Luận văn nghiên cứu quyền của người bị hại và người làm chứng dựa trên phương pháp tiếp cận quyền con người. Chương một của luận văn là cơ sở lý luận về quyền của người bị hại và người làm chứng trong vụ án hình sự, chương hai nghiên cứu quy định về quyền của người bị hại và người làm chứng trong pháp luật quốc tế và pháp luật hình sự Việt Nam. Chương ba của luận văn là những kiến nghị đề xuất để hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam về bảo vệ quyền của người bị hại và người làm chứng trong vụ án hình sự. Qua quá trình nghiên cứu những chế định về người bị hại và người làm chứng, người nghiên cứu nhận thấy pháp luật hình sự Việt Nam tuy có những thành tựu nhưng vẫn còn thiếu sót trong việc bảo vệ và thúc đẩy quyền của hai nhóm người này. Do đó, người nghiên cứu đưa ra một số quan điểm xây dựng và hoàn thiện pháp luật, sửa đổi bổ sung hệ thống pháp luật một cách đồng bộ và sâu rộng hình sự Việt Nam đồng thời kiến nghị nhà nước nên ban hành Luật bảo vệ và hỗ trợ người bị hại và người làm chứng với cơ chế độc lập là Chương trình bảo vệ người làm chứng để bảo vệ người làm chứng trong vụ án hình sự cũng như sửa đổi, bổ sung Luật trợ giúp pháp lý thành Luật trợ giúp nhà nước với các Trung tâm trợ giúp nhà nước cung cấp các dịch vụ công không chỉ bó hẹp trong việc trợ giúp pháp lý cho các đối tượng là người nghèo, người có công với cách mạng, người già cô đơn, người tàn tật và trẻ em không nơi nương tựa, người dân tộc thiểu số thường trú ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn mà bao gồm cả người bị hại, người làm chứng trong các vụ án hình sự.
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
ĐỖ THỊ KIM OANH
QUYÒN CñA NG¦êI BÞ H¹I Vµ NG¦êI LµM
CHøNG TRONG LUËT NH¢N QUYÒN QUèC TÕ
Vµ LUËT H×NH Sù VIÖT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
ĐỖ THỊ KIM OANH
QUYÒN CñA NG¦êI BÞ H¹I Vµ NG¦êI LµM
CHøNG TRONG LUËT NH¢N QUYÒN QUèC TÕ
Vµ LUËT H×NH Sù VIÖT NAM
Chuyên ngành: Pháp luật về quyền con người
Mã số: Chuyên ngành đào tạo thí điểm
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS VŨ CÔNG GIAO
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu củariêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trongbất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trongLuận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đãhoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụtài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét đểtôi có thể bảo vệ Luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN
Đỗ Thị Kim Oanh
Trang 4MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các chữ viết tắt
LỜI CAM ĐOAN 3
MỤC LỤC 4
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT 4
MỞ ĐẦU 1
1.Tính cấp thiết của đề tài 1
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ICCPR: Công ước quốc tế về các quyền dân sự,
chính trị 1966
TNHS: Trách nhiệm hình sự
VBQPPL: Văn bản quy phạm pháp luật
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Quyền con người là một trong ba mục tiêu chính trong hoạt động củaLiên Hợp Quốc Từ khi thành lập (1945) đến nay, mọi hoạt động của LiênHợp Quốc đều dựa trên những chuẩn mực và nguyên tắc về quyền conngười Tuyên ngôn Thế giới về quyền con người được Đại Hội đồng Liênhợp quốc thông qua năm 1948 ngày nay đã trở thành luật tập quán quốc tế,được tất cả các quốc gia trên thế giới chấp nhận và tuân thủ Tiếp cận dựatrên quyền con người là được Liên hợp quốc cổ vũ áp dụng trong mọi hoạtđộng của các quốc gia, bao gồm trong hoạt động tố tụng hình sự
Ở Việt Nam, các quyền con người đã được hiến định và bảo vệ từHiến pháp 1946 và xuyên suốt trong các bản hiến pháp về sau Ngoài ra,các quyền con người còn được ghi nhận và bảo vệ trong các văn bản phápluật chuyên ngành của nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, baogồm các văn bản pháp luật về tố tụng hình sự
Hiện nay đất nước ta đang thực hiện cải cách tư pháp với phươnghướng đặt ra “hoàn thiện các thủ tục tố tụng tư pháp, đảm bảo tính đồng bộ,dân chủ, công khai, minh bạch, tôn trọng và bảo vệ quyền con người”, “nângcao chất lượng tranh tụng tại các phiên tòa xét xử” [17] Vì vậy, việc bảo vệquyền con người trong tư pháp hình sự, bao gồm quyền của người bị hại vàngười làm chứng rất được chú trọng Trong quá trình giải quyết các vụ ánhình sự, những thông tin mà người làm chứng và người bị hại cung cấp có ýnghĩa hết sức quan trọng giúp các cơ quan chức năng phát hiện tội phạm vàgiải quyết đúng đắn, triệt để vụ án hình sự Với nghĩa vụ công dân, nhữngngười làm chứng, người bị hại thường tích cực phối hợp với cơ quan tố tụnglàm rõ tội phạm và người phạm tội; tuy nhiên, thực tế cũng cho thấy trong
Trang 6nhiều vụ án hình sự, người làm chứng, người bị hại tỏ ra e ngại, bất hợp táchoặc hợp tác không tích cực với các cơ quan tiến hành tố tụng Có nhiều lý dodẫn đến tình trạng này, trong đó bao gồm những hạn chế, bất cập của phápluật hiện hành của nước ta về bảo vệ người làm chứng, người bị hại, khiếncho họ cảm thấy không an toàn khi cung cấp chứng cứ, lời khai
Trong pháp luật hình sự của Việt Nam hiện đã ghi nhận các nguyêntắc về việc bảo hộ tính mạng, sức khỏe nhân phẩm và tài sản của người bịhại và người làm chứng Cụ thể, người bị hại, người làm chứng và ngườitham gia tố tụng khác cũng như người thân thích của họ mà bị đe doạ đếntính mạng, sức khoẻ, bị xâm phạm danh dự, nhân phẩm, tài sản thì cơ quan
có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải áp dụng những biện pháp cần thiết đểbảo vệ theo quy định của pháp luật” [38, Điều 7] Người làm chứng còn cóquyền “yêu cầu cơ quan triệu tập họ bảo vệ tính mạng, sức khoẻ, danh dự,nhân phẩm, tài sản và các quyền, lợi ích hợp pháp khác của mình khi tham
Bảo vệ người làm chứng, người bị hại là vấn đề có liên quan trực tiếpđến thực thi các quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dântheo Hiến pháp năm 2013 Việc này cũng gắn liền với công cuộc cải cách tưpháp mà đang được tiến hành ở nước ta, cũng như gắn với việc thực hiện cáccông ước quốc tế về nhân quyền mà Việt Nam đã tham gia, đặc biệt là Côngước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị 1966 (ICCPR) Bảo vệ quyền củanhóm này cũng góp phần xây dựng một cơ chế toàn diện và hiệu quả để thúcđẩy và bảo vệ nhân quyền ở nước ta trong những năm tới
Trang 7Trong bối cảnh đó, học viên đã chọn đề tài “Quyền của người bị hại
và người làm chứng trong luật nhân quyền quốc tế và luật hình sự Việt Nam” để thực hiện luận văn thạc sĩ, với mong muốn góp phần thực hiện các
mục tiêu đã nêu trên
2 Tình hình nghiên cứu
Quyền con người nói chung và quyền con người trong tố tụng hình sựnói riêng đã được nghiên cứu bởi nhiều tác giả, thể hiện trong nhiều côngtrình khoa học đã được công bố ở nước ta trong những năm gần đây Liênquan trực tiếp đến đề tài của luận văn, có thể nêu một số công trình nghiêncứu tiêu biểu như sau:
- Về người bị hại có các công trình: “Bàn về khái niệm nạn nhân của tội
phạm trong tội phạm học” của Trần Hữu Tráng, đăng trong Kỷ yếu Hội thảo
khoa học "Bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự Việt Nam" do
Trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh tổ chức tháng 6/2006; “Người bị
hại và chức năng buộc tội của người bị hại trong tố tụng hình sự” của Thuỳ
Dương, đăng trong Kỷ yếu Hội thảo khoa học "Bảo đảm quyền con ngườitrong tố tụng hình sự Việt Nam" do Trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí
Minh tổ chức tháng 6/2006; “Người bị hại trong tố tụng hình sự” của Lê Tiến Châu, đăng trên Tạp chí Khoa học Pháp lý số 1(38)/2007; “Một số vấn đề về
người bị hại trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam” của Lê Thị Thuý Nga,
đăng trên Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp số 15-2009; Luận án tiến sỹ luật học
“Người bị thiệt hại do tội phạm gây ra trong tố tụng hình sự Việt Nam” củaNguyễn Văn Thanh, bảo vệ tại Trường Đại học Luật Hà Nội năm 2012
- Về người làm chứng có các công trình: “Lời khai của người làm
chứng trong vụ án hình sự” của Trần Quang Tiệp, đăng trên Tạp chí Khoa học
Pháp lý số 4, năm 2005; “Bảo vệ người làm chứng và quyền miễn trừ người
làm chứng trong tố tụng hình sự” của Nguyễn Thái Phúc, đăng trên Tạp chí
Trang 8Khoa học Pháp lý số 3, năm 2007; “Hoàn thiện cơ sở pháp lý về bảo vệ
người tố giác, người làm chứng, người bị hại trong vụ án hình sự” của Trần
Đình Nhã, đăng trên Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp số 12-2011; “Một số vấn
đề trong việc bảo vệ người làm chứng” của Đinh Tuấn Anh, đăng trên Tạp chí
Kiểm sát số 7/2008; “Một số vấn đề cần chú ý về tâm lý xã hội của người làm
chứng” của Đinh Tuấn Anh, đăng trên Tạp chí Kiểm sát số 7/2008; “Cần quy định rõ, đầy đủ tư cách pháp lý quyền và nghĩa vụ của người tham gia tố tụng” của Đinh Văn Lý, đăng tên Tạp chí Kiểm sát số 17/2009; “Hoàn thiện chế định người làm chứng trong tố tụng hình sự đảm bảo tính khách quan, minh bạch tại phiên tòa” của Nguyễn Thị Tuyết, đăng trên Tạp chí Tòa án
nhân dân số 10, năm 2011; “Vấn đề bảo vệ người làm chứng, người tố giác
và những người tham gia tố tụng khác” của Phạm Mạnh Hùng, đăng trên Tạp
chí kiểm sát số 7, năm 2012; “Hoàn thiện quy định của BLTTHS nhằm bảo vệ
người làm chứng khi tham gia tố tụng”, luận văn thạc sĩ luật học của Nguyễn
Hải Ninh, bảo vệ tại Trường Đại học Luật Hà Nội năm 2010
- Về quyền con người trong tố tụng hình sự nói chung, có các công
trình: “Những vấn đề lý luận về bảo vệ các quyền con người bằng pháp luật
trong lĩnh vực tư pháp hình sự” của Lê Cảm, đăng trên Tạp chí Tòa án nhân
dân số 01/2006; Đề tài nghiên cứu khoa học cấp cơ sở “Các quyền cơ bảnhiến định của công dân trong lĩnh vực tố tụng hình sự” của Tô Văn Hòa,trường Đại học Luật Hà Nội, bảo vệ năm 2013
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích của nghiên cứu này là làm rõ các cơ sở lý luận, thực trạng cácquy định về quyền của người làm chứng và người bị hại trong luật nhânquyền quốc tế và luật hình sự Việt Nam về nội dung các quy phạm pháp luật
và các thủ tục tố tụng, từ đó đề xuất sửa đổi, bổ sung hệ thống pháp luật liênquan đến bảo vệ quyền của người bị hại và người làm chứng trong các vụ ánhình sự ở nước ta
Trang 9Để thực hiện được mục đích trên, đề tài cần giải quyết các nhiệm vụchính sau đây:
- Phân tích làm rõ cơ sở lý luận về quyền của người làm chứng vàngười bị hại trong tố tụng hình sự
- Phân tích làm rõ các quy định và nội hàm của các quy định về quyềnngười làm chứng và người bị hại trong luật nhân quyền quốc tế và pháp luậthình sự Việt Nam
- Phân tích đánh giá mức độ tương thích giữa các quy định của luậtnhân quyền quốc tế và pháp luật hình sự Việt Nam về quyền người làm chứng
và người bị hại
- Đề xuất những quan điểm, giải pháp hoàn thiện khuôn khổ pháp luật
và cơ chế pháp lý bảo đảm hiệu quả quyền người làm chứng và người bị hại ởnước ta trong thời gian tới
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là khuôn khổ pháp lý về quyền củangười làm chứng và người bị hại trong luật nhân quyền quốc tế và luật hình
sự Việt Nam về nội dung các quy phạm pháp luật và các thủ tục tố tụng
Về phạm vi, đề tài chỉ tập trung nghiên cứu các quyền của người bị hại,người làm chứng, không đề cập đến quyền của các nhóm đối tượng kháctrong luật hình sự về luật nội dung và luật tố tụng Đề tài chỉ khảo sát cácquyền của người bị hại, người làm chứng trong pháp luật hình sự hiện hànhcủa Việt Nam và luật nhân quyền quốc tế và các luật có liên quan, không đềcập đến các ngành luật khác và pháp luật của các quốc gia khác
5 Cơ sở lí luận và phương pháp nghiên cứu
Đề tài vận dụng các phương pháp luận duy vật biện chứng, duy vật lịch
sử của triết học Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và phápluật, các tư tưởng, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về đổi mới và
Trang 10hoàn thiện hệ thống pháp luật và tư pháp, xây dựng nhà nước pháp quyền xãhội chủ nghĩa.
Đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu phổ biến của khoa học xãhội, đặc biệt là phương pháp tổng hợp, thống kê, phân tích, so sánh các vănbản và tài liệu liên quan để làm rõ các vấn đề nghiên cứu đặt ra
6 Những đóng góp khoa học và ý nghĩa của luận văn
Các công trình nghiên cứu hiện có liên quan đến chủ đề của đề tàithường mới chỉ tập trung phân tích chế định người bị hại hoặc người làmchứng trong luật hình sự Việt Nam về nội dung và tố tụng Đề tài này có đónggóp khoa học mới là mở rộng phạm vi nghiên cứu theo hướng phân tích sosánh các quy định của pháp luật hình sự Việt Nam với các quy định của luậtnhân quyền quốc về quyền của hai nhóm đối tượng đã nêu, vì thế tạo ra mộtgóc nhìn mới toàn diện hơn về vấn đề Vì vậy, kết quả nghiên cứu của luậnvăn sẽ làm phong phú thêm cơ sở khoa học của pháp luật tố tụng hình sự ởnước ta Những quan điểm và kiến nghị trong luận văn có thể có ích cho hoạtđộng lập pháp, hoạt động cải cách tư pháp hiện nay ở Việt Nam và là tài liệutham khảo đối với những người tiến hành tố tụng trong quá trình giải quyết vụ
án hình sự Ngoài ra, luận văn sẽ còn là nguồn tài liệu tham khảo có ích chohoạt động học tập, nghiên cứu, giảng dạy của sinh viên, giảng viên trong cáctrường đào tạo luật
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài Phần mở đầu, Kết luận và Danh mục Tài liệu tham khảo, luậnvăn gồm ba chương như sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận về quyền của người bị hại và người làm chứng
trong vụ án hình sự
Chương 2: Quyền của người bị hại và người làm chứng trong pháp luật
quốc tế và pháp luật hình sự Việt Nam
Chương 3: Quan điểm, giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam về
quyền của người bị hại và người làm chứng trong vụ án hình sự
Trang 11Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN CỦA NGƯỜI BỊ HẠI VÀ NGƯỜI
LÀM CHỨNG TRONG VỤ ÁN HÌNH SỰ
1.1 Khái niệm người bị hại
1.1.1 Khái niệm người bị hại nói chung
Người bị hại nói chung là người bị thiệt hại do sự tác động tiêu cực của
sự việc, hành vi hoặc bất kỳ sự tác động nào Theo cách hiểu này, khái niệmngười bị hại đồng nghĩa với khái niệm nạn nhân, và dùng để chỉ cả cá nhân(con người) và tổ chức – những đối tượng phải gánh chịu thiệt hại từ bênngoài đưa đến
Thuật ngữ “nạn nhân” được sử dụng để miêu tả những người bị thiệthại, người bị thiệt hại Theo từ điển tiếng Việt, nạn nhân được hiểu là:
“Người bị tai nạn” hoặc "Người, tổ chức gánh chịu hậu quả từ bên ngoài
đưa đến" [52, tr 1165] Cùng với tiến trình phát triển của xã hội, những nạn
nhân với nghĩa là những cá nhân hay tổ chức phải gánh chịu những thiệt hại
về tính mạng sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm và tài sản ngày càng phong phú,
đa dạng dưới nhiều hình thức như: nạn nhân của thiên tai, nạn nhân của tainạn (giao thông, lao động), nạn nhân chiến tranh và nạn nhân của tội phạm.Trong phạm vi của luận văn này chỉ tập trung vào một dạng nạn nhân (người
bị hại) của tội phạm
1.1.2 Người bị hại trong vụ án hình sự
Người bị hại là một khái niệm phổ biến trong khoa học tố tụng hình sự,tuy nhiên thế nào là người bị hại, phạm vi đối tượng được xem là người bị hạicho đến nay vẫn còn nhiều tranh cãi
Dưới góc độ luật hình sự so sánh, có thể thấy ở các nước chưa có sựthống nhất trong khái niệm người bị hại Ở các nước theo hệ thống thông luật
Trang 12(Common Law) thường sử dụng thuật ngữ “nạn nhân” (victims), trong khi cácnước theo hệ thống luật dân sự (Civil Law) lại thường dùng thuật ngữ “người
bị hại”, “người tố cáo” Ngoài ra, người bị hại còn được gọi là “bị hại”,
“người bị thiệt hại”, “nạn nhân”, hoặc thậm chí là “dân sự nguyên cáo”(người bị hại trong tố tụng dân sự)
Các quan điểm về người bị hại - nạn nhân của tội phạm - đã được cácnhà nghiên cứu tội phạm học tranh luận sôi nổi từ giữa thế kỉ XX Các địnhnghĩa về nạn nhân của tội phạm tuy còn nhiều điểm chưa thống nhất nhưngnhìn chung đều xác định nạn nhân của tội phạm theo nghĩa hẹp và theonghĩa rộng
Theo nghĩa hẹp, nạn nhân của tội phạm được xác định là những cá nhân
bị hành vi phạm tội xâm phạm gây thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ, tinh thầnhay thiệt hại về kinh tế Quan điểm này cũng đã được ghi nhận trong Điều 1Khoản 1 của Nghị quyết của Hội đồng Châu âu về địa vị của nạn nhân trong
tố tụng hình sự năm 2001 [22]
Ngược với quan điểm trên, nhiều nhà nghiên cứu về nạn nhân học đãđưa ra định nghĩa về nạn nhân của tội phạm theo nghĩa rộng: nạn nhân củatội phạm bao gồm cả cá nhân và các tổ chức bị hành vi phạm tội xâm hại
Trong Bộ luật TTHS 2003, khái niệm người bị hại được định nghĩa tại
Điều 51 như sau: “Người bị hại là người bị thiệt hại về thể chất, tinh thần,
tài sản do tội phạm gây ra” [38] Theo đó, người bị hại trong vụ án hình sự
chỉ có thể là cá nhân, người mà thể chất, tinh thần, tài sản bị thiệt hại do tộiphạm gây ra
Tuy nhiên, đến Bộ luật TTHS 2015 có hiệu lực thi hành vào 01/7/2016khái niệm bị hại được mở rộng không chỉ bao gồm cá nhân mà còn có thể là
cơ quan, tổ chức Tại Điều 62 BLTTHS 2015 quy định: “Bị hại là cá nhân
trực tiếp bị thiệt hại về thể chất, tinh thần, tài sản hoặc là cơ quan, tổ chức bị thiệt hại về tài sản, uy tín do tội phạm gây ra hoặc đe dọa gây ra” [39].
Trang 13Về mặt nội dung pháp lý, có thể thông qua 3 dấu hiệu để xác địnhngười bị hại trong TTHS, đó là: Về chủ thể, là người, cá nhân, tổ chức bị tộiphạm xâm hại; Về thiệt hại, có sự thiệt hại về thể chất, tinh thần, tài sản hoặccác quyền và lợi ích hợp pháp khác; Về nguồn gốc của thiệt hại, do chínhhành vi phạm tội của người phạm tội trực tiếp gây ra.
Trong vụ án hình sự, bị hại đóng vai trò là người tham gia tố tụng,được triệu tập để giải quyết vụ án hình sự theo giấy triệu tập của cơ quan
có thẩm quyền hoặc được xác định tư cách trong các biên bản tại cơ quantiến hành tố tụng mà giai đoạn ban đầu là các biên bản ghi lời khai của cơquan điều tra, đến tư cách tham gia tố tụng được xác định qua giấy triệu tậptrong các giai đoạn tố tụng tiếp theo là truy tố và xét xử
Theo quy định của Bộ luật TTHS hiện hành của nước ta, “người bịhại” chỉ cá nhân bị thiệt hại do tội phạm, còn pháp nhân hoặc tổ chức bịthiệt hại do hành vi tội phạm tuy cũng là người tham gia tố tụng nhưng chỉvới tư cách là nguyên đơn dân sự
1.2 Khái niệm người làm chứng
Theo T i n ti ng Vi t, ngừ đ ể ế ệ ười làm ch ng là ứ “ng ườ đứng ra xác nhận i
những điều mình đã chứng kiến” [53].
Theo Từ điển Luật học thì:
Người làm chứng là người tham gia tố tụng Người nào biếtđược những tình tiết có liên quan đến vụ án đều có thể được triệutập đến làm chứng Người làm chứng phải có mặt theo giấy triệutập của cơ quan điều tra, viện kiểm sát, toà án; có nghĩa vụ khaitrung thực tất cả những tình tiết mà mình biết về vụ án [67]
Như vậy, người làm chứng trước hết phải là người trực tiếp nhìn thấy,nghe thấy hoặc do nguồn thông tin khác mà biết rõ những nội dung và đốitượng có liên quan đến sự việc đã xảy ra Đây là đặc điểm thể hiện bản chất
Trang 14của người làm chứng Nếu một người không trực tiếp nhìn thấy hoặc khôngbiết những nội dung có liên quan đến sự việc xảy ra thì không không thể trởthành người làm chứng Vì vậy, người làm chứng là người không thể thay thế,không thể cử người đại diện tham gia tố tụng thay cho người làm chứng
Những vấn đề mà người làm chứng đã được trực tiếp nhìn thấy, nghethấy hoặc biết đến có ý nghĩa chứng minh, làm rõ nội dung cụ thể của sự việc
đã xảy ra (về thời gian, địa điểm xảy ra sự việc, về đối tượng, hành vi và diễnbiến cụ thể của hành vi ) Tuy nhiên, người trực tiếp nhìn thấy hay biết đến sựviệc không đương nhiên trở thành người làm chứng Họ phải được cơ quan cóthẩm quyền triệu tập đến, tiến hành lấy lời khai theo trình tự, thủ tục mà phápluật quy định Những quy định về trình tự, thủ tục này sẽ tạo ra mối quan hệ
về mặt pháp lý giữa người làm chứng với cơ quan có thẩm quyền tiến hànhlấy lời khai, từ đó vị trí pháp lý của người làm chứng được xác lập, đồng thờixác định trách nhiệm, nghĩa vụ, quyền lợi của người làm chứng, xác định hậuquả pháp lý khi người làm chứng khi có hành vi khai báo gian dối hoặc từchối khai báo
Ở Việt Nam, quy định về người làm chứng từng được ghi nhận trong
Bộ Quốc triều Hình luật thời Lê sơ (hay còn gọi là Bộ luật Hồng Đức) Điều
714 Bộ luật này quy định:
Những người làm chứng trong việc kiện tụng nếu xét ra ngàythường đôi bên kiện tụng là người thân tình hay có thù oán, thìkhông cho phép ra làm chứng Nếu những người ấy giấu giếm ralàm chứng, thì khép vào tội không nói đúng sự thật Hình quan,
ngục biết mà dung túng việc đó đều bị tội [51]
Trong thời kỳ Pháp thuộc, người làm chứng được quy định trong Bộ luật
tố tụng áp dụng tại Bắc Kỳ như sau: "Phàm người chứng đã liệt danh trong
đơn khống chế và các người mà quan thẩm phán liệu nghĩ đến chất vấn trong khi thẩm cứu, thì đều phải bị đòi gọi đến Tòa án để chất vấn" [28, Điều 20].
Trang 15Bộ luật Tố tụng Hình sự các năm 1988, 2003 và 2015 đều có quy định
về người làm chứng Theo Bộ luật TTHS năm 2003, người làm chứng là
“người biết được những tình tiết có liên quan đến vụ án đều có thể được triệutập đến làm chứng”, người làm chứng chỉ có thể là cá nhân Cá nhân đó biếtđược những tình tiết liên quan đến vụ án và chứng minh được vì sao họ biếtcác tình tiết đó Pháp luật không quy định về độ tuổi và giới tính của ngườilàm chứng, do vậy bất kỳ người nào biết được các tình tiết của vụ án đều cóthể làm chứng Tuy nhiên, người làm chứng phải có khả năng nhận thức được
sự việc có ý nghĩa cho việc chứng minh, giải quyết vụ án hình sự phải có ýnghĩa đối với quá trình chứng minh vụ án hình sự và trình bày lại những tìnhtiết đã được chứng kiến cho các cơ quan tiến hành tố tụng ghi nhận
Bộ luật TTHS 2015, tại điều 66 quy định: “Người làm chứng là người
biết được những tình tiết liên quan đến nguồn tin về tội phạm, về vụ án và được cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng triệu tập đến làm chứng” [39].
Theo đó, người làm chứng tham gia tố tụng trong vụ án hình sự khi được cơquan có thẩm quyền tiến hành tố tụng triệu tập đến làm chứng,
1.3 Nội dung của quyền của người bị hại và người làm chứng trong
vụ án hình sự
Quyền là khái niệm chỉ những gì mà theo lẽ công bằng và chính đángmột người phải được hưởng, được làm, được bảo vệ và được đòi hỏi, yêu cầuchủ thể khác tôn trọng và bảo đảm Khái niệm quyền gắn với khả năng tự dohành động của chủ thể quyền Nói cách khác, quyền là những gì mà chủ thểcủa quyền có thể thực hiện hay từ bỏ
Như đã đề cập, quyền của người bị hại và người làm chứng thuộc vềnhững quyền con người mà mang tính tự nhiên, vốn có của họ, được ghi nhậntrong pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia Trong luật nhân quyền quốc tế,quyền của người làm chứng và người bị hại thuộc về các quyền con ngườitrong quản lý tư pháp, hay trong tố tụng hình sự
Trang 161.3.1 Nội dung quyền của người bị hại trong vụ án hình sự
Theo pháp luật hình sự Việt Nam, người bị hại có những quyền hiếnđịnh và quyền luật định như sau:
- Quyền được bình đẳng trước pháp luật;
- Quyền tố giác tội phạm;
- Quyền được bảo vệ tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh
dự, các quyền và lợi ích hợp pháp khác;
- Quyền được yêu cầu khởi tố vụ án hình sự;
- Quyền được rút yêu cầu khởi tố; quyền được có ngườibào chữa;
- Quyền được đưa tài liệu, đồ vật, yêu cầu;
- Quyền được thông báo về kết quả điều tra;
- Quyền được giải thích về quyền và nghĩa vụ khi thamgia tố tụng;
- Quyền được đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng, ngườigiám định, người phiên dịch;
- Quyền được tham gia phiên tòa;
- Quyền được trình bày ý kiến, tranh luận tại phiên tòa đểbảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình;
- Quyền được đề nghị mức bồi thường và các biện pháp bảođảm bồi thường;
- Quyền được trình bày ý kiến về kết luận giám định;
- Quyền khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan,người có thẩm quyền tiến hành tố tụng;
- Quyền kháng cáo bản án, quyết định của Toà án về phầnhình phạt đối với bị cáo; quyền kháng cáo bản án, quyết định củaToà án về phần bồi thường
Bên cạnh các quyền, người bị hại cũng có các nghĩa vụ nhất định Ví
Trang 17dụ theo Bộ luật TTHS hiện hănh, người bị hại có những nghĩa vụ như: Cómặt theo giấy triệu tập của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sât, Toă ân; nếu từchối khai bâo mă không có lý do chính đâng thì có thể phải chịu trâchnhiệm hình sự.
1.3.2 Nội dung quyền của người lăm chứng trong vụ ân hình sự
Trước hết, với tư câch lă công dđn, người lăm chứng cũng có nhữngquyền cơ bản của công dđn được Hiến phâp ghi nhận, ví dụ như quyền bấtkhả xđm phạm về thđn thể, được phâp luật bảo hộ về tính mạng, sức khoẻ,danh dự vă nhđn phẩm Bộ luật hình sự 1999 cũng chỉ rõ một trong nhữngnhiệm vụ của bộ luật năy lă “…bảo vệ quyền, lợi ích hợp phâp của công dđn”[35, Điều 1] trong đó có quyền vă lợi ích hợp phâp của người lăm chứng
Bín cạnh câc quy định nói trín, Bộ luật TTHS hiện hănh, người lămchứng có một số quyền đặc thù, cụ thể như quyền yíu cầu cơ quan triệu tập
họ bảo vệ tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhđn phẩm, tăi sản vă câc quyền lợiích hợp phâp khâc của mình khi tham gia tố tụng; quyền khiếu nại quyết định,hănh vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tố tụng; quyền được cơquan triệu tập thanh toân chi phí đi lại vă những chi phí khâc theo quy địnhcủa phâp luật
Khâi niệm câc chi phí khâc được cụ thể hoâ trong Nghị định số81/2014/NĐ-CP ngăy 14/8/2014 của Chính phủ, theo đó bao gồm chi phígiâm định, định giâ, chi phí cho người lăm chứng, người phiín dịchtrong tố tụng
Bín cạnh đó, người lăm chứng còn có một quyền đặc biệt, đó lă quyềnmiễn trừ lăm chứng Quyền năy có cội nguồn sđu xa trong lịch sử xê hội loăingười lă một quy định vô cùng nhđn văn Ví dụ, Bộ luật Hình sự hiện hănhcủa nước ta đê quy định hănh vi không tố giâc tội phạm của những người lẵng bă, cha, mẹ, con, châu, anh, chị em ruột, vợ hoặc chồng của kẻ phạm tội
lă hănh vi tội phạm (trừ trường hợp không tố giâc tội phạm xđm phạm an ninh
Trang 18quốc gia hoặc các tội đặc biệt nghiêm trọng) Quy định này thể hiện tính nhânđạo của Nhà nước, phản ánh khía cạnh đạo đức trong quá trình giải quyết mốiquan hệ giữa nhà nước và công dân
Quyền miễn trừ làm chứng cũng được đề cập trong pháp luật hình sự và
tố tụng hình sự của đa số quốc gia và trong một số điều ước quốc tế, nhưTuyên ngôn toàn thế giới về nhân quyền 1948 và Công ước về các quyền dân
sự và chính trị 1966 của Liên hiệp quốc Hiến pháp của một số nước cũng ghinhận quyền này như là nguyên tắc hiến định, thí dụ như Hiến pháp của Liên
bang Nga quy định: “Không ai buộc phải trình bày lời khai chống lại chính
mình, vợ (hay chồng), người thân của mình” Quy định này của Hiến pháp có
ảnh hưởng sâu rộng trong toàn bộ hệ thống pháp luật Các nội dung của nóđược thể hiện trong luật nội dung cũng như trong luật TTHS Cụ thể, BLHS
Liên bang Nga tại Điều 308 quy định: “Người làm chứng không phải chịu
TNHS trong trường hợp từ chối trình bày lời khai chống lại bản thân mình,
vợ hoặc chồng hoặc người thân của mình” [48] Bộ luật TTHS Liên bang
Đức tại các Điều 52, 53, 54, 55 quy định:
Người làm chứng có quyền từ chối làm chứng trong một sốtrường hợp sau: Người thân hoặc họ hàng của bị cáo có thể từ chối đưa
ra chứng cứ nếu thấy rằng việc đó có thể dẫn đến xung đột, ảnh hưởngtới việc thực hiện bổn phận đạo đức của họ [49, Điều 52]; Nhữngngười làm ở một số nghề nghiệp luật định được quyền từ chối đưa rachứng cứ vì lý do bí mật nghề nghiệp Quy định này được áp dụng đốivới linh mục, luật sư, bác sỹ và các cộng sự của họ [49, Điều 53] Viênchức nhà nước, gồm các Thẩm phán và những người làm việc tại cácnhiệm sở, có quyền từ chối đưa ra chứng cứ về những vấn đề bí mậtliên quan đến công việc của [48, Điều 54]; Các người làm chứngkhông nhất thiết phải khai báo nếu câu trả lời câu hỏi cụ thể nào đó có
Trang 19thể làm cho họ hoặc một trong số những người họ hàng của họ cónguy cơ bị truy tố hình sự hoặc kết tội [49, Điều 55].
Pháp luật tố tụng hình sự Nhật Bản cũng quy định người làm chứngđược từ chối trả lời bất kỳ câu hỏi nào buộc tội những người thân thích của
họ Điều 147 Bộ luật TTHS Nhật Bản quy định:
Một người làm chứng có thể từ chối trả lời bất kỳ câu hỏi nào
mà có thể nghiêng về hướng buộc tội những người sau đây: Vợchồng, người thân ruột thịt trong phạm vi ba đời hoặc người bà congần gũi trong phạm vi hai đời của người làm chứng hoặc người đã
có mối quan hệ với người làm chứng; Người giám hộ, người giámsát của người giám hộ hoặc người phụ trách của người làm chứng;Người mà được người làm chứng giám hộ, phụ trách hoặc giám sátngười giám hộ của người đó [46, tr 26]
Trong tố tụng hình sự quyền miễn trừ làm chứng được nhìn nhận ở
ba góc độ:
- Miễn trừ làm chứng như là một đặc quyền pháp lý, có tính chất bấtkhả xâm phạm Một số chủ thể tham gia TTHS có quyền không phải làmchứng, tức là quyền không trình bày lời khai với tư cách người làm chứng vàkhông thể bị truy cứu trách nhiệm về việc này;
- Miễn trừ làm chứng như một chế định bảo vệ quyền của những ngườitham gia tố tụng;
- Miễn trừ làm chứng như một quyền tố tụng cụ thể [31]
Làm chứng, như đã nói ở trên, có nghĩa là khai báo, cung cấp nhữngthông tin mà mình biết được về vụ án Quyền miễn trừ làm chứng bao hàmquyền im lặng, tức là không trình bày lời khai về bất kỳ tình tiết sự kiện nàocủa vụ án khi thấy lời khai của mình có thể được sử dụng để truy cứu TNHSđối với bản thân mình hoặc đối với người thân của mình Quyền miễn trừ làmchứng được thừa nhận không phải chỉ vì lợi ích của người làm chứng mà còn
Trang 20vì mục đích thực hiện tổng thể các quyền tự do dân chủ - một trong nhữngtiền đề cần thiết và quan trọng bảo đảm một cách hiện thực vấn đề quyền conngười trong TTHS Quyền miễn trừ làm chứng đồng nghĩa là bảo đảm quyền
về nhân phẩm, quyền bất khả xâm phạm đời tư của công dân trong lĩnh vựcTTHS Khi giải thích quyền im lặng như là một yếu tố của quyền miễn trừlàm chứng, Tòa án Châu Âu về quyền con người cho rằng những nội dungnày được các quy phạm điều ước quốc tế thừa nhận và là nền tảng của kháiniệm “thủ tục tư pháp công bằng”
Cũng theo Bộ luật TTHS hiện hành của Việt Nam, người làm chứng cónhững nghĩa vụ sau: Có mặt theo giấy triệu tập của Cơ quan điều tra, Việnkiểm sát, Tòa án Trong trường hợp cố ý không đến mà không có lý do chínhđáng và việc vắng mặt của họ gây trở ngại cho việc điều tra, truy tố, xét xử thì
có thể bị dẫn giải Khai trung thực tất cả những tình tiết mà mình biết về vụ áncho cơ quan có thẩm quyền Người làm chứng từ chối hoặc trốn tránh việckhai báo mà không có lý do chính đáng thì phải chịu trách nhiệm hình sự theoĐiều 308 của BLHS năm 1999, khai báo gian dối thì phải chịu trách nhiệmhình sự theo Điều 307 của Bộ luật Hình sự
1.4 Đặc điểm các quyền của người bị hại, người làm chứng
Các quyền của người bị hại, người làm chứng cũng là quyền con người,thể hiện nhu cầu tự nhiên vốn có được đối xử bình đẳng, công bằng, được bảo
vệ an toàn của những đối tượng này trong khi tham gia vào tố tụng hình sự,đồng thời có một vài đặc điểm riêng mà có thể khái quát như sau:
Thứ nhất, tính phổ biến
Tính phổ biến của các quyền của người bị hại, người làm chứng thểhiện ở việc chúng có tính phổ quát, là giá trị và quyền chung của nhân loại.Con người, không phân biệt quốc gia dân tộc, tôn giáo, địa vị xã hội, thànhphần xã hội… về nguyên tắc đều có quyền này
Quyền của người bị hại, người làm chứng là những quyền con người đã
Trang 21nhận được sự đồng thuận cao của cộng đồng quốc tế Mặc dù cho đến naychưa có một điều ước quốc tế riêng mang tính ràng buộc nào quy định vềquyền của người bị hại, người làm chứng và các điều ước quốc tế về nhânquyền cũng chưa có quy định riêng về các quyền này; tuy nhiên Liên hợpquốc đã ban hành một số văn bản hướng dẫn về bảo vệ người bị hại, ngườilàm chứng trong đó đề cập đến các quyền của họ Hướng dẫn tuy về mặt pháp
lý chỉ có hiệu lực khuyến nghị, nhưng các nguyên tắc và quy định của nó hiệnvẫn được các quốc gia tuân thủ triệt để Hầu hết các quốc gia đã quy định cácquyền của nhóm này trong luật tố tụng hình sự và hình thành cơ chế bảo đảm
và bảo vệ quyền của người bị hại, người làm chứng trong các vụ án hình sự
Thứ hai, tính đặc thù
Các quyền của người bị hại, người làm chứng vừa có tính phổ biếnvừa có tính đặc thù, như là hai mặt của một vấn đề Tính đặc thù thể hiện ởchỗ tuy các quyền của người bị hại, người làm chứng là giá trị chung củanhân loại được thế giới thừa nhận và tuân thủ, nhưng ở khía cạnh bảo đảm,việc thực hiện các quyền này trên thực tế phụ thuộc vào điều kiện hoàn cảnh
cụ thể của mỗi quốc gia cũng như phong tục, tập quán văn hóa của quốc gia
đó Hai đặc tính này của quyền của người bị hại, người làm chứng khôngmâu thuẫn, loại trừ nhau mà cùng tồn tại song song Tuy nhiên, trong khitính đến những yếu tố đặc thù, các quốc gia vẫn phải bảo đảm những nguyêntắc chung nền tảng của các quyền của người bị hại, người làm chứng, baogồm nguyên tắc về sự bình đẳng, công bằng và tính tự nhiên, vốn có của cácquyền như đã nói ở trên
Thứ ba, tính không thể tước đoạt
Với ý nghĩa là một quyền tự nhiên, vốn có của con người, các quyềncủa người bị hại, người làm chứng là thiêng liêng và bất khả xâm phạm.Không chủ thể nào, kể cả các Nhà nước, có thể tuỳ tiện tước đoạt hoặc hạn
Trang 22chế các quyền này
Điều đó có nghĩa là các quyền của người bị hại, người làm chứngkhông phải là tuyệt đối Trong một số trường hợp, các quyền này có thể bịgiới hạn để bảo vệ các lợi ích cao hơn, bao gồm lợi ích của quốc gia, cộngđồng, lợi ích hợp pháp, chính đáng của những người tham gia tố tụng khác.Tuy nhiên, việc giới hạn quyền phải được quy định trong pháp luật và phảidựa trên những cơ sở hợp lý
Thứ tư, tính không thể phân chia
Tính không thể phân chia xuất phát từ nhận thức rằng tất cả các quyềncon người đều là nhu cầu tự nhiên của con người, đều có tầm quan trọng nhưnhau Về nguyên tắc, không nên coi bất kỳ quyền con người nào có giá trị caohơn các quyền con người khác Tuy nhiên, tùy vào từng hoàn cảnh cụ thể một
số quyền có thể được ưu tiên thực hiện và chú ý bảo vệ hơn Chẳng hạn, trongbối cảnh tố tụng hình sự khi mà các quyền của người bị hại, người làm chứngđang ngày một bị xâm phạm một cách phổ biến thì các nhà nước cần cónhững chính sách, pháp luật bảo vệ chặt chẽ quyền này
Thứ năm, tính liên hệ và phụ thuộc lẫn nhau
Giữa các quyền của người bị hại, người làm chứng có mối liên hệ chặtchẽ với các quyền khác của con người trong tố tụng hình sự Các quyền conngười nói chung về nguyên tắc không thể tồn tại một cách biệt lập mà luônliên kết với nhau trong một tổng thể, vừa là tiền đề vừa là kết quả của nhau.Việc đảm bảo các quyền con người, toàn bộ hoặc một phần nằm trong mốiliên hệ và phụ thuộc lẫn nhau Sự vi phạm một quyền sẽ trực tiếp hoặc giántiếp gây ảnh hưởng tiêu cực đến việc bảo đảm các quyền khác
Chẳng hạn, khi các quyền của người bị hại, người làm chứng khôngđược bảo đảm, vụ án hình sự không thể được thực hiện đúng thời gian vàkhông thể được xử lý một cách chính xác, do đó sẽ dẫn tới vi phạm quyền củanhững người tham gia tố tụng khác, bao gồm quyền của bị can, bị cáo Trong
Trang 23một số trường hợp, việc này còn có thể dẫn đến oan sai nghiêm trọng, ảnhhưởng đến cả quyền sống của bị can, bị cáo
Bên cạnh những đặc tính chung như trên, các quyền của người bị hại,người làm chứng còn có một số đặc điểm riêng như sau:
- Các quyền của người bị hại, người làm chứng gắn với truyền thống tưpháp của quốc gia Mặc dù có những nguyên tắc chung, áp dụng phổ biến, vớimỗi quốc gia, hệ thống tư pháp có thể quy định các quyền và cách thức thựchiện khác nhau với các quyền của nhóm này
- Các quyền của người bị hại, người làm chứng phát sinh trong quátrình tham gia tố tụng hình sự Chỉ khi con người tham gia vào quá trình pháp
lý đặc biệt này thì các quyền đó mới phát sinh Điều này khiến cho các quyềncủa người bị hại khác biệt với nhiều quyền con người khác về mặt thời điểm,hoàn cảnh và chủ thể
- Các quyền của người bị hại, người làm chứng đồng thời thuộc vềnhóm các quyền dân sự và nhóm các quyền con người trong tố tụng hình sự
Do thuộc về nhóm các quyền dân sự, các quyền này gắn liền với danh dự,nhân phẩm của người bị hại, người làm chứng, đòi hỏi các nhà nước phải cóbiện pháp bảo đảm, bảo vệ ngay mà không phụ thuộc vào điều kiện, hoàncảnh kinh tế của quốc gia Thuộc về nhóm các quyền con người trong tố tụnghình sự, các quyền của người bị hại, người làm chứng sẽ được bảo đảm thựcthi theo quy trình tố tụng chặt chẽ Chủ thể chính có nghĩa vụ bảo đảm cácquyền của người bị hại, người làm chứng là các cơ quan tiến hành tố tụng.Như vậy, để bảo đảm thực thi hiệu quả các quyền của người bị hại, người làmchứng, điều kiện đầu tiên là cần phải có một hệ thống pháp luật hình sự quyđịnh đầy đủ và phù hợp các quyền con người nói chung, quyền của hai nhómchủ thể này nói riêng
- Các quyền của người bị hại, người làm chứng thuộc về quyền của cácnhóm dễ bị tổn thương Người bị hại, người làm chứng là những đối tượng dễ
Trang 24bị xâm hại quyền trong tố tụng hình sự, vì thế cần phải được bảo vệ đặc biệt.Nhiều quyền của người bị hại, người làm chứng là riêng biệt, chỉ áp dụng vớihai nhóm đối tượng này Bởi người bị hại, người làm chứng là những đốitượng dễ bị tổn thương, bên cạnh các thiết chế pháp lý của nhà nước, việc huyđộng các thiết chế xã hội, như hoạt động của các tổ chức xã hội về nhânquyền, trong việc bảo vệ nhóm này có ý nghĩa rất quan trọng
1.5 Các điều kiện bảo đảm thực hiện quyền của người bị hại, người làm chứng
1.5.1 Bảo đảm về chính trị
Quyền của người bị hại, người làm chứng tất yếu phát sinh nghĩa vụcủa chủ thể có liên quan, mà trước hết là các cơ quan tiến hành tố tụng – làcác cơ quan quan trọng của nhà nước, chuyên trách giữ gìn trật tự an ninh củaquốc gia Ở nhiều quốc gia, các cơ quan tiến hành tố tụng có quyền lực rấtlớn, việc giám sát, kiểm soát quyền lực của các cơ quan này rất khó khăn Vìvậy, để bảo đảm các quyền của người bị hại, người làm chứng, các quốc giaphải có quyết tâm chính trị cao, thể hiện ở việc có những chính sách vĩ môkiên quyết, toàn diện, hiệu quả về bảo vệ và thúc đẩy nhân quyền nói chung,
về bảo vệ các quyền con người trong tố tụng hình sự nói riêng
Ở Việt Nam, Đảng và Nhà nước luôn xác định việc bảo đảm quyền conngười vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự nghiệp xây dựng đất nước.Bước vào thời kỳ đổi mới, tư duy và nhận thức chính trị về bảo vệ và thúc đẩyquyền con người ngày càng củng cố đã tạo tiền đề cho việc khắc phục quanniệm bó hẹp trước đây về nội dung quyền con người cũng như phương thứcđảm bảo quyền con người Đảng đã ban hành Nghị quyết số 49 năm 2005 quyđịnh một cách toàn diện về cải cách tư pháp, trong đó nhấn mạnh tầm quantrọng của việc bảo vệ, bảo đảm các quyền con người trong tố tụng hình sự
Việc thể chế hóa đường lối, chính sách của Đảng về quyền con ngườinói chung, về quyền con người trong tố tụng hình sự nói riêng, sẽ góp phần
Trang 25bảo đảm cho người bị hại, người làm chứng được thực hiện đầy đủ và hiệuquả các quyền chính đáng của họ trong các vụ án hình sự Trong giai đoạnxây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam, các nhánh quyền lực trong
Bộ máy Nhà nước hoạt động trên cơ sở tuân thủ Hiến pháp và pháp luật Nhànước nỗ lực xây dựng và kiện toàn các thiết chế đảm bảo quyền con ngườitrên thực tế Hệ thống các cơ quan nhà nước được xây dựng bảo đảm cácquyền và tự do cơ bản của con người, quyền công dân trong đó bao gồm cácquyền tố tụng của cá nhân công dân Bên cạnh đó, các tổ chức chính trị xãhội, các tổ chức khác cũng đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ người bịhại, người làm chứng thụ hưởng quyền Quyền của người bị hại, người làmchứng được thông tin và tham gia đóng góp vào quá trình hoạch định chínhsách, phản biện xã hội, đóng góp ý kiến trong quá trình xây dựng pháp luậtngày càng được tôn trọng và bảo đảm tốt hơn…
1.5.2 Bảo đảm về pháp lý
Trong toàn bộ những bảo đảm về quyền của người bị hại, người làmchứng, bảo đảm về pháp lý là quan trọng nhất Đó là bởi các quyền củanhững đối tượng này gắn liền với những hành vi phạm tội, nên cần phảiđược quy định bằng pháp luật một cách chi tiết, cụ thể, và phải có những
cơ chế, biện pháp pháp lý đi kèm thì mới có thể buộc các chủ thể liên quanphải tôn trọng, thực hiện
Ở Việt Nam, chế định quyền con người được hình thành từ Hiến pháp
1946, được hoàn thiện liên tục qua các bản Hiến pháp về sau, và đặc biệt làđược củng cố, đổi mới trong Hiến pháp 2013 Từ Đổi mới (năm 1986) đếnnay, Nhà nước Việt Nam đã ban hành, sửa đổi hàng chục ngàn văn bản phápluật, trong đó có những văn bản trực tiếp ghi nhận các quyền cơ bản của conngười, quyền của người bị hại, người làm chứng như Bộ luật TTHS Hệ thốngpháp luật Việt Nam đã thể hiện sự tương thích ở mức độ cao với các văn kiện
Trang 26pháp lý quốc tế về quyền con người bằng việc khẳng định tất cả các quyền và
tự do cơ bản của con người Dù vậy, để bảo đảm hiệu quả các quyền củangười bị hại, người làm chứng, vẫn cần rà soát, củng cố, bổ sung các quy địnhhiện hành có liên quan ở nước ta
1.5.3 Bảo đảm về văn hóa
Văn hoá là yếu tố tác động trực tiếp đến việc bảo đảm thực thi cácquyền con người, trong đó có các quyền của người bị hại, người làm chứng.Trong tố tụng hình sự, thái độ của xã hội, của cộng đồng và của các cơ quantiến hành tố tụng đối với người bị hại, người làm chứng có ý nghĩa rất lớn vớiviệc bảo đảm quyền của các nhóm này
Theo cách tiếp cận trên, việc nâng cao dân trí, nâng cao nhận thức vềquyền của các chủ thể có liên quan cần phải được tính đến trong quá trình bảođảm các quyền của người bị hại, người làm chứng Xuất phát từ yếu tố vănhóa như vậy, cần chú trọng đến cách tiếp cận dựa trên quyền trong quá trìnhlàm chính sách về tố tụng hình sự Bên cạnh đó, mối quan hệ giữa cá nhân vớitập thể và cộng đồng xã hội trong việc thực hiện và bảo đảm quyền của người
bị hại, người làm chứng cần được tính đến, kết hợp trách nhiệm của nhà nướcvới việc xã hội hóa các phương thức thực hiện quyền của người bị hại, ngườilàm chứng, bởi đây cũng là những yếu tố gắn với đặc thù văn hoá Việt Nam
1.5.4 Bảo đảm về kinh tế
Thuộc nhóm quyền dân sự, các quyền của người bị hại, người làmchứng đặt ra nghĩa vụ với các quốc gia phải bảo đảm thực thi ngay, khôngđược viện dẫn lý do hạn chế về nguồn lực để trì hoãn
Mặc dù vậy, việc thực thi các quyền này, giống như với tất cả các quyềncon người nói chung, ít hoặc nhiều, vẫn cần đến nguồn lực vật chất để bảođảm Đối với các quốc gia, đây là một trong những nghĩa vụ (nghĩa vụ thựchiện) về quyền, vì vậy nên hầu hết đều cam kết và thực tế là danh ngân sách
Trang 27cho việc thực hiện quyền này.
Ở Việt Nam, trong sự nghiệp đổi mới, Đảng ta xác định nhiệm vụ pháttriển kinh tế - xã hội là trung tâm, phải đẩy nhanh sự nghiệp công nghiệp hóa,hiện đại hóa, tạo tiền đề vật chất để thực hiện và bảo đảm quyền con ngườinói chung, trong đó có các quyền dân sự, chính trị và quyền trong tố tụng hình
sự Nhà nước có trách nhiệm đầu tư xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật, đẩymạnh hội nhập kinh tế quốc tế, khoa học công nghệ, củng cố cơ sở hạ tầng vàcác điều kiện để có thể đáp ứng nhu cầu thực hiện các quyền của người bị hại,người làm chứng Việc bảo đảm thực thi các quyền của người bị hại, ngườilàm chứng trong thực tế không đòi hỏi những điều kiện vật chất lớn, vì vậychắc chắn không gây khó khăn cho nhà nước cả hiện tại và lâu dài
Trang 28Kết luận Chương 1
Người bị hại và người làm chứng là những người thuộc nhóm dễ bị tổnthương, vậy nên việc bảo vệ quyền của những người này là một yêu cầu tấtyếu Các quyền của người làm chứng và người bị hại có đầy đủ các đặc trưngcủa quyền con người nói chung và quyền của người tham gia tố tụng nói riêng
là tính phổ biến, tính đặc thù, tính không thẻ tước đoạt, tính không thể phânchia và tính liên quan và liên hệ lẫn nhau Để có sự bảo vệ và thúc đẩy quyềnmột cách toàn diện các thể chế phải có những đảm bảo để thực thi quyền mộtcách tối ưu nhất bao gốm những đảm bảo về chính trị, về pháp lý về văn hóa
và về kinh tế
Mỗi quốc gia có tập quán pháp luật khác nhau nên việc bảo vệ quyềncủa người bị hại và người làm chứng ở mỗi đất nước có khác biệt, tuynhiên, có những nguyên tắc chung mà các quốc gia phải tuân thủ Việcnghiên cứu các quy định về quyền của người bị hại và người làm chứngtrong pháp luật quốc tế và pháp luật hình sự Việt Nam trong chương sau sẽgóp phần hoàn thiện hơn pháp luật hình sự nói riêng cũng như hệ thốngpháp luật liên quan của nhà nước ta về bảo vệ và thúc đẩy quyền của ngườilàm chứng và người bị hại
Trang 29Chương 2
QUY ĐỊNH VỀ QUYỀN CỦA NGƯỜI BỊ HẠI VÀ NGƯỜI
LÀM CHỨNG TRONG PHÁP LUẬT QUỐC TẾ VÀ
PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
2.1 Quyền của người bị hại và người làm chứng trong pháp luật quốc tế
2.1.1 Quyền của người bị hại trong pháp luật quốc tế
Trên phạm vi toàn cầu, vào năm 1985, Đại hội đồng Liên hợp quốc đãthông qua “Tuyên bố về những nguyên tắc cơ bản về công lý cho các nạnnhân của tội phạm và nạn nhân của sự lạm dụng quyền lực”, trong đókhuyến nghị có các biện pháp hành động ở cấp quốc gia và quốc tế để cảithiện việc tiếp cận công lý và đối xử công bằng, đền bù, bồi thường và hỗ trợcho các nạn nhân của tội phạm Tuyên bố này được thông qua tại kỳ họp lầnthứ VII của Đại hội đồng Liên hợp quốc về ngăn chặn tội phạm và xử lýngười phạm tội Để thúc đẩy việc thực hiện Tuyên bố này, Liên hợp quốccũng đã thông qua Hướng dẫn thực hiện tuyên bố, còn Ủy ban kinh tế xã hộicủa Liên hợp quốc thì thông qua Nghị quyết số 1990/22 ngày 24 tháng 5năm 1990, trong đó đề nghị phổ biến Tuyên bố này trong Kỳ họp thứ 8 củaLiên hợp quốc về vấn đề ngăn chặn tội phạm và xử lý người phạm tội phổbiến rộng rãi Hướng dẫn này Bên cạnh đó, có những quy chuẩn được đề ravới những nhóm người dễ bị tổn thương trong nói chung khi áp dụng vớingười bị hại nằm trong các nhóm này như: Công ước về quyền trẻ em(1989); Công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử chống lại phụ nữ(1979); Nghị định thư về việc ngăn ngừa, phòng chống và trừng trị việcbuôn bán người, đặc biệt là phụ nữ và trẻ em, bổ sung Công ước về phòngchống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia (2000)…
Trang 30Ở phạm vi khu vực, vào cuối những năm 1970, phong trào bảo vệquyền của người bị hại ở châu Mỹ lên cao Năm 1982 Mỹ là một trong những
quốc gia đầu tiên ban hành đạo luật riêng về người bị hại (the Victim Rights
Act), kéo theo đó là một số quốc gia châu Mỹ khác Tại châu Âu vào năm
1983, các quốc gia thành viên của Hội đồng châu Âu đã thông qua: “Côngước về bồi thường cho nạn nhân của tội phạm bạo lực châu Âu” có hiệu lực từngày 01/02/1988 Một trong những mối quan tâm được đề cập trong Côngước là việc đưa ra một chương trình mà theo đó quốc gia thành viên có thểcan thiệp và bồi thường cho nạn nhân hoặc những người sống phụ thuộc vàonạn nhân, những người mà trên thực tế hiếm được bồi thường vì người phạmtội không tuân thủ pháp luật, bỏ trốn hoặc không có tiền để bồi thường Trên
cơ sở văn bản nêu trên, Hội đồng Bộ trưởng của Hội đồng Châu Âu quaKhuyến nghị số R(85)11 về vị trí của nạn nhân trong cơ cấu luật hình sự vàluật tố tụng hình sự đã mở rộng phạm vi nhu cầu bảo vệ nạn nhân của tộiphạm, những người phải chịu tổn thương về thể chất,tinh thần, vật chất vànhững nhu cầu của họ cần phải được chú ý hơn nữa trong tất cả quy trình của
tư pháp hình sự
Theo Tuyên bố về những nguyên tắc cơ bản về công lý cho các nạnnhân của tội phạm và nạn nhân của sự lạm dụng quyền lực được Đại Hộiđồng Liên Hợp Quốc thông qua theo Nghị quyết 40/34 ngày 29/11/1985, kháiniệm "nạn nhân" của tội phạm được hiểu là:
những người, là cá nhân hay tập thể, đã phải chịu tổn thất,bao gồm cả về thể chất hoặc tinh thần, chịu đựng sự tổn thương vềtình cảm, thiệt hại về kinh tế hoặc tổn hại đến các quyền pháp lý cơbản, là kết quả của những hành vi hoặc sự khinh xuất vi phạm luậthình sự đang áp dụng tại quốc gia thành viên, những luật này cấmlạm dụng quyền lực [54, đoạn 1] Tuyên bố nêu rõ, một người cóthể được coi là một nạn nhân của tội phạm bất kể thủ phạm đã được
Trang 31nhận dạng, bị bắt, bị truy tố, bị kết án hay chưa và không kể mốiquan hệ gia đình giữa thủ phạm và nạn nhân [54, đoạn 2] Thuậtngữ "nạn nhân" cũng bao gồm thành viên trong gia đình trực hệhoặc những người phụ thuộc trực tiếp của nạn nhân, và nhữngngười mà do can thiệp để trợ giúp nạn nhân khi gặp khó khăn hoặc
đã để ngăn chặn sự vi phạm xảy ra xa hơn đã phải chịu đựng sự tổnhại [54, đoạn 2]
Tuyên bố quy định một loạt các quyền của những nạn nhân của tộiphạm mà sẽ được áp dụng với tất cả mọi người, không có bất kỳ sự phân biệtnào về chủng tộc, màu da, giới tính độ tuổi, ngôn ngữ, tôn giáo, quốc tịch,quan điểm chính trị hoặc quan điểm khác, niềm tin hoặc thực hành văn hóa,tài sản, nơi sinh hoặc địa vị gia đình, dân tộc hay nguồn gốc xã hội và tìnhtrạng khuyết tật [54, đoạn 3] Các quyền này được chia thành các lĩnh vựcchính, bao gồm: Tiếp cận công lý và đối xử công bằng; Phục hồi; Bồi thường
và Trợ giúp
Về tiếp cận công lý và đối xử công bằng, Tuyên bố trên yêu cầu các
quốc gia phải bảo đảm:
- Các nạn nhân được đối xử với tình thương và tôn trọngnhân phẩm Họ được quyền tiếp cận với các cơ chế của công lý vàđược đền bù nhanh chóng theo quy định của pháp luật quốc gia vì
sự thiệt hại mà họ đã phải chịu đựng [54, đoạn 4]
- Các cơ chế tư pháp và hành chính được thiết lập và tăngcường bất cứ khi nào cần thiết để tạo điều kiện cho các nạn nhânđạt được sự đền bù thông qua các thủ tục chính thức và không chínhthức nhanh chóng, công bằng, ít tốn kém và dễ tiếp cận Các nạnnhân phải được thông báo về các quyền của họ được tìm kiếm cơhội đền bù thông qua các cơ chế như vậy [54, đoạn 5]
Trang 32- Quá trình tư pháp và hành chính đáp ứng nhu cầu của các nạn nhânphải được tạo điều kiện thuận lợi bằng cách:
+ Thông báo cho các nạn nhân về vai trò và phạm vi, thờigian và tiến triển của các thủ tục và về cách xử lý vụ việc của họ,đặc biệt trong trường hợp tội phạm nghiêm trọng và nếu nạn nhânyêu cầu cung cấp thông tin như vậy;
+ Cho phép trình bày và cân nhắc quan điểm và mối quantâm của các nạn nhân, ở những giai đoạn thích hợp của quá trình
tố tụng khi các lợi ích cá nhân bị ảnh hưởng, mà không gây tổnhại đến người bị buộc tội và phù hợp với hệ thống tư pháp hình
sự của quốc gia;
+ Cung cấp trợ giúp đầy đủ cho các nạn nhân suốt quá trìnhpháp lý;
+ Thực hiện những biện pháp để giảm thiểu khó khăn cho cácnạn nhân, bảo vệ sự riêng tư bất cứ khi nào cần thiết và bảo đảm sự
an toàn của họ cũng như của gia đình và người làm chứng đại diệncho họ, không bị đe dọa và trả thù;
+ Tránh sự trì hoãn không cần thiết trong giải quyết vụviệc và thi hành các mệnh lệnh hay quyết định trao cho các nạnnhân [54, đoạn 6]
+ Các cơ chế không chính thức giải quyết các tranh chấp, baogồm trung gian, trọng tài và các thực tiễn tư pháp bản địa và mangtính tập quán cần được sử dụng bất kỳ khi nào thích hợp để bảođảm sự hòa giải và đền bù cho các nạn nhân [54, đoạn 7]
Về các biện pháp phục hồi, Tuyên bố trên yêu cầu các quốc gia phải
bảo đảm:
- Người phạm tội hay bên thứ ba có trách nhiệm về các hành
vi của mình, bất kỳ khi nào thích hợp Phải phục hồi công bằng
Trang 33cho các nạn nhân, gia đình của nạn nhân hay những người phụthuộc Sự phục hồi như vậy cần bao gồm trả lại tài sản hay thanhtoán về những thiệt hại hoặc mất mát, hoàn trả lại những chi phíphát sinh là kết quả của hành vi phạm tội, cung cấp dịch vụ vàkhôi phục các quyền [54, đoạn 8].
- Xem xét lại các thực tiễn, các quy định và pháp luật để xemxét việc phục hồi như là một sự lựa chọn sẵn có trong các vụ ánhình sự, bên cạnh các hình phạt tương ứng khác [54, đoạn 9]
- Trong trường hợp gây thiệt hại nghiêm trọng về môitrường, sự phục hồi, nếu được yêu cầu, cần bao gồm, trong phạm
vi cao nhất có thể, việc khôi phục lại môi trường, xây dựng lại cơ
sở hạ tầng, thay thế các cơ sở hạ tầng cộng đồng và hoàn trả cácchi phí phát sinh trong khi đặt lại địa điểm, bất cứ khi nào nhữngthiệt hại như vậy xảy ra do kết quả của việc di chuyển vị trí củacộng đồng [54, đoạn 10]
Bất cứ khi nào, các quan chức nhà nước hoặc những người đại diệnthực hiện chức năng chính thức hoặc bán chính thức mà vi phạm luật hình sựcủa quốc gia, các nạn nhân cần được phục hồi bởi quốc gia có các quan chứchoặc cơ quan đại diện chịu trách nhiệm về những thiệt hại Trong trường hợpchính phủ có hành vi và sự khinh suất gây thiệt hại cho nạn nhân không còntồn tại nữa, thì quốc gia hoặc chính phủ kế thừa phải cung cấp sự khôi phụccho các nạn nhân
Về các biện pháp bồi thường, Tuyên bố trên yêu cầu các quốc gia phải
bảo đảm:
- Bất cứ khi nào người phạm tội hay các nguồn khác khôngcung cấp sự bồi thường, quốc gia phải cố gắng cung cấp các bồithường về tài chính cho: a Các nạn nhân, những người đã phải chịu
Trang 34đựng những tổn thương về cơ thể hay thiệt hại về thể chất, sức khỏetinh thần do tội phạm gây ra; b Gia đình, đặc biệt là những ngườiphụ thuộc của người đã chết hoặc không còn có khả năng về thểchất hoặc tinh thần do tội phạm gây ra [54, đoạn 12]:
- Khuyến khích thiết lập, tăng cường và mở rộng các quỹquốc gia về bồi thường cho các nạn nhân Bất kỳ khi nào thíchhợp, các quỹ khác cũng có thể được thiết lập vì mục đích này, baogồm trong cả những trường hợp khi quốc gia có nạn nhân là côngdân không còn trách nhiệm đền bù cho nạn nhân của hành vi gâyhại [54, đoạn 13]
Về các biện pháp trợ giúp, Tuyên bố trên yêu cầu các quốc gia phải
bảo đảm:
- Các nạn nhân nhận được sự trợ giúp cần thiết về vật chất, y
tế, tâm lý và xã hội thông qua các phương tiện tự nguyện của chínhphủ, dựa vào cộng đồng và vào bản địa [54, đoạn 14]
- Các nạn nhân được thông báo về sự sẵn có của các dịch vụ
xã hội và sức khỏe, các trợ giúp thích hợp khác và sẵn sàng cho họđược tiếp cận dễ dàng [54, đoạn 15]
- Nhân viên cảnh sát, tư pháp, y tế, dịch vụ xã hội và cá nhânliên quan khác được đào tạo để thích ứng chúng với các nhu cầucủa nạn nhân và hướng dẫn bảo đảm trợ giúp nhanh chóng và đúngđắn [54, đoạn 16]
- Khi cung cấp các dịch vụ và trợ giúp cho các nạn nhân, chú
ý những nhu cầu đặc biệt, vì tính chất của thiệt hại hoặc vì các yếu
tố như đã đề cập ở ở trên [54, đoạn 17]
Bên cạnh những quy định về bảo vệ nạn nhân nói chung như đã nêu ởtrên Tuyên bố về những nguyên tắc cơ bản về công lý cho các nạn nhân củatội phạm và nạn nhân của sự lạm dụng quyền lực của Liên hợp quốc còn
Trang 35dành một phần riêng để quy định về các quyền và bảo vệ những nạn nhâncủa lạm dụng quyền lực Theo đoạn 18 của Tuyên bố này, khái niệm "nạnnhân của việc lạm dụng quyền lực" [54, đoạn 18] có nghĩa là những người,
là cá nhân hay tập thể, đã phải chịu tổn thất, bao gồm cả về thể chất hoặctinh thần, chịu đựng sự tổn thương về tình cảm, thiệt hại về kinh tế hoặc tổnhại đến các quyền cơ bản, là kết quả của những hành vi hoặc sự khinh xuất
mà chưa cấu thành hành vi vi phạm luật hình sự của quốc gia, nhưng đã cấuthành vi phạm các quyền được công nhận về mặt quốc tế là các quy phạmliên quan tới nhân quyền
Khuôn khổ các biện pháp bảo vệ các với nạn nhân của việc lạm dụngquyền lực mà Tuyên bố nêu trên đề cập bao gồm:
- Chuyển hóa thành các quy phạm luật quốc gia quy địnhcấm lạm dụng quyền lực và quy định cung cấp đền bù cho các nạnnhân của những hành vi lạm dụng Đặc biệt, sự đền bù nên bao gồmphục hồi hoặc bồi thường và sự trợ giúp cần thiết về vật chất, y tế,tâm lý và hỗ trợ và ủng hộ của xã hội [54, đoạn 19]
- Ký kết các điều ước quốc tế đa phương liên quan tới bảo vệnạn nhân [54, đoạn 20]
- Định kỳ rà soát các luật và thực tiễn đang tồn tại để bảođảm sự thích nghi với những hoàn cảnh thay đổi, nên ban hành vàthực thi, nếu cần thiết, quy định pháp luật cấm các hành vi cấuthành sự lạm dụng nghiêm trọng quyền lực chính trị hay kinh tế,cũng như thúc đẩy các chính sách và các cơ chế ngăn ngừa các hành
vi như vậy nên phát triển và thông qua các quyền thích hợp và cácđền bù cho các nạn nhân của các hành vi như vậy [53, đoạn 21]
2.1.2 Quyền của người làm chứng trong pháp luật quốc tế
Giống như người bị hại, luật nhân quyền quốc tế không có điều ướcnào đề cập riêng đến quyền của người làm chứng trong tố tụng hình sự Mặc
Trang 36dù vậy, vấn đề quyền và việc bảo vệ người làm chứng được đề cập trongnhiều văn bản hướng dẫn của các cơ quan nhân quyền quốc tế và khu vực
Theo Điều 14 ICCPR:
Trong việc xác định bất kỳ trách nhiệm hình sự nào đối vớimột người, người này được hưởng những điều tối thiểu sau đây,một cách hoàn toàn bình đẳng: Được chất vấn hoặc yêu cầu chấtvấn những người làm chứng buộc tội mình, và được mời người làmchứng gỡ tội cho mình tới phiên toà và chất vấn họ tại toà vớinhững điều kiện tương tự như đối với những người làm chứng buộctội mình [27]
Như vậy, luật nhân quyền quốc tế thừa nhận người bị buộc tội hình sự
có quyền gọi người làm chứng cho họ và chất vấn người làm chứng của bênkia Quyền này là một yếu tố cơ bản của quyền được bảo vệ và nguyên tắcbình đẳng của các bên buộc tội và gỡ tội trong tố tụng hình sự, vì nó đảmbảo cho bên bào chữa có cơ hội để yêu cầu xem xét lại các bằng chứngchống lại bị cáo Việc chất vấn các người làm chứng của bên công tố và bênbào chữa cần được tiến hành công khai với sự hiện diện của bị cáo, cho phéptòa án xem xét các bằng chứng và yêu cầu xem xét lại các bằng chứng đócũng như kiểm tra thái độ của các người làm chứng Nó củng cố quyền đượcsuy đoán vô tội và tăng khả năng phán quyết sẽ được dựa trên tất cả cácbằng chứng có liên quan
Quyền này bao gồm quyền của các bị cáo được đặt câu hỏi với ngườilàm chứng ở nơi công cộng và trong sự hiện diện của họ, và gọi các ngườilàm chứng của bên bào chữa Tuy nhiên, quyền này không phải không có giớihạn Quyền của bị cáo để chất vấn người làm chứng của bên công tố trong sựhiện diện của họ có thể bị hạn chế để đảm bảo việc xét xử công minh vànhanh chóng Ngoài ra, hạn chế về quyền của bị cáo được hỏi người làmchứng của bên công tố có thể được cho phép nếu các người làm chứng không
Trang 37thể có mặt (đã chết hoặc mất tích), nếu người làm chứng có lý do hợp lý sợ bịtrả thù, hoặc nếu người làm chứng đặc biệt dễ bị tổn thương Các người làmchứng dễ bị tổn thương bao gồm trẻ em và nạn nhân của bạo lực trên cơ sởgiới Mặc dù vậy, trước khi cho phép bất kỳ hạn chế nào, tòa án phải xác địnhrằng hạn chế đó là khách quan và cần thiết Hạn chế chỉ được phép ở mức cầnthiết và phù hợp với quyền lợi của bị cáo và các yêu cầu của tố tụng côngminh Tòa án phải đảm bảo rằng những khó khăn gây ra cho bên bào chữaphải được cân bằng với các biện pháp khác để đánh giá sự công minh và độtin cậy của các bằng chứng
Việc sử dụng lời khai của người làm chứng giấu mặt (bên bào chữakhông rõ danh tính của người làm chứng) về nguyên tắc là không phù hợp vớiquyền chất vấn các người làm chứng của bị cáo Bởi vì không rõ danh tínhcác người làm chứng, bị cáo và bên bào chữa thiếu thông tin cần thiết để yêucầu xem xét độ tin cậy của các lời khai và các bằng chứng mà các người làmchứng đó đưa ra Các bằng chứng cung cấp bởi người làm chứng giấu mặtcàng có tầm quan trọng thì nguy cơ bị xét xử không công minh càng lớn Mặc
dù vậy, một số tiêu chuẩn quốc tế cho phép dùng người làm chứng giấu mặt,nhưng chỉ trong một số trường hợp đặc biệt, một số hoàn cảnh nhất định vàtùy thuộc vào điều kiện cụ thể Ví dụ, các nguyên tắc về tố tụng công minh ởchâu Phi cho phép sử dụng lời khai của người làm chứng giấu tên tại phiêntòa trong những trường hợp đặc biệt, vì lợi ích của công lý, xét tính chất vàhoàn cảnh của hành vi phạm tội và sự cần thiết phải bảo vệ sự an toàn củangười làm chứng Tòa án Châu Âu về nhân quyền và các toà án hình sự quốc
tế đặc biệt cho phép việc sử dụng các người làm chứng giấu tên trong cáctrường hợp liên quan đến khủng bố, buôn bán ma túy, tội phạm có tổ chức vàtội phạm theo luật quốc tế Tuy nhiên, các tòa án đã được khuyến cáo rằng chỉ
sử dụng người làm chứng giấu tên trong những trường hợp ngoại lệ và hạnchế nghiêm ngặt, theo quan điểm ít gây tổn hại đến quyền bào chữa
Trang 38Việc sử dụng bằng chứng do các người làm chứng không có mặt tại tòa
án (người làm chứng vắng mặt) cũng đặt ra những thách thức đặc biệt đối vớibên bào chữa Ngược lại, với các người làm chứng giấu mặt, danh tính củacác người làm chứng vắng mặt không được biết đến Độ tin cậy của họ, do đó,
có thể được điều tra bởi bên bào chữa Tuy nhiên, do các người làm chứngkhông có mặt tại tòa, bằng chứng của họ có thể không được kiểm tra thôngqua việc chất vấn tại tòa án trước sự chứng kiến của thẩm phán (và bồi thẩmđoàn, nếu có) Việc sử dụng các bằng chứng như vậy cần cẩn trọng và cần cócác biện pháp để đánh giá một cách công minh độ tin cậy của các bằng chứng
và việc bảo vệ quyền lợi của bên bào chữa phải được thực hiện
Quy tắc về thủ tục và chứng cứ của Toà án Hình sự quốc tế cho phép sửdụng lời khai ghi âm của người làm chứng vắng mặt, miễn là bên bào chữa vàbên công tố có thể chất vấn người làm chứng khi lời khai được thực hiện CònTòa án châu Âu đã tuyên bố rằng việc tiếp nhận bằng chứng từ một người làmchứng vắng mặt, người mà bên bào chữa không có cơ hội để chất vấn, phải làmột biện pháp cuối cùng Trong phán quyết về tính công minh của phiên tòa
có sử dụng lời khai của người làm chứng vắng mặt, Tòa án châu Âu về nhânquyền đã xem xét ba vấn đề: Có những lý do hợp lý về sự vắng mặt của ngườilàm chứng, và chấp nhận tuyên bố của họ; Các bằng chứng này có phải làbằng chứng duy nhất hoặc quyết định chống lại bị can? Có các biện pháp cânbằng đầy đủ để cho phép đánh giá công bằng về độ tin cậy của các bằngchứng và để bảo đảm quyền lợi của bên bào chữa (như ví dụ, đủ cảnh báo choban bồi thẩm)?
Nỗi sợ hãi trước sự đe dọa hoặc bị trả thù bởi những người bị buộc tộihoặc đại diện của họ được coi là "lý do chính đáng" để làm chứng vắng mặt,theo Tòa án châu Âu về nhân quyền Nếu có đủ các yếu tố phản cân bằng thìviệc chấp nhận bằng chứng từ một người làm chứng như vậy, ngay cả khi nó
là bằng chứng duy nhất hoặc quyết định, sẽ không vi phạm quyền được tố
Trang 39tụng công minh Tòa cho rằng việc chối bỏ những bằng chứng như vậy sẽkhông phù hợp với quyền của người làm chứng và sẽ cho phép bị cáo pháhoại sự toàn vẹn của quá trình tố tụng Tuy nhiên, trước khi chấp nhận một lờikhai từ một người làm chứng vắng mặt vì lý do sợ hãi, một tòa án phải tìmhiểu xem nỗi sợ hãi của họ có cơ sở khách quan hay không và có được hỗ trợbởi bằng chứng hay không Và ngay cả trong trường hợp đó thì Toà án cầnxác định xem lựa chọn thay thế, bao gồm cả các biện pháp bảo vệ khác, có làthích hợp hay thực tế không
Theo luật nhân quyền quốc tế, mọi bị cáo trong vụ án hình sự có quyềngọi người làm chứng của mình và hỏi người làm chứng theo các điều kiệngiống như việc gọi và chất vấn các người làm chứng của bên công tố Tuynhiên, quyền gọi người làm chứng của bên bào chữa không phải là không cógiới hạn, và tòa án có quyền quyết định ai sẽ được gọi làm chứng Điều kiệnđặt ra là trong quá trình ra quyết định, các thẩm phán phải bảo đảm sự côngminh và tôn trọng nguyên tắc bình đẳng giữa các bên công tố và bào chữa.Trước khi từ chối gọi người làm chứng cho bên bị, tòa án cần phải đưa rachứng cứ bảo vệ cho quyết định của mình
Về vấn đề trên, Ủy ban Nhân quyền đã kết luận rằng việc một tòa án từchối tiến hành kiểm chứng của chuyên gia pháp y trong vụ án hiếp dâm đã viphạm Điều 14 của ICCPR, vì điều đó vô cùng quan trọng cho phía bào chữa
Ủy ban cho rằng có sự vi phạm khi tòa án từ chối một yêu cầu của bên bàochữa gọi các viên chức mà có thể cung cấp thông tin liên quan đến lời khẳngđịnh của bị cáo rằng người này đã bị tra tấn để buộc phải khai nhận trong quátrình hỏi cung Ủy ban Nhân quyền đặc biệt nhấn mạnh tầm quan trọng củaviệc tôn trọng quyền này trong trường hợp án tử hình Trong một vụ án giếtngười mà một người làm chứng của bên bị đã sẵn sàng để làm chứng vềchứng cứ ngoại phạm của bị cáo nhưng không thể xuất hiện tại tòa án vàongày xử án vì cô không có phương tiện đi lại, Ủy ban cho rằng có sự vi phạm
Trang 40và cho rằng tòa án có lỗi trong việc không đảm bảo phương tiện đi lại chongười làm chứng này.
Quyền của người làm chứng
Luật nhân quyền quốc tế các cơ quan nhân quyền Liên hợp quốc và khuvực đều nhấn mạnh nhiệm vụ của các quốc gia và các tòa án trong việc tôntrọng và bảo vệ quyền của các nạn nhân và người làm chứng Điều này baogồm, khi thích hợp, các thành viên gia đình, người phụ thuộc và cá nhânngười làm chứng bị thiệt hại khi can thiệp để hỗ trợ nạn nhân Các tiêu chuẩnquốc tế yêu cầu chính quyền đảm bảo rằng tất cả mọi người, bao gồm cả nạnnhân và người làm chứng, có thể tiếp cận tòa án mà không phân biệt đối xử.Các tiêu chuẩn quốc tế yêu cầu các quốc gia có biện pháp và tổ chức thực thi
tố tụng hình sự để đảm bảo sự an toàn và phúc lợi của các nạn nhân và cácngười làm chứng và tôn trọng quyền lợi của họ, bao gồm cả quyền được bảo
vệ sự riêng tư Các biện pháp thực hiện để bảo vệ quyền lợi của các nạn nhân
và người làm chứng phải phù hợp với quyền lợi của bị cáo và các yêu cầu của
tố tụng công minh
Các biện pháp nêu bao gồm cung cấp các nạn nhân và người làm chứngthông tin về quyền lợi của họ và làm thế nào họ có thể tiếp cận và thực hiệnchúng, cũng như thông tin kịp thời về tiến độ điều tra và tố tụng Các nhàchức trách cũng cần hỗ trợ, kể cả phiên dịch, nếu cần thiết, và tư vấn để đảmbảo nạn nhân và người làm chứng có thể tiếp cận tòa án hiệu quả, và khi thíchhợp, được sự trợ giúp pháp lý Điều này được thể hiện trong các quy định vềviệc thông báo cho người làm chứng các kết quả tố tụng tại từng giai đoạn tốtụng trong vụ án hình sự, tuy nhiên trên thực tế, trong pháp luật tố tụng hình
sự Việt Nam so với người bị hại quyền được thông tin kịp thời về tiến độ tốtụng còn của người làm chứng còn hạn chế Trong Bộ tố tụng hình sự ViệtNam 2003 và 2015 không có quy định người làm chứng được nhận bản kết