà nước liên quan đến cải cách các viện nghiên cứu
và triển khai theo các giai đoạn khác nhau: giai đoạn tiền cải cách (1978-1995), giai đoạn cải cách hệ thống quản lý khoa học và công nghệ và xây dựng thị trường công nghệ (1985-1987), giai đoạn sáp nhập các viện nghiên cứu và triển khai vào các doanh nghiệp hiện có (sau 1987) và chuyển đổi toàn bộ các viện nghiên cứu và triển khai (từ 1990), tác giả đã đưa ra một số phát hiện về quá trình cải cách các viện nghiên cứu và triển khai của Trung Quốc: cải cách các viện nghiên cứu và triển khai công nghệ công nghiệp là rất cần thiết để các viện này thích nghi với tình hình kinh
tế mới; cách tiếp cận thị trường công nghệ minh chứng là không hiệu quả trong việc thích nghi hóa hệ thống nghiên cứu và triển khai cũ đối với vấn đề cải cách kinh tế định hướng thị trường, việc tái cơ cấu là cần thiết của quá trình chuyển đổi các viện nghiên cứu và triển khai công nghệ công nghiệp
Sau khi hệ thống các nước XHCN cũ ở Đông Âu tan rã, cùng với sự thay đổi
hệ thống chính trị và kinh tế, hệ thống tổ chức khoa học và công nghệ ở những nước này buộc phải chuyển đổi nhằm thích nghi với những điều kiện mới Trong những
Trang 35Tất cả các nghiên cứu về thiết chế tự chủ đã nêu trên chủ yếu đều nói về tầm quan trọng của thiết chế tự chủ giúp các tổ chức nghiên cứu và triển khai phát triển Một số nghiên cứu phân tích rõ về tự chủ trong khoa học nói chung và ở một số nước nói riêng Các nghiên cứu về các nước xã hội chủ nghĩa đã nêu ra các hướng chuyển đổi đó là chuyển viện thành doanh nghiệp như Trung Quốc hay xây dựng lại
từ đầu hệ thống khoa học và công nghệ như ở các nước Đông Âu
1.3 TỔNG HỢP TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ LUẬN
ÁN CẦN TẬP TRUNG GIẢI QUYẾT
1.3.1 Kết quả đã đạt đƣợc:
1.3.1.1 Những nghiên cứu trong nước:
- Đã làm rõ một số vấn đề về tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong các tổ chức nghiên cứu và triển khai
- Đưa ra những rào cản trong tiến trình thực hiện Nghị định 115
- Phân tích các điều kiện để một tổ chức KH&CN công lập có thể chuyển đổi theo Nghị định 115
- Làm rõ vai trò của nhà nước trong quá trình chuyển đổi sang thiết chế tự chủ
- Làm rõ nhu cầu khách quan trong quá trình tự chủ, tự chịu trách nhiệm là được tự chủ tái cơ cấu
Trang 3632
- Một số nghiên cứu đi sâu phân tích những bất cập về mặt triết lý của quá trình chuyển đổi, từ triết lý nhà nước làm khoa học sang một triết lý khác trong đó nhà nước quản lý vĩ mô về khoa học
- Đa số các nghiên cứu chú trọng đến tự chủ về tài chính và xoay quanh việc làm thế nào để tự chủ về tài chính
1.3.1.2 Những nghiên cứu trên thế giới
- Các nghiên cứu nhấn mạnh về lợi ích và tầm quan trọng của tự chủ đối với các tổ chức nghiên cứu và triển khai
- Chứng minh tính tất yếu của thiết chế tự chủ trong khoa học
- Nêu rõ các nội dung của tự chủ, các mức độ tự chủ
- Các nước xã hội chủ nghĩa trong quá trình chuyển đổi đã đưa ra bài học về hoàn thiện thiết chế tự chủ, những bước tiến trong tự chủ, cách thức để chuyển sang nền khoa học tự chủ
1.3.2 Những vấn đề chƣa đƣợc giải quyết
1.3.2.1 Các công bố, đề tài, luận văn trong nước:
- Chưa làm rõ quyền tự chủ, năng lực tự chủ và mối quan hệ giữa quyền tự chủ
- Chưa làm rõ được mối quan hệ giữa đa dạng hóa chức năng và cơ cấu tổ chức nghiên cứu và triển khai với thiết chế tự chủ
1.3.2.2 Các công trình nghiên cứu trên thế giới
- Ở các nước phát triển đã có thiết chế tự chủ trong khoa học, các tổ chức nghiên cứu và triển khai của họ vốn đã đa dạng hóa chức năng và cấu trúc nên họ
Trang 3733
không nghiên cứu về vấn đề này nữa mà chỉ phân tích tầm quan trọng và nội dung của tự chủ trong các tổ chức nghiên cứu và triển khai, không đưa ra cách thức và hướng đi để có thiết chế tự chủ trong khoa học
- Ở các nước xã hội chủ nghĩa:
+ Trung Quốc cũng giống một số nghiên cứu của Việt Nam chuyển viện cứu thành doanh nghiệp mà không tìm hướng đi cho các viện nghiên cứu có thể chuyển dần sang tự chủ
+ Ở các nước Đông Âu cách thức chuyển đổi sang thiết chế tự chủ của họ phần lớn là xóa bỏ hệ thống cũ và xây dựng lại hệ thống mới Cách thức chuyển đổi này không phù hợp ở nước ta
1.3.3 Vấn đề luận án tập trung nghiên cứu
- Với sự ổn định chính trị, không thể phá vỡ các tổ chức nghiên cứu và triển khai như một số nước Đông Âu mà phải chuyển dần sang tự chủ
- Quyền tự chủ ở Việt Nam là do nhà nước trao phải tìm cách biến những quyền tự chủ đó thành năng lực tự chủ cho các tổ chức nghiên cứu và triển khai
- Để thực hiện điều này phải tái cơ cấu các viện nghiên cứu và triển khai theo hướng đa dạng hóa chức năng và cơ cấu như tính tất yếu của thiết chế tự chủ trong khoa học
1.4 TIỂU KẾT CHƯƠNG 1
Trong chương 1, tác giả đã trình bày tổng quan tình hình nghiên cứu về thiết chế tự trong khoa học ở Việt Nam tại các công bố trên tạp chí, các đề tài dự án, các luận văn từ năm 2005 đến nay
Tác giả đã tìm hiểu các nghiên cứu thiết chế tự chủ trong khoa học của các nước phát triển và quá trình phát triển thiết chế tự chủ trong khoa học ở các nước xã hội chủ nghĩa
Qua tìm hiểu về các nghiên cứu trong nước, nghiên cứu của các nước phát triển và các nước xã hội chủ nghĩa, tác giả thấy có một khoảng trống là chưa có một nghiên cứu nào nghiên cứu việc tái cơ cấu các tổ chức nghiên cứu và triển khai theo hướng đa dạng hóa chức năng và cơ cấu để mở đường cho việc tự chủ Muốn có
Trang 3834
được thiết chế tự chủ trong khoa học, các tổ chức nghiên cứu và triển khai cần phải nâng cao nội lực bằng cách đa dạng hóa hoạt động từ đó tạo ra sức ép buộc phải đa dạng hóa chức năng và cơ cấu
Trang 3935
Chương 2
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐA DẠNG HÓA CHỨC NĂNG VÀ CƠ CẤU CỦA CÁC TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU VÀ TRIỂN KHAI
TRONG THIẾT CHẾ TỰ CHỦ CỦA KHOA HỌC
2.1 TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU VÀ TRIỂN KHAI VÀ THIẾT CHẾ TỰ CHỦ TRONG KHOA HỌC
2.1.1 Tổ chức nghiên cứu và triển khai và hoạt động nghiên cứu và triển khai
- Khái niệm tổ chức khoa học và công nghệ: Theo điều 3, Luật Khoa học và Công nghệ: “Tổ chức khoa học và công nghệ là tổ chức có chức năng chủ yếu là nghiên cứu khoa học, nghiên cứu và triển khai và phát triển công nghệ, hoạt động dịch vụ khoa học và công nghệ, được thành lập và đăng ký hoạt động theo quy định của pháp luật” [73]
- Khái niệm nghiên cứu khoa học: “Nghiên cứu khoa học là hoạt động phát hiện, tìm hiểu các hiện tượng, sự vật, quy luật của tự nhiên, xã hội và tư duy; sáng tạo các giải pháp nhằm ứng dụng vào thực tiễn Nghiên cứu khoa học bao gồm nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu ứng dụng” [73].
Theo “Giáo trình Phương pháp luận nghiên cứu khoa học” của Vũ Cao Đàm:
- Nghiên cứu khoa học là sự phát hiện bản chất sự vật, phát triển nhận thức khoa học về thế giới; hoặc là sáng tạo phương pháp mới và phương tiện kỹ thuật mới để làm biến đổi sự vật phục vụ cho mục tiêu hoạt động của con người
- Về mặt thao tác, có thể định nghĩa, nghiên cứu khoa học là quá trình hình thành và chứng minh luận điểm khoa học về một sự vật hoặc hiện tượng cần khám phá [21]
- Khái niệm hoạt động khoa học và công nghệ là “hoạt động nghiên cứu khoa học, nghiên cứu và triển khai thực nghiệm, phát triển công nghệ, ứng dụng công nghệ, dịch vụ khoa học và công nghệ, phát huy sáng kiến và hoạt động sáng tạo khác nhằm phát triển khoa học và công nghệ” [73]
Trang 4036
- Hoạt động khoa học và công nghệ gồm có 4 hoạt động chính: Hoạt động nghiên cứu và triển khai, chuyển giao công nghệ, dịch vụ khoa học và công nghệ, và phát triển công nghệ theo sơ đồ tại Hình 2.1:
Hình 2.1 Sơ đồ hoạt động khoa học và công nghệ [21]
- Hoạt động nghiên cứu và triển khai gồm có: nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu
ứng dụng và triển khai công nghệ
- Khái niệm về tổ chức nghiên cứu và triển khai: tổ chức nghiên cứu và triển
khai là tổ chức có chức năng chủ yếu là nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng và triển khai công nghệ Khi đa dạng hóa, tổ chức nghiên cứu và triển khai thực hiện thêm chức năng sản xuất (sản xuất ra sản phẩm có thể thương mại hóa được), chức năng dịch vụ và đào tạo
2.1.2 Cơ sở lý luận về thiết chế tự chủ trong khoa học
2.1.2.1 Một số khái niệm về kinh tế thị trường và tự chủ
Kinh tế thị trường