1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Báo cáo thực tập sản xuất địa chất biển HUMG 2017

59 88 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 59
Dung lượng 20,3 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sông Hồng đã có từ hằng nghìn năm nay, đã trải qua rất nhiều sự biến đốibởi các vận động kiến tạo và các tác động của các hoạt động nhân sinh như đắpđập xây hồ làm thủy điện...Các hoạt đ

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỎ ĐỊA CHẤT

BÁO CÁO

ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SINH VIÊN

Nghiên cứu quy luật tiến hóa vùng cửa sông Hồng trên

cơ sở phân tích ảnh viễn thám và tài liệu địa chất

GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN

TS Hoàng Văn LongGV Đào Văn Nghiêm

`

HÀ NỘI – 20132014

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỎ ĐỊA CHẤT

BÁO CÁO

ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SINH VIÊN

Nghiên cứu quy luật tiến hóa vùng cửa sông Hồng trên

cơ sở phân tích ảnh viễn thám và tài liệu địa chất

Tạ Thị Thanh Nga

HÀ NỘI – 20132014

Trang 3

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Sông Hồng là một con sông lớn của đồng bằng Bắc Bộ Con sông này chảyqua hầu hết các tỉnh ở đồng bằng Bắc Bộ Là nguồn cung cấp nước cũng như cácvật liệu trầm tích, tạo ra các mô hình sinh thái ven sông Vì thế nên sông Hồng có ýnghĩa rất lớn trong việc xây dựng phát triển của dân cư đồng bằng Bắc Bộ nóichung Sông Hồng đã có từ hằng nghìn năm nay, đã trải qua rất nhiều sự biến đốibởi các vận động kiến tạo và các tác động của các hoạt động nhân sinh như đắpđập xây hồ làm thủy điện Các hoạt động này đều tác động trực tiếp đến sôngHồng và cũng là một phần nguyên nhân gây nên sự biến đổi của cửa sông Hồng.Dẫn tới việc tích tụ và xói lở các bờ sông thay đổi cửa sông hoặc dịch chuyển cửasông

Đối với tỉnh Nam Định là một tỉnh ven biển có đường bờ biển dài 72km.Khu vực tỉnh Nam Định chủ yếu phát triển bằng các nghành nông, ngư nghiệp nhưtrồng lúa, nuôi ngao, tôm, cá Khu vực này là nơi có cửa Ba Lat, là cửa chính củasông Hồng đổ ra biển Có các đầm phá mới được hình thành do sự tích tụ của vậtliệu trầm tích được cung cấp từ sông Hồng Vườn quốc gia Xuân Thủy là một phầnđầm phá được bồi tụ lên từ vật liệu của sông Hồng Tuy nhiên việc bồi tụ tạo nêncác đầm phá của con sông này có ảnh hưởng tới quy hoạch phát triển kinh tế củavùng Nam Định như thế nào thì cần phải nghiên cứu thêm

Từ trước đến nay đã có khá nhiều các công trình nghiên cứu về sự xói lở và bồi tụtại cửa Ba Lạt và ven biển Nam Định Nhưng chưa có đề tài nào nói rõ được tínhquy luật cũng như các nguyên nhân chính gây ra sự bồi tụ xói lở mag tính quy luậtnày Hầu hết các công trình nghiên cứu trước đây dù có sử dụng các phần mềmnhư viễn thám GIS thì vẫn còn xơ xài Ngoài ra các công trình nghiên cứu trướcđây chỉ đưa ra được các kết quả về các vùng bồi tụ, xói lở Chưa có đề tài nào đưa

ra ý kiến về sự ảnh hưởng và từ đó đưa ra định hướng phát triển kinh tế vùng.Chính vì thế nên chúng em đã chọn đề tài “Nghiên cứu tiến hóa vùng cửa sông

Hồng trên cơ cở phân tích ảnh viễn thám và tài liệu địa chất” để làm đề tài nghiên

cứu khoa học

Trang 4

1 Mục tiêu

Đề tài có hai mục tiêu chính sau:

- Diễn biến và quy luật biến đổi hình thái bãi bồi vùng cửa sông Ba Lạt và tình

trạng xói lở - bồi tụ đường bờ biển hai huyện Giao Thủy, Hải Hậu

- Đánh giá các nhân tố tác động tới quy luật biến đổi hình thái cửa sông và

đường bở

2 Nội dung – nhiệm vụ đề tài

Nội dung nghiên cứu:

+ Đánh giá điều kiện kinh tế xã hội và tự nhiên của vùng Nam Định ở ven sông và

ở gần khu vực cửa sông

+ Ứng dụng viễn thám: Sử dụng ảnh vệ tinh để kết hợp giải đoán hình ảnh xem xét

sự biến động thay đổi đường bờ biển sự dịch chuyển dòng của dòng sông, cửa sông Xemxét tới sự bồi tụ và xói lở tạo nên các bãi bồi đầm hồ

+ Phân tích sự biến đổi của cửa Sông, các nhân tố ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếptới hoạt động biến đổi ở khu vực Quất Lâm – Hải lý TP.Nam Định, tỉnh Nam Định

+ Đề xuất các giải pháp nghiên cứu ổn định, quy hoạch và phát triển cho vùng này

Nhiệm vụ đề tài:

+ Khảo sát thực địa

+ Xem xét tổng quan về sự biến đổi của sông Hồng trong lịch sử

+ Xác định các nhân tố ảnh hưởng đến sự biến động

+ Làm rõ hiện trạng biến đổi cửa sông dịch chuyển dòng và bồi tụ vật liệu trầmtích ở cửa Ba Lạt

+ Đề xuất các giải pháp hạn chế khắc phục, quy hoạch phát triển phù hợp

3 Phương pháp nghiên cứu

a Phương pháp khảo sát và nghiên cứu thực địa

Là phương pháp truyền thống luôn được thực hiện trong công tác điều tra cơ bản

về các hiện tượng tai biến tự nhiên, phương pháp giúp ta có cái nhìn tổng quan về khu vực

Trang 5

nghiên cứu, hiện trạng xói lở - bồi tụ khu vực cửa sông và ven biển Đồng thời thu thập sốliệu, tài liệu thực tế phục vụ cho công tác trong phòng; xác định hình thái địa mạo venbiển.

Các số liệu và kết quả thu được từ phương pháp này là cơ sở cho việc xác địnhhiện trạng và nguyên nhân gây xói lở - bồi tụ

b Phương pháp nghiên cứu địa mạo

Phương pháp này cho phép phân tích định lượng địa hình, bề mặt địa hình khu vựcnghiên cứu bao gồm: nghiên cứu đặc điểm hình thái cũng như biểu hiện của chúng trênảnh viễn thám và bản đồ địa hình, nghiên cứu hình thái địa hình, độ cao tuyệt đối, độ caotương đối, độ dốc,…Từ đó nhận diện các roi cát, vùng xói lở - bồi tụ để đưa ra cácnguyên dân, quy luật tiến hóa vùng cửa sông

c .Phương pháp viễn thám và GIS

Phương pháp viễn thám và GIS là phương pháp hữu ích trong nghiên cứu, đánh giáhiện trạng và dự báo biến động môi trường, trong đó rất có ý nghĩa đối với nghiên cứu xói

lở - bồi tụ đới ven biển Các thế hệ ảnh vệ tinh, ảnh máy bay được chụp và các hệ thốngbản đồ đo vẽ trong các thời gian khác nhau là cơ sở quan trọng trong công tác nghiên cứu

Để nhận biết được sự biến động đường bờ ta đối chiếu ảnh bản đồ cùng tỷ lệ có các thờiđiểm đo vẽ và chụp khác nhau Do đó, nếu bờ dịch chuyển về phía lục địa thì bờ bị xói,nếu bồi thì bờ dịch chuyển ra phía biển Phương pháp chủ đạo được xử dụng trong bài cáonày là giải đoán bằng mắt trên máy tính với sự trợ giúp của các dữ liệu liên quan đếnđường bờ như : địa hình, thủy văn, … được lưu trữ trên cơ sở dữ liệu và có thể hiện thịđồng thời với ảnh vệ tinh

Để có được bức tranh tổng quát về hiện trạng xói lở - bồi tụ bờ biển cửa Ba Lạt,chúng tôi sử dụng ảnh vệ tinh các năm 1975,1989,2001,2003,2005 và 2013 để nắm bắtnhững biến động về khu vực ven bờ biển cửa sông Từ kết quả giải đoán ảnh vệ tinh tiếnhành truy nhập các thông tin vào phần mềm Mapinfo để thành lập sơ đồ biến động đường

bờ và tính toán số liệu về sự bồi tụ và xói lở qua các giai đoạn

Phần mềm EnVi 4.7

Trang 6

EnVi được thiết kế dựa trên ngôn ngữ lập trình IDL (Interactive Data Language) là

ngôn ngữ lập trình có cấu trúc và cung cấp khả năng thích hợp giữa xử lý ảnh và khả năng

hiện thị với giao diện đồ họa dễ sử dụng điểm mạnh của EnVi là : 1 – khả năng kết hợp

cách tiếp cận theo fule ảnh (file – based ) và theo kênh ( bandbased); 2 – khả năng xử lý

và phân tích đa kênh/ đa dữ liệu; 3 – khẳ năng mở rộng và đưa thêm những modul phân

tích xử lý và phân tích ảnh với các kích cỡ và định dạng ảnh khác nhau; 4 – hoàn thiện

nhều công cụ phân tích phổ với các thuật toán hoàn chỉnh và khả năng tích hợp với GIS

Sau đây là quy trình xử lý ảnh viễn thám:

4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

- Ý nghĩa khoa học: Hiện nay các phương pháp truyền thống gặp nhiều khó khăn

trong việc nghiên cứu sự biến động đường bờ Bởi lẽ các phương pháp này chỉ

có thể nghiên cứu đường bờ hiện tại, khó có thể đưa ra quy luật của chúng ở

những khoảng thời gian nhất định Việc sử dụng công nghệ viễn thám và GIS

mang lại hiệu quả rất lớn Nó có thể liên kết thông tin khu vực nghiên cứu trong

nhiều năm, giúp nhà địa chất rút ngắn thời gian nghiên cứu và đánh giá sự thay

đổi đường bờ trong khoảng thời gian dài một cách nhanh chóng

- Ý nghĩa thực tiễn: Từ các kết quả nghiên cứu của đề tài có ý nghĩa quan trọng

trong việc định hướng, quy hoạch trong việc phát triển kinh tế vùng Nam Định

nói riêng và các tỉnh ven biển nói chung Đồng thời đưa ra các biện pháp phòng

chống và giảm thiểu tai biến xói lở góp phần đảm bảo sự phát triển bền vững

Trang 7

Đề tài được thực hiện và hoàn thành dưới sự tài trợ của Trường Đại học Mỏ-Địachất và có sự hướng dẫn của TS Hoàng Văn Long Tập thể tác giả xin chân thành cảm ơnđơn vị tại trợ là Trường Đại học Mỏ - Địa chất, thầy giáo hướng dẫn và bạn bè, đồngnghiệp đã cung cấp tài liệu và tư vấn kỹ thuật để tập thể tác giả hoàn thành báo cáo này.

Trang 8

CHƯƠNG I : - TỔNG QUAN KHU VỰC NGHIÊN CỨU I.1 Khái quát điều kiện tự nhên, kinh tế - nhân văn

I.1.1 Vị trí địa lí, đặc điểm địa hình

Khu vực nghiên cứu thuộc hai huyện Giao Thủy và Hải Hậu, dọc bờ biển từ cửa

Ba Lạt đến xã Hải Lý (Hình I.1) Nằm ở phía Đông Nam của tỉnh Nam Định thuộc đồngbằng sông Hồng, phía Bắc là huyện Tiền Hải( Thái Bình), phía Tây giáp huyện Trực Ninh

và Xuân Trường, phía Đông và phía Nam giáp Biển Đông, tọa độ từ 20o13’03’’ vĩ độ bắc

106o28’46’’ kinh độ đông ( Bến cá Giao hải) đến 20o06’23’’ vĩ độ bắc 106o17’32’’ kinh

độ đông ( xã Hải Lý)

Hình I.1.: Vị trí khu vực nghiên cứu

Địa hình khu vực nghiên cứu chủ yếu là địa hình đồng bằng ven biển tương đốithấp, độ cao dao động từ 0,0 đến 1,5 m, một số nơi cao 2,0-3,0 m là đỉnh các cồn cát cổven biển Địa hình nhân tạo bao gồm các hệ thống đê biển

I.1.2 Điều kiện khí hậu

Trang 9

Cũng như các tỉnh trong vùng đồng bằng Bắc Bộ, Nam Định chịu tác động của hai

hệ thống gió mùa Đông Bắc và gió mùa Tây Nam.Nhiệt độ trung bình trong năm từ 23 –

24oC, tháng lạnh nhất là tháng 12, 1, nhiệt độ trung bình từ 16 – 17oC; tháng 7 nóng nhất,nhiệt độ khoảng trên 29oC

Mùa đông thịnh hành các hướng gió bắc và đông bắc, mùa hè chủ yếu là gió nam

và đông nam.Thời gian chuyển mùa, gió đông là hướng gió chính Khi xuất hiện cácnhiễu động thời tiết đặc biệt như giông, lốc, bão,… tốc độ gió có thể lên tới 40-45 m/s

Lượng mưa trung bình trong năm từ 1.750 – 1.800 mm, chia làm 2 mùa rõ rệt: mùamưa từ tháng 5 đến tháng 10, mùa ít mưa từ tháng 11 đến tháng 2 năm sau Tỉnh NamĐịnh thuộc vịnh Bắc Bộ và hàng năm chịu ảnh hưởng của bão nhiệt đới hay áp suất thấp.Mỗi năm trung bình có 4 đến 6 cơn bão, chủ yếu từ tháng 7 đến tháng 10 Năm 2005,Nam Định cũng bị chịu thiệt hại do cơn bão lớn nhất trong vòng 100 năm Nhiều khu vựctrong tỉnh bị ngập lụt khi nhiều đoạn đê biển bị vỡ do bão gây ra

Thuỷ triều tại vùng biển Nam Định thuộc loại nhật triều, biên độ triều trung bình từ1,6 – 1,7 m lớn nhất là 3,31 m và nhỏ nhất là 0,11 m

I.1.3 Chế độ hải văn

Đặc điểm thủy văn sông ngòi

Là bộ phận ven biển đông nam của châu thổ sông Hồng, có khí hậu chí tuyến gió mùa ẩm,nguồn nước của tỉnh Nam Định rất phong phú, nhưng biến đổi theo mùa và chịu ảnhhưởng của thủy triều Từ khi con người đắp đê kiên cố để khai thác tự nhiên, thì sự giaolưu giữa hai nguồn nước là nguồn tại chỗ do mưa cung cấp và nguồn từ sông Hồng và cácchi lưu bị xáo trộn Con người phải xử lý sự xáo trộn do mình gây ra khi muốn sớm thâmcanh đồng bằng bãi bồi hàng năm bị ngập lụt, bằng một hệ thống kênh mương rải khắpđồng ruộng và các trạm bơm tưới, tiêu và cống tưới tiêu dày đặc ven sông, mà điển hình

là dọc sông Sắt và sông Ninh Cơ

Mật độ lưới sông trong tỉnh không đủ để tiêu hết nước dư thừa trong mùa mưa lũ,khiến cho rải rác khắp nơi đều có vùng úng ngập tạm thời, riêng ô trũng Vụ Bản – Ý Yên

có thêm những vùng ngập úng thường xuyên chưa tiêu thoát được Tuy nhiên nếu khai

Trang 10

thác hợp lý, phù hợp với điều kiện địa – sinh thái, thì vùng ngập úng cũng có những thuậnlợi riêng, chưa chắc đã thua kém về hiệu quả kinh tế.

Trong tỉnh có khoảng 530,1km sông ngòi, trong đó có 16 sông ngòi dài trên 10kmvới tổng chiều dài là 430,4km riêng bốn sông lớn (Hồng, Đáy, Nam Định, Ninh Cơ) dài251km Như thế, mật độ mới đạt 0,33km/km2 Vì vậy hệ thống kênh mương trong tỉnhphải bù vào, đặc biệt là vùng giáp biển vì còn thêm nhu cầu rửa mặn Với địa hình bãi bỗichâu thổ, mà sự bồi đắp là do sông chuyển dòng liên tục, thì hệ thống hồ móng ngựa – ditích của những khúc uốn cũ đã bị cắt qua và bồi lấp một phần, phải dầy đặc Nguồn nướcngầm trong tỉnh khá phong phú và phân bố làm hai tầng Do lịch sử địa chất kiến tạo, có

sự phân bố nước ngầm khác nhau giữa phần phía tây đứt gãy kiến tạo qua vùng núi Gôisụt nông và phần phía đông sụt sâu

Chế độ hải văn ven bờ

Thủy triều Hoạt động thủy triều của khu vực nghiên cứu cũng mang đặc điểm

chung của vùng ven biển đồng bằng Bắc bộ, trung bình thủy triều lên cao từ 1,6 – 1,7 m,cao nhất là 3,3 m, thấp nhất 0,1 m Thủy triều gây ra tình trạng nhiễm mặn và tăng mựcnước ở các sông gần bờ biển, và đồng thời các sông và hệ thống kênh thủy lợi khu vực xa

bờ biển Thủy triều cũng ảnh hưởng đến dòng chảy sông Hồng và sông Đáy, gây ra sự bồiđắp phù sa của hai sông này Nhiều bãi bồi được hình thành như Cồn Lu, Cồn Ngạn(huyện Giao Thủy), hay Cồn Xanh và Cồn Mờ (huyện Nghĩa Hưng)

Dòng triều Ở các vùng bãi triều ngập nước khi triều lên, nổi cạn khi triều xuống,

qua quan sát thấy trong diện tích bãi triều này có các dòng triều lớn thường xuyên cónước, nơi có các thuyền nhỏ có thể ra vào, còn lại là các dòng tạm thời Độ dài các dòngtriều ở đây không lớn, thay đổi từ 1 - 2 km Hướng chảy gần như bắc nam hoặc lệch đôngbắc - tây nam

Dòng sóng, gió.Dọc theo đới ven bờ khu vực đồng bằng Bắc Bộ thường có các dòng

chảy do hoạt động của sóng, gió tạo ra Hướng chảy chung của các dòng chảy này là đôngbắc - tây nam Tuy nhiên qua quan sát của nhiều nhà nghiên cứu thấy rằng dòng chảy nàykhi đến gần cửa Đáy lại đổi hướng bắc- nam do tác động của dòng chảy của sông Đáy.Yếu tố này phần nào hạn chế sự tương tác vật liệu do dòng sóng và dòng sông đưa đến

Trang 11

Mùa hè Mùa đông

vùng.Tuy nhiên,Chế độ dòng chảy vùng biển ven bờ Việt Nam chịu sự chi phối mạnh mẽcủa hai mùa gió (Đông bắc và TTây nam) đồng thời cũng chịu ảnh hưởng không nhỏ củayếu tố địa hình đáy biển và hình thái, địa mạo đường bờ Xu hướng chung của dòng chảyven biển là từ bắc xuống nam (Hình I.2)

ri

Hình I.2: Sơ đồ dòng hải lưu khu vực Vịnh Bắc Bộ mùa hè và mùa đông

Trong vịnh Bắc Bộ cả mùa đông và mùa hè đều tồn tại một xoáy thuận có tâm nằm

ở khoảng giữa vịnh Mùa đông tâm này dịch xuống phía nam còn mùa hè thì dịch lên phíabắc Như vậy vùng biển từ Móng Cái tới đảo Lý Sơn (Cù Lao Ré) thuộc rìa phía tây củahoàn lưu này nên cả hai mùa đông và hè đều có dòng thường kỳ có xu hướng từ bắcxuống nam Chế độ dòng hải lưu có tác động đến đặc điểm phân bố của các trầm tích bãitriều hiện đại khu vực cửa sông ven biển

Sóng biển Sóng biển tham gia mạnh mẽ vào quá trình di chuyển vật liệu cũng như

phá hủy đường bờ và lắng đọng vật liệu Các đặc trưng của sóng ở vùng biển ven bờ ViệtNam phụ thuộc chủ yếu vào chế độ gió của hai mùa chính (mùa đông và mùa hè) và đặcđiểm địa hình (Bảng I.1)

Trang 12

Bảng I.1 Các đặc trưng của sóng vùng ven bờ biển đoạn Quảng Ninh đến

Thanh Hóa

Hướng thịnh hành Đông-bắc, đông Nam, đông-nam

Độ cao trung bình (m) 0,5-0,75 0,50-0,75

Độ cao cực đại (m) 2,5-3,0 3,0-3,5

Có thể nhận thấy, khu vực nghiên cứu chịu tác động của sóng biển theo hướng đông,đông bắc về mùa đông và nam, đông nam về mùa hè

I.1.4 Điều kiện kinh tế

Nam Định nằm trong vùng ảnh hưởng của tam giác kinh tế Hà Nội – Hải Phòng –

Hạ Long Tỉnh có thể tận dụng lợi thế của mạng lưới giao thông, bao gồm đường sắtxuyên quốc gia, quốc lộ số 1, 10, 21 và đường bờ biển dài 72 km, hệ thống sông Hồng,sông Đào, sông Đáy và sông Ninh Cơ, nhiều cảng sông, cảng biển Thịnh Long đang tronggiai đoạn xây dựng Đây cũng là điều kiện ưu đãi để mở rộng trao đổi thương mại và xãhội trong phạm vi tỉnh, quốc gia và với các quốc gia khác, nhằm nắm vị trí dẫn đầu trongviệc hoạch định chính sách kinh tế và phát triển xã hội khu vực đồng bằng phía Nam sôngHồng

Trong 2 tháng đầu năm 2014, toàn tỉnh đã hoàn thành thu hoạch cây vụ đông vớitổng diện tích 15.463ha, tăng 24,5% so với vụ đông năm 2013; năng suất và sản lượngcây vụ đông cao hơn năm trước Đến ngày 3-3-2014, toàn tỉnh đã gieo cấy 73.990ha lúaxuân, đạt 99% diện tích; trong đó diện tích gieo sạ là 15.882ha, chiếm 21,5% Diện tíchlúa xuân bị ảnh hưởng do thời tiết đã được khắc phục là 14.255ha; trong đó có 6.359haphải cấy, sạ lại, 7.896ha dặm tỉa Sản lượng thủy sản 2 tháng đầu năm ước đạt 15.350 tấn,tăng 2% so với cùng kỳ năm 2013; trong đó khai thác đạt 6.780 tấn, tăng 0,2%, nuôi trồngđạt 8.570 tấn, tăng 3,5% so với cùng kỳ Có 174/200 xã, thị trấn (bằng 87%) đã hoànthành công tác DĐĐT; số thửa bình quân sau dồn, đổi đạt 2 thửa/hộ Chỉ số sản xuất côngnghiệp tăng 7,4% so với cùng kỳ, giá trị sản xuất công nghiệp ước đạt trên 5.900 tỷ đồng,tăng 19,2% so với cùng kỳ Có 24/30 sản phẩm chủ yếu tăng so với cùng kỳ Kim ngạchxuất khẩu toàn tỉnh đạt trên 47,7 triệu USD, tăng 14,3% Tổng thu ngân sách Nhà nướctăng 48% so với cùng kỳ 2013, đạt 513 tỷ đồng, bằng 20% dự toán Đến ngày 28-2-2014,

Trang 13

các tổ chức tín dụng trên địa bàn tỉnh có số dư nguồn vốn huy động ước đạt 20.140 tỷđồng; tổng dư nợ cho vay đạt 21.830 tỷ đồng Cấp mới đăng ký kinh doanh cho 69 doanhnghiệp và 8 chi nhánh văn phòng đại diện với tổng số vốn đăng ký trên 240 tỷ đồng.

Đặc biệt, du lịch sinh thái biển là một trong những ngành kinh tế giàu tiềm năngcủa huyện Giao Thủy với khu du lịch nghỉ mát tắm biển Quất Lâm, Vườn Quốc gia Xuân

Thủy và Khu nghỉ dưỡng Giao Phong nằm trong chuỗi liên kết các tour du lịch văn hóa

-lịch sử nối liền thủ đô Hà Nội với các tỉnh Nam đồng bằng sông Hồng: - Khu di tích PhủGiầy - Cụm di tích đền Trần- Làng trồng cây cảnh Vị Khê- Chùa Cổ Lễ- Khu lưu niệm cốTổng Bí thư Trường Chinh ( Nam Định)- Khu du lịch Tràng An- Bái Đính (Ninh Bình) Ngoài việc đầu tư, quy hoạch xây dựng những khu du lịch tiềm năng, Giao Thủy tiếp tụcduy trì và mở rộng loại hình du lịch cộng đồng, tạo điều kiện cho du khách tiếp cận vớicộng đồng dân cư địa phương thân thiện, mến khách và những nét sinh hoạt văn hóa, tínngưỡng đặc sắc của nền văn minh lúa nước đồng bằng châu thổ sông Hồng

I.1.5 Điều kiện văn hóa – xã hội

Nam Định là một tỉnh có bề dày văn hóa và truyền thống hiếu học của cả nước SởGiáo Dục cũng như Đội tuyển thi học sinh giỏi Quốc gia nhiều năm xếp thứ nhất toànquốc

Trường THPT chuyên Lê Hồng Phong, có thể nói đây là một ngôi trường đượcthừa kế và phát huy những truyền thống quý giá của Trường Thành Chung Nam Định xưa

và được xếp vào hạng hàng đầu của cả nước về thành tích học tập Ngoài ra, có một sốngôi trường khác cũng khá nổi bật là các trường THPT Giao Thủy A, (trường THPTChuẩn quốc gia năm 2003), THPT Trần Hưng Đạo(trường THPT Chuẩn quốc gia năm2009), Nguyễn Khuyến, Hải Hậu A (trường chuẩn quốc gia năm 2003), THPT Lý TựTrọng, THCS Trần Đăng Ninh, THCS Phạm Hồng Thái, THCS Nguyễn Hiền ,THPTNghĩa Hưng A, THPT Mỹ Tho - Ý Yên Ngoài ra trong tốp 200 trường có kết quả caonhất cả nước thì Nam Định có tới 17 trường, cứ trung bình mỗi trung tâm cấp huyện haythành phố có 2 trường nằm trong tốp các trường dẫn đầu cả nước chiếm tỷ lệ xấp xỉ 50%các trường toàn tỉnh Trong Top 100 trường THPT tốt nhấtViệt Nam năm 2009, NamĐịnh có tới 7 trường

Trang 14

Nam Định có trường Đại Học Điều Dưỡng được thành lập năm 2005 là trường ĐạiHọc Điều Dưỡng đầu tiên trên cả nước (Đường Hàn Thuyên-TP Nam Định); ngoài ra còn

có các trường ĐH khác như trường Đại học Sư phạm kỹ thuật Nam Định; trường Đại họcDân Lập Lương Thế Vinh; trường Đại học Kinh tế kỹ thuật công nghiệp; trường Caođẳng Sư phạm Nam Định và 12 trường cao đẳng khác

Chợ Viềng ở huyện Vụ Bản mỗi năm có một phiên vào ngày 8 tháng giêng Tết Âmlịch hằng năm Chợ Viềng Nam Giang (Thị Trấn Nam Giang, Nam Trực) vào ngày 7tháng giêng Âm lịch hằng năm, Sơn mài Cát Đằng (xã Yên Tiến, huyện Ý Yên) Lễ khai

ấn đền Trần vào đêm ngày 14 tháng giêng Âm lịch Nhà hát chèo Nam Định là một trungtâm văn hóa lớn của tỉnh, nằm trên đường Nguyễn Du, cạnh nhà văn hóa 3-2 Thành phốNam Định Nhà văn hóa 3-2 là nơi tổ chức những sự kiện văn hóa lớn của cả tỉnh cạnhQuảng trường Vị Xuyên

I.2 Lịch sử nghiên cứu địa chất

I.2.1 Giai đoạn trước năm 1954

Năm 1921, bản đồ địa chất tỷ lệ 1:250.000 do C Jacob thành lập bao gồm vùng hạlưu sông Đà và Bắc Trung Bộ, trong đó có địa bàn tỉnh Nam Định

Năm 1927, J Fromagete thành lập bản đồ địa chất tỷ lệ 1:400.000 Bắc Trung Bộ vàlân cận nước Lào Tác giả đã phân chia tỷ mỷ các trầm tích Paleozoi, phân định địa tầngOrdovic - Silur, cát kết và đá phiến Silur - Devon

Vào khoảng thời gian 1929, 1931, 1935, 1936, 1937 ra đời hàng loạt công trình khoahọc của J Fromagete về địa tầng, cấu trúc và lịch sử phát triển địa chất của bán đảo ĐôngDương, tiêu biểu nhất là cuốn: “Đông Dương- cấu tạo địa chất, các đá, các mỏ và mối liênquan có thể của chúng với kiến tạo” xuất bản năm 1941 Năm 1952 ra đời bản đồ địa chấtĐông Dương tỷ lệ 1:200.000 do ông làm chủ biên

Loạt bản đồ tỷ lệ 1:500.000 do các nhà địa chất Pháp làm việc tại Sở Địa chất ĐôngDương thành lập cho toàn Đông Dương Công tác khảo sát cho việc thành lập bản đồ nàythực hiện vào các năm 1925 đến 1945 dưới sự lãnh đạo của H Fromaget và sau đó có sự

bổ sung và biên tập của E Saurin và H Fontaine Lần đầu tiên, các nét về cấu trúc địachất Việt Nam đã được khắc hoạ một cách rõ nét Nhiều phát hiện về địa tầng học,

Trang 15

magma, kiến tạo cho đến nay vẫn còn nguyên giá trị và đã được sử dụng rộng rãi trongcác văn liệu quốc tế

Cũng trong giai đoạn này, có nhiều công trình khoa học đã được công bố của cácnhà địa chất Pháp Nhiều phiên hiệu địa tầng đã được xác lập và cho đến nay vẫn đangđược sử dụng một cách rộng rãi trong văn liệu địa chất Việt Nam và khu vực

I.2.2 Giai đoạn sau năm 1954

Sau năm 1954, công tác điều tra nghiên cứu địa chất khu vực được tiến hành theotrình tự, từ việc lập bản đồ địa chất tỷ lệ 1:500.000 đến tỷ lệ 1:50.000 Bản đồ địa chấtmiền Bắc Việt Nam tỷ lệ 1:500.000 do A.E Dovjikov làm chủ biên xuất bản năm 1965.Các khảo sát thực địa tiến hành từ năm 1959 đến năm 1962 Bản đồ và cuốn sách mangtên “Địa chất miền Bắc Việt Nam” xuất bản năm 1965 Bản đồ này đã kế thừa và pháttriển các số liệu của các nhà địa chất Pháp, nâng lên một bước mới về chất lượng và mức

độ chính xác, mức độ hoàn thiện

Từ năm 1964 đến khoảng năm 1994, ngành Địa chất đã hoàn thành công tác đo vẽbản đồ địa chất tỷ lệ trung bình 1:200.000 Các tờ bản đồ này được thành lập theo quy chếchung mang tính hệ thống Chính vì vậy, nó chứa đựng những nội dung khoa học rấtphong phú và có giá trị thực tiễn Diện tích tỉnh Nam Định nằm trên tờ bản đồ địa chất tỷ

lệ 1:200.000 tờ Nam Định số hiệu F-48-XXXV do nhà địa chất Hoàng Ngọc Kỳ làm chủbiên hoàn thành năm 1976 và tờ Hải Phòng – Nam Định số hiệu F-48-XXIX-XXXV doHoàng Ngọc Kỳ làm chủ biên hoàn thành năm 1978 Qua một số lần hiệu đính, tờ bản đồđịa chất Nam Định số hiệu F-48-XXXV được xuất bản năm 1999 Đây là một trong cáctài liệu tổng hợp nhất về địa chất và khoáng sản khu vực Ninh Bình, Hà Nam, Thanh Hoá,Nam Định, Hải Phòng trên diện tích khoảng 4000 km2

Từ năm 1970 trở lại, ngành Địa chất bắt đầu công tác thành lập bản đồ địa chấtkhoáng sản tỷ lệ 1:50.000 kết hợp tìm kiếm khoáng sản Địa bàn tỉnh Nam Định đangđược đo vẽ lập bản đồ địa chất khoáng sản tỷ lệ 1:50.000

I.3 Khái quát đặc điểm địa chất khu vực

I.3.1 Địa tầng

Trang 16

Theo hết quả đo vẽ bản đồ địa chất khoáng sản tỉnh Nam Định tỷ lệ 1:200.000

(Hình I.3), vùng nghiên cứu xuất hiện các hệ tầng sau:

Hình I.3 Bản đồ địa chất thu nhỏ tỉnh Nam Định

HỆ NEOGEN (N) - Thống Plioxen

Hệ tầng Vĩnh Bảo (N2vb)

Hệ tầng Vĩnh Bảo (N2vb) do Golovenok V.K và Lê Văn Chân xác lập năm 1965

trên cơ sở tài liệu Lk3-36 tại thị trấn Vĩnh Bảo, Hải Phòng Hệ tầng Vĩnh Bảo không lộtrên mặt, chỉ gặp chúng ở độ sâu từ 265 đến 150 m trong các lỗ khoan ở phần diện tíchphía tây bắc Gồm các đá cát kết có màu xám xanh, phớt tím, hạt vừa đến mịn, độ chọnlọc tốt, thành phần đơn khoáng đến ít khoáng, cấu tạo phân lớp song song, nằm ngang.Bột và sét kết màu xám phớt lục phân lớp mỏng và song song nằm ngang, xen kẽ với cáclớp bột và sét xám nhạt và với cát kết Bề dày trung bình đạt 150- 200 m

Trang 17

Hệ tầng Vĩnh Bảo nằm không chỉnh hợp trên với hệ tầng Tiên Hưng và được hìnhthành trong môi trường thềm biển Riêng ở khu vực rìa tây bắc và tây nam của võng HàNội, hệ tầng tích tụ trong điều kiện đồng bằng châu thổ có ảnh hưởng của biển.

HỆ ĐỆ TỨ (Q) - Thống Pleistoxen, phụ thống dưới

Hệ tầng Lệ Chi (Q1lc)

Hệ tầng Lệ Chi do Ngô Quang Đoàn xác lập năm 1987 khi nghiên cứu mặt cắt LK.4HNtại Lệ Chi, Gia Lâm, Hà Nội Trong khu vực nghiên cứu và trên toàn bộ diện tích tỉnhNam Định nói chung, hệ tầng Lệ Chi không lộ trên mặt địa hình hiện đại, chúng phân bố

ở độ sâu từ vài chục mét đến trên một trăm mét, bề dày trầm tích thay đổi từ 5-7m đếntrên 30m

Trầm tích hệ tầng Lệ Chi chủ yếu gồm:

Lớp 1: Nằm phủ trên hệ tầng Vĩnh Bảo, gồm sét bột lẫn ít cát màu xám vàng loang

lổ Trong lớp chứa tập hợp BTPH: Polypodiacea gen indet; Pteris sp.; Florchuetzia sp., Osmunda sp., Gleichenia sp., Taxodium sp., Larix sp.

Lớp 2: sét bột lẫn ít cát màu xám xanh, trắng dẻo mịn; phần trên có những hạt kết vónlaterit hình hạt đậu đường kính 2 - 4mm Dày 6m Trầm tích chứa tập hợp BTPH:

Dicksonia sp., Larix sp., Gleichenia sp., Taxodium sp., Acrostichum sp., Cyperus sp., Hibiscus sp., Acanthus sp

Hệ tầng Lệ Chi phủ không chỉnh hợp trên hệ tầng Vĩnh Bảo, hệ tầng Đồng Giao;còn phía trên chúng bị các trầm tích hệ tầng Hà Nội phủ không chỉnh hợp lên trên

Thống Pleisticen, phụ thống giữa – trên

Trang 18

Trầm tích sông - biển (amQ1 2-3hn)

Thành phần thạch học bao gồm bột sét màu nâu vàng lẫn cát sạn màu nâu đỏ xen kẽluân phiên Từ dưới lên, có thể mô tả các lớp như sau

Tổng chiều dày của phân vị địa tầng lên đến 43,5m

Đặc điểm chung của hệ tầng qua các tài liệu lỗ khoan có thể thấy là chiều dày trầm tíchtăng dần theo hướng đông nam

Đặc điểm thạch học: thành phần hạt mịn (bột sét) chiếm chủ yếu, trầm tích hạt thô (cát,

sạn) chiếm một lượng nhỏ, rất hiếm gặp cuội sỏi Theo hướng tây bắc- đông nam, thànhphần độ hạt và tính chất đa khoáng giảm dần, trong khi độ mài tròn tăng lên theo chiềuđứng của mặt cắt Càng đi về phía rìa đồng bằng, cuội sạn- sỏi có độ mài mòn càng kém

Hệ tầng có sự xuất hiện của Polypodiaceae sp., Gleichenia sp., Lygodium sp., Schizae sp., Cyathea sp., Angiopteris sp., Osmunda sp., Sonneratia sp., Quercus sp., Euphorbia sp., Rhus sp., Rubia sp được Nguyễn Địch Dỹ (1974) xếp tuổi vào Pleistocen giữa - muộn, phần sớm Sự có mặt của thực vật vùng ven biển như Sonneratia, Acrostichum trong trầm tích hạt mịn và các giá trị địa hoá môi trường pH: 6,7 - 7,6; Eh:

20 - 100mV cho thấy trầm tích được thành tạo trong điều kiện môi trường cửa sông venbiển có tính oxy hoá yếu - trung bình Các trầm tích của hệ tầng phủ không chỉnh hợp trên

hệ tầng Lệ chi Phía trên chúng bị hệ tầng Vĩnh Phúc phủ không chỉnh hợp

Thống Pleistoxen - Phụ thống trên

Hệ tầng Vĩnh Phúc (Q13vp)

Trang 19

Hệ tầng Vĩnh Phúc do Hoàng Ngọc Kỷ và Nguyễn Đức Tâm xác lập năm 1973 Vềsau, trong các báo cáo địa chất tỷ lệ 1:200.000, 1: 50.000, các tác giả sử dụng hệ tầngVĩnh Phúc để mô tả các trầm tích có nguồn gốc khác nhau tuổi Pleistocen muộn phân bố

ở đồng bằng Sông Hồng Tổng hợp tài liệu thạch học, cổ sinh, địa hoá môi trường, chothấy trầm tích hệ tầng có 3 kiểu nguồn gốc là sông, sông - biển, biển Các trầm tích hệtầng Vĩnh Phúc có diện phân bố rộng Chúng lộ rải rác ở ven rìa đồng bằng còn chủ yếu

bị phủ bởi các trầm tích Holocen ở độ sâu nhỏ Trầm tích hệ tầng Vĩnh Phúc được chialàm 3 phần rõ rệt Dưới cùng là trầm tích hạt thô lẫn dăm sạn thạch anh hoặc sét, có màuxám xanh, tương ứng với tướng sông Phần giữa trầm tích hạt mịn có màu xám, xám trolẫn di tích thực vật tương ứng với trầm tích sông - biển Phần trên thường có màu xámxanh, xám vàng loang lổ tương ứng với trầm tích biển Các thành tạo phần dưới cùng cóchứa nước ngầm

Nét đặc trưng của trầm tích hệ tầng Vĩnh Phúc là phần trên bị phong hoá mạnh mẽtạo màu loang lổ Có nơi tạo lớp laterit cứng chắc dày tới 1m (LK1NB) Do đó, về mặt địachất công trình, trầm tích hệ tầng Vĩnh Phúc là tầng có khả năng chịu tải tốt, thuận lợi choxây dựng công trình

Hệ tầng Vĩnh Phúc phủ không chỉnh hợp trên hệ tầng Hà Nội và các đá cổ hơn; ở phíatrên, chúng bị phủ bởi các trầm tích Holocen

Thống Holoxen - phụ thống dưới-giữa

Hệ tầng Hải Hưng (Q2 1-2hh)

Hệ tầng Hải Hưng do nhà địa chất Hoàng Ngọc Kỷ xác lập năm 1978 khi nghiêncứu trầm tích Đệ tứ ở vùng Hải Phòng - Nam Định Khối lượng của hệ tầng Hải Hưngtương ứng với các lớp Giảng Võ (mbQ21gv) và Đống Đa (mQ22đđ) theo phân chia của

Nguyễn Đức Tâm (1973) Trầm tích hệ tầng Hải Hưng bị phủ bởi các trầm tích đa nguồngốc hệ tầng Thái Bình Ở phần bị phủ, bắt gặp trong hầu như các lỗ khoan địa chất

Thành phần gồmchủ yếu có độ hạt mịn, gồm sét bột có lẫn cát hạt mịn Trầm tíchsông biển, trầm tích biển thường nhiều mùn thực vật Chúng có màu xám, xám vàng, xámghi, loang lổ khá đặc trưng Trầm tích hệ tầng Hải Hưng có 2 phần rõ rệt, phần dưới là cáctrầm tích sông - biển, phần trên là trầm tích biển Chúng tiêu biểu và phản ảnh một thời kỳ

Trang 20

biển tiến trong Holocen sớm - giữa Trong khoảng đầu của Holocen sớm-giữa, vùngnghiên cứu thuộc môi trường đồng bằng ven biển; vào khoảng cuối Holocen sớm-giữa,môi trường vùng vịnh, biển nông Trong trầm tích sông - biển thường nghèo di tích cổsinh, còn trong trầm tích biển - đầm lầy và biển thường chứa phong phú vi cổ sinh, tảo vàbào tử phấn hoa.

Trầm tích hệ tầng Hải Hưng phủ không chỉnh hợp trên bề mặt bóc mòn loang lổ của

hệ tầng Vĩnh Phúc; phía trên, chúng bị phủ bởi các trầm tích hệ tầng Thái Bình

Hệ Đệ tứ, Thống Holoxen - phụ thống thượng

Hệ tầng Thái Bình, tập trên (Q2 3tb 3)

Hệ tầng Thái Bình do Hoàng Ngọc Kỷ xác lập năm 1978 để phân chia các trầm tíchHolocen muộn ở vùng Hải Phòng - Nam Định Trầm tích hệ tầng Thái Bình phân bố rộngtrên toàn diện tích công tác Chúng tạo nên các bề mặt địa hình ngập nước và không ngậpnước, độ cao thay đổi từ -1,5m đến +0,5m

Thành phần thạch học phụ thuộc vào nguồn gốc trầm tích Trầm tích sông biển đầm lầy chứa nhiều vật chất hữu cơ màu xám đen Trầm tích sông - biển chủ yếu là cáthạt mịn màu xám nâu Trạng thái đặc trưng của đất sét là dẻo và dẻo mềm, cát bở rời chưa

-bị nén Các trầm tích của hệ tầng đều nghèo di tích cổ sinh Theo kết quả phân tích cổsinh và địa hoá môi trường, các trầm tích sông - biển - đầm lầy và sông - biển được thànhtạo trong điều kiện khử

Trầm tích hệ tầng Thái Bình phủ không chỉnh hợp hoặc chuyển tiếp trên hệ tầng HảiHưng

I.3.2 Kiến tạo

Tỉnh Nam Định được hình thành trong một thời gian lịch sử địa chất – kiến tạo lâudài, trước hết là từ sau tác động của Himalaya cho đến ngày nay Cách đây 23 triệu năm,tạo sơn Himalaya xảy ra do lục địa Ấn Độ va chạm mạnh vào lục địa Âu – Á đã bắt đầunâng cao lãnh thổ nước ta làm nhiều đợt, đồng thời tạo ra các vùng sụt võng, trong đó cóđồng bằng sông Hồng Tại phần phía Nam sông Hồng thuộc Nam Định do sụt võng muộnhơn, chỉ có trầm tích Plioxen cũng là nham tướng vũng vịnh, châu thổ (hệ tầng VĩnhBảo), nằm không chỉnh hợp trên đá biến chất Nguyên sinh sớm (hệ tầng Thái Ninh) thuộc

Trang 21

phức hệ sông Hồng Sang kỷ Đệ tứ một mặt châu thổ sông Hồng vẫn tiếp tục sụt võng vàtách dãn kiểu Riptơ (rift), đối với Nam Định là quá trình sụt tách do sự hoạt động hồi sinhcủa hai đứt gãy sông Hồng và sông Chảy, mà sông Đáy và hạ lưu sông Hồng đang chảydọc theo Trên bản đồ địa chất tỷ lệ 1:200.000 tờ Nam Định đã ghi nhận sự có mặt các đứtgãy phương tây bắc-đông nam

Trang 22

CHƯƠNG II -: HIỆN TRẠNG XÓI LỞ, BỒI TỤ Ở CỬA SÔNG HỒNG

1III 1 Khái quát tình hình nghiên cứu ở cửa sông Hồng trước đây

Hng trước Sông Hồng là con sông có lưu vực lớn nhất khu vực Đông Bắc bộ, chảyqua 9 tỉnh với lưu lượng là 63.783 km Là nguồn cung cấp nước chính cho sinh hoạt, tướitiêu của nhân dân hai bên bờ Nguồn năng lượng dồi dào là điệu kiện thuận lợi để khaithác thủy điện với hàng loạt nhà máy thủy điện lớn như : thủy điện Hòa Bình , thủy điệnSơn La, thủy điện Lai Châu….Cung cấp lượng phù sa lớn, trung bình khoảng 100 triệutấn/ năm tức là gần 1,5kg phù sa trên một mét khối nước Với lượng phù sa luôn dồi dàosông Hồng giúp cho đồng ruộng thêm màu mỡ, đồng thời bồi đắp và mở rộng vùng châuthổ ở vùng duyên hải thuộc hai tỉnh Thái Bình, Nam Định

Khu vực cửa sông Hồng (cửa Ba Lạt) và vùng ven biển đồng bằng sông Hồng nóichung và các huyện Hải Hậu – Giao Thủy nói riêng luôn có những biến đổi lớn như bồi tụ

- xói lở mang tính quy luật Các biến đổi này do tác động của nhiều nhân tố tự nhiên vàcác hoạt động nhân tạo, trong đó có hoạt động của các nhà máy thủy điện lớn ở phíathượng nguồn sông Hồng, tác động của bão, lũ Những khu vực phát triển bồi tụ mạnh

mẽ nhất chủ yếu là tại khu vực các cửa sông ( cửa Ba Lạt) Những bờ biển xói lở nằm xen

kẽ nhau trên các đoạn bờ khác nhau, nhưng chủ yếu là đoạn bờ thuộc khu vực Hải Hậu.Hiện tượng xói lở tại khu vực này đã diễn ra hàng chục năm nay và hiện nay vẫn diễn ragây rất nhiều khó khăn cho việc bảo vệ an toàn cho hệ thống đê biển và đời sống củangười dân khu vực này vào mùa mưa bão

Từ những ý nghĩa to lớn đó sông Hồng thường xuyên được các nhà khoa học quantâm, nghiên cứu về đặc điểm địa chất, dấu tích của dòng sông cổ, sự thay đổi dòng chảy,lượng bùn của sông Hồng khi xây dựng các nhà máy thủy điện Bởi lẽ mỗi sự thay đổi củacửa sông đều phản ánh sự thay đổi về mức độ dòng chảy, lượng vật liệu trầm tích củasông Hồng Từ đó tìm hiểu những nguyên nhân ảnh hưởng tới mức độ xói lở - bồi tụ, để

có thể đưa ra những giải pháp hạn chế đồng thời có định hướng phát triển kinh tế vùngphù hợp

Từ những năm đầu của thế kỉ 20 các cửa sông Hồng(cửa Ba Lạt, cửa Đáy, cửa VănÚc…) đã là đối tượng nghiên cứu chính của nhiều đề án cấp nhà nước, luận án tiến sĩ,

Trang 23

thạc sĩ Phương pháp nghiên cứu đa dạng, từ những phương pháp truyền thống nhưnghiên cứu địa chất, nghiên cứu hình thái đường bờ…tới những phương pháp hiện địanhư sử dụng phương pháp viễn thám, hệ thống thông tin địa lý GIS Vậy nên các cửa sôngHồng đã được nghiên cứu khá kĩ lưỡng với những số liệu đáng tin cậy Trong đa số cáccông trình nghiên cứu trước đây về cơ bản đều đi đánh giá chi tiết mức độ xói lở- bồi tụ ởcác cửa sông qua từng giai đoạn Đồng thời đưa ra những nguyên nhân cơ bản tác độngtới quá trình xói lở - bồi tụ gồm hai nhóm chính là : do tự nhiên và các hoạt động nhânsinh Các yếu tố tự nhiên là dòng chảy sông, chế độ dòng triều, chế độ gió, chế độ sónghay do bão và sự thay đổi thảm thực vật Các hoạt động nhân sinh như: xây đập thủy điện,trồng rừng ngập mặn, phát triển các khu vực nuôi tôm, cá, sò…cũng có những tác độnglớn tới hình thái cửa sông Đặc biệt có rất nhiều công trình nghiên cứu quan tâm tới tácđộng của các công trình thủy điện trên sông Hồng tới hình thái cửa sông thông qua sựthay đổi dòng chảy và lượng bùn tải qua các cửa sông điển hình là thủy điện Hòa Bình.Các công trình nghiên cứu trước đây cũng đã có những kết quả nhất định trong việc xácđịnh các giai đoạn bồi tụ, xói lở tại khu vực cửa Ba Lạt và ven biển Hải Hậu Cụ thể là:

Đối với khu vực cửa Ba Lạt là :

- Giai đoạn 1912-1935: Quá trình bồi tụ diễn ra là chủ yếu

- Giai đoạn 1935-1965: Quá trình xói lở xảy ra mạnh mẽ

- Giai đoạn 1965-1989: Diễn ra mạnh mẽ quá trình bồi tụ tạo nên các bãi bồi lớn

- Giai đoạn 1989-1995: Diễn ra cả xói lở và bồi tụ

- Giai đoạn 1995-2003: Bồi tụ mạnh mẽ

Đối với khu vực ven biển Hải Hậu-Giao Thủy:

- Giai đoạn 1912-1935: Bồi tụ mạnh tại các xã Giao Lạc-Giao Long ( Giao Thủy) vàThịnh Long ( Hải Hậu) Xói lở mạnh ở địa phận huyện Hải Hậu ( bắt đầu từ cửa Hà Lạnđến xã Hải Hòa) và vùng xói lở mạnh nhất là xã Hải Đông-Hải Lý

- Giai đoạn 1935-1953: Vùng ven biển Giao Thủy-Hải Hậu bồi tụ, xói lở tập trung ởcác xã từ Giao Xuân đến Bạch Long

Trang 24

- Giai đoạn 1953-1965: Ở khu vực Giao thủy xảy ra cả xói lở lẫn bồi tụ: bồi tụ xảy

ra chủ yếu ở các xã Bạch Long – Giao Phong ( Giao Thủy), xói lở chủ yếu từ xã Giao Anđến xã Bạch Long Khu vực Hải Hậu xói lở chủ yếu từ xã Hải Đông đến Hải Triều

- Giai đoạn 1965-1989: Xói lở ở Giao Thủy và Hải Hậu; bồi tụ ở cửa Ba Lạt và LạchGiang

- Giai đoạn 1989-1995: Quá trình xói lở và bồi tụ xảy ra đồng thời nhưng hiện tượngxói lở đã giảm

- Giai đoạn 1995-2003: Xói lở và bồi tụ diễn ra đồng thời tuy nhiên xói lở đã giảm,bồi tụ mạnh ở phía Giao Thủy thuộc các xã nằm kề cửa Ba Lạt

Tuy nhiên các công trình nghiên gần đây chỉ tập trung nghiên cứu mức độ ảnhhưởng của việc xây dựng các công trình thủy điện tới các cửa sông đa phần là về thủyđiện Hòa Bình Còn những công trình nghiên cứu chi tiết về diễn biến động thái của cáccửa sông Hồng đã được công bố trong một thời gian dài Với diễn biến khí hậu ngày càngphức tạp, số lượng các công trình thủy điện tăng đột biến, mức độ phát triển ở khu vựccửa sông ngày càng tăng…những đánh giá về diễn biến động thái cũng như những nhân

tố tác động tới vùng cửa sông có nhiều sai khác mà các công trình nghiên cứu trước đóchưa đề cập tới Chính vì vậy cần nhiều công trình nghiên cứu mới đánh giá và nhận diệncác nhân tố ảnh hưởng một cách hoàn thiện hơn Từ đó có thể đưa ra những biện phápgiảm thiểu những tác động xấu tới đời sống nhân dân Đồng thời có những định hướngquy hoạch lâu dài cho sự phát triển kinh tế vùng

II.2 Hiện trạng xói lở, bồi tụ ở cửa sông Hồng và ven biển tỉnh Nam Định hiện nay

Sông Hồng đổ ra biển ở 7 cửa sông chính gồm:

-Cửa Ba Lạt, cửa chính của sông Hồng, nằm giữa hai tỉnh Thái Bình và Nam Định

- Cửa Trà Lý, giữa huyện Thái Thụy và huyện Tiền Hải ( Thái Bình)

- Cửa Lân thuộc huyện Tiền Hải

- Cửa sông So, tại địa phận xã Giao Lâm( Giao Thủy) và Hải Hậu thuộc tỉnh NamĐịnh

Trang 25

- Cửa Lạch Giang, cửa sông Ninh Cơ, nằm giữa hai huyện Hải Hậu và Nghĩa Hưngtỉnh Nam Định

-Cửa Đáy trên sông Đáy, nằm giữa hai tỉnh Nam Định và Ninh Bình

Là cửa sông chính của sông Hồng, lưu lượng dòng chảy qua Ba Lạt chiếm 39%dòng chảy qua Hà Nội Lưu lượng trung bình là 2300m/s, đột xuất khi có lũ lên tới8000m/s( 1971) Độ đục trung bình là 1,1kg/m, hằng năm vận chuyển 23 triệu tấn bùn racửa Ba Lạt Chính vì thế mà sự biến đổi của của Ba Lạt là đặc trưng nhất và dễ quan sátnhất khi có những yếu tố tác động xảy ra Hơn nữa cửa Ba Lạt là loại cửa sông bồi tụ -xói lở với sự phát triển phức tạp ảnh hưởng lớn đời sống của nhân dân khu vực cửa sông.Vậy nên trong giới hạn của đề tài nhóm nghiên cứu tập trung nghiên cứu về quy luật tiếnhóa của cửa Ba Lạt và mức độ xói lở - bồi tụ đường bờ biển thuộc hai huyện Giao Thủy

và Hải Hậu – Nam Định

Qua quá trình đi thực địa để quan sát địa mạo đường bờ, thu thập các số liệu thức

tế nhóm nghiên cứu đưa ra sơ đồ tài liệu thực tế (Hình II.1) như sau:

Hinh3II.1: Sơ đồ tài liệu thực tế trên ntài liệu thực

Hiện trạng xói lở, bồi tụ ở cửa sông Hồng và ven biển tỉnh Nam Định hiện nay.

Trang 26

Chi tiết về hiện trạng xói lở và bồi tụ dọc theo đới ven biển tỉnh Nam Định được mô tatdưới đây:Mô tả các điểm khảo sát thực địa

Điểm lộĐiểm khảo sát 1: (Bến cá Giao Hải) tọa độ: Y: 20013’03’; X: 106028’46,6

Là điểm kết thúc của sự tích tụ các vật liệu trầm tích và bắt đầu được gia cố bằng hệthống đê kè Quan sát ra xa biển không còn các cồn cát ven biển

Điểm lộĐiểm khảo sát 2: tọa độ : Y: 20 0 12’37,4’ ; X: 106 0 26’00’

Tại đây hiện tượng xói lở xảy ra mạnh mẽ , bờ biển được gia cố bằng hệ thống chắn sóngcọc đinh ba (Hình II.2) với tác dụng chính là chắn sóng cũng như làm giảm năng lượngcũng như lượng vật liệu mà sóng mang đi do ảnh hưởng của hiện tượng dòng chảyngang

HìnhII.2.Hệ thống cọc đinh ba đặt ở ngoài biển để bảo vệ bờ đêĐiểm lộĐiểm khảo sát 3 (cống thanh niên) tọa độ Y: 20012’23,5’ ;X: 106025’12,9’Phương vị của đê :90 – 270

Đây là khu vực bị xói lở mạnh, 2 bên cống đã được gia cố kỹ càng, cạnh đó bờ đêcũng gia cố bằng các hệ thống cọc đinh ba Ngoài ra tại đây còn quan sát được trên mặt bị

Trang 27

làm mòn do sóng đánh (Hình II.3) Năng lượng sóng ở đây rất mạnh, đường bờ đê nhô rangoài biển.

HìnhII.3 Tại cống Thanh Niên bờ đê chịu ảnh hưởng bởi năng lượng sóng lớn, đập chắn

sóng đặt hai bên cống để bảo vệ đê

Điểm lộĐiểm khảo sát 4 (cách cống thanh niên 500 m) tọa độ Y: 20012’24,5’;X:106024’41

Tại đây đã kết thúc xạt lở, bắt đầu sự tích tụ các vật liệu trầm tích Đường bờ lấn ra biểnkhoảng 50 – 310m (Hình II.4) Đường đê tại khu vực này được xây dựng sâu vào trong

Trang 28

HìnhII.4 Một đoạn đường Giao Thủy được bồi tụ

Điểm lộĐiểm khảo sát 5: tọa độ Y: 20 0 12’09,4’ ; X : 106 0 24’17

Đường bờ biển nhô ra ngoài, chịu ảnh hưởng trực tiếp từ sóng, bắt đầu có hiện tượng xói

lở Có thể thấy xói lở tai đây chủ yếu là do yếu tố địa mạo đường bờ Phương pháp chắn

sóng lại tiếp tục được sử dụng bằng các hệ thống cọc đinh ba

Điểm lộĐiểm khảo sát 6: tọa độ Y: 20 0 12’05,5 ; X :106 0 24’09’

Ở đây không thấy có hiện tượng xói lở mà thay vào đó các vật liệu trầm tích được tích tụ,diện tích bồi tụ tương đối nhỏ, hiện tại khu vực này được người dân trồng phi lao để giữ đất Địa mạo đường bờ tại khu vực này cho phép làm phân tán lực tác động của sóng, làm sóng yếu đi, giảm nguy cơ xạt lở.

Điểm lộĐiểm khảo sát 7: tọa độ (ở phía ĐB thị trấn Quất Lâm) tọa độ Y :

20 0 11 ’ 40,7 ; X : 106 0 22’37,6’

Tại đây đánh dầu sự kết thúc của quá trình bồi tụ, bắt đầu quá trình xói lở Đường bờ biển nhô ra bị tàn phá bởi ảnh hưởng của bão Hải Yến (tháng 11/2013),

Trang 29

hiện đang được sửa chữa, khôi phục lại(Hình II.5) Yếu tố gây xói lở chủ yếu quan sát thấy tại khu vực này là yếu tố đường bờ

Hình II.5 Bờ đê ở thị trấn Quất Lâm đang được sửa chửa do ảnh hưởng của bảo Hải Yến

(11//2013)Điểm lộĐiểm khảo sát 8: ( Ở phía TN thị trấn Quất Lâm) tọa độ Y : 20011’16.1’ ;

X : 106022’37,6’

Đây là điểm kết thúc theo lộ trình tại khu vực Quất Lâm Bắt đầu có hiện tượng tích tụtrầm tích hai bên cửa sông Sò và vùng đất ven biển được người dân trồng phi lao để giữđất

Điểm lộĐiểm khảo sát 9: ( xã Hải Đông –Hải Hậu) tọa độ Y: 20009’12’; X:

106020’29,2’

Tại đây, hoạt động xói lở xảy ra mạnh mẽ, đê chắn sóng cũ bị phá hủy do hoạt động củasóng Các cồn đá nhỏ nằm rải rác ven biển để nuôi hàu nhưng cũng có tác dụng chắn sóngnhất định Đường đê mới được xây dựng cách đê cũ tại đây là khoảng 50 m, cho thấy tốc

độ xói lở diễn ra rất nhanh

Điểm lộĐiểm khảo sát 10: Nằm bên trái đê đi về hướng Hải Lý Y: tọa độ 20009’12

; X : 106020’14,3

Ngày đăng: 14/11/2019, 22:20

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Phạm Quang Sơn (2007), Diễn biến các vùng cửa sông ven biển đồng bằng sông Hồng trong những năm đầu vận hành công trình thủy điện Hòa Bình, Tạp chí Các khoa học về Trái Đất Tập 29, số 3, 267-276 Khác
2. Phạm Huy Tiến (2005), Dự báo hiện tượng xói lở - bồi tụ bờ biển, cửa sông và các giải pháp phòng tránh, Báo cáo Tổng kết đề tài NCKH cấp Nhà nước, Viện Khoa học công nghệ Việt Nam Khác
3. Quản Ngọc An và nnk (1989), Nghiên cứu diễn biến động thái cửa Ba Lạt – sông Hồng và các kiến nghị kỹ thuật trong công tác quai đê lấn biển, Báo cáo đề tài cấp Nhà nước 06A_01_04, Viện nghiên cứu khoa học thủy lợi Khác
4. Vũ Thanh Ca, Nguyễn Quốc Trinh (2007), Nghiên cứu về nguyên nhân xói lở bờ biển Nam Định, Tuyển tập báo cáo Hội thảo khoa học lần thứ 10, Viện khoa học khí tượng thủy văn và môi trường Khác
5. Vũ Thị Thu Thủy (2012), Ứng dụng công nghệ viễn thám và GIS nghiên cứu tai biến xói lở, bồi tụ đới ven bờ biển Hải Phòng, Luận văn Thạc sỹ, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội Khác
6. Hoàng Ngọc Kỳ và nnk (1976), Bản đồ Địa chất và Khoáng sản Việt Nam tỷ lệ 1:200.000, tờ Nam Định số F-48-XXXV, Cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam xuất bản và giữ bản quyền, Hà Nội, 1999 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w