Malt là nguyên liệu truyền thống, thiết yếu không thể thiếu được trong công nghệ sản xuất bia.Qua quá trình nảy mầm một lượng lớn các enzym xuất hiện và tích tụ trong hạt đại mạch như: e
Trang 1PHẦN 2: NGUYÊN LIỆU SẢN XUẤT
2.1 Malt đại mạch
Malt đại mạch là hạt đại mạch được nảy mầm trong điều kiện nhân tạo (nảy mầm trong môi trường và độ ẩm nhất định) Malt được sử dụng ở dạng chất khô hòa tan thành dịch đường Malt là nguyên liệu truyền thống, thiết yếu không thể thiếu được trong công nghệ sản xuất bia.Qua quá trình nảy mầm một lượng lớn các enzym xuất hiện và tích tụ trong hạt đại mạch như: enzym amylase, enzym protease Các enzym này là những nhân tố thực hiện việc chuyển các chất trong thành phần hạt đại mạch thành nguyên liệu (các acid amin tự do, các loại đường, các vitamin…) mà nấm men có thể sử dụng để tạo thành sản phẩm bia
Nhà máy sử dụng malt vàng nhập từ Úc để sản xuất bia tươi và malt đen để sản xuất bia đen Malt được chứa trong những bao tải, mỗi bao tải có trọng lượng 50kg
Hình 2.1 Malt vàng Hình 2.2 Malt đen
Malt dùng để sản xuất bia phải được bảo quản ít nhất 3 ÷ 4 tuần trước khi sử dụng vì:
- Vỏ malt mới sấy giòn nên dễ bị nghiền nát, trong quá trình đường hóa các chất trong
vỏ malt sẽ bị hòa tan làm cho bia có vị đắng chát, khó lọc
- Hoạt lực của enzym thủy phân chưa ổn định, quá trình đường hóa diễn ra khó khăn, hiệu suất thu hồi thấp Khi bảo quản hạt hút ẩm làm cho vỏ malt mềm dẻo không bị nát khi nghiền và sẽ là chất trợ lọc tốt sau này Đồng thời trong hạt xảy ra một số quá trình mà kết quả là:
+ Hoạt lực của amylase và protease sẽ tăng
+ Làm tăng lượng đạm hòa tan
+ Chỉ số độ pH đường hóa tăng
2.1.1 Mục đích sử dụng
Malt cung cấp toàn bộ lượng glucid (chủ yếu dưới dạng tinh bột) để chuyển hóa thành đường, và từ đường chuyển hóa thành cồn và các chất khác Để giảm giá thành, người ta có thể sử dụng ngũ cốc làm thế liệu, và lượng tối đa là 50% chứ không thể thay thế hoàn toàn malt
Trang 2Malt chứa đầy đủ enzym amilaza để thủy phân tinh bột Nếu sử dụng thế liệu nhiều thì lượng enzym này cung cấp không đầy đủ và ta buộc phải bổ sung enzym từ bên ngoài vào, chủ yếu là enzym từ vi sinh vật
Malt cung cấp khá đủ lượng protein và có chứa hệ enzym proteaza để thủy phân chúng Trong giai đoạn ươm mầm, hệ enzym này được hoạt hóa mạnh mẽ Khi chuyển sang giai đoạn nấu, chúng thủy phân protein tạo thành các phức chất có khả năng giữ CO2 tốt, tạo vị bia đặc trưng
2.1.2 Thành phần hóa học của malt đại mạch
Bảng 2.1 Thành phần hóa học của malt - đại mạch
(Tính theo % trọng lượng chất khô)
5 ÷ 6
2,2
6 ÷ 7 Thành phần hóa học của malt đại mạch phụ thuộc vào giống đại mạch, điều kiện đất đai, khí hậu, kỹ thuật trồng và điều kiện bảo quản
Thành phần hóa học của malt và đại mạch có những tính chất và chức năng sau:
Tinh bột:
- Đối với công nghệ sản xuất malt và bia, tinh bột có hai chức năng: Chức năng thứ nhất
là nguồn thức ăn dự trữ cho phôi và chức năng thứ hai là nguồn cung cấp chất hòa tan cho dịch đường trước lúc lên men
- Tinh bột bao gồm hai polysaccharide hợp thành: amylase và amylopectin Dưới sự xúc tác của enzym amylase, mạch amylase sẽ bị phân cắt thành destrin và các đường đơn giản maltose, glucose để nấm men sử dụng
Cellulose:
Trang 3- Cellulose của hạt đại mạch được phân bố chủ yếu ở lớp vỏ trấu và chiếm khoảng 20% chất khô của vỏ, có cấu tạo là những polyme đồng dạng với tinh bột Số gốc glucose trong các polyme này lên đến 2000 ÷ 10000 tạo thành những chuỗi xoắn rất dài, chúng không tan được trong nước, trong quá trình chế biến bia hầu như không thay đổi
- Cellulose có ý nghĩa lớn trong quá trình lọc dịch đường hóa vì lớp vỏ trấu là vật liệu tạo lớp màng lọc phụ lý tưởng
Các glucid cao phân tử:
Trong đại mạch còn chứa các chất ở dạng gom, những chất này tan trong nước sẽ tạo nên những dung dịch nhớt Khi chúng bị thủy phân, sẽ cho ra galactose và kcilose, hoặc như pectin, với hàm lượng rất nhỏ trên thành vỏ trấu, hình thành một màng ngăn trung gian Những hợp chất này, khi đi vào dịch đường hoặc bia, sẽ gây trở ngại cho quá trình lọc, song
chúng cũng làm cho bia có khả năng tạo bọt và có mùi vị được cải thiện hơn
Các chất đường:
Trong đại mạch có chứa một lượng nhỏ mono -, di - và trisaccharide, trong đó nhiều nhất
là đường saccharose, chiếm khoảng 1,8% chất khô của hạt Hàm lượng glucose và fructose là không đáng kể Các chất đường có ý nghĩa rất lớn trong quá trình sản xuất malt, đặc biệt là trong giai đoạn đầu tiên
Chất đắng và chất chát:
Có chứa nhiều trong vỏ trấu của hạt đại mạch Các chất màu sẽ đi vào thành phần của những lớp bên ngoài màng ngăn giữa vỏ trấu và hạt gạo, tham gia vào quá trình hình thành lớp màng ngăn này, do vậy nó đóng vai trò rất lớn trong quá trình ngâm đại mạch Một phần của chất chát sẽ liên kết với các chất protid, tạo thành acid textinoic có vị đắng và mùi khó chịu Chúng không hòa tan trong nước lã nhưng hòa tan tốt trong dung dịch kiềm loãng (0,2 ÷ 0,4%) Qua đó, ta nhận thấy các chất chát, đắng, màu có tác dụng xấu đến thành phần của bia
Vì vậy các biện pháp công nghệ loại bỏ chúng là rất cần thiết
Các hợp chất chứa nitơ:
Hàm lượng các hợp chất chứa nitơ trong đại mạch khoảng 9 ÷ 11% so với lượng chất khô của hạt Tuy chiếm tỷ lệ thấp nhưng vai trò của chúng đối với công nghệ sản xuất bia thì lại rất quan trọng vì ở chừng mực nào đó, chúng quyết định chất lượng của sản phẩm cuối cùng
Protid:
Là chỉ số quan trọng thứ hai (sau tinh bột) để đánh giá xem lô hạt đó có đủ tiêu chuẩn để sản xuất bia hay không Nếu hàm lượng cao quá, bia dễ bị đục, rất khó bảo quản Ngược lại nếu thấp quá, quá trình lên men sẽ không triệt để, bia kém bọt, vị kém đậm đà Hàm lượng protid tốt nhất cho mục đích sản xuất bia là 8 ÷ 10%
Khả năng tạo bọt và giữ bọt của bia cũng như độ bền keo của chúng (độ bền colloide) phụ
thuộc trước hết vào mức độ thủy phân của protid
Các hợp chất chứa nitơ phi protid:
Tập hợp những sản phẩm phân giải từ protid với các mức độ phân giải khác nhau cho
ta những sản phẩm sau:
- Albumoza và pepton: có cấu tạo gần giống protein, song có số gốc acid amin ít hơn, có khả năng tan được trong nước lã, không bị kết tủa trong quá trình chế biến sẽ đi vào thành phần nước đường hóa, làm tốt khả năng tạo bọt và giữ bọt của bia
Trang 4- Peptid: Có số gốc acid amin ít hơn pepton, gồm có di -, tri - và polypeptide, hòa tan
dễ dàng trong nước và đi vào thành phần của bia
- Acid amin: Ở dạng tự do trong hạt đại mạch chín thường chiếm khoảng 0,1% chất khô, thành phần rất phong phú, gồm khoảng 20 acid amin khác nhau Do tác động của enzym trong thời gian sản xuất malt, hàm lượng acid amin tăng lên ở dịch đường và bia Đặc biệt chúng có vai trò quan trọng trong việc hình thành menadion ở thời kỳ sấy malt
Chất khoáng:
Các chất khoáng của đại mạch đóng vai trò quan trọng trong quá trình sản xuất malt và bia Đặc biệt có ý nghĩa là nguyên tố phospho, vì nó đóng vai trò chủ yếu trong việc hình thành hệ thống đệm của dịch đường
Chất béo và lipoid:
Thành phần chủ yếu của các loại dầu béo trong đại mạch là este của glyceryl với acid béo bậc cao Chất béo và lipoid tồn tại trong bia sẽ làm giảm độ bền keo của sản phẩm
2.1.3 Kiểm tra và xử lý nguyên liệu
Đánh giá cảm quan
Màu sắc: đối với malt vàng phải có màu vàng sáng, malt đen có màu sẫm.
Mùi: có mùi thơm đặc trưng của malt (mùi dưa chuột hoặc rạ tươi) Khi bị mốc sẽ có
mùi ôi chua khó chịu
Vị: dùng răng cắn nát hạt malt sẽ phát hiện ra vị ngọt Vị ngọt càng dễ phát hiện chứng
tỏ malt càng có chất lượng tốt
Trạng thái: Hạt malt phải mềm, khi dùng hai ngón tay bóp hạt malt thì hạt tinh bột ở
dạng như hạt cám, ngược lại khi hạt malt còn cứng hay đã bị nhão thì chất lượng kém
Độ sạch: Không lẫn tạp chất, hạt không bị vỡ và không bị bệnh
Chỉ tiêu hóa lý
Vỏ: không vượt quá 7 ÷ 9% trọng lượng hạt (nếu từ 10 ÷ 12% thì sẽ không thích hợp cho sản xuất bia)
Cỡ hạt >2,5 mm≥ 85% Cỡ hạt <2,2 mm≥ 1,5%
Độ ẩm ≤ 5%
Hàm lượng protid: 8 ÷ 14% chất khô của hạt Protid càng cao tinh bột càng giảm và do
đó chất hòa tan càng thấp Ngược lại, nếu protid < 8% thì, khi chế biến, bia sẽ ít bọt Hàm lượng protid cao cũng là nguyên nhân gây khó khăn cho chế biến Đại mạch có chất lượng cao nếu P = 9 ÷ 11% chất khô
Glucid (tinh bột): thường chiếm từ 55 ÷ 62% trọng hạt (hoặc từ 63 ÷ 66% trọng lượng chất khô)
Thời gian đường hóa: Là thời gian để đường hóa hoàn toàn cháo malt Malt vàng: 10 ÷
20 phút ở 700C, malt đen 20 ÷ 30 phút ở 700C Thời gian đường hóa cũng cho ta biết tình trạng của hệ enzym thủy phân và mức độ nhuyễn của malt
Hiệu số của hiệu suất chiết khi nghiền mịn và khi nghiền thô tính bằng % để đánh giá mức độ nhuyễn và mức độ hồ hóa của malt khi ươm mầm Giá trị này càng bé thì chất lượng malt càng cao
Trang 5 Cường độ màu: Là màu của dịch đường được biểu thị bằng số ml dung dịch Iot 0,1 N dùng để nhuộm màu 400 ml nước đến màu vàng Trong thực tế sản xuất lấy màu chuẩn cho malt vàng (0,3 ÷ 0,56 ml I2 0,1N trong 1 lít nước) và malt đen (0,7 ÷ 1,3 ml I2 0,1N trong 1 lít nước)
Độ acid: pH đường hóa là 5,5 ÷ 6,5 pH càng tiến về 6,5 thì càng có lợi cho đường hóa
Chất hòa tan trung bình từ 65 ÷ 82% chất khô Chất hòa tan trung bình trên 78% (malt vàng) và trên 75% (malt đen) được xem là malt có chất lượng cao
Hoạt lực260 - 320WK
Độ trong £ 5 EBC
Tốc độ lọcBình thường 45 phút
Độ màu 3,0 - 4,5 EBC
Protein hòa tan 4,0 - 4,7%
Chỉ số Kolbatch 38-43
2.2 Hoa houblon
Nhà máy bia hiện đang sử dụng 2 loại hoa houblon là: Hoa dạng viên được sản xuất từ Đức và hoa dạng cao Hoa viên dung tạo mùi thơm và hoa dạng cao tạo vị đắng và màu
Hình 2.3 Hoa houblon dạng viên Hình 2.4 Hoa houblon dạng cao Hoa viên: Để sử dụng thuận tiện, đỡ tốn kém trong bảo quản và vận chuyển người ta
nghiền nát hoa khô thành dạng bột, sau đó qua máy ép viên để định hình, gói kín những viên houblon này trong các bọc giấy đặc biệt có nạp thêm khí trơ giống như cánh hoa Giá trị chất lượng tính theo α - acid đắng của hoa cánh và hoa viên như nhau, song hoa viên có hiệu quả
sử dụng cao hơn nên sẽ tiết kiệm hơn
Hoa cao: Người ta dùng một số dung môi để trích ly chất đắng trong hoa ra dung môi,
sau đó dùng các biện pháp thích hợp để tách dung môi sẽ thu được dung dịch cao hoa houblon sệt Bằng cách trích ly như vậy sẽ tách được riêng chất đắng trong hoa ra ở dạng đậm đặc, chất lượng chất đắng được bảo quản tốt hơn, đồng thời việc sử dụng khi nấu với dịch đường
sẽ thuận tiện và hiệu quả cao hơn Thông thường giá trị chất đắng trong 1 kg cao hoa bằng 5
-6 kg hoa cánh (hoặc viên), tùy thuộc vào chất lượng cánh hoa và hiệu suất trích ly Sau khi thu hoạch nước cao chất đắng đậm đặc, người ta có thể bổ sung đường glucose vào để tăng độ đậm đặc của cao cho dễ định hình vào các bao bì thích hợp
2.2.1 Mục đích sử dụng
Hoa houblon là nguyên liệu cơ bản, đứng vị trí thứ 2 (sau malt đại mạch) trong công nghệ sản xuất bia
Trang 6Hoa houblon cung cấp vị đắng để cân bằng vị ngọt của đường làm cho bia có vị đắng dịu, hương thơm rất đặc trưng, làm tăng khả năng tạo và giữ bọt, làm tăng độ bền keo và ổn định thành phần sinh học của sản phẩm Hoa bia có các hiệu ứng kháng sinh giúp cho hoạt động của men bia tốt hơn trước các loại vi sinh vật không mong muốn
2.2.2 Thành phần hóa học trung bình
Bảng 2.2 Thành phần hóa học trung bình của hoa houblon
(Theo % chất khô)
2 Tổng chất đắng (α - 4,5, α - 9, γ - 1,5) 15,0
11 Cellulose, lignin, và những chất còn lại 40,4
Trong các phần trên, các hợp chất đắng, tinh dầu phấn hoa và chất chát đóng vai trò quan trọng nhất trong sản xuất bia Ngoài ra, những thành phần khác như tanin, protein, đường khử cũng có ý nghĩa nhất định trong các bước công nghệ
Chất đắng (C 11 H 30 O 35 )
Chất đắng làm cho bia có vị đắng dịu, tạo ra một đặc tính cảm quan rất đặc biệt của bia Khi hòa tan vào dịch đường và tồn tại trong bia, các chất đắng là những hợp chất có hoạt tính sinh học cao, tạo ra sức căng bề mặt giúp cho bia có khả năng giữ bọt rất lâu Với một nồng
độ khá thấp, các chất đắng cũng có khả năng ức chế rất mạnh sự phát triển của vi sinh vật Vì vậy chúng có tính kháng khuẩn rất cao và nhờ đó làm tăng độ bền sinh học của bia thành phẩm
Thành phần của chất đắng trong hoa houblon được phân loại như sau:
Chất đắng (tan trong ete dietyl)
Nhựa mềm (5%)
β - acid đắng (3%)
α - acid đắng
Trang 7Công thức tính lực đắng
Chất chát – tanin (C 25 H 24 O 13 )
Chiếm khoảng 4% trọng lượng hoa, hoa houblon bắt đầu chín thì hàm lượng tanin trong hoa cũng bắt đầu giảm Chúng tồn tại trong hoa như những hạt bụi màu xám, dễ dàng hòa tan trong nước nóng, aceton, ethanol, methanol,…nhưng không hòa tan được trong cồn tuyệt đối, ete và benzol
Tanin có một vai trò nhất định trong quá trình công nghệ sản xuất bia Trong bia thành phẩm chiếm khoảng 0,012 ÷ 0,018 % tanin Tanin giúp cho dịch đường trong nhanh và kết tủa các thành phần protein không bền, làm tăng độ bền vững keo của bia Mặt khác, tanin cũng làm kết tủa cả những phần protein bền, dẫn đến giảm khả năng tạo bọt cho bia Nếu hàm lượng tanin có trong bia vừa phải thì sẽ gây cho bia có vị đắng chát dễ chịu, nhưng nếu cao hơn sẽ gây vị khó chịu do đó cần cho lượng hoa houblon vừa phải tùy hàm lượng tanin có trong hoa
Tinh dầu
Tinh dầu phấn hoa houblon chiếm từ 0,17 ÷ 0,65% trọng lượng hoa Thành phần hóa học của tinh dầu thơm trong hoa houblon rất phức tạp, gồm 103 hợp chất khác nhau Nhóm hợp chất chiếm lượng nhiều nhất là hydratcacbon (75%).Tinh dầu houblon tan yếu trong nước, khó hòa tan trong cồn thấp độ nhưng tan hoàn toàn trong cồn tuyệt đối và este Đa phần cấu tử dễ bay hơi, thậm chí ở nhiệt độ phòng
Tinh dầu hoa ở điều kiện gia nhiệt nhẹ dễ bị oxy hóa, khi đó tác dụng gây mùi sẽ thay đổi nhiều, thậm chí tạo ra mùi không phù hợp cho sản phẩm bia Trong quá trình bảo quản, những hợp chất khác nhau của tinh dầu sẽ bị thủy phân một phần, dẫn đến thay đổi tính chất gây thơm có lợi cho bia
Trong quá trình đun sôi dịch đường với hoa houblon, đại bộ phận những cấu tử gây hương đều bay hơi hết, song một số cấu tử khác lại biến đổi, hình thành những sản phẩm mới bền hương hơn Tồn tại những cấu tử hương bền để hình thành hương thơm houblon cho bia
2.2.3 Kiểm tra hoa houblon
Nhà máy sử dụng hoa dạng cao và viên nên khi mua hoa sẽ kiềm tra về hạn sử dụng, độ ẩm,hàm lượng chất đắng và kiểm tra thêm một số chỉ tiêu về ngoại quan
2.3 Nước
2.3.1 Vai trò của nước trong sản xuất bia
Nước là một trong những nguyên liệu chính để sản xuất bia, chiếm từ 80 ÷ 90% trọng lượng bia thành phẩm
Thành phần hóa học và chất lượng của nước ảnh hưởng trực tiếp đến toàn bộ quá trình sản xuất bia và đặc biệt là chất lượng bia thành phẩm
Nước dùng trong sản xuất bia luôn được kiểm tra và phải thỏa mãn một số chỉ tiêu nhất định trước khi được đưa vào sử dụng, những chỉ tiêu này tùy thuộc vào từng nhà máy
Lực đắng = α - acid đắng + 1/9 β - acid đắng
Trang 8 Ngoài ra nước còn đóng vai trò quan trọng trong các quá trình khác như: làm lạnh, cung cấp cho nồi hơi, vệ sinh cho thiết bị, nhà xưởng,…
2.3.2 Yêu cầu của nước trong sản xuất bia
Có độ cứng từ mềm đến trung bình
Hàm lượng muối cacbonat không quá: 50 mg/l
Hàm lượng muối Mg không quá: 100 mg/l
Hàm lượng muối clorua: 75 ÷ 150 mg/l
Hàm lượng Fe2+ không quá: 0,3 mg/l, Khí NH3:
không có
Các muối có gốc -NO3-, -NO2-: không có
Vi sinh vật không quá: 100 tế bào/1cm3
Hiện nay nhà máy đang sử dụng 2 nguồn nước chính là nước máy và nước giếng, nước dùng để sản xuất bia có xử lý sơ bộ trước Trong tương lai nhà máy đang xây dựng hệ thống
xử lý nước đạt tiêu chuẩn yêu cầu đối với sản xuất bia
2.4 Nấm men
Trong công nghệ sản xuất bia, để lên men dịch đường hoa houblon có hai loại nấm men
được sử dụng là Saccharomyces cerevisiae (lên men nổi) và Sacchromyces carlbergensis (lên men chìm) Ở nước ta thường dùng nấm men Sacchromyces carlbergensis để lên men bia.
Hiện nay nhà máy đang sử dụng chủng nấm men Sacchromyces carlbergensis để lên men
chìm Nấm men phát triển ở tầng sâu của thiết bị, ở nhiệt độ thấp dưới 100C, có khả năng tiêu thụ hoàn toàn đường rafinose, fructose, melibiose,…dễ lắng, dễ lọc tạo điều kiện thu hồi men tái sản xuất, thời gian lên men từ 12 – 17 ngày
Hình 2.5 Hỗn hợp Điatomit và men bia 2.4.1 Mục đích sử dụng nấm men
Nấm men sẽ chuyển hóa đường thu được từ hạt ngũ cốc và tạo ra cồn và cacbon điôxít
(CO2) các quá trình lên men ngày nay đều sử dụng các loại men bia được nuôi cấy và có độ tinh khiết cao Trung bình, hàm lượng cồn trong bia là khoảng 4-6% rượu theo thể tích, mặc
dù nó có thể thấp tới 2% và cao tới 14% trong một số trường hợp nào đó Một số nhà sản xuất bia còn đưa ra loại bia chứa tới 20% cồn
Trang 9Nấm men được sử dụng từ men giống thuần chủng, men được sử dụng dưới dạng men khô, sau đó nhân giống trung gian rồi đưa vào sử dụng trong sản xuất bia
Nhà máy sử dụng nấm men từ 2 nguồn khác nhau:
+ Nấm men được nhân giống từ ống giống, sau đó được nhân lên và đem sử dụng + Nấm men tái sử dụng được thu hồi từ các tank lên men và lưu trữ ở tank men
Đối với bia Sài Gòn nấm men được công ty cung cấp từ đời F3 hay F4 được chứa trong các thùng vận chuyển dến nhà máy bằng xe tải ở nhiệt độ 4-60C, xe vận chuyển phải co1he65 thống lạnh để đảm bảo chất lượng nấm men
Nấm men mua về được bảo quản trong các tank trữ men tốt nhất là ở nhiệt độ 4-60C Vì đây là nhiệt độ thích hợp cho nấm men phát triền và khi cấp vào dịch đường lạnh ờ nhiệt độ
60C thì nấm men không bị sốt nhiệt do chênh lệch nhiệt độ quá cao
Cách thu men:
Tiến hành thu men từ tank lên men về tank men để lưu trữ Trong quá trình lưu trữ, áp suất trong tank phải giữ ở 0,5 – 1 atm, nhiệt độ 00C
Thông thường một đời men giống được sử dụng từ 6 – 10 chu kỳ lên men
2.4.2 Kiểm tra dịch mout trước khi lên men
Bảng 2.3 Các chỉ tiêu của nước mout
Độ chua (ml NaOH 0,1N/ 10 ml nước mout)
0,9 ± 0,1
Men giống Nhân giống trung gian
Lên men mẻ sau
Tách nấm mem
Xử lý làm sạch Lên men bia
Thu hồi nấm men
Trang 10Yêu cầu chất lượng của nấm men trước khi đưa vào lên men
- Màu trắng ngà, trắng sữa
- Mùi thơm đặt trưng
- Độ đặc ≥ 45%
- Tế bào to khỏe, hình dáng đặc trưng Đời men F3- F8
- Nấm men thuần khiết
- Khi đưa vào sản xuất tỷ lệ men chết dưới 2%, tỷ lệ nảy chồi lớn hơn 10% tỉ lệ tế bào chết < 6% Thời kỳ mạnh nhất khi độ đường xuống nhanh nhất có thể trên 80%
- Nấm men khi đưa vào dịch đường để lên men phải đạt được từ 10 – 20 triệu tế bào/ml dịch ống
- Nấm men có khả năng chuyển hóa các đường đôi, đường đơn giản, các peptid, acid amin, giải phóng ra CO2, rượu ethanol và nhiệt
- Men giống không nhiễm vi sinh vật
2.5 Thế liệu
Các nguyên liệu thay thế malt đại mạch chủ yếu chủ yếu là tiểu mạch, thóc (hoặc gạo), ngô,… Các loại thế liệu này được sử dụng ở trạng thái chưa ươm mầm và đưa vào chế biến dưới dạng bột nghiền mịn, phối trộn cùng với bột malt Tỷ lệ thay thế của các nước trung bình hiên nay là 30%, có nơi lên đến 50% hoặc cao hơn Trong các loại thế liệu trên thì các nhà máy bia ở Việt Nam người ta thường sử dụng gạo vì gạo được trồng rất nhiều, chất lượng tương đối ổn định và giá thành không cao lắm Đây là một lợi thế rất lớn trong công nghệ sản xuất bia
2.5.1 Mục đích sử dụng của các nguyên liệu thay thế
Trong sản xuất bia, việc dùng thế liệu thay cho malt tùy thuộc vào điều kiện chủ quan và khách quan, có thể nhằm các mục đích:
Hạ giá thành sản phẩm
Cải thiện một vài tính chất của sản phẩm: mùi vị, thời gian bảo quản
Tạo ra chủng loại bia có mức độ phẩm cấp chất lượng khác nhau
Đáp ứng yêu cầu theo đơn đặt hàng của người tiêu dùng…
2.5.2 Yêu cầu kỹ thuật của nguyên liệu thay thế
- Thế liệu phải dồi dào nguồn glucid (tinh bột), mà từ đó dưới tác dụng của enzym trong
malt, glucid của thế liệu sẽ chuyển thành chất đường hòa tan Vì vậy các loại ngũ cốc thường được chọn làm thế liệu trong sản xuất bia
- Khi sử dụng thế liệu, chất lượng của thế liệu sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng bia (mùi, vị, màu sắc,…) Vì vậy phải quan tâm đến thành phần hóa học của thế liệu
- Tại một số nơi, có thể dùng trực tiếp đường saccharose (từ mía hoặc củ cải) như một thế liệu cho malt, song điều này không khuyến khích
2.5.3 Những thế liệu được sử dụng
Hiện nay nhà máy sử dụng nguyên liệu chính là malt đại mạch được nhập từ Úc và thế liệu là gạo, ngô được thu mua tại địa phương