1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Biến đổi trong hôn nhân của người Cao Lan xã Lục Sơn, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang

121 80 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 121
Dung lượng 4,15 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thứ nhất: Luận văn nghiên cứu và trình bày tổng quan về tộc người Cao Lan tại địa bàn xã Lục Sơn, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang Thứ hai: Luận văn đã trình bày một cách hệ thống những nghi thức hôn nhân truyền thống (từ năm 1986 trở về trước) của người Cao Lan xã Lục Sơn, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang. Thứ ba: Trên cơ sở nghiên cứu nghi lễ hôn nhân truyền thống của người Cao Lan, tác giả tìm hiểu những biến đổi trong hôn nhân giai đoạn hiện nay, chỉ ra đặc điểm, những nguyên nhân của sự biến đổi và bước đầu nhận định xu hướng biến đổi hôn nhân trong giai đoạn tiếp theo.

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-****** -

Trần Ái Vân

BIẾN ĐỔI TRONG HÔN NHÂN CỦA NGƯỜI CAO LAN

XÃ LỤC SƠN, HUYỆN LỤC NAM, TỈNH BẮC GIANG

LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ

HÀ NỘI - 2018

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-****** -

Trần Ái Vân

BIẾN ĐỔI TRONG HÔN NHÂN CỦA NGƯỜI CAO LAN

XÃ LỤC SƠN, HUYỆN LỤC NAM, TỈNH BẮC GIANG

LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ

Người hướng dẫn khoa học: TS Đinh Đức Tiến

XÁC NHẬN HỌC VIÊN ĐÃ CHỈNH SỬA THEO GÓP Ý CỦA HỘI ĐỒNG Giáo viên hướng dẫn Chủ tịch hội đồng chấm luận văn

thạc sĩ khoa học

TS Đinh Đức Tiến GS.TS Nguyễn Quang Ngọc

HÀ NỘI - 2018

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn Biến đổi trong hôn nhân của người Cao Lan

xã Lục Sơn, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang là do tôi thực hiện Trong quá trình thực hiện Luận văn, tôi đã thu thập tài liệu tại địa bàn nghiên cứu và những tài liệu từ những nhà nghiên cứu trước đó đều được trích dẫn nguồn đầy đủ Tôi xin chịu trách nhiệm về lời cam đoan này

Học viên

Trần Ái Vân

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành bản Luận văn này, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới các thầy giáo, cô giáo Khoa Lịch sử, trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, các anh chị công tác tại Viện Dân tộc học, các cô chú, anh, chị làm việc tại UBND xã Lục Sơn, UBND huyện Lục Nam, nhân dân tại địa bàn nghiên cứu và đặc biệt, người hướng dẫn khoa học chính - TS Đinh Đức Tiến

- đã tận tình giúp đỡ để Luận văn này được hoàn thành

Xin cho phép tác giả ghi ơn từ đáy lòng mình

Học viên Trần Ái Vân

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Cao Lan là một nhánh địa phương trong tộc người Sán Chay có dân số không đông, cư trú rải rác tại các tỉnh thuộc khu vực trung du miền núi Đông Bắc Đây là một trong tám tộc người sinh tụ, góp phần hình thành những giá trị văn hoá tại 4 huyện miền núi Sơn Động, Yên Thế, Lục Nam, Lục Ngạn của tỉnh Bắc Giang Đến nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu về người Cao Lan ở Việt Nam nói chung, ở Bắc Giang nói riêng Hầu hết, các công trình tập trung vào các lĩnh vực liên quan đến lịch sử tộc người, hoạt động kinh tế, văn hoá vật chất, tôn giáo tín ngưỡng Tuy nhiên, những chuyên khảo về gia đình và hôn nhân người Cao Lan tới nay còn khá khiêm tốn Trong khi đó, hôn nhân là một trong những biểu hiện sắc thái độc đáo của văn hoá truyền thống cũng như quá trình của mỗi tộc người trên lãnh thổ Việt Nam nói chung và người Cao Lan ở Bắc Giang nói riêng Đây là một lĩnh vực nghiên cứu quan trọng, đóng vai trò to lớn trong việc giữ gìn và bảo tồn các giá trị văn hóa tộc người Thông qua việc thực hành các nghi lễ trong hôn nhân, trang phục cưới xin, văn hóa ẩm thực, mối quan hệ giữa các thành viên trong gia đình với cộng đồng có thể thấy được lịch sử phát triển cũng như các quan niệm, các giá trị văn hóa truyền thống hay chính là những nét đặc trưng để có thể phân biệt tộc người này với tộc người khác, tạo nên bản sắc riêng của văn hóa tộc người trong bức tranh đa sắc trong cộng đồng các sắc tộc ở Việt Nam

Trên thực tế, trong bối cảnh xã hội ngày một phát triển, quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa góp phần thúc đẩy quá trình cộng cư giữa các tộc người ngày càng diễn ra mạnh mẽ Văn hóa của mỗi tộc người ở Việt Nam nói chung và ở Bắc Giang nói riêng vì thế mà hiện đang có những biến đổi sâu sắc Đây có thể coi là một tất yếu trong quá trình vận động của xã hội Những tư liệu thu thập được khi nghiên cứu sâu về hôn nhân của người Cao Lan sẽ góp phần phác hoạ bức tranh sinh động

về phong tục cưới xin và lối sống của người Cao Lan Đặc biệt, trong bối cảnh hiện nay, đổi mới, hội nhập cùng việc thực hiện các chính sách đầu tư phát triển kinh tế, đời sống xã hội ở Việt Nam đang biến đổi mạnh mẽ, trong đó có tỉnh Bắc Giang

Trang 6

Điều đó cũng đã tác động không nhỏ tới đời sống hôn nhân của người dân nói chung, người Cao Lan ở Bắc Giang nói riêng Tập quán liên quan đến hôn nhân vì thế, đã và đang biến đổi sâu sắc, nhất là hình thức tổ chức lễ cưới đang dần thay đổi

để phù hợp với xu hướng giao lưu, hội nhập văn hoá

Xã miền núi Lục Sơn thuộc huyện Lục Nam có 17 thôn, trong đó, 3 thôn (Rừng Long, Trại Cao, Khe Nghè) có tới gần 100% người Cao Lan sinh sống Đây

là xã có điều kiện giao thông đi lại khá khó khăn nên cuộc sống của nhóm cư dân này về cơ bản còn lưu giữ được những yếu tố văn hóa truyền thống Tuy nhiên cùng với sự phát triển chung của đất nước, nhất là từ sau công cuộc đổi mới năm 1986, đời sống của đồng bào nơi đây có nhiều thay đổi, đặc biệt những tập quán trong hôn nhân/cưới hỏi Vấn đề đặt ra là, hôn nhân truyền thống của người Cao Lan nơi đây

đã có những đặc trưng gì? Từ sau Đổi mới năm 1986, tập quán hôn nhân người Cao Lan đã thay đổi ra sao? Những nguyên nhân nào đưa tới sự biến đổi đó và xu hướng biến đổi trong hôn nhân của người Cao Lan? Trả lời được những câu hỏi đó phần nào đưa ra những kết quả khoa học giúp các nhà hoạch định chính sách có những giải pháp phù hợp góp phần bảo lưu những giá trị văn hóa truyền thống của đồng bào Cao Lan nói riêng và các tộc người thiểu số nói chung trong giai đoạn hiện nay Nhất là trong bối cảnh, Đảng và Nhà nước đang tập trung nguồn lực để phát triển và xây dựng mô hình nông thôn mới Vậy, nghiên cứu những biến đổi trong đời sống văn hóa của mỗi nhóm cư dân (trong đó có biến đổi hôn nhân) là một vấn đề cần thiết và cấp bách trong bối cảnh xã hội hiện nay

- Là một giáo viên giảng dạy lịch sử trên địa bàn tỉnh Bắc Giang, việc tìm hiểu

để cập nhật tri thức về phong tục tập quán các tộc người thiểu số sẽ không chỉ góp phần nâng cao trình độ chuyên môn của bản thân trong quá trình giảng dạy, mà còn xây dựng được các chuyên đề về lịch sử địa phương, cung cấp tri thức tới các em học sinh trên địa bàn của tỉnh Bắc Giang

- Với những lý do trên, tôi chọn “Biến đổi trong hôn nhân của người Cao Lan xã Lục Sơn, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang” làm đề tài Luận văn Thạc sĩ

chuyên ngành Lịch sử văn hoá Việt Nam

Trang 7

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Nghiên cứu về tộc người Sán Chay (Cao Lan - Sán Chí) đã có khá nhiều công trình của các nhà khoa học đi trước Những nghiên cứu ấy, vừa cung cấp cho tác giả luận văn những tri thức/hiểu biết có tính chất nền tảng/cơ sở về nhóm tộc người Sán Chay, đồng thời, vừa gợi mở hướng triển khai khác với những nghiên cứu trước đó

Có thể kể đến một số công trình nghiên cứu như: “Tìm hiểu về nguồn gốc lịch

sử của người Cao Lan của Lã Văn Lô” (in trong Tạp chí Nghiên cứu lịch sử số 55,

tháng 10/1963); “Trở lại vấn đề nguồn gốc lịch sử người Cao Lan” của Chu Quang

Trứ (in trong Tạp chí Dân tộc học, số 45, tháng 6/1964); “Về mối quan hệ tộc người giữa hai nhóm Cao Lan và Sán Chí” của Nguyễn Nam Tiến (in trong Thông báo

Dân tộc học, số 1/1972); Ngoài ra, còn một số công trình chuyên khảo, tiểu luận

khác viết/nghiên cứu trực tiếp về dân tộc Cao Lan, Sán Chí của các nhà dân tộc học như Đặng Nghiêm Vạn, Nguyễn Khắc Tụng, Lã Văn Lô Nhìn chung các công trình nghiên cứu này chủ yếu đặt ra mục đích khảo sát dân tộc học (mô tả dân tộc chí), đi sâu vào vấn đề lịch sử tộc người (nguồn gốc, quá trình di cư, định cư và sinh sống), xác định tên gọi (xác định tộc danh) và nghiên cứu văn hóa vật thể cũng như văn hóa phi vật thể ở miền núi phía Bắc Việt Nam Vì hướng nghiên cứu của các học giả đi trước tập trung vào các vấn đề trên, nên việc tìm hiểu về hôn nhân của tộc người Cao Lan được đề cập đến rất sơ sài hoặc không đề cập đến

Liên quan đến không gian nghiên cứu của đề tài, nhà dân tộc học Khổng Diễn

có công trình Dân tộc Sán Chay ở Việt Nam Trong công trình này, các tác giả đã

giới thiệu một cách tương đối cụ thể, toàn diện về dân tộc Sán Chay ở Việt Nam Tập trung chủ yếu vào các nội dung như: Điều kiện tự nhiên, dân cư và dân số, những nét cơ bản trong đời sống kinh tế truyền thống và đời sống kinh tế hiện nay Tác giả cũng trình bày khái quát những nội dung cơ bản trong tổ chức xã hội, việc hình thành các thôn bản, dòng họ, hôn nhân và gia đình Cùng với những đặc điểm chính về đời sống vật chất như nhà cửa, trang phục, đồ ăn, uống (ẩm thực), thức hút cũng như đời sồng tinh thần của đồng bào như tôn giáo, tín ngưỡng, các nghi

lễ gia đình, một số tập tục kiêng cữ cùng ngôn ngữ và văn nghệ dân gian

Trang 8

Bên cạnh đó còn có một số tiểu luận, bài nghiên cứu đăng trong tải trong Di

sản Văn hóa Bắc Giang tập II (Bảo tàng Bắc Giang - 2005) Những chuyên luận

này tập trung nghiên cứu các phong tục tập quán trong lễ tết, các nghi lễ vòng đời, tri thức dân gian (tri thức bản địa) trong chữa bệnh và các hình thức văn nghệ dân gian khác, đặc biệt là hát Sịnh ca - một loại hình nghệ thuật diễn xướng đặc thù của người Cao Lan ở Bắc Giang

Ngoài ra còn có những công trình nghiên cứu trực tiếp về chủ đề hôn nhân

như: Lễ cưới truyền thống của người Cao Lan của tác giả Lê Minh Anh Trong đó,

tác giả đã trình bày diễn trình nghi lễ cưới xin của người Cao Lan từ khi dạm hỏi

đến khi lại mặt; Tục cưới hỏi của người Cao Lan - Sán Chí ở Bắc Giang của tác giả

Nguyễn Thu Minh đi sâu vào mô tả các bước diễn ra trong nghi thức hôn nhân của người Cao Lan - Sán Chí Hai công trình nghiên cứu này đã cung cấp khá nhiều thông tin cơ bản cho tôi trong quá trình thực hiện tìm hiểu và nghiên cứu đề tài này Tuy nhiên, cho đến nay, hầu hết các công trình đã công bố chỉ tập trung nghiên cứu các vấn đề về quá trình tộc người, điều kiện sinh sống, đời sống kinh tế, vật chất và tinh thần của đồng bào ; một số công trình có đề cập đến vấn đề hôn nhân truyền thống của người Cao Lan nhưng chưa đi sâu nghiên cứu những biến đổi trong nghi lễ hôn nhân của người Cao Lan nói chung và người Cao Lan ở Bắc Giang nói riêng Song các công trình nghiên cứu trước đây sẽ là nguồn tư liệu quan trọng, là cơ sở giúp tôi tiếp thu, kế thừa, bổ sung và phát triển trong quá trình thực hiện luận văn này Với những thành quả và khoảng trống trong những nghiên cứu

kể trên, tôi đã xác định hướng nghiên cứu của mình tập trung vào những biến đổi trong hôn nhân của người Cao Lan Đây cũng là những tìm hiểu, khỏa lấp những khoảng trống trong nghiên cứu về tộc người Cao Lan nói chung và nghi thức hôn nhân của họ nói riêng

3 Mục đích nghiên cứu

- Giới thiệu có hệ thống những đặc điểm và nghi lễ trong hôn nhân truyền thống người Cao Lan ở huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang

- Chỉ ra sự khác biệt/ biến đổi trong tập quán hôn nhân trong đời sống hiện nay

so với trước kia (lấy mốc thời gian năm 1986)

Trang 9

- Chỉ ra những nguyên nhân và xu hướng của sự biến đổi trong tập quán hôn nhân của người Cao Lan ở địa bàn trên

- Góp phần cung cấp những luận cứ khoa học để đưa ra những giải pháp phù hợp trong củng cố khối đoàn kết dân tộc và có biện pháp bảo vệ, bảo tồn những giá trị tốt đẹp trong văn hóa hôn nhân của người Cao Lan tại Lục Sơn, Lục Nam, tỉnh Bắc Giang

4 Đối tƣợng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Hôn nhân người Cao Lan trên địa bàn xã Lục Sơn, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang Trong đó, luận văn tập trung làm rõ:

Thứ nhất, giá trị văn hóa trong hôn nhân truyền thống của người Cao Lan ở xã Lục Sơn, huyện Lục Nam thông qua các quan niệm về hôn nhân, các nghi lễ, phong tục tập quán liên quan đến hôn nhân của tộc người này trên địa bàn

Thứ hai, chỉ ra những biến đổi của phong tục hôn nhân truyền thống, những nguyên nhân và xu hướng biến đổi giai đoạn hiện nay

4.2 Phạm vi nghiên cứu

+ Phạm vi không gian: luận văn tập trung nghiên cứu tại 03 bản/thôn của xã Lục Sơn, huyện Lục Nam là: Khe Nghè, Trại Cao, Rừng Long Đây là các bản mà dân số chủ yếu là người Cao Lan (đặc biệt thôn/bản Khe Nghè và Trại Cao, người Cao Lan chiếm tới 98%), mặc dù họ có sự tiếp xúc, giao thoa - tiếp biến với các tộc người cùng sinh sống trên địa bàn nhưng vẫn còn lưu giữ/bảo lưu được nhiều nét văn hoá đặc trưng của tộc người

+ Về thời gian: luận văn nghiên cứu hôn nhân của người Cao Lan từ cuối thế

kỷ XIX đến nay, lấy niên điểm 1986 làm dấu/mốc thời gian để phân chia giữa hai giai đoạn (từ cuối thế kỷ XIX đến năm 1986 và từ năm 1986 đến nay) Niên điểm

1986 là mốc thời gian Việt Nam có những chuyển biến mạnh mẽ về mọi mặt: chính trị, văn hóa, xã hội Điều đó đã tác động rất mạnh đến đời sống văn hóa của tộc người Cao Lan, trong đó có phong tục và các lễ nghi liên quan đến hôn nhân

Trang 10

5 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu

5.1 Nguồn tài liệu

Tài liệu khảo sát: bao gồm những thông tin ghi chép, tiếp cận được trong quá trình điền dã (quan sát tham dự), phỏng vấn sâu người dân trên địa bàn nghiên cứu

Và các tài liệu khác thu thập được tại địa phương như: bản đồ, ảnh chụp, sơ đồ, các văn bản hành chính liên quan đến hôn nhân của của người Cao Lan nói chung và thuộc địa bàn nghiên cứu nói riêng Trong quá trình khảo sát, phỏng vấn, tôi tập trung vào nhóm đối tượng là người dân Cao Lan trên địa bàn xã Lục Sơn, huyện Lục Nam, gồm có: nhóm thứ nhất là thanh niên, có độ tuổi từ 20 - 25; nhóm thứ hai

là người già, có độ tuổi từ 60 - 70 tuổi Việc lựa chọn các nhóm tuổi này, cho phép tác giả luận văn vừa tìm hiểu được phong tục hôn nhân truyền thống, vừa tìm hiểu được phong tục hôn nhân hiện nay của người Cao Lan Đây cũng là nguồn tài liệu

cơ bản cho tôi thực hiện nghiên cứu và hoàn thiện luận văn

Bên cạnh đó, chúng tôi còn căn cứ vào nguồn tài liệu nghiên cứu của các học giả đi trước Đặc biệt là những nghiên cứu mang tính dân tộc chí về đời sống văn hóa dân tộc (trong đó có hôn nhân) người Cao Lan ở Bắc Giang trước năm 1986 được đăng tải trên tạp chí chuyên ngành hoặc sách chuyên khảo Những tài liệu nghiên cứu này cho phép chúng tôi vừa kế thừa được những mô tả về hôn nhân truyền thống trước năm 1986, vừa kế thừa được những đánh giá thực trạng của các nhà nghiên cứu/các chuyên gia trong lĩnh vực dân tộc học, văn hóa học tộc người

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện đề tài luận văn, tác giả tiến hành sử dụng các phương pháp chính sau:

- Phương pháp phân tích, tổng hợp kết hợp so sánh, đối chiếu

Phương pháp này dựa trên những tư liệu, những công trình nghiên và khảo sát của các tác giả đi trước đã công bố, với tư liệu tác giả trực tiếp khảo sát tại địa bàn nghiên cứu Từ đó, chỉ ra sự biến đổi trong hôn nhân của người Cao Lan tại xã Lục Sơn, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang

Trang 11

- Phương pháp điền dã Dân tộc học

Tác giả sử dụng các công cụ chủ yếu là quan sát tham gia, thảo luận nhóm và phỏng vấn sâu Trong đó, tác giả được trực tiếp tham gia vào 05 đám cưới của người địa phương (04 là của người Cao Lan từ năm 2017 đến năm 2018) Không những thế, tác giả còn tham gia trực tiếp vào các lễ hội, nghi lễ khác của cộng đồng Cao Lan, trong đó, có lễ hội xuống đồng của đồng bào Từ đó có những minh chứng quan trọng để triển khai thực hiện những vấn đề luận văn đang hướng tới

Đặc biệt, để diễn giải và trình bày kết quả nghiên cứu, tác giả sử dụng các phương pháp của lịch sử và lịch sử văn hóa để hoàn thiện luận văn Phương pháp này cho phép tác giả trình bày các vấn đề nghiên cứu theo thứ tự/trình tự/diễn trình thời gian, tương ứng với từng giai đoạn lịch sử Việt Nam Không những thế, phương pháp này cho phép so sánh sự thay đổi giữa xưa và nay, giữa quá khứ và hiện tại trong hôn nhân của tộc người Cao Lan mà tác giả đang thực hiện

6 Lý thuyết và khái niệm sử dụng trong luận văn

Lý thuyết tiếp biến văn hóa

Trong lịch sử loài người cũng như lịch sử một cộng đồng, văn hóa chuyển biến không ngừng Sự chuyển biến, tiến hóa văn hóa bắt nguồn từ phức hợp các nguyên nhân nội sinh và ngoại sinh, sự phát triển nội tại và những tác động của tiếp biến văn hóa

Cũng giống như khái nhiệm “văn hóa”, thuật ngữ “tiếp biến văn hóa” có nhiều định nghĩa khác nhau, bổ sung cho nhau Thuật ngữ này được dùng đầu tiên vào cuối thế kỷ XIX và trở nên phổ biến hơn vào những thập kỷ đầu của thế kỷ XX Trong đó AL Kroeber đã viết: “Tiếp biến văn hóa bao gồm những biến đổi sản sinhra trong một nền văn hóa do ảnh hưởng của một nền văn hóa khác, kết quả dẫn đến là sự tương đồng của hai nền văn hóa đó gia tăng Ảnh hưởng có thể là tương

hỗ hoặc là lán át một chiều Sự đồng hóa đem lại có thể tiến hành cho đến khia một nền văn hóa bị triệt tiêu bởi sự hấp thụ nền văn hóa kia, hoặc những nhân tố khác có thể can thiệp để làm cân bằng sự đồng hóa và giữ cho hai nền văn hóa đó tồn tại riêng biệt Thường thì quá trình tiếp biến đó có xu hướng dần dần từng bước mà không đột ngột, trong một khoảng thời gian dài của lịch sử” [33, tr 45,46]

Trang 12

Có thể thấy rằng “tiếp xúc” được coi như nguyên nhân và “biến đổi” được coi như hệ quả của tiếp biến văn hóa Có thể có những phương thức tiếp xúc trực tiếp

và tiếp xúc gián tiếp Biến đổi cũng có thể ở mức độ ít hoặc nhiều, từng phần hoặc toàn bộ, từ bổ sung, tích hợp, chỉnh sửa, cách tân hay thay thế

Sử dụng lý thuyết tiếp biến văn hóa làm điểm tựa về mặt lý thuyết cho phép tác giả thấy được quá trình tiếp biến văn hóa là một tất yếu, ảnh hưởng trực tiếp tới những biến đổi trong hôn nhân của người Cao Lan xã Lục Sơn, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang, từ đó tìm ra những nguyên nhân của quá trình biến đổi và bước đầu chỉ ra xu hướng hôn nhân của người Cao lan trong xã hội đương đại

- Hôn nhân: theo từ điển Tiếng Việt thì việc nam nữ chính thức lấy nhau làm

vợ chồng được gọi là hôn nhân [29, tr 445] Theo Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam, thì hôn nhân là quan hệ giữa vợ và chồng sau khi đã kết hôn

- Nghi lễ: theo từ điển Tiếng Việt thì các nghi thức của một cuộc lễ và trật tự tiến hành là nghi lễ, hay còn gọi là lễ nghi [29, tr 541] Lê Hải Đăng cho rằng “Nghi

lễ là tập hợp các hành vi của con người (cá nhân hay tập thể) đã được mã hóa, luôn

có sự hỗ trợ của thể chất, một giá trị biểu tượng lớn đối với những người thực hiện

và những người chứng kiến, và nó được tạo dựng dựa trên sự nhất quán tư tưởng Hành vi đó mang tính linh thiêng, lặp đi lặp lại nhằm tôn thờ thế lực siêu nhiên nào

đó của từng cộng đồng cụ thể, nó được biểu hiện qua việc thờ cúng và có nhiều dấu

ấn gắn với sinh hoạt trong đời sống người dân Nghi lễ là biểu hiện mọi khía cạnh của đời sống vật chất và tinh thần của con người, tộc người Do đó, dù ở bất kỳ hình thái xã hội nào, nghi lễ cũng có tính tộc người” [25, tr 18]

- Truyền thống: là thói quen đã hình thành lâu đời trong thói quen và nếp nghĩ, được truyền lại từ thế hệ này sang thế hệ khác [29, tr 107] Truyền thống cũng có thể hiểu là làm tồn tại cái gì đã tồn tại rồi, và bảo lưu là giữ gìn cái đã được truyền [18, tr 25-26] Theo giáo sư Trần Quốc Vượng thì: “có thể hiểu “truyền thống” như

là một hệ thống các tính cách, các thế ứng xử của một cộng đồng, được hình thành trong lịch sử, trong một môi trường sinh thái và nhân văn nhất định, trở nên ổn định, trường tồn nhưng không vĩnh cửu, có thể được định chế hóa bằng luật hay bằng lệ (phong tục tập quán) và được trao truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác - có

Trang 13

thể gọi là di truyền văn hóa, bên cạnh sự di truyền sinh vật về thân xác - để bảo đảm tính đồng nhất của một cộng đồng” [62, tr 83]

- Ngoại hôn dòng họ: Theo E Adamson Hoebel “chế độ ngoại hôn có thể định

nghĩa như là một quy luật xã hội buộc một cá nhân chỉ được kết hôn với người bên ngoài họ hàng, dòng họ của mình” (24, tr 432) Điều này cũng gặp phổ biến ở nhiều

dân tộc khác ở Việt Nam và thế giới Việc cấm kỵ hôn nhân nội tộc đã xuất hiện từ

lâu đời: “cũng như nhiều dân tộc khác trên thế giới, việc chọn bạn đời đều có những

cấm chỉ căn cứ trên quan hệ họ hàng gần Những ai vi phạm quy tắc ấy là phạm vào tử tội loạn luân” [Robert Lowie 2008: 30]

- Nội hôn tộc người: Hôn nhân truyền thống thường là hôn nhân đồng tộc, những người cùng dân tộc, cùng nhánh dân tộc lấy nhau (người Cao Lan lấy người Cao Lan, người Nùng Phàn Slình lấy người Nùng Phàn Slình …) Bởi người ta quan niệm lấy người khác dân tộc sẽ gặp nhiều hạn chế trong quan hệ ứng xử gia đình, tâm lý, nếp sống và ngôn ngữ hàng ngày [4, tr 22]

Trang 14

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ TỘC NGƯỜI CAO LAN

XÃ LỤC SƠN HUYỆN LỤC NAM TỈNH BẮC GIANG

1.1 Vị trí địa lý và lịch sử hình thành vùng đất

1.1.1 Vị trí địa lý

Lục Sơn là xã vùng cao, nằm dưới chân sườn Tây Bắc dãy Yên Tử, thuộc huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang Trung tâm xã cách trung tâm huyện lỵ (thị trấn Đồi Ngô) 35km và tỉnh lỵ (thành phố Bắc Giang) 55km về phía Bắc Nhìn trên bản

đồ hành chính, vị trí địa lý xã Lục Sơn nằm ở điểm cực đông của huyện Lục Nam Phía đông tiếp giáp xã Tuấn Đạo và xã Tuấn Mậu, huyện Sơn Động; phía tây tiếp giáp xã Trường Sơn (Lục Nam); phía nam tiếp giáp hai xã An Sinh, xã Tràng Lương của huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh; phía bắc tiếp giáp xã Bình Sơn (Lục Nam)

Tính theo trục tây - đông, điểm địa đầu xã Lục Sơn là dốc Đìa Đô (thôn Chồi) giáp danh xã Trường Sơn; điểm phía tây là Đèo Bụt giáp danh với xã Tuấn Mậu, huyện Sơn Động, chiều dài gần 15 km Trục bắc - nam, đoạn ngắn nhất từ dốc Đìa

Đô đến mốc địa giới hành chính 364, giáp xã An Sinh, xã Tràng Lương (huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh) dài 8km

Xã Lục Sơn có tổng diện tích tự nhiên là: 9668,08 ha; diện tích đất canh tác 909,38 ha chiếm 10% diện tích đất tự nhiên, còn lại là đất rừng Diện tích đất rừng là: 8180, 28 ha, trong đó: rừng sản xuất 5828,28 ha rừng, đặc dụng: 2352 ha [Báo cáo của Ban địa chính xã năm 2017]

Địa hình xã Lục Sơn tuy hiểm trở, nhiều núi cao, suối sâu nhưng các tuyến giao thông liên thôn, liên xã nằm trên bình địa (tương đối bằng phẳng), ít đèo dốc cho nên việc đi lại khá thuận lợi Tỉnh lộ 293 chạy qua xã với chiều dài chừng 14

km Con đường này phục vụ cho nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, nối liền các khu di tích Côn Sơn, Kiếp Bạc, Chùa La, Suối Mỡ, Yên Tử Hiện nay, một con đường mới được mở rộng từ Yên Dũng lên tây Yên Tử được gọi là con đường tâm linh Từ đây, có thể mở ra hướng phát triển và giao lưu không chỉ giữa các nhóm dân cư trên địa bàn xã, huyện, mà còn cả giữa Bắc Giang với các tỉnh - thành lân cận

Trang 15

Theo tài liệu Tên làng xã và địa dư các tỉnh Bắc Kỳ của Ngô Vi Liễn đầu thế

kỷ XX, Lục Sơn thuộc tổng Vô Tranh, huyện Lục Ngạn

Năm Minh Mệnh thứ 3 (1822), trấn Kinh Bắc đổi thành trấn Bắc Ninh thì miền đất này lại thuộc tổng Vô Tranh, huyện Lục Ngạn, trấn Bắc Ninh

Năm 1831, nhà Nguyễn thay đổi đơn vị hành chính trấn thành tỉnh thì Lục Sơn thuộc huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Ninh

Năm 1889, niên hiệu Thành Thái nguyên niên, chính quyền Pháp thành lập tỉnh Lục Nam được gần hai năm thì giải thể, khi đó Lục Sơn thuộc tổng Vô Tranh, huyện Lục Ngạn, tỉnh Lục Nam

Đến năm 1957, thành lập huyện Lục Nam, phần đất xã Lục Sơn ngày nay thuộc xã Yên Sơn B, thuộc huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang

Ngày 28/7/1958, Bộ trưởng Bộ Nội vụ ban hành Nghị định số 241 - NV về việc chia một số xã của huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang Chia xã Yên Sơn B thành hai xã: Bình Sơn và Hùng Sơn thì Lục Sơn khi đó là xã Hùng Sơn, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang [57, tr 131]

Ngày 27/10/1962, Quốc hội khóa II, kỳ họp thứ 5 đã hợp nhất tỉnh Bắc Giang

và Bắc Ninh thành tỉnh Hà Bắc và chính thức đi vào hoạt động từ đầu năm 1963 Trên cơ sở sáp nhập hai tỉnh Bắc Giang và Bắc Ninh, Lục Sơn mang tên mới là xã Hùng Sơn, huyện Lục Nam, tỉnh Hà Bắc Tên gọi Lục Sơn, huyện Lục Nam có từ năm 1965, trước là xã Yên Sơn B Từ 28/7/1958, chia thành 2 xã Bình Sơn và Hùng Sơn, năm 1965, xã Hùng Sơn đổi thành xã Lục Sơn [56, 218]

Ngày 15/4/1963, Thủ tướng chính phủ ra Chỉ thị số 23 - TTg đổi tên xã Hùng Sơn của huyện Lục Nam thành xã Lục Sơn Tên gọi hành chính chính thức được sử dụng từ năm 1971

Trang 16

Năm 1997, tỉnh Hà Bắc chia thành hai tỉnh Bắc Giang, Bắc Ninh thì Lục Sơn thuộc huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang và giữ nguyên địa danh hành chính từ đó đến nay

1.1.3 Dân cư xã Lục Sơn

Tính đến ngày 26/7/2018, xã Lục Sơn có 2 125 hộ, 8 327 nhân khẩu với 8 tộc người cùng chung sống [Số liệu trong Báo cáo 6 tháng đầu năm 2018 của UBND xã Lục Sơn]

Đông nhất là người Kinh có 3.720 người (chiếm 44,6% dân số của cả xã), sống tập trung phần lớn ở các thôn như: Vĩnh Tân, Hổ Lao 3, Hổ Lao 4, Đám Trì, Chồi 1, Chồi 2, Thọ Sơn

Đông thứ hai là người Dao với số dân là 2.141 người (chiếm 26, % dân số toàn xã)

Đông thứ ba là tộc người Cao Lan có khoảng 1.819 người sống ở các thôn Trại Cao, Khe Nghè, Rừng Long (chiếm 21,8 %) Trong đó thôn Khe Nghè có 79 hộ với

319 nhân khẩu ; thôn Trại Cao có 92 hộ với 366 nhân khẩu; thôn Rừng Long có 165

hộ với 695 nhân khẩu

Ngoài ra, còn có các tộc người khác như Thổ, Tày, Sán Dìu, Hoa là những tộc rất ít người chưa được 100 khẩu (chiếm 7,6% dân số của xã) sống xen kẽ trong các làng bản, tuy phong tục tập quán của có khác nhau nhưng quần tụ cùng nhau chung sống trên mảnh đất này

Người Cao Lan:

Cao Lan là một trong hai nhóm của dân tộc Sán Chay (Cao Lan - Sán Chí) Trước đây, các học giả người Pháp coi người cao Lan là một bộ phận của tộc người Dao Người Cao Lan còn được gọi là người Trại Cho đến nay, người Cao Lan ở

Bắc Giang vẫn tự nhận mình là người của tộc Cao Lan (Hờn Bán), có tiếng nói

riêng thuộc nhóm ngôn ngữ Tày - Thái (52, tr 278) Theo kết quả khảo sát ở các huyện/địa phương có nhiều người Cao Lan sinh sống, thì nguồn gốc của người Cao Lan ở Bắc Giang là từ Quảng Đông, Quảng Tây, Dương Châu, Quý Châu (Trung Quốc) di cư sang Việt Nam, vì những lý do khác nhau đã đến và định cư được 300 năm Đến Việt Nam, người Cao Lan cư trú ở một số huyện của tỉnh Quảng Ninh, sau đó di cư đến các huyện miền núi tỉnh Bắc Giang [57, tr 278]

Trang 17

Cuốn Lịch sử họ Dương (bản Khe Nghè) do ông Dương Văn Cao (Hội trưởng

họ Dương, mất năm 2010) cùng Hội đồng gia tộc biên soạn cho biết: Họ Dương vốn

ở tỉnh Quảng Tây, di cư đến Quảng Đông vào năm 1748 Năm 1768 đến Hoành Bồ,

Ba Chẽ (Quảng Ninh) Năm 1881 đến Đá Bờ (nay thuộc xã Tuấn Đạo, huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang) Cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20 một nhóm người Cao Lan từ

Đá Bờ đến Đèo Gia (Lục Ngạn), một nhóm đến Vĩnh Ninh (nay thuộc xã Lục Sơn, huyện Lục Nam) rồi sau này lập nên bản Trại Cao, hay còn gọi là trại Cao Lan vào năm Duy Tân thứ 2 (1908) [40, tr 8]

Ban đầu người Cao Lan sống theo lối du canh du, cư phát nương làm rẫy trên các cánh rừng, sườn núi Đến thời kỳ hòa bình, xây dựng hợp tác xã nông nghiệp, với chính sách của Đảng và Nhà nước, đồng bào dần chuyển xuống các lũng thấp bên sông và sống định canh theo phương thức làm ruộng nước, canh tác hoa màu,

ổn định tại các thôn bản như hiện nay Những kinh nghiệm trong sản xuất của họ chẳng kém gì người Tày - Nùng hay người Việt [58, tr 151]

Ở Lục Sơn, dân tộc Cao Lan cư trú ở Khe Nghè, Rừng Long, Trại Cao với nhiều dòng họ khác nhau như họ: Nịnh, Tống, Đàm, Trần, Tô, Tơ, Phan, Dương,… Mỗi dòng họ của người Cao Lan có một trưởng lại và bao gồm nhiều ngành, chi, thứ Trong đó, họ Tống được coi là chiếm đa số so với các họ khác của người Cao Lan ở Lục Sơn

1.2 Hoạt động kinh tế chủ yếu

Cũng như các tộc người thiểu số khác sinh sống ở vùng núi thấp, người Cao Lan lấy việc trồng trọt lúa nương và cây lương thực khác trên đất dốc là là hoạt động kinh tế chủ đạo Ngoài ra họ cũng tận dụng những khoảnh đất bằng phẳng để trồng lúa nước Tất cả những hoạt động khác như chăn nuôi, thủ công gia đình, trao đổi buôn bán hay săn bắt/bắn, hái lượm đều là những hoạt động kinh tế phụ mang tính chất bổ trợ cho trồng trọt Hoạt động sản xuất này vừa là đặc điểm chung của những tộc người sống ở trung du và miền núi, vừa là đặc điểm riêng của người Cao Lan ở Bắc Giang

Trang 18

1.2.1 Kinh tế nông nghiệp

Lúa nếp (hau liu) là loại lúa có thân cây cao, năng suất trung bình, hạt thóc

mầu sẫm, gạo trắng và thơm Loại nếp này đồng bào thường dùng làm bánh dày Một lễ vật phổ biến dùng để cúng tế trong các dịp lễ tết Đặc biệt, đây là sính lễ không thể thiếu trong nghi lễ hôn nhân của người Cao Lan

Nếp riềng (hau láu) là loại lúa cây cao cho năng suất cao, hạt lúa màu vàng,

gạo dẻo và thơm dùng để nấu rượu Loại rượu này cũng được sử dụng trong các dịp trọng đại của gia đình hay dòng họ, giống như bánh dày được sử dụng trong đám cưới, lễ tết

Lúa nếp cẩm (hau liu lầy) là giống lúa nếp cổ nhất của người Cao Lan Loại

lúa này cây cao, chịu hạn rất tốt, thường được đồng bào gieo trồng ở nương đất dốc,

gạo màu đen (hau đăm), thường được dùng để nấu xôi dùng trong nghi lễ

Lúa tẻ (hau chăm), trước đây người Cao Lan thường gieo hai loại lúa chính là

hau núi lang, hau sau lang Đây là giống lúa cây cao, hạt nhỏ, gạo có mầu đỏ, ăn

dẻo và thơm

Ngoài các loại lúa ra, trên nương rẫy, đồng bào còn trồng một số loại cây

lương thực khác như ngô, khoai lang (mền keo), mền moi (sắn), củ từ, củ mỡ, lạc,

đỗ tương (mặc tù nằng), đỗ xanh (mặc tù heo), khoai sọ (mền phực), cà…và cây ăn quả như: mía (mịt), chuối, dứa, vải thiều, hồng…

Trang 19

để bán lấy tiền hoặc cung cấp nguồn thực phẩm phục vụ cho cuộc sống hàng ngày

và những công việc lớn như cưới xin, ma chay, tế lễ, làm nhà mới1

Về chăn nuôi gia cầm, mỗi gia đình người Cao Lan đều có hàng chục con gà trong sân vườn Do sinh sống ở những nơi xa xôi hẻo lánh, không gần các trung tâm nên đồng bào Cao Lan nuôi nhiều gia cầm để đáp ứng nguồn thực phẩm hằng ngày, cũng như phục vụ cho việc cúng tế trong các tiết lệ hằng năm và đãi khách

1.2.2 Kinh tế lâm nghiệp

Rừng trong vùng đồng bào Cao Lan cư trú hiện nay đã được giao đến tận các

hộ gia đình Trong rừng có rất nhiều loại gỗ quý như lim, gụ… và các loại sản vật quý như ba kích, mật ong rừng, cùng các loại động vật như hổ, báo, nai, lợn rừng Xưa kia việc thu hái các loại sản phẩm của thiên nhiên như măng, rau rừng, nấm, hoa quả, củ và các loại thảo dược ở trên rừng được diễn ra thường xuyên Người Cao Lan rất có kinh nghiệm khi thu hái theo vùng, theo mùa vụ Vào mùa xuân - hè, đồng bào kiếm các loại măng, nấm, mộc nhĩ Mùa thu - đông thì tìm kiếm

các loại củ, quả… Măng (mo mói) gồm có nhiều loại: măng đắng (mói ham), măng ngọt (mói tim) được kiếm vào tháng hai, tháng ba Măng tre mai (mói mai), măng

nứa được kiếm vào tháng 5, tháng 6, tháng 7 Các loại củ, quả được tìm kiếm vào các tháng cuối năm như củ nâu, củ mài, ba kích…

kiêng ăn thịt chó, nhưng mỗi gia đình đều nuôi từ 1 đến 2 con để giữ nhà và phục vụ việc đi săn Chó được đồng bào nuôi thả rông và cho ăn sau các bữa ăn của gia đình

Trang 20

Người Cao Lan cũng thường tổ chức những cuộc đi săn theo hình thức tập thể hoặc cá nhân Mục đích săn bắt của đồng bào là bảo vệ mùa màng, làm nguồn thực phẩm dự trữ và một phần để giải trí Hình thức săn bắt lúc đó chủ yếu là đặt bẫy, rình và đuổi bắt Trong những cuộc đi săn, đồng bào thường mang theo chó, với các

dụng cụ đơn giản như nỏ (pa lấu), súng kíp (sòng kép) tự tạo, dao quắm, tên tẩm thuốc độc (tộc dặc) và bẫy (kẹp) Những con thú săn được thường là hươu, nai, lợn

rừng, cày, cáo, chồn, gà rừng, chim sóc các loại…

Nếu săn được thú lớn thì người bắn được hưởng phần đầu, đùi và bộ xương Nếu bắn được lợn rừng, họ được hưởng đùi trước Nếu bắn được hươu nai, họ được hưởng đùi sau và đầu Ruột gan con thú đó được chia làm bốn phần thì người bắn được một phần Phần còn lại được chia đều cho tất cả những người tham gia cuộc săn, trong đó có phần cho những con chó giúp chủ đi săn Đến nay, nguồn tài nguyên rừng ngày càng cạn kiệt, việc đi săn tập thể ít được tổ chức hơn, chủ yếu chỉ mang tính chất đơn lẻ, cá nhân

Xã Lục Sơn có rất nhiều khe suối tự nhiên nên việc đánh bắt cá diễn ra thường xuyên, người Cao Lan có nhiều kinh nghiệm trong hoạt động khai thác này Họ thường đánh bắt cá theo mùa Với kinh nghiệm của mình, họ có thể biết được mỗi loại cá sống trong từng khúc sông đoạn suối nơi họ cư trú

Dụng cụ đánh cá của người Cao Lan là chài (pan máng), lưới (pôn lẹ), đó (ăn

chún), vó (dắc dém) Việc đánh bắt cá được tiến hành ở những đoạn suối lớn chủ

yếu từ tháng 8 đến tháng 1 Vào vụ cày cấy, đồng bào thường tranh thủ thả lưới vào các buổi sáng hoặc chiều, chài được quăng vào ban đêm Đồng bào Cao Lan thường hay thả rọ tôm ở những đoạn suối lớn vào ban đêm Rọ tôm của họ được đan kiểu hình trụ bằng nan tre theo kiểu lóng mốt, có chiều dài 30 cm, đường kính tiết diện ngang thân rọ là 10 cm Rọ được buộc vào một sợi dây, hai đầu dây có phao, mỗi rọ cách nhau 1,5- 2m, nếu nước trong thì phải qua đêm mới được nhấc, nếu nước đục thì cứ khoảng ba giờ sau sẽ nhấc đổ một lần

1.2.3 Thủ công nghiệp

Người Cao Lan ở Lục Sơn có nhiều nghề truyền thống như: làm giấy dó, đan lát đồ dùng song mây, dệt vải - thêu thùa, khêu nến , các nghề thủ công đã tạo thêm công ăn việc làm, tăng thu nhập cho cuộc sống của gia đình Tuy nhiên, các

Trang 21

nghề thủ công chưa tách ra khỏi nông nghiệp, chỉ được làm những khi nông nhàn và chủ yếu là tự cấp, tự túc

Nghề làm giấy dó

Đây là nghề đặc biệt chỉ có ở Khe Nghè Xưa kia, ở bản Trại Cao, Khe Nghè

có nhiều người biết làm giấy dó truyền thống Họ tự làm để sử dụng trong việc ghi chép lịch pháp, sổ sách hay phục vụ cúng bái Cũng có người làm giấy để đem ra chợ vùng, chợ huyện bán lấy tiền Khoảng chục năm gần đây chỉ còn hai người biết làm giấy, đó là cụ Tống Văn Xạch và Tống Văn Vinh Ba năm trước, cụ Tống Văn Xạch, người giỏi nghề nhất do ốm nặng đã mất Trước khi mất, cụ đã kịp truyền nghề cho anh Dương Văn Quang - người ở bản Khe Nghè Nguyên liệu để

làm ra loại giấy dó là cây hay pau, một loại cây thân dây mọc rất nhiều ở rừng Khe Nghè Khi làm giấy, vỏ cây hay pau được bóc ra, cạo sạch lớp vỏ đen bên ngoài rồi mang phơi khô Sợi hay pau phơi càng khô thì càng trắng và càng trắng

thì càng tốt cho việc làm giấy Khi làm giấy, đồng bào đem luộc kỹ rồi giã đập

thành bột giấy Sau khi đã có bột giấy, lại lấy vỏ cây vợt pạ (cũng là một loại cây

rừng) ngâm lấy nhớt làm hồ, sau đó trộn với bột giấy cho đều rồi đem tráng lên khuôn giấy Giấy dó của người Cao Lan do cụ Xạch làm thường có khổ to Độ mỏng hay dày là tuỳ ý, nhưng ưu điểm nổi bật nhất của loại giấy này là rất dai, chắc, bắt mực mà không bị nhoè Nếu muốn làm giấy trắng thì cần phải phơi vỏ

cây thật kỹ, nếu muốn làm giấy có màu vàng hoa hoè thì cứ để vỏ cây hay pau

tươi mà làm ngay, sẽ được màu vàng rất đẹp

Nghề dệt vải:

Trước đây, khi nền kinh tế hàng hoá chưa phát triển, đồng bào thường trồng bông, dệt vải rồi may quần áo Ngoài ra, đồng bào còn làm thắt lưng, túi xách,

khăn… Loại bông tốt nhất được chọn riêng dùng để dệt vải khâu xông họ (áo), xông

pù (quần), bin (váy) Loại kém hơn dùng để dệt vỏ chăn, khăn tắm, vỏ bao… Người

Cao Lan không nhuộm vải trước khi dệt mà tùy từng gia đình, có thể nhuộm chàm sau khi tấm vải hoàn thành hoặc may thành quần áo rồi mới nhuộm Đồng bào cũng không tạo ra hoa văn trong quá trình dệt, mà khi tấm vải đã hoàn thành và cắt may thành quần áo rồi mới dùng chỉ mầu để thêu thùa trên nền vải Nhuộm cũng là một

Trang 22

công việc công phu kéo dài hằng tháng Những họa tiết hoa văn trên váy của phụ nữ Cao Lan thường là hình hoa lá, cây cỏ, chim thú…

Người cao Lan thường khâu quần áo bằng cách ghép mảnh Phụ nữ là người đảm đương việc may trang phục cho chính mình và cho các thành viên trong gia đình họ Trước đây, các em gái 13, 14 tuổi đã được bà, mẹ dạy cho biết may vá, thêu thùa Việc biết may vá, thêu thùa… trở thành một trong những tiêu chí quan trọng để đánh giá tài năng và phẩm chất làm vợ, làm mẹ của người phụ nữ Cao Lan nói riêng và các tộc người ở Việt Nam nói chung

Khêu nến:

Nghề này có từ khá lâu rồi, những người thợ khêu nến đầu tiên là những cư dân người làng Đám Trì, Hổ Lao, Vĩnh Ninh và làng Chồi Khi ấy rừng còn bạt ngàn, dân cư thưa thớt, rừng ít bị tàn phá, nên ở ngay rừng làng cũng có nhiều cây trám và cây sau sau (dân địa phương gọi là cây thau), dùng để khoét lấy nhựa Nhựa thau và trám rất thơm, người ta khai thác rồi đem bán về xuôi để chế biến làm nến

và hương đốt Trước kia, con đường mòn từ Mai Sưu đi Lục Nam, Bến Bò xa xôi, khó khăn thế, nhưng mùa nào cũng có hàng đoàn khách buôn quẩy gánh nhựa trám, nhựa sau sau hoặc chè tươi từ vùng Mai Sưu ra các bến sông (bến Tràng, bến Bò), rồi xuôi dòng về các làng nghề làm hương, nến Về sau, khi cư dân đông đúc, rừng làng bị tàn phá, nhất là trám và sau sau bị chặt hạ nhiều, thì người dân ở những làng gốc hầu như bỏ nghề Hiện nay theo nghề và giữ nghề này đều là những người ở Đồng Vành, Văn Non, Khe Nghè và Vĩnh Ninh [40, tr 42]

Ở bản Khe Nghè hiện có hơn sáu mươi hộ gia đình, thì có hơn năm mươi hộ

có đường nến Khêu nến đã trở thành nghề cho thu nhập kinh tế cao trong các gia đình ở Lục Sơn

1.3 Văn hoá - xã hội

1.3.1 Đời sống vật chất

Ẩm thực

Người Cao Lan sống định cư ở những vùng đất thấp, nơi tiếp giáp giữa đồng bằng và miền núi, ven các con sông Với lối canh tác ruộng nương, họ đã tiến hành khai phá những cánh đồng rộng Cây trồng chủ yếu của người Cao Lan là lúa nước

Trang 23

và cây mầu cho nên nguồn thức ăn chủ yếu của đồng bào là lúa gạo Những thứ đó được chế biến bằng nhiều cách khác nhau như nấu, đồ, xay thành bột làm bánh, bún… Cùng với lúa gạo còn có ngô, khoai, sắn, các loại rau quả, hạt củ khác như bầu, bí, lạc, đậu, rau xanh cũng trở thành nguồn nguyên liệu trong ẩm thực của người Cao Lan

Để tăng hương vị cho món ăn, người Cao Lan còn sử dụng các loại hương liệu

và gia vị như gừng, ớt, sả, tương … và các loại rau thơm, được chế biến theo nhiều cách dưới hình thức chủ yếu là đun nấu trong nồi, đồ trong chõ, lam trong ống tre hay phơi khô gác bếp để sử dụng lâu dài

Cách ăn uống phổ biến của người Cao Lan là dùng bát đĩa, chậu, mâm đựng thức ăn, gáo múc nước, bình đựng rượu, bát, cốc uống nước Thức ăn cùng cơm được đặt trên mâm hoặc đồ đựng đan bằng phên tre nứa hoặc lót lá

Trước đây, người Cao Lan thường ăn xôi hoặc cơm nếp vào buổi sáng, bữa tối mới ăn cơm tẻ Khi nấu cơm, người ta chắt nước ra để uống thay nước canh trong khi ăn cơm Theo đồng bào, nước cơm này uống thay canh vừa bổ lại vừa kích thích

hệ tiêu hoá, rất tốt cho sức khỏe Dưa, cà muối, trám kho với tôm tép hay cá kho mặn … là những món ăn thông thường của người Cao Lan, có thể ăn trong vài ba bữa đến vài ngày

Ngoài ra còn có một số món ăn đặc sản theo mùa Mùa đông thường có thêm món thịt thú rừng, cá gắp sấy khô trên gác bếp Cao cấp hơn là thịt hươu, nai, lợn rừng, cầy, sóc, chim, chuột rừng bắt, bẫy được sấy khô Việc sấy khô thịt, cá là cách bảo quản và tích trữ thực phẩm của người Cao Lan nói riêng và các tộc người ở miền núi nói chung Đây là cách bảo quản hiệu quả, thực phẩm có thể để được một thời gian dài, và là “lương khô” cho gia đình vào những năm mất mùa, đói kém

Món ăn ngày thường của người Cao Lan đơn giản Một bữa cơm của gia đình Cao Lan có mức kinh tế trung bình thường ngày chỉ có chất bột là chính, chất đạm

ít, rau xanh cũng không nhiều Nếu một gia đình có khoảng 8 người trở lên, mỗi bữa

ăn có một nồi cơm to, trong mâm ăn có bát canh rau trồng ngoài vườn hoặc lấy từ rừng về Bên cạnh đó là đĩa muối vừng hoặc muối lạc, nếu kiếm được thì có đĩa cá nướng hoặc kho nục Thỉnh thoảng mới có thêm đĩa thịt lợn hoặc thịt gà Nếu nhà

Trang 24

có khách thì có chuẩn bị tươm tất hơn Mâm cơm đãi khách thường có thêm thịt gà nấu canh hoặc xào mà ít khi luộc khi tiếp khách Trong các ngày lễ, tết, người Cao Lan gói nhiều loại bánh ăn tết: bánh chưng, bánh rán, bánh khảo và bánh vắt vai và các loại thịt ướp: lợn, gà để dùng trong suốt những ngày tết

Nước uống hàng ngày của người Cao Lan, chủ yếu là nước chè, nước vối, các loại lá cây được lấy trong rừng hoặc nước đun sôi Bên cạnh đó, rượu cũng được sử dụng phổ biến trong các bữa ăn hằng ngày, khi có khách hoặc các dịp lễ, tết, giỗ chạp Đặc biệt, rượu trở thành một thứ đồ uống không thể thiếu trong các đám cưới, đám ma, mừng thọ, làm nhà…

Trang phục

Đồng bào Cao Lan từ xa xưa tự trồng bông, dệt vải để may quần áo Trang phục của dân tộc được coi là nguồn tài sản quý giá, phân biệt sự giàu nghèo và được coi là một phần trong của hồi môn mà mẹ đẻ trao cho con gái khi đi làm dâu Trang phục cũng là bằng cứ để đánh giá khả năng lao động, đức tính cần cù và độ tài khéo của người con gái Vì thế, các bé gái Cao Lan từ 13 - 14 tuổi đã thạo việc may vá, thêu thùa Đến khi trưởng thành, việc may vá thêu thùa trở thành kỹ năng, nó chứng

tỏ sự đảm đang, quán xuyến của một người vợ, người mẹ trong gia đình

Trang 25

Phụ nữ Cao Lan quấn xà cạp màu trắng, dài khoảng 50cm, có dây buộc như dây đeo dao Xà cạp được nẹp vải màu chàm ở ba cạnh, thường được dùng vào mùa rét Họ quấn từ mắt cá chân lên đầu gối Xà cạp có tác dụng giữ cho đôi chân ấm hơn trong mùa đông giá lạnh và tránh sự cào xước của cây cỏ Phụ nữ Cao Lan thường dùng xà cạp trong lúc lao động, nhưng cũng dùng xà cạp mới màu trắng, đẹp để đi chơi Xà cạp là một trong những bộ phận đặc sắc của trang phục phụ nữ Cao Lan

Trang phục nam giới:

Trang phục nam giới đơn giản hơn trang phục nữ giới nhiều và có nhiều nét giống trang phục của hai dân tộc Tày, Nùng Áo nam màu chàm Thân sau xẻ một đường từ cổ áo xuống tận gấu áo Trước đây áo nam cổ truyền là loại áo 5 thân, cài khuy bên cạnh Cổ đứng, bàn cổ cao 2 cm, xẻ tà 10 cm Về sau xuất hiện kiểu áo như áo nam dân tộc Tày, mở khuy trước ngực và có hai túi ở hai vạt áo trước

Quần của nam giới gần giống quần bà ba/lá tọa của người Kinh, cũng là kiểu quần chân què, ống rộng, cạp buộc bằng dây vải hay túm lại, dắt thành búi

trước bụng

Thanh niên nam nữ Cao Lan xưa có tục nhuộm răng, ăn trầu Hàm răng đen được coi là chuẩn mực của vẻ đẹp, nên ai nấy đều phải nhuộm răng Để nhuộm được răng đen, người ta phải nhịn ăn trong 2, 3 ngày cho thuốc nhuộm không bị phai Ngày nay, người Cao Lan từ cụ già đến em nhỏ, nam cũng như nữ đều mặc quần áo giống người Kinh, họ không còn tự trồng bông dệt vải để may quần áo

mà thường mua vải về may hoặc mua quần áo may s n Tuy nhiên, hiện nay đã

có một số người lại tìm mặc theo lối xưa, nhất là những người đàn ông ở bản Khe Nghè

Nhà cửa

Ngôi nhà truyền thống của người Cao Lan ở bản Khe Nghè là ngôi nhà sàn, do điều kiện từ thực tế cuộc sống nên người dân phải làm nhà sàn để tránh thú dữ, phù hợp với điều kiện địa hình đồi núi Ngôi nhà sàn truyền thống của người Cao Lan mang sắc thái riêng, nó không giống với các ngôi nhà sàn của các tộc người khác

Trang 26

Nhà thường có 3 gian, tuỳ thuộc vào địa hình thì những cây cột có độ dài ngắn khác nhau, sàn nhà cách mặt đất khoảng 1m - 1,4m Mọi sinh hoạt được bố trí trong ngôi nhà sàn Nhà có một cầu thang được bố trí ở rìa bên phải của ngôi nhà (theo hướng nhìn từ trong ra) Từ cầu thang bước lên nhà được sắp xếp: Từ cầu thang vào đến nhà phải bước qua hai sàn nhỏ, sàn thứ nhất từ thang bước lên có một sàn nhỏ, ở đó đặt nước dùng để sinh hoạt, khi vào nhà thì phải rửa chân tay sạch sẽ, tiếp theo là bước lên một sàn nhỏ nữa, sàn này cách sàn dưới khoảng 20cm, khi vào nhà để giầy, dép ở đây Bước vào nhà đầu tiên ta gặp là bếp, bếp được bố trí ở cuối nhà, chỗ đun nấu được làm bằng một khung gỗ, lèn đất chặt để chống lửa bén lên sàn nhà, phía trên là gác bếp dùng để để ngô, lúa… ở ria tường đặt trạn bát Qua bếp là vào nhà, giữa nhà để một lối rộng để đi, hai bên dùng làm nơi ngủ của các thành viên trong gia đình Nếu nhà có con dâu thì lấy liếp nứa ngăn thành từng ô để ngủ, một bên là nơi ngủ của đôi vợ chồng, một bên là nơi ngủ của các thành viên khác trong gia đình Chủ nhà làm một sàn rộng bằng chiếc giường ở góc phải trên cùng của ngôi nhà, cao hơn mặt sàn khoảng 20 cm, đối diện với nơi ngủ của chủ nhà là nơi tiếp khách, phía trước có một cửa thông ra sân Sân được làm bằng một sàn rộng

ở phía trước nhà dùng để phơi phóng và ngồi hóng mát, bàn thờ tổ tiên được làm ở gần chỗ ngủ của chủ nhà Dưới gầm nhà sàn dùng để cối xay, cối giã thóc và các đồ dùng vật dụng của gia đình, xung quanh gầm sàn quây lại, chia thành ô dùng để nhốt gia súc gia cầm Vì vậy, toàn bộ sinh hoạt của người và vật nuôi đều gói gọn trong ngôi nhà sàn [40, tr 84]

Từ những năm 60 của thế kỷ XX, những ngôi nhà sàn của đồng bào đã nhường chỗ cho những ngôi nhà đất Ngôi nhà sàn cuối cùng ở Lục Sơn là của anh Dương Văn Quang (bản Khe Nghè, dỡ bỏ năm 2000) Tuy nhiên, hiện nay mỗi thôn/bản của người Cao Lan lại được dựng mới 1 ngôi nhà sàn ở vị trí trung tâm của thôn/bản làm nhà văn hóa Các hoạt động tập thể, họp hành và sinh hoạt văn hóa đều diễn ra

ở đây Những ngôi nhà sàn hiện nay không còn là do: thứ nhất, do nguồn nguyên liệu gỗ ngày càng khan hiếm, rừng bị thu hẹp, hoặc theo luật không được khai thác

và sử dụng; hai là, do ảnh hưởng của lối sống hiện đại, nên việc “hạ sàn” ngôi nhà

để cho sinh hoạt của gia đình phù hợp với nhịp sống đương đại

Trang 27

1.3.2 Đời sống tinh thần

Tín ngưỡng

Người Cao Lan cho rằng thế giới có ba tầng: Tầng trên cũng là tầng trời Trên

đó có Ngọc Hoàng với các quan quân nhà trời Tầng thứ hai (tầng giữa) là mặt đất, tầng này là cuộc sống hiện tại của muôn loài… Tầng thứ ba là tầng âm phủ, nơi cư trú của các hồn ma và có các vị thần cai quản Cũng như thuyết luân hồi của đạo Phật, người Cao Lan cho rằng, người chết không phải đã hết mà là chuyển từ kiếp này sang kiếp khác, và cuối cùng là trở về kiếp người [58, tr 305]

Về hệ thống tín ngưỡng, họ theo đạo Phật, đạo Nho và thờ gia tiên [26, tr 8] Hoạt động điền dã, khảo sát trên địa bàn người Cao Lan sinh sống tại xã Lục Sơn, huyện Lục Nam và một số địa bàn khác thuộc huyện Yên Thế, huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang cho thấy, người Cao Lan cũng thờ Phật Họ cho rằng ba bức tranh Thái Thanh, Thượng Thanh và Ngọc Thanh là ba vị Tam Bảo trong hệ thống điện thờ của Phật giáo Họ cũng quan niệm rằng, ba bức tranh Tam Thanh đó là ba vị Thái Thượng Lão Quân trong Đạo giáo Ngoài ra, một số tranh thờ của người Cao Lan còn có chữ Vạn là biểu tượng của đạo Phật, qua đó bước đầu có thể thấy người Cao Lan theo đạo Phật và đạo Lão Tuy có những biểu hiện thờ Phật trong cuộc sống nhưng người Cao Lan khi hỏi về hệ thống quản lý, nghi lễ và nơi thờ phụng thì

họ không nắm chắc và cũng không thấy người Cao Lan đi tu hành nơi cửa phật Các

vị thầy cúng thì có sách và nội dung cúng sâu sắc, kỹ lưỡng theo đúng phép hành đạo của nhà chùa [53, tr 306]

Ngoài chịu ảnh hưởng của đạo Phật, người Cao Lan xã Lục Sơn còn chịu ảnh hưởng của đạo Lão Tuy nhiên, các văn bản tài liệu nói về Đạo giáo và Phật giáo rất

ít trong cộng đồng người Cao Lan mà chủ yếu ở các bộ tranh thờ, cúng và trong các nghi lễ thờ cúng được tổ chức trong đời sống của họ Việc thờ cúng các vị thánh cũng không phổ biến, chủ yếu những người làm nghề thầy cúng mới có ban thờ đạo Lão Nhưng ban thờ cũng đơn giản, chỉ có một bát hương nhỏ đặt ngay nơi ngủ của ông thầy Người Cao Lan rất coi trọng việc chọn đất, chọn hướng, xem tuổi làm nhà, chọn hướng, chọn đất đặt mộ cho người chết… Những việc này đều do thầy cúng đảm nhiệm

Trang 28

Mỗi một dòng họ người Cao Lan đều mang một hình thức tín ngưỡng riêng

của mình Đặc biệt nhất là tín ngưỡng thờ ma ham Đó là tục thờ cúng những động

vật, những đồ vật… Những thứ được thờ, đều được coi là thủy tổ của dòng họ và đời đời nối tiếp nhau phải kiêng thờ và duy trì tôn kính Do vậy, người Cao Lan có bao nhiêu dòng họ thì có bấy nhiêu tục thờ ma hương hỏa Ví dụ họ Hà cúng gà sống thiến, các họ: Ninh, Lâm, Trần, Tiêu rất kiêng có chó lên nhà… [58, tr 307]

Tục thờ ma ham của từng dòng họ, nhành họ, chi họ của người Cao Lan đều có

những truyền tích riêng biệt, làm phong phú và đa dạng thêm kho tàng văn hóa dân gian của tộc người này

Việc thờ cúng, kiêng kỵ của các dòng họ có điểm chung và cũng có nhiều điểm khác biệt Tết mùng 5 tháng 5, họ Lục cũng lưu lại câu chuyện: truyện kể rằng nhà họ Lục có nhiều chị em dâu cùng chung sống Một năm vào dịp tết mùng 5 tháng 5, các gia đình đều làm bánh ăn tết Trong nhà các chị em dâu tị nhau không

ai chịu đi vớt bánh Người chị dâu cả đang cõng con phải vào vớt bánh Người mẹ cúi xuống vớt bánh, đứa con trên lưng theo đà cúi bị rơi xuống nồi bánh đang sôi và chết Từ đó họ Lục thề không ăn tết này nữa

Tết mồng 10 tháng 10, họ Nịnh phải làm bánh dày để cúng tổ tiên Trong dòng

họ quy định nếu không cúng thì không được nói đến tên bánh dày (ẹc sơi) nữa

Trong tết này, họ Hoàng lấy bột gạo làm bánh trôi để cúng Các họ khác thì đều làm xôi gừng

Ngoài ra, những người làm nghề thầy cúng kiêng ăn thịt chó, diều hâu, rùa, cá chuối đẩu Nguyên nhân của những tục kiêng này được đồng bào cho biết: Kiêng không ăn thịt diều hâu vì diều hâu trong tích Đường Tăng đi lấy kinh nhờ nó làm tung hòm sách nên mới biết là trong sách không có chữ Đường Tăng lại quay trở lại chỗ Phật tổ lấy được kinh có chữ, do đó mà biết ơn diều hâu Khi đã lấy được kinh có chữ rồi thì đến bờ sông rộng không có thuyền bè để qua sông, rùa lớn ở dưới sông đã nổi lên đưa Đường Tăng và sách kinh qua sông Người Cao Lan Khe Nghè cũng kiêng ăn cá đẩu (giống cá chuối, nhưng đầu hơi bẹt, vảy màu sáng, có dấu đỏ ở vây và đuôi, hay sống ở khe suối) là vì theo truyền thuyết: xưa có các thầy cúng đi đường không có đường tắt, nên phải đi xa rất vất vả và khát nước, mà

Trang 29

không biết ở đâu có nước, mới nói thầm rằng bây giờ mà có con gì dẫn đường đi uống nước thì sẽ không bao giờ ăn thịt con ấy Vừa ước xong, bỗng thấy một con cá đẩu đang rạch trên mặt cỏ Thầy cúng đi theo nó, một lúc sau thấy đến chỗ có nước Thầy cúng bèn theo đúng lời ước cũ, lấy dấu đỏ đánh dấu lên hai vây và đuôi cá Từ

đó về sau cứ gặp cá có dấu đỏ ở 3 vị trí trên là người Cao Lan không bắt, và không bao giờ giết thịt để nhớ ơn xưa…

Lễ tết, hội hè

Tết Nguyên đán

Là tết mở đầu một năm mới và cũng là ngày tết lớn nhất trong năm Đồng bào

ăn tết từ chiều 30 đến hết mùng 3 Để phục vụ cho ngày lễ tết thì họ phải chuẩn bị

từ trước đó rất lâu, chuẩn bị về lương thực, thực phẩm Đến gần ngày tết, họ quét dọn nhà cửa sạch sẽ, lau chùi dọn dẹp mọi đồ đạc trong nhà, tất cả mọi thứ từ trong

ra ngoài đều phải gọn gàng ngăn nắp Họ cắt giấy bản (màu vàng hoặc đỏ) có kích thước khoảng 5x5cm và họ dán ở khắp trong nhà, kể cả ở chuồng trâu, chuồng lợn, chuồng gà, các đồ dùng dụng cụ trong nhà như cày, bừa, cuốc Còn ở những nơi như: cửa ra vào, cửa sổ, bàn thờ họ cắt giấy đỏ có kích thước khoảng 10 x 20cm dán

ở trên, mỗi cửa dán từ 5 đến 7 tờ Sau khi trang trí xong, ngôi nhà trở nên rực rỡ hơn, không khí tết như đang tràn ngập khắp nơi

Sáng ngày mùng 1 tết, mọi thành viên trong gia đình dậy sớm, làm mâm cơm cúng tổ tiên, sau khi ăn uống xong họ đi đến những nhà trong làng bản chúc tết nhau những điều tốt đẹp nhất Đám thanh niên thì rủ nhau hát Sịnh ca, đây là dịp trai gái thể hiện tài năng ca hát và tỏ tình với nhau

Tết thanh minh

Trước đây, người Cao Lan làm tết thanh minh vào đúng ngày (3/3 âm lịch) Ngày nay do những thay đổi trong điều kiện lao động, simh hoạt… nên có thể làm trước hoặc sau từ 1, đến 2 ngày Đối với họ, đây là lễ quan trọng nhất trong việc đền đáp công ơn đối với tổ tiên Vào ngày này, tất cả những ngôi mộ mà người con trai trưởng phải cúng được con cháu tập trung vun xới và quét dọn sạch sẽ Người Cao Lan chỉ cúng hai đời, bao gồm ông bà và bố mẹ, khi thế hệ tiếp theo chết thì thế hệ trên đó không được thờ cúng trên bàn thờ nữa, họ quan niệm những người này đã

Trang 30

thành Tiên, thành Phật Đúng ngày thanh minh, tất cả con cháu lại tập trung tại nhà người con trai trưởng, nếu trong gia đình có người biết cúng thì làm lễ, không thì phải mời một thầy cúng đến cúng cho Trong thờ cúng tổ tiên của người Cao Lan, ngoài việc thờ cúng tổ tiên nhà chồng, người con gái có quyền thờ cúng cha mẹ mình (nếu cha mẹ đã chết) tại nhà chồng Nghi thức cúng tế được thực hiện ngoài thềm hoặc ngoài sân Lễ vật dùng để cúng gồm: 6 con gà luộc (mỗi người một con: ông, bà, bố, mẹ, bố, mẹ vợ), 2 bát gạo dùng để cắm hương, 4 bát đựng cơm, mỗi mâm 5 chén đựng rượu, 1 nia nhỏ bên trong làm bốn mộ giả bằng cám (lẽ ra phải ra tận mộ cúng, nhưng vì đường xa nên làm những mộ giả này để cúng luôn một thể, chỉ làm mộ bên nội) Mỗi mộ có một tờ sớ ghi đầy đủ họ tên của người được được cúng Thầy làm lễ cúng trong khoảng 2 giờ Xong xuôi, con cháu hạ lễ sắp mâm, tất

cả mọi người trong gia đình cùng ăn uống một bữa vui vẻ

Tết 5/5

Các gia đình cũng sắp một mâm lễ để cúng tổ tiên, trong mâm cỗ không thể thiếu món bánh gio Bánh được làm bằng gạo nếp ngâm trong gio một số loại cây trên rừng Sau khi luộc, chín bánh được vớt ra để nguội đặt lên bàn thờ cúng

tổ tiên Bánh gio khi ăn chấm với đường hoặc mật mía, ngon nhất là chấm với mật ong rừng

Tết 14/7

Với người Cao Lan thì tết này to thứ hai sau tết Nguyên đán, vào ngày lễ này thì các gia đình làm nhiều loại bánh, nấu nhiều món ăn hơn Một thứ bánh không thể thiếu được trong ngày tết này là bánh vắt vai Bánh được làm bằng gạo nếp ngon, gói trong lá chuối Nhân bánh được làm bằng đỗ xanh, có thể làm nhân mặn hoặc nhân ngọt; khi chuẩn bị xong nguyên liệu thì gói bánh, véo một cục bột bằng nắm tay, cho nhân vào giữa, gói vào lá, một lá chuối gói hai cái ở hai đầu (ở giữa để trống có thể vắt qua vai nên gọi là bánh vắt vai); gói xong cho vào nồi đặt lên bếp luộc chín, để nguội đặt lên bàn thờ cúng tổ tiên2

thuận tiện cho việc luộc, vớt và bảo quản cũng như vác trên vai mỗi khi đi rừng, đi nương Ngoài ra, bánh vắt vai cũng mang ý nghĩa tâm linh là đồ dâng cúng, ông bà, tổ tiên có thể vắt lên vai mang về cõi bên kia hay làm đồ ăn dọc đường

Trang 31

Tết 10/10

Cũng như các tết khác, các gia đình làm mâm cơm để cúng tổ tiên, ngoài ra họ phải làm món xôi lá gừng, món xôi này ít dân tộc làm Xôi gừng được làm bằng cách: chọn loại gạo nếp ngon, cho vào nước ngâm vài tiếng, lá gừng lấy loại lá bánh

tẻ, cho vào cối giã nát nhuyễn, lọc lấy nước cốt xanh đặc ấy, gạo nếp cho vào chõ đặt lên bếp đun, khi đun thỉnh thoảng lấy thìa rưới nước lá gừng lên gạo, làm như vậy vài lần, khi xôi chín thì thôi, xới ra đĩa để nguội đặt lên bàn thờ cúng tổ tiên Xôi ngon phải đạt yêu cầu là vừa chín tới, không bị nát, mùi thơm của gừng và phải

có màu xanh

Tết cuối cùng của năm là tết ông công ông táo, tết này được làm vào ngày 30 tháng chạp Đây là tết cuối cùng của năm và cũng vào thời khắc chuẩn bị đón năm mới Vào ngày này các gia đình làm một mâm cơm để cúng tổ tiên, đồng thời xua đuổi hết những điều xúi quẩy, không may mắn của năm cũ, chuẩn bị đón năm mới

Các ngày lễ trong năm

Lễ xuống đồng

Đây là một nghi lễ phổ biến ở các làng bản của người Cao Lan ở Lục Sơn, là

cư dân nông nghiệp, nên việc sản xuất mùa vụ phụ thuộc chính vào thời tiết, từ đó nẩy sinh việc cúng tế trời đất, cầu cho mưa thuận gió hoà Trước đây, việc trồng lúa nước chỉ được làm một vụ trong năm, trước khi cấy lúa, trong bản phải có một ông thầy xem xét ngày làm lễ xuống đồng, ngày này phải là ngày tốt Sau khi xem được ngày lành thì ông thầy đi báo cho mọi người trong bản được biết, đến ngày, dân làng làm một lễ nhỏ mang ra đình/miếu làng cúng thành hoàng làng/thổ công thổ địa, cầu cho mưa thuận gió hoà, thời tiết thuận lợi, mùa màng tốt tươi không bị sâu bệnh, lễ vật dùng để cúng rất đơn giản, chỉ có một con gà luộc, một bát xôi, 1 chai rượu Sau khi làm lễ cúng xong, ông thầy ra ngoài đồng cấy một ít ở góc ruộng, khi ông thầy cấy xong thì từ đây dân làng mới bắt đầu được xuống ruộng cấy Nghi lễ này được thực hiện vào ngày 2/2 và 2/6 (Âm lịch) hằng năm (ảnh phụ lục)

Lễ mừng cơm mới

Khi những cánh đồng lúa bắt đầu chín vàng, ông thầy cúng lại chuẩn bị xem một ngày tốt để làm lễ mừng cơm mới Sau khi thầy xem được ngày, thì thông báo

Trang 32

cho các gia đình trong bản biết Thầy ra ngoài ruộng, thấy lúa của nhà nào chín nhất thì cắt lấy một ít Lúa này mang về nhà phơi khô, xay xát thành gạo, sau đó ông mang chia cho mỗi gia đình một ít Đến ngày tốt đã định, các gia đình mang gạo mới ra nấu Cơm chín, sẽ được dâng lên cúng tổ tiên để báo cáo thành quả của mùa

vụ Sau khi cúng xong, các thành viên trong gia đình cùng ăn, mỗi người chỉ ăn một

ít, họ quan niệm khi ăn cơm mới, sẽ không bị bệnh tật Lúc ăn cơm mới, chỉ có các thành viên trong gia đình Họ cho rằng, nếu có người khác biết thì cơm sẽ không thiêng nữa Vì vậy, khi ăn cơm mới họ đóng cổng lại, không cho người ngoài vào hoặc họ làm một cành cây buộc ở cổng để báo cho mọi người biết, khách đến khi nhìn thấy cành lá thì biết rằng nhà đang kiêng nên họ cũng không vào Trường hợp đặc biệt như khách lạ đến chơi không biết, thì tuỳ theo từng gia đình xử trí, có nhà cúng xong mang xuống bếp mỗi người ăn một ít không cho người khách lạ kia biết Cũng có gia đình coi người khách lạ như một thành viên trong nhà và mời cùng ăn cơm với họ Hiện nay, lễ ăn cơm mới còn phổ biến ở những bản có thuần người Cao Lan sinh sống

Lễ hội Ngồi Đồng:

Lễ hội Ngồi Đồng là phong tục văn hoá đặc sắc của đồng bào Cao Lan, chỉ còn duy trì ở bản Khe Nghè, xã Lục Sơn Xưa kia, đồng bào Cao Lan tổ chức lễ hội Ngồi Đồng cơ bản nhằm mục đích giao lưu gặp gỡ học hỏi giữa các thầy cúng đồng tộc trong vùng; còn đối với người ngồi đồng thì nhằm mục đích kiểm tra xem bản thân có máu/căn đồng hay không, tức là bản thân có khả năng được Thánh nhập vào phần hồn để có thể theo nghề thày cúng hay không

Trang 33

Thông thường, lễ hội Ngồi Đồng được tổ chức trong thời gian khoảng nửa tháng Ngày khai hội thường tổ chức vào ngày mồng hai, mồng ba tháng Giêng và kết thúc vào ngày rằm hoặc 16 tháng Giêng

Ngoài các thầy cúng là những người chính thức đăng ký ngồi đồng theo học chữ Nho để kế nghiệp cúng bái thì còn là những người muốn thử xem mình có máu đồng, Thánh có nhập vào mình hay không Trước kia, chỉ có người đồng tộc tham gia, những năm gần đây còn có thêm bạn bè, người thân, khách vãng lai các tộc dân khác trong vùng cũng về đám hội Trong đám học trò, khi đã ngồi đồng, thánh đã nhập thì các thầy cấp sắc cho, những người có nhu cầu học nghề thầy cúng khi đó bắt buộc phải có lễ mọn để thầy làm lễ nhập môn Lễ vật này cũng tuỳ học trò, nhưng thông thường chỉ có con gà trống không kể to nhỏ cùng chai rượu Những người đăng ký nhưng khi ngồi đồng, thánh không nhập thì không phải đóng góp gì

và cũng không được các thầy truyền dạy Đức tin của các thầy với Thánh - Phật rất tuyệt đối nên các thầy quan niệm người nào Thánh không nhập thì không thể làm thầy cúng

Cũng trong số người có máu/căn đồng (tức được Thánh nhập), không kể có đăng ký hay không, nếu muốn học thì các thầy dạy ngay cho những bài cúng thông thường như: cúng mụ, cúng lễ tết, cúng tổ tiên, cúng đám ma, đám cưới, giải hạn…) Còn muốn theo nghề thầy cúng thì sau lễ hội phải tiếp tục theo học mới thành nghề

Lễ hội Ngồi Đồng hàm chứa ý nghĩa và giá trị văn hoá sâu sắc trên nhiều khía cạnh của đời sống xã hội Ý nghĩa sâu sắc nhất là nó trực tiếp duy trì một phong tục, tập quán đẹp, lành mạnh mang đậm tính nhân văn và lưu truyền các giá trị, bản sắc văn hoá truyền thống của người Cao Lan

Nghi lễ vòng đời

- Phong tục, tập quán trong sinh đẻ

Do xây dựng gia đình từ rất sớm nên phụ nữ Cao Lan cũng sinh con sớm, khoảng 16 - 17 tuổi đã làm mẹ Điều này bắt nguồn từ việc đất rộng người thưa, với tâm lý thích con đàn cháu đống, nên những gia đình người Cao Lan thường đẻ rất nhiều con, trung bình mỗi gia đình có khoảng 4 - 5 con

Trang 34

Kiêng khem khi mang thai

Khi người phụ nữ mang thai sinh con lần đầu cũng như những lần tiếp theo, họ kiêng khem rất cẩn thận Họ kiêng ăn thịt trâu (sợ lạnh bụng), thịt chó, thịt lợn sề,

gà mái già, gà trống dái, không ăn các thứ gia vị cay kiêng không bước qua chạc trâu hay ngồi vào cày bừa sợ khó đẻ, không làm các việc nặng nhọc

Hình thức kiêng kỵ khi sinh nở

Đến ngày sinh nở, khi đau bụng đẻ, người nhà phải đưa xuống dưới sàn để đẻ, người nhà đi gọi một bà biết đỡ đẻ ở trong làng/bản đến đỡ cho Phụ nữ Cao Lan thường đẻ ngồi, họ lấy một sợi dây buộc lên sàn nhà, người phụ nữ 2 tay cầm vào sợi dây ngồi xổm mà đẻ Khi đẻ xong đứa trẻ được người nhà nấu nước lá tắm lau rửa sạch sẽ

Nhà có người sinh nở thì kiêng những người lạ vào nhà, họ sợ đứa trẻ mới sinh

bị phải vía hay khóc hoặc đau ốm khó nuôi Họ lấy một túm cây nào đấy treo ở cổng hoặc ở hiên nhà, những người trong làng bản thấy bó cây treo đấy thì biết nhà

có người mới sinh nở nên sẽ không vào

Nghi lễ cúng, đặt tên cho trẻ

Sau khi đứa trẻ sinh được 3 ngày, thì gia đình làm lễ cúng “ba mai”, cũng vào ngày này gia đình đặt tên cho đứa trẻ Trong ngày lễ cúng ba mai, cả họ nội và họ ngoại đều đến để chúc mừng cho gia đình có một thành viên mới Thông thường, tên của đứa trẻ do ông bà ngoại đặt cho, nếu ông bà ngoại không còn, thì ông bà nội hoặc các bác, các chú cùng toàn thể gia đình chọn một cái tên thích hợp để đặt cho đứa trẻ

Người phụ nữ sau khi sinh sẽ ở cữ 42 ngày, trong thời gian đó, họ tránh làm những việc nặng, ăn kiêng các thức ăn như lúc mang thai

Khi gia đình có thêm một thành viên mới, hai bên họ hàng nội ngoại cùng nhau chăm sóc đứa trẻ nên người, những người trong dòng họ đến chơi, người thì cho con gà, người thì cho ống gạo để mẹ bồi bổ lấy sữa nuôi con Riêng bên nhà ngoại, thì khâu cho cháu cái địu hoặc đan cho cháu cái nôi làm quà mừng

Bàn thờ mụ được lập trong buổi lễ cúng ba mai, bàn thờ này do bên nội làm Thông thường, bàn thờ được làm bằng tre, có kích thước khoảng 35 x 45cm, bên

Trang 35

trên đặt một ống hương và một vài chiếc chén để đựng rượu khi cúng Bàn thờ mụ được treo ở đầu giường nơi đứa trẻ nằm, chỉ cúng vào dịp tết Nguyên đán hay vào lúc đứa trẻ đau ốm, sài đẹn phải mời thầy về cúng thì mới đụng đến, còn bình thường thì không ai đụng vào đấy Bàn thờ mụ chỉ lập một lần, trong nhà dù có nhiều con cũng chỉ cúng chung một bàn thờ đấy Khi đứa trẻ lớn lên họ không bỏ bàn thờ mụ đó đi, cứ treo ở đó đến khi nào nó tự hỏng thì thôi hoặc khi người đó chết đi thì mang đi đốt

Trong quá trình nuôi con, có những đứa trẻ hay ốm đau bệnh tật, gia đình phải mời thầy về cúng Với những đứa trẻ hay quấy khóc, gia đình phải tìm thầy cúng nào cao tay rồi gửi thầy gọi là “gửi bóng thánh” Những đứa trẻ đã gửi bóng thánh, khi thầy chết phải đi ăn chay

Người Cao Lan khi qua đời, người nhà xem ngày giờ đưa xác ra đồng, có thể

là cả đêm tối, nếu được giờ tốt, cũng đưa đi Sau khi đưa xác đi chôn, tang chủ mới

về “làm ma”, dựng nhà táng Quan niệm của người Cao Lan là xác chết đem đi gửi, còn thần hồn vẫn ở lại nhà nên phải làm nhà táng cúng ma để đưa tiễn phần hồn đi Trong khi đưa tang, người Cao Lan có tục lăn đường Tất cả con cháu trong nội tộc, nằm nối nhau quay vào trong nhà 3 lần để mọi người khiêng quan tài ra Theo phong tục của người Cao Lan, các ông bà thông gia chỉ đưa đám đến nửa đường thì quay về mà không đưa đến tận huyệt Thông gia chỉ đến viếng vong ở cổng, mà không được vào trong nhà [7, tr 299]

Trang 36

Sau khi chôn cất người chết xong, trong vòng một năm, con cháu phải có mâm cơm cúng riêng đặt trên bàn thờ Đến bữa ăn, con cháu phải để một bát không và

một đôi đũa trong mâm Hết năm là tụt tang thì thôi [9, tr 300]

Cũng giống như người Việt và một số tộc người thiểu số vùng Đông Bắc, người Cao Lan trong thời gian có tang (một năm, cho đến khi tụt tang) không tổ chức cưới xin, không đến dự các việc vui của nhà người khác, không đi chúc Tết… Đây cũng là một trong những hình thức kiêng kỵ sau tang ma rất phổ biến trong cộng đồng các tộc người ở Việt Nam nói chung và miền Bắc nói riêng

Văn nghệ dân gian

Hát dân ca của tộc người Cao Lan là một kho tàng di sản văn hoá phong phú,

đa dạng về thể loại và có giá trị cao về nghệ thuật Dân ca Cao Lan được lưu truyền

từ người già đến con trẻ, ai ai cũng mê say Bởi nó không chỉ bao gồm những bài hát giao duyên của trai gái, mà còn có nhiều bài hát ca ngợi sản xuất, hát về 4 mùa

12 tháng, những bài hát phụng thổ công, phụng thần nông, hát mừng nhà mới, hát ru con, hát đền ơn cha mẹ, hát đố, hát ghẹo …, người Cao Lan gọi đó là “Sịnh ca”

“Sịnh ca” phần lớn là những bài hát trong xã hội truyền thống Mặc dù vậy, trong cuộc sống hàng ngày, những bài dân ca cổ truyền vẫn rất sống động và phù hợp với nhu cầu của nhân dân lao động Có điều, những bài hát của tộc người Cao Lan đều viết bằng chữ Hán, nếu thanh niên nam nữ muốn hát được, họ lại phải nhờ những người biết chữ Hán giúp đỡ

Về lối hát, bên cạnh những bài có s n, với nội dung định trước, người hát có thể thêm bớt ít nhiều cho hợp với thực tiễn, còn gọi là bài hát ngẫu hứng Ở đây người ta tuy vẫn dựa vào vốn dân ca có s n nhưng cũng có thể tuỳ hứng mà đối đáp nên thể loại dân ca này sinh động hơn và là nguồn bổ sung phong phú cho dân ca Cao Lan (xem thêm phần phụ lục)

Trong các loại Sịnh ca của dân tộc Cao Lan, thì Sịnh ca kên láu (hát đám cưới)

là thể loại vui nhộn và rất phong phú về số lượng bài Những năm trước 1970, người Cao Lan coi việc hát trong đám cưới là một việc gần như bắt buộc Đám cưới

mà không có sịnh ca thì không gọi là cưới Từ khi đi đón dâu đến lúc đưa dâu về nhà chồng thường phải qua ít nhất hai đêm hát Bắt đầu đến nhà gái, đoàn đón dâu của nhà trai đã phải hát một số bài thì nhà gái mới cho vào nhà

Trang 37

Là cư dân nông nghiệp, người Cao Lan quen với công việc đồng áng, ruộng nương Trong quá trình lao động sản xuất, đồng bào có rất nhiều bài hát ở thể loại này Những khi vất vả mệt nhọc, đồng bào thường cất lên tiếng hát ca ngợi lao động, cầu chúc những vụ mùa tươi tốt bội thu và động viên nhau hăng say lao động Ngoài những bài sịnh ca giao duyên, hát đố, hát về sản xuất…, tộc người Cao Lan còn có khá nhiều bài hát mang tính chất tâm linh - hát thờ cúng hay hát trong nghi lễ

Bên cạnh những bài hát cổ, hiện nay đồng bào Cao Lan còn tự sáng tác ra những bài ca mới ca ngợi công ơn của Đảng, của Bác Hồ (xem thêm phần phụ lục) Sịnh ca Cao Lan không hề bị lệ luật ràng buộc chặt chẽ, cũng không hề phụ thuộc vào không gian và thời gian để diễn xướng Đó là các cuộc hát ở trong nhà mỗi khi năm mới đến, hát giao duyên trong các đám cưới… với các địa điểm trong nhà, ngoài đường, trên đồi, giữa chợ… với một không gian rộng mở Thời gian hát cũng không cố định bắt buộc, mà nó phụ thuộc vào thời điểm diễn ra các nghi lễ hay các hoạt động trong đời sống sinh hoạt cộng đồng

1.3.3 Văn hóa xã hội

Gia đình

Là tộc người theo chế độ phụ quyền, nên ở người Cao Lan, con gái không được thừa kế tài sản Khi con gái đi lấy chồng, cha mẹ chỉ sắm cho một vài tư trang bình thường Con trai, con gái người Cao Lan được tự do tìm hiểu, qua các buổi đi hát, nhưng dù có thương yêu nhau đến mấy thì khi đi đến hôn nhân vẫn phải được

sự đồng ý của cha mẹ hai bên Thực tế, ít có trường hợp con cái phản đối quyết định của cha mẹ vì bản thân họ cũng tin vào số mệnh và duyên số

Trong gia đình người Cao Lan thường có 2 thế hệ cùng sinh sống, bao gồm bố

mẹ và con cái, mỗi cặp vợ chồng thường có trung bình 4-5 người con, có những gia đình nhiều con hơn nữa (6,7,8 thậm chí 9,10 người) Khi con cái đến tuổi trưởng thành, bố mẹ xây dựng gia đình cho và cho ra ở riêng, việc phân chia tài sản không

có quy định cụ thể mà tuỳ thuộc vào kinh tế của mỗi gia đình Khi con cái trưởng thành hết, bố mẹ về già thì hai ông bà chia nhau ra ở cùng với con cái để đỡ đần việc nhà và đó cũng là chia sẻ gánh nặng về kinh tế cho mọi người Trong gia đình

Trang 38

Cao Lan, người đàn ông giữ vai trò làm chủ, mọi việc lớn trong nhà đều do chủ nhà quyết định Những người già trong gia đình cũng giữ vai trò quan trọng trong việc chỉ bảo, định hướng cho con cháu Người Cao Lan theo chế độ một vợ một chồng với nguyên tắc ngoại hôn dòng họ Những người cùng dòng họ theo dòng cha tuyệt đối không được lấy nhau

Người Cao Lan thực hiện nguyên tắc cư trú bên chồng Việc ở rể tương đối phổ biến nhưng do sự tự nguyện của các chàng trai Việc ở rể không mang ý nghĩa

là gia đình người con trai nghèo khó hoặc ở rể để bù đắp sự mất mát sức lao động cho nhà vợ Thông thường, ở rể chỉ xảy ra đối với những gia đình bên vợ không có con trai Nếu gia đình nhà vợ neo đơn, chàng rể thường đến giúp đỡ những công việc nặng nhọc hoặc theo mùa vụ, sau đó lại trở về nhà mình

Việc phân công lao động trong gia đình không được rõ ràng Tuy nhiên, người đàn ông làm các việc nặng nhọc như: cày bừa, đi rừng người phụ nữ chăm sóc con cái, làm việc nương rẫy, cấy hái; người già và trẻ nhỏ thì làm các việc nhẹ như nấu cơm, chăn trâu Do bị ảnh hưởng/tác động của lễ giáo phong kiến khá sâu sắc, mặc

dù trong gia đình người phụ nữ có vai trò nhất định nhưng họ lại bị ràng buộc nhiều bởi những lệ tục, nhất là những cô dâu mới về nhà chồng họ phải kiêng kị hay giữ gìn rất nhiều thứ

Quan hệ dòng họ

Trong quan hệ dòng tộc, anh em cùng vai vế không có sự phân chia thứ bậc

rõ ràng, họ quan niệm ai nhìn thấy mặt trời trước thì là trên vì thế mới có chuyện

"thằng anh con ông chú hoặc đứa em con ông bác" Tuy nhiên nếu người có vai

vế là bậc chú nhưng ít tuổi hơn cháu thì người cháu vẫn phải gọi theo vai vế như bình thường Ví dụ như, em trai của bố có ít tuổi hơn mình thì mình vẫn phải gọi bằng chú Sự liên kết giữa các thành viên trong cùng một họ khá chặt chẽ, do cuộc sống khó khăn nên mọi người trong cùng họ không có điều kiện sống gần nhau, mỗi người ly tán một nơi Nhưng dù ở đâu, thì họ vẫn luôn nhớ về quê hương dòng tộc, và luôn liên lạc với nhau, mỗi khi trong dòng họ có việc lớn gì thì đều tề tựu đông đủ

Trang 39

Làng bản

Tìm về cội nguồn, theo lời kể của các già bản, qua gia phả các dòng họ, được biết người Cao Lan ở xã Lục Sơn đều có gốc gác từ hai tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây (Trung Quốc) Phần do chiến tranh loạn lạc, phần do cuộc sống du canh du cư

đã phiêu dạt đến Việt Nam từ những năm cuối thế kỷ 18 Cuốn Lịch sử họ Dương

do ông Dương Văn Cao cùng Hội đồng gia tộc biên soạn cho biết: Họ Dương vốn ở tỉnh Quảng Tây, di cư đến Quảng Đông vào năm 1748 Năm 1768 đến Hoành Bồ (Quảng Ninh) Năm 1829 từ Hoành Bồ đến Phắt Me (Móng Cái, Quảng Ninh) Năm

1881 đến Đá Bờ (nay thuộc huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang) Cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20 một nhóm người Cao Lan từ Đá Bờ sang Đèo Gia (Lục Ngạn), một nhóm đến Vĩnh Ninh (nay thuộc xã Lục Sơn, huyện Lục Nam), rồi lập nên bản Trại Cao, hay còn gọi là trại Cao Lan vào năm Duy Tân thứ 2 (1908) Khi núi rừng Trại Cao

đã vơi cạn lâm lộc, đồng bào lại tiến sâu vào rừng đại ngàn tìm đất mới màu mỡ để phát nương làm rẫy xây dựng cuộc sống mới, mảnh đất đó là Khe Nghè ngày nay Theo già bản Khe Nghè cho biết, dòng họ đến Khe Nghè sớm nhất là họ Tống

Họ Tống từ xã Lâm Ca, huyện Hoành Bồ, tỉnh Quảng Ninh, chuyển dần qua các huyện Sơn Động, Lục Ngạn, Lục Nam, đến Khe Nghè năm 1906 Ban đầu có 5 anh

em trai:

- Người con trai cả là cụ Tống Văn Sinh, đến Khe Nghè năm 13 tuổi, mất năm

1978 tại Khe Nghè, thọ 85 tuổi Con trai cả của cụ Sinh là cụ Tống Văn Vinh - 86 tuổi, làm nghề thầy cúng và hiện nay, con trai cả của cụ Vinh là anh Tống Văn Lương - 58 tuổi cũng làm nghề thầy cúng

- Người con thứ hai là Tống Văn Thiết, mất tại Khe Nghè

- Người con thứ ba là Tống Văn Kiềng, năm 1954-1955 chuyển ra sinh sống tại xã Bình Sơn để nhận ruộng Nhà nước lấy lại của địa chủ (trong cải cách ruộng đất) Ông mất tại Bãi Cả, xóm Khe Sâu năm 1956

- Người con thứ tư là Tống Văn Tành, năm 1955 ra nhận ruộng tại khu Rừng Long xã Lục Sơn; mất năm 1957

- Người con thứ năm là Tống Văn Sệch, 66 tuổi sống tại thôn Trại Cao

Trang 40

Cũng theo già bản cho biết, tên Khe Nghè có từ đầu thế kỷ XX, một con suối lớn chảy qua bản, ở cửa suối chảy ra xưa có một nghè nhỏ, nên được gọi là Khe Nghè, từ đó mà thành tên bản Những năm 1955-1960, một số hộ đi nhận phần ruộng Nhà nước giao, do đó bản được nhập chung vào thôn Vĩnh Ninh Sau này khi dân số phát triển hơn, lại tách thành hai bản là Trại Cao và Khe Nghè [40, tr 8]

Do di cư đến Việt Nam muộn hơn so với các tộc người khác, nên người Cao Lan - Sán Chí thường ở xen kẽ với các tộc người Tày, Nùng, Sán Dìu, Dao [21, tr 216] Tại Bắc Giang, địa bàn cư trú của họ thường là vùng sâu, các sườn đồi núi dốc, không được bằng phẳng, việc canh tác ít nhiều gặp khó khăn, hay ở trong các khe, các vực, đường đi đến không được dễ dàng hoặc phải ở trên những mảnh đất

mà lớp cư dân khác đã chuyển đi vì đất kém màu mỡ Ban đầu họ đến đây với số lượng người rất ít, chỉ gọi là các xóm hay trại Cao Lan, dần dần sinh con đẻ cái, dân

số đông dần, các làng bản được hình thành và thiết chế cộng đồng làng bản được thiết lập Mỗi bản có từ 20 - 30 đến 40 - 50 nóc nhà, đứng đầu mỗi bản là người khán trại (hay khán bán), do người có chân trong kỳ mục bầu ra và được lý trưởng chấp nhận Sau đó, người nhậm chức phải khao các kỳ mục một bữa (giống với người Kinh ở châu thổ “vô vọng bất thành quan” 3) Khán bán có nhiệm kỳ 2-3 năm,

có nhiệm vụ giúp lý trưởng quản lý dân số, bảo vệ an ninh, đốc phu, thu thuế tại bản của mình Về quyền lợi, khán bán chỉ được miễn đi phu trong thời gian tại chức, sau khi hết nhiệm kỳ, nếu không mắc lỗi thì được ngồi kỳ mục [54, tr 236]

Tại cộng đồng làng bản, các gia đình có mối quan hệ mật thiết với nhau, luôn luôn giúp đỡ lẫn nhau trong cuộc sống hàng ngày Mỗi khi gia đình nào đấy, có công to việc lớn như: tang ma, cưới xin, dựng nhà khi gia chủ có lời nhờ vả thì họ

s n sàng đến giúp đỡ, hỗ trợ Đây cũng chính là hoạt động “tương trợ cộng đồng” phổ biến ở các tộc người miền núi phía Bắc4

3

Người làm quan/có địa vị/chức tước… phải tổ chức khao vọng (chủ yếu là ăn uống) thì người dân mới công nhận và tôn trọng người làm quan đó

(Nghiên cứu tại xã Thạch Đạn, huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn) Luận văn Th.s Lịch sử văn hóa Việt Nam,

Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội

Ngày đăng: 15/11/2019, 11:57

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w