1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Sự phát triển của ngành công nghiệp văn hóa Trung Quốc trong bối cảnh gia tăng sức mạnh mềm

187 217 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 187
Dung lượng 3,27 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luận án nghiên cứu tương đối toàn diện và có hệ thống về sự phát triển của ngành công nghiệp văn hóa Trung Quốc trong bối cảnh nước này nỗ lực gia tăng sức mạnh mềm từ những năm đầu thế kỷ XXI đến nay. Luận án đi sâu phân tích cơ sở lý luận và thực tiễn đối với sự phát triển của ngành công nghiệp văn hóa Trung Quốc, đặc biệt là là việc làm rõ các nội hàm liên quan. Theo luận án, công nghiệp văn hóa là nhóm các ngành sản xuất sáng tạo trong đó tập trung đi sâu khai thác giá trị kinh tế trong bản sắc văn hóa, trên cơ sở ứng dụng thành quả của khoa học, kỹ thuật và công nghệ để sản xuất, kinh doanh các dịch vụ, sản phẩm văn hóa phục vụ đời sống tinh thần cho quần chúng nhân dân và kiến tạo của cải cho xã hội, được bảo vệ bởi bản quyền. Luận án nghiên cứu bối cảnh tác động và thực tiễn phát triển của ngành công nghiệp văn hóa Trung Quốc. Luận án đi sâu phân tích những chính sách cụ thể, thành tựu nổi bật và hạn chế tồn tại của ngành công nghiệp văn hóa Trung Quốc trong tác động hai chiều với nỗ lực gia tăng sức mạnh mềm từ Chính phủ. Công nghiệp văn hóa vừa là ngành mang tính kinh tế, vừa là ngành mang tính văn hóa nên ngoài những giá trị vật chất mang lại, ngành công nghiệp văn hóa Trung Quốc còn có vai trò nổi bật trong việc nâng cao sức ảnh hưởng quốc gia. Ngược lại, chính trong bối cảnh đó, công nghiệp văn hóa Trung Quốc đã từng bước phát triển để trở thành một điểm sáng mới của nền kinh tế Trung Quốc. Luận án tập trung đánh giá điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức phát triển của ngành công nghiệp văn hóa Trung Quốc. Đồng thời, trên cơ sở phân tích những điều kiện tương đồng về văn hóa, kinh tế, chính trị, địa lý giữa Việt Nam – Trung Quốc, luận án đã chỉ ra sự biến chuyển, tác động đối với ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam.

Trang 1

SỰ PHÁT TRIỂN CỦA NGÀNH CÔNG NGHIỆP VĂN HÓA TRUNG QUỐC TRONG BỐI CẢNH GIA TĂNG SỨC MẠNH MỀM

LUẬN ÁN TIẾN SỸ TRUNG QUỐC HỌC

Hà Nội, 2018

Trang 2

Chuyên ngành: Trung Quốc học

Mã số: 62 31 06 02

LUẬN ÁN TIẾN SỸ TRUNG QUỐC HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

GS.TS Đỗ Tiến Sâm

Hà Nội, 2018

Trang 3

Hà Nội Các kết luận khoa học của luận án chưa từng được công bố trong bất cứ công trình nào khác

Tác giả luận án

Trần Thị Thuỷ

Trần Thị Thủy

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo hướng dẫn, các thầy

cô trong hội đồng cơ sở, thầy cô phản biện độc lập, các thầy cô trong khoa Đông phương học và đồng nghiệp đã đóng góp ý kiến, cơ quan công tác đã tạo điều kiện để tôi hoàn thành luận án này

Tác giả luận án

Trần Thị Thuỷ

Trần Thị Thủy

Trang 5

1

MỤC LỤC

DANH MỤC HÌNH 5

DANH MỤC BIỂU ĐỒ 6

MỞ ĐẦU 7

1 LÝ DO LỰA CHỌN ĐỀ TÀI 7

2 MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 9

2.1 Mục tiêu nghiên cứu 9

2.2 Đối tượng nghiên cứu: 9

2.3 Giới hạn phạm vi về thời gian, không gian và nội dung 9

3 CÁCH TIẾP CẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 10

3.1 Cách tiếp cận: 10

3.2 Phương pháp nghiên cứu 10

4 NGUỒN TƯ LIỆU 11

5 ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN ÁN 12

6 KẾT CẤU CỦA LUẬN ÁN 12

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 14

1.1 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CỦA HỌC GIẢ NƯỚC NGOÀI 14

1.1.1 Học giả Trung Quốc 14

1.1.2 Học giả ngoài Trung Quốc 28

1.2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CỦA HỌC GIẢ TRONG NƯỚC 36

1.3 ĐÁNH GIÁ VÀ ĐIỂM MỚI CỦA LUẬN ÁN 40

Tiểu kết chương 1 43

CHƯƠNG 2: CÔNG NGHIỆP VĂN HÓA TRUNG QUỐC: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 44

2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN 44

2.1.1 Công nghiệp văn hoá Trung Quốc: Nội hàm khái niệm, phân loại và vai trò 44

2.1.1.1 Quan điểm của Trung Quốc về khái niệm “công nghiệp văn hoá” 44

2.1.1.1.1 Khái niệm “công nghiệp văn hoá” 44

2.1.1.3 Vai trò của ngành công nghiệp văn hoá Trung Quốc 51

2.1.1.3.1 Vai trò về kinh tế: Công nghiệp văn hóa góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và các ngành nghề khác của Trung Quốc phát triển 51

Trang 6

2

2.1.1.3.2 Vai trò về chính trị, ngoại giao: Công nghiệp văn hóa góp phần chuyển tải thông tin, gia tăng ảnh hưởng mềm của Trung

Quốc trên diễn đàn thế giới 53

2.1.1.3.3.Vai trò văn hóa: Sản phẩm của ngành công nghiệp văn hóa từng bước thỏa mãn nhu cầu về đời sống văn hóa tinh thần của người dân Trung Quốc 54

2.1.2 Những yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển của ngành công nghiệp văn hoá Trung Quốc 55

2.1.2.1 Những yếu tố bên ngoài 55

2.1.2.1.1 Nền kinh tế tri thức phát triển và ngày càng chiếm thế chủ đạo 55

2.1.2.1.2 Xu thế toàn cầu hóa văn hóa gia tăng 56

2.1.2.1.3 Xu hướng ứng dụng thành quả khoa học công nghệ trong phát triển công nghiệp văn hoá 57

2.1.2.2 Những yếu tố bên trong 58

2.1.2.2.1 Cải cách thể chế văn hóa được Trung Quốc đẩy mạnh 58 2.1.2.2.2 Vai trò của văn hoá trong chiến lược gia tăng sức mạnh mềm của Trung Quốc ngày càng tăng 59

2.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN 63

2.2.1 Xu thế phát triển ngành công nghiệp văn hóa của thế giới 63

2.2.2 Thực tiễn phát triển ngành công nghiệp văn hóa của một số nước tiêu biểu 65

2.2.2.1 Ngành công nghiệp văn hóa Mỹ 65

2.2.2.2 Ngành công nghiệp văn hóa Nhật Bản 68

2.2.2.3 Ngành công nghiệp văn hóa Hàn Quốc 72

Tiểu kết chương 2 75

CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN CỦA NGÀNH CÔNG NGHIỆP VĂN HOÁ TRUNG QUỐC TỪ NĂM 2002 ĐẾN NAY 76

3.1 NHÌN LẠI THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN CỦA NGÀNH CÔNG NGHIỆP VĂN HOÁ TRUNG QUỐC TRƯỚC NĂM 2002 76

3.2 TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN CỦA NGÀNH CÔNG NGHIỆP VĂN HOÁ TRUNG QUỐC TỪ NĂM 2002 ĐẾN NAY 79

3.2.1 Trung Quốc hoàn thiện chính sách phát triển ngành công nghiệp văn hoá 79

3.2.1.1 Chính sách về hỗ trợ thuế, vốn và bảo hộ ngành công nghiệp văn hóa trong nước 79

3.2.1.2 Chính sách khuyến khích các ngành công nghiệp văn hóa mới xuất hiện 81

Trang 7

3

3.2.2 Trung Quốc đẩy mạnh chuyển đổi hình thức sở hữu trong

doanh nghiệp văn hoá nhà nước 83

3.2.3 Trung Quốc tăng cường ứng dụng công nghệ trong phát triển ngành công nghiệp văn hoá 85

3.2.4 Trung Quốc đẩy mạnh khai thác thị trường văn hoá quốc tế 88

3.3 THÀNH TỰU VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ CÒN TỒN TẠI 91

3.3.1 Thành tựu của ngành công nghiệp văn hoá Trung Quốc từ năm 2002 đến nay 91

3.3.1.1 Công nghiệp văn hóa phát triển nhanh và liên tục 91

3.3.1.2 Các ngành công nghiệp văn hóa mang tính nội dung đẩy mạnh xuất khẩu 93

3.3.1.2.1 Ngành nghệ thuật biểu diễn 94

3.3.1.2.2 Ngành xuất bản 97

3.3.1.2.3 Ngành phát thanh - truyền hình và điện ảnh 100

3.3.1.2.4 Ngành sản xuất trò chơi điện tử 105

3.3.1.3.Thương mại văn hoá góp phần tăng bậc xếp hạng về chỉ số sức mạnh mềm của Trung Quốc trên thế giới 108

3.3.2 Những vấn đề còn tồn tại của ngành công nghiệp văn hoá Trung Quốc 110

3.3.2.1 Quy mô doanh nghiệp văn hóa nhỏ yếu và phát triển thiếu đồng đều 110

3.3.2.2 Cán cân xuất nhập khẩu sản phẩm văn hóa mất cân đối 112

3.3.2.3 Vấn đề bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ vẫn là một khâu yếu 113

3.4 MỘT SỐ ĐÁNH GIÁ 115

3.4.1 Điểm mạnh của ngành công nghiệp văn hóa Trung Quốc 115

3.4.2 Điểm yếu của ngành công nghiệp văn hóa Trung Quốc 118

Tiểu kết chương 3 121

CHƯƠNG 4: TRIỂN VỌNG PHÁT TRIỂN CỦA NGÀNH CÔNG NGHIỆP VĂN HÓA TRUNG QUỐC VÀ GỢI MỞ CHO VIỆT NAM 122

4.1 TRIỂN VỌNG PHÁT TRIỂN CỦA NGÀNH CÔNG NGHIỆP VĂN HÓA TRUNG QUỐC TRONG GIAI ĐOẠN TỚI 122

4.1.1 Cơ hội của ngành công nghiệp văn hóa Trung Quốc 122

4.1.2 Thách thức của ngành công nghiệp văn hóa Trung Quốc 126

4.1.3 Trọng tâm trong phát triển ngành công nghiệp văn hoá của Trung Quốc thời gian tới 129

4.2 GỢI MỞ ĐỐI VỚI VIỆT NAM 134

4.2.1 Tình hình phát triển của ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam hiện nay 134

4.2.1.1 Việt Nam giàu tiềm năng để phát triển ngành công nghiệp văn hóa 134

Trang 8

4

4.2.1.2 Năng lực phát triển ngành công nghiệp văn hoá Việt Nam còn

yếu, thị trường trong nước bị áp đảo bởi sản phẩm nước ngoài 135

4.2.1.3 Về định hướng và triển vọng phát triển của ngành công nghiệp văn hoá Việt Nam 138

4.2.2 Một số gợi mở đối với Việt Nam 140

4.2.2.1 Gợi mở để phát triển ngành công nghiệp văn hoá Việt Nam 140

4.2.2.2 Gợi mở ứng xử với ảnh hưởng sức mạnh mềm từ sản phẩm công nghiệp văn hoá Trung Quốc 143

4.2.2.3 Những giải pháp cụ thể 146

Tiểu kết chương 4: 149

KẾT LUẬN 150

DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 154

TÀI LIỆU THAM KHẢO 155

PHỤ LỤC 171

PHỤ LỤC 1: PHÂN LOẠI NGÀNH CÔNG NGHIỆP VĂN HOÁ TRUNG QUỐC (NĂM 2012) 171

PHỤ LỤC 2: TOP 10 TRONG SỐ 30 DOANH NGHIỆP VĂN HÓA MẠNH CỦA TRUNG QUỐC 177

Trang 9

5

DANH MỤC HÌNH

Hình 2.1 Phân loại ngành công nghiệp văn hóa Trung Quốc (Năm 2004) 49

Hình 2.2 Phân loại ngành công nghiệp văn hóa Trung Quốc theo tính chất

hoạt động (Năm 2012) 50 Hình 2.3 Quan điểm của Luận án về các thành tố cấu thành ngành công nghiệp văn hóa 63

Hình 3.1: Đặc điểm ngành nghệ thuật biểu diễn các nước Anh, Mỹ, Nhật Bản, Trung Quốc tại thị trường nước ngoài 96

Trang 10

6

Biểu đồ 3.6: Quy mô phát triển của thị trường điện ảnh thế giới 104

Biểu đồ 3.7: Quy mô doanh thu thị trường hải ngoại của điện ảnh Trung Quốc từ năm 2003 đến 2012 105

Biểu đồ 3.8: Quy mô doanh thu của ngành game Trung Quốc giai đoạn 2008 - 2016 106

Biểu đồ 3.9: 5 quốc gia và vùng lãnh thổ có doanh thu ngành trò chơi điện tử lớn nhất khu vực Châu Á - Thái Bình Dương năm 2016 107

Trang 11

7

MỞ ĐẦU

1 LÝ DO LỰA CHỌN ĐỀ TÀI

Hiện nay, trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của nhiều nước trên

thế giới, công nghiệp văn hóa đã và đang trở thành một trong những xu thế và

mũi nhọn mới Khái niệm công nghiệp văn hóa (Cultural Industry) đã được các nước châu Âu sử dụng và coi trọng từ những năm 90 của thế kỷ XX Đặc biệt trong những năm gần đây, doanh thu từ công nghiệp văn hóa ngày càng chiếm một tỉ lệ đáng kể trong thu nhập quốc dân của một số quốc gia sớm chú trọng phát triển ngành nghề này và góp phần giải quyết khối lượng lớn việc làm cho người lao động trong xã hội Ở nhiều quốc gia, công nghiệp văn hóa được đặt ngang hàng với những ngành kinh tế trọng điểm lâu đời Nhật Bản coi công nghiệp văn hóa có tầm quan trọng ngang với ngành công nghiệp ô tô Hàn Quốc xác định công nghiệp văn hóa là ngành mấu chốt để đưa nền kinh tế của nước này cất cánh Phát triển công nghiệp văn hóa không chỉ mang lại hiệu quả kinh tế lớn mà còn góp phần phổ biến các giá trị văn hóa tinh thần, mở rộng “biên giới mềm” và tầm ảnh hưởng văn hóa của quốc gia mà nó đại diện

Đối với Trung Quốc, từ sau cải cách mở cửa, cùng với “làm giàu kinh tế”,

“sáng tạo khoa học kỹ thuật”, “phát triển công nghiệp văn hóa” được nhấn mạnh

là một trong ba nội dung quan trọng của chiến lược quốc gia [88,tr.71] Công nghiệp văn hóa từng bước được đầu tư, phát triển và ngày càng có nhiều đóng góp trong việc nâng cao đời sống tinh thần của người dân cũng như tăng trưởng của nền kinh tế Trung Quốc Tỉ lệ đóng góp trong GDP và tỉ lệ giải quyết việc làm của ngành công nghiệp văn hóa Trung Quốc ngày càng lớn Bên cạnh đó, công nghiệp văn hóa cũng được xem là phương thức quan trọng để Trung Quốc đưa các giá trị văn hóa tinh thần Trung Hoa quảng bá ra thế giới, tăng cường sức ảnh hưởng đối với cộng đồng quốc tế Trung Quốc cho rằng phát triển sức mạnh mềm là một thực tiễn cấp bách đang đặt ra trước mắt Bởi vậy, cùng với sự trỗi dậy mạnh mẽ và ấn tượng về sức mạnh cứng kinh tế, quân sự, Trung Quốc đã và đang đẩy mạnh phát triển sức mạnh mềm, đặc biệt là trong lĩnh vực văn hóa Nghiên cứu đặt sự phát triển của ngành công nghiệp văn hóa Trung Quốc trong

Trang 12

8

bối cảnh gia tăng sức mạnh mềm sẽ góp phần làm rõ đặc tính của nhóm ngành này Đó là nó vừa có vai trò về kinh tế, văn hóa, vừa có vai trò về chính trị - ngoại giao Đồng thời, bối cảnh gia tăng sức mạnh mềm cũng tác động đến nhận thức,

tư duy của các thế hệ lãnh đạo Trung Quốc trong các chiến lược chấn hưng ngành công nghiệp văn hóa

Ngày nay, Việt Nam muốn hiện đại hóa đất nước không những phải có sự phồn vinh về kinh tế mà còn phải có sự phồn vinh về văn hóa Phát triển công nghiệp văn hóa cũng là con đường để văn hóa Việt Nam tham gia vào cạnh tranh trên thị trường văn hóa quốc tế, tăng cường sức mạnh tổng hợp của đất nước Đồng thời, phát triển công nghiệp văn hóa còn góp phần đáp ứng nhu cầu hưởng thụ văn hóa ngày càng cao của các tầng lớp nhân dân Xét về ý nghĩa chiến lược dài lâu hay trước mắt thì ngành nghề văn hóa đều thể hiện tầm quan trọng to lớn Tuy nhiên, công nghiệp văn hóa hiện vẫn là khái niệm mới mẻ, ngành nghề này chưa được đi sâu khai thác và phát triển ở nước ta Hơn bao giờ hết, Việt Nam cần tăng cường các chính sách, chiến lược đẩy mạnh sự phát triển của công nghiệp văn hóa Học hỏi kinh nghiệm các nước đi trước là biện pháp cần thiết để chúng ta nắm bắt những cơ hội và hoá giải các thách thức trong quá trình xây dựng ngành công nghiệp văn hóa Ngoài ra, trước hiện tượng xâm lấn và ảnh hưởng ngày càng rõ rệt của sản phẩm công nghiệp văn hóa Trung Quốc tại nước

ta thì việc đưa ra những phân tích mang tính gợi mở cũng có ý nghĩa quan trọng, cấp thiết đối với Việt Nam

Trên cơ sở những điều đó, tác giả lựa chọn chủ đề Sự phát triển của công nghiệp văn hóa Trung Quốc trong bối cảnh gia tăng sức mạnh mềm là

hướng nghiên cứu của Luận án với nhiều ý nghĩa Luận án này không chỉ nhằm nghiên cứu một cách hệ thống các chính sách, đánh giá những thành tựu đã đạt được, hạn chế còn tồn tại trong quá trình phát triển công nghiệp văn hóa ở Trung Quốc đặc biệt trong bối cảnh nước này đang tăng cường xây dựng hình ảnh trước thế giới, mà còn nhằm đưa ra những gợi mở đối với Việt Nam trong chiến lược phát triển ngành này trong thời gian tới

Trang 13

9

2 MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

2.1 Mục tiêu nghiên cứu

Luận án đi sâu phân tích sự phát triển ngành công nghiệp văn hoá Trung Quốc trong bối cảnh gia tăng sức mạnh mềm, từ đó rút ra một số gợi mở cho Việt Nam

Nhiệm vụ:

Một là, phân tích làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của việc nghiên cứu sự

phát triển ngành công nghiệp văn hóa Trung Quốc

Hai là, đánh giá thực trạng, đi sâu phân tích thành tựu và hạn chế trong sự

phát triển ngành công nghiệp văn hóa của Trung Quốc

Ba là, đánh giá triển vọng và rút ra một số gợi mở mang tính tham khảo

cho sự phát triển ngành công nghiệp văn hoá của Việt Nam

2.2 Đối tượng nghiên cứu:

Luận án nghiên cứu sự phát triển của ngành công nghiệp văn hoá Trung Quốc

2.3 Giới hạn phạm vi về thời gian, không gian và nội dung

- Phạm vi về thời gian: Luận án nghiên cứu sự phát triển của ngành công

nghiệp văn hóa Trung Quốc trong bối cảnh gia tăng sức mạnh mềm từ Đại hội XVI ĐCS Trung Quốc (2002) đến nay Bối cảnh “gia tăng sức mạnh mềm” mà Luận án muốn nói đến không hàm ý sức mạnh mềm Trung Quốc gia tăng mà muốn nhấn mạnh đến việc Trung Quốc đẩy mạnh các chính sách, các công cụ để gia tăng ảnh hưởng mềm của nước này trên thế giới

- Phạm vi không gian: Trung Quốc đại lục không bao gồm các lãnh thổ

Hồng Kông, Ma Cao và Đài Loan

- Phạm vi nội dung: Công nghiệp văn hoá là một nhóm ngành rộng với

nhiều ngành cụ thể khác nhau Trong phạm vi luận án này, tác giả chủ yếu chú trọng phân tích các ngành mang tính nội dung, trên cơ sở quan điểm về nội hàm này của Trung Quốc Bởi đây là những ngành có vai trò quan trọng trong việc

Trang 14

10

truyền tải và truyền bá văn hoá Trung Quốc đi ra ngoài Điều này phù hợp với bối cảnh mà Luận án đã chọn để phân tích

3 CÁCH TIẾP CẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Cách tiếp cận:

Luận án nghiên cứu sự phát triển của ngành công nghiệp văn hóa Trung Quốc từ hướng tiếp cận liên ngành, cụ thể là từ góc độ văn hoá học, kinh tế học văn hoá và Trung Quốc học Ngành công nghiệp văn hoá là một ngành đặc biệt, vừa mang tính kinh tế, vừa mang tính văn hoá Tiếp cận từ góc độ Trung Quốc học góp phần nhấn mạnh hơn đặc điểm đa ngành đó của ngành công nghiệp văn hoá

Ngoài ra, Luận án còn tiếp cận đối tượng nghiên cứu từ phương pháp hệ thống – cấu trúc, tức là đặt công nghiệp văn hóa Trung Quốc trong tổng thể chiến lược phát triển chung của Trung Quốc, kết hợp cả những chính sách văn hóa với mục tiêu ngoại giao và biện pháp về kinh tế

3.2 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp lịch sử: Phương pháp lịch sử giúp Luận án nghiên cứu sự

phát triển của ngành công nghiệp văn hóa Trung Quốc trong diễn trình thời gian

từ năm 2002 đến nay Áp dụng phương pháp này, chúng ta có thể nhận thấy sự vận động, thay đổi của ngành công nghiệp văn hóa Trung Quốc qua các giai đoạn Đồng thời, công nghiệp văn hóa trong quá trình phát triển còn chịu sự tác động qua lại của các yếu tố đồng đại khác Trong phạm vi nghiên cứu của Luận án, đó chính là bối cảnh Trung Quốc đẩy mạnh xây dựng sức mạnh mềm Sử dụng phương pháp tiếp cận lịch sử giúp Luận án nhìn thấy sự tương tác giữa bối cảnh

và chủ thể công nghiệp văn hóa thông qua các chủ trương, chính sách và việc xuất khẩu ra bên ngoài

- Phương pháp tư liệu: Trên cơ sở kế thừa thành quả những nghiên cứu đi

trước, Luận án sử dụng phương pháp tư liệu, thông qua việc sưu tầm, chọn lọc, đánh giá tư liệu để chắt lọc, hệ thống thông tin nhằm đưa ra những đánh giá và minh chứng xác đáng về sự phát triển của công nghiệp văn hóa Trung Quốc

Trang 15

11

- Phương pháp nghiên cứu so sánh: Luận án sử dụng phương pháp này để

làm rõ sự thay đổi về “diện mạo”của ngành công nghiệp văn hoá Trung Quốc theo yếu tố thời gian, đặc biệt là trước và trong bối cảnh nước này tăng cường việc gia tăng sức mạnh mềm

- Phương pháp phân tích và thống kê: Luận án sử dụng phương pháp này

để lý giải các lý do, nguyên nhân và minh chứng cho những biến đổi theo yếu tố thời gian của ngành công nghiệp văn hoá Trung Quốc

- Phương pháp nghiên cứu định tính: Thông qua các cứ liệu có được về

cơ chế, chính sách, quan điểm, chủ trương của Chính phủ Trung Quốc, bằng các lập luận lô- gíc, Luận án sử dụng phương pháp này nhằm phân tích bản chất, tính chất của ngành công nghiệp văn hóa Trung Quốc, quan hệ tự thân bên trong ngành cũng như giữa ngành với những lĩnh vực và bối cảnh khác bên ngoài

- Phương pháp chuyên gia: Luận án sử dụng phương pháp này để tiến

hành phỏng vấn sâu đối với các chuyên gia và những người hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp văn hóa, nhằm tranh thủ ý kiến đa chiều góp phần làm rõ chủ đề nghiên cứu

Kỹ thuật sử dụng:

Luận án sử dụng các phương pháp của khoa học xã hội trong phân tích, đánh giá vấn đề như: Thống kê, mô tả, so sánh, đối chiếu kết hợp với kĩ thuật điều tra, khảo sát trong phần phân tích về tác động của công nghiệp văn hóa Trung Quốc tại thị trường Việt Nam

4 NGUỒN TƯ LIỆU

Luận án sử dụng các tư liệu được viết bằng bốn thứ tiếng: Tiếng Việt, tiếng Anh, tiếng Trung và tiếng Nhật Tư liệu phục vụ Luận án chủ yếu từ các văn bản chính thống về đường lối chính sách của Đảng và Chính phủ Trung Quốc, các công trình nghiên cứu chuyên sâu của học giả Trung Quốc, phương Tây và Việt Nam từ sách, tạp chí, tham luận hội thảo.v.v Số liệu sử dụng trong Luận án được trích dẫn từ nguồn của Tổng cục Thống kê Trung Quốc, Báo cáo của Bộ ngành

Trang 16

12

liên quan và Báo cáo của các tổ chức nghiên cứu nước ngoài về tình hình kinh tế - văn hóa – xã hội Trung Quốc

5 ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN ÁN

Đóng góp về mặt lý luận: Luận án nghiên cứu tương đối toàn diện và có

hệ thống về sự phát triển của ngành công nghiệp văn hóa Trung Quốc từ năm

2002 đến nay, một trong những chủ đề mà ở Việt Nam chưa có nhiều nghiên cứu

đi sâu Về mặt lý luận, luận án góp phần làm rõ thêm nhận thức về nội hàm “công nghiệp văn hóa” – một khái niệm đến nay vẫn còn nhiều tranh luận trong giới học giả và giới hoạch định chính sách Ngoài ra, luận án cũng đưa ra sự khu biệt giữa hai khái niệm tương đối gần gũi nhưng khác biệt trong văn hoá là “sự nghiệp văn hoá” và “công nghiệp văn hoá” Đóng góp về mặt lý luận của luận án còn thể hiện trong những phân tích hệ thống về chính sách phát triển ngành công nghiệp văn hoá của Trung Quốc

Đóng góp về mặt thực tiễn: Luận án sẽ là tài liệu tham khảo hữu ích cho

công tác nghiên cứu, giảng dạy về văn hóa Trung Quốc nói chung, ngành công nghiệp văn hóa Trung Quốc nói riêng Đồng thời, Luận án góp phần cung cấp các minh chứng khoa học có tính tham khảo cho các nhà hoạch định chính sách Việt Nam trong quá trình xây dựng và phát triển ngành công nghiệp văn hóa

6 KẾT CẤU CỦA LUẬN ÁN

Ngoài phần lời cam đoan, lời cảm ơn, danh mục chữ viết tắt, danh mục bảng, danh mục hình và danh mục đồ thị, phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, Luận án sẽ gồm các chương như sau:

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu

Thông qua phương pháp tổng thuật và phân tích tư liệu, Chương 1 của Luận án tập trung tổng quan lại lịch sử nghiên cứu vấn đề của học giả trong và ngoài nước Ngoài những tác phẩm mang tính kinh điển về công nghiệp văn hóa, Luận án chủ yếu điểm luận các công trình được nghiên cứu từ đầu thế kỷ XXI đến nay

Trang 17

13

Chương 2: Công nghiệp văn hóa Trung Quốc: Cơ sở lý luận và thực tiễn

Chương 2 luận án tập trung phân tích cơ sở lý luận và thực tiễn của việc nghiên cứu sự phát triển ngành công nghiệp văn hóa Trung Quốc Về cơ sở lý luận, luận án đi sâu phân tích nội hàm “công nghiệp văn hóa”, đưa ra phân loại

và đánh giá vai trò của ngành này Trong chương 2, Luận án còn tập trung phân tích bối cảnh tác động đến sự phát triển của ngành công nghiệp văn hoá đặc biệt chú trọng bối cảnh gia tăng sức mạnh mềm những năm đầu thế kỷ XXI của Trung Quốc Về cơ sở thực tiễn, luận án chú trọng phân tích xu thế phát triển ngành công nghiệp văn hóa trên thế giới và một số mô hình tiêu biểu của Mỹ, Nhật Bản

là dựng lên bức tranh ngành công nghiệp văn hóa Trung Quốc trong giai đoạn nước này không ngừng đẩy mạnh chiến lược gia tăng sức mạnh mềm

Chương 4: Triển vọng phát triển của ngành công nghiệp văn hoá Trung Quốc và

gợi mở cho Việt Nam

Chương 4 là chương cuối cùng của Luận án, tập trung những đánh giá của Luận án về triển vọng phát triển của ngành công nghiệp văn hóa Trung Quốc trong thời gian tới thông qua việc phân tích thời cơ, thách thức và những hướng phát triển chính Đồng thời từ kết quả nghiên cứu sự phát triển ngành công nghiệp văn hoá Trung Quốc trong bối cảnh gia tăng sức mạnh mềm, bằng cách nhìn tương quan biện chứng, Luận án đưa ra một số gợi mở đối với sự phát triển của ngành công nghiệp văn hoá Việt Nam

Trang 18

14

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

1.1 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CỦA HỌC GIẢ NƯỚC NGOÀI

1.1.1 Học giả Trung Quốc

Bắt đầu từ năm 2000, sau khi Cục công nghiệp văn hoá trực thuộc Bộ Văn hoá Trung Quốc được thành lập, ngành công nghiệp văn hoá nước này đã chuyển

từ giai đoạn phát triển tự phát sang giai đoạn phát triển tự giác, có sự định hướng

và quy hoạch từ phía Chính phủ Đến nay, ngành công nghiệp văn hoá Trung Quốc đã và đang được đẩy lên nấc thang phát triển mới “từng bước trở thành ngành kinh tế trụ cột” (tức là ngành đóng góp khoảng 5% trong tổng GDP của cả nước).[146] Cùng với “sức nóng” đó, các nghiên cứu về ngành công nghiệp văn hoá được các học giả Trung Quốc đặc biệt quan tâm Có thể nhìn nhận một cách tổng quan rằng, việc nghiên cứu chủ đề công nghiệp văn hoá Trung Quốc có một

số đặc điểm nổi bật sau: Thứ nhất, trào lưu nghiên cứu vấn đề này bắt đầu nở rộ

từ năm đầu thế kỷ XXI – trùng khớp với giai đoạn phát triển của ngành công

nghiệp văn hóa Thứ hai, phạm vi và chủ đề nghiên cứu tương đối phong phú,

giả như Lý Tư Khuất, Hồ Huệ Lâm, Hàn Tuấn Vĩ.v.v Trong công trình “Khái

luận công nghiệp văn hóa” (文化产业概论) (2007) [96], tác giả Lí Tư Khuất –

Đại học Chiết Giang đã cho rằng, muốn phát triển mạnh mẽ ngành công nghiệp văn hóa, nâng cao sức cạnh tranh tổng thể và tố chất văn hóa của người dân cần

Trang 19

15

phải nắm vững các cơ sở lý luận liên quan, bao gồm việc nghiên cứu thảo luận khái niệm, đặc điểm bản chất, phát hiện tính quy luật của vấn đề Theo đó, tác giả

đã chỉ ra các góc nhìn khác nhau khi lý giải nội hàm khái niệm “công nghiệp văn hóa” Cụ thể như: Góc nhìn từ “sản phẩm và dịch vụ tinh thần”, góc nhìn từ “nội dung, ý nghĩa”, góc nhìn từ “tiêu chuẩn ngành nghề”, góc nhìn từ “hạt nhân bản quyền” và góc nhìn “kết hợp giữa văn hóa và giải trí” Tác giả cho rằng cách định nghĩa và phân loại mà Cục Thống kê Trung Quốc đưa ra năm 2004 là góc nhìn từ

sự kết hợp giữa văn hóa và giải trí

Nằm trong hệ thống các cuốn sách về lý luận công nghiệp văn hóa, còn

phải kể đến cuốn “Khái luận công nghiệp văn hóa” (文化产业概论, 2005) [88] của tác giả Hồ Huệ Lâm; công trình “Công nghiệp văn hóa học” (文化产业学)

(2005) [97] của các tác giả Lưu Cát Pha, Nhạc Hồng Kỳ, Trần Hoài Bình hay

cuốn “Khái quát về công nghiệp văn hóa” (文化产业概论) (2014) [87] của nhóm tác giả Hàn Tuấn Vĩ, Hồ Hiểu Minh - Đại học Trung Sơn Ngoài ra, liên quan đến

hướng nghiên cứu mang tính lý luận về công nghiệp văn hóa còn có một số bài viết của các học giả trên các website Như bài viết “Nhận rõ những khó khăn trong nghiên cứu lý luận công nghiệp văn hóa Trung Quốc” (梦想照进现实:中国文化产业理论研究困局之辨) (2009) [164] trên website www.cnci.gov.cn và bài viết “Công nghiệp văn hoá Trung Quốc: Lý luận và kiến nghị chính sách” (中国文化产业及其理论与政策建设) [142] trên www.omsoyol.com v.v Hầu hết các bài viết đều trình bày khái quát những điểm lớn về công nghiệp văn hóa như khái niệm, lịch sử phát triển, những khó khăn còn tồn tại trong quá trình nghiên cứu lý luận Mặc dù các bài viết mới chỉ dừng lại ở những bài nghiên cứu ngắn song cơ bản đã phác họa những nét nổi bật của tình hình nghiên cứu mang tính lý luận về công nghiệp văn hóa ở Trung Quốc

Nhìn chung, trong hướng nghiên cứu thứ nhất này mặc dù số lượng chưa

phong phú song chất lượng các công trình, bài viết tương đối sâu sắc, đề cập nhiều khía cạnh về công nghiệp văn hóa Tác giả cho rằng, những nghiên cứu này

Trang 20

16

có giá trị lớn trong việc xây dựng nền tảng lý luận về công nghiệp văn hóa của Trung Quốc

Thứ hai, hướng nghiên cứu về chính sách phát triển công nghiệp văn hóa Trung Quốc Đây là góc tiếp cận mang tính truyền thống, được nhiều học giả

tập trung khai thác với hai khía cạnh chính: Một là, những công trình chủ yếu phân tích chính sách vĩ mô của Nhà nước; Hai là, những công trình đi sâu vào

chính sách một ngành, một lĩnh vực cụ thể bên trong

Tiêu biểu cho khía cạnh thứ nhất, nghiên cứu chính sách tổng thể có các công trình như: Công trình “Chính sách công nghiệp văn hóa và nghiên cứu sự

phát triển của công nghiệp văn hóa” (文化产业政策与文化产业发展研究)

(2011) [98] do tác giả Âu Dương Kiên chủ biên; cuốn “Nghiên cứu chính sách

công nghiệp văn hóa sáng tạo Trung Quốc” (中国文化产业创新政策研究)

(2012) [82] của tác giả Trần Hồng Ngọc, Viện Khoa học Xã hội Bắc Kinh và

một số bài viết liên quan như: Chính sách công nghiệp văn hóa của Trung Quốc

(我国文化产业政策) (2006) [181] của tác giả Chu Hoà Quân, Thái độ và chính

sách của Chính phủ Trung Quốc đối với sự phát triển của công nghiệp văn hóa

(中国政府对发展文化产业的态度和政策) (2008) [147] của tác giả Vương Vĩnh

Chương, Những sự kiện lớn về chính sách công nghiệp văn hóa Trung Quốc (中

国文化产业政策大事记) (2009) [124] của tác giả Tào Dương

Trong đó, cuốn “Nghiên cứu chính sách công nghiệp văn hóa sáng tạo

Trung Quốc” (中国文化产业创新政策研究) (2012) [82] của tác giả Trần Hồng

Ngọc đã đi sâu phân tích về bối cảnh, nội hàm, đặc trưng, chủ thể, cơ cấu, hạn chế của công nghiệp văn hóa sáng tạo; đồng thời, tác giả tổng kết những thành tựu bước đầu trên phương diện chính sách cổ vũ sáng tạo của Trung Quốc Tác giả cho rằng, hiện nay, công nghiệp văn hóa Trung Quốc đang ở vào thời kỳ phát triển mạnh mẽ và giai đoạn then chốt của quá trình chuyển đổi Từ bài học kinh nghiệm về chính sách sáng tạo công nghiệp văn hóa của các nước, tác giả đã phân tích nội dung và các tầng bậc về chính sách sáng tạo liên quan, qua đó kiến nghị

về việc xây dựng hệ thống chính sách phát triển công nghiệp văn hóa lấy sáng tạo làm linh hồn Theo tác giả, người Trung Quốc không thiếu tinh thần sáng tạo, cái thiếu là môi trường sáng tạo, thể chế sáng tạo Và sáng tạo phải bắt đầu từ việc

Trang 21

17

giải quyết những mâu thuẫn và vấn đề tồn đọng ảnh hưởng và trói buộc sự phát triển của công nghiệp văn hóa Đây là một công trình có giá trị lý luận học thuật

và tham khảo thực tiễn hữu ích

Còn tác giả Âu Dương Kiên trong công trình “Chính sách công nghiệp

văn hóa và nghiên cứu sự phát triển của công nghiệp văn hóa” (文化产业政策与

文化产业发展研究) (2011) [98] đã khái quát tương đối đầy đủ và sâu sắc về chính sách phát triển nhóm ngành này của Chính phủ Trung Quốc Đặc biệt, tác giả còn chú trọng đến việc phân tích thuộc tính kinh tế và văn hóa của công nghiệp văn hóa cũng như nhấn mạnh đến tác động của những nhóm thuộc tính này đối với việc hoạch định chính sách Công trình cũng đưa ra những kiến nghị của tác giả trong việc xây dựng và thực thi các chính sách phát triển công nghiệp

văn hóa Ngoài ra, bài viết Nghiên cứu chính sách công nghiệp văn hóa Trung

Quốc (中国文化产业政策研究) (2006) [121] của tác giả Bạch Trọng Nghiêu cho

rằng hiện nay công nghiệp văn hóa Trung Quốc chỉ mới ở giai đoạn đầu của quá trình phát triển, vẫn còn gặp phải nhiều khó khăn và tồn tại nhiều vấn đề Do vậy, cần phải xây dựng hệ thống chính sách công nghiệp văn hóa có hiệu quả từ đó

thúc đẩy công nghiệp này phát triển hơn nữa

Trong khía cạnh thứ hai, các nghiên cứu tập trung phân tích một chính sách cụ thể đối với sự phát triển của công nghiệp văn hóa Trung Quốc Tiêu biểu

có bài Vai trò của nhân tài trong việc thúc đẩy công nghiệp văn hoá phát triển

(加快文化产业发展的人才支撑) [159] của hai tác giả Hình Quân và Phạm Lệ

Quyên Bài viết cho rằng “nhân tài là tài nguyên thứ nhất đối với sự phát triển

của công nghiệp văn hóa” Tuy nhiên, hiện nay do nhiều nguyên nhân mà nhân

tài công nghiệp văn hóa vẫn còn thiếu hụt Từ đó, bài viết đưa ra hai biện pháp nhằm nâng cao vai trò của nhân tài trong sự phát triển của công nghiệp văn hóa:

Thứ nhất là đẩy mạnh đào tạo, bồi dưỡng toàn diện tố chất nhân tài; thứ hai là

tăng cường quản lý, tối ưu hóa môi trường trưởng thành của công nghiệp văn hóa

Cũng trong khía cạnh này, chúng ta còn phải kể đến bài viết Nghiên cứu chính

sách thuế để thúc đẩy sự phát triển của công nghiệp văn hóa (促进文化产业发展

的财税政策研究) (2011) [126] trên website www.jyds.gov.cn, bài Chính sách hỗ

trợ của ngành bảo hiểm đối với sự phát triển của công nghiệp văn hóa (保险业支

持文化产业发展政策出台) (2011) [151] trên website www.yykj.org/webceta

Như vậy, trong hướng nghiên cứu thứ hai này bao gồm hai khía cạnh cụ

thể: Thứ nhất, các nghiên cứu về chính sách phát triển của công nghiệp văn hóa

Trang 22

18

mang tầm vĩ mô của Chính phủ Trung Quốc; thứ hai, các bài viết đi sâu tìm hiểu

những chính sách cụ thể hỗ trợ cho sự phát triển công nghiệp văn hóa

Hướng nghiên cứu thứ ba là các công trình, bài viết về hiện trạng phát triển của công nghiệp văn hóa Trung Quốc Trong hướng nghiên cứu này, các

học giả Trung Quốc tập trung vào hai khía cạnh chủ yếu gồm: Thứ nhất, tổng kết

quá trình phát triển của công nghiệp văn hóa trong gần 40 năm cải cách mở cửa;

thứ hai, đi sâu vào thực trạng trong từng giai đoạn và từng năm cụ thể

Trong khía cạnh thứ nhất, các tác giả chủ yếu tập trung khái quát lại

những thành tựu, hạn chế của công nghiệp văn hóa Trung Quốc trong chặng đường từ năm 1978 đến nay Đa số các học giả đều thừa nhận sự phát triển của công nghiệp văn hóa là một điểm nhấn quan trọng trong sự nghiệp xây dựng văn hóa những năm qua của Trung Quốc Về việc phân chia giai đoạn phát triển ngành công nghiệp văn hóa Trung Quốc, mỗi học giả từ góc nhìn của mình lại có những quan điểm riêng Song, giai đoạn được các học giả cho là phát triển mạnh

mẽ của công nghiệp văn hóa Trung Quốc bắt đầu từ những năm 2009 đến nay – sau khi “Quy hoạch phát triển công nghiệp văn hóa” ra đời Một số bài viết tiêu

biểu như: Bài viết Thành tựu về công nghiệp văn hóa sau 30 năm cải cách mở

cửa (改革开放 30 年文化产业成就) (2008) [160] của tác giả Tuyết Dã; bài viết Công nghiệp văn hóa 30 năm cải cách mở cửa – Nhìn lại và triển vọng (改革开

放 30 年文化产业回顾及前景展望) (2009) [149] của tác giả Vương Vĩnh

Chương; bài viết “Nhìn lại sự phát triển và hiện trạng của công nghiệp văn hóa

trong thời kỳ mới” (新时期文化产业发展回顾与现状) (2008) [125] của tác giả

hội, trong đó có công nghiệp văn hóa Đầu tiên phải kể đến cuốn “Báo cáo phát

Trang 23

19

triển công nghiệp văn hóa Trung Quốc năm 2008” (2008 年中国文化产业发展

报告) (2008) [113] của ba tác giả Trương Hiểu Minh, Hồ Huệ Lâm và Chương Kiện Cương Công trình này vừa là những phân tích vĩ mô về hình thức phát triển của công nghiệp văn hóa Trung Quốc, đồng thời vừa là báo cáo hàng năm về các ngành nghề cụ thể của ngành này Cùng tác giả và cùng dạng tác phẩm, còn có

“Báo cáo phát triển công nghiệp văn hóa 2012 - 2013” [110] tập trung các báo

cáo về tình hình phát triển công nghiệp văn hóa trong năm 2012, phương hướng

năm 2013 Ngoài ra, các bài viết “Báo cáo điều tra về sự phát triển của công

nghiệp văn hóa Trung Quốc năm 2009” (2009 全国文化产业发展调研报告)

(2009) [131] của tác giả Phạm Chu – Viện trưởng Viện nghiên cứu công nghiệp văn hóa của Đại học truyền thông Trung Quốc; tác giả Nông Vọng Thư với bài

“Suy nghĩ và kiến nghị về hiện trạng công nghiệp văn hóa Trung Quốc” (关于中

国文化产业现状的思考与建议) [146] Mặc dù khẳng định công nghiệp văn hóa Trung Quốc đã đạt được những thành tựu to lớn song các tác giả vẫn nhấn mạnh đấy chỉ mới là giai đoạn khởi đầu và đề xuất một số đối sách cả trong lý luận và thực tiễn nhằm phát triển công nghiệp văn hóa hơn nữa

Công trình nghiên cứu công nghiệp văn hóa Trung Quốc theo từng giai

đoạn có Mười năm công nghiệp văn hóa Trung Quốc (中国文化产业十年 1999 –

2009) (2010) [85] của tác giả Trần Thiểu Phong và Chu Gia Đây là công trình

đề cập đến nhiều khía cạnh trong giai đoạn được coi là có nhiều bước phát triển mang tính đột phá của công nghiệp văn hóa Trung Quốc Như tác giả đã chia sẻ, cuốn sách này không phải là một cuốn giáo trình về lịch sử công nghiệp văn hóa hay công trình sử tìm hiểu về công nghiệp văn hóa, mà là tuyển tập những bài học kinh nghiệm từ sự phát triển của một số ngành lấy chủ thể thị trường làm trung tâm, làm rõ diễn biến chính sách phát triển ngành nghề cũng như quan điểm hữu ích và cách làm hay từ các chuyên gia ở các lĩnh vực khác nhau Ngoài ra, còn

một số nghiên cứu mang tính dự báo như “Hướng tới năm 2020, công nghiệp văn

hóa trong 10 năm tới” (面向 2020,中国文化产业新十年) (2011) [103] của tác

giả Hướng Dũng (trình bày tại Hội thảo cùng tên do Đại học Bắc Kinh tổ chức)

Trang 24

20

Công trình nhìn lại diễn biến và thực trạng xây dựng công nghiệp văn hóa của Trung Quốc cũng như hướng tới bức tranh phát triển ngành nghề này trong 10 năm tới Ngoài ra, công trình này còn đề cập đến nhữngvấn đề nóng và mới như:

“Giấc mộng Trung Quốc - kế thừa dân tộc và tầm nhìn quốc tế”, “sáng tạo hòa hợp - bảo tồn di sản và phát triển liên tục”, “Đôi cánh tiền tệ - chính sách vốn và chấn hưng ngành nghề”.v.v Công trình là tập hợp quan điểm của nhiều chuyên gia nghiên cứu về công nghiệp văn hóa Trung Quốc và thế giới

Hướng nghiên cứu thứ tư mà Luận án muốn đề cập đến trong phần tổng thuật về tình hình nghiên cứu công nghiệp văn hóa tại Trung Quốc là những nghiên cứu đặt công nghiệp văn hóa trong bối cảnh cụ thể, ở một giai đoạn lịch sử nhất định như: Gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO) hay

giai đoạn Trung Quốc điều chỉnh phương thức phát triển kinh tế, hướng tới trạng thái “bình thường mới”, đặc biệt gần đây là chiến lược “Vành đai và Con đường”

Trong chủ đề này, trước tiên phải kể đến cuốn “Toàn cầu hóa và phát

triển công nghiệp văn hóa Trung Quốc” (全球化与中国文化产业发展) (2006)

[119] của hai tác giả Trịnh Quảng Văn, Từ Khánh Văn Cuốn sách bắt đầu từ những vấn đề như bối cảnh, khung lý luận, quy luật phát triển của công nghiệp văn hóa Trung Quốc, từ đó phân tích hoàn cảnh phát triển, phác họa những ưu nhược của công nghiệp văn hóa Đồng thời các tác giả cũng tham khảo sự phát triển công nghiệp văn hóa nước khác, qua đó đề xuất các đối sách liên quan cho Trung Quốc Có thể nhận thấy rằng đây là một bức tranh chung tương đối rõ nét

về sự ra đời, phát triển của công nghiệp văn hóa Trung Quốc từ lý luận đến thực

tiễn Ngoài ra, chúng ta còn phải kể đến cuốn “Bàn luận về công nghiệp văn hóa

Trung Quốc trong bối cảnh toàn cầu hóa” (全球化背景下中国文化产业论)

(2006) [91] do tác giả Tưởng Hiểu Lệ chủ biên Tác giả cho rằng thế kỷ XXI

mang đến “mùa xuân mới” cho công nghiệp văn hóa Trung Quốc Cuốn sách

không chỉ nhìn lại chặng đường đã qua mà còn đi sâu phân tích hiện trạng cũng như đưa ra các dự báo cho sự phát triển của công nghiệp văn hóa của Trung Quốc

Nếu như gia nhập WTO là sự kiện quan trọng trong thập niên đầu thế kỷ

Trang 25

21

XXI thì bước sang thập niên thứ hai, việc Trung Quốc chuyển đổi mạnh mẽ phương thức phát triển đất nước là bối cảnh đáng chú ý, được các học giả quan tâm Sau hơn 30 năm cải cách mở cửa với nhiều thành tựu nổi bật về kinh tế,

nhưng cũng không ít hậu quả về xã hội, môi trường, Trung Quốc đang phải đẩy mạnh chuyển đổi về phương thức phát triển, hướng tới trạng thái bình thường mới, với mức tăng trưởng một con số Công nghiệp văn hóa với những lợi thế ngành nghề ưu việt, có vai trò không nhỏ trong việc đa dạng hóa cơ cấu kinh tế Trung Quốc và là một trong những mũi nhọn để chuyển đổi phương thức tăng trưởng của nước này

Cuốn “Trạng thái bình thường mới phát triển công nghiệp văn hóa”(文化

产业发展新常态) (2015) [93] của nhóm tác giả Lai Vĩ Duy, Dương Hiếu Đông

và Hoàng Vũ là một trong những công trình tiêu biểu cho hướng nghiên cứu này Cuốn sách trên cơ sở sự phát triển của công nghiệp văn hóa Trung Quốc trong trạng thái bình thường mới, đã chỉ ra những trở ngại đồng thời kiến nghị giải pháp

để thúc đẩy cải cách thể chế quản lý văn hóa, tích cực xây dựng hệ thống thị trường văn hóa hiện đại, tăng cường mức độ hỗ trợ trong chính sách sáng tạo, từng bước giải quyết những mâu thuẫn bên trong của quá trình chuyển đổi thể chế doanh nghiệp Qua đó, công trình đã đưa ra những tham khảo nhất định đối với chính phủ và các bộ phận liên quan, chuẩn bị các điều kiện cho sự phát triển công nghiệp văn hóa trong trạng thái bình thường mới Ngoài ra, công trình cũng có những phân tích sâu về ngành dịch vụ mạng, xuất khẩu điện ảnh Trung Quốc và nghiên cứu trường hợp về công nghiệp văn hóa ở thành phố Thượng Hải, Bắc Kinh và Thâm Quyến

Nhắc đến Trung Quốc trong thời đại Tập Cận Bình thì không thể không nhắc tới chiến lược “Vành đai và Con đường” – một đại chiến lược mở rộng thị trường và tăng cường kết nối Á – Âu của Trung Quốc Chiến lược “Vành đai và Con đường” đã mở ra cơ hội phát triển thị trường cho nhiều lĩnh vực bao gồm cả ngành công nghiệp văn hoá Hướng nghiên cứu về sự phát triển của ngành công nghiệp văn hoá trong chiến lược Vành đai và Con đường cũng thu hút sự quan tâm của các học giả Trung Quốc

Trang 26

22

Bài viết “Thách thức của công nghiệp văn hoá trong ‘Vành đai và Con đường’, một số kiến nghị đối với sự phát triển của công nghiệp văn hoá Trung Quốc” (“一带一路”上的文化产业挑战及对中国文化产业发展的建议) (2017) [186] của tác giả Sái Thượng Vĩ đã chỉ ra mối quan hệ giữa chiến lược Vành đai

và con đường với sự phát triển của ngành công nghiệp văn hoá Trong đó, tác giả cho rằng, “Vành đai và con đường” không chỉ là một chiến lược kinh tế, đó cũng

là chiến lược về văn hoá, bao gồm cả về công nghiệp văn hoá Trong bài viết, tác giả cũng chỉ ra những thách thức của ngành công nghiệp văn hoá Trung Quốc như nền kinh tế thế giới đang phát triển chậm lại dẫn đến sự thu hẹp của thị trường văn hoá, sự khác nhau về quan điểm giá trị, chính sách văn hoá, bản quyền… giữa các quốc gia dọc tuyến đường Trên cơ sở đó, bài viết đưa ra một số kiến nghị như: Tăng cường nghiên cứu nhu cầu thị trường văn hoá để đưa ra những chính sách mang tính khả thi, xây dựng các Quỹ về Công nghiệp văn hoá con đường tơ lụa để khuyến khích các doanh nghiệp tăng cường khai thác thị trường quốc tế, coi trọng công tác bản quyền, xúc tiến việc xây dựng Trung tâm bảo về

và phát triển bản quyền ‘Tơ lụa’ để bảo vệ lợi ích các bên liên quan.v.v

Như vậy, những nghiên cứu về ngành công nghiệp văn hóa ở một bối cảnh

phát triển cụ thể đã cho thấy được sự vận động của nó trong quá trình chuyển biến chung của cả Trung Quốc Phát triển ngành công nghiệp văn hóa cũng sẽ là điểm nhấn mới trong quá trình Trung Quốc điều chuyển phương thức phát triển của nền kinh tế

Hướng nghiên cứu thứ năm là những nghiên cứu đặt công nghiệp văn hóa trong chiến lược gia tăng sức mạnh mềm văn hóa của Trung Quốc, với hai

khía cạnh: Một là, những đánh giá chung; Hai là, những nghiên cứu về đi sâu vào

một ngành cụ thể

Trong khía cạnh thứ nhất, hầu hết các bài viết đều nhấn mạnh công nghiệp văn hóa là một trong những công cụ quan trọng để nâng cao sức mạnh mềm văn hóa Trung Quốc Tiêu biểu có bài “Phát triển công nghiệp văn hóa nâng cao sức mạnh mềm quốc gia”(发展文化产业提升国家软实力) (2009)[169]

tại website: www.wenming.cn Bên cạnh việc nhấn mạnh tầm quan trọng của văn

Trang 27

23

hóa đối với sức mạnh mềm, tác giả chủ yếu đi sâu làm rõ sức sản xuất văn hóa, cơ

sở hình thành và phát triển của công nghiệp văn hóa đồng thời chỉ ra những đối sách nhằm tăng cường sự phát triển của công nghiệp văn hóa Một số nghiên cứu khác lại coi công nghiệp văn hóa là một “vai diễn” mới của sức mạnh mềm Bài

viết “Công nghiệp văn hóa: ‘vai diễn’mới của sức mạnh mềm” (文化产业:软实

力的新角色) (2010) [155] trên báo mạng http://www.whcycy.org là cuộc phỏng vấn của phóng viên Vương Vi Dân với giáo sư Trần Thiểu Phong - Phó Viện trưởng Viện nghiên cứu công nghiệp văn hóa Bắc Kinh Bài viết đã cho thấy cái nhìn tổng quát về khái niệm công nghiệp văn hóa, tình trạng phát triển cũng như những kiến giải của giáo sư Trần Thiểu Phong đối với việc xây dựng những tập đoàn công nghiệp văn hóa mạnh, tích cực đưa sản phẩm văn hóa “đi ra ngoài”

Cũng trong khía cạnh này, bài viết “Vai diễn sức mạnh mềm của công nghiệp văn hóa” (文化产业的软实力角色) (2010)[183] của tác giả Chúc Hưng Bình nhấn

mạnh vai trò của công nghiệp văn hóa đối với sự gia tăng sức mạnh mềm văn hóa Tác giả cho rằng, trong thời đại ngày nay công nghiệp văn hóa trở thành nội dung quan trọng và lĩnh vực chủ yếu trong phát triển văn hóa và cạnh tranh sức mạnh mềm Bài viết cũng chỉ ra rằng phải thông qua nhiều con đường và biện pháp để thúc đẩy sự phát triển của sự nghiệp văn hóa và công nghiệp văn hóa Học hỏi kinh nghiệm của các quốc gia phát triển đi trước là một trong những cách thức không thể bỏ qua

Ngoài ra, bài viết “Công nghiệp văn hóa Trung Quốc 2009: Bản lĩnh

cứng của sức mạnh mềm” (2009 中国文化产业:“软实力”尽显“硬功夫”) (2009)

[182] của tác giả Chu Vĩ trên mạng Xinhua cũng nhấn mạnh rằng mặc dù trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế toàn cầu nhưng công nghiệp văn hóa Trung Quốc vẫn có bước phát triển đột phá trên các lĩnh vực như xuất bản, điện ảnh, truyền hình, hoạt hình Điều đó đã chứng tỏ, công nghiệp văn hóa là ngành có tiềm lực phát triển đặc biệt, đang từng bước trở thành điểm tăng trưởng kinh tế mới, ngành then chốt trong việc điều chỉnh kết cấu kinh tế Hai tác giả Chương Đồng và Liêu

Hiểu Xuyến với bài viết “Tăng cường công nghiệp văn hóa, xây dựng sức mạnh

mềm ” (提升文化产业打造软实力) (2010) [161] đã khẳng định công nghiệp văn

hóa là nhân tố quan trọng đối với sự phát triển của xã hội ngày nay và là một trong những tiêu chí để đánh giá sức cạnh tranh của một quốc gia Thông qua việc phân tích mối quan hệ giữa công nghiệp văn hóa và kinh tế quốc dân, bài viết đã

Trang 28

24

chỉ ra rằng phát triển công nghiệp văn hóa là con đường cần thiết để đáp ứng nhu cầu văn hóa tinh thần của người dân trong xã hội XHCN; đồng thời đó còn là bước đi để thúc đẩy việc điều chỉnh cơ cấu kinh tế và kết cấu ngành nghề

Trong khía cạnh thứ hai, các nghiên cứu tập trung chỉ rõ vai trò của một ngành cụ thể trong tương quan với việc gia tăng sức mạnh mềm của Trung Quốc, tiêu biểu là những nghiên cứu về ngành công nghiệp trò chơi điện tử Các nghiên

cứu tiêu biểu gồm có: “Biểu hiện và vận dụng văn hoá truyền thống Trung Quốc

trong Game Online” (中国传统文化在网络游戏中的表现与运用) (2010) của

tác giả Từ Xuân Hà [104], “Nghiên cứu cách vận dụng văn hoá truyền thống

Trung Quốc trong Game Online” (中国传统文化在网络游戏中的运用研究)

(2013) của tác giả Ngô Quan Hoa [102] hay công trình “Luận đàm về ngành

game và việc nâng cao sức mạnh mềm văn hoá” (论网络游戏与我国文化软实力

的提升) (2013) của tác giả Tần Dương Dương [99]

Trong đó, công trình “Luận đàm về ngành game và việc nâng cao sức

mạnh mềm văn hoá” (论网络游戏与我国文化软实力的提升) (2013) của tác giả

Tần Dương Dương là một tiêu biểu Tác giả cho rằng, với tư cách là phương thức truyền tải văn hoá, sản phẩm game hàm chứa hình thái ý thức và chế độ văn hoá của mỗi một quốc gia, do vậy ở một phương diện nào đó, nó hoàn toàn phát huy vai trò sức mạnh mềm của mình Ở nhiều quốc gia trên thế giới như Mỹ, Nhật, Hàn…, ngành game không chỉ mang lại giá trị kinh tế mà nó còn có ảnh hưởng về nhân sinh quan, giá trị quan, thế giới quan đối với người chơi đặc biệt là thanh

thiếu niên Tuy nhiên, đối với Trung Quốc, tác giả cho rằng, một mặt, thị trường game nước này cũng đang bị giá trị quan của game nước ngoài uy hiếp; mặt khác,

game trong nước lại chưa có được ưu thế cạnh tranh nổi bật, đặc biệt chưa hàm chứa được hình thái ý thức xã hội chủ nghĩa nên chưa góp phần định hình nhân sinh quan cho giới trẻ chơi game Thông qua những phân tích về kinh nghiệm gia tăng sức mạnh mềm từ ngành game của các nước trên thế giới, tác giả đã làm rõ những hạn chế của Trung Quốc trong phương diện này đồng thời đưa ra bài học kinh nghiệm và đối sách tương ứng

Trang 29

25

Ngoài ra, công trình “Nghiên cứu cách vận dụng văn hoá truyền thống

Trung Quốc trong Game Online” của tác giả Ngô Quan Hoa lại chỉ ra tầm quan

trọng của Game Online trong việc phát huy văn hóa truyền thống Tác giả cho rằng, hiện nay quá trình quảng bá văn hoá của Trung Quốc đang gặp phải hai vấn

đề: Thứ nhất, phương pháp quảng bá chưa được toàn diện, thiếu đi ý tưởng; thứ

hai, sự xâm nhập của văn hoá ngoại lai ngày càng nghiêm trọng Do vậy, cần thiết

phải có một phương thức truyền bá mới để bảo vệ, phát huy văn hoá dân tộc Game online với tư cách là mũi tiến công mới của văn hoá đại chúng, sẽ đưa đến một không gian truyền bá văn hoá truyền thống Trung Quốc mới Từ cách tiếp

cận đó tác giả đã đi sâu phân tích hai phương diện: Thứ nhất, làm rõ sự vận dụng

văn hoá truyền thống trong ngành game online thông qua bốn yếu tố gồm cách thể hiện, các yếu tố, nguyên tắc-phương pháp và trường hợp cụ thể trong “Thiên

hạ 3”; thứ hai, đi sâu phân tích, bình luận về vai trò truyền bá văn hoá truyền

thống Trung Quốc trong Game Online thông qua phân tích tính tất yếu, tính khả thi và những vấn đề còn gặp phải trong quá trình này Tác giả khẳng định rằng, thông qua game để phát huy văn hoá Trung Quốc là một phương thức hiệu quả, thể hiện tính tất yếu của thời đại

Có thể thấy, trong hướng nghiên cứu này, đa phần các nhà khoa học đều đánh giá cao vai trò của ngành công nghiệp văn hóa Trung Quốc đối với chiến lược gia tăng sức mạnh mềm văn hóa, đặc biệt là việc chuyển tải các giá trị và thông điệp văn hóa truyền thống ra bên ngoài Do vậy, công nghiệp văn hóa được các nhà khoa học coi là “vai diễn mới”, “bản lĩnh cứng” của sức mạnh mềm

Hướng nghiên cứu thứ sáu là hướng nghiên cứu đặt sự phát triển của công nghiệp văn hóa Trung Quốc trong tương quan với nền công nghiệp văn hóa các nước trên thế giới Tiêu biểu là công trình “Báo cáo thị trường văn hóa

quốc tế” (国际文化市场报告) (2013) [94] của tác giả Lý Hoài Lượng Sau 30

năm cải cách mở cửa, nền kinh tế Trung Quốc đã đứng thứ hai thế giới, song sức ảnh hưởng về yếu tố văn hóa trong phạm vi toàn cầu chưa thể theo kịp Nói về thực trạng xuất khẩu của văn hóa Trung Quốc, tác giả nhận định rằng: “Sấm to nhưng mưa nhỏ”, chính phủ coi trọng, xã hội quan tâm, học giả thảo luận sôi nổi

Trang 30

26

song doanh nghiệp vẫn gặp nhiều khó khăn Theo tác giả, muốn nghiên cứu làm thế nào để văn hóa Trung Quốc đi ra ngoài thì bắt buộc phải định vị được vị trí của ngành công nghiệp văn hóa nước này trong thị trường quốc tế Trong công trình nghiên cứu này, tác giả cũng chỉ ra một số hạn chế gây trở ngại đối với quá trình xuất khẩu của sản phẩm văn hóa Trung Quốc, tiêu biểu là vấn đề cơ chế thị trường và quản lý của Nhà nước Mặt khác, tác giả cũng cho rằng, các công trình xuất khẩu văn hóa hiện nay của Trung Quốc vẫn chủ yếu dựa vào sự điều phối của Nhà nước, mang nặng tính sự nghiệp văn hóa hơn là công nghiệp văn hóa Thông qua việc nghiên cứu thị trường văn hóa quốc tế, tác giả kiến nghị: Không phải cứ sản phẩm đậm bản sắc dân tộc là đẩy mạnh xuất khẩu, mà phải nghiên cứu mức độ tiếp nhận của thị trường trong và ngoài nước Nhật Bản là một điển hình Mặc dù, kịch Kabuki được coi như quốc túy của Nhật Bản, được đông đảo khán giả yêu thích song sản phẩm xuất khẩu chiến lược của ngành công nghiệp văn hóa Nhật lại là hoạt hình Thực tế cho thấy, Nhật Bản đã thành công, trong nhiều năm liền, tỉ trọng của hoạt hình Nhật luôn chiếm một nửa tổng kim ngạch ngành hoạt hình thế giới

Tiếp theo, học giả Triệu Kiến Quốc với cuốn “Chiến lược cạnh tranh

quốc tế của công nghiệp văn hóa Trung Quốc” (2013)[115] cũng có cùng một

hướng nghiên cứu với học giả Lý Hoài Lượng Công trình này tập trung phân tích

ba chiến lược lớn trong cạnh tranh quốc tế của công nghiệp văn hóa Trung Quốc gồm: Chiến lược nâng cao sức mạnh mềm, chiến lược nâng cao vốn văn hóa quốc gia và chiến lược kinh doanh văn hóa Trong đó, mục đích cốt yếu của chiến lược thứ nhất là nâng cao sức mạnh mềm Trung Quốc, gia tăng sức ảnh hưởng của văn hóa Trung Quốc Chiến lược thứ hai nhằm phát huy các giá trị văn hóa truyền thống, đưa các biểu tượng văn hóa truyền thống trở thành động lực trí tuệ, nguồn gốc sáng tạo và nội hàm tinh thần cho sự lớn mạnh của công nghiệp văn hóa Và chiến lược cuối cùng chính là thông qua sự truyền bá văn hóa, làm cho văn hóa Trung Hoa trở thành một bộ phận quan trọng trong kết cấu văn hóa thế giới

Trong một nghiên cứu khác về “So sánh chính sách công nghiệp văn hóa

của Mỹ và Trung Quốc” (Culture Industry Policy in China and the United States:

Trang 31

27

A Comparative Analysis) (2009) [62] các học giả Guan Ping Qin, Hao Wei, Xi Wang đã chỉ ra những khác biệt về quá trình phát triển của ngành công nghiệp văn hóa và chính sách phát triển ngành này giữa hai nước Việc so sánh giữa Mỹ

và Trung Quốc, nhất là từ góc độ chính sách công nghiệp văn hóa, là không hề dễ dàng, bởi hai nước này khác nhau từ hệ thống chính trị, xã hội cho tới văn hóa, song đều cùng mong muốn trở thành người chơi chính trong nền kinh tế toàn cầu Trong khi Mỹ dẫn đầu thế giới về môi trường mà trong đó có sự can dự của thị trường tự do nhiều hơn sự can dự của nhà nước, thì Trung Quốc lại tiêu biểu cho một môi trường chuyển tiếp với các thể chế văn hóa – trước đây chủ yếu được tài trợ trực tiếp từ ngân quỹ nhà nước – đang áp dụng phương thức kết hợp giữa doanh nghiệp và trợ cấp Điều này cho thấy Trung Quốc phần nào đã có những thay đổi về nhận thức phát triển, coi văn hóa là hướng đi mới trong chiến lược phát triển kinh tế

Như vậy, hướng nghiên cứu thứ sáu đã cho thấy, trong tương quan với thị

trường thế giới, sức cạnh tranh của ngành công nghiệp văn hóa Trung Quốc vẫn còn tương đối yếu Những vấn đề về thể chế, vai trò can thiệp của Nhà nước trong hoạt động sáng tạo là một trong những nguyên nhân làm giảm đáng kể sức sản xuất của các ngành văn hóa Trung Quốc

Hướng nghiên cứu cuối cùng là hướng nghiên cứu về ngành công nghiệp văn hóa dân tộc thiểu số Nằm trong chủ đề về phát triển và tăng trưởng

bền vững, với một quốc gia có đến 56 dân tộc cùng chung sống, giá trị văn hóa phong phú đa dạng, đối với Trung Quốc, mảng nghiên cứu về công nghiệp văn hóa các dân tộc thiểu số rất được chú trọng Công trình “Cương yếu lý luận về công nghiệp văn hóa dân tộc” (民族文化产业论纲)(2014)[84] của các tác giả Trần Khánh Đức, Đặng Vũ và Phan Xuân Mai là công trình tiêu biểu cho hướng

đi này Từ góc nhìn dân tộc học, cuốn sách đã đưa ra một số vấn đề mang tính lý luận cơ bản trong lĩnh vực công nghiệp văn hóa Luận điểm quan trọng mà các tác giả đưa ra là: Khi chúng ta đối diện với thực tế là văn hóa (biểu đạt thông qua hình thức sản phẩm, và ứng dụng thông qua hình thức vốn) được sản xuất rộng rãi trong xã hội đương đại thì nên chăng phải lấy tính chất cơ bản và đặc điểm nổi bật

Trang 32

28

của sản phẩm văn hóa làm cơ sở, nhằm đưa ra khung lý luận hữu dụng đối với thực tế này? Cuốn sách này còn đi sâu phân tích các vấn đề cơ bản của xã hội trong quá trình sản xuất công nghiệp văn hóa Lần lượt từ góc độ sản phẩm văn hóa và ngành công nghiệp văn hóa, đi theo mạch trưởng thành của công nghiệp văn hóa dân tộc, cuốn sách đi sâu phân tích các vấn đề như địa điểm sản xuất, phân loại, phương thức tổ chức thị trường, biểu đạt mang tính xã hội, an ninh văn hóa.v.v

Tóm lại, từ những tài liệu tiếp cận được, luận án nhận thấy tình hình

nghiên cứu vấn đề công nghiệp văn hóa của các học giả Trung Quốc phong phú

về chủ đề, đa dạng về nội dung, đề cập đến nhiều vấn đề cốt lõi của ngành Bảy

hướng nghiên cứu chính từ lý luận đến thực tiễn đã dựng nên bức tranh tổng hợp, nhiều màu sắc, góc độ về ngành công nghiệp văn hóa Trung Quốc Mặc dù, ra đời tương đối muộn so với khu vực và thế giới, song ngành công nghiệp văn hóa Trung Quốc đang thể hiện vai trò ngày càng quan trọng trong cả hai lĩnh vực kinh

tế và văn hóa

1.1.2 Học giả ngoài Trung Quốc

Cùng với sự hấp dẫn của đất nước có nền văn hóa, văn minh lâu đời, những nghiên cứu về ngành công nghiệp văn hóa Trung Quốc cũng là chủ đề thu hút sự quan tâm của học giả nước ngoài Thông qua những tài liệu tiếp cận được, Luận án nhận thấy ba hướng nghiên cứu nổi bật của học giả các nước phương Tây

về ngành công nghiệp văn hóa nước này:

Thứ nhất, hướng nghiên cứu mang tính lý luận về ngành công nghiệp văn hóa Trong hướng nghiên cứu này, Luận án chủ yếu đi sâu điểm luận lại

những nghiên cứu mang tính kinh điển về công nghiệp văn hóa của các học giả được coi là cha đẻ của khái niệm này Công trình tiêu biểu trước tiên phải kể đến

là cuốn “Biện chứng của sự khai sáng” (Dialectic of Enlightenment), xuất bản

năm 1947 [77] tại Amsterdam của hai triết gia người Đức Theodor W.Adorno và

Max Horkheimer Trong đó, chương sách “Công nghiệp văn hóa: Sự khai sáng

lừa dối đại chúng” (The Culture Industry: Enlightenment as Mass Deception) đã

Trang 33

29

tập trung phân tích sự ra đời của “công nghiệp văn hóa” dưới sự tác động của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ hai với những sáng chế ở ngành in và hơi nước Ngay từ đầu, nó là khái niệm mang tính phê phán sâu sắc Adorno phê bình công nghiệp văn hóa thông qua việc các nhà sản xuất kiểm soát từ trên xuống, cắt xén bất cứ hi vọng nào mà văn hóa “nảy sinh tức thì từ chính quần chúng” Adorno đã thay thế văn hóa đại chúng thành công nghiệp văn hóa để diễn tả rằng văn hóa đại chúng không có nghĩa là nó đến từ đại chúng mà nó được sản xuất cho đại chúng Adorno nói một cách mỉa mai rằng, khi những hình thức văn hóa hay tác phẩm nghệ thuật bị biến thành hàng hóa nhằm tạo ra lợi nhuận cho người sáng lập ra nó thì lợi nhuận trở nên quan trọng hơn những biểu hiện nghệ thuật Mặt khác, Horkheimer và Adorno cũng nhấn mạnh, đặc tính quan trọng của nền công nghiệp văn hóa là bắt chước Chính điều này sẽ làm giảm tính độc quyền, giá trị nghệ thuật của sản phẩm văn hóa Do vậy, việc Horkheimer và Adorno đưa

ra khái niệm “công nghiệp văn hóa” là muốn cảnh báo quá trình công nghiệp hóa, sao chép hóa các sản phẩm văn hóa

Tiếp sau những tiền đề mang tính lý thuyết của Horkheimer và Adorno, nghiên cứu “công nghiệp văn hóa” theo hướng tiếp cận về lý luận vẫn là chủ đề

hấp dẫn với các học giả phương Tây Tiêu biểu có bài viết: “Theodor Adorno và

công nghiệp văn hóa” (Theodor Adorno and the Culture Industry, 1984) [61] của

tác giả Gordon Welty – Đại học Wright State Lấy cảm hứng từ những bài viết của Adorno, Gordon Welty đã tập trung xem xét lại ý niệm về “công nghiệp văn hóa” Welty cho rằng, triết gia Adorno đã cung cấp học thuyết về bản chất sản phẩm văn hóa và giá trị của nó ở mức phù hợp Tác giả nhấn mạnh, tầm quan trọng trong suy nghĩ của Adorno về công nghiệp văn hóa trong thời đại ngày nay ngày càng trở nên rõ ràng Một mặt, những phân tích về văn hóa đại chúng, xã hội đại chúng vẫn chưa thỏa đáng, cần phải đi sâu nghiên cứu về một bộ phận văn hóa đang từng bước thay đổi suy nghĩ, thái độ, tập tục văn hóa của quần chúng Mặt khác, tác giả cũng khẳng định sức hấp dẫn cuả công nghiệp văn hóa đang ngày càng phát triển

Trang 34

30

Học giả Ieva Moore trong bài viết “Ý niệm về các ngành công nghiệp sáng

tạo và văn hóa – từ cái nhìn lịch sử” (Cultural and Creative Industries Concept –

A Historical Perspective) (2014) [65] lại đưa ra cách hiểu về những nguyên tắc của các ngành công nghiệp văn hóa sáng tạo cùng với ý niệm về nền kinh tế sáng tạo thông qua việc sử dụng luận cứ lịch sử từ một số tác phẩm có liên quan Tác giả cho rằng thật quan trọng để hiểu các ngành công nghiệp sáng tạo phát triển từ các ngành công nghiệp văn hóa bởi lịch sử của các ngành công nghiệp văn hóa được đặt nền móng trong cuộc cách mạng công nghiệp vào thế kỷ 19, đến suốt thập niên 30 khi thuật ngữ các ngành công nghiệp văn hóa được sử dụng lần đầu mặc dù theo cách phê bình Theo tác giả, nếu như những năm 30 của thế kỷ XX, theo quan điểm của Adorno và Horkheimer, công nghiệp văn hóa biến các sản phẩm văn hóa thành hàng hóa và biến những người sản xuất văn hóa thành nhân công được trả lương trong các công ty quy mô lớn ngày càng tập trung thì sau thập niên 1990 đến nay, công nghiệp văn hóa ám chỉ tới các ngành công nghiệp kết hợp sự sáng tạo, sản xuất và thương mại hóa Các nội dung được bảo vệ đặc thù bởi bản quyền và chúng có thể nằm dưới dạng hàng hóa hoặc dịch vụ Tác giả cho rằng, trong thế kỷ 21, phát triển kinh tế dựa trên cải tiến, đặt sự sáng tạo trong nhận thức mới của nền kinh tế dịch vụ hậu công nghiệp Do vậy, các ngành công nghiệp sáng tạo cần được xem xét trong bối cảnh kỹ thuật số và không chỉ có văn hóa mà là văn hóa dựa trên sự sáng tạo

Có thể thấy rằng, những nghiên cứu mang tính lý thuyết về công nghiệp văn hóa của học giả phương Tây chủ yếu đi sâu chỉ ra nguồn gốc ra đời cũng như những tính chất đặc trưng ban đầu của nó Hành trình từ “phê phán sâu sắc” đến

sự “thừa nhận tất yếu” của các học giả đối với công nghiệp văn hóa đã cho thấy sức hấp dẫn của nó trong bối cảnh mới – nền kinh tế hậu công nghiệp

Hướng thứ hai thu hút sự quan tâm của học giả phương Tây đó là những nghiên cứu đi sâu phân tích tính sáng tạo trong ngành công nghiệp văn hóa Trung Quốc Trung Quốc được xem là công xưởng của thế giới, nơi mà sự

“sao chép” và “đánh cắp bản quyền” từng là nỗi lo sợ của các doanh nghiệp phương Tây Và thế giới thường nói đến một “Trung Quốc chế tạo” nhiều hơn là

Trang 35

31

một “Trung Quốc sáng tạo” Mặt khác, ngay trước và sau khi cải cách mở cửa, thể chế quản lý với bàn tay can thiệp sâu sắc của Nhà nước cũng làm cho tính sáng tạo là một yếu tố không được đánh giá cao trong các ngành kinh tế Trung Quốc Có lẽ bởi vậy, phân tích tính sáng tạo trong ngành công nghiệp văn hóa Trung Quốc là một chủ đề được các học giả phương Tây quan tâm

Trong đó, Luận án đặc biệt tâm đắc với những nghiên cứu chuyên sâu của Giáo sư Michael Keane, Giám đốc Chương trình nghiên cứu Nội dung số Trung Quốc tại Đại học Curtin, Ốt-xtrây-lia Bắt đầu từ thập niên đầu của thế kỷ XXI, giáo sư Keane đã có nhiều bài nghiên cứu và công trình xuất bản đi sâu tìm hiểu

về chính sách phát triển văn hóa, tập trung phân tích tính sáng tạo và cơ chế cổ vũ của chính phủ Trung Quốc đối với ngành công nghiệp văn hóa, trong đó nhấn mạnh đến lĩnh vực truyền hình, truyền thông

Ngay từ khi ngành công nghiệp văn hóa Trung Quốc mới bắt đầu phát triển, Micheal Keane đã đi tìm câu trả lời cho những câu hỏi như: “Liệu Trung Quốc có khả năng phát triển nền kinh tế sáng tạo đích thực và tiếp bước các nước

và vùng lãnh thổ đã thành công như Hàn Quốc, Nhật Bản, Hồng Kông, Đài Loan

và Singapore không?” “Thế giới mới can đảm: Tìm hiểu về tầm nhìn sáng tạo

của Trung Quốc” (Brave new world: understanding China’s creative vision)

(2004) [71] là bài viết đi sâu vào chủ đề đó Tác giả cho rằng, “nền kinh tế văn hóa của Trung Quốc được đặt bấp bênh giữa cải tiến và bắt chước, mô phỏng Mặc dù nhiều khẩu hiệu nhằm nhấn mạnh tới tầm quan trọng của đổi mới nhưng hầu hết các trường hợp cải tiến chỉ xuất hiện ở giai đoạn hình thành và phân bổ chuỗi giá trị thay vì lấy tính sáng tạo làm cốt lõi ngay ở giai đoạn dựa trên các khái niệm” Bài viết nhấn mạnh rằng, có lẽ tính sáng tạo thực sự là một yếu tố thiếu hụt trong hệ thống đổi mới Trung Quốc Bài viết nhấn mạnh, chế độ quản lý, chính sách từ cơ quan kiểm duyệt có thể sẽ là sự ngăn trở đối với sáng tạo tại Trung Quốc, cho dù nước này có những tác động từ bên trong lẫn bên ngoài đến

sự đòi hỏi đổi mới và sáng tạo

Công nghiệp văn hóa là một khái niệm đa cách hiểu, mỗi một quốc gia, một tổ chức lại có một cách gọi riêng Nó là công nghiệp văn hóa, công nghiệp

Trang 36

32

sáng tạo hay công nghiệp nội dung thì vẫn là một chủ đề thảo luận sôi nổi của giới hoạch định chính sách và các nhà nghiên cứu Trung Quốc cũng không là

loại trừ Bài viết “Công nghiệp sáng tạo ở Trung Quốc: Bốn cách hiểu về biến đổi

xã hội” (Creative industries in China: four perspective on social transformation)

(2009) [73] của Giáo sư Keane đã đưa ra một số giả thuyết kiểm tra sự phổ biến của các ngành công nghiệp văn hóa tại Trung Quốc Bốn giả thuyết mà bài viết đưa ra gồm: (1).Ý tưởng về các ngành công nghệp sáng tạo, hay về tính sáng tạo đều không có xuất xứ từ Trung Quốc Trong khi chính sách hợp thời hiện nay đối với chúng không tạo ra bất cứ sự thay đổi đáng kể nào; tức càng nhiều thứ thay đổi thì chúng càng bất động (2) Về cơ bản các ngành công nghiệp sáng tạo bị hiểu sai tại Trung Quốc và được giải thích hợp lý hơn như các ngành công nghiệp văn hóa; bởi truyền thống văn hóa ảnh hưởng nhiều tới hoạch định chính sách làm chúng ít có hi vọng thay đổi (3) Các ngành công nghiệp văn hóa ở Trung Quốc luôn được quản lý bởi Đảng, nên phủ nhận tính tích cực kết hợp với tự do nghệ thuật từ phương Tây (4) Các ngành công nghiệp đang thay đổi Trung Quốc; sự thay đổi có tính thể chế, cơ bản và đang diễn ra cùng với khác biệt địa lý Bên cạnh việc đưa ra luận giải cho các giả thuyết, bài viết cũng giới thiệu những tranh luận giữa học giả nước ngoài và Trung Quốc về một số khác biệt trong quan niệm

“sáng tạo”

Bài viết “Tìm hiểu tác động của chính sách thúc đẩy công nghiệp văn hóa

của Trung Quốc đối với sự phát triển ngành công nghiệp Anime và Game” (中国

における文化産業振興政策がアニメ産業およびゲーム産業の発展に与えた影響に対する一考察) [188] của giáo sư Nakamura Akinori (Khoa nghiên cứu Hình ảnh, Đại học Tổng hợp Ritsumeikan, Nhật Bản) đi sâu phân tích chính sách khuyến khích phát triển các ngành công nghiệp văn hoá, chú trọng yếu tố sáng tạo của Trung Quốc Tác giả khái quát một bức tranh tổng thể về hai ngành công nghiệp vô cùng gần gũi với nhau đó là Anime (hoạt hình) và Game (trò chơi điện tử) Sau khi luận giải những điểm khác biệt của chính sách hỗ trợ mà hai ngành này đã nhận được, bài viết tiến hành phân tích phiếu điều tra mà đối tượng chính

là những doanh nghiệp thuộc hai nghành công nghiệp nói trên Dựa vào đó, tác giả dành nhiều dung lượng của bài viết tiến hành kiểm chứng, phân tích tầm quan

Trang 37

33

trọng của chính sách thúc đẩy phát triển các doanh nghiệp thuộc ngành Anime và Game của Trung Quốc

Mặc dù ngành công nghiệp văn hóa Trung Quốc ra đời muộn và những thành quả đạt được so với các nước phát triển còn là một trời một vực Song do những năm gần đây, chiến lược gia tăng sức mạnh mềm trên bình diện văn hóa của cường quốc kinh tế lớn thứ hai thế giới này không ngừng được đẩy mạnh nên

các vấn đề về công nghiệp văn hóa trong mối tương quan với sức mạnh mềm

được học giả nước ngoài đặc biệt chú ý Đây cũng chính là điểm luận thứ ba về

tình hình nghiên cứu của học giả nước ngoài đối với công nghiệp văn hóa Trung Quốc

Tiêu biểu cho hướng nghiên cứu này là công trình “Từ quyền năng mềm

hướng tới thế mạnh văn hóa” (2012) được công bố trong Tạp chí Global Affairs

(Tạp chí “Nước Nga trong nền chính trị toàn cầu”) của học giả Olga Borokh – Phó tiến sỹ kinh tế học, cộng tác viên khoa học hàng đầu Viện Viễn Đông, Viện Hàn lâm Khoa học Nga và học giả A.V Lomanov – Tiến sỹ Sử học, nghiên cứu viên khoa học chính, Viện Viễn Đông [5] Bài viết đã phân tích tương đối sâu sắc chủ trương xây dựng quyền năng mềm dựa trên những lợi thế văn hóa cũng như tầm quan trọng của nó đối với sự phát triển của Trung Quốc Tác giả cũng đã so sánh những giá trị phổ quát của hai cường quốc kinh tế hàng đầu thế giới là Mỹ

và Trung Quốc Ngoài ra, công trình này cũng nêu bật những thành tích nổi bật của chiến lược quyền năng mềm của Chính phủ Trung Quốc thông qua sự phát triển của Học viện Khổng Tử và xuất khẩu văn hóa Mặc dù tác giả có nói đến sự

“sải bước khắp hành tinh của Khổng Tử” nhưng bài viết cũng đưa ra nhiều góc nhìn của hiện tượng này Không phải nước nào cũng đón nhận ý đồ chính trị dưới

vỏ bọc văn hóa này Đối với lĩnh vực xuất khẩu văn hóa, bài viết chỉ ra lợi thế cạnh tranh của nền văn hóa Trung Hoa độc đáo và cổ xưa, đây cũng là yếu tố được tác giả đánh giá là cơ sở để cạnh tranh với nền công nghiệp văn hóa hiện đại, mang tính giải trí cao của Mỹ Tác giả cho rằng để văn hóa Trung Quốc có thể đạt được thành tích trên sàn diễn thế giới thì ngoài những thay đổi về cơ cấu, chi phí

Trang 38

34

đầu tư, còn cần phải củng cố “sự tự ý thức văn hóa” của người dân Trung Quốc, đưa ra được những sản phẩm đủ khả năng cạnh tranh

Đi sâu vào chủ đề này, học giả Olga Borokh trong bài viết “Vai trò của

văn hóa trong việc gia tăng tiềm năng sức mạnh mềm Trung Quốc, xuất khẩu sản phẩm văn hóa Trung Quốc ra nước ngoài” (2012) [4] đã phân tích sâu sắc về tầm

quan trọng của công nghiệp văn hóa đối với chiến lược gia tăng sức mạnh mềm của Trung Quốc Tác giả cho rằng, trong chiến lược “đi ra ngoài”, khẩu hiệu gia tăng sức mạnh mềm có nghĩa là tìm kiếm biện pháp gia tăng sự hấp dẫn thương mại của công nghiệp văn hóa Trung Quốc cũng như tạo ra những ưu thế mới trong lĩnh vực này để tham gia vào hợp tác quốc tế và cạnh tranh toàn cầu Bài viết đánh giá tình hình xuất khẩu của công nghiệp văn hóa Trung Quốc, đặc biệt

là chỗ đứng của các sản phẩm văn hóa nước này tại thị trường Mỹ Điểm nhấn của công trình chính là những phân tích sâu sắc về bài toán nan giải của xuất khẩu ngành nghề văn hóa Trung Quốc hiện nay: Làm thế nào để văn hóa Trung Quốc thích ứng với nhu cầu của công chúng nước ngoài Tác giả không chỉ đưa ra đánh giá của riêng mình mà còn tổng hợp được nhiều ý kiến của chính những nhà nghiên cứu văn hóa Trung Quốc đánh giá về điểm yếu này Trong đó có ý kiến cho rằng, điều cần thiết để xuất khẩu văn hóa Trung Quốc ra nước ngoài là phải hiểu nhu cầu tại thị trường nước ngoài, tình hình thưởng thức văn hóa, tâm lý tiêu dùng của cư dân, thói quen tiêu dùng kể cả những thói quen địa phương cũng như luật pháp địa phương Trung Quốc phải nỗ lực để thị trường nước ngoài chấp nhận sản phẩm của họ, không đồng nhất giữa “xuất khẩu văn hóa” và “gửi văn hóa”

Bên cạnh việc đi sâu phân tích về nội hàm khái niệm, những bóc tách xung quanh tính sáng tạo của ngành công nghiệp văn hóa, Micheal Keane còn chú trọng đến những nghiên cứu về xuất khẩu văn hóa Trung Quốc – một trong những

nội dung trụ cột của ngành công nghiệp văn hóa nước này Bài viết “Xuất khẩu

văn hóa Trung Quốc: Mô hình đầu tư vốn cho công nghiệp phim và truyền hình”

(Exporting Chinese Culture: Industry Financing Models in Film and Television) (2006) [72] đã khảo sát việc cấp vốn cho các ngành công nghiệp sáng tạo tại

Trang 39

35

Trung Quốc, trong đó tập trung phân tích nội dung sáng tạo có thể xuất khẩu thay

vì việc cung cấp cơ sở hạ tầng hướng tới đổi mới trong nền kinh tế toàn cầu Bài viết cũng nhấn mạnh đến sự kết hợp giữa đầu vào sáng tạo và tài chính trong sản xuất, phân phối và quảng bá phim ảnh, truyền hình Theo đó, bài viết đưa ra lộ trình chuyển biến gồm năm bước để Trung Quốc từ một nền tảng sản xuất trong nước với giá thành thấp bước vào thị trường xuất khẩu cạnh tranh: (1) Gia công giá rẻ (2) Thực hành nhân bản (3) Quốc tế hóa thông qua nhượng quyền và đồng sản xuất (4) Tìm kiếm thị trường thích hợp (5) Hướng tới thị trường xuất khẩu

có giá trị cao thông qua chính sách

Ngoài ra, bài viết “Trung Quốc cố gắng xuất khẩu văn hóa khi tầm ảnh

hưởng gia tăng” của tác giả Anthony Kuhn, một nhà báo quốc tế, hiện đang làm

việc tại Jakarta, Indonesia cũng đáng chú ý Khi tầm ảnh hưởng của Trung Quốc ngày càng mở rộng trên phạm vi toàn cầu, Trung Quốc muốn cả thế giới thấy được sự hiện diện của mình bằng việc sử dụng sức mạnh mềm với công cụ là xuất khẩu văn hóa Trong đó, việc mở hàng trăm trường học lấy tên của Khổng Tử trên toàn thế giới là một trong những nỗ lực nổi bật của Trung Quốc trong chiến lược này Nền Nho giáo tại Trung Quốc trải qua nhiều thời kỳ phát triển và đóng vai trò quan trọng trong cuộc sống của người dân Trung Quốc Đây cũng là công cụ giúp Trung Quốc tạo ra sức mạnh mềm tại khu vực châu Á trong nhiều thế kỷ Hiện nay, Trung Quốc đã và đang đưa Nho giáo đến nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới Bài viết cũng trích lời Ge Jianxiong, một nhà sử học của Trường Đại học Shanghai's Fudan chỉ ra rằng việc xuất khẩu các giá trị văn hóa khó hơn rất nhiều việc xuất khẩu các sản phẩm thông thường Tác giả cũng nhấn mạnh rằng, một cách tạo ảnh hưởng khác đối với các quốc gia khác trên thế giới chính

là việc Trung Quốc tự tạo ra một hình mẫu ngay tại chính quốc để các quốc gia khác học tập

Học giả Nhật Bản Kamada Fumihiko và Tsuda Miyuki trong công trình

“Trung Quốc nâng cao sức mạnh mềm văn hóa” (文化的発信を強化する中国) (2010) [187] cũng thống nhất cho rằng ngành công nghiệp văn hoá là một phương

Trang 40

36

thức quan trọng trong chính sách gia tăng sức mạnh mềm văn hoá của Trung Quốc Sau khi phân tích những thay đổi về mặt chính sách phát triển văn hoá của Trung Quốc, nhóm tác giả đã dành phần lớn nội dung (chương 2 và chương 3) để trình bày về sự phát triển công nghiệp văn hóa Trung Quốc trên các lĩnh vực: (ii) chính sách thúc đẩy công nghiệp văn hóa; (iii) tổng quát về công nghiệp văn hóa Trung Quốc, ngành công nghiệp Anime; (iv) công nghiệp phim ảnh Ngoài ra, nhóm tác giả còn đi sâu phân tích các hình thức gia tăng sức mạnh văn hóa Trung Quốc ra với thế giới trên các lĩnh vực như: (i) tăng cường giao lưu văn hóa; (ii) xây dựng trung tâm văn hóa Trung Quốc; (iii) xây dựng các Học viện Khổng Tử; (iv) chiến lược văn hóa đối ngoại của Trung Quốc trong những giai đoạn tiếp theo

Có thể thấy, các sản phẩm công nghiệp văn hoá Trung Quốc chính là nội dung chủ yếu của quá trình này

Có thể thấy, điểm mạnh của các nghiên cứu do các học giả ngoài Trung Quốc tiến hành liên quan đến vấn đề công nghiệp văn hóa Trung Quốc đó là tính khách quan, mạch lạc và những đánh giá sâu sắc Phần lớn các nghiên cứu đều đề cao vai trò của công nghiệp văn hóa trong chiến lược gia tăng sức mạnh mềm của Trung Quốc Song, họ cũng khẳng định rằng, bên cạnh một số thành công ban đầu mà công nghiệp văn hóa nước này giành được trên thị trường thế giới thì ngành này vẫn còn tương đối non yếu trong cạnh tranh quốc tế Đặc biệt, các học giả cũng nhấn mạnh rằng, Trung Quốc chưa tận dụng được những ưu thế kho tàng văn hóa, mà hoặc là xuất khẩu văn hóa mang nhiều màu sắc chính trị hoặc là chạy theo các cách làm của phương Tây, không chú ý tìm hiểu xem đối tượng người tiêu dùng nước ngoài cảm nhận thế nào về sản phẩm văn hóa của họ

1.2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CỦA HỌC GIẢ TRONG NƯỚC

Cùng với “sức nóng” của việc ra đời “Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030” do Thủ tướng Chính phủ giao cho Bộ Văn hóa – Thể thao và Du lịch cùng các bộ ngành liên quan thực hiện, những nghiên cứu về chủ đề công nghiệp văn hóa nói chung

và công nghiệp văn hóa Trung Quốc nói riêng tại Việt Nam ngày càng phong phú

và đa dạng

Ngày đăng: 15/11/2019, 12:03

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w