1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Xây dựng chiến lược Marketing địa phương cho Thành phố Hà Nội

126 191 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 126
Dung lượng 1,9 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Về lý luận : Hệ thống hóa các vấn đề lý luận cơ bản về xây dựng chiến lược Marketing địa phương. Về thực tiễn : Đánh giá đúng tiềm năng Marketing địa phương của Thành phố Hà Nội, chỉ ra các điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức, qua đó xây dựng chiến lược Marketing địa phương và một số giải pháp thực hiện chiến lược Marketing địa phương cho Thành phố Hà Nội.

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

-TRẦN THỊ HUỆ

QUẢN LÝ TÀI CHÍNH TRONG

HOẠT ĐỘNG KHOA HỌC CÔNG NGHỆ TẠI ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ TÀI CHÍNH NGÂN HÀNGCHƯƠNG TRÌNH ĐỊNH HƯỚNG NGHIÊN CỨU

Hà Nội - 2018

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

-TRẦN THỊ HUỆ

QUẢN LÝ TÀI CHÍNH TRONG HOẠT ĐỘNG KHOA HỌC CÔNG NGHỆ TẠI ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng

Mã số: 60 34 02 01

Chuyên ngành : Tài chính ngân hàng

LUẬN VĂN THẠC SĨ TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG CHƯƠNG TRÌNH ĐỊNH HƯỚNG NGHIÊN CỨU

Trang 3

Hà Nội - 2018

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn “Quản lý tài chính trong hoạt động khoa

học công nghệ tại Đại học Quốc gia Hà Nội ” là công trình nghiên cứu của

tôi dưới sự hướng dẫn của TS Phạm Thu Phương

Các số liệu nêu trong luận văn là trung thực và các kết quả nêu luậnvăn chưa từng được công bố trong bất cứ một công trình nào khác

Hà Nội, ngày 30 tháng 08 năm 2018

Tác giả luận văn

Trần Thị Huệ

Trang 5

LỜI CẢM ƠN

Lời đầu tiên cho phép tôi xin trân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu trườngĐại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội đã tổ chức và tạo điều kiện thuậnlợi cho tôi trong suốt quá trình học tập tại trường Đồng thời tôi xin chânthành cảm ơn đến Quý Thầy Cô - những người đã giảng dạy, truyền đạt kiếnthức cho tôi trong suốt thời gian hai năm học cao học vừa qua tại trường Đạihọc Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội

Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới TS Phạm ThuPhương, người hướng dẫn khoa học đã chỉ bảo tận tình cho tôi trong suốt quátrình nghiên cứu và hoàn thành luận văn này

Tôi xin cảm ơn lãnh đạo Văn phòng Chương trình Tây Bắc cùng cácanh, chị em đồng nghiệp tại cơ quan đã tạo điều kiện thuận lợi, dành thờigian, công sức hỗ trợ giúp đỡ tôi nhiệt tình trong việc thu thập số liệu điều tra

để tôi hoàn thành luận văn này Tôi xin cảm ơn các quý thầy cô trong Đại họcQuốc gia Hà Nội đã quan tâm, giúp đỡ, cung cấp tài liệu, thông tin phiếu điềutra khảo sát, tạo điều kiện cho tôi có cơ sở thực tiễn để nghiên cứu và hoànthành luận văn

Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn gia đình tôi, những người thân vàbạn bè đã luôn hỗ trợ, động viên tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoànthiện luận văn./

Trang 6

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC CHỮ CÁI VIẾT TẮT i

DANH MỤC CÁC BẢNG ii

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ iv

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH TRONG HOẠT ĐỘNG KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ 5

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 5

1.1.1 Vấn đề về quản lý tài chính trong Giáo dục Đại học 5

1.1.2 Vấn đề quản lý KH&CN của một số nước trên thế giới 10

1.1.3 Vấn đề về quản lý tài chính trong hoạt động khoa học và công nghệ tại Việt Nam 13

1.1.4 Khoảng trống trong nghiên cứu 19

1.2 Cơ sở lý luận về quản lý tài chính trong hoạt động KH&CN 20

1.2.1 Các khái niệm 20

1.2.2 Nguyên tắc quản lý tài chính trong hoạt động KH&CN 23

1.3 Nội dung, đặc điểm và các nhân tố ảnh hưởng của quản lý tài chính trong hoạt động khoa học và công nghệ 25

1.3.1 Nội dung 25

1.3.2 Đặc điểm quản lý tài chính trong hoạt động KH&CN 31

1.3.3 Các nhân tố ảnh hưởng 33

1.4 Chỉ tiêu đánh giá quản lý tài chính trong hoạt động KH&CN 36

Trang 7

2.1 Phương pháp luận về nghiên cứu 41

2.1.1 Các bước tiến hành nghiên cứu 41

2.1.2 Thu thập dữ liệu 42

2.2 Phương pháp nghiên cứu 45

2.2.1 Quy trình nghiên cứu 45

2.2.2 Loại hình nghiên cứu, phương pháp thu thập và xử lý dữ liệu 46

2.2.2.1 Loại hình nghiên cứu 46

2.2.2.2 Phương pháp thu thập dữ liệu 46

2.2.2.3 Phương pháp xử lý số liệu 48

- Phương pháp phân tích 48

- Phương pháp thống kê mô tả 48

- Phương pháp thống kê so sánh 49

- Phương pháp tổng hợp 49

CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ TÀI CHÍNH TRONG HOẠT ĐỘNG KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TẠI ĐHQGHN 51

3.1 Giới thiệu chung về Đại học Quốc gia Hà Nội và hoạt động Khoa học công nghệ tại Đại học Quốc gia Hà Nội 51

3.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của Đại học Quốc gia Hà Nội .51 3.1.2 Cơ cấu tổ chức và đặc thù của Đại học Quốc gia Hà Nội 52

3.1.3 Tình hình hoạt động KH&CN tại ĐHQGHN 54

3.2 Thực trạng quản lý tài chính trong hoạt động KH&CN 58

3.2.1 Quản lý tài chính các khoản thu từ hoạt động KH&CN 58

3.2.2 Quản lý các khoản chi trong hoạt động KH&CN 70

Trang 8

3.2.3 Quản lý phân phối kết quả tài chính 75

3.3 Kết quả điều tra khảo sát 76

3.3.1 Mục đích điều tra khảo sát 76

3.3.2 Thu thập dữ liệu 77

3.3.2 Thông tin chung 78

3.3.3 Kết quả điều tra khảo sát 80

3.4 Đánh giá chung 86

3.3.1 Điểm đạt được 86

3.3.2 Tồn tại, hạn chế 87

3.3.3 Nguyên nhân 90

CHƯƠNG 4: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH TRONG HOẠT ĐỘNG KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TẠI ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI 95

4.1 Chiến lược phát triển Khoa học và công nghệ tại Đại học Quốc gia Hà Nội đến năm 2020 và tầm nhìn 2030 95

4.2 Kiến nghị và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý tài chính trong hoạt động khoa học và công nghệ tại Đại học Quốc gia Hà Nội 97

4.2.1 Kiến nghị 97

4.2.2 Giải pháp 98

KẾT LUẬN 105

TÀI LIỆU THAM KHẢO 107

PHỤ LỤC

Trang 9

DANH MỤC CÁC CHỮ CÁI VIẾT TẮT

Trang 10

DANH MỤC CÁC B NGẢNG

1 Bảng 3.1 Trình độ của đội ngũ quản lý các phòng phụ

2 Bảng 3.2 Thống kê số liệu nguồn kinh phí ĐHQGHN

3 Bảng 3.3 Tính toán các chỉ tiêu đánh giá quản lý thu 59

4 Bảng 3.4 Báo cáo giám sát việc phân bổ và sử dụng

ngân sách KH&CN giai đoạn 2011-2015 62

5 Bảng 3.5 Thống kê nguồn thu trong hoạt động KH&CN

6 Bảng 3.6 So sánh cơ cấu các nguồn lực cho hoạt động

KH&CN tại ba trường NUS, NTU, VNU 67

7 Bảng 3.7 Cơ cấu các khoản chi trong hoạt động

KH&CN của ĐHQGHN giai đoạn 2014-2017 68

8 Bảng 3.8

Tỷ trọng từng khoản chi trong tổng chi hoạtđộng KH&CN tại ĐHQGHN giai đoạn 2014-2017

69

9 Bảng 3.9 Cân đối nguồn tài chính trong hoạt động

KH&CN tại ĐHQGHN giai đoạn 2014-2017 74

10 Bảng 3.10 Loại hình nhiệm vụ KH&CN các cấp từng

76

13 Bảng 3.13 Tỷ lệ bài báo khoa học ISI/SCOPUS được

đăng trên tạp chí khoa học quốc tế trong năm

76

Trang 11

vừa qua trên mỗi giảng viên

14 Bảng 3.14

Khó khăn và thuận lợi khi thực hiện cácnhiệm vụ KH&CN có kinh phí từ NSNN tạiĐHQGHN

77

15 Bảng 3.15

Khó khăn và thuận lợi khi thực hiện cácnhiệm vụ KH&CN có kinh phí từ Doanhnghiệp tại ĐHQGHN

79

16 Bảng 3.16 Mức độ sẵn sàng của các giảng viên trong

17 Bảng 3.17 Bảng tổng hợp khó khăn và kiến nghị của các

18 Bảng 3.18 Quy định về giờ chuẩn hàng năm của giảng

Trang 12

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ

1 Hình 3.1 Cơ cấu tổ chức Đại học Quốc gia Hà Nội 53

2 Hình 3.2 Một số kết quả KH&CN đạt được năm 2017 58

3 Hình 3.3 Tỷ trọng nguồn thu các hoạt động trong tổng

nguồn thu của ĐHQGHN giai đoạn 2014-2017 61

4 Hình 3.4 Tỷ trọng nguồn thu từ NSNN cho hoạt động

5 Hình 3.5 Cơ cấu nguồn thu trong hoạt động KH&CN tại

71

8 Hình 3.8 Diễn biến các khoản chi trong hoạt động

KH&CN tại ĐHGQHN giai đoạn 2014-2017 72

9 Hình 3.9

Tương quan giữa quy mô đầu tư, khả năng thuhút kinh phí và sản phẩm công bố quốc tế củacác nhóm lĩnh vực giai đoạn 2010-2015

74

Trang 13

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong Văn kiện Đại hội XII của Đảng, lần đầu tiên “Khoa học và côngnghệ” được đưa vào một mục riêng không gộp vào với các vấn đề khác như:Giáo dục đào tạo, văn hóa, môi trường như trong các Văn kiện Đại hội trước.Việc khẳng định: “Khoa học và công nghệ thực sự là quốc sách hàng đầu” và

“Khoa học và công nghệ là động lực quan trọng nhất để phát triển lực lượngsản xuất hiện đại” trong Văn kiện Đại hội XII cho thấy tầm quan trọng và sựcần thiết của việc phát triển Khoa học và công nghệ (KH&CN), đặt ra yêu cầuphát triển khoa học, công nghệ của đất nước lên một tầm cao mới

Trong những năm qua, hoạt động của các tổ chức KH&CN đã mở rộng

từ nghiên cứu - phát triển đến sản xuất và dịch vụ KH&CN Vốn huy độngcho KH&CN từ các nguồn hợp đồng với khu vực sản xuất - kinh doanh, tíndụng ngân hàng, tài trợ quốc tế và các nguồn khác, tăng đáng kể nhờ chínhsách đa dạng hoá nguồn vốn đầu tư cho KH&CN Môi trường pháp lý chohoạt động KH&CN nước ta đã có bước phát triển nhanh chóng với hàng loạtcác văn bản luật, quy định, hướng dẫn về hoạt động KH&CN đã được Quốchội, Chính phủ, Bộ ban ngành thông qua

Tuy nhiên, hoạt động KH&CN vẫn chưa được đầu tư phát triển tươngxứng với tiềm năng và vị trí quốc sách hàng đầu, chưa thực sự trở thành độnglực mạnh mẽ thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội Báo cáo tại hội nghị “Pháttriển khoa học công nghệ trong các cơ sở giáo dục đại học giai đoạn 2017-2025” do Bộ Giáo dục và Đào tạo và Bộ Khoa học và Công nghệ đồng tổchức ngày 29/7/2017 cho thấy đầu tư tài chính cho hoạt động KHCN trong cảnước bình quân cả giai đoạn 2011-2015 vào khoảng 1,7% ngân sách Nhànước - tương đương 0,4% GDP, thấp so với các nước trong khu vực: Thái Lan

Trang 14

là 0,48%; Malaysia 1,26% và Singapore là 2,2% GDP (theo tính toán củaWorld Bank năm 2016).

Đầu tư tài chính cho hoạt động KH&CN trong ngành Giáo dục trongtương quan với một số bộ, ngành của cả nước được thống kê bởi Ủy banKhoa học Công nghệ và Môi trường, Quốc hội, ngày 6/10/2015 cũng chothấy, ngân sách KHCN đầu tư cho ngành Giáo dục là thấp trong những nămqua và có xu thế giảm Xét về tổng mức đầu tư, ngành Giáo dục được đầu tưthấp hơn một số bộ, ngành như Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ ViệtNam, Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội và Nhân văn, Bộ Nông nghiệp và Pháttriển Nông thôn, Bộ Công thương Trong khi số lượng các nhà khoa học trongngành ngày càng tăng, số lượng các sản phẩm KH&CN của các trường đạihọc đóng góp cho tiềm lực KH&CN quốc gia là lớn Đặc biệt với sự tiến bộcủa KH&CN ngày càng nhanh, nhu cầu nghiên cứu trong các trường đại họcngày càng gia tăng

Những khó khăn về tài chính, về kinh phí đầu tư là thực trạng chungcủa đa phần các tổ chức hoạt động KH&CN tại Việt Nam và đó cũng là khókhăn mà Đại học Quốc gia Hà Nội (ĐHQGHN) - trung tâm đại học nghiêncứu đa ngành, đa lĩnh vực, chất lượng cao, đơn vị hàng đầu về nghiên cứukhoa học công nghệ ở Việt Nam đã và đang gặp phải Điều này đòi hỏi Đạihọc Quốc gia Hà Nội phải có các biện pháp nhằm nâng cao năng lực tài chínhcủa mình, chi tiêu cho hoạt động khoa học công nghệ dựa trên chất lượngnghiên cứu để đảm bảo tài chính đáp ứng tốt yêu cầu phát triển hoạt độngkhoa học công nghệ tại đơn vị

Chính vì vậy học viên lựa chọn đề tài “Quản lý tài chính trong hoạtđộng khoa học công nghệ tại Đại học Quốc gia Hà Nội” làm luận văn thạc sĩcủa mình

Trang 15

2 Mục đích, nhiệm vụ và câu hỏi nghiên cứu

- Mục đích nghiên cứu:

Trên cơ sở nghiên cứu luận giải các vấn đề lý luận và thực tiễn, làm rõđược thực trạng công tác quản lý tài chính trong hoạt động khoa học côngnghệ tại ĐHQGHN (tập trung làm rõ hiệu quả quản lý tài chính trong hoạtđộng khoa học công nghệ tại ĐHGQHN), từ đó đề xuất một số giải phápnhằm nâng cao hiệu quả quản lý tài chính trong hoạt động khoa học côngnghệ tại ĐHQGHN

- Nhiệm vụ nghiên cứu:

1) Hệ thống hóa cơ sở lý luận về quản lý tài chính trong hoạt động khoahọc công nghệ

2) Phân tích thực trạng công tác quản lý tài chính trong hoạt động khoahọc công nghệ tại ĐHQGHN Đánh giá những thành tựu, hạn chế và chỉ ranguyên nhân

3) Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý tài chính hoạtđộng khoa học công nghệ tại ĐHQGHN

- Các câu hỏi nghiên cứu mà luận văn đặt ra gồm:

1) Thực trạng quản lý tài chính trong hoạt động khoa học công nghệtại Đại học Quốc gia Hà Nội hiện nay diễn ra như thế nào?

2) Những kiến nghị và giải pháp nào cần thực hiện nhằm nâng caohiệu quả quản lý tài chính trong hoạt động khoa học công nghệ tại Đại họcQuốc gia Hà Nội?

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

Trang 16

- Đối tượng nghiên cứu: Công tác quản lý tài chính trong hoạt động khoahọc công nghệ.

- Phạm vi nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu và giải quyết nhữngvấn đề liên quan đến quản lý tài chính trong hoạt động khoa học công nghệ tạiĐHQGHN từ năm 2014 đến 2017 Định hướng chiến lược đến năm 2020 vàtầm nhìn đến năm 2030

4 Phương pháp nghiên cứu

Trên cơ sở phương pháp luận của Chủ nghĩa duy vật lịch sử và Chủnghĩa duy vật biện chứng, các phương pháp được sử dụng trong quá trìnhthực hiện luận văn gồm: Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp (điều tra khảosát với đối tượng là giảng viên tại ĐHQGHN) và thu thập số liệu thứ cấp,phương pháp tổng hợp, thống kê, phân tích, so sánh được sử dụng trong quátrình nghiên cứu để đưa ra nhận xét, đánh giá các vấn đề

5 Kết cấu của luận văn

Mở đầu

Chương 1 Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý luận và thực tiễn vềquản lý tài chính trong hoạt động khoa học công nghệ

Chương 2 Phương pháp nghiên cứu

Chương 3 Thực trạng quản lý tài chính trong hoạt động khoa học côngnghệ tại Đại học Quốc gia Hà Nội

Chương 4 Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý tài chínhtrong hoạt động khoa học công nghệ tại Đại học Quốc gia Hà Nội

Kết luận

Trang 17

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ

LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH TRONG HOẠT

ĐỘNG KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu

1.1.1 Vấn đề về quản lý tài chính trong Giáo dục Đại học

Các công trình nghiên cứu về tài chính công là khá đa dạng được bổsung, cập nhật qua thời gian Năm 1979, Alan [19] đã cho tái bản lần thứ sáucuốn sách của mình về tài chính công “Tài chính công – Lý thuyết và thựctiễn” Những nội dung cơ bản nhất về tài chính công được tác giả bàn khá chitiết Một số vấn đề thực tiễn tài chính công ở Anh đã được đưa ra phân tích vàlồng ghép vào các nội dung lý thuyết Ba mươi năm sau, với cùng tên sách là

“Tài chính công – Lý thuyết và thực tiễn”, tác giả Holley (2007) [20] cũngcho tái bản lần thứ hai cuốn sách của mình Holley đưa ra những vấn đề thựctiễn mới về tài chính công ở Mỹ Những công trình nghiên cứu về tài chínhcông ngoài nước, đặc biệt ở Mỹ, Anh, mang tính học thuật cao (kể cả sáchđược xuất bản hay các bài viết báo, tạp chí) Trong các nghiên cứu đó, khiđưa vấn đề thực tiễn vào phân tích các tác giả cũng đưa vấn đề giáo dục cônglập và tài chính cho giáo dục công lập Tuy nhiên, việc phân tích như vậy chỉmang tính minh họa cho lý thuyết về tài chính công

Các quốc gia như Mỹ, Anh và Úc có mô hình giáo dục công khá độclập giữa các bang hay các vùng Mỗi vùng có những chính sách riêng giáodục công, chính vì thế họ đều xây dựng các khung khổ và chính sách giáo dụccho riêng họ

Năm 2007, Hội đồng chính quyền vùng Hampshire Anh đưa ra khungkhổ nguyên tắc quản lý tài chính cho các trường học công lập các cấp [27].Một số công trình lồng ghép lý thuyết về tài chính công vào quản lý tài chính

Trang 18

cho giáo dục có thể kể đến nghiên cứu về quản lý và kiểm soát tài chính đốivới giáo dục đại học của Malcolm Prowle và Eric Morgan (2005) [23] Cuốnsách này được coi là cẩm nang nghề nghiệp của những người quản lý tàichính trong các trường đại học ở Mỹ Nghiên cứu chỉ ra những điểm tươngđồng và khác biệt về các điều kiện chính trị, văn hóa, kinh tế - xã hội, môitrường gắn với vấn đề quản lý tài chính trong cơ sở giáo dục Các nướcnghiên cứu gồm: Campuchia, Indonesia, Lào, Malaysia, Philipin, Singapore,Thái Lan, Việt Nam Công trình nhấn mạnh tầm quan trọng sự hỗ trợ của nhànước trong việc gia tăng cạnh tranh của giáo dục đại học quốc gia trong bốicảnh mới Marianne, Coleman&Lesley Anderson (2000) [24] đã tập trungphân tích một số nội dung chủ yếu sau: quan niệm về nguồn lực giáo dục, cácphương pháp quản lý nguồn lực Bài báo cũng đi sâu phân tích thực trạngquản lý các nguồn lực giáo dục đại học, nhấn mạnh tầm quan trọng của cácnguồn lực tài chính, các loại hình hợp tác quốc tế về giáo dục đại học, nghiêncứu so sánh các chính sách hiện hành và các chính sách khuyến nghị cũngnhư những điều cần làm để cải thiện tình hình quản lý tài chính trong giáo dụcđại học, mở rộng đối tượng nghiên cứu không chỉ tài chính mà các nguồn lựckhác cho giáo dục Tsang, M.C (1997) [28] tiếp cận theo cách phân tích chiphí lợi nhuận để đưa ra chính sách hoặc đánh giá chính sách trong lĩnh vựcgiáo dục Nhìn chung, các công trình theo hướng này mang tính ứng dụng, tácnghiệp, đôi chỗ có lồng ghép lý thuyết tài chính công.

Trong bài “Phân tích sự gia tăng chi phí GDĐH” của các tác giả RobertB.Archibald và David H Feldman (2006) [26] đã so sánh việc tăng chi phíGDĐH với việc tăng giá thành sản xuất sản phẩm của một số ngành côngnghiệp và dịch vụ khác, phân tích vấn đề chi phí và các yếu tố ảnh hưởng đếnchi phí GDĐH Gia tăng chi phí được các tác giả phân tích như một gánhnặng mà người học phải gánh chịu Một trong những lý do đáng nói là sự

Trang 19

chậm tăng năng suất trong dịch vụ sẽ đặt áp lực lên việc tăng giá dịch vụ bêncạnh áp lực về tăng lương, chi phí bảo hiểm cho lao động có trình độ cao Một

số đề xuất như tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, điều chỉnh quy mô,hình thức tổ chức lớp học hay kiểm soát chặt chẽ chi phí có thể kiểm soát vấn

đề trên nhưng không phải dễ dàng Riêng trong vấn đề kiểm soát chi tiêu bằngcách hạn chế doanh thu của các trường đại học có thể dẫn đến những tác dụngphụ không mong muốn D Bruce Johnstone (2006) [10] cho rằng: “Tài chính

là nền tảng chi phối phần lớn ba chủ đề bao quát về chính sách GDĐH hiệnđại: chất lượng, và mối quan hệ giữa việc cấp chi phí và chất lượng ở bất cứkhía cạnh nào của nó; sự nhập học, hay việc tìm kiếm công bằng xã hội ởnhững người được hưởng lợi ích và những người phải chi trả cho GDĐH; vàhiệu quả, hay việc tìm kiếm một mối quan hệ về hiệu suất chi phí giữa cácnguồn thu nhập và các sản phẩm đầu ra” Về việc cung cấp tài chính choGDĐH, cần xem xét ba vấn đề lớn: Quy mô đầu tư cho GDĐH của quốc gia,hiệu quả và năng suất của GDĐH, các nguồn thu nhập để hỗ trợ cho GDĐH.Trong đó, vấn đề chi phí đơn vị có sự khác biệt lớn và lạm phát trong chi phíđôi khi tăng hơn mức bình thường

Trong báo cáo nghiên cứu về “Hiệu quả của GDĐH công: tiếp cận haigiai đoạn đa quốc gia”, các tác giả Joanna Wolszczak-Derlacz và AleksandraParteka (2011) [22] đã đưa ra những nhận định về các yếu tố tác động đếnhiệu quả hoạt động của nhà trường sau khi tiến hành nghiên cứu 259 trườngđại học thuộc 7 quốc gia châu Âu Nghiên cứu sử dụng hai thông số kỹ thuậtphân tích, lần đầu bao gồm hai kết quả đầu ra (ấn phẩm và số sinh viên tốtnghiệp) và ba yếu tố đầu vào (số lượng đội ngũ, quy mô sinh viên và kinhphí) và lần thứ hai với hai kết quả đầu ra như trên và hai đầu vào (số lượngđội ngũ và kinh phí) Quy mô sinh viên, số lượng các khoa, nguồn kinh phí,thành phần đội ngũ và bề dày truyền thống được tác giả cho rằng là những

Trang 20

nhân tố quyết định hiệu suất của các đơn vị Về tài chính, mức đầu tư của cácnguồn bên ngoài cao hơn sẽ nâng cao hiệu quả của tổ chức Các tác giả cũngkết luận rằng, do hiệu quả khác biệt giữa các trường trong mỗi quốc gia nênviệc chỉ ra quốc gia nào có thể là chuẩn mực cho các quốc gia khác là khôngkhả thi Trong “Tài chính cho GDĐH - xu hướng và vấn đề”, ArthurM.Hauptman Arlington, Virginia đã nêu một số khái niệm vĩ mô về chínhsách tài chính GDĐH như mức độ hỗ trợ tổng thể các nguồn lực cho GDĐH,

tỷ lệ hoàn vốn, mức độ đầu tư và tham gia của nhà nước Ông phản ánhnhững quan điểm đang thay đổi trên thế giới và sự tác động đến sự phát triểncủa quốc gia Trong đó là các vấn đề yêu cầu ngày càng tăng trên cơ sở tỷ lệhoàn vốn đang tăng, sự tăng trưởng không đồng đều giữa quy mô đào tạo vànguồn lực, kêu gọi tăng cường tính trách nhiệm, việc tư nhân hóa và cơ chếthị trường Báo cáo về “GDĐH Việt Nam - khủng hoảng và trách nhiệm”tháng 11-2008 của chương trình châu Á - Trường Harvard Kennedy, thôngqua kinh nghiệm hợp tác từ Chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright tạiThành phố Hồ Chí Minh (TPHCM), đã nêu lên các vấn đề gốc rễ trongkhủng hoảng GDĐH ở Việt Nam và tầm quan trọng của việc đổi mới thể chế,trong đó vấn đề tự chủ và trách nhiệm được nêu ra như là yếu tố cơ bản Báocáo cũng đề cập cơ chế trả lương cho viên chức giảng dạy Trong “Cải cáchquản trị đại học: Khả năng tự chủ nhiều hơn?”, Tom Christensen (2011) [30]bàn về những xu hướng cải cách quản lý công trong giáo dục qua các giaiđoạn khác nhau Tự chủ đại học hiện nay được chuyển từ tự chủ hình thức ởcấp độ thấp sang tự chủ thực sự ở mức cao hơn Vấn đề này dựa trên hai yếu

tố, một là thay đổi những quan điểm về tổ chức, văn hóa và môi trường nộitại, hai là phác thảo xu hướng cải cách nhà trường Nhiều trường đại học đãchủ động tìm cách khai thác các nguồn tài chính thay vì phụ thuộc vào sự bảotrợ từ tài chính công như trước đây Với “Tự chủ tài chính trong GDĐH” tác

Trang 21

giả Vuokko Kohtamaki (2009) [29] tiến hành nghiên cứu ở các trường thuộc

tổ chức GDĐH AMK Phần Lan, đã phân tích về mức độ tự chủ tài chính, mốiquan hệ với cơ quan chủ quản là Bộ Giáo dục và cơ chế kiểm soát của cơquan quản lý với cơ sở GDĐH Nguồn lực hoạt động và quyền tự chủ rất quantrọng đối với trường đại học, song tự chủ tài chính là một hiện tượng phức tạp

và thuộc các quy phạm hành chính Nghiên cứu còn đề cập mối tương quangiữa cơ chế tự chủ nguồn lực tài chính với sự phát triển các ngành và quy môđào tạo của các trường

Vào những năm 60 của thế kỷ thứ XX, hai nhà khoa học Mỹ là Robert

S McNamara và Charles J Hitch đã đề xuất cơ chế phân bổ và quản lý ngânsách theo kết quả đầu ra Tuy nhiên, nó chỉ được áp dụng rộng rãi từ nhữngnăm 90 trở lại đây ở các nước phát triển, đặc biệt là châu Âu Để có cái nhìn

cụ thể, có thể xem trường hợp của Ireland, các chương trình hoặc dự ánnghiên cứu phải có báo cáo giải trình với nhiều nội dung cụ thể trong đó phảinêu được sứ mệnh hoặc mục tiêu nghiên cứu, các chỉ tiêu có thể đo lườngđược gắn với mục tiêu nghiên cứu Ý tưởng cơ bản của cơ chế phân bổ vàquản lý ngân sách theo kết quả đầu ra này là Nhà nước thực hiện quản lý xãhội theo mô hình doanh nghiệp, phải lấy kết quả để đánh giá chất lượng củamỗi tổ chức cá nhân

Hiện nay, Việt Nam chủ yếu phân bổ ngân sách cho đơn vị là 1 năm màchưa áp dụng phân bổ ngân sách theo khuôn khổ chỉ tiêu trung hạn Trong khi

đó, các chương trình dự án nghiên cứu lớn thường đòi hỏi kỳ nghiên cứu dài.Kinh nghiệm một số nước như Anh, Đài Loan, Australia,… cho thấy xác định

kỳ phân bổ ngân sách cho khoa học công nghệ từ 3-5 năm là hợp lý, (ICSTI –

Tổ chức quốc tế về thông tin khoa học và kỹ thuật, 1997 ; Kurt Lambeck,

2006 ; Alfred Li Peng Cheng, 2010)

Trang 22

1.1.2 Vấn đề quản lý KH&CN của một số nước trên thế giới

Philip Altbach and Jorge Balan (2008) [25] khi nghiên cứu về các môhình đại học nghiên cứu Tác giả đã đưa ra yêu cầu cần thiết phải đánh giá vàcông nhận đại học nghiên cứu trong hệ thông xếp hạng chung của các trườngđại học Và việc phân loại các trường đại học thành đại học nghiên cứu loại I1,đại học nghiên cứu loại II2, đại học đào tạo Tiến sĩ loại I3, đại học đào tạo tiến

sĩ loại II4,… có ý nghĩa quan trọng trong việc phân bổ kinh phí và định hướngđầu tư của xã hội cho nghiên cứu khoa học trong các trường đại học

John P.Holdren (2010) [21] Chính sách Khoa học, Công nghệ và Đổimới trong Chính quyền Obama Hội nghị thượng đỉnh Âu - Mỹ về khoa học,Công nghệ và Tăng trưởng kinh tế bền vững Washington, DC, tháng 9/2010,

có viết về kinh nghiệm trong quản lý hoạt động Khoa học và công nghệ củachính phủ Mỹ là không ôm đồm, trợ cấp tất cả các công trình nghiên cứu màkhuyến khích các doanh nghiệp tự tìm thế mạnh cho mình bằng cách đạt cáctiêu chuẩn quốc tế về chất lượng sản phẩm thông qua đầu tư vào nghiên cứukhoa học và phát triển công nghệ Chính phủ cũng tạo ra hành lang pháp lý đểkhuyến khích các doanh nghiệp đầu tư vào nghiên cứu Việc các doanhnghiệp đầu tư vào nghiên cứu là việc có lợi cả đôi đường: Một là bản thân các

1 Là những trường có chương trình đạo tạo bậc cử nhân ở nhiều ngành Những trường này gắn bó với việc đào tạo sau đại học qua những chương trình nghiên cứu bậc tiến sĩ, nhấn mạnh vào khoa học cơ bản, có khả năng cạnh tranh các nguồn kinh phí dành cho nghiên cứu của nhà nước.

2

Là những trường có chương trình đào tạo bậc cử nhân ở nhiều ngành Những ngành này gắn bó với diệc đào tạo sau đại học qua những chương trình nghiên cứu bậc tiến sĩ, có khả năng cạnh tranh các nguồn kinh phí dành cho nghiên cứu nhà nước.

3 Là những trường có chương trình đào tạo bậc cử nhân ở nhiều ngành Những trường này gắn bó với việc đào tạo sau đại học qua những chương trình nghiên cứu bậc tiến sĩ, xem nghiên cứu là một chức năng quan trọng, hàng năm cấp được 70 bằng tiến sĩ hoặc nhiều hơn.

4

Là những trường có chương trình đào tạo bậc cử nhân ở nhiều ngành Những trường này gắn bó với việc đào tạo sau đại học qua những chương trình nghiên cứu bậc tiến sĩ, xem nghiên cứu là một chức năng quan

Trang 23

doanh nghiệp sẽ nâng cao được chất lượng sản phẩm, có trong tay bản quyềnnghiên cứu mà rất có thể sẽ trở thành nguồn thu lợi thứ cấp khi các doanhnghiệp khác cần đến; Hai là với đơn đặt hàng từ doanh nghiệp, các nhà nghiêncứu sẽ có trách nhiệm hơn với nghiên cứu của mình, không ỉ lại như khi nhậnnguồn đầu tư của Chính phủ, vì nếu nghiên cứu không nghiêm túc, khôngđem lại kết quả đồng nghĩa với sự tự loại mình ra khỏi cuộc chơi.

Nguyễn Thị Phương và Mai Hà, (2017) Quản lý tài trợ nghiên cứu

Khoa học công nghệ của một số quốc gia trên thế giới và bài học kinh nghiệmcho Việt Nam [11] , khác với nhiều quốc gia, Hoa Kỳ không có Bộ KH&CN

mà chỉ có Bộ Giáo dục và Đào tạo Hoạt động KH&CN ở Hoa Kỳ chủ yếuthông qua mô hình quỹ Quỹ Khoa học Quốc gia Hoa Kỳ (NSF) được thànhlập bởi Đạo luật Quỹ Khoa học Quốc gia năm 1950 với nhiệm vụ thúc đẩytiến bộ khoa học, thúc đẩy sức khỏe, sự thịnh vượng và phúc lợi quốc gia,đảm bảo quốc phòng Quỹ là cơ quan thuộc Chính phủ Hoa Kỳ chuyên hỗ trợcho hoạt động nghiên cứu KH&CN và giáo dục trong tất cả các lĩnh vực phi y

tế về khoa học và kỹ thuật Riêng lĩnh vực Y tế của NSF là Viện Sức khỏeQuốc gia Với ngân sách hàng năm khoảng 7 tỷ USD, NSF tài trợ khoảng24% tổng số các nghiên cứu được hỗ trợ bởi Liên bang do các trường đại học

và cao đẳng ở Hoa Kỳ thực hiện NSF có sứ mệnh tài trợ có hạn mang tínhcạnh tranh cho các đề xuất từ cộng đồng nghiên cứu Phần lớn các khoản tàitrợ của NSF dành cho cá nhân hoặc nhóm nhỏ các nhà nghiên cứu, nhữngngười thực hiện nghiên cứu tại các trường đại học như các nhà khoa học,giảng viên, sinh viên Đối với hoạt động KH&CN, NSF quan tâm chủ yếu đếnkết quả đầu ra mà không khắt khe xét duyệt đầu vào, quá trình quản lý tài trợcủa NSF được thực hiện thông qua các giai đoạn như: đề xuất đề cươngnghiên cứu, bình duyệt đề cương nghiên cứu, quản lý tiến trình nghiên cứu

Trang 24

Hoạt động nghiên cứu khoa học tại Vương quốc Anh được tài trợ thôngqua 7 hội đồng nghiên cứu Vương quốc Anh (RCUK) Nhìn chung, phươngthức hoạt động của các hội đồng là giống nhau, tuy nhiên, trong một sốtrường hợp có những đặc thù riêng biệt Kinh phí hàng năm cho RCUKkhoảng 7 tỷ GBP được cấp thông qua ngân sách nhà nước RCUK chịu tráchnhiệm trước Quốc hội về tài trợ cho khoa học thông qua Bộ Kinh doanh,Năng lượng và Chiến lược công nghiệp (BEIS) Đầu tư của RCUK cho hoạtđộng nghiên cứu đã đưa quốc gia này trở thành đất nước có nhiều thành côngtrong KH&CN Theo thống kê từ RCUK, quốc gia này chỉ chiếm 1% dân sốthế giới nhưng hoạt động tài trợ cho KH&CN chiếm 3% toàn cầu Kết quả tàitrợ đạt được là 8% của lượng bài báo xuất bản và 16% của lượng bài báo tríchdẫn nhiều nhất thế giới (Helen Nicblock, 2017) RCUK dành đến 64-70%kinh phí phân bổ cho các trường đại học, trong số đó 76.2% dành cho lĩnhvực giảng dạy, 23.8% hỗ trợ cho lĩnh vực nghiên cứu.

Theo Statista (2017), Nhật Bản chi 6,03 tỷ USD/năm cho hoạt độngkhoa học và giáo dục Nhật Bản được biết đến không chỉ là một cường quốc

về kinh tế mà còn là cường quốc về KH&CN Không có bề dày lịch sử pháttriển KH&CN như các nước châu Âu, đối với Nhật Bản có thể nói: kinh tếNhật Bản mạnh cũng vì có nền KH&CN mạnh và ngược lại Tại Nhật Bản,

Bộ Giáo dục, Văn hóa, Thể thao, Khoa học và Công nghệ Nhật Bản (Ministry

of Education, Culture, Sports, Science and Technology - Japan - MEXT) vàHiệp hội Xúc tiến Khoa học Nhật Bản (The Japan Society for the Promotion

of Science - JSPS) là hai cơ quan tổ chức và quản lý phần kinh phí liên quanđến đông đảo người làm nghiên cứu tại Nhật Bản Các đề tài khoa học cơ bảntại Nhật Bản được tài trợ thông qua Quỹ tài trợ nghiên cứu khoa học doMEXT và JSPS quản lý

Trang 25

Úc là quốc gia chi từ ngân sách của mình 5-6 tỷ AUD/năm cho các dự

án KH&CN Ngân sách này chiếm khoảng 5% tổng sản lượng quốc gia(GDP) Cũng giống mô hình của nước Anh, hai cơ quan chịu trách nhiệmquản lý các dự án và tài trợ ngân sách nghiên cứu khoa học tại Úc là Hội đồng

Y khoa quốc gia (National Health and Medical Research Council - NHMRC)

và Hội đồng Nghiên cứu khoa học quốc gia (Austrailia Research Council ARC) Hai cơ quan này gọi chung là “Council” (Hội đồng) có trách nhiệmcấp và quản lý kinh phí đều không trực thuộc các Bộ, Chủ tịch và các thànhviên trong Hội đồng là các nhà khoa học làm việc bán thời gian và khônghưởng lương Điều hành công việc là nhóm cán bộ hành chính do nhà nướctuyển dụng và có lương Các quan chức Nhà nước từ các Bộ hầu như khôngdính dáng và không can thiệp vào quản lý và phân phối tài trợ của ARC vàNHMRC Với số tiền lớn như trên, hệ thống tài trợ và quản lý ngân sách đóngmột vai trò quan trọng trong việc bảo đảm đầu tư cho khoa học đem lại lợi íchcho kinh tế-xã hội Úc

-1.1.3 Vấn đề về quản lý tài chính trong hoạt động khoa học và công nghệ tại Việt Nam

Theo Đăng Minh, 2015, Việt Nam duy trì mức đầu tư cho hoạt độngKH&CN từ Ngân sách nhà nước (chưa tính kinh phí sự nghiệp môi trường và

an ninh, quốc phòng) với tỷ lệ khoảng 1,36 - 1,59% tổng chi ngân sách nhànước thông qua hai cơ quan là Bộ Khoa học và Công nghệ - cơ quan quản lýchi sự nghiệp hoạt động KH&CN và Bộ Kế hoạch và Đầu tư - cơ quan quản

lý chi đầu từ phát triển KH&CN Tỷ trọng lớn đầu tư cho KH&CN ở ViệtNam chủ yếu là từ nguồn NSNN nên tổng mức đầu tư xã hội cho KH&CNcủa Việt Nam thấp hơn rất nhiều so với các nước Hơn nữa, nguồn ngân sáchnhà nước dành cho hoạt động KH&CN lại được ưu tiên phân bổ nhiều hơncho hệ thống các viện nghiên cứu quốc gia Điều này xuất phát từ một đặc

Trang 26

điểm đó là tại Việt Nam tồn tại hai hệ thống cơ quan lớn của Nhà nước cùngđược giao thực hiện nhiệm vụ liên quan đến lĩnh vực KH&CN, đó là hệ thốngcác viện nghiên cứu và hệ thống các trường đại học Mặc dù cả trường đại học

và viện nghiên cứu cùng tham gia thực hiện các nhiệm vụ KH&CN, hệ thốngcác viện nghiên cứu vẫn nhận được nhiều nguồn ngân sách nhà nước hơn chocác hoạt động của mình

Bài “vấn đề đầu tư và vốn cho khoa học và công nghệ ở nước ta” củaNguyễn Mậu Trung (2011) [31] đã tổng kết lại các nguồn vốn cơ bản từNSNN cho KH&CN, thực trạng sử dụng vốn NSNN, một số cơ chế tạo vốnđầu tư cho KH&CN trong các doanh nghiệp và nêu ra một số giải pháp đểtăng cường hiệu quả hoạt động KH&CN… Bài viết đưa ra một số trường hợp

cụ thể như: ngân sách nhà nước bố trí cho KH&CN chiếm 2% tổng chi ngânsách nhưng việc phân bổ tồn tại nhiều bất cập, ách tắc dẫn đến tỷ lệ thực chicho hoạt động KH&CN vẫn hình thức, không hiệu quả Với trên 1200 tổ chứcKH&CN, nhưng các tổ chức KH&CN và các nhà khoa học chủ yếu nghiêncứu KH&CN theo sự chỉ đạo của nhà nước, dùng kinh phí của nhà nước vànộp sản phẩm cho nhà nước để hưởng tiền lương, tiên công; Bên cạnh đó, nhànước cho phép hình thành các quỹ để hỗ trợ đầu tư cho KH&CN, ưu đãi vềthuế đối với hoạt động KH&CN, ra chủ trương chuyển đổi về tổ chức và hoạtđộng trong KH&CN Nguyễn Mậu Trung đã đề xuất một số giải pháp sau:nâng cao nhận thức cho toàn dân; Có quy chế phân bổ và sử dụng đúng đủ vàtriệt để kinh phí được phân bổ; có chính sách khuyến khích chuyển đổi về tổchức và hoạt động trong KH&CN sang tự chủ, tự chịu trách nhiệm; Mở rộng

xã hội hóa thu hút các nguồn vốn ngoài ngân sách cho hoạt động KH&CN;

Tổ chức kiểm điểm thực hiện nghị quyết TW2 và kết quả thực hiện luậtKH&CN cũng như các văn bản liên quan khác

Trang 27

Tác giả Bùi Thiên Sơn (2010) [4], “Tổng quan về định hướng chi tiêunguồn tài chính cho quá trình phát triển khoa học và công nghệ quốc gia đếnnăm 2020 và một số khuyến nghị” đã nhận định “công tác tài chính có vai tròquan trọng để tạo đột phá cho phát triển Khoa học và công nghệ quốc gia”.Những đánh giá cụ thể về mặt thu và chi ngân sách cho hoạt động khoa học

và công nghệ còn nhiều bất cập Tác giả đã chỉ ra một số thực trạng trongquản lý tài chính và có dẫn chứng bằng số liệu điều tra như năm 2008, cónhiều nơi các nhà khoa học mất đến 60% số thời gian để giải trình thuyếtminh và ngân sách kinh phí đề tài được phê duyệt Điều này cho thấy chínhsách quản lý tài chính trong hoạt động khoa học và công nghệ còn nhiều hạnchế, cần có các giải pháp phù hợp hơn cho sự phát triển Khoa học và côngnghệ

Một nghiên cứu khác liên quan đến quản lý tài chính trong lĩnh vựcKH&CN của tác giả Trần Ngọc Hoa (2012) “Hoàn thiện thiết chế tự chủ của

tổ chức khoa học và công nghệ nghiên cứu trường hợp của tổ chức R&D có

sử dụng ngân sách nhà nước” [15] đã đề cập đến cơ chế tự chủ về ngân sáchtrong hoạt động nghiên cứu và phát triển tự chủ của tổ chức KH&CN về vấn

đề tài chính chỉ là một nội dung trong đó, do vậy nghiên cứu mới chỉ đề cậpđến một khía cạnh trong công tác quản lý và sử dụng nguồn ngân sách củanhà nước trong các tổ chức R&D Bài báo chưa nêu ra được những vấn đề vềnguồn vốn đầu tư cho hoạt động KH&CN và các thủ tục gây khó khăn chocác nhà khoa học

Bài báo “Cơ chế tài chính cho hoạt động khoa học công nghệ ở ViệtNam: một số hạn chế và giải pháp hoàn thiện” của tác giả Nguyễn Hồng Sơn(2012) [12] chỉ ra một số hạn chế của cơ chế tài chính hiện hành cho hoạtđộng KH&CN gồm: cơ chế huy động, cơ chế phân bổ vấn đề sử dụng nguồnlực tài chính Tác giả đưa ra một số giải pháp hoàn thiện cơ chế tài chính cho

Trang 28

hoạt động KH&CN theo 2 hướng là: tài cấu trúc khu vực đầu tư công và duytrì các khuyến khích nâng cao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các tổchức, cá nhân chủ trì thực hiện Bài viết phân tích khá rõ nét về thực trạng cơchế quản lý tài chính trong hoạt động KH&CN ở nước ta hiện nay đồng thờicũng đóng góp một số giải pháp nhằm tăng hiệu quả quản lý cũng như hoạtđộng nghiên cứu Tuy nhiên, đó là những giải pháp vĩ mô mà tác giả hướngtới một cơ chế chung.

GS.TS Mai Ngọc Cường, chủ nhiệm đề tài cấp bộ “Hoàn thiện cơ chếchính sách tài chính cho hoạt động Khoa học và công nghệ trong các trườngđại học tại Việt Nam” năm 2014, đã phân tích các số liệu tài chính dành chohoạt động KH&CN, nêu ra các hạn chế trong công tác phân bổ, quản lý sửdụng và thanh quyết toán NSNN cho hoạt động KH&CN Nghiên cứu đã chỉ

ra một số vấn đề thực trạng tài chính cho hoạt động KH&CN gồm: Tỷ lệ đầu

tư từ ngân sách nhà nước cho hoạt động KH&CN còn thấp; Việc phân bổnguồn kinh phí này cho các nhiệm vụ của ngành KH&CN còn dàn trải làmcho hiệu quả sử dụng vốn chưa cao; Thanh quyết toán kinh phí sự nghiệpKH&CN còn nhiều bất cập

Nghiên cứu của tác giả Trần Thị Thu Hà (2016) “Một số vấn đề về cơchế tài chính đối với hoạt động khoa học và Công nghệ ở Việt Nam” [14] vềvấn đề vì sao khu vực doanh nghiệp hiện nay đầu tư thấp cho KH&CN, mặc

dù nhận được rất nhiều những khuyến khích về mặt tài chính trực tiếp cũngnhư cơ chế Từ câu hỏi đó, tác giả cũng đưa ra một số nguyên nhân chính chocâu hỏi trên: thứ nhất, nhu cầu đầu tư cho KH&CN của các doanh nghiệp ViệtNam chưa lớn, do đặc điểm của mô hình tăng trưởng theo chiều rộng, trong

đó các ngành cần nhiều vốn và lao động Và lợi thế cạnh tranh không dựa trênchất lượng vượt trội của sản phẩm mà dựa trên cơ sở chi phí lao đông thấp do

Trang 29

nghiệp có nhu cầu nhưng chưa đủ tiềm lực về tài chính để đầu tư cho hoạtđộng KH&CN Thứ ba, một số doanh nghiệp có đủ tiềm lực về tài chính và cónhu cầu nhưng khả năng đáp ứng của các tổ chức KH&CN trong nước cònhạn chế.

Nghiên cứu của tập thể tác giả Nguyễn Thị Minh Nga, Phạm QuangTrí, Phạm Hồng Trang (2016) “Chính sách phát triển tiềm lực khoa học vàcông nghệ trong các trường đại học Việt Nam” [13] đã hệ thống hóa các chínhsách phát triển tiềm lực khoa học và công nghệ trong các trường đại học ViệtNam hiện hành và từ đó đề xuất bổ sung một số chính sách như: Hỗ trợ pháttriển nhân lực nghiên cứu khoa học trong các trường đại học thông qua hỗ trợcác nhà khoa học trẻ và tăng cường lưu chuyển nhân lực KH&CN giữa cáckhu vực (viện nghiên cứu – trường đại học – doanh nghiệp) để các nhà nghiêncứu có cơ hội nâng cao năng lực nghiên cứu đồng thời tránh hiện tượng lýthuyết không gắn liền với thực tiễn; Tăng nguồn thu cho hoạt động KH&CNtrong các trường đại học thông qua đa dạng hóa các nguồn tài chính và tăngcường sử dụng phương thức tài trợ cạnh tranh trong nghiên cứu;

Nghiên cứu của tác giả Hoàng Xuân Long và Hoàng Lan Chi (2017)

“Một số giải pháp gắn kết nghiên cứu với đào tạo trên thế giới” [9] đã chỉ ramột số giải pháp như tập trung xây dựng một số đại học nghiên cứu, tăngcường gắn kết đào tạo đại học và trên đại học và nghiên cứu khoa học trongđội ngũ cán bộ giảng dạy ở các trường đại học; Tăng cường nghiên cứu khoahọc trong sinh viên học viên cao học, nghiên cứu sinh, sau tiến sĩ; Phát triển

tổ chức nghiên cứu và phát triển trong trường đại học; Tăng cường hoạt độngđào tạo của các viện nghiên cứu và cán bộ nghiên cứu; phát triển nghiên cứuviện - trường - doanh nghiệp;

Trang 30

Viết về “Đại học nghiên cứu” (ĐHNC), tác giả Trương Quang Học(2009) [16] cũng chỉ ra những đặc trưng cơ bản sau:

- Quy mô lớn, tính liên ngành cao Thường có hàng trăm mã ngành/chương trình đào tạo trong trường ĐHNC Chẳng hạn: Đại học Callifornia,

Mĩ có gần 600 chương trình đào tạo ở cả ba bậc, cử nhân, thạc sĩ và tiến sĩ;Đại học Thanh Hoa, Trung Quốc có hơn 100 chương trình đại học, 158chương trình thạc sĩ và 114 chương trình tiến sĩ, ;

- Tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm cao: Các trường đại học có tính tựchủ cao, họ gần như quyết định mọi hoạt động của nhà trường: tổ chức nhân

sự, quản lý, học thuật, cơ sở vật chất, tài chính, Đặc điểm này tập trung caonhất trong hệ thống giáo dục ở Mỹ;

- Hoạt động chủ yếu của đội ngũ cán bộ là NCKH và giảng dạy Đốivới các cán bộ giảng dạy đại học, bên cạnh hoạt động đào tạo, hoạt độngNCKH là hoạt động bắt buộc Tỷ lệ thời gian dành cho các hoạt động nàykhác nhau tùy loại trường Ở các ĐHNC của Hoa Kỳ, khoảng 1/2 thời giandành cho công tác NCKH và cứ sau 5 năm mỗi cán bộ có 1-2 học kỳ để bồidưỡng NCKH Qua nghiên cứu, đội ngũ cán bộ giảng dạy luôn có cơ hộithăng tiến (cập nhật kiến thức và nâng cao trình độ, cũng như học vị, học hàm

và đi đôi với các điều này là chế độ đãi ngộ);

- Đội ngũ cán bộ có chất lượng cao và có quyền tự chủ cao trong hoạtđộng, đặc biệt là trong NCKH Chẳng hạn: Trường Đại học Bắc Carolina(Hoa Kỳ) có 7.400 cán bộ, trong đó có 1.975 cán bộ giảng dạy - là nhữngngười dẫn đầu quốc gia trong NCKH và giảng dạy với 10 viện sĩ Hàn lâmkhoa học Quốc gia, 10 viện sĩ Hàn lâm công nghệ Quốc gia và hơn 400 thànhviên của Viện Hàn lâm là các thầy giáo xuất sắc Đại học Seoul (Hàn Quốc)

Trang 31

có 971 giáo sư, 500 phó giáo sư; 80% số lượng tiến sĩ của trường được đàotạo từ Hoa Kỳ;

- Kinh phí NCKH lớn và chủ yếu có từ các nguồn bên ngoài (chiếm tỉ

lệ lớn hơn hoặc bằng 50% tổng thu nhập của trường) Kinh phí NCKH trungbình các đại học của Mỹ là 100 triệu USD/năm (Đại học North CarolinaState: 350 triệu USD/năm; Trung tâm Nghiên cứu Ung thư, Đại học Texas:

300 triệu USD/năm; Đại học Seoul: 100 triệu USD/năm);

- Các điều kiện nghiên cứu đầy đủ về cơ sở hạ tầng, trang thiết bị vàthông tin;

- Số lượng sinh viên sau đại học (đặc biệt là nghiên cứu sinh) lớn và làlực lượng nghiên cứu quan trọng của trường (thường chiếm tỉ lệ lớn hơnhoặc bằng 50%/tổng số sinh viên của trường);

1.1.4 Khoảng trống trong nghiên cứu

Nhìn chung, các công trình nghiên cứu nước ngoài đề cập đến vấn đề

cơ chế, chính sách về tài chính đối với các trường đại học Các nghiên cứu đãdựa trên hai nguyên lý cơ bản là: nguyên lý về tài chính công trong lĩnh vựcgiáo dục và nghiên cứu về quản lý tài chính trong các trường đại học Cácnghiên cứu đã làm rõ một khuôn khổ lý thuyết và kinh nghiệm thực tiễn vềquản lý tài chính của các trường đại học và của các nước trên Thế giới Tuynhiên, đây là những mô hình tại những trường đại học của các nền kinh tếphát triển, vì vậy chưa hoàn toàn phù hợp với hoàn cảnh của Việt Nam và đặcbiệt là đối với các trường ĐHCL điển hình đặc thù như Đại học Quốc gia HàNội

Đối với các công trình nghiên cứu trong nước, phần lớn đã nêu lênđược những thực trạng về quản lý tài chính nói chung và quản lý tài chínhtrong hoạt động khoa học và công nghệ nói riêng Có những nghiên cứu khá

Trang 32

tổng quan nhằm đóng góp cho cơ chế hiện hành, có những nghiên cứu viết vềnguồn tài chính cho hoạt động công nghệ Tuy nhiên chưa có một công trìnhnào nghiên cứu cụ thể nào về quản lý tài chính trong hoạt động khoa học côngnghệ đối với một mô hình đặc thù như Đại học Quốc gia Hà Nội và tiếp cậntheo hướng đi sâu phân tích quản lý tạo lập các nguồn thu và thực hiện cáckhoản chi, từ đó đề ra giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thu chi trong hoạtđộng Khoa học và công nghệ Do đó việc làm rõ được thực trạng công tácquản lý tài chính trong hoạt động khoa học công nghệ tại ĐHQGHN, từ đó đề

ra được một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý tài chính trong hoạtđộng khoa học công nghệ tại ĐHQGHN là rất cần thiết được nghiên cứu

1.2 Cơ sở lý luận về quản lý tài chính trong hoạt động KH&CN

1.2.1 Các khái niệm

1.2.1.1 Khái niệm hoạt động khoa học và công nghệ

Theo Luật Khoa học và Công nghệ, 2013: Hoạt động khoa học và côngnghệ là hoạt động nghiên cứu khoa học, nghiên cứu và triển khai thựcnghiệm, phát triển công nghệ, ứng dụng công nghệ, dịch vụ khoa học và côngnghệ, phát huy sáng kiến và hoạt động sáng tạo khác nhằm phát triển khoahọc và công nghệ

1.2.1.2 Khái niệm về quản lý tài chính:

- Quản lý: là một hành vi của chủ thể, được biểu hiện thông qua việcxây dựng kế hoạch, tổ chức thực hiện kế hoạch, kiểm tra điều chính các hoạtđộng nhằm đạt được những mục đích của chủ thể đề ra

- Tài chính: là hệ thống các quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trìnhphân phối các nguồn tài chính bằng việc tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệđáp ứng yêu cầu tích lũy và tiêu dùng của các chủ thể xã hội

Trang 33

Với quan điểm về tài chính như trên, có thể thấy biểu hiện “vật chất”bên ngoài của tài chính - là các nguồn tài chính, các quỹ tiền tệ; Bản chất bêntrong của tài chính là các quan hệ kinh tế phân phối của cải dưới hình thức giátrị; Từ đó nhận thức rằng, quản lý tài chính trước hết là quản lý các nguồn tàichính, quản lý các quỹ tiền tệ, quản lý việc phân phối các nguồn tài chính,quản lý việc tạo lập, phân bổ và sử dụng các quỹ tiền tệ một cách chặt chẽ ,hợp lý, có hiệu quả theo mục đích đã định Đồng thời, quản lý tài chính cũngthông qua các hoạt động kinh tế kể trên để tác động có hiệu quả nhất tới việc

xử lý các mối quan hệ kinh tế - xã hội nảy sinh trong quá trình phân phối cácnguồn tài chính, trong quá trình tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ ở các chủthể trong xã hội

Theo học thuyết về quản lý của các nhà quản trị học hiện đại như:Taylor, Herry Fayol, Harold Koontz, … có thể khái quát: quản lý là tác động

có ý thức, bằng quyền lực, theo yêu cầu của chủ thể quản lý tới đối tượngquản lý để phối hợp các nguồn lực nhằm thực hiện mục tiêu của tổ chức trongmôi trường biến đổi Theo học thuyết quản lý tài chính của mình, EraSolomon cho rằng: “Quản lý tài chính là việc sử dụng các thông tin phải ánhchính xác tình trạng tài chính của một đơn vị để phân tích điểm mạnh, điểmyếu của nó và lập các kế hoạch hành động, kế hoạch sử dụng nguồn tài chính,tài sản cố định và nhu cầu nhân công trong tương lai nhằm đạt được mục tiêu

cụ thể tăng giá trị cho đơn vị đó”

Quản lý tài chính trong hoạt động KH&CN trong các trường đại họccông lập là tổng thể các biện pháp, các hình thức tổ chức quản lý quá trình tạolập, phân phối và sử dụng các nguồn tài chính trong hoạt động KH&CN trongcác trường đại học công lập

1.2.1.3 Khái niệm về hiệu quả quản lý tài chính

Trang 34

Theo cách hiểu thông thường, hiệu quả kinh tế phản ánh quan hệ sosánh giữa kết quả đạt được so với chi phí bỏ ra để đạt được kết quả Hiệu quảquản trị tài chính được hiểu là mức độ đạt được mục tiêu quản lý tài chính sovới yêu cầu đặt ra Hiệu quả quản lý tài chính cao khi quản lý tài chính thựchiện được mục tiêu tối đa hoá lợi ích của đơn vị và ngược lại, tất cả đều nhằmđến mục tiêu cuối cùng là tối đa hóa giá trị cho đơn vị.

Cách tiếp cận của tác giả:

Chu trình quản lý tài chính trong hoạt động KH&CN trong các trườngđại học công lập bao gồm các bước cơ bản sau:

- Lập dự toán tài chính: việc này được thực hiện dựa trên quy mô cungứng dịch vụ, đội ngũ cán bộ, cơ sở vật chất, xây dựng kế hoạch tài chính, baogồm quản lý hành chính, mua sắm, sửa chữa, nghiệp vụ chuyên môn, xâydựng cơ bản,

- Tổ chức thực hiện: Bao gồm các hoạt động tạo nguồn thu và thựchiện các khoản chi kịp thời theo kế hoạch đảm bảo kế hoạch của đơn vị;

- Quyết toán kinh phí: Đây là khâu cuối cùng của quá trình sử dụngkinh phí Người quản lý và thực chi cần phản ánh đầy đủ các khoản chi vàobáo cáo quyết toán ngân sách đúng chế độ báo cáo về biểu mẫu, thời gian, nộidung và các khoản chi tiêu, Trên cơ sở báo cáo quyết toán, người quản lýphân tích đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch chi tiêu, rút ra ưu nhược điểmtrong quá trình quản lý, làm cơ sở lập kết hoạch sâu sát hơn

- Thanh tra, kiểm tra, giám sát: Việc thực hiện kế hoạch không phảibao giờ cũng đúng như dự kiến, đòi hỏi người quản lý phải có sự kiểm trathường xuyên để nắm bắt tình hình tài chính Việc kiểm tra này có thể baogồm cả hoạt động kiểm toán độc lập

Trang 35

Hiện nay, hầu hết các công trình nghiên cứu khi nghiên cứu về quản lýtài chính trong các đơn vị hành chính sự nghiệp công lập và các trường đạihọc đều đi theo các bước nêu trên, theo đó tập trung nhiều quản lý tài chínhnguồn từ NSNN giao cho đơn vị và việc thực thi, tuân thủ các quy định củaNhà nước trong việc quản lý nguồn kinh phí từ NSNN giao Tuy nhiên, trongkhuôn khổ luận văn này, không đi theo hướng nghiên cứu việc tăng cườngquản lý/ tuân thủ các quy trình quy định trong quản lý tài chính hoạt độngkhoa học công nghệ mà tập trung phân tích vào hiệu quả quản lý tài chínhtrong hoạt động khoa học công nghệ, cụ thể là việc tạo lập nguồn thu và thựchiện quản lý các khoản chi trong hoạt động KH&CN tại ĐHQGHN Chútrọng đến tăng phân tích các khoản thu, đặc biệt là khoản thu ngoài NSNN.

1.2.2 Nguyên tắc quản lý tài chính trong hoạt động KH&CN

Quản lý tài chính trong hoạt động KHCN không chỉ có vai trò quantrọng trong quá trình thực hiện nhiệm vụ chính trị của tổ chức mà còn ảnhhưởng đến các vấn đề Quản lý tài chính chung của Nhà nước và ảnh hưởngđến lợi ích của xã hội trong việc thụ hưởng các sản phẩm dịch vụ do tổ chức

đó cung cấp, do đó việc quản lý tài chính trong hoạt động KH&CN cần tuânthủ các nguyên tắc cơ bản sau đây:

Một là, nguyên tắc công khai, minh bạch

Công khai là một khái niệm có tính lịch sử, sự phát triển của nó là tiền

đề, là điều kiện tiên quyết của sự dân chủ trong hoạt động xã hội của loàingười Nghĩa chung của thuật ngữ “công khai” là không dấu diếm, bí mật màphải cho mọi người cùng biết Thuật ngữ “Công khai” thường đi cùng vớithuật ngữ “Minh bạch” có nghĩa là công khai phải rõ ràng cụ thể, mọi ngườiđều có thể hiểu được sự kiện, nội dung công khai Với ý nghĩa như vậy, côngkhai minh bạch luôn được sử dụng như là một biện pháp hữu hiệu để phòng

Trang 36

chống các hành vi tiêu cực trong các hoạt động có tổ chức, đặc biệt là hoạtđộng của các cơ quan được trao quyền lực công.

Công khai minh bạch sẽ tạo điều kiện cho mọi người cũng như toàn xãhội được tham gia giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước Với việc côngkhai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước, người dân sẽ dễdàng ý thức được các quyền và nghĩa vụ của mình để chủ động thực hiện theocác quy định của pháp luật, đồng thời cũng đòi hỏi cơ quan nhà nước và cáccán bộ, công chức nhà nước thực hiện đúng các quy định của pháp luật, bờimọi hành vi vi phạm, sách nhiễu hay lợi dụng chức trách để tư lợi đều có thể

bị phát hiện và xử lý

Với ý nghĩa và tầm quan trọng của nguyên tắc công khai, minh bạchnhư vậy, nên trong quản lý tài chính nói chung và quản lý tài chính trong hoạtđộng KH&CN nói riêng cần phải tuân thủ nguyên tắc này

Hai là, nguyên tắc trọn vẹn và đầy đủ

Đây là nguyên tắc quan trọng, yêu cầu tất cả các khoản chi đều phảiđược thực hiện theo đúng định mức và có kế hoạch Các khoản chi đều phảiđược phản ánh trung thực đầy đủ Nguyên tắc này nhằm hạn chế tình trạng đểngoài ngân sách các khoản chi thuộc NSNN, dẫn đến tình trạng lãng phí trong

sử dụng vốn NSNN

Bà là, nguyên tắc tiết kiệm và hiệu quả:

Đây là nguyên tắc luôn được yêu cầu trong mọi quá trình quản lý đặcbiệt là trong quản lý tài chính Nguồn lực tài chính là có hạn và nhu cầu là vôhạn, các đơn vị cần phân bổ và sử dụng sao cho có hiệu quả nhất và đúng cácquy định của nhà nước đề ra Để thực hiện được nguyên tắc này, các đơn vị

sử dụng NSNN cần phải làm tốt và đồng bộ một số nội dung sau:

Trang 37

Thứ nhất, xây dựng các định mức tiêu chuẩn chi phù hợp với từngnhiệm vụ, từng đối tượng, đồng thời phải bảo đảm tính thực tiễn.

Thứ hai, thiết lập các hình thức cấp phát đa dạng, từ đó lựa chọn rahình thức cấp phát ưu tiên đối với từng nhiệm vụ, từng đối tượng một cáchphù hợp nhất

Thứ ba, lựa chọn thứ tự ưu tiên cho các nhóm nhiệm vụ, các nhóm hoạtđộng phù hợp sao cho tổng kinh phí có hạn nhưng khối lượng công việc vẫnhoàn thành và đạt chất lượng cao

1.3 Nội dung, đặc điểm và các nhân tố ảnh hưởng của quản lý tài chính

trong hoạt động khoa học và công nghệ.

1.3.1 Nội dung

1.3.1.1 Quản lý tạo lập nguồn thu trong hoạt động KH&CN

Nguồn tài chính cho hoạt động KH&CN rất đa dạng, bao gồm: nguồn

từ ngân sách nhà nước (NSNN), từ các doanh nghiệp và các tổ chức xã hội, cảtrong nước và ngoài nước

Đầu tư tài chính từ ngân sách nhà nước cho KH&CN là quá trình

phân phối sử dụng một phần vốn NSNN để duy trì, phát triển hoạt độngKH&CN theo nguyên tắc không hoàn trả trực tiếp Đây chính là thực hiện sựphân bổ nguồn tài chính của nhà nước cho hoạt động KH&CN Nguồn tàichính này không chỉ đơn thuần là cung cấp tiềm lực tài chính nhằm duy trì,củng cố các hoạt động KH&CN mà còn có tác dụng định hướng điều chỉnhcác hoạt động nghiên cứu phát triển KH&CN theo đường lối chủ trương củaNhà nước Nguồn tài chính từ NSNN phục vụ cho các hoạt động KH&CNtrong các lĩnh vực trọng điểm, ưu tiên thực hiện nhiệm vụ nâng cao lợi ích xãhội; Thực hiện nghiên cứu cơ bản có định hướng trong các lĩnh vực hoa học;Duy trì và phát triển tiềm lực KH&CN; Cấp cho các quỹ phát triển KH&CN

Trang 38

của nhà nước; Xây dựng cơ cở vật chất - kỹ thuật, đầu tư chiều sâu cho các tổchức nghiên cứu và phát triển của nhà nước; Trợ giúp cho doanh nghiệp thựchiện nghiên cứu ứng dụng và phát triển công nghệ thuộc lĩnh vực ưu tiêntrọng điểm.

Đối với nguồn kinh phí từ NSNN cấp gồm hai nguồn: là nguồn kinhphí tự chủ (nguồn thường xuyên) và nguồn kinh phí không tự chủ (nguồn thực

hiện các đề tài, dự án, đề án khoa học công nghệ) Đối với nguồn kinh phí tự chủ: Căn cứ vào nhiệm vụ được giao và khả năng nguồn tài chính đối với các

khoản chi thường xuyên, thủ trưởng đơn vị được quyết định một số mức chiquản lý, chi tổ chức hoạt động và bộ máy nghiên cứu KH&CN, nhưng tối đakhông vượt quá mức chi do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định

Đối với kinh phí không tự chủ (kinh phí NSNN giao thực hiện các

nhiệm vụ khoa học công nghệ): đây là kinh phí được giao thực hiện nhiệm vụKH&CN theo hình thức kinh phí được giao khoán5 hoặc kinh phí không đượcgiao khoán6 Sau khi các nhiệm vụ đã được thông qua ở Hội đồng tuyển chọn/

5

Các khoản kinh phí giao khoán gồm: chi tiền công, thù lao cho cán bộ khoa học, cán bộ kỹ thuật thực hiện các nội dung nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ; chi thù lao chuyên gia nhận xét, phản biện, đánh giá (trong và ngoài nước); chi tiền công lao động khác tham gia trực tiếp thực hiện đề tài, dự án; Chi về vật t-

ư, hóa chất nguyên, nhiên, vật liệu cần thiết (đã có định mức kinh tế - kỹ thuật do các Bộ, ngành chức năng ban hành) cho thí nghiệm, thử nghiệm; chi mua tài liệu, tư liệu, số liệu quan trắc, số liệu điều tra, sách, tạp chí tham khảo, tài liệu kỹ thuật, bí quyết công nghệ, tài liệu chuyên môn, dụng cụ, vật rẻ tiền mau hỏng, bảo

hộ lao động, phục vụ trực tiếp cho công tác nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ của đề tài, dự án; Các khoản chi: hỗ trợ đào tạo, chuyển giao công nghệ, chuyển giao kết quả nghiên cứu; chi công tác phí trong nước; chi đoàn vào; chi hội nghị, hội thảo khoa học của đề tài, dự án; chi văn phòng phẩm, in ấn, thông tin, liên lạc; chi dịch tài liệu từ tiếng nước ngoài; chi biên soạn và in ấn sách chuyên khảo để phổ biến trong khuôn khổ của đề tài, dự án; phí đăng ký bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đối với kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ (nếu có); chi hoạt động quảng cáo, tiếp thị, xúc tiến thương mại đối với sản phẩm của đề tài, dự án (đối với các đề tài, dự án có các hoạt động này và được bố trí trong dự toán do cơ quan có thẩm quyền phê duyệt); Một số khoản chi khác phục vụ trực tiếp cho hoạt động nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ của đề tài, dự án.

6

Các khoản kinh phí không giao khoán gồm có: Chi về vật tư, hóa chất, nguyên nhiên vật liệu (không có định mức kinh tế - kỹ thuật do các Bộ, ngành chức năng ban hành) cho thí nghiệm, thử nghiệm phục vụ yêu cầu nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ của đề tài, dự án; Chi đoàn ra (nếu có); Chi mua sắm mới

Trang 39

giao trực tiếp (Hội đồng khoa học xét tuyển đầu vào) và Hội đồng thẩm địnhkinh phí thì các nhiệm vụ này sẽ được giao và phân bổ kinh phí thực hiện.Đối với những nhiệm vụ kéo dài trong nhiều năm tài chính (từ 2 năm trở lên),thì kinh phí năm trước chưa thực hiện hết sẽ được chuyển tiếp sang năm sau.Trường hợp kinh phí không sử dụng do không thực hiện nội dung công việcthì không được tính là kinh phí tiết kiệm và phải nộp trả ngân sách nhà nước.Trường hợp kinh phí chênh lệch là kinh phí tiết kiệm thì được xử lý như sau:

Về nguồn tài chính ngoài ngân sách nhà nước cho hoạt động

KH&CN, phát triển KH&CN đem lại lợi ích thiết thực cho cá nhân và toàn xãhội Khi các sản phẩm KH&CN có tính xã hội thì các tổ chức, doanh nghiệp,

cá nhân và cộng đồng đều có trách nhiệm quan tâm góp sức lực, trí tuệ, tiềncủa để phát triển hoạt động KH&CN Vì vậy, quan tâm đến vấn đề phát triểnhoạt động KH&CN là quyền lợi và trách nhiệm của toàn xã hội nhằm thựchiện mục tiêu xã hội hóa KH&CN, đa dạng hóa các nguồn tài chính đầu tưcho hoạt động KH&CN thực hiện phương châm “nhà nước và nhân dân cùnglàm” Về cơ cấu, nguồn tài chính ngoài NSNN đầu tư cho hoạt độngKH&CN:

- Thứ nhất là từ doanh nghiệp, cụ thể là doanh nghiệp dành một phầnvốn để đầu tư phát triển hoạt động KH&CN nhằm đổi mới công nghệ và nângcao sức cạnh tranh của sản phẩm Vốn đầu tư phát triển KH&CN của doanhnghiệp được tính vào chi phí sản xuất kinh doanh Thông thường, doanhnghiệp lập quỹ phát triển KH&CN để chủ động đầu tư phát triển KH&CN;

- Thứ hai là quỹ phát triển KH&CN của tổ chức, cá nhân, được hìnhthành từ các nguồn như vốn đóng góp của các tổ chức cá nhân sáng lập,

và phát triển công nghệ của đề tài, dự án; Chi thuê, khấu hao (nếu có) máy móc, thiết bị, nhà xưởng tham gia thực hiện đề tài, dự án.

Trang 40

không có nguồn gốc từ NSNN; Các khoản đóng góp tự nguyện, hiến tặng, củacác cá nhân, tổ chức; Vốn liên doanh liên kết với các tổ chức khác;

- Thứ ba là nguồn vốn vay ngân hàng, các tổ chức KH&CN vay vốn từngân hàng để thực hiện các chương trình đề tài theo nguyên tắc hoàn trả vớimức lãi suất hợp lý;

- Thứ tư là nguồn tài chính từ các tổ chức hoặc cá nhân nước ngoài.Trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế, các tổ chức quốc tế như Tổ chứcphát triển Liên hợp quốc (UNDP), Ngân hàng thế giới (WB), Ngân hàng pháttriển Châu Á (ADB), Ngân hàng Nhật Bản (JB)… thường dành nguồn tàichính đáng kể để tài trợ cho nghiên cứu khoa học

Ngoài ra, còn có các nguồn tài chính ngoài NSNN khác thông qua cáchoạt động chuyển giao các kết quả nghiên cứu, cho thuê địa điểm, các hoạtđộng dịch vụ khoa học công nghệ,…

Mỗi một nguồn tài chính có đặc điểm sở hữu và vận động riêng, vì vậyviệc huy động các nguồn tài chính đó cần có phương thức, biện pháp riêng.Quản lý việc huy động nguồn tài chính đối với hoạt động khoa học công nghệ

là đưa ra các quyết định lựa chọn về quy mô nguồn lực cần huy động, cơ cấunguồn lực tài chính cần huy động và tổ chức quản lý kết quả huy động Tất cảnhững quyết định trên phải giải quyết giữa mối quan hệ tài chính với việcthực hiện các nhiệm vụ, mục tiêu phát triển khoa học công nghệ của tổ chức;

1.3.1.2 Quản lý chi trong hoạt động KH&CN

Các khoản chi cho hoạt động khoa học công nghệ gồm: (i) Chi cho tổchức hoạt động và bộ máy nghiên cứu KH&CN (một bộ phận của chi thườngxuyên); (ii) Các khoản chi thực hiện nhiệm vụ khoa học công nghệ theo đơnđặt hàng của nhà nước, các địa phương, các tổ chức, cá nhân; (iii) Chi đầu tư

Ngày đăng: 15/11/2019, 08:04

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Tài chính và Bộ Khoa học và Công nghệ, 2015. Thông tư liên tịch số 55/2015/TTLT-BTC-BKHCN ngày 22/4/2015 về hướng dẫn định mức xây dựng, phân bổ dự toán và quyết toán kinh phí đối với các nhiệm vụ khoa học và công nghệ có sử dụng ngân sách Nhà nước. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư liên tịch số55/2015/TTLT-BTC-BKHCN ngày 22/4/2015 về hướng dẫn định mức xâydựng, phân bổ dự toán và quyết toán kinh phí đối với các nhiệm vụ khoa họcvà công nghệ có sử dụng ngân sách Nhà nước
2. Bộ Tài chính và Bộ Khoa học và Công nghệ, 2015. Thông tư liên tịch số 16/2015/TTLT-BTC-BKHCN ngày 01/9/2015 về hướng dẫn việc quản lý, xử lý tài sản được hình thành thông qua việc triển khai thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ sử dụng ngân sách nhà nước. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư liên tịch số16/2015/TTLT-BTC-BKHCN ngày 01/9/2015 về hướng dẫn việc quản lý, xử lýtài sản được hình thành thông qua việc triển khai thực hiện nhiệm vụ khoahọc và công nghệ sử dụng ngân sách nhà nước
3. Bộ tài chính và Bộ KH&CN, 2015. Thông tư liên tịch số 27/2015/TTLT- BTC- BKHCN ngày 30 tháng 12 năm 2015 về quy định khoán chi thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ sử dụng ngân sách nhà nước.Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư liên tịch số 27/2015/TTLT-BTC- BKHCN ngày 30 tháng 12 năm 2015 về quy định khoán chi thực hiệnnhiệm vụ khoa học và công nghệ sử dụng ngân sách nhà nước
4. Bùi Thiên Sơn, 2010. Tổng quan về định hướng chi tiêu nguồn tài chính cho quá trình phát triển khoa học và công nghệ quốc gia đến năm 2020 và một số khuyến nghị, Tạp chí Nghiên cứu chính sách và Khoa học công nghệ, số 17/2010, trang 18-31 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Nghiên cứu chính sách và Khoa học công nghệ
5. Bùi Thiên Sơn và Hà Đức Huy, 2009. Vai trò của cấp phát tài chính cho phát triển khoa học và công nghệ trong nền kinh tế hiện nay. Tạp chí Khoa học và Công nghệ, số 16, tr26 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Khoahọc và Công nghệ
6. Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam, 2005. Nghị định 115/2005/NĐ-CP ngày 05 tháng 09 năm 2005 về cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm của tổ chức khoa học và công nghệ công lập. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định 115/2005/NĐ-CPngày 05 tháng 09 năm 2005 về cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm của tổ chứckhoa học và công nghệ công lập
8. Đinh Thị Nga, 2013. Đổi mới cơ chế quản lý chi tiêu ngân sách nhà nước cho khoa học và công nghệ. Tạp chí Khoa học công nghệ Việt Nam, số 14, tr30 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Khoa học công nghệ Việt Nam
9. Hoàng Xuân Long, Hoàng Lan Chi, 2017. Một số giải pháp gắn kết nghiên cứu với đào tạo trên thế giới, Tạp chí Nghiên cứu chính sách và Khoa học công nghệ, Tập 6, Số 2, 2017, trang 66-79 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Nghiên cứu chính sách và Khoa họccông nghệ
10. Lâm Quang Thiệp, D. Bruce Johnstone, Philip G. Altbach, 2006. Giáo dục đại học Hoa Kỳ. Dịch từ tiếng Anh. Người dịch Đỗ Thị Diệu Ngọc, 2010.Hà Nội: Nhà xuất bản Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáodục đại học Hoa Kỳ
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
11. Nguyễn Thị Phương và Mai Hà, 2017. Quản lý tài trợ nghiên cứu Khoa học công nghệ của một số quốc gia trên thế giới và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam, Tạp chí Nghiên cứu chính sách và Khoa học công nghệ, Tập 6, Số 4, 2017, trang 15-30 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Nghiên cứu chính sách và Khoa học công ngh
12. Nguyễn Hồng Sơn, 2012. Cơ chế tài chính cho hoạt động khoa học và công nghệ ở Việt Nam: Một số hạn chế và giải pháp hoàn thiện, Tạp chí Những vấn đề kinh tế và Chính trị thế giới, số 6/2012, trang 57-66 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chíNhững vấn đề kinh tế và Chính trị thế giới
13. Nguyễn Thị Minh Nga và cộng sự, 2016. Chính sách phát triển tiềm lực khoa học và công nghệ trong các trường đại học Việt Nam, Tạp chí Nghiên cứu chính sách và Khoa học công nghệ, số 04/2016, trang 57-71 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Nghiêncứu chính sách và Khoa học công nghệ
14. Trần Thị Thu Hà, 2016. Một số vấn đề về cơ chế tài chính đối với hoạt động khoa học và Công nghệ ở Việt Nam, Tạp chí Nghiên cứu chính sách và Khoa học công nghệ, số 01/2016, trang 53-65 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Nghiên cứu chính sách vàKhoa học công nghệ
15. Trần Ngọc Hoa, 2012. Hoàn thiện thiết chế tự chủ của tổ chức khoa học và công nghệ nghiên cứu trường hợp của tổ chức R&D có sử dụng ngân sách nhà nước, Tạp chí Nghiên cứu chính sách và Khoa học công nghệ, số 01/2012, trang 27-39 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Nghiên cứu chính sách và Khoa học công nghệ
16. Trương Quang Học, 2009. Đại học nghiên cứu, Bản tin Đại học Quốc gia Hà Nội, số 217/2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bản tin Đại học Quốc giaHà Nội
17. Trần Xuân Trí, 2006. Quản lý, cấp phát, thanh toán kinh phí sự nghiệp khoa học giai đoạn 2001-2005, những bất cập và kiến nghị. Tạp chí Kiểm toán, số 9, tr52 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Kiểmtoán
18. Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam, 2013. Luật số: 29/2013/QH13, Luật Khoa học công nghệ. Hà NộiTài liệu Tiếng anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật số: 29/2013/QH13, LuậtKhoa học công nghệ
19. Alan. R., 1979. Public Finance in Theory and Practice, 6 th ed, London, the United Kingdoms: Weidenfeld and Nicolson Publisher Sách, tạp chí
Tiêu đề: Public Finance in Theory and Practice
20. Holley. U., 2007. Public Finance in Theory and Pracetice, 2 nd ed, Califonia, USA: South - Western College Publisher Sách, tạp chí
Tiêu đề: Public Finance in Theory and Pracetice
31. Nguyễn Mậu Trung (2011). Vấn đề đầu tư và vốn cho khoa học và công nghệ ở nước ta, http://www.vusta.vn/vi/news/Trao-doi-Thao-luan/Van-de-dau-tu-va-von-cho-khoa-hoc-va-cong-nghe-o-nuoc-ta-38760.html <Ngày truy cập:27/06/2011&gt Link

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w