Tổng quan các vấn đề lý thuyết quan trọng và tình hình nghiên cứu về các khuynh hướng văn học và khuynh hướng tiểu thuyết tâm lý trong văn học Việt Nam từ 1925 đến 1945. Chỉ ra sự thay đổi tư duy nghệ thuật trong tiểu thuyết từ khi Tố Tâm của Hoàng Ngọc Phách ra đời và một số hướng tiếp cận mới với đề tài phân tích tâm lý trong tiểu thuyết. Chỉ ra khuynh hướng dịch chuyển từ tiểu thuyết luận đề, tiểu thuyết tự truyện sang tiểu thuyết tâm lý. Chỉ ra những loại hình nhân vật xuất hiện trong tiểu thuyết tâm lý để thể hiện sự thay đổi quan niệm về hiện thực và con người, sự đổi mới tư duy của nhà văn từ 1925 đến 1945. Chỉ ra những nét kế thừa và cách tân trên phương diện nghệ thuật của tiểu thuyết tâm lý từ 1925 đến 1945 về nghệ thuật trần thuật, kết cấu, cốt truyện, ngôn ngữ và giọng điệu, từ đó khẳng định những đóng góp của các nhà văn giai đoạn này đối với việc hiện đại hoá tiểu thuyết ở nước ta. Tổng quan các vấn đề lý thuyết quan trọng và tình hình nghiên cứu về các khuynh hướng văn học và khuynh hướng tiểu thuyết tâm lý trong văn học Việt Nam từ 1925 đến 1945. Chỉ ra sự thay đổi tư duy nghệ thuật trong tiểu thuyết từ khi Tố Tâm của Hoàng Ngọc Phách ra đời và một số hướng tiếp cận mới với đề tài phân tích tâm lý trong tiểu thuyết. Chỉ ra khuynh hướng dịch chuyển từ tiểu thuyết luận đề, tiểu thuyết tự truyện sang tiểu thuyết tâm lý. Chỉ ra những loại hình nhân vật xuất hiện trong tiểu thuyết tâm lý để thể hiện sự thay đổi quan niệm về hiện thực và con người, sự đổi mới tư duy của nhà văn từ 1925 đến 1945. Chỉ ra những nét kế thừa và cách tân trên phương diện nghệ thuật của tiểu thuyết tâm lý từ 1925 đến 1945 về nghệ thuật trần thuật, kết cấu, cốt truyện, ngôn ngữ và giọng điệu, từ đó khẳng định những đóng góp của các nhà văn giai đoạn này đối với việc hiện đại hoá tiểu thuyết ở nước ta. Tổng quan các vấn đề lý thuyết quan trọng và tình hình nghiên cứu về các khuynh hướng văn học và khuynh hướng tiểu thuyết tâm lý trong văn học Việt Nam từ 1925 đến 1945. Chỉ ra sự thay đổi tư duy nghệ thuật trong tiểu thuyết từ khi Tố Tâm của Hoàng Ngọc Phách ra đời và một số hướng tiếp cận mới với đề tài phân tích tâm lý trong tiểu thuyết. Chỉ ra khuynh hướng dịch chuyển từ tiểu thuyết luận đề, tiểu thuyết tự truyện sang tiểu thuyết tâm lý. Chỉ ra những loại hình nhân vật xuất hiện trong tiểu thuyết tâm lý để thể hiện sự thay đổi quan niệm về hiện thực và con người, sự đổi mới tư duy của nhà văn từ 1925 đến 1945. Chỉ ra những nét kế thừa và cách tân trên phương diện nghệ thuật của tiểu thuyết tâm lý từ 1925 đến 1945 về nghệ thuật trần thuật, kết cấu, cốt truyện, ngôn ngữ và giọng điệu, từ đó khẳng định những đóng góp của các nhà văn giai đoạn này đối với việc hiện đại hoá tiểu thuyết ở nước ta.
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
Trần Thanh Việt
KHUYNH HƯỚNG TIỂU THUYẾT TÂM LÝ VIỆT NAM
TỪ 1925 ĐẾN 1945 Chuyên ngành: Lí luận văn học
LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS Phạm Thành Hưng
XÁC NHẬN NCS ĐÃ CHỈNH SỬA THEO QUYẾT NGHỊ
CỦA HỘI ĐỒNG ĐÁNH GIÁ LUẬN ÁN
Người hướng dẫn khoa học Chủ tịch hội đồng đánh giá
Luận án Tiến sĩ
Hà Nội - 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực và chưa được bất cứ tác giả nào công bố trong các công trình khác Các trích dẫn đều có xuất xứ rõ ràng
Tác giả luận án
Trần Thanh Việt
Trang 4Tôixin gửi lời tri ân tới Ban Chủ nhiệm, các thầy cô giáo Khoa Văn học Các thầy cô không chỉ trao truyền kiến thức, góp ý chuyên môn mà còn tạo mọi điều kiện để tôi có thời gian hoàn thành luận án
Đặc biệt, xin gửi tới PGS.TS Phạm Thành Hưng lòng biết ơn chân thành Thầy đã tận tình chỉ dạy, gợi mở và đặt niềm tin vào nghiên cứu của tôi
Sau cùng, xin cảm ơn sự đồng hành của gia đình và sự cổ vũ, động viên của
bè bạn
Tác giả luận án
Trần Thanh Việt
Trang 5MỤC LỤC LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
MỞ ĐẦU 3
1 Lý do chọn đề tài 3
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 4
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5
4 Phương pháp nghiên cứu 6
5 Đóng góp mới của luận án 7
6 Cấu trúc luận án 7
Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 8
1.1 Giới thuyết về tiểu thuyết tâm lý 8
1.1.1 Thể loại tiểu thuyết 8
1.1.2 Tiểu thuyết tâm lý 11
1.1.3 Khuynh hướng tiểu thuyết tâm lý 15
1.2 Tình hình nghiên cứu tiểu thuyết tâm lý 19
1.2.1 Vấn đề phân định thể tài 19
1.2.2 Vấn đề phân tích tâm lý trong tiểu thuyết 27
1.2.3 Vấn đề nhân vật tâm lý 30
1.2.4 Vấn đề khuynh hướng tiểu thuyết tâm lý 34
Tiểu kết chương 1 49
Chương 2 TIỂU THUYẾT TÂM LÝ NHÌN TỪ SỰ DỊCH CHUYỂN THỂ LOẠI 50
2.1 Những tiền đề văn hóa - xã hội 50
2.1.1 Sự thay đổi cơ cấu kinh tế và giai tầng xã hội 50
2.1.2 Ảnh hưởng văn hóa phương Tây và nhu cầu đổi mới nghệ thuật 52
2.1.3 Tác động của những cuộc tranh luận văn học 56
2.1.4 Sự trưởng thành của ý thức cái tôi cá nhân 58
2.2 Khuynh hướng dịch chuyển tiểu thuyết luận đề sang tiểu thuyết tâm lý 61
2.2.1 Căn cứ xác định sự dịch chuyển tiểu thuyết luận đề sang tiểu thuyết tâm lý 61
2.2.2 Đặc điểm cơ bản của tiểu thuyết luận đề và tiểu thuyết tâm lý 65
2.2.3 Đặc điểm khuynh hướng dịch chuyển tiểu thuyết luận đề sangtiểu thuyết tâm lý 67
Trang 62.3 Khuynh hướng dịch chuyển tiểu thuyết tự truyện sang tiểu thuyết tâm lý 79
2.3.1 Cơ sở xác định sự dịch chuyển tiểu thuyết tự truyện sang tiểu thuyết tâm lý 79
2.3.2 Đặc điểm khuynh hướng dịch chuyển tiểu thuyết tự truyện sang tiểu thuyếttâm lý 83
Tiểu kết chương 2 88
Chương 3 NHÂN VẬT TRONG TIỂU THUYẾT TÂM LÝ 89
3.1 Nhân vật trong tiểu thuyết 89
3.2 Các khuynh hướng xây dựng nhân vật 92
3.2.1 Tập trung đề cao tâm lý cá nhân 92
3.2.2 Dịch chuyển nhân vật hành động sang nhân vật tâm lý 96
3.3 Các kiểu nhân vật trong tiểu thuyết tâm lý 113
3.3.1 Nhân vật khủng hoảng tư tưởng 114
3.3.2 Nhân vật khủng hoảng tâm lý 116
3.3.3 Nhân vật phức hợp các tính cách 120
Tiểu kết chương 3 125
Chương 4 ĐẶC ĐIỂM NGHỆ THUẬT CỦA TIỂU THUYẾT TÂM LÝ 126
4.1 Kết cấu tâm lý 126
4.2 Cốt truyện tâm lý 132
4.3 Ngôn ngữ chú trọng cảm xúc, tâm trạng 138
4.3.1 Vai trò ngôn ngữ cảm xúc 138
4.3.2 Những biểu hiện của ngôn ngữ cảm xúc 141
4.4 Giọng điệu chủ đạo: trữ tình sâu lắng và triết lý suy tư 147
Tiểu kết chương 4 155
KẾT LUẬN 156
DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 159
TÀI LIỆU THAM KHẢO 160
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Trong hai thập niên đầu của thế kỷ XXI, nền văn học Việt Nam đang chứng kiến sự phát triển phong phú, đa dạng của thể loại tiểu thuyết Tiểu thuyết đương đại thực sự đang phát triển theo những hướng đi mới, với sự dấn thân của nhiều nhà văn qua những sáng tác mang dấu ấn hậu hiện đại, với sự trình diễn của
kỹ thuật dòng ý thức bên cạnh sự kế thừa những thành tựu nghệ thuật tiểu thuyết trong thế kỷ XX Tiểu thuyết tâm lý giai đoạn 1925 - 1945 đã góp phần quan trọng thúc đẩy mạnh mẽ quá trình hiện đại hóa tiểu thuyết Việt Nam Song song với quá trình hội nhập quốc tế và giao lưu văn hóa hiện nay, với quá trình tiếp thu và sáng tạo nghệ thuật tiểu thuyết, tiểu loại tiểu thuyết tâm lý đang hiện ra như một di sản nghệ thuật của một thời đại cũ Trong nghiên cứu phê bình văn học phương Tây, có nhiều ý kiến cho rằng lý thuyết về cái vô thức và phân tâm học của S Freud - C.G Jung cũng như kỹ thuật dòng ý thức trong văn xuôi hiện đại đã đưa tiểu thuyết tâm
lý của F.M Dostoevsky trở về đẳng cấp truyền thống, tương ứng với những phát hiện của tâm lý học cổ điển thế kỷ XIX Trong nghiên cứu tiểu thuyết Việt Nam
đương đại, một vấn đề khách quan đặt ra là nghệ thuật tiểu thuyết tâm lý trong Tố
Tâm của Hoàng Ngọc Phách, Bướm Trắng của Nhất Linh, Sống mòn của Nam Cao
đã được các nhà văn đương đại vượt qua chưa? Có thể có một tiểu loại tiểu thuyết tâm lý hậu hiện đại xuất hiện, chuẩn bị chiếm lĩnh văn đàn dân tộc và quốc tế hay không? Vì thế, nhìn nhận sự vận động và phát triển tiểu thuyết thế kỷ trước trong mối liên hệ với những thành tựu nghệ thuật tiểu thuyết trong thế kỷ mới này vẫn là vấn đề cần tiếp tục tranh luận
1.2 Chọn mốc thời gian 1925 đến 1945 như một giai đoạn phát triển của tiểu thuyết tâm lý, chúng tôi muốn nhấn mạnh: chính sự xuất hiện của tác phẩm tiêu biểu, thể hiện rõ nhất đặc điểm thể loại, đã góp phần định hướng cho công cuộc cách tân nghệ thuật tiểu thuyết Những tác phẩm đó nhận được sự quan tâm của nhiều độc giả, trong đó có tầng lớp độc giả ưu tú là các nhà nghiên cứu phê bình văn học Vì thế, những tác phẩm như vậy trở thành dấu mốc khẳng định sự phát triển của thể loại tiểu thuyết trong tiến trình văn học dân tộc Nửa đầu thế kỷ XX, báo chí luôn là bà đỡ cho sự phát triển của tiểu thuyết, các nhà văn thường đăng tiểu thuyết từng kỳ trên báo trước khi tập hợp in thành sách Chỉ đến khi xuất bản thành sách, tiểu thuyết mới bắt đầu có đời sống riêng của nó Đối với việc nghiên cứu
khuynh hướng tiểu thuyết tâm lý, có thể coi Tố Tâm (1925) của Hoàng Ngọc Phách
là tác phẩm mở đầu và Đứa con (1945) của Đỗ Đức Thu là tác phẩm khép lại
khuynh hướng sáng tác thể tài này trong văn học Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX Thừa nhận những sự kiện lịch sử - chính trị lớn, những cuộc tranh luận văn học gây
tiếng vang có tác động đến lịch sử văn nghệ, ở đây, chúng tôi chọn Tố Tâm,tác
Trang 8phẩm gây nên tiếng vang lớn, tạo ra bước ngoặt trong tiến trình tiểu thuyết, trở thành tác phẩm mở đầu cho một khuynh hướng và chọn những tác phẩm đạt đến trình độ nghệ thuật cao để khảo sát tiểu thuyết giai đoạn 1925 – 1945 Sau sự xuất hiện của hàng loạt những tác phẩm đạt đến đỉnh cao vềnghệ thuật thể loại thường là
sự thóai trào của một khuynh hướng Sau cùng, việc huy động sức người, sức của toàn dân tộc cho cuộc đấu tranh giữ gìn nền độc lập còn non trẻ của đất nước (1945)
đã dẫn đến việc tạm ngưng khuynh hướng tiểu thuyết này
1.3 Hiện nay, trong lý luận phê bình văn học ở Việt Nam, chưa có nhiều công trình nghiên cứu chuyên sâu về tiểu thuyết tâm lý Một số công trình nghiên cứu đề cập đến tiểu thuyết tâm lý với một số dấu hiệu khác nhau nhưng vẫn chưa có những công trình chuyên khảo khảo sát một cách chuyên biệt, kỹ lưỡng quá trình hình thành, vận động và phát triển cũng như đặc trưng thể tài, vai trò của tiểu thuyết tâm lý đối với quá trình hiện đại hóa văn học nước nhà Một số công trình đề cập đến tiểu thuyết tâm lý mới tập trung vào một vài tác giả, tác phẩm, một số thành tựu
cụ thể của tiểu thuyết tâm lý chứ chưa có một cái nhìn mang tính hệ thống Vì thế, cần tiếp tục nghiên cứu tiểu thuyết tâm lý trong sự vận động và phát triển của tiểu thuyết trong nửa đầu thế kỷ XX
1.4 Trong những thập niên đầu thế kỷ XXI, thế giới vẫn chứng kiến sự nỗ lực tìm tòi không mệt mỏi của các nhà văn đương đại trên bước đường đi tìm hướng
đi mới của tiểu thuyết tâm lý - tiểu thuyết dòng ý thức Chúng ta có quyền chờ đợi bước phát triển tiếp theo của tiểu thuyết loại này trong thế kỷ mới
Từ những gợi ý trên, chúng tôi chọn đề tài “Khuynh hướng tiểu thuyết tâm lý
nói riêng và hiện đại hóa văn xuôi quốc ngữ nói chung
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Với đề tài này, nhiệm vụ nghiên cứu được xác định như sau:
Đưa ra cách hiểu khái quát về đặc trưng nội dung và nghệ thuật của thể loại tiểu thuyết, khuynh hướng sáng tác tiểu loại tiểu thuyết tâm lý
Đưa ra những nhìn nhận, đánh giá khách quan, khoa học về vị trí, vai trò và những đóng góp của khuynh hướng sáng tác tiểu thuyết tâm lý từ 1925 đến 1945 đối với việc hiện đại hóa nghệ thuật thể loại thông qua việc:
Chỉ ra khuynh hướng dịch chuyển từ tiểu thuyết luận đề, tiểu thuyết tự truyện sang tiểu thuyết tâm lý
Trang 9Chỉ ra những loại hình nhân vật xuất hiện trong tiểu thuyết tâm lý để thể hiện
sự thay đổi qua niệm về hiện thực và con người, sự đổi mới tư duy nghệ thuật của nhà văn từ 1925 đến 1945
Làm rõ những cách tân về mặt nghệ thuật trong tiểu thuyết tâm lý từ 1925 đến 1945
3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là những tác phẩm tiêu biểu góp phần tạo nên khuynh hướng tiểu thuyết tâm lý trong dòng chảy của thể loại tiểu thuyết nửa
đầu thế kỷ XX
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Trong luận án này, chúng tôi tập trung khảo sát các cuốn tiểu thuyết được chính các nhà văn, các nhà phê bình, một loại độc giả ưu tú của giai đoạn này đã thẩm bình, nhận định, đó là tiểu thuyết tâm lý hoặc thể hiện rõ đặc điểm tiểu loại tiểu thuyết tâm lý
Trong khuôn khổ có giới hạn của luận án, chúng tôi mới tập trung nghiên cứu tiểu thuyết tâm lý chủ yếu của các tác giả ở miền Bắc từ 1925 đến 1945 Chúng tôi chưa có điều kiện đi sâu tìm hiểu tác phẩm của các nhà văn miền Nam Ngoài giới hạn hoàn toàn thuộc về bản thân người viết, chúng tôi xác định, tiểu thuyết tâm lý manh nhà từ sáng tác của các nhà văn Nam Bộ và tiếp tục phát triển trong giai đoạn
mà chúng tôi khảo sát Tuy nhiên, tiểu thuyết tâm lý của các nhà văn miền Bắc với những điều kiện thuận lợi của bối cảnh lịch sử xã hội lúc bấy giờ đã góp phần tạo nên những bước ngoặt trong sự hình thành và phát triển tiểu loại tiểu thuyết tâm lý
Chúng tôi khảo sát một số tác phẩm sau1
:
- Tố Tâm (1925) của Hoàng Ngọc Phách
- Nước hồ Gươm (1928) của Lan Khai
- Hồn bướm mơ tiên (1933) của Khái
Hưng
- Gánh hàng hoa (1934) của Khái Hưng
- Nắng thu (1934) của Nhất Linh
- Hạnh (1940) của Khái Hưng
- Đẹp (1941) của Khái Hưng
- Nắng thu (1940) của Nhất Linh
- Lan Hữu(1940) của Nhượng Tống
- Hai người điên giữa kinh thành Hà Nội
(1940) của Nguyễn Bính
chừng xuân (1933), Gia đình (1937), Thoát ly (1937), Thừa tự (1940), Băn khoăn (1943) của Khái Hưng; Đoạn tuyệt (1934), Lạnh lùng (1937) của Nhất Linh; Làm đĩ (Tạp chí Sông Hương, 1936) của Vũ Trọng Phụng; Cánh sen trong bùn (Phổ thông bán nguyệt san số 51, 52), Con đường hạnh phúc (Phổ thông bán nguyệt san số 19), Lòng mẹ (Phổ thông bán nguyệt san số 113, 114) của Lê Văn Trương; Làm lẽ (1940) của Mạnh Phú Tư; Quê người (1941) của Tô Hoài; Lầm than (1938) của Lan Khai; Bỉ vỏ (1938), Quán Nải
(1943) của Nguyên Hồng Đây là những tác phẩm, ngoài những đặc điểm có thể nhận diện thuộc về tiểu thuyết tâm lý còn thể hiện ý thức của tác giả về mặt thể loại Chẳng hạn, các tác phẩm nói trên của Lê Văn
Trương khi in trên Phổ thông bán nguyệt san đều ghi rõ “Tâm lý tiểu thuyết”
Trang 10- Đời mưa gió (1935) của Khái Hưng
và Nhất Linh
- Trống mái (1936) của Khái Hưng
- Một trái tim (1937) của Lê Văn Trương
- Những ngày thơ ấu (1939) của
Nguyên Hồng
- Trúng số độc đắc (1938) của Vũ
Trọng Phụng
- Đôi bạn (1939) của Nhất Linh
- Ngày mới (1939) của Thạch Lam
- Tôi là mẹ (1939) của Lê Văn Trương
- Mực mài nước mắt (1941) của Lan Khai
- Bướm trắng (1941) của Nhất Linh
- Lấy nhau vì tình (1942) của Vũ Trọng
Phụng
- Hai tâm hồn (1942) của Lê Văn Trương
- Cai (1943) của Vũ Bằng
- Quê hương (1943)của Nguyễn Tuân
- Cô giáo tỉnh lỵ (1943) của Lê Văn Trương
- Cỏ dại (1944) của Tô Hoài
- Mưa xuân (1944) của Lan Khai
- Sống mòn (1944) của Nam Cao
- Đứa con (1945) của Đỗ Đức Thu
4 Phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như sau:
- Phương pháp lịch sử - xã hội: Với phương pháp này, chúng tôi nhằm
nghiên cứu tiểu thuyết tâm lý từ hướng tiếp cận lịch sử xã hội Luận án tái hiện bối cảnh lịch sử xã hội Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX và đặt tiểu thuyết tâm lý trong sự vận động và phát triển của tiểu thuyết giai đoạn này để tiến hành khảo sát
- Phương pháp so sánh:Luận án dùng phương pháp này nhằm chỉ ra những
điểm tương đồng và khác biệt của tiểu thuyết tâm lý so với các tiểu loại tiểu thuyết khác như tiểu thuyết phong tục, tiểu thuyết phóng sự, tiểu thuyết luận đề, tiểu thuyết
tự truyện , đồng thời so sánh nhằm chỉ ra những khác biệt của nhân vật tâm lý trong tiểu thuyết hiện thực và tiểu thuyết lãng mạn Đây cũng là phương pháp được
sử dụng thường xuyên trong luận án
- Phương pháp tiếp cận thi pháp học:Việc vận dụng thi pháp học giúp xác
định những đặc trưng của thi pháp nhân vật cũng như các thủ pháp khắc họa tính cách trên một số bình diện như tổ chức kết cấu, cốt truyện, tổ chức ngôn ngữ, giọng điệu, đồng thời qua đó, thấy được những cách tân nghệ thuật tiểu thuyết của các nhà văn giai đoạn này
- Phương pháp loại hình:Từ đặc trưng của loại hình tiểu thuyết, chúng tôi
tìm hiểu những đặc điểm loại hình nhân vật chịu áp lực về tinh thần dẫn tới khủn hoảng tinh thần, khủng hoảng tâm lý trong tiểu thuyết tâm lý giai đoạn này Từ đó nhận diện kiểu loại nhân vật cũng như một số phương thức biểu hiện đặc trưng của tiểu thuyết tâm lý
- Phương pháp nghiên cứu liên ngành:Phương pháp này được sử dụng
xuyên suốt trong luận án nhằm huy động tri thức ở nhiều lĩnh vực như lịch sử, xã hội học, văn hóa học, tâm lý học để tìm hiểu tiểu thuyết tâm lý từ nhiều góc độ
Trang 11khác nhau Phương pháp này nhằm đảm bảo phân tích tác phẩm một cách khách quan, thấu đáo
5 Đóng góp mới của luận án
Qua việc tìm hiểu tiểu thuyết tâm lý từ 1925 đến 1945, luận án khái quát khuynh hướng vận động và phát triển của dòng tiểu thuyết tâm lý Việt Nam từ 1925 đến 1945 Từ đó, luận án làm nổi rõ quá trình hiện đại hóa của tiểu thuyết Việt Nam nói riêng và quá trình hiện đại hóa văn học Việt Nam nói chung
Trên cơ sở lý luận và thực tiễn khảo sát tác phẩm, luận án đánh giá tác động của quan niệm nghệ thuật đến tiểu thuyết tâm lý trên các phương diện xây dựng nhân vật và nghệ thuật tự sự
Luận án chỉ ra những nét kế thừa, cách tân và đặc trưng cụ thể của dòng tiểu thuyết tâm lý giai đoạn 1925 - 1945 trên cơ sở so sánh với tiểu thuyết trước đó và các dòng tiểu thuyết khác cùng giai đoạn
Luận án vừa có ý nghĩa nhận diện một khuynh hướng thể loại, vừa góp phần
lý giải nguyên nhân và thành tựu của giai đoạn mở đầu lịch sử tiểu thuyết Việt Nam hiện đại
6 Cấu trúc luận án
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục các công trình của tác giả liên
quan đến đề tài, Tài liệu tham khảo, luận án được triển khai làm 4 chương:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu
Chương 2: Tiểu thuyết tâm lý nhìn từ sự dịch chuyển thể loại
Chương 3: Nhân vật trong tiểu thuyết tâm lý
Chương 4: Đặc điểm nghệ thuật của tiểu thuyết tâm lý
Trang 12CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
Trong chương này, chúng tôi tập trung khảo sát các công trình nghiên cứu liên quan đến khuynh hướng tiểu thuyết tâm lý ở Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX Từ những gợi mở của các nhà nghiên cứu đi trước, nhất là các công trình nghiên cứu liên quan đến tiểu thuyết tâm lý của các nhà nghiên cứu đương thời (giai đoạn 1925-1945), chúng tôi tìm hiểu những khả năng còn để ngỏ để đi sâu nghiên cứu khuynh hướng vận động và phát triển của dòng tiểu thuyết tâm lý trong một giai đoạn văn học đang diễn ra quá trình hiện đại hóa mạnh mẽ Trước hết, chúng tôi xin được đề cập đến một số thuật ngữ mang tính công cụ để làm cơ sở triển khai các luận điểm của luận án
1.1 Giới thuyết về tiểu thuyết tâm lý
1.1.1 Thể loại tiểu thuyết
Nhiều nhà nghiên cứu về tiểu thuyết đều nhận thấy việc đưa ra một định nghĩa mang tính phổ quát về thể loại này là không hề dễ dàng Trong phạm vi hẹp của đề tài mà chúng tôi tiến hành, xin điểm qua một vài quan niệm tiêu biểu về thể loại của các nhà nghiên cứu ở nước ngoài và ở Việt Nam
Từ điển Funk & Wagnalls Standard Encyclopedia (Mỹ, 1963), Grand
larousse enecylopédique (Pháp, 1964), Oxford English Dictionary, (Anh, 1967) có
những mục từ định nghĩa tiểu thuyết Trước đó, M Bakhtin trong bài viết Tiểu
thuyết như một thể loại văn học: “Tiểu thuyết là thể loại văn chương duy nhất luôn
luôn biến đổi, do đó, nó phản ánh sâu sắc hơn, cơ bản hơn, nhạy bén hơn biến chuyển của bản thân hiện thực” [11; tr.30] Ông nói thêm: “Đối với tiểu thuyết, lý luận văn học bộc lộ một sự bất lực hoàn toàn” [11; tr.32] Khó khăn theo ông chính
là việc xác định những đặc điểm cố định của thể loại nhất là ở mặt hình thức nghệ
thuật Sau này, trong công trình Nghệ thuật tiểu thuyết,M Kundera xuất phát từ
những góc nhìn và khía cạnh khác nhau của tiểu thuyết đã đưa ra quan niệm của mình về thể loại Từ khía cạnh các nhân vật, ông cho rằng “Tiểu thuyết là một sự chiêm nghiệm về cuộc đời được nhìn thấy thông qua các nhân vật tưởng tượng”; từ khía cạnh hình thức nghệ thuật, ông khẳng định: tiểu thuyết là “tác phẩm tự sự cỡ lớn”và từ góc độ tiếp nhận, ông nhấn mạnh: “tiểu thuyết đó là thiên tưởng tượng của nhiều cá nhân” [96; tr.86, 167] Nhấn mạnh hình thức của thể loại tiểu thuyết,
I.P Ilin và E.A Tzurganova, trong Các khái niệm và thuật ngữ của các trường phái
nghiên cứu văn học ở Tây Âu và Hoa Kỳ thế kỷ 20, cho rằng: “Tiểu thuyết không
phải là một hình thức chất phác, mà là hình thức tinh tế của nghệ thuật viết văn” [90; tr.61]
Mỗi một cách định nghĩa về tiểu thuyết đều có những điểm hợp lý do nhấn mạnh một vài đặc điểm nổi bật của thể loại Điều đó có nghĩa là đi tìm một định nghĩa thống nhất, duy nhất đúng về tiểu thuyết là chuyện không tưởng khi thể loại
Trang 13này vẫn đang trong quá trình biến đổi Hình thức thể loại không đứng yên mà có sự thay đổi trong từng giai đoạn lịch sử văn học Các nhà nghiên cứu đều thống nhất ở nhận định: Tiểu thuyết hiện đại bắt nguồn từ châu Âu Nó là thể loại văn chương có sức dung chứa lớn, còn đang trong quá trình biến đổi cả về nội dung tư tưởng và hình thức nghệ thuật Tiếp nhận tiểu thuyết phương Tây đầu tiên ở nước ta phải kể đến tầng lớp trí thức Tây học được đào tạo trong các trường Pháp - Việt Hiện đại hóa nền văn học nửa đầu thế kỷ XX thực chất là sự chuyển hướng văn học sang tiếp thu các kỹ thuật tiểu thuyết hiện tại từ văn học phương Tây
Các sách từ điển thuật ngữ văn học không phải là “chìa khóa vạn năng” có thể lý giải đầy đủ tất cả những vấn đề, nhất là những quan niệm liên quan đến văn học Nhưng từ điển thuật ngữ vốn hình thành nhờ các nhà nghiên cứu, phê bình, nhà văn có uy tín biên soạn nên có thể có tính đại diện, đưa ra cách hiểu chung của cộng đồng nghiên cứu vềnhiều vấn đề liên quan đến văn học
Có thể thấy điều đó qua việc Từ điển Văn học Bộ mới đưa ra quan niệm về
tiểu thuyết: “Thuật ngữ chỉ thể loại tác phẩm tự sự, trong đó sự trần thuật tập trung vào số phận một cá nhân trong quá trình hình thành và phát triển của nó; trần thuật
ở đây được khai triển trong không gian và thời gian nghệ thuật đến mức đủ để truyền đạt “cơ cấu” của nhân cách” Ở mục này, Lại Nguyên Ân và Nguyễn Huệ Chi còn dẫn Biêlinxki khi nhà phê bình lỗi lạc người Nga này gọi tiểu thuyết là “sử thi của đời tư”do chỗ “miêu tả những tình cảm, dục vọng và những biến cố thuộc đời sống nội tâm của con người” Bên cạnh đó, “Tiểu thuyết trình bày đời sống cá nhân và đời sống xã hội như những tố chất có tính độc lập tương đối, không làm cạn kiệt được nhau, không ngốn nuốt được nhau; đây là đặc điểm quyết định nội dung
thể loại của tiểu thuyết” [72; tr.1716] Cũng theo Từ điển Văn học Bộ mới thì “Phải
đến cuối thế kỳ XIX đầu thế kỷ XX thuật ngữ tiểu thuyết mới ra đời; lúc bấy giờ tiểu thuyết Pháp đã được nhiều người Việt mô phỏng, nên thuật ngữ tiểu thuyết ở Việt Nam sớm gắn với hình thức tiểu thuyết phương Tây mặc dù cũng được dùng
để gọi tiểu thuyết cổ điển Trung Quốc vốn được dịch khá ồ ạt ở miền Nam và miền Bắc trong vài ba thập kỷ đầu thế kỷ XX”[72; tr.1720]
Bàn về tiểu thuyết tâm lý từ 1925 đến 1945, không thể không nhắc đến những bàn luận liên quan đến thể loại tiểu thuyết của chính các nhà văn, các nhà nghiên cứu, phê bình văn học nửa đầu thế kỷ XX Bởi chính những nhận định này đã ảnh hưởng tới giới sáng tác và tinh thần ấy được chuyển tải và trong những tác phẩm
Đầu thế kỷ XX, thuật ngữ tiểu thuyết đã thịnh hành trong giới nghiên cứu và sáng tác ở nước ta Tiểu thuyếtxét về mặt từ loại là một từ Hán Việt Ở Trung Quốc khi thành lập tờ Tân tiểu thuyết (1902) chuyên xuất bản tiểu thuyết hiện đại và đưa
ra những luận thuyết về tiểu thuyết, Lương Khải Siêu đã cổ vũ cho tờ báo bằng cách
đăng trên tờ Tân dân công báo mô hình tiểu thuyết mới của Trung Quốc bao gồm:
tiểu thuyết có minh hoạ, tiểu thuyết luận đề, tiểu thuyết diễn nghĩa, tiểu thuyết chính
Trang 14trị, tiểu thuyết triết lý khoa học, tiểu thuyết quân sự, tiểu thuyết mạo hiểm, tiểu thuyết trinh thám, tiểu thuyết tả tình…
Bùi Đức Tịnh trong Những bước đầu của Báo chí Truyện ngắn Tiểu thuyết
và Thơ mới, khi nói về giai đoạn đầu hình thành tiểu thuyết hiện đại ở nước ta, ông
nhấn mạnh: tính theo năm xuất bản, từ năm 1887 (thời điểm Truyện thầy Lazaro
Phiền của Nguyễn Trọng Quản ra đời) đến 1920, còn tìm được tiểu thuyết của
Nguyễn Chánh Sắt, Lê Hoằng Mưu Tiểu thuyết lúc đó được hiểu là: “tác phẩm kể lại một câu chuyện tưởng tượng khá dài, trong đó, người kể tạo sự thích thú cho độc giả bằng những tình tiết gay cấn của câu chuyện, bằng cách trình bày những phong tục, tính tình, bằng sự phân tích những tâm tư và thái độ” [220; tr.158] Ông cũng không quên lưu ý đến việc: “văn loại tiểu thuyết trong văn học hiện đại đã phôi thai
từ các dạng truyện bằng thơ có sẵn, thóat khỏi sự hấp dẫn của các truyện dịch từ tác phẩm Trung Hoa và tiếp nhận ảnh hưởng của tiểu thuyết phương Tây” [220; tr.158] Tất nhiên nhận định của Bùi Đức Tịnh đưa ra hoàn toàn dựa trên cứ liệu tiểu thuyết Nam Bộ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX Nhận định này nhận được sự đồng tình của nhiều nhà nghiên cứu sau này
Đọc các cuốn: Bàn về tiểu thuyết (1921) của Phạm Quỳnh, Lược khảo về sự
tiến hóa của quốc văn trong lối viết tiểu thuyết (1932) của Trúc Hà, Nói chuyện tiểu thuyết (Phê bình và cảo luận, (1933), Nhà viết tiểu thuyết (1935) của Thiếu Sơn, Tiểu thuyết và những nhà viết tiểu thuyết hiện nay (1935) của Lê Tràng Kiều, Đi tới khuynh hướng tả thực trong văn chương: những khuynh hướng tiểu thuyết
(1939)của Hải Triều, Cao vọng của tiểu thuyết (1939) của Như Phong, Trên đường
nghệ thuật (1940) của Vũ Ngọc Phan, Theo giòng (1941) của Thạch Lam, Khảo về tiểu thuyết (1941)của Vũ Bằng, Đọc tiểu thuyết Việt Nam cận đại (Thanh Nghị, số
26, năm 1942)của Đinh Gia Trinh, có thể khẳng định đội ngũ nhà văn, nhà nghiên cứu tiểu thuyết ở nước ta đến những năm ba mươi của thế kỷ XX đã trở thành một đội ngũ lớn mạnh
Cuốn tiểu thuyết in bằng chữ quốc ngữ đầu tiên ở nước ta là cuốn Truyện
thầy Lazaro Phiền (1886) Vượt qua tiểu thuyết truyền thống, Nguyễn Trọng
Quản dứt khóat đề cao kỹ thuật tự sự của tiểu thuyết phương Tây Tuy nhiên khi tác phẩm này ra đời, không mấy nhà văn cùng thời hưởng ứng cố gắng này của tác giả Đến đầu thế kỷ XX, văn học Việt Nam diễn ra song hành hai khuynh hướng:
nỗ lực học tập kỹ thuật tiểu thuyết phương Tây và học tập kỹ thuật tiểu thuyết từ những tác phẩm dịch từ văn học Trung Quốc Phải đợi đến gần bốn mươi năm sau,
với sự ra đời Quả dưa đỏ (1925) của Nguyễn Trọng Thuật, Tố Tâm (1925) của
Hoàng Ngọc Phách, người ta mới chứng kiến các nhà tiểu thuyết đã theo hẳn kỹ thuật tiểu thuyết hiện đại phươngTây Sau nhiều ý kiến xuất hiện trên sách báo,
tiếp sau cuộc thi sáng tác tiểu thuyết, báo Nông cổ mín đàm, từ số 19 năm 1912 đến số 53 năm 1915 có đăng tiểu thuyết Hà Hương phong nguyệt truyện của Lê
Trang 15Hoằng Mưu Năm 1914, cuốn này được xuất bản thành sách, trang bìa in rõ tên
thể loại: Roman Fantastique (Tiểu thuyết kỳ ảo) [133; tr.3] Hà Hương phong
nguyệt truyện là cuốn tiểu thuyết tâm lý đầu tiên ở nước ta Đây là sự xác thực cho
sự xuất hiện tiểu thuyết hiện đại ở nước ta về mặt thể loại Chỉ có điều, ngay khi mới xuất bản, nó bị độc giả phản đối và bị nhà cầm quyền thu hồi Nó chưa kịp tạo nên tiếng vang và cũng không mấy ảnh hưởng đến sự phát triển thể loại tiểu
thuyết sau này.Tố Tâm của Hoàng Ngọc Phách ra đời vào năm 1925 mới trở thành tác phẩm mở đầu cho khuynh hướng tiểu thuyết tâm lý Tố Tâm ra đời là một sự
kiện gây tiếng vang với số lượng in lớn: lần thứ nhất in 3000 quyển, lần thứ hai in
2000 quyển,”Thậm chí, có nhà xuất bản ở miền Nam đã in lại Tố Tâm đến lần thứ
8, bán giá rất đắt (30 đồng tiền miền Nam) nhưng không xin phép tác giả” [180; tr.165] Số lượng tái bản cuốn tiểu thuyết này chứng tỏ sự đón nhận nhiệt tình của công chúng yêu văn học đối với thể loại tiểu thuyết
Từ quan niệm về tiểu thuyết của các nhà văn cùng cácnhà nghiên cứu phê bình văn học từ đầu thế kỷ XX đến những năm đầu của thế kỷ XXI, chúng tôi nhận thấy hầu hết các định nghĩa về tiểu thuyết đều nhằm đưa ra đặc điểm: tác phẩm tự sự có dung lượng (số trang) lớn, có sức dung chứa lớn, có thể bao quát hoàn cảnh xã hội rộng lớn, có thể miêu tả cuộc sống từ nhiều chiều hướng khác nhau, có một hay nhiều nhân vật, nhân vật có thể tham gia vào nhiều biến cố, mỗi biến cố có sự tham gia của nhiều nhân vật với rất nhiều tình tiết phong phú Tiểu thuyết là tổng hợp những chiêm nghiệm về cuộc đời thông qua thế giới nhân vật
mà nhà tiểu thuyết kiến tạo nên
1.1.2 Tiểu thuyết tâm lý
Quá trình hiện đại hóa văn học ở nước ta gắn với quá trình Âu hóa xã hội,
trong đó có tiếp thu những thành tựu văn hóa của các nước phương Tây Tiểu thuyết
tâm lý cũng vậy
Từ góc nhìn thể loại (genre) có thể quay về với cách hiểu truyền thống Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng nguồn gốc hình thành thể loại tính từ Don Quixote của Cervantes (1547-1616; Tây Ban Nha) đến sự phát triển phong phú, đa dạng của thể loại tiểu thuyết với tiểu thuyết lịch sử, tiểu thuyết tình cảm, tiểu thuyết thư tín, tiểu thuyết tự truyện sau này Ngày nay, chúng ta có thể tìm hiểu đặc điểm của những cuốn tiểu thuyết tâm lý từ giữa thế kỷ XIX ở châu Âu Những sáng tác của Dostoevsky (1821-1881; Nga) đã tạo nên ảnh hưởng đặc biệt đối với các nhà văn sáng tác tiểu thuyết tâm lý Qua phân tích tâm lý của Dostoevsky, tâm lý nhân vật hiện lên đầy căng thẳng, giằng xé với nỗi đau khổ, tuyệt vọng đến cùng cực Một nhà văn Nga khác, Lev Tolstoy cũng rất chú trọng đến sự phát triển tâm lý nhân vật Những phân tích của Dostoevsky hay Lev Tolstoy về đời sống tinh thần của nhân vật trong tiểu thuyết chắc chắn có ảnh hưởng đến các nhà văn thế kỷ XIX và XX khi theo đuổi khuynh hướng tâm lý Chính điều này lại trở thành nguồn dẫn chứng
Trang 16quan trọng cho các nhà nghiên cứu lý thuyết tâm lý học hiện đại sử dụng Căn cứ trên các thành tựu nghiên cứu tâm lý học hiện đại, một số nhà nghiên cứu văn học gần đây ở phương Tây đã chứng minh những cuốn tiểu thuyết tâm lý ở châu Âu trong thế kỷ XIX đã góp phần phát triển các lý thuyết tâm lý mới, đó là việc phát hiện mới về vô thức và ý thức, về trí nhớ, thói quen, cảm xúc và cả cái tôi cá nhân của con người Ở phương Tây, tác phẩm của Marcel Proust, Albert Camus, Jean- Paul Sartre, Franz Kafka, James Joyce, Virginia Woolf, William Faulkner chịu ảnh hưởng nhất định từ những sáng tác của Dostoevsky và Lev Tolstoy Đến lượt mình, nhà văn kiêm nhà phê bình văn học người Mỹ Henry James (1848 - 1916) và nhà tiểu thuyết người Anh George Eliot (1919 - 1980) đã có những đóng góp lớn đối với việc phát triển khuynh hướng tiểu thuyết tâm lý Henry James và George Eliot đã vận dụng những thành tựu tâm lý học hiện đại để khám phá chiều sâu phức tạp, bí
ẩn những diễn biến bên trong tâm hồn nhân vật tiểu thuyết cũng như khám phá cuộc sống bên trong và những điều thầm kín không dễ nói ra của các loại/ hạng người trong xã hội Trong văn học phương Tây hiện đại, có sự “kết giao” giữa các tác giả tiểu thuyết với các nhà lý thuyết tâm lý Mỗi cuốn tiểu thuyết tâm lý thực sự là một
“phòng thí nghiệm” để nhà văn đưa vào những nguyên tắc, quy luật tâm lý mà tâm
lý học hiện đại cung cấp cho họ để xây dựng nhân vật Chính James Joyce đã thể
hiện điều này qua các tiểu thuyết Chân dung chàng nghệ sĩ (A Portrait of the Artist
as A Young Man;1916)và Ulysses (1922) Những sáng tác của ông luôn thúc đẩy
các phong trào hoạt động xã hội, và cũng nhờ thế nó thách thức các hình thức nghệ thuật tiểu thuyết mang tính truyền thống ở phương Tây lúc bấy giờ, thậm chí thách thức cả khả năng diễn đạt của ngôn ngữ thông thường trong cuộc sống Thay vào
đó, trong tiểu thuyết tâm lý, nhà văn tạo ra những biểu tượng cô đọng chuyên chở rất nhiều ý nghĩa, những ngụ ý được gửi gắm qua hình ảnh diễu qua trí tưởng tượng, qua ước mơ của nhân vật Cũng như vậy, trước James Joyce, nhà văn người Na Uy
Knut Hamsun đã viết cuốn tiểu thuyết tâm lý Sult (1980) và Pan (1984) miêu tả
những nhân vật chìm đắm trong cô đơn và sự hoài nghi Ông đã vận dụng các thủ pháp tổ chức cốt truyện kiểu phân mảnh kết hợp với thời gian phi tuyến tính đạt hiệu quả nghệ thuật cao Điều này tạo đà cho tiểu thuyết tâm lý phát triển Đến James Joyce những thủ pháp nghệ thuật tiểu thuyết, nghệ thuật phân tích tâm lý nhân vật được nâng cao hơn dẫn đến việc hình thành khuynh hướng văn xuôi dòng
ý thức gần gũi với văn học đương đại hiện nay Các nhà tâm lý học ở phương Tây cũng từng thừa nhận mối liên hệ không thể giải thích được giữa các lý thuyết tâm lý
học hiện đại với các tác phẩm tiểu thuyết tâm lý Mục tiểu thuyết tâm lý đăng trên
Bách khoa thư Quốc tế (1903) nhấn mạnh “trong thời gian này, dường như tâm lý
học đang chạy theo gợi dẫn từ tiểu thuyết Anh” [251; tr.638] Và tác phẩm Uylisses
(1922) của Jame Joys khi ra đời được ca ngợi như cuốn sách khơi nguồn cho tiểu thuyết tâm lý ở phương Tây
Trang 17Theo các nhà nghiên cứu về thi pháp thể loại ở Đông Âu trong thế kỷ XX thì tiểu thuyết tâm lý đã định hình như một thể tài ổn định từ nửa sau thế kỷ 19 Điều này thể hiện rõ qua các sáng tác của các nhà văn hiện thực chủ nghĩa, từ Stendhal, Balzac, Puskin, Tolstoy, đặc biệt là qua tiểu thuyết của Dostoevsky Ngay từ thế kỷ 18, khi các yếu tố thể loại cơ bản hình thành, tiểu thuyết tâm lý đã khẳng định như một thể tài tập trung khám phá và thể hiện thế giới bên trong vô cùng phức tạp của con người Miêu tả tâm lý không phải là độc quyền của văn xuôi tâm lý (bao gồm truyện ngắn tâm lý và tiểu thuyết tâm lý) nhưng riêng ở thể tài này, tâm lý đã trở thành mục tiêu chiếm lĩnh đầu tiên và nhất quán của nhà văn trong quá trình sáng tác Sự ra đời của tiểu thuyết tâm lý vì thế, không thể sớm hơn trước thời hiện đại Thể tài này chỉ xuất hiện trên cơ sở hình thành đầy đủ các điều kiện bên trong và bên ngoài nghệ thuật Bên trong, đó là nhu cầu cách tân và đổi mới thi pháp, là toàn bộ kinh nghiệmtự sự qua sáng tác của các nhà văn nhiều thời đại mà nhà tiểu thuyết tâm lý có thể học hỏi
và kế thừa Bên ngoài, đó là ý thức cá nhân và con người cá nhân xuất hiện, là tâm lý học đã hình thành và phát triển như một bộ môn khoa học độc lập, khẳng định sự tự ý thức của bản thân nhân loại Và cuối cùng, là sự bùng phát những quan hệ xã hội phức tạp gắn với các xung đột xã hội - lịch sử Cho nên, tiểu thuyết tâm lý là thể tài gắn liền với những thành tựu nghệ thuật của chủ nghĩa hiện thực Hình tượng nhân vật trung tâm của tiểu thuyết tâm lý là con người bất hòa với thực tại, là con người đi tìm chân lý, tìm kiếm bản ngã, đi tìm tự do cá nhân Mẫu người này có thể xuất hiện
cả trong văn xuôi lãng mạn chủ nghĩa, nhưng chỉ trong văn xuôi hiện thực, nó mới xuất hiện và bị soi rọi dưới ánh sáng của sự phân tích lý tính Nhìn chung, tiểu thuyết tâm lý có thể trở thành một khuynh hướng thể loại, một xu hướng thi pháp tự sự trong
cả hai trào lưu văn học: lãng mạn và hiện thực
Tiểu thuyết tâm lý đã ra đời từ các nền văn học châu Âu Từ đây, trong văn
học châu Âu, xuất hiện một số thuật ngữ tương đương với tiểu thuyết tâm lý (psychological novel)như: tiểu thuyết nội tâm (the novel of introspection), tiểu
thuyết chủ quan (subjective novel),tiểu thuyết phân tích hiện đại (modern analytic
novel) Chẳng hạn, vì tác phẩm Quận chúa Cleves (1678) của Fayet (1634 - 1693)
có kiểu kết cấu đóng cho nên nó “hết sức tập trung vào cuộc đời một con người, đôi khi vào chỉ một xung đột, một tình huống, do đó mang tính hướng tâm, xét về kết cấu Và kiểu tiểu thuyết này rất sớm trở thành tiểu thuyết tâm lý”[72; tr.1718] Cũng
như vậy, những cuốn như Đỏ và đen (1830)của Stendhal, Tội ác và hình phạt (1866) của Dostoevsky đều được xếp vào dòng tiểu thuyết tâm lý Tiểu thuyết tâm
lý được hiểu là:
Tiểu thuyết miêu tả các trạng thái tâm lý, xây dựng thế giới nội tâm của con người, đặc biệt nhấn mạnh tới động cơ, hoàn cảnh và cốt truyện nội tại Cốt truyện nội tại thường dựa trên cơ sở cốt truyện ngoại tại, nhưng lại thúc đẩy cốt truyện ngoại tại phát triển Tiểu thuyết tâm lý bất mãn với việc miêu tả sự
Trang 18việc bên ngoài, muốn đi sâu khám phá nguyên nhân bên trong Đối với loại tiểu thuyết này, việc xây dựng tính cách nhân vật đóng vai trò cực kỳ quan trọng Cội nguồn của tiểu thuyết này là cách các nhà viết kịch lấy tính cách nhân vật mà giải thích hành động của họ [67; tr.339- 340]
Hành động của nhân vật trong tiểu thuyết tâm lý bao giờ cũng bị đẩy xuống thứ yếu và thay thế vào đó là quá trình tâm lý của nhân vật Điều này sẽ giới hạn số lượng nhân vật trong tiểu thuyết tâm lý, thậm chí sẽ có rất ít nhân vật Tâm lý trở thành cái bao trùm, là cái đích hướng đến của tác phẩm Các thủ pháp nghệ thuật phân tích tâm lý được gia công, đẩy mạnh nhằm mục đích lý giải nguyên nhân sâu
xa dẫn đến hành động của nhân vật, thậm chí hành động của nhân vật trong tác phẩm chỉ còn là cái cớ để bạn đọc có thể truy ngược lại hành trình diễn biến tâm lý nhân vật Đó là đặc điểm dễ nhận thấy của tiểu thuyết tâm lý
Các nhà nghiên cứu văn học trên thế giới cũng quan tâm đến tiểu thuyết tâm
lý Psychological Novel (tiểu thuyết tâm lý) là một mục từ trong Sổ tay Văn học
(Đại cương Lịch sử Văn học Anh Mỹ) do William Flint Thrall và Addison Hibbard
biên soạn Ngoài việc lý giải thuật ngữ này giống với những đặc điểm của tiểu thuyết tâm lý như chúng tôi đã nhắc tới ở trên, từ điển này chú ý thêm: “Tiểu thuyết tâm lý không chứa đựng tình trạng cái gì xảy ra mà đi lý giải tại sao và lý giải nguyên nhân từ đâu để xảy ra hành động như vậy Trong kiểu tác phẩm này thì nhân vật và đặc điểm nhân vật thường quan trọng hơn (sự kiện)” [252; tr.346]
Đến cuối thế kỷ XX, trong Từ điển Penguin về các thuật ngữ văn học và lý
luận văn học(The Penguin Dictionary of Literary Terms and Literary Theory), J.A
Cuddon đã đưa ra cách hiểu Tiểu thuyết tâm lý (Psychological Novel) như sau:
Một thuật ngữ mơ hồ dùng để chỉ một loại tiểu thuyết nhìn chung có liên quan nhiều đến đời sống tâm hồn, cảm xúc và tinh thần của các nhân vật và (liên quan nhiều đến) phân tích các nhân vật hơn là cốt truyện và hành động Rất nhiều nhà tiểu thuyết trong suốt hai thế kỉ vừa qua đã viết tiểu thuyết tâm
lí [248; tr.709-710]
Đó là một định nghĩa ngắn gọn về tiểu thuyết tâm lý Tác giả J.A Cuddon, qua thuật ngữ này, đã đề cập đến đặc điểm quan trọng: trong tiểu thuyết tâm lý thì việc khám phá, tìm hiểu đời sống tâm hồn, cảm xúc, tinh thần của nhân vật trở thành mục đích chính của nhà văn, trở thành nội dung trọng tâm của tác phẩm
Gần với cách hiểu trên, đầu thế kỷ XXI, trong công trình Bách khoa thư về
Tiểu thuyết (The Encyclopedia of The Novel) do Peter Melville Loganbiên
soạn,Tiểu thuyết tâm lý (Psychological Novel) được Athena Vrettos định nghĩa như
sau:
Tiểu thuyết tâm lý theo cách hiểu truyền thống là một thể loại của văn xuôi hư cấu vốn tập trung nhiều vào đời sống bên trong của nhân vật, thể hiện suy nghĩ, cảm xúc, kí ức, khao khát chủ quan của nhân vật Tiểu thuyết tâm lí,
Trang 19theo nghĩa rộng nhất, có thể chỉ bất kì tác phẩm hư cấu tự sự nào hướng sâu vào quá trình miêu tả tính cách một cách phức tạp, nó đặc biệt gắn liền với các khuynh hướng như chủ nghĩa hiện thực tâm lý thế kỉ XIX, văn học hiện đại chủ nghĩa thế kỉ XX và tiểu thuyết “dòng ý thức”, (gắn liền) với các kĩ thuật trần thuật như diễn ngôn gián tiếp tự do và độc thoại nội tâm Thuật ngữ tiểu thuyết tâm lí cũng có thể chỉ những tác phẩm văn xuôi hư cấu vốn dành cho các lí thuyết tâm lý hiện đại và những nghiên cứu gần đây về tiểu thuyết tâm lí
đã tập trung vào sự hội tụ mang tính lịch sử của hai lĩnh vực này[251; tr.633] Như vậy, trong những cách định nghĩa trên, không có định nghĩa nào bao hàm đầy đủ đặc điểm của tiểu thuyết tâm lý, nhưng qua đó, có thể khẳng định, các nhà nghiên cứu, phê bình, thậm chí các nhà tiểu thuyết ít hay nhiều đều có sự thống
nhất trong tên gọi tiểu thuyết tâm lý
Dẫn định nghĩa trong các cuốn từ điển thuật ngữ văn học, chúng tôi muốn lưu ý đến cách hiểu của số đông các nhà nghiên cứu, phê bình văn học trong từng giai đoạn lịch sử, nhưng hơn hết, cách hiểu về thể loại của số đông các nhà văn, nhà nghiên cứu trong một giai đoạn lịch sử thường nói lên ý thức mãnh liệt về mặt thể loại của chính các nhà văn đương thời Từ điểm chung của một số cách định nghĩa trên có thể thấy, nghệ thuật phân tích tâm lý nhân vật đã có từ lâu trong văn học phương Tây, văn học phương Đông và ngay trong văn học trung đại Việt Nam, nhưng tiểu thuyết tâm lý được hiểu là một thể tài mang đầy đủ đặc điểm của thể loại văn học hiện đại thì phải chờ đến sự xuất hiện của những tác phẩm tiểu thuyết hiện đại
Từ quan niệm của các nhà nghiên cứu đi trước, từ thực tiễn sáng tác tiểu
thuyết nửa đầu thế kỷ XX, chúng tôi quan niệm: Tiểu thuyết tâm lý là tác phẩm văn
xuôi tự sự cỡ lớn tập trung phân tích tâm lý nhân vật, trong đó, đời tư và quá trình tâm lý của nhân vật là cái xuyên suốt, bao trùm toàn bộ tác phẩm Tâm lý nhân vật hoàn toàn chi phối cách xây dựng cốt truyện, thể hiện nhân vật, kiểu xung đột và phong cách ngôn ngữ của tác phẩm Tiểu thuyết tâm lý gắn với kỹ thuật độc thoại nội tâm, kỹ thuật “dòng ý thức” và đặc biệt nó có mối liên hệ với các lý thuyết tâm
lý học hiện đại
1.1.3 Khuynh hướng tiểu thuyết tâm lý
Bàn về khuynh hướng tiểu thuyết tâm lý giai đoạn 1925 - 1945, không thể không nhắc đến cách phân chia thể loại tiểu thuyết mà Phạm Quỳnh đã bàn đến từ trước 1925:
Cứ lấy ý nghĩa mà chia ra thời có tiểu thuyết về lịch sử, tiểu thuyết về triết học, tiểu thuyết về tâm lý, v.v… tùy cái ý nghĩa trong truyện khuynh hướng
về mặt tâm lý, về mặt xã hội, về mặt triết học hay về mặt lịch sử Các hạng tiểu thuyết ấy thì thường được gọi tổng danh là lý luận tiểu thuyết, nghĩa là những truyện đặt ra để chứng giải một lý thuyết gì Cứ lấy hình thức mà chia
Trang 20thời có tiểu thuyết tự sự, nghĩa là người làm sách đứng thuật truyện; tiểu thuyết bằng thư trát vãng lai, nghĩa là theo thể viết thư, người trong truyện viết lẫn cho nhau, tiểu thuyết bằng nhật ký, bằng tự truyện, nghĩa là người chủ động trong truyện tự chép việc mình, hay là dùng lối nhật ký mà ghi riêng công việc của mình, giãi riêng tâm sự mình… [194; tr.26]
Sở dĩ chúng tôi dẫn ra cách phân chia thể loại tiểu thuyết của Phạm Quỳnh bởi vì cách phân chia trên cũng không phải sáng tạo riêng của Phạm Quỳnh, nó là
sự tổng hợp lý thuyết văn học mà Phạm Quỳnh đã tiếp thu từ văn học Pháp Và các nhà văn, nhất là các nhà văn thế hệ 32, nói theo cách nói của Thanh Lãng, không thể không tiếp thu các quan niệm lý thuyết thể loại và những cách tân nghệ thuật của tiểu thuyết phương Tây hiện đại Cách phân chia tiểu thuyết ra làm nhiều tiểu loại căn cứ vào những thành công bước đầu của các nhà văn khi sáng tác tiểu thuyết hiện đại đang trong quá trình thử nghiệm Sự thành công của Hoàng Ngọc Phách, Khái Hưng, Nhất Linh, Thạch Lam, Lê Văn Trương, Nguyễn Tuân, Lan Khai, Nguyên Hồng, Tô Hoài, Nam Cao… trong giai đoạn văn học nửa đầu thế kỷ XX đã chứng minh điều đó
Trên thực tế, có sự phân biệt giữa khuynh hướng văn học và trào lưu văn
học TheoTừ điển thuật ngữ văn học thì:
Sáng tác của các nhà văn thuộc về một trào lưu văn học thường có những đặc điểm giống nhau Đó là sự giống nhau trong hệ thống đề tài, các mô típ chủ
đề, thể hiện sự thống nhất trong cách nhìn nhận, đánh giá nhu cầu và những vấn đề của thời đại Đó còn là sự giống nhau của mô hình thế giới được tạo
ra trong sáng tác của các nhà văn, thể hiện sự thống nhất trong nguyên tắc nhận thức con người và cuộc sống [67; tr.361]
I.P Ilin và E A Tzurganova cho rằng: “Khuynh hướng lớn sau cùng trong khuôn khổ chủ nghĩa giải cấu trúc là “phê bình nữ quyền” [90; tr.180] Trần Hinh trong
công trình Tiểu thuyết phương Tây thế kỷ XX - Khuynh hướng - Tác giả - Tác
phẩmlý giải khuynh hướng văn học như sau:
Khuynh hướng: Từ điển Tiếng Việt định nghĩa là một sự vật, sự việc, hành động có xu thế thiên về một phía nào đó trong hoạt động, trong quá trình phát triển Trong lý luận văn học, thuật ngữ khuynh hướng thường được dùng để chỉ những hiện tượng cụ thể của quá trình phát triển văn học Thuật ngữ này đôi khi cũng được dùng trong ý nghĩa tương đồng với trào lưu hay trường phái [74; tr.27]
So sánh với cách hiểu về khuynh hướng văn học trong Từ điển thuật ngữ văn
học, ông nhấn mạnh:
Rõ ràng ngay trong giới nghiên cứu văn học, một cách hiểu thống nhất về khuynh hướng và trào lưu văn học vẫn chưa có chung một tiếng nói Tuy nhiên, chúng tôi cho rằng, dù rộng hay hẹp hơn, “cả khuynh hướng và trào
Trang 21lưu đều là cộng đồng những hiện tượng văn học được liên kết lại trên cơ sở
sự thống nhất tương đối về các định hướng thẩm mỹ - tư tưởng và về các nguyên tắc thể hiện nghệ thuật”, đúng như nhà nghiên cứu Lại Nguyên Ân kết luận trong công trình 150 thuật ngữ văn học của ông [74, tr.28]
Việc lý giải cách hiểu khuynh hướng tiểu thuyết trong một công trình nghiên cứu các khuynh hướng tiểu thuyết đầu thế kỷ XX của Trần Hinh thực sự cần thiết,
vì nó nhằm xác định hướng đi đúng đắn dẫn đến những kết luận chân xác, có tính phát hiện của tác giả
Trong công trình này, chúng tôi không sử dụng khuynh hướng tiểu thuyết tâm lý tương đương với cấp độ khuynh hướng hay trào lưu văn học như từ điển thuật ngữ đã nêu ở trên mà cách gọi này được hiểu là khuynh hướng sáng tác tiểu thuyết tâm lý Trước chúng tôi, nhiều nhà nghiên cứu cũng đã sử dụng cách gọi này Chúng tôi vận dụng và mở rộng cách hiểu của Lại Nguyên Ân: “Khuynh hướng văn học mang tính chất mở, không khép kín; việc chuyển biến từ một khuynh hướng
này sang một khuynh hướng khác thường tạo ra những hình thức trung gian” Đồng
áp đặt của thế giới bên ngoài [ ] Tiểu thuyết tâm lý có chức năng tư tưởng
và miêu tả: tính độc lập của thế giới tâm lý và diễn biến nội tâm của nhân vật cho thấy những tác động thuần tuý của lý trí và luân lý của thế giới bên ngoài đối với nó […] Sự nước đôi ấy là một đại lượng bất biến của mọi tiểu thuyết tâm lý: trừ phi phải miêu tả một sự độc lập trọn vẹn nhằm gợi lên nhanh chóng đặc điểm bên trong của một sự câm lặng hoặc sự đa ngôn không kiểm tra nổi thì không bao giờ có thể xác định rõ ranh giới giữa cái bên trong và cái bên ngoài của nhân vật [176; tr.104]
Trong luận án Nghệ thuật miêu tả tâm lý trong tiểu thuyết Tự lực văn đoàn,
Dương Thị Hương quan niệm:
Khi đề cập đến tiểu thuyết tâm lý thì logic tất yếu sẽ là: yếu tố tâm lý là điều tác giả quan tâm, thể hiện, miêu tả, xử lý trong tác phẩm; tâm lý nhân vật có
Trang 22quan hệ mật thiết tới việc xây dựng cốt truyện, thể hiện xung đột, kiểu nhân vật, phong cách ngôn ngữ [88; tr.96]
Những phát hiện như trên đã chỉ ra rằng tiểu thuyết tâm lý trong văn học Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX cũng vận động có tính quy luật Tiểu thuyết tâm lý lúc đầu được khơi nguồn bởi các nhà văn theo khuynh hướng văn học lãng mạn
Kế thừa những thành tựu của văn học lãng mạn, đến lượt mình, các nhà văn theo khuynh hướng văn học hiện thực đã đưa tiểu thuyết tâm lý phát triển lên đến trình độ nghệ thuật điêu luyện Điều này có thể giải thích bởi quá trình hiện đại hóa tiểu thuyết ở Việt Nam gắn liền với quá trình tiếp biến văn hóa phương Tây đầu thế kỷ XX
Nhìn nhận quá trình vận động có tính quy luật của dòng tiểu thuyết tâm lý không có nghĩa là chúng tôi tán đồng với quan niệm nhìn nhận diễn biến của dòng tiểu thuyết tâm lý 1925 - 1945 như quá trình vận động từ thấp đến cao của các phương pháp sáng tác từ lãng mạn đến hiện thực Trên thực tế, cần nhìn nhận tiểu thuyết, qua từng tác phẩm cụ thể của mỗi nhà văn trong từng giai đoạn của lịch sử văn học Bởi sự giao thoa về mặt thể loại, sự giao thoa giữa các khuynh hướng trong một giai đoạn văn học sẽ quy định một tác phẩm cụ thể có thể nằm trong tiểu loại tiểu thuyết tâm lý hoặc một thể tài tiểu thuyết khác Ngược lại, cần nhìn một tác phẩm cụ thể trong sự vận động và phát triển của tiểu thuyết giai đoạn bấy giờ để thấy được những đặc điểm cơ bản, nổi trội của một tác phẩm, từ đó nhận định tác phẩm đó thuộc về tiểu thuyết luận đề, tiểu thuyết tự truyện hay tiểu thuyết tâm lý
Xin dẫn lại ý kiến của Dương Thị Hương trong luận án trên: “Không phải bên cạnh khuynh hướng tiểu thuyết luận đề, tiểu thuyết Nhất Linh, Khái Hưng chỉ duy nhất tồn tại khuynh hướng tiểu thuyết tâm lý” vàkhái niệm đó “không hoàn
toàn phù hợp với những tác phẩm như Hồn bướm mơ tiên (Khái Hưng, 1932), Gánh
hàng hoa (Viết chung, 1933), Nắng thu (Nhất Linh, 1934)” [88; tr.100] Quan niệm
này khác với quan niệm của Đào Đức Doãn khi trong luận án, tác giả khẳng định
Hồn bướm mơ tiên là tác phẩm mang đầy đủ dấu hiệu của một tiểu thuyết tâm lý
Nghiên cứu vấn đề thể tài văn học, G N Pospelov trong Dẫn luận nghiên
cứu văn học từng nhắc đến ba thể tài phổ biến như lịch sử - dân tộc, đạo đức - thế
sự và đời tư [168; tr.264 - 265] Nếu thể tài đời tư trong văn học bao quát nhiều thể
loại lớn như trữ tình, kịch, tự sự thì trong phạm vi đề tài này, chúng tôi đề cập đến thể tài gắn với một thể loại cụ thể: tiểu thuyết Không thể tách rời hình thức biểu hiện của thể loại, thể tài tiểu thuyết được hiểu như một tiểu thể loại của tiểu thuyết, thiên về nội dung, đề tài
Như vậy, khuynh hướng tiểu thuyết tâm lý mà chúng tôi sử dụng ở đây được hiểu là khuynh hướng hình thành, vận động và phát triển của tiểu thuyết dưới dạng một thể tài, một xu hướng tự sự lấy tâm lý và đời sống bên trong của con người làm đối tượng phân tích, mô tả Nếu xem tính cách và số phận nhân vật làm mục tiêu
Trang 23sáng tạo của nhà tiểu thuyết, thì tâm lý ở đây có chức năng phương tiện, và là một yếu tố hình thức mang đậm tính nội dung
1.2 Tình hình nghiên cứu tiểu thuyết tâm lý
Tiểu thuyết Việt Nam từ 1925 đến 1945 đã trở thành đối tượng nghiên cứu của nhiều công trình khoa học Nhiều nhà nghiên cứu hoặc trực tiếp hoặc gián tiếp
đã đề cập đến các khuynh hướng tiểu thuyết trong giai đoạn này, trong đó, có khuynh hướng tiểu thuyết tâm lý từ góc độ lý luận cũng như phê bình tác phẩm Dưới đây là sơ lược về quá trình đánh giá tiểu thuyết tâm lý trong văn học Việt Nam hiện đại mà chúng tôi phân định theo nhóm các vấn đề như: phân định thể tài, nghệ thuật phân tích tâm lý, nhân vật, khuynh hướng tiểu thuyết tâm lý
1.2.1 Vấn đề phân định thể tài
Nếu nói cấu trúc của tác phẩm văn học được dệt nên bởi các yếu tố nằm cùng cấp độ và sự liên kết của mọi cấp độ thì tính lặp lại, tính bền vững của các yếu tố thuộc cấp độ cấu trúc cao nhất tạo nên sự ổn định để hình thành thể loại và tính bền
vững của cấu trúc được coi là “ký ức thể loại” (Bakhtin) Trong Những vấn đề thi
pháp Dostoevsky, Lý luận và thi pháp tiểu thuyết, Bakhtin đã nỗ lực tìm ra tính bền
vững mà hình thức của nó - những “hằng số” tồn tại để có thể phân tích tiểu thuyết Những hằng số ngoái lại ký ức thể loại, hình thức thể loại ban đầu của nó như: nhân vật, kết cấu, cốt truyện, lời văn, không gian, thời gian Từ đó, có thể nhận thấy một khuynh hướng phát triển thể loại chỉ được hình thành khi và chỉ khi cấu trúc thể loại tác phẩm có sự biến đổi, làm thay đổi đường biên “ranh giới thể loại” Sự đổi mới quan niệm về thể loại tiểu thuyết trong một giai đoạn lịch sử văn học cùng với sự thay đổi tư duy cách viết tiểu thuyết, sự thay đổi đề tài sẽ góp phần quyết định việc hình thành các khuynh hướng phát triển thể loại Những nghiên cứu về tiểu thuyết trong giai đoạn nửa đầu thế kỷ XX đã đóng góp tích cực vào sự vận động và phát triển của thể loại tiểu thuyết, nhất là trong vấn đề phân định thể tài
Lý luận về tiểu thuyết nửa đầu thế kỷ XX được thể hiện dưới nhiều hình thức, bao gồm các chuyên khảo về tiểu thuyết, các cuốn sách lý luận văn học, các ý kiến phát biểu về tiểu thuyết, các bài dịch lý thuyết văn học của nước ngoài Các nhà văn, nhà nghiên cứu phê bình văn học nửa đầu thế kỷ XX đã bàn về tiểu thuyết qua các
chuyên khảo như: Bàn về tiểu thuyết của Phạm Quỳnh, Theo giòng của Thạch Lam
Sau năm 1954, ở miền Nam, các nhà văn này được giới nghiên cứu tiếp tục nghiên
cứu Chúng ta có Khảo về tiểu thuyết của Vũ Bằng, Viết và đọc tiểu thuyết của Nhất
Linh Đây là những công trình tiêu biểu, là những phát biểu về tiểu thuyết từ góc nhìn thể loại của chính các nhà văn, các nhà nghiên cứu đã trưởng thành trong môi trường văn học Việt Nam giai đoạn nửa đầu thế kỷ XX Đây vừa là quan điểm của cá nhân vừa quan niệm của giới nghiên cứu phê bình đương thời nhằm đưa ra quan niệm về thể loại tiểu thuyết cũng như quá trình vận động và phát triển thể loại này
Trang 24Ngoài những chuyên khảo của Phạm Quỳnh, Vũ Bằng, Thạch Lam, Nhất
Linh, có thể điểm qua một vài ý kiến phát biểu liên quan đến tiểu thuyết trong Tiểu
thuyết là sự thực ở đời, Quan niệm của tôi về phóng sự và tiểu thuyết của Vũ Trọng
Phụng, Giữ lấy cái lộn xộn tự nhiên của cuộc đời của Lưu Trọng Lư, Tuyên ngôn
của Tiểu thuyết thứ bảy của Vũ Đình Long Những ý kiến đó đã thể hiện quan niệm
của các tác giả về đặc trưng thể loại tiểu thuyết
Trong số các nhà nghiên cứu kể trên, Phạm Quỳnh đã tiếp thu những thành tựu lý thuyết của văn học Pháp và đưa đến cho người đọc một cách hiểu mới mẻ về thể loại tiểu thuyết khi nền văn xuôi quốc ngữ đang chuyển mình bước sang thời kỳ
hiện đại Trong chuyên luận Bàn về tiểu thuyết (1921), công trình lý luận về tiểu
thuyết đầu tiên ở nước ta, Phạm Quỳnh đã đề cập đến vấn đề phân loại tiểu thuyết Ông đưa ra cách hiểu tiểu thuyết như sau: “Tiểu thuyết là một truyện viết bằng văn xuôi đặt ra để tả tình tự người ta, phong tục xã hội hay là những chuyện lạ, tích kỳ
đủ làm cho người đọc có hứng thú” [169; tr.229] Ông dựa vào ba tiêu chí “ý nghĩa”, “hình thức”, “tính chất” để phân loại tiểu thuyết thành ba hệ thống Dựa trên
tiêu chí ý nghĩa (nội dung), tiểu thuyết được chia thành: tiểu thuyết lịch sử, tiểu
thuyết triết học, tiểu thuyết xã hội, tiểu thuyết tâm lý Đó cũng là cách giải thích
thuật ngữ tiểu thuyết tâm lý mà Phạm Quỳnh tiếp thu từ lý thuyết văn học châu Âu
Tiểu luận Theo dòng (1941) của Thạch Lam cũng là một công trình lý luận
về tiểu thuyết So với Phạm Quỳnh, quan niệm về tiểu thuyết của Thạch Lam có nhiều điểm mới khi ông cho rằng tiểu thuyết không đơn thuần giúp người ta giải trí hay thóat ly cuộc sống trước mắt mà tiểu thuyết giúp người ta biết sống bởi:
Qua tâm hồn ta, chúng ta có thể đoán biết được tâm hồn mọi người Và chỉ khi nào chúng ta hiểu biết được những trạng thái tâm lý của mình một cách sâu sắc, chúng ta mới hiểu biết được trạng thái tâm lý người ngoài” [97; tr.416]
Khi nêu Quan niệm trong tiểu thuyết, Thạch Lam khẳng định:
Cái khuynh hướng của tiểu thuyết bây giờ là hết sức gần với sự sống, để được linh hoạt và thật như cuộc đời
Tiểu thuyết bao giờ cũng là một sáng tác của trí tưởng tượng một câu chuyện xếp đặt, nhưng với đời sống bên trong ngày một mạnh mẽ hơn, người đọc muốn rằng câu chuyện xếp đặt đó phải hợp với lẽ phải và xúc động đến tình cảm của mình [97; tr.418]
Tiểu thuyết làm cho đời sống tâm hồn con người phong phú, mãnh liệt hơn,
vì qua đó, con người được tiếp xúc, sẻ chia với những tâm hồn nhân vật uyển chuyển và tinh tế nhất Theo tác giả, tiểu thuyết góp phần cảm hóa người đọc khi dạy họ biết sung sướng, biết yêu thương Như vậy, “thể hiện tâm hồn con người” được nhà văn coi là đặc trưng của thể loại tiểu thuyết:
Nhà nghệ sĩ chỉ có thể diễn tả đúng tâm lý một người khi quan sát đến cả hoạt cảnh xung quanh Người ta không sống một mình và có liên lạc mật
Trang 25thiết với những người khác, với xã hội Phải làm sống lại trong tiểu thuyết cái không khí bao bọc lấy vai chính Phải bày tỏ bằng những hành động cái tâm lý của các nhân vật [97; tr.420]
Đề cao xu hướng đi sâu tìm hiểu tâm lý nhân vật của các nhà văn, Thạch Lam cũng đề cao hạng độc giả mà “Tiểu thuyết có cốt truyện ly kỳ và rắc rối chỉ khiến họ bực mình vì không được biết rõ tâm hồn các nhân vật [97; tr.423] Hạng độc giả đó, theo Thạch Lam, “Họ cốt chú ý đến cách diễn tả tâm lý của tác giả, có đúng hay không đúng, hời hợt hay sâu sắc” [97; tr.424] Từ đây ông khởi xướng quan niệm: “tiểu thuyết là sự sống” [97; tr.446] Quan niệm của ông bao hàm những đặc điểm nội dung của tiểu thuyết hiện đại, nhất là tiểu thuyết tâm lý
Ra đời sau những bài tiểu luận Theo giòng của Thạch Lam, Khảo về tiểu
thuyết của Vũ Bằng đã thể hiện rõ ràng quan niệm của một nhà tiểu thuyết nghĩ về
tiểu thuyết Nó không đơn thuần là cuốn sách lý thuyết văn học, nó thực sự là cuốn sách dạy người ta cách thực hành viết tiểu thuyết Theo Vũ Bằng, tiểu thuyết là một thể loại không có quy phạm, không có khuôn mẫu nhất định Đó là một thể loại nằm giữa tính nghệ thuật và không nghệ thuật Ở đó, nhà văn không cần và không nên tuân theo một chuẩn mực khô cứng nào mà phải luôn đi sâu tìm hiểu, khám phá vào những lĩnh vực mới Ông yêu cầu tiểu thuyết “Mới! Luôn luôn mới!” Đây cũng là
tên gọi chương thứ nhất trong cuốn Khảo về tiểu thuyết Ông lưu ý các nhà tiểu
thuyết rằng, một cuốn tiểu thuyết có sức lôi cuốn đối với bạn đọc, một cuốn tiểu thuyết có giá trị có thể thuộc về bất cứ một loại văn, một thể văn nào bởi: “Cái khó không phải là ở đó, nhưng ở cách kết cấu câu chuyện, ở cách trình bày các nhân vật
và ở cách diễn tả tâm lý” [18; tr.25] Vũ Bằng đã bổ sung thêm vào cách hiểu thể loại tiểu thuyết của Phạm Quỳnh, đó là sự tự do của thể loại, thế mạnh của thể loại, chỗ phân biệt rành rẽ tiểu thuyết với nhiều thể loại khác
Bên cạnh đó, Hải Triều thời kỳ này qua bài Đi tới chủ nghĩa tả thực trong
văn chương: Những khuynh hướng trong tiểu thuyết (1939) đã đề cao ý nghĩa của
tiểu thuyết tả thực, tạo tiền đề cho cuộc tranh luận giữa ông chủ phái vị nhân sinh và Hoài Thanh, tác giả Thi nhân Việt Nam, người bị quy cho là chủ phái vị nghệ thuật
Trương Chính viết Dưới mắt tôi (1939) có đoạn:
Vì Đoạn tuyệt không chỉ có giá trị xã hội Nó còn có một giá trị tâm lý không
ai chối cãi được Ông Nhất Linh đã dùng một cách quan sát rất tinh vi để tả những trạng thái phiền phức trong tâm hồn riêng của nhân vật trong truyện
để đi sâu vào đời bên trong của họ” [26; tr.38]
Cái “giá trị tâm lý không ai chỗi cãi được” theo cách nói của Trương Chính
là dấu hiệu rõ ràng nhất để có thể thấy sự vận động ngầm trong tiểu thuyết của Tự lực văn đoàn từ tiểu thuyết luận đề sang tiểu thuyết tâm lý Và những tác phẩm tiểu thuyết lãng mạn của Tự lực văn đoàn, ngoài “giá trị xã hội”, bao giờ cũng mang
Trang 26“giá trị tâm lý” như thế Vận dụng nghệ thuật phân tích tâm lý làm rõ những rung động sâu xa trong tâm hồn con người, khơi gợi những xúc cảm nhẹ nhàng là con đường thể hiện tinh thần lãng mạn của các nhà tiểu thuyết
Vũ Ngọc Phan trong Nhà văn hiện đại đã tiến hành phân loại tiểu thuyết theo
một hướng khác Cách phân chia của Vũ Ngọc Phan được gợi ý từ chính những thành tựu của tiểu thuyết nước nhà trong giai đoạn này Từ thực tế sáng tác của các nhà văn, từ quá trình hình thành và phát triển mạnh mẽ của thể loại, từ những trào lưu, khuynh hướng sáng tác thời bấy giờ, ông khẳng định, tiểu thuyết đã phát triển
vô cùng phong phú và đa dạng về thể tài Ông chia tiểu thuyết thành: tiểu thuyết
phong tục, tiểu thuyết luận đề, tiểu thuyết luân lý, tiểu thuyết truyền kỳ, tiểu thuyết phóng sự, tiểu thuyết hoạt kê, tiểu thuyết tả chân, tiểu thuyết xã hội, tiểu thuyết tình cảm, tiểu thuyết trinh thám Nhà nghiên cứu đã phân chia tiểu thuyết dựa hoàn toàn
trên việc khảo sát tác phẩm của các nhà văn mà ông lưu ý: “Những tiểu thuyết gia
mà tôi lựa chọn để phê bình tác phẩm sau đây, đều là những người xứng đáng tiêu biểu cho phong trào tiểu thuyết đang biến hóa và đang lan rộng ở nước ta” [161; tr.26].Ở đây, Vũ Ngọc Phan không nhắc đến tiểu thuyết tâm lý mà ông xếp tiểu thuyết của nhiều nhà văn như Thạch Lam, Đỗ Đức Thu, Nhượng Tống, Thanh Tịnh, Thuỵ An, Nguyễn Xuân Huy, Ngọc Giao, Nguyễn Vỹ vào tiểu thuyết tình cảm Ông thừa nhận tiểu thuyết của Khái Hưng và Nhất Linh đã có một sự vận động, đi từ tiểu thuyết lý tưởng, tiểu thuyết luận đề đến tiểu thuyết tâm lý Bên cạnh đó, trong công
trình này, Vũ Ngọc Phan cũng rơi vào mâu thuẫn khi ông vừa cho rằng “Hồn bướm
mơ tiên là một tiểu thuyết lý tưởng, một tiểu thuyết mà tác giả dựng nên những cái
cao quá, người ở thế gian này không thể nào có được” [161; tr.32] rồi ngay sau đó
ông xếp “Nửa chừng xuân cũng thuộc vào một loại như Hồn bướm mơ tiên” [161; tr.32], rồi ông nói thêm “Nửa chừng xuân còn có khuynh hướng về phong tục nữa” [161; tr.34] Ngoài ra, ông xếp Thừa tự vào loại tiểu thuyết phong tục còn “Hạnh là một tâm lý tiểu thuyết” [163; tr.41] Ông xếp Con trâu của Trần Tiêu “là một cuốn
tiểu thuyết tả sự sống và tính tình, phong tục của người dân quê miền Bắc” [161;
tr.54] Ông xếp“Cát bụi và Trinh nữ của Thiết Can đều là ái tình tiểu thuyết” [161;
tr.88] Tuy thế, nhà nghiên cứu vẫn nói thêm “Đặt Thiết Can vào các nhà tiểu thuyết phong tục cũng là chính đáng” [161; tr 91] Nhận định của Vũ Ngọc Phan cho thấy phần nào tính chất phức tạp của các khuynh hướng vận động và phát triển thể loại tiểu thuyết nửa đầu thế kỷ XX
Trong khi đó, trên Thanh Nghị số 2 năm 1942, Trần Văn Giáp trong Lược
khảo về tiểu thuyết Tàu - Phụ thêm Tiểu thuyết Việt Nam xưa, mục Môn loại tiểu thuyết, nêu quan điểm: “Theo nội dung mà nói thì tiểu thuyết xưa cũng có đủ các
loài: xã hội tiểu thuyết, lịch sử tiểu thuyết, trinh thám tiểu thuyết, ái tình tiểu thuyết
v v ” [188] Sau đó, trên Thanh Nghị, số ra tháng 4 năm 1942, tiếp tục chuỗi bài
Lược khảo về tiểu thuyết Tàu, Trần Văn Giáp đưa ra ý kiến phân biệt văn chương
Trang 27tiểu thuyết với các loại văn chương khác và nhấn mạnh: “Văn tiểu thuyết chỉ cốt ở hai điều trọng yếu nhất: giàu tưởng tượng và khéo miêu tả” [188] Nghĩa là theo Trần Văn Giáp, văn tiểu thuyết cần hư cấu và tài miêu tả, cái này khá gần với nghệ thuật tiểu thuyết thời trung đại Phân tích tâm lý, đưa con người cá nhân vào tiểu thuyết như một yêu cầu của tiểu thuyết hiện đại chưa được Trần Văn Giáp chú ý
đến Cũng trên báo Thanh Nghị năm 1942 số 3, trong bài Những hoạt động văn
chương Việt Nam trong năm vừa qua, tác giả Diệu Anh khái quát: “Ở xứ ta không
có những trường tiểu thuyết gia rõ rệt Các nhà văn Việt Nam phần nhiều thiên về loại tả chân và loại tiểu thuyết xã hội” Tác giả nhận xét cụ thể hơn: “Ông Nhất Linh muốn đi sâu xa hơn vào tâm khảm người ta và muốn là một nhà văn xã hội xét những tình trạng của cuộc sống hiện đại để tả những nỗi uẩn khúc của nó”, Thế Lữ thì “tả các trạng thái tâm lý, các cảm xúc, các rung động lạ khéo léo vô cùng và nghệ thuật của ông vừa là nghệ thuật của một nhà thi sĩ”, “Tả những cảnh thường ở đời, những tấn bi kịch nhỏ của nhân sinh với một nghệ thuật tả chân sâu sắc khiến tạo nên những nhân vật đặc biệt biểu hiệu cho một loại tâm lý, cho một giai cấp xã
hội, thì có nhà tiểu thuyết Đỗ Đức Thu, tác giả Đứa con” [188] Bài viết này cũng
khẳng định văn chương Việt Nam đã nỗ lực thóat khỏi văn chương Tàu và gần gụi với văn chương Phương Tây và bày tỏ niềm hi vọng “Trong một tương lai mà ta mong là gần gụi, một nền văn chương Việt Nam mới có giá trị sẽ lập thành và ta mong nó sẽ làm danh dự cho xứ sở Việt Nam” [190] Đó cũng là khát vọng chung của nhiều nhà văn đương thời Cũng trên báo Thanh Nghị năm 1942, số 25, Đinh
Gia Trinh trong Đọc tiểu thuyết Việt Nam cận đại cho rằng chính hoàn cảnh xã hội
đã tạo điều kiện cho các nhà văn hướng ngòi bút đến số phận cá nhân, để rồi từ đó hình thành khuynh hướng tiểu thuyết tâm lý:
Dưới sự xô đẩy của trào lưu sống mới, những nền nếp cổ bị lung lay, một sự xung đột xảy ra giữa cha mẹ và con cái, thì trong tiểu thuyết có mới cũ xô xát, có những duyên ép uổng, có những thành kiến tập quán cũ đè nén mầm sống mới bồng bột mới Với ảnh hưởng của xa hoa và phóng đãng của thời đại, trai gái truỵ lạc trở nên nhan nhản Tức thì bao nhiêu tiểu thuyết tả các cuộc truy hoan thâu đêm suốt sáng, tâm sự của các cô gái nhảy, những câu chuyện trong tiệm hút, những cảnh tượng dâm đãng, những tình nhí nhảnh dâu bộc
Trên đây tôi nghĩ đến những tiểu thuyết tâm lý, những tiểu thuyết xã hội, là những loại phong phú hơn cả và phản chiếu đặc sắc nhất sự thực của nhân sinh Tiểu thuyết lịch sử, tiểu thuyết hoang đường chỉ có một giá trị khảo cứu hoặc thẩm mĩ [215; tr.275]
Ở bài viết này, Đinh Gia Trinh đã chú ý làm nổi bật thế mạnh của tiểu thuyết tâm lý, tiểu thuyết xã hội, những loại theo ông có thể phản ánh rõ rệt cuộc sống hiện
thực Ở một bài viết khác, nhân bàn về Truyện Kiều của Nguyễn Du, Đinh Gia
Trang 28Trinh dành hẳn một phần nói về tâm lý nhân vật và ông nhắc lại: “Xét tâm lý nhân vật của một vở kịch hoặc của một cuốn tiểu thuyết, đi đến phân tích tinh vi, đó là một thói quen của khoa phê bình văn học hiện đại Thói ấy đã do văn học Tây phương mang lại cho ta, và nhất là văn học Pháp ưa sáng láng, trật tự trong những kiến thức, và cũng ưa giải phẫu tâm lý” [215; tr.296] Nói cách khác, chính nghệ thuật phân tích tâm lý nhân vật tiếp thu từ văn học phương Tây đã giúp các nhà văn xây dựng nhân vật tâm lý theo hướng hiện đại Tâm lý trở thành đề tài được lựa chọn của nhiều nhà tiểu thuyết
Trương Tửu khi nói về cuốn Tố Tâm của Song An lưu ý: “Mấy ngàn năm
nay, trong xã hội Việt Nam vẫn tiềm tàng sự xung đột âm thầm của cá nhân và gia đình” và nhà phê bình đã phát hiện ra: “Say đắm sắc đẹp, khao khát tình yêu, lo buồn vơ vẩn, đó là ba yếu tố của sự lãng mạn Lãng mạn! Với nó thanh niên trở thành kẻ thù của cổ nhân” cho nên cần chọn chỗ đứng trong phê bình: “Muốn cho
hợp phép, phê bình truyện Tố Tâm trước hết phải đứng trong phạm vi tâm lý” [237;
tr.85, 87, 88] “Đứng trong phạm vi tâm lý” mà Trương Tửu nhắc đến ở đây chính
là sự khẳng định một lần nữa ý thức thể loại ở tác giả cuốn tiểu thuyết Trước Trương Tửu, các nhà phê bình như Lê Hữu Phúc, Thiếu Sơn đều khẳng định, Hoàng Ngọc Phách đã có bước tiến mới trong nghệ thuật phân tích tâm lý nhân vật nhưng cuối cùng, cái chết của Tố Tâm lại là lời cảnh tỉnh cho các bạn trẻ đừng vội chạy theo tư tưởng tự do cá nhân, tự do yêu đương: “Đây là ghềnh cao, vực thẳm!” và
“đừng lạm dụng văn chương tư tưởng mà làm việc cho ái tình” [25; tr.520, 542]
Đến Vũ Ngọc Phan, trong công trình nghiên cứu Nhà văn Việt Nam hiện đại,
năm 1941, đã cho rằng “Nếu xét theo khuynh hướng của Nhất Linh ở những truyện
đặc sắc nhất của ông, người ta phải đặt phần nhiều tiểu thuyết của ông vào loại tiểu
thuyết luận đề tuy ông đã đi từ tiểu thuyết tình cảm đến tiểu thuyết tâm lý”[161;
tr.97] Như vậy, nhà nghiên cứu Vũ Ngọc Phan đã vô tình thừa nhận: tiểu thuyết của Nhất Linh có sự vận động từ tiểu thuyết luận đề sang tiểu thuyết tâm lý Không những thế, Vũ Ngọc Phan còn gián tiếp công nhận có một khuynh hướng tiểu thuyết tâm lý đan xen giữa các khuynh hướng tiểu thuyết khác trong thời kỳ này Khi nhận xét về tiểu thuyết của Lê Văn Trương, Vũ Ngọc Phan cho rằng:
tiểu thuyết mà Lê Văn Trương đặt vào loại tâm lý tiểu thuyết Phàm đã là tâm lý tiểu thuyết, tất cả các vai trong truyện khi nói năng, khi hành động, đều phải rất hợp với những sự suy nghĩ của họ [161; tr.132]
Cũng như vậy, khi nhận xét tiểu thuyết Ngày mới của Thạch Lam, ông khen
“Cái lối văn nhẹ nhàng, kín đáo và xinh tươi trên đây thật là một lối văn đặc biệt của Thạch Lam, lối văn rất hợp với những truyện tâm tình”[161; tr.325] Riêng với Đỗ Đức Thu, Vũ Ngọc Phan dành cho tiểu thuyết của nhà văn này nhiều cảm
tình: “Nếu kể những văn phẩm của Đỗ Đức Thu từ trước đến nay, có thể nói Đứa
Trang 29con là tập truyện dài nhất của ông và đáng liệt vào tiểu thuyết giá trị về tình cảm”
[161; tr.339] Tiếp nữa, khi Vũ Ngọc Phan xếp Lan Hữu của Nhượng Tống vào
thể loại tiểu thuyết tình cảm kể về chuyện tình ái: “một thứ ái tình đầy thơ mộng, gần như là ái tình lý tưởng”[161; tr.347], thì nhà nghiên cứu đã công nhận đây là cuốn tiểu thuyết tâm lý Nhận xét về tiểu thuyết của Thanh Tịnh, ông giải thích thêm: “Thứ tình cảm trong tiểu thuyết của Thanh Tịnh là thứ tình cảm êm dịu, nhẹ nhàng, thứ tình cảm của người thôn quê hồn hậu Trung Kỳ, diễn ra trong những khung cảnh sông nước, đồng ruộng” [161; tr.353] và “Thanh Tịnh tuy là một nhà thơ, nhưng thơ ông, ngày nay không còn mấy người nhớ đến, người ta chỉ còn biết ông là một nhà tiểu thuyết tình cảm, một thứ tình cảm nhẹ nhàng trong trẻo” [161; tr.357] Theo Vũ Ngọc Phan, có lẽ nhà thơ dễ trở thành nhà văn viết tiểu thuyết tâm lý trước nhất mà trong tác phẩm của những nhà văn này, mỗi trang văn đều thấm đẫm tình cảm Điều này, một lần nữa, nhà nghiên cứu cũng nhắc tới khi nói
về tiểu thuyết của Thuỵ An: “Một linh hồn chính là một tiểu thuyết tình cảm Tác
giả Thuỵ An lại vốn là một nhà thơ” [161; tr.361] Tiếp nữa là những dòng nhận định về Nguyễn Xuân Huy: “Nguyễn Xuân Huy là một nhà tiểu thuyết lãng mạn
của “tuổi trẻ”, cái tuổi mới lớn lên Nắng đào (P.T.B.N.S số 42, tháng 9, 1939) và
Chiều (Lê Cường - Hà Nội, 1940) đều là những tiểu thuyết tả những mối tình cảm
chớm nở của đôi nam nữ thanh niên”[161; tr.369] Còn đây là nhận xét về Nguyễn Vỹ: “Về tiểu thuyết cũng như về thơ, Nguyễn Vỹ tỏ ra là người giàu tình cảm Nhưng mối tình của ông diễn ra trong lúc ông thành thực, trong lúc ông trút bỏ hết những tính cầu kỳ, bao giờ cũng cảm động” [161; tr 397] Cái cảm động ấy là cái cảm động của nhà văn biết phân tích tâm lý Cho nên, hầu hết các nhà thơ đều có
khả năng viết tiểu thuyết tâm lý Cách gọi tiểu thuyết tâm lý, tiểu thuyết tình cảm,
tiểu thuyết tâm tưởng thực tế của Vũ Ngọc Phan cũng chỉ một loại tiểu thuyết mà
thôi, đó là tiểu thuyết tâm lý
Trên đây là những ý kiến của các nhà văn, các nhà phê bình đương thời đã đề cập đến cơ sở hình thành, mối dây liên hệ và quá trình phát triển của tiểu thuyết tâm
lý như một khuynh hướng vận động và phát triển thể tài Ở giai đoạn tiếp theo, 1945
- 1954, những nhận định về văn học lãng mạn trước 1945 dường như chững lại Cuộc kháng chiến chống Pháp đã thu hút hầu hết các văn nghệ sĩ vào mặt trận chống ngoại xâm với khát khao cống hiến sức người, sức của nhằm bảo vệ nền độc lập tự do của dân tộc Cuộc chiến tranh đã khiến cho độc giả, ngay cả ở những vùng
đô thị bị địch tạm chiếm cũng không còn thiết tha với những câu chuyện tình cảm trong tiểu thuyết tâm lý Tiểu thuyết tâm lý trong những năm chiến tranh bị chìm trong quên lãng
Sau năm 1954, ở miền Bắc, công tác nghiên cứu văn học, đánh giá những thành tựu văn học trước 1945 lại được tiếp tục Trong thời gian này, một phần vì văn học lãng mạn bị mặc định xếp vào vùng cấm, một phần vì định hướng nghiên
Trang 30cứu văn học gắn với công tác tuyên truyền chính trị, một phần vì giới sáng tác đã có một lớp nhà văn lớn lên trong môi trường giáo dục mới, trong bầu không khí sinh hoạt văn nghệ mới, trực tiếp tham gia vào sản xuất xây dựng đời sống mới, chiến đấu đấu chống giặc ngoại xâm nên lớp nhà văn mới ít còn quan tâm đến tiểu thuyết tâm lý, đến con người cá nhân trong văn học
Những công trình văn học sử tiêu biểu giai đoạn này có thể kể tên như Lược
thảo lịch sử văn học Việt Nam (1958) của nhóm Lê Quý Đôn, Văn học Việt Nam
1930 -1945 (1961) của Bạch Năng Thi và Phan Cự Đệ, Sơ thảo lịch sử văn học Việt Nam 1930 - 1945 (1964) của Vũ Đức Phúc, Bàn về cuộc đấu tranh tư tưởng trong văn học Việt Nam hiện đại 1930 - 1954 (1971) của Nguyễn Đức Đàn, Nam Mộc
Những công trình này đều nhắc đến tiểu thuyết của các nhà văn tiền chiến, nhắc đến việc nhiều nhà văn sáng tác văn xuôi tâm lý nhưng với một thái độ phê phán với những từ xuất hiện với tần suất cao như: “tiêu cực, có hại, bạc nhược, suy đồi”,
thậm chí “có tính chất phản động” Đáng chú ý là cuốn Bàn về những cuộc đấu
tranh tư tưởng trong lịch sử văn học Việt Nam hiện đại (1930 - 1945) của Vũ Đức
Phúc chia làm hai phần, trong đó phần đầu nghiên cứu những cuộc đấu tranh chính giữa các trào lưu, khuynh hướng văn học Trong phần này, tác giả dành hẳn một mục để nghiên cứu “Các trào lưu và khuynh hướng văn học” Tuy nhiên, nhà nghiên cứu đã đồng nhất các khuynh hướng văn học với các khuynh hướng đấu tranh chính trị hoặc khẳng định các khuynh hướng văn học chịu ảnh hưởng bởi các khuynh hướng đấu tranh chính trị Lật ngược vấn đề mà các nhà nghiên cứu ở miền Bắc giai đoạn này đặt ra, có thể thấy rằng, các khuynh hướng văn học trong giai đoạn 1925 - 1945 không tìm cách đấu tranh loại trừ nhau, cho dù các nhà văn thuộc các nhóm văn học có sự đấu tranh, thậm chí tranh giành thị trường văn học, nhưng thực tế, các khuynh hướng sáng tác đã bổ sung cho nhau dẫn đến việc ra đời nhiều thể tài tiểu thuyết Điều đó đã trở thành động lực phát triển của tiểu thuyết trong giai đoạn này
Bạch Năng Thi cùng nhóm Lê Quý Đôn khi soạn Lược sử văn học Việt Nam
từ giữa thế kỷ XIX đến 1945 rất chú ý đến sáng tác của các nhà văn lãng mạn trước
Cách mạng tháng 8 - 1945 Nhận xét về Khái Hưng, ông viết: “một nhà văn quan sát kỹ lưỡng và có hiểu biết sâu sắc về tâm lý con người” Nhận xét về Nhất Linh, ông cho rằng cách bố trí truyện, cách sử dụng cảnh vật xung quanh trong tiểu thuyết
đã “làm nổi bật tâm lý nhân vật” [155; tr.331] Không đề cao khuynh hướng văn học lãng mạn trong giai đoạn văn học này nhưng hầu hết các nhà nghiên cứu mà chúng tôi nhắc đến ở trên đều ghi nhận công lao của các nhà văn lãng mạn trong việc phát triển nghệ thuật phân tích tâm lý nhân vật trong tiểu thuyết
Lý luận về tiểu thuyết thời kỳ này phải kể đến đóng góp nổi bật của Phan Cự
Đệ trong công trình Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại xuất bản lần đầu năm 1974 Ngoài
việc tổng kết thành tựu của tiểu thuyết hiện đại nửa đầu thế kỷ XX, tác giả đã chỉ ra
Trang 31“từ những năm 1920 đến năm 1930 là những năm chuẩn bị và hình thành tiểu thuyết Việt Nam hiện đại” và nhận định: “Trong văn học Việt Nam bắt đầu nảy sinh một số khuynh hướng của tiểu thuyết hiện đại: khuynh hướng lãng mạn, khuynh hướng hiện thực phê phán, khuynh hướng yêu nước của các tiểu thuyết lịch sử”, rồi ông lưu ý
“thực ra thì những khuynh hướng này cũng chưa hình thành rõ rệt lắm và hãy còn hết sức phức tạp” Trong công trình nghiên cứu tiểu thuyết toàn diện về tiểu thuyết Việt
Nam hiện đại, Phan Cự Đệ đã khẳng định Tố Tâm là một dấu mốc định hình thể loại
tiểu thuyết Việt Nam hiện đại khi ông nhấn mạnh vị trí của tác phẩm này trong lịch
sử văn học như sau: “Cần đánh giá đúng đóng góp của Hoàng Ngọc Phách nhưng cũng cần thấy hết giới hạn của loại tiểu thuyết tâm lý lãng mạn.” vì “Tiểu thuyết của Hoàng Ngọc Phách đã mở ra một phương hướng mới cho tiểu thuyết truyền thống”
Khi nhận định về vị trí của Tố Tâm trong lịch sử văn học, Phan Cự Đệ nhiều lần đặt
nó trong quan hệ với khái niệm tiểu thuyết tâm lý Ông cho rằng Hoàng Ngọc Phách
mạnh dạn giới thiệu một kiểu viết tiểu thuyết mới, chịu ảnh hưởng của phương Tây
và “đứng về nghệ thuật tiểu thuyết mà nói, Tố Tâm xứng đáng là một tác phẩm đầu tiên chuẩn bị cho sự hình thành của nền tiểu thuyết Việt Nam hiện đại” Ông thừa nhận: “Bộ mặt của tiểu thuyết công khai trước Cách mạng tháng Tám không phải được phân chia rạch ròi thành ba khuynh hướng” Ba khuynh hướng mà ông nói đến
ở đây là khuynh hướng lãng mạn, khuynh hướng hiện thực, khuynh hướng yêu nước Trong đó, “các khuynh hướng tiểu thuyết giao lưu, đan chéo vào nhau và thậm chí đấu tranh với nhau” Nhà nghiên cứu phân trần: “Làm sao có thể cắt nghĩa được tính phức tạp trong thế giới quan của mỗi tác giả cũng như trong tác phẩm của từng khuynh hướng tiểu thuyết thời kỳ đó” [46; tr.5, 15, 19, 21, 40, 41, 41] Nhận định của Phan Cự Đệ gợi ý cho chúng ta nghĩ đến những khó khăn khi tìm cách phân chia các khuynh hướng tiểu thuyết trong văn học giai đoạn này Vì thế, thật khó có thể xếp nhóm tác phẩm cụ thể nằm trọn vẹn trong một khuynh hướng Dòng tiểu thuyết tâm
lý được coi như một khuynh hướng thể tài mà chúng tôi nói đến ở đây cũng đan xen giữa nhiều dòng tiểu thuyết khác nhau Do vậy, việc phân chia các khuynh hướng thể tài tiểu thuyết cũng bắt gặp những vấn đề phức tạp như trên Điều đó là minh chứng cho một thời kỳ phát triển của tiểu thuyết
Liên hội những ý kiến phát hiện trên, chúng ta hiểu vì sao Lê Hữu Phúc (1934), Trương Tửu (1935), Vũ Đức Phúc (1956) đến Phong Lê (1996) cùng nhiều nhà nghiên cứu phê bình văn học gần đây đều thống nhất trong quan niệm cho rằng
Tố Tâm là tiểu thuyết tâm lý đầu tiên viết bằng chữ quốc ngữ, khai mở khuynh
hướng tiểu thuyết tâm lý trong văn học Việt Nam hiện đại
1.2.2 Vấn đề phân tích tâm lý trong tiểu thuyết
Khi nghiên cứu, đánh giá những tác phẩm văn xuôi tự sự, bao gồm cả tiểu thuyết lẫn truyện ngắn, các nhà nghiên cứu phê bình văn học nói chung đều xem phân tích tâm lý như một tiêu chí đánh giá quan trọng về trình độ nghệ thuật
Trang 32Tố Tâm (1925) xuất hiện trên văn đàn như một sự kiện Giới văn nghệ sỹ và
người yêu tiểu thuyết đã xôn xao bàn luận về những cái mới mẻ mang tính cách tân
của cuốn sách này Trúc Hà là người bạn gần gũi với Hoàng Ngọc Phách trong Cảm
tưởng sau khi đọc Tố Tâm của Hoàng Ngọc Phách viếtngay khi cuốn tiểu thuyết
vừa mới ra đời:
Tác giả khéo léo phô bày cái tình trạng lạ lùng của lòng người, những sự hành động li kỳ của tâm lý trong lúc tình cảm với lẽ phải nó xung đột với nhau, như vẽ ra một bản đồ của tâm tính con người cẩn thận tách bạch từng li từng tí, khiến cho khách tình có thể trông vào đó mà sự lòng không còn giấu giếm được gì cả [101; tr.191]
Ông nói thêm: “Tác giả chủ ý sắp đặt ra một cuộc tình duyên từ lúc mới kết hợp cho đến khi lìa tan để xem xét tâm lý của người trong cuộc, nhưng cái tình ấy nó lại xảy
ra ở một hạng người mới, hạng người chỉ ở xã hội hiện thời mới có [101; tr 193] Những đau khổ của Tố Tâm ở tác phẩm này rất gần gũi với những điều “tai nghe mắt thấy” trong cuộc sống đời thường Việc tác giả sắp đặt cho nhân vật đón nhận cái chết cũng là một cách tác giả khảo sát diễn biến tâm trạng của nhân vật: “Tác giả cố ý cho Tố Tâm chết để khảo sát thêm một đoạn tâm lý cuối cùng trong cõi tình nên thơ mới xếp đặt trong khối óc nàng” [101; tr.196] Trước đó, ông từng
nhận định về Tố Tâm:“tác giả đã nói trước được rằng chủ ý khảo sát về tâm lý, thì
về phương diện ấy, tác giả đã đạt được mục đích và kết quả mỹ mãn mà truyện Tố
Tâm cũng đáng là một tác phẩm có giá trị” [100; tr.286] Những lời bàn về Tố Tâm
đã thôi thúc các nhà văn sáng tác và định hướng cho độc giả đón nhận một dòng tiểu thuyết mới: tiểu thuyết tâm lý
Báo Ngày nay (1936) số 35 đăng bài Những cái bí mật mầu nhiệm trong tâm lý Sigmund Freud và khoa tâm lý giải phẫu dẫn theo tác giả Guérir và
Gringoire Bài viết này dành một mục nhấn mạnh Ảnh hưởng của Freud trong văn
chương: “Về cái cốt yếu của văn chương là diễn tả những cái huyền bí ấy trong
lòng người, chính là những cái linh động của sự sống” [14] Điều này cho thấy các nhà văn giai đoạn này đã có ý thức vận dụng tâm lý học hiện đại vào xây dựng nhân vật trong tác phẩm
Một nhà nghiên cứu khác, Trương Chính trong Dưới mắt tôi (1939) nhận xét nhân vật trong Lạnh lùng của Nhất Linh như sau:
Ông Nhất Linh lại có tài ký nhận một cách đặc biệt những mẩu chuyện hàng ngày Không thể tránh khỏi mắt ông những cử chỉ tầm thường, nhiều khi ta phác ra để che lấp một ý định Không thể lọt qua trí quan sát của ông những
tư tưởng ta giấu kín tận đáy lòng như những vật xấu xa Người trong truyện
vì thế mà linh động” [26; tr.27]
Viết về những câu chuyện thường ngày là dấu hiệu cho thấy, tiểu thuyết đã
thực sự rảo bước vào thời kỳ hiện đại Có thể nói, nhân vật trong Lạnh lùng đã
Trang 33chứng minh sự lựa chọn của một nhà văn từng trải, ký nhận kịp từng khoảnh khắc của cuộc sống đang diễn ra từng ngày, để rồi cái gì để lại, cái gì đưa ra ghép thành hình hài, tâm tư nhân vật trong cuốn tiểu thuyết
Bên cạnh những nhận xét như của Trương Chính, Trần Thanh Mại nói về
tiểu thuyết của Khái Hưng: “Cái quan trọng nhất, nhờ đó mà sau này quyển Hồn
Bướm mơ tiên sẽ là một quyển sách bất hủ, là cái văn thể, cách dàn cảnh và cách
phô bày tâm lýcủa những vai chủ động”[99; tr.701] Nhìn chung, các nhà nghiên
cứu đều cùng chung nhận định: tiểu thuyết Việt Nam từ sau tác phẩm Tố Tâm đã
bước hẳn vào thời kỳ hiện đại
Trên báo Loa, số 75 ra ngày 25 tháng 7 năm 1935, xuất hiện đề mục Văn học
Việt Nam hiện đại, trong đó, nhà phê bình Trương Tửu nêu:
Đề mục này hứa một cái đặc sắc Nó tuyên bố và chứng thực một phương pháp phê bình mới Căn cứ vào luật sử quan và những luật tâm lý, xã hội, nghệ thuật để nghiên cứu, phân tách, tổng quan, phán đoán, định giá những nhà văn hiện đại Có những chữ xác định, những câu chặt chẽ đủ tóm tắt tinh thần mỗi nhân tài, ý nghĩa mỗi tác phẩm và dấu vết thời đại trong văn chương Phê bình, từ nay, theo tôi, muốn, không thể, không nên chỉ là một sự thưởng thức của từng người Nó phải là một nghệ thuật, hơn nữa, một khoa học” [13]
Từ những hứa hẹn trên, Trương Tửu lần lượt chỉ ra đặc điểm tiểu thuyết của từng tác giả Ông xếp tiểu thuyết của các nhà văn Hoàng Ngọc Phách, Khái Hưng, Nhất Linh vào chủ đề phản ánh một tấn kịch của thời đại, chung quanh cuộc xung đột của cá nhân và gia đình khi ông cho rằng Song An là “Một nhà tiểu thuyết biên chép
tấn thảm kịch trong gia đình Việt Nam lúc cá nhân bắt đầu thức tỉnh (Tố Tâm)”, Khái
Hưng là “Một nhà tiểu thuyết triết học muốn phá hoại chế độ gia đình Việt Nam và
bày cho cá nhân một lý tưởng nhân loại (Nửa chừng xuân)”, Nhất Linh là “Một nhà
cái cách xã hội muốn công bố sự phá sản hoàn toàn của gia đình và sự đắc thắng hoàn
toàn của cá nhân (Đoạn tuyệt) Ông xếp Thế Lữ, Lan Khai là hai “nhà văn cảm giác”,
trong đó, Lan Khai là một nhà tiểu thuyết thích tả những cảm xúc mãnh liệt của lòng người và say đắm những cảnh thiên nhiên hùng vĩ, hoang vu” Ông xếp Nguyễn Công Hoan, Tam Lang, Vũ Trọng Phụng là ba nhà tiểu thuyết tả chân, trong đó, Tam Lang là “Một nhà tiểu thuyết biết cảm hết những nỗi khổ nhục của một hàng người đày đọa” còn Vũ Trọng Phụng “lần đầu viết phóng sự tiểu thuyết bằng ngòi bút lạnh lùng” Những nhận xét thóang qua như thế đủ cho bạn đọc thấy được Trương Tửu đã
có những nhận định thật sâu sắc về đặc điểm tiểu thuyết của từng nhà văn Văn học
Việt Nam hiện đại (vốn là tên một đề mục trên báo Loa) xác nhận tiểu thuyết đầu
những năm 1930 đã hoàn thiện quá trình hiện đại hóa của mình Nhân chủ trương mục này, Trương Tửu phát biểu trên báo Loa số 75: “Muốn cho hợp pháp, phê bình
truyện Tố Tâm trước hết phải đứng trong phạm vi tâm lý” [13]
Trang 34Qua những nhận định trên, có thể nhận thấy các nhà phê bình, nghiên cứu nửa đầu thế kỷ XX hầu hết đầu tập trung ca ngợi nét độc đáo của nghệ thuật phân tích tâm lý nhân vật thể hiện trong từng tác phẩm của mỗi nhà văn, thậm chí chọn khảo sát một tác phẩm để chỉ ra đặc điểm riêng trong các tiểu thuyết có khuynh hướng phân tích tâm lý của từng nhà văn Tuy vậy phê bình nghiên cứu văn học bấy giờ chưa thực sự nhìn nhận tiểu thuyết tâm lý đang phát triển thành một khuynh hướng thể loại
Tâm hồn người ta không giản dị như một biểu hiện và bao giờ cũng có một phần bí mật Một người rất tốt có thể có những lúc giận dữ, tàn ác, như một người rất ác có thể có những lúc hiền hậu, nhân từ Người ta là người với những sự cao quý và hèn hạ [97; tr.419]
Từ đó, ông khẳng định cái đáng khám phá của nhà tiểu thuyết chính là “bờ cõi không ngờ” được tạo ra bởi cái phần tâm lý bí ẩn, vô thức trong mỗi con người Theo Thạch Lam, chỉ có như thế, nhà văn mới theo kịp xu thế của thời đại: “Cái khuynh hướng của tiểu thuyết bây giờ là hết sức gần sự sống, để được linh hoạt và thật như cuộc đời” [97; tr.418] Thậm chí ông còn đưa ra một so sánh rất thú vị: tiểu thuyết Anh bao giờ cũng hay hơn tiểu thuyết Pháp Theo ông, “Tiểu thuyết Anh hay Nga gần với chúng ta hơn và làm chúng ta cảm động hơn tiểu thuyết của Pháp, bởi cách xếp đặt và bố trí khéo léo khiến chúng ta phục nhưng không thích, vì không đi sâu vào tâm hồn chúng ta” [97; tr.420] Thạch Lam cũng không tán đồng tiểu thuyết luận đề mà tính triết lý quá lộ liễu bởi: “Theo quan niệm trên kia, chúng ta thấy rằng những tiểu thuyết luận đề mà trong đó tác giả cố ý bắt buộc các việc xảy ra và tâm lý các nhân vật theo ý định của mình, những tiểu thuyết đó đều ít giá trị, bởi không thật” [97; tr.420] Trong tập tiểu luận này, khi bàn đến vấn đề người đọc tiểu thuyết, Thạch Lam cũng không ngần ngại ca ngợi hạng độc giả thứ hai, lạ và hiếm, bởi “hạng này
là những người không lười trí, họ ưa suy nghĩ, tư tưởng và tìm tòi Họ thờ phụng và
Trang 35theo đuổi cái đẹp, cái hoàn toàn Họ biết thưởng thức một câu văn hay, một ý tưởng sâu sắc và cảm thấy một cái thú vị vô song khi sắp bước vào tâm hồn của một nhân vật nào” [97; tr.423] và quan trọng hơn nữa là người đọc, “những người này không bao giờ cần biết cốt truyện “về sau ra sao” Tiểu thuyết có cốt truyện ly kỳ và rắc rối chỉ khiến họ bực mình vì không được biết rõ tâm hồn nhân vật” [97; 423] Trong tiểu luận của mình, Thạch Lam nhiều lần nói đến tâm hồn nhân vật, nói đến sức hấp dẫn của cuốn tiểu thuyết là bởi nó khám phá những điều bí ẩn xảy ra trong tâm hồn nhân vật Đó là dấu hiệu khẳng định cho quan niệm về tiểu thuyết của một nhà văn hiện đại, hướng đến việc hình thành và phát triển khuynh hướng tiểu thuyết tâm lý
Trong khi đó, một trong những cái mới trong tiểu thuyết mà Vũ Bằng cổ vũ
là nhân vật sống trong tiểu thuyết “họ là người như chúng ta không hơn không kém”, họ “là một nhân vật như chúng ta đây, một nhân vật rất gần, rất thân thiện chúng ta, một nhân vật mà nhìn vào lòng, thấy như nhìn vào lòng ta vậy” [18; tr.56] Đó là bằng chứng thuyết phục cho quan niệm nghệ thuật về con người trong văn học giai đoạn này, văn học đòi hỏi xây dựng con người là một thực thể tính
cách phức tạp Nhà văn luôn tâm đắc với việc: “Một nhân vật sống không cứ phải nói nhiều, hò hét nhiều, hành động nhiều, nhưng tự gây ra sự tình, biến cố, chỉ định
lấy những cảnh ngộ và cảm nghĩ rất phiền phức”, đó là nhân vật đã “sống cái đời
sống bên trong nhiều hơn bên ngoài” [18; tr.56] Trong Khảo về tiểu thuyết sau khi
dẫn lời André Gide: “cái sống của một nhân vật tiểu thuyết không chỉ ở bề ngoài, nhưng cần cả bề trong”, Vũ Bằng lưu ý: “Xem vậy, cấu tạo được nhân vật sống trong tiểu thuyết không phải dễ, người ta phải sống nhiều, kinh nghiệm nhiều, nghĩ nhiều, và không định tâm làm sống một nhân vật sống mà thành được một nhân vật sống đâu” nghĩa là người ta cần “tìm biết đến những kỹ thuật của việc cấu tạo nhân vật tiểu thuyết” [18; tr.61] Từ đó Vũ Bằng phân biệt “nhân vật sống” khác “nhân vật đại biểu” trong tiểu thuyết như thế nào Như vậy, xây dựng “nhân vật sống” là việc không dễ đối với nhà tiểu thuyết Vì nhân vật sống chỉ có thể xuất hiện nhờ quá trình giải phẫu, phân tích tâm lý điêu luyện của tác giả để cho nhân vật “tâm hồn điều khiển cử chỉ, sai khiến giọng nói và gây ra cảnh ngộ” [18; tr.61]
Về phương diện thuật ngữ, tiểu thuyết tình cảm khác tiểu thuyết tâm lý
nhưng trên thực tế chính Vũ Ngọc Phan trong Nhà văn hiện đại lại rất đồng tình với
Thạch Lam và Vũ Bằng khi ông dành cho Thạch Lam những lời sau: “Thạch Lam
là một nhà văn đã trút cả những tính tình của mình sang các nhân vật do ông sáng tạo, nên các vai không khác nhau mấy tý Ông vớt vát lại được điều này: ông là một tiểu thuyết gia kể những chuyện tâm tình rất khéo “[161; tr.325] Điều đó cũng gần
với cách ông nhận xét cuốn Đứa con của Đỗ Đức Thu: “Viết Đứa con, Đỗ Đức Thu
lại trở về cái sở trường của ông, về với loại tiểu thuyết tình cảm Đây là những tính tính nhẹ nhàng nhưng rất sâu xa của hai người đàn bà, của hai chị em ruột lấy chung
một chồng” hay nhận xét Lan Hữu của Nhượng Tống: “Lan Hữu thuộc loại tiểu
Trang 36thuyết tình cảm và cái ái tình ở đây là thứ ái tình đầy thơ mộng, gần như là ái tình lý tưởng” [161; tr.337, 349] Tác giả cho rằng tiểu thuyết giúp con người bổ khuyết những thiếu hụt, không trọn vẹn của cuộc sống cá nhân để sống cuộc sống với “tất
cả các giác quan rung động, với tất cả hành vi cùng tư tưởng” để có được “cái thú vị nồng nàn là được sống sâu rộng hơn, thấm thía hơn” trong tiểu thuyết Vì thế, chức năng của tiểu thuyết, theo ông, là đi “khám phá bí ẩn đời sống con người” [161; tr.25] Chú trọng miêu tả tâm lý con người là đặc điểm rõ nét mà các nhà nghiên cứu phê bình văn học trước 1945 lấy làm căn cứ để xác định tiểu thuyết tâm lý
Ở miền Nam từ 1954 đến 1975, không khí nghiên cứu, tranh luận về tiểu thuyết tâm lý vẫn tiếp tục Tiểu thuyết tâm lý của Nhất Linh, Khái Hưng, Thạch Lam, Lan Khai, Vũ Trọng Phụng được tái bản Những tác phẩm này được phổ biến trong sách giáo khoa phổ thông Chính vì thế, nó thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu
Viết và đọc tiểu thuyết là một tập biên khảo của nhà văn Nhất Linh viết tại
Sài Gòn từ 1952 đến 1960 Ông đã trình bày những kinh nghiệm của một nhà văn
đã ngót bốn mươi năm viết tiểu thuyết mà trong đó, chủ yếu là những kinh nghiệm viết tiểu thuyết rút ra được từ thời ông tổ chức và điều hành Tự lực văn đoàn Ông đưa ra tiêu chí để định giá một cuốn tiểu thuyết hay, một cuốn tiểu thuyết có giá trị:
Những cuốn tiểu thuyết hay là những cuốn tả đúng sự thực cả bề trong lẫn bề ngoài, diễn tả một cách linh động các trạng thái phức tạp của cuộc đời, đi thật sâu vào sự sống với tất cả những chuyển biến mong manh, tế nhị của tâm hồn, bằng cách dùng những chi tiết về người và việc để làm hoạt động của những nhân vật cùng hành vi, cảm giác và ý nghĩ của họ [194; tr.164] Khi nhắc đến việc xây dựng nhân vật trong tiểu thuyết, ông tiếp tục nhấn mạnh: “Vậy giá trị của một cuốn tiểu thuyết là đi sâu vào tâm hồn người đời” [194; tr.183] Ông tổng kết sự phát triển của tiểu thuyết hiện đại trong vòng ba mươi năm, tính từ 1930, thì tiểu thuyết được phân chia thành nhiều loại: “Từ ba mươi năm trở
về đây, các nhà văn đã phá bỏ cái vòng chật hẹp ấy đi, đua nhau viết đủ các loại: tả chân, xã hội, tâm lý, luận đề, trinh thám…” [194; tr.165] Đó là minh chứng cho sự phát triển vô cùng đa dạng, phong phú của tiểu thuyết nước nhà Còn đối với nhà văn, ông lại cho rằng, ai thuộc tầng lớp nào cũng có thể viết văn bởi người làm văn
có thể xuất thân từ bất cứ giới nào, từ người làm thợ đến người làm ruộng, miễn sao
họ có chí tiến thủ trên con đường văn nghệ Trong phần Viết tiểu thuyết, ông khảo
cứu kỹ lưỡng đề cương của truyện (cốt truyện); các nhân vật: tính tình, hình dáng,
cử chỉ, lời nói, các việc xảy ra, tìm chi tiết, văn trong tiểu thuyết; lối hành văn; giọng văn; viết về loại gì, luân lý trong tiểu thuyết; văn tả cảnh trong nhà trường Ở những năm 50 đầu 60 của thế kỷ XX mà bàn như thế, thực chất Nhất Linh đã tiếp tục mạch cảm nghĩ về tiểu thuyết hiện đại: “Một cuốn sách hay phải có giá trị trong không gian và thời gian” [194; tr.160] Bởi theo ông, cuốn sách có giá trị trong
Trang 37không gian và thời gian sẽ là tính cách chung của những tác phẩm nổi tiếng trên thế giới Theo ông, một cuốn tiểu thuyết có giá trị vượt được thời gian, không gian còn xuất phát từ “sự thành thực của tác giả cấu tạo nên, viết bằng một lối văn giản dị không giảng giải nhiều, và không phải hay chỉ vì cốt truyện” [194; tr.165]
Đến năm 1960, thời điểm Nhất Linh hoàn thành cuốn sách Viết và đọc tiểu
thuyết Ông tổng kết 15 năm tiểu thuyết (1930 - 1945) và nhận ra sự định hình của
ba khuynh hướng: tiểu thuyết tả chân, tiểu thuyết luận đề, tiểu thuyết tâm lý… đồng thời ông cũng nói thêm, một cuốn tiểu thuyết có giá trị là cuốn tiểu thuyết mà văn cần thành thực Thành thực với cuộc đời, thành thực trong văn chương quả thật là
cơ sở để phát triển nghệ thuật tiểu thuyết hiện đại Thành thực để thóat khỏi lối văn sáo mòn, khuôn mẫu của tiểu thuyết cũ, thành thực để sáng tạo nên những tác phẩm gần với cuộc đời, gần với tâm lý của người bình dân những năm 1930 như tuyên ngôn của Tự lực văn đoàn
Bùi Xuân Bào từ năm 1972 đã viết về nhân vật trong tiểu thuyết của Nhất Linh với nhận định xác đáng (chúng tôi dẫn theo bản dịch của Trường Lưu từ tiếng Pháp): “Xu hướng lãng mạn ở Nhất Linh thoạt đầu chẳng phải là một khuynh hướng
tư tưởng hay học thuyết, mà là một xu hướng tình cảm” [86; tr.125] và “Đôi bạn rất
tiêu biểu cho bước chuyển tiếp, đang diễn ra ở nhiều thanh niên, từ giấc mơ về hạnh phúc cá nhân đến sự ưa thích hành động anh hùng Tuy nhiên ta hãy thấy rằng bước chuyển này chỉ thay thế một xu hướng lãng mạn bằng một xu hướng lãng mạn khác;
vì công tác chính trị, như được nhận định trong tiểu thuyết, rốt cuộc chỉ là cánh cửa
bỏ ngỏ để phiêu lưu và một phương tiện hứng khởi cá nhân” [86; tr 124]
Từ đó, Bùi Xuân Bào đã sớm có phát hiện sự chuyển mình của tiểu thuyết
Nhất Linh từ tiểu thuyết luận đề sang tiểu thuyết tâm lý: “Nhưng trong Bướm trắng,
tâm hồn một người bệnh bị một tình yêu vô vọng dày vò, được nghiên cứu thấu đáo
mà ta không tìm được thí dụ nào trong các tác phẩm khác của Nhất Linh, cũng như trong tác phẩm của các người đồng thời với ông” [86; tr.130] Đây chính là cuốn tiểu thuyết đánh dấu một chặng đường mới trong sự nghiệp văn chương của Nhất
Linh Có thể nói Bướm trắng trở thành cuốn tiểu thuyết tâm lý tiêu biểu thuộc khuynh hướng tiểu thuyết lãng mạn và Sống mòn ra đời sau tác phẩm của Nhất Linh
dăm năm đã trở thành cuốn tiểu thuyết tâm lý tiêu biểu thuộc khuynh hướng tiểu thuyết hiện thực
Ngoài ra, còn có rất nhiều những nhận định hoặc gián tiếp hoặc trực tiêp liên quan đến việc xây dựng nhân vật trong tiểu thuyết mang khuynh hướng phân tích
tâm lý Nguyễn Văn Xung trong Bình giảng về Tự lực văn đoàn (1958) cho rằng:
“Khái Hưng còn là một nhà quan sát tâm lý rất sành sỏi” [244; tr.15] khi tiểu thuyết của ông luôn xuất hiện “những trạng huống bất ngờ của tâm hồn, những phản ứng
kỳ lạ của tâm lý đã được nêu ra và phân tích một cách tinh vi” [244; tr.32] Lê
Hữu Mục nhận xét về Nhất Linh trong Khảo luận về Đoạn tuyệt (1960): “Nhân vật
Trang 38của Nhất Linh sống với những cảm xúc rất phức tạp” [132; tr.90] Xây dựng nhân vật tâm lý, như vậy, trở thành mục đích chính của nhà văn khi sáng tác tiểu thuyết tâm lý Các nhận định trên đều đi đến điểm chung, đó là tiểu thuyết thời kỳ này đã diễn ra sự chuyển dịch tư tưởng nghệ thuật: giảm miêu tả hành động, ngoại hình, tính cách nhân vật mà tập trung vào phân tích tâm lý nhân vật Nhân vật tâm lý thu hút người đọc không phải ở ngoại hình, tính cách cũng như hành độc mới lạ mà ở quá trình diễn biến tâm lý tinh tế, phức tạp
1.2.4 Vấn đề khuynh hướng tiểu thuyết tâm lý
Sau 1954, nhiều nhà nghiên cứu sinh hoạt văn nghệ ở miền Nam lưu tâm nghiên cứu và đưa ra nhận định về giai đoạn văn học 1925-1945 Đó là Nguyễn Vĩ
với Văn thi sĩ tiền chiến, Doãn Quốc Sĩ với Văn học và tiểu thuyết, Bàn về tiểu
thuyết, Nguyễn Văn Trung với Xây dựng tác phẩm tiểu thuyết, Thanh Lãng với Bảng lược đồ văn học Việt Nam, Phê bình văn học Việt Nam thế hệ 32, Thế Phong
với Lược sử văn nghệ Việt Nam - Nhà văn tiền chiến 1932 - 1945 đã nhắc đến
khuynh hướng vận động và phát triển của thể loại tiểu thuyết nửa đầu thế kỷ XX
Có thể nói, hầu hết những tác phẩm trên đi sâu nghiên cứu thân thế và tác phẩm của các nhà văn tiền chiến trước 1945 nhưng trong một số nhận định về từng tác giả, các nhà nghiên cứu đều đề cập đến nghệ thuật phân tích tâm lý Đó là một cách gián tiếp nhắc đến khuynh hướng tiểu thuyết đã hình thành trong nền văn học nước nhà
giai đoạn này Thanh Lãng trong công trình Bảng lược đồ văn học Việt Nam, quyển
Hạ, chỉ tính những nhận định của ông về tiểu thuyết Tố Tâm đã có thể liệt kê rất nhiều ý kiến liên quan đến xu hướng khám phá tâm lý nhân vật: “Tố Tâm là cuốn
truyện dài đầu tiên được áp dụng theo kỹ thuật tiểu thuyết mới” [99; tr.523], “Đối
với tiểu thuyết do người Việt Nam sáng tác từ đấy trở về trước thì quả thực Tố Tâm khác cả về hình thức đến tinh thần” [99; tr.529] Ở đây, cái khác ở Tố Tâm, như
Thanh Lãng nhấn mạnh, là ở chỗ Hoàng Ngọc Phách đã khắc họa thành công tâm lý của hai nhân vật: “Tâm lý của Tố Tâm, Đạm Thủy là tâm lý của cả một thế hệ thanh niên cách đây hơn 30 năm, một lớp thanh niên mới lớn lên, đang còn e lệ nhưng lại rất say sưa, rạo rực, đuổi theo những cái mới, lạ của buổi giao thời” [99; tr.530] Dù tiếp theo sau đó, Thanh Lãng đã phê bình tiểu thuyết của Hoàng Ngọc Phách chưa theo kịp tiểu thuyết phương Tây Ông cho rằng: “Cái mà từ xưa người ta gọi là tâm
lý chẳng qua chỉ là một mớ tình cảm nông cạn, hời hợt Tâm lý của con người ta
phiền phức và bí mật vô cùng” [99; tr.535] Từ đó, Thanh Lãng nhận định: “Tố Tâm
không thể gọi là tâm lý tiểu thuyết hiểu theo quan niệm mới Các nhà tâm lý tiểu thuyết có tiếng đương thời mà Hoàng Ngọc Phách nói đến là những nhà tâm lý của cuối thế kỷ XIX, những người còn đang có quan điểm cổ điển về đời sống nội tâm” [99; tr.356] Sự so sánh và chỉ dẫn của Thanh Lãng có nhiều chỗ hợp lý nhưng đặt
Tố Tâm vào hoàn cảnh sinh hoạt văn nghệ ở nước ta lúc bấy giờ mới thấy vị trí vô
cùng quan trọng của cuốn tiểu thuyết này, đặc biệt nó mở ra khuynh hướng khám
Trang 39phá tâm lý con người, đề cao con người cá nhân, con người với tính tình, tâm lý hoàn toàn hiện đại Chứng cứ là cuối bài viết, Thanh Lãng có nhắc đến lời của Nghiêm Toản kể chuyện nhiều cô gái trầm mình xuống hồ Trúc Bạch, hồ Tây hay
hồ Hoàn Kiếm bởi các cô đã trót đọc những cuốn tiểu thuyết lãng mạn như thế Nhà
nghiên cứu thừa nhận lời tự thuật của Nghiêm Toản “cực tả ảnh hưởng của Tố Tâm
đến thế hệ thanh niên đương thời, một thế hệ lãng mạn ở trong cuộc đời nhiều hơn ở trong nghệ thuật” [99; tr.538] Dành nhiều trang nhận định về ý nghĩa cuốn tiểu thuyết của Hoàng Ngọc Phách, Thanh Lãng muốn người đọc chú ý đến cuốn tiểu thuyết tâm lý đầu tiên của nền văn học hiện đại và ông đòi hỏi nhà tiểu thuyết tâm
lý đồng thời phải là nhà tâm lý Hoàng Ngọc Phách tuy chưa phải là nhà tâm lý nhưng so với các nhà văn cùng thời, chưa có cuốn nào miêu tả tâm lý mới mẻ đến như thế Do vậy, trong công trình này, Thanh Lãng dành những dòng nhận định về thế hệ 1932:
Những sự nghiệp có tính cách lâu bền thường là những sự nghiệp gợi được những cái thú khác, như thú gợi cảm, thú tâm lý Đó cũng là dấu hiệu của sự trưởng thành của văn nghệ sỹ vậy Thực tế từ năm 1932, tiểu thuyết Việt Nam đã tiến bộ về bề sâu Nhiều nhà tiểu thuyết Việt Nam đã biết chú ý đến vấn đề tâm lý Vậy tâm lý là gì? Tâm hồn loài người không những tha thiết đến cuộc sống của những vật có thực mà cả đến đời sống của những vật tưởng tượng, với điều kiện là những vật tưởng tượng ấy phải cho ta có cảm giác chúng thực [99; tr.735]
Nhà nghiên cứu Thanh Lãng hiểu những biểu hiện tâm lý của nhân vật trong tiểu thuyết giống như biểu hiện tâm lý của con người bằng xương bằng thịt có thật ngoài đời Ý kiến của Thanh Lãng khá gần gũi với ý kiến của Nhất Linh mà chúng tôi đã nêu ở trên Muốn thóat khỏi thứ văn chương hình thức sáo rỗng, thóat khỏi lối xây dựng nhân vật theo công thức cổ điển vốn không thể có trong cuộc đời thực, các nhà văn kêu gọi cần đẩy mạnh phân tích tâm lý nhân vật với mục đích kéo nhân vật lại gần với đời thực Khi trình bày về quan niệm mới về tâm lý, Thanh Lãng lưu
ý bạn đọc:
Tâm lý cổ điển cho rằng những cuộc sống ấy chỉ bí mật, những con vật ấy chỉ nấp trốn đối với những con mắt lơ đãng không biết rọi ánh sáng vào tới nơi Tâm lý mới cho rằng việc khám phá ra cái nội tâm kia là một việc nếu không bất khả thi thì cũng là một việc vô cùng khó khăn [99; tr.737]
Theo Thanh Lãng thì: “Tiểu thuyết Việt Nam thuộc thế hệ 32, chưa đi vào con đường phân tích tâm lý theo phương pháp phân tâm học Vẫn còn đang hiểu tâm lý theo quan điểm cổ điển” [99; tr.738] Và như thế “Lê Văn Trương đã viết một lô tiểu thuyết đề là tâm lý xã hội mà thực ra chỉ là tiểu thuyết tình cảm với chủ đích luân lý đạo đức” [99; tr.741]
Trang 40Dẫn ra một loạt nhận định của Thanh Lãng như thế, chúng tôi muốn nhấn mạnh đến việc các nhà phê bình như Thanh Lãng, Phạm Thế Ngũ hay chính các nhà văn thế hệ 1932 như Nhất Linh, Thạch Lam tuy thừa nhận tiểu thuyết tâm lý khởi đầu từ tác phẩm của Hoàng Ngọc Phách và phát triển đến tiểu thuyết của các nhà văn như Nhất Linh, Nam Cao, Đỗ Đức Thu nhưng thực tế đấy mới chỉ là những nhận định liên quan đến một tác giả, một tác phẩm Riêng Thanh Lãng đã gắng công chứng minh rằng, các nhà tiểu thuyết ở Việt Nam vẫn tiếp thu tâm lý học cổ điển ở phương Tây hơn là tâm lý học hiện đại của thế kỷ XX, và như vậy trước yêu cầu mới, nhà tiểu thuyết tâm lý phải là một nhà tâm lý Từ đó, ông xác định rằng, tiểu thuyết tâm lý khó trở thành một khuynh hướng Điều này dường như trái ngược lại với nhận định của nhiều nhà nghiên cứu khác, nhất là các nhà
nghiên cứu sau Thanh Lãng.Thế Phong ca ngợi cuốn Hồn bướm mơ tiên gần với
loại truyện phân tích, mổ xẻ tâm lý Doãn Quốc Sỹ thì quả quyết: “Khi tả tình (những biến chuyển khúc mắc nội tâm), tiểu thuyết gia đã có thể là một nhà tâm lý học” [187; tr.161] Ở một trang khác của công trình nghiên cứu này, phần phụ lục, khi nhận xét về tiểu thuyết tâm lý của Nhất Linh, Doãn Quốc Sỹ trước khi phê đã
tán dương: “Đứng ở phương diện văn chương, Đôi bạn thành công rực rỡ ở nhận
xét tâm lý tinh vi, tả cảnh vô cùng gợi cảm, lời văn trang nhã, sáng sủa, đẹp như
thơ” [187; tr.329]
Ở miền Bắc, trong những năm chiến tranh chống Mỹ cứu nước, tiểu thuyết của Tự lực văn đoàn không được in lại Nhiều nhà phê bình đề cập đến tiểu thuyết lãng mạn với thái độ dè dặt nhưng không thể không công nhận đóng góp của các văn lãng mạn trong đó có Tự lực văn đoàn với sự phát triển ngôn từ văn chương tiếng Việt và phát triển nghệ thuật phân tích tâm lý nhân vật
Trong sách Văn học Việt Nam 1930 - 1945, Bạch Năng Thi nhận định về nhân vật Dũng trong Đoạn tuyệt: “Hình ảnh Dũng ở đây chỉ gợi lên cái mộng phiêu
lưu giang hồ! Tính chất hiệp sĩ ở đây là tính chất suy tàn: động cơ yếu ớt, cái nhìn
bi quan, tấm lòng phiền não” [86; tr.323] Nhà nghiên cứu nhận định đây là “câu chuyện khá cảm động” [86; tr.320] Đó là những đánh giá hiếm hoi ghi nhận công lao của các nhà văn thuộc khuynh hướng văn học lãng mạn đóng góp vào sự phát triển của văn xuôi dân tộc
Vũ Đức Phúc trong Sơ thảo lịch sử văn học Việt Nam 1930 - 1945, khi nhận
xét về tiểu thuyết của Tự lực văn đoàn đã cho rằng:
Về nghệ thuật, họ đã góp phần ít nhiều trong việc làm cho ngôn ngữ giản dị, trong sáng và đã nâng truyện ngắn và tiểu thuyết lên địa vị một loại văn chủ yếu Nhưng khi chủ nghĩa hiện thực đã phát triển, nhiều phong cách viết khác nhau đã ra đời, thì vai trò của họ về nghệ thuật cũng mờ nhạt dần [240; tr.571]