Luận văn thạc sĩ CTXH " Công tác xã hội đối với trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt từ thực tiễn tỉnh Long An" 2017 của Phan Thị Nguyệt,Viện hàn lâm - Học viện khoa học xã hội Việt Nam, nghiê
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
TRẦN THỊ THANH LOAN
CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐIVỚI TRẺ EM LÀNG CHÀI TẠI XÃ HỒNG TIẾN,
HUYỆN KIẾN XƯƠNG, TỈNH THÁI BÌNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI
HÀ NỘI, 2019
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
TRẦN THỊ THANH LOAN
CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐIVỚI TRẺ EM LÀNG CHÀI TẠI XÃ HỒNG TIẾN,
HUYỆN KIẾN XƯƠNG, TỈNH THÁI BÌNH
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Đề tài do cá nhân tôi nghiên cứu; các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và có nguồn trích dẫn; bố cục, phông chữ của luận văn đúng với quy định và đề tài chƣa
từng đƣợc ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Hà Nội, ngày tháng năm 2019
HỌC VIÊN
Trần Thị Thanh Loan
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1 Chương 1.CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐIVỚI TRẺ EM LÀNG CHÀI 11 1.1 Một sô khái niệm, công cụ nghiên cứu 11
1.2 Lý thuyết sử dụng trong nghiên cứu 26
Chương 2.THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐIVỚI TRẺ EM LÀNG CHÀI XÃ HỒNG TIẾN, HUYỆN KIẾN XƯƠNG, TỈNH THÁI BÌNH 31 2.1 Khái quát về địa bàn nghiên cứu và khác thể nghiên cứu 31
2.2 Thực trạng công tác xã hội đối với trẻ em làng chài tại xã Hồng Tiến huyện Kiến Xương tỉnh Thái Bình 36
2.3 Đánh giá kết quả và hạn chế các hoạt động công tác xã hội đối với trẻ em làng chài tại xã Hồng Tiến huyện Kiến Xương tỉnh Thái Bình 56
2.4 Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến các hoạt động công tác xã hội đối với trẻ em làng chàitại xã Hồng Tiến huyện Kiến Xương tỉnh Thái Bình 59
Chương 3.GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CÔNG TÁC XÃ HỘI VỚI TRẺ EM LÀNG CHÀI CAO BÌNH XÃ HỒNG TIẾN, HUYỆN KIẾN XƯƠNG, TỈNH THÁI BÌNH 67 3.1 Tăng cường hoạt động truyền thông nâng cao nhận thức của gia đình, cộng đồng xã hội và chính trẻ em về quyền trẻ em và vai trò của công tác xã hội trong trợ giúp trẻ em67
3.2 Nâng cao năng lực của đội ngũ làm công tác xã hội đối với trẻ em làng chài tại xã Hồng Tiến huyện Kiến Xương tỉnh Thái Bình 70
3.3 Nâng cao chất lượng các hoạt động trợ giúp trẻ em làng chài tại xã Hồng Tiến huyện Kiến Xương tỉnh Thái Bình 71
3.4 Xây dựng đội ngũ cộng tác viên bảo vệ trẻ em làng chài tại xã Hồng Tiến huyện Kiến Xương tỉnh Thái Bình 75
3.5 Tăng cường phối hợp liên ngành trong việc trợ giúp trẻ em làng chài tại xã Hồng Tiến huyện Kiến Xương tỉnh Thái Bình 75
3.6 Vận động, kết nối nguồn lực trợ giúp trẻ em làng chài tại xã Hồng Tiến huyện Kiến Xương tỉnh Thái Bình 76
KẾT LUẬN 79 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 81
Trang 5DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BVCS&GDTE Bảo vệ chăn sóc và giáo dục trẻ em BVCSTE Bảo vệ chăn sóc trẻ em
LĐTXH Lao động thương binh xã hội
NVCTXH Nhân viên công tác xã hội
Trang 6DANH MỤC BẢNG, BIỂU
Bảng 2.1 Đặc điểm trẻ em làng chài thôn Cao Bình xã Hồng Tiền 35
Bảng 2.2 Các hình thức hoạt động tuyên truyền trẻ em được tham 37
Bảng 2.3 Các nội dung tuyên truyền cho trẻ em làng chài 39
Biểu 2.1 Đánh giá của trẻ về hiệu quả của các hoạt động tuyên truyền 40
Biểu 2.2 Nhu cầu về hình thức, phương pháp tuyên truyền mà trẻ em làng chài mong muốn được tiếp nhận 41
Biểu 2.4.Đánh giá kết quả học tập của trẻ em 43
Biểu 2.5 Tỷ lệ trẻ gặp khó khăn khi làm bài tập ở nhà 43
Biểu 2.6 Mong muốn của trẻ để nâng cao chất lượngError! Bookmark not defined các hoạt động giáo dục Error! Bookmark not defined Biểu 2.3 Các hình thức học kỹ năng sống của trẻ em làng chài Cao Bình 46
Bảng 2.4 Mức độ đi khám/chữa bệnh của trẻ em làng chài 51
Biểu 2.5 Tỷ lệ trẻ em làng chài nhận được một số hỗ trợ y tế trong vài năm trở lại đây 53 Biểu 2.9 Mong muốn của trẻ em làng chài Cao Bình về nhu cầu vui chơi, giải trí 55
Biểu đồ 2.6 Các yếu tố thuộc về trẻ em làng chài Error! Bookmark not defined
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trẻ em là một trong những đối tượng dễ bị tổn thương luôn cần được xã hội chăm sóc và bảo vệ Những mầm non ấy chính là tương lai của đất nước, là hạnh phúc của mỗi gia đình, trẻ em là lớp người kế tục sự nghiệp xây dựng, bảo vệ cho Tổ quốc Trẻ em chưa
có đủ năng lực về kiến thức, suy nghĩ và hành vi, vì vậy rất dễ bị các tác động của bối cảnh môi trường làm ảnh hưởng đến sự phát triển toàn diện của trẻ và gây ra những tổn thương xấu cho các em Khi các em được dạy dỗ, nuôi dưỡng và sống trong môi trường lành mạnh các em sẽ có nhiều cơ hội phát triển đầy đủ cả về mặt kiến thức, kỹ năng vững bước vào đời Đối với những trẻ em sống trong môi trường không lành mạnh thì các em chính là đối tượng đầu tiên dễ bị tổn thương nhất, gánh chịu nhiều thiệt thòi, ảnh hưởng tới sự phát triển toàn diện của trẻ
Theo số liệu của Bộ Lao động Thương binh và xã hội tính đến cuối năm 2018, toàn quốc có trên 26,3 triệu trẻ em, trong đó có trên 3 triệu trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, chiếm khoảng 11% tổng số trẻ em [4] Nhằm nâng cao hiệu quả các hoạt động hỗ trợ đối với trẻ
em có hoàn cảnh đặc biệt Năm 2013, Thủ tướng Chính phủ đã kỹ Quyết định TTg ngày 26/4/2013 phê duyệt đề án "Chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt dựa vào cộng đồng giai đoạn 2013 - 2020", đề án này là cơ sở pháp lý vững chắc cho các hoạt động
647/QĐ-hỗ trợ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt Tuy nhiên, do điều kiện nguồn lực đất nước còn khó khăn, nhiều trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn chưa có điều kiện thực hiện đầy đủ quyền của mình
Thông qua các nghiên cứu cho thấy phần lớn trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt thường sống tại khu vực nông thôn, đặc biệt là các xã nghèo chưa được tiếp cận các dịch vụ xã hội, trẻ em nơi đây chưa được bảo vệ và chăm sóc đầy đủ Trong đó, Làng Chài thôn Cao Bình
xã Hồng Tiến huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình thuộc xã vùng sâu xùng xa nhất của huyện, các hộ dân sống bằng nghề chài lưới và sản xuất nông nghiệp Cái nghèo, cái khó quẩn quanh, bủa vây người dân nơi đây năm này qua năm khác Vì cuộc sống mưu sinh nay đây mai đó nên nhiều hộ dân làng chài đưa cả con cái ra khơi bênh đênh trên biển, một
số hộ gửi con lại trên bờ để ra khơi mưu sinh nên tình trạng trẻ em không được tiếp cận các
Trang 8dịch vụ xã hội, tiếp cận các thông tin về quyền lợi và việc chăm sóc bảo vệ trẻ em, không
có không gian vui chơi giải trí, chưa được bảo vệ và chăm sóc, chưa được giáo dục văn hóa, giáo dục kỹ năng sống, hỗ trợ hướng nghiệp dạy nghề, hỗ trợ tham vấn tâm lý đang là những vấn đề nhức nhối nơi đây Những năm qua, chính quyền địa phương cũng đã triển khai các đường lối chủ trương, chính sách của nhà nước, huy động các nguồn lực trợ giúp các trẻ em làng chài và gia đình ổn định, phát triển cuộc sống Tuy nhiên do còn nhiều hạn chế từ điều kiện kinh tế xã hội nên quá trình thực hiện công tác chăm sóc, giáo dục trẻ, giúp trẻ tiếp cận các dịch vụ xã hội có cơ hội hòa nhập cuộc sống vẫn còn nhiều bất cập Đồng thời giáo dục và tuyên truyền nâng cao nhận thức đối với các bậc phụ huynh trong bảo vệ và chăm sóc trẻ, trang bị cho các em các kỹ năng sống, kỹ năng giao tiếp, giáo dục hướng nghiệp, vui chơi giải trí, tiếp cận giáo dục, dịch vụ y tế cũng đã được quan tâm tuy nhiên để mô hình phát huy đạt hiệu quả cần có sự tham gia hơn nữa của CTXH
Với mong muốn đóng góp một phần khả năng vào nâng cao hiệu quả hoạt động công tác xã hội trong việc chăm sóc, giáo dục trẻ em làng chài, giúp các em được tiếp cận với các dịch vụ xã hội, đảm bảo sự phát triển toàn diện cho các em Do vậy học viên chọn
đề tài: “Công tác xã hội đối với trẻ em làng chài tại xã Hồng Tiến, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình” làm đề tài luận văn tốt nghiệp thạc sĩ của mình
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
2.1 Nghiên cứu ngoài nước
Dự án“ Tăng cường khả năng hòa nhập của trẻ em nhập cư” của UNICEF, kết
quả nghiên cứu mới nhất được UNICEF công bố ngày 21.10.2010 cho thấy khả năng hòa nhập xã hội của trẻ em và thanh niên các gia đình nhập cư là một trong những vấn đề mấu chốt đối với các nước phát triển trong suốt những năm sắp tới
“Bảo vệ cho trẻ em ở các văn hóa khác nhau ở Djiobouti” (Protection for children
in especially difficult circumstances) nghiên cứu này của UNICEF [33] đãthực hiện đánh giá toàn diện về vấn đề bảo vệ trẻ em để tiếp tục thu thập dữ liệu các vấn đề trên, cũng như
có khả năng phát hiện thêm các vấn đề ảnh hưởng tiêu cực đến cuộc sống của trẻ em Đồng thờichỉ ra những hoạt động cụ thể trong việc cung cấp dịch vụ bảo vệ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt và hoạt động này là một điều mới mẻ ở Djibouti như: Đánh giá pháp luật;
Trang 9tăng cường phối hợp, xây dựng quan hệ đối tác và liên minh; Giám sát và đánh giá;tăng cường năng lực cho cán bộ xã hội, cảnh sát, nhân viên tư pháp và tổ chức phi chính phủ giải quyết các vấn đề; vận động xã hội và nghiên cứu
Báo cáo tóm tắt nghiên cứu “Hỗ trợ trẻ em có hoàn cảnh khó khăn trong giáo dục ở Anh” (Support for Disadvantaged Children in Education in England) của nhóm tác giả Robert Long và Paul Bolton [23] (2015) đưa ra các biện pháp nhằm cải thiện kết quả giáo dục cho trẻ em có hoàn cảnh khó khăn Từ đó hình thành một trọng tâm quan trọng của Chính phủ và Ủy ban Giáo dục, giúp thu hẹp khoảng cách giữa trẻ em và thanh thiếu niên
có hoàn cảnh khó khăn với nhóm trẻ em bình thường Qua đó đã giúp cải thiện trình độ của trẻ em có hoàn cảnh khó khăn thông qua việc làm rõ vai trò của chính quyền địa phương trong giáo dục và chăm sóc trẻ em như thế nào, làm rõ hơnmột số thông tin về học sinh các cấp
2.1 Nghiên cứu trong nước
Thời gian qua, đã có rất nhiều công trình, đề tài, bài viết khác nhau hướng đến đối tượng trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt Tình hình trẻ em tại Việt Nam luôn luôn được cập nhật thường xuyên và liên tục Những nghiên cứu về cung cấp các dịch vụ xã hội nhằm hỗ trợ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt cũng được nhìn nhận dưới nhiều góc độ khác nhau, điều
đó cho thấy rằng trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt là những đối tượng được nhiều sự quan tâm, chăm sóc của toàn xã hội
“Báo cáo tình hình trẻ em ở Việt Nam năm 2010”của UNICEF [1] tiếp cận dựa
trên quyền con người và xem xét tình hình trẻ em dựa trên quan điểm các nguyên tắc chính
về quyền con người như bình đẳng, không phân biệt đối xử và trách nhiệm giải trình Kết quả nghiên cứu đã làm rõ ở các tỉnh thành trên cả nước đã có những cơ sở cung cấp dịch
vụ công lập và ngoài công lập với nhiều dịch vụ đa dạng như chăm sóc tập trung, chăm sóc tại nhà hay các hỗ trợ không chính thức khác Tình trạng trẻ em giàu hay nghèo tại khu vực thành thị hay nông thôn, dân tộc,tỷ lệ trẻ em trai và gái ở Việt Nam hiện nay đang thiếu sự chăm sóc của bố mẹ có nhiều diễn biến phức tạp Những hạn chế mà báo cáo đã chỉ ra trong việc bảo vệ và chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt ở Việt Nam hiện nay đó là: Chưa có hệ thống can thiệp sớm, chuyển tuyến các dịch vụ chuyên sâu; chưa có hệ thống
Trang 10bảo trợ trẻ em hoạt động hiệu quả; thiếu cơ chế xác định trẻ em dễ bị tổn thương;ít các chương trình hỗ trợ ở trường học và cộng đồng, các nguồn lực hỗ trợ cho trẻ còn hạn hẹp không bền vững
Nghiên cứu “Tình hình trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt và các dự báo đến năm2020”
của tác giả Lê Thu Hà [11],đã phản ánh thực trạng trẻ em nghèo có hoàn cảnh ĐBKK ở Việt Nam đến năm 2010, cơ hội thách thức và các dự báo đến năm 2020 Qua đó, có thể thấy nhóm trẻ em nghèo có hoàn cảnh ĐBKK là nhóm trẻ em cần nhiều sự hỗ trợ để hòa nhập cuộc sống.Cần sự hạn chế, giảm thiểu gia tăng về số lượng trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, cộng đồng xã hội cần ý thức rõ ràng về tầm quan trọng của việc chăm sóc, bảo vệ, giáo dục trẻ em trong giai đoạn mới
Bài viết “Chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn dựa vào cộng đồng –
những cơ sở xã hội và thách thức” [25] của Nhóm tác giả Nguyễn Hồng Thái, Phạm Đỗ
Nhật Thắng Nghiên cứu hoạt động về sự chuyển đổi từ cách tiếp cận truyền thống sang cách tiếp cận dựa trên quyền trong hoạt động chăm sóc thay thế trẻ em đặc biệt khó khăn dựa vào cộng đồng Bài viết chỉ ra những khó khăn và thách thức khi việc thực hiện quyền trẻ em và chăm sóc trẻ em đặc biệt khó khăn tại trung tâm bảo trợ xã hội, đồng thời cũng đưa ra chiến lược chăm sóc trẻ em đặc biệt khó khăn dựa vào cộng đồng
Nguyễn Thu Trang [30]Mô hình nhà xã hội chăm sóc trẻ em có hoàn cảnhđặc biệt khó khăn cấp xã, nền tảng triết lý và những bài học rút ra (2011), Đại học Khoa học Xã hội
& Nhân Văn,là một mô hình chăm sóc thay thế cho trẻ em dựa vào cộng đồng theo xu hướng tiến bộ của thế giới Mô hình này được xây dựng dựa trên những nền tảng triết lý vững chắc và thể hiện những ưu, nhược điểm riêng biệt của mình trong bối cảnh kinh tế, văn hóa, xã hội Việt Nam
Bộ sách chuyên khảo “Khung kỹ thuật phát triển nghề công tác xã hội (Chăm sóc,
bảo vệ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt)” của tác giả Nguyễn Hải Hữu [13] (2009) đã cung
cấp những kiến thức chuyên sâu và khung chiến lược chuyên nghiệp hóa nghề CTXH ở Việt Nam Tài liệu cũng đề cập đến những tiêu chuẩn bảo vệ, chăm sóc trẻ em và tiêu chuẩn nhân viên CTXH trong trung tâm bảo trợ và chăm sóc trẻ em
Trang 11Ngoài ra, bài viết “Kinh nghiệm của một số nước về hệ thống bảo vệ trẻ em” [14]
tác giả Nguyễn Hải Hữu đã đưa ra những dẫn chứng ở các nước như Australia, Thụy Điển
và Hồng Kông trong việc hình thành hệ thống bảo vệ trẻ em liên quan đến rất nhiều những quy định của pháp luật và chính sách hiện hành tại các quốc gia đó Bài viết đưa ra khái niệm “tư pháp thân thiện với trẻ em” Khái niệm này được hiểu là khi trẻ em phạm pháp thì các cơ quan chức năng sẽ có cách khai thác thông tin, xét hỏi và xử lý tại tòa phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý của trẻ ở từng độ tuổi Đảm bảo không gây tổn hại đến trẻ, đặc biệt là với các trường hợp trẻ em là nạn nhân của bạo lực và xâm hại tình dục
Luận án Tiến sĩ luật học “Quyền trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt ở Việt Nam hiện
nay” của tác giả Tăng Thị Thu Trang (2016) Luận án đã nghiên cứu một cách có hệ thống
và toàn diện về quyền trẻ em và Trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt; phân tích thực trạng Trẻ em
có hoàn cảnh đặc biệt ở Việt Nam hiện nay và đánh giá việc đảm bảo quyền Trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt Từ đó, tác giả đã đưa ra các quan điểm và giải pháp đảm bảo quyền Trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt ở Việt Nam hiện nay nhất là giải pháp hoàn thiện hệ thống pháp luật về quyền Trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt[31]
Đề tài “Công tác xã hội trong việc hỗ trợ học sinh có hoàn cảnh khó khăn từ thực
tiễn huyện Tam Dương tỉnh Vĩnh Phúc” của tác giả Nguyễn Hưng (2015) Đề tài đã phân
tích thực trạng thực hiện công tác xã hội đối với học sinh có hoàn cảnh khó khăn tại huyện Tam Dương tỉnh Vĩnh Phúc và đề xuất các giải pháp hoàn thiện công tác xã hội đối với học sinh có hoàn cảnh khó khăn [15]
Luận văn thạc sĩ CTXH " Công tác xã hội đối với trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt từ
thực tiễn tỉnh Long An" (2017) của Phan Thị Nguyệt,Viện hàn lâm - Học viện khoa học xã
hội Việt Nam, nghiên cứu đã xác định được thực trạng và những yếu tố cơ bản ảnh hưởng đến hoạt động CTXH đối với trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt trên địa bàn tỉnh Long An và đưa ra một số định hướng, giải pháp trong hoạt động CTXH đối với trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt hiệu quả hơn, giúp các em vượt qua những khó khăn, vươn lên trong cuộc sống, hòa nhập xãhội
Đề tài “Công tác xã hội với trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt từ thực tiễn Trung tâm
Bảo trợ xã hội trên địa bàn tỉnh Bình Định” [21] của tác giả Võ Thị Diệu Quế (2014) Đề
Trang 12tài đã phân tích những đặc điểm cũng như những nhu cầu của trẻ em có HCĐB, những khó khăn, hạn chế ảnh hưởng đến hoạt động CTXH củatrẻ em có HCĐB tại các trung tâm bảo trợ xã hội trên địa bàn tỉnh Bình Định, đưa ra một số giải pháp nâng cao hoạt động CTXH đối với trẻ em có HCĐB giúp các em hòa nhập cộng đồng
Kết quả tổng quan tình hình nghiên cứu trên thế giới và ở Việt Nam đều mới chỉ tập trung vàonhững thực trạng và dịch vụ cung cấp cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt Có một số nghiên cứu cũng đã đánh giá được ưu điểm và hạn chế của công tác bảo vệ và chăm sóc trẻ em nói chung Có thể khẳng định, các công trình nghiên cứu về trẻ em ở nước
ta là rất phong phú nhiều mô hình CTXH khẳng định tính ưu việt, thừa nhận những thành tựu nhất định về chủ trương của Đảng và Nhà nước mang lại cho đối tượng song cũng còn không ít ý kiến nhận thấy hiệu quả của mô hình còn rất hạn chế, thiếu tính bền vững Tuy nhiên chưa có nghiên cứu sâu nào về công tác xã hội đối với trẻ em làng chài tại tỉnh Thái Bình Do vậy học viên chọn đề tài công tác xã hội đối với trẻ em làng chài tại xã Hồng Tiến Huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình vì ngoài việc kế thừa, chọn lọc từ các thành tựu
đã có, đề tài đi sâu vào việc tìm hiểu các hoạt động công tác xã hội đối với trẻ em làng chài
để từ đó đánh giá các hoạt động công tác xã hội, các yếu tố ảnh hưởng đến các hoạt động công tác xã hội tại làng chài và đưa ra được những định hướng giải pháp về trợ giúp góp phần nâng cao hiệu quả CTXH đối với trẻ em làng chài tại xã Hồng Tiến, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình
3.Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu những vấn đề lý luận về công tác xã hội đối với trẻ em làng chài; phân tích thực trạng công tác xã hội đối với trẻ em làng chài tại xã Hồng Tiến, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình và các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động công tác xã hội đối với trẻ
em làng chài Từ đó đưa ra các giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả công tác xã hội đối với trẻ em ở làng chài tại xã Hồng Tiến, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu những vấn đề lý luận về trẻ em, công tác xã hội đối với trẻ em làng chài
Trang 13- Phân tích thực trạng công tác xã hội và các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động công tác xã hội đối với trẻ em làng chài tại xã Hồng Tiến, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình
- Đề xuất những giải pháp pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động CTXH đối với trẻ em làng chài tại xã Hồng Tiến, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Công tác xã hội đối với trẻ em làng chài tại xã Hồng Tiến, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình
4.2 Khách thể nghiên cứu
Trẻ em thuộc làng chài, cán bộ TBXH, nhân viên CTXH, các hộ dân làng chài, nhà trường Trong đó, nghiên cứu với 100 trẻ em làng chài độ tuổi từ 7 đến dưới 16 tuổi, 5 nhân viên CTXH, 2 cán bộ lãnh đạo xã, 10 hộ dân làng chài, 3 cán bộ, giáo viên nhà trường
4.3 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi không gian: Đề tài được thực hiện tại Làng chài thôn Cao Bình, xã Hồng
Tiến, Huyện Kiến Xương, Tỉnh Thái Bình
Phạm vi thời gian: Các hoạt động công tác xã hội với trẻ em làng chài thôn Cao
Bình xã Hồng tiến diễn ra trong giai đoạn từ tháng 2 năm 2019 đến tháng 8 năm 2019
Phạm vi nội dung: Công tác xã hội đối với trẻ em là một nội dung khá rộng Tuy
nhiên trong phạm vi nghiên cứu của luận văn tôi chỉ nghiên cứu các hoạt động công tác xã hội bao gồm: Hoạt độngtuyên truyền nâng cao nhận thức; hoạt động hỗ trợ tiếp cận dịch
vụ chăm sóc sức khỏe; hoạt động hỗ trợ giáo dục, vui chơi giải trí cho trẻ em làng chài tại
xã Hồng Tiến huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp luận
Luận văn kết hợp giữa nghiên cứu lý thuyết và nghiên cứu thực tế với cách tiếp cận
đa ngành, liên ngành dưới góc độ của công tác xã hội và khoa học xã hội trong việc hỗ trợ trẻ em làng chài
Trang 14- Phương pháp duy vật - biện chứng: Nghiên cứu về hoạt động công tác xã hội
trong hỗ trợ trẻ em làng chài phải căn cứ vào các yếu tố thực tiễn khách quan về cơ chế chính sách của nhà nước, các khách thể tham gia vào hoạt động cung cấp dịch vụ công tác
xã hội và đối tượng hưởng lợi là trẻ em (trẻ em làng chài), đồng thời xem xét các vấn đề trong mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau, vận động và phát triển
- Phương pháp hệ thống – cấu trúc: Hoạt động công tác xã hội trong hỗ trợ trẻ em làng chài diễn ra với sự tác động của nhiều yếu tố khác nhau, có yếu tố thuộc về nhà quản
lý, có yếu tố thuộc về nhân viên cung cấp dịch vụ, có yếu tố thuộc về môi trường xã hội Chính vì vậy, cần nghiên cứu hoạt động công tác xã hội trong hỗ trợ trẻ em làng chàitrong các mối quan hệ tương tác khác nhau
- Phương pháp duy vật - lịch sử: Xem xét hoạt động công tác xã hội trong hỗ trợ trẻ
em làng chài Cao Bình gắn với điều kiện phát triển nghề công tác xã hội ở Việt Nam và nhu cầu của xã hội, trong bối cảnh kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
5.2 Phương pháp nghiên cứu
a Phương pháp phân tích tài liệu
Mục đích: Nhằm hệ thống hóa cơ sở lý luận và tổng quan của vấn đề nghiên cứu trên cơ sở phân tích và tổng hợp các tài liệu có liên quan đến đề tài, xác định khái niệm công cụ nghiên cứu hoạt động công tác xã hội trong hỗ trợ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt
Nội dung: Dựa vào thông tin trong tài liệu có liên quan đến vấn đề hoạt động công tác xã hội trong hỗ trợ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt đã được công bố trong các khoảng thời gian khác nhau
Các bước thực hiện: Thu thập, phân loại sơ bộ tài liệu; Phân tích tài liệu; Đọc tổng quát; Thực hiện tóm tắt lược thuật; Đọc kĩ và ghi chép; Báo cáo tổng hợp
Trang 15Mục đích: Lấy ý kiến cán bộ làm công tác quản lý ở địa phương, nhân viên công tác xã hội và trẻ em tại làng chài, hộ dân làng chài, nhà trường, khai thác chi tiết hơn về những hiểu biết của các khách thể nghiên cứu về hoạt động công tác xã hội trong hỗ trợ trẻ
em làng chài
Nội dung: Phỏng vấn các cán bộ làm công tác quản lý ở địa phương, nhân viên công tác xã hội về cách thức tổ chức triển khai các hoạt động công tác xã hội với trẻ làng chài; việc bảo vệ và chăm sóc trẻ em, sự hài lòng của trẻ em làng chài về các hoạt động
hỗ trợ đó
Nguyên tắc: Phỏng vấn được tiến hành trong không khí thoải mái, cởi mở và tin cậy Khách thể được trả lời tự do dựa trên những câu hỏi mở, gợi ý Trong quá trình phỏng vấn, người phỏng vấn có thể đưa ra những câu hỏi dưới những dạng khác nhau để
có thể kiểm tra độ chính xác của các câu trả lời cũng như làm sáng tỏ hơn những thông tin chưa rõ
- Các bước tiến hành: Lập kế hoạch phỏng vấn; Chuẩn bị câu hỏi phỏng vấn; Thực
hiện phỏng vấn
c Phương pháp điều tra b ng bảng h i
Về số lượng: 100 trẻ em thuộc làng chài xã Hồng Tiến huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình từ 07 đến dưới 16 tuổi
Về phương pháp chọn mẫu khảo sát
Mục đích: Thu thập những thông tin về nhận thức, hiểu biết, thái độ, nhu cầu, các hoạt động cụ thể của những người tham gia hoạt động công tác xã hội trong hỗ trợ trẻ em làng chài Thu thập thông tin về kết quả thực hiện các dịch vụ đối với trẻ em làng chài, việc bảo vệ và chăm sóc trẻ em tại cơ sở
Các bước tiến hành: Xây dựng bảng, biểu điều tra; xây dựng phiếu khảo sát với các thông số, các chỉ tiêu cần làm; chọn mẫu khảo sát và tổ chức khảo sát; xử lý phiếu khảo sát; kiểm tra kết quả nghiên cứu
Phân tích thống kê mô tả: Các chỉ số được dùng trong phân tích thống kê mô tả gồm:
Điểm trung bình được dùng để tính điểm đạt được của từng nhóm tiêu chí để phục vụ cho
phân tích, đánh giá; tỷ lệ phần trăm các phương án lựa chọn cho từng ý kiến
Trang 166 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
Ý nghĩa lý luận: Nghiên cứu làm sáng tỏ thêm cơ sở lý luận về công tác xã hội đối
với trẻ em làng chài, cách thức hoạt động của NVCTXH trong việc triển khai hoạt động cung cấp dịch vụ cho trẻ em làng chài Đánh giá có hệ thống và khái quát thực trạng CTXH đối với trẻ em làng chài tại xã Hồng Tiến, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình Đề xuất những quan điểm và giải pháp cơ bản góp phần hoàn thiện CTXH đối với trẻ em làng chài
Ý nghĩa thực tiễn: Đối với cơ quan hoạch định chính sách: Kết quả nghiên cứu của
đề tài sẽ góp phần giúp các nhà chuyên môn xây dựng, bổ sung, hoàn thiện các chính sách, chương trình hoạt động có hiệu quả trong việc giúp trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt nói chung
và trẻ em làng chài nói riêng
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài mở đầu, kết luận và khuyến nghị, danh mục tài liệu tham khảo, các phụ lục, luận văn có 3 chương sau đây:
Chương 1: Cơ sở lý luận về công tác xã hội đối với trẻ em làng chài
Chương 2: Thực trạng công tác xã hội đối với trẻ em làng chài tại xã Hồng Tiến, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình
Chương 3: Các biện pháp nâng cao hiệu quả hoạt động công tác xã hội đối với trẻ làng chài tại xã Hồng Tiến huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình
Trang 17Xét về góc độ phát triển, trẻ em là “những người chưa trưởng thành, còn non
nớt về thể ch t và trí tuệ, dễ bị tổn thương, cần được bảo vệ và chăm sóc đặc biệt, kể
cả sự bảo vệ thích hợp về mặt pháp lý trước cũng như sau khi ra đời” theo Nguyễn
Hiệp Thương [29] Về vị thế xã hội, trẻ em là một nhóm thành viên xã hội ngày càng
có khả năng hội nhập xã hội với tư cách là những chủ thể tích cực, có ý thức, nhưng cũng là đối tượng cần được gia đình và xã hội quan tâm bảo vệ, chăm sóc, giáo dục
Theo Điều 1, Trong phạm vi Công ước của Liên hợp quốc về quyền trẻ em
(CRC): “Trẻ em có nghĩa là mọi người dưới 18 tuổi, trừ trường hợp luật pháp áp dụng
với trẻ em đó có quy định tuổi thành niên sớm hơn” [36]
Theo Luật số 28/2018/QH14 ngày 15 tháng 6 năm 2018 của Quốc hội sửa đổi,
bổ sung một số điều của Luật Trẻ em 2016 quy định “Trẻ em là người dưới 16 tuổi”
[20]
Bên cạnh đó, ở Việt Nam, thuật ngữ về trẻ em được quy định trong rất nhiều các luật khác như Luật phổ cập giáo dục trung học, Bộ luật hình sự, Bộ luật Lao động, Bộ luật dân sự, quốc tịch, Luật hôn nhân và gia đình Tuy nhiên, vẫn chưa có sự thống nhất về độ tuổi trẻ em trong các văn bản luật nêu trên
Trong phạm vi của đề tài, tác giả sử dụng khái niệm trẻ em theo Luật trẻ em
năm 2016: “Trẻ em là người dưới 16 tuổi”
1.1.1.2 Khái niệm trẻ em làng chài
Trang 18Trẻ em làng chài là người dưới 16 tuổi được sinh ra trong các gia đình có bố mẹ làm nghề chài lưới đánh bắt cá trên các con sông và ngoài biển khơi
Khi còn nhỏ tuổi các em đa phần phụ thuộc vào hoạt động kiếm sống của cha
mẹ, suốt ngày lênh đênh trên thuyền nay đây, mai đó chài lưới, đánh bắt cá trên các con sông Khi sống trên thuyền nhiều em phải tự lập khá sớm và ít được sự chăm sóc của cha mẹ như những trẻ em bình thường khác
1.1.1.3 Đặc điểm t m lý và nhu cầu của trẻ em làng chài
Những khó khăn trong đời sống của trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt nói chung và trẻ em làng chài nói riêng rất dễ dẫn đến những nguy hại về tâm lý và sự hình thành nhân cách của trẻ Trẻ sẽ bị chi phối lẫn nhau trong mối quan hệ biện chứng cả về nhận thức và hành vi, điều đó đều nằm trong phạm vi tác động của môi trường xung quanh,
sự tương tác từ xã hội mà trẻ tiếp xúc hằng ngày Đối với trẻ em làng chài do đặc điểm
từ môi trường sống, sự nhận thức của trẻ nên cũng có một số đặc điểm về tâm lý tương đồng với trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt như:
Trẻ em làng chài từ nhỏ đã sớm theo cha mẹ bươn chải trên sông, nay đây mai
đó, thường thiếu hụt về thể chất; tinh thần, điều kiện sinh hoạt, vui chơi giải trí dẫn đến trẻ em làng chài thường gặp khó khăn cản trở trong học tập, sinh hoạt, giao tiếp xã hội, các kỹ năng ứng xử, tự bảo vệ bảo thân Do đó nhóm trẻ em này cần được xã hội
và gia đình yêu thương, chăm sóc nhiều hơn, các em cần được hỗ trợ các mặt về xã hội, văn hóa, giải trí như tuyên truyền về nhận thức, chăm sóc sức khỏe, tư vấn tham vấn tâm lý, khám chữa bệnh, giáo dục kỹ năng sống, định hướng nghề và dạy nghề để các
em có thể hòa nhập và ổn định cuộc sống
Do trẻ em làng chài không được sống và lớn lên trong điều kiện bình thường như các trẻ em khác mà chủ yếu lúc còn nhỏ sống và tiếp xúc với môi trường sông nước nên khi trở về cuộc sống trên bờ thường nhút nhát ít tiếp xúc với người lạ, hoài nghi, thiếu tin tưởng, mặc cảm tự ti với bản thân và hoàn cảnh gia đình Một số tâm trạng thường gặp khác như: Trẻ lo lắng sợ sệt, có thể ngồi yên một chỗ suốt ngày, không ham thích tham gia các hoạt động vui chơi nào đó, trẻ buồn lo lắng thường khó tập trung tư tưởng làm ảnh hưởng đến qua trình học tập cũng như giao tiếp xã hội Do bố mẹ đi làm xa không có
Trang 19nhiều thời gian ở nhà chăm sóc con, có những trẻ từ 10 tuổi đã phải sống tự lập ở nhà tự
đi học và lo mọi sinh hoạt cho bản thân nên trẻ cũng có nhiều khả năng bị quấy rối tình dục từ những thành phấn xấu xung quang Có nhiều trường hợp trẻ em khi ở nhà với ông
bà, cô chú hoặc tự lập một mình, lúc ốm đau cũng không được chăm sóc một cách đầy
đủ mà chỉ được chữa trị bằng các bài thuốc dân gian Do sự thiếu quan tâm, chăm sóc từ gia đình nên trẻ em làng chài thường bị ức chế, bi quan, chán nản, tự ti hay cáu gắt, nóng nảy Những lúc như thế các em cần sự động viên chia sẻ, sự đồng cảm từ cộng đồng, nhà trường, NVCTXH và cần được tuyên truyền nâng cao nhận thức, được chăm sóc, hỗ trợ
về giáo dục, học các kỹ năng tự bảo vệ bản thân, kỹ năng sống, hỗ trợ y tế, hỗ trợ tâm lý
và để vươn lên trong cuộc sống
Ngoài ra trẻ cũng cần được có những không gian, điều kiện để được vui chơi giải trí lành mạnh giúp nâng cao thể chất, tinh thần và tăng khả năng giao tiếp đối với môi trường xung quanh
1.1.2 Công tác xã hội đối với trẻ em làng chài
- Khái niệm công tác xã hội
Có nhiều khái niệm vể CTXH, nhưng trong luận văn này Học viên sử dụng khái niệm Công tác xã hội là một nghề, một hoạt động chuyên nghiệp nhằm trợ giúp các cá nhân, gia đình và cộng đồng nâng cao năng lực đáp ứng nhu cầu và tăng cường chức năng xã hội, đồng thời thúc đẩy môi trường xã hội về chính sách, nguồn lực và dịch vụ nhằm giúp cá nhân, gia đình và cộng đồng giải quyết và phòng ngừa các vấn
đề xã hội góp phần đảm bảo an sinh xã hội (ASXH) (Bùi Thị Xu n Mai, 2010)
- Khái niệm công tác xã hội đối với trẻ em
Công tác xã hội với trẻ em là các hoạt động chuyên nghiệp nhằm trợ giúp trẻ
em, gia đình trẻ thông qua việc đáp ứng nhu cầu và tăng cường chức năng xã hội của trẻ và gia đình đồng thời thúc đẩy việc cung cấp các dịch vụ, cải thiện môi trường xã hội giúp trẻ phát triển tốt nhất về thể chất, tinh thần và mọi mặt xã hội
- Khái niệm công tác xã hội đối với trẻ em làng chài
Từ các khái niệm trên, tác giả luận văn đưa ra khái niệm công tác xã hội đối với trẻ em làng chài như sau: Công tác xã hội đối với trẻ em làng chài là các hoạt động
Trang 20chuyên nghiệp nhằm trợ giúp trẻ em làng chài, gia đình trẻ thông qua việc đáp ứng nhu cầu và tăng cường chức năng xã hội của trẻ và gia đình đồng thời thúc đẩy việc cung cấp các dịch vụ, cải thiện môi trường xã hội giúp trẻ em làng chài phát triển tốt nhất về thể chất, tinh thần và xã hội
1.1.3 Nguyên tắc hoạt động công tác xã hội đối với trẻ em
Nguyên tắc thứ nh t, luôn lấy trẻ làm trọng tâm: Khi làm việc với trẻ thì nhân
viên CTXH cần đặt niềm tin vào trẻ, chấp nhận tất cả các quan điểm, hành vi, suy nghĩ của trẻ mà không được phán xét, lên án hay chỉ trích những lỗi lầm của trẻ Chính điều này sẽ tạo được lòng tin từ trẻ đối với nhân viên CTXH, qua đó thúc đẩy sự hợp tác và chia sẻ từ đứa trẻ Nhân viên CTXH cần phải hiểu rõ nhu cầu thực sự của trẻ em là gì, cần quan tâm đến trẻ em trong mọi giai đoạn và từng bước can thiệp Không phải thân chủ là một đứa trẻ thì Nhân viên CTXH không lắng nghe những gì trẻ nói, tin vào những gì trẻ làm mà cứ cố gắng hiểu trẻ thông qua gia đình hoặc những người nuôi trẻ
để đưa ra các hoạt động trợ giúp không phù hợp và đúng nhu cầu của trẻ
Nguyên tắc thứ hai, cố gắng hiểu thế giới của trẻ: Thế giới của trẻ rất đơn giản
và đầy màu sắc, còn với người lớn nó rất phức tạp và khó hiểu Đấy cũng là lý do tại sao khi làm việc với trẻ nhân viên công tác xã hội cần phải lắng nghe từ trẻ, cảm nhận bằng trái tim thì mới có thể hiểu được ước mơ và cảm xúc từ chính đứa trẻ ấy
Nguyên tắc thứ ba, Kêu gọi sự tham gia tích cực của trẻ và gia đình trẻ: Trẻ
được đưa ra ý kiến, được quyền quyết định và lựa chọn các hoạt động, tôn trọng quyền
tự quyết của trẻ, không áp đặt mà chỉ đóng vai trò người xúc tác, định hướng, khích lệ trẻ có niềm tin để tự giải quyết các vấn đề Khi xây dựng kế hoạch can thiệp và các hoạt động trợ giúp trẻ cần có sự tham gia của chính bản thân các em
Trong hoạt động trợ giúp trẻ giải quyết các vấn đề gia đình hoặc người nhận nuôi trẻ đóng một vai trò rất quan trọng Chính vì vậy mà nhân viên công tác xã hội cần phải làm việc để hiểu rõ về trẻ và có một nguồn thông tin chính xác hơn về trẻ cũng như nguyên nhân các vấn đề mà trẻ đang gặp phải
Nguyên tắc thứ tư, đảm bảo bí mật vì lợi ích nhất của trẻ: Mọi thông tin liên
quan đến trẻ nhân viên công tác xã hội cần giữ bí mật tuyệt đối và không được tiết lộ
Trang 21nếu không được sự cho phép của trẻ Nhân viên công tác xã hội cũng cần cho trẻ biết những quyền lợi này của trẻ
Đảm bảo sự bình đẳng và công băng cho trẻ em: Một trong mục tiêu quan trọng của CTXH với trẻ em là tạo sự công bằng và bình đẳng xã hội nhất là đối với trẻ em khi mà họ thiếu nhiều điều kiện để thực hiện của mình Khi thực hiện hoạt động biện
hộ, nhân viên CTXH cần coi nguyên tắc này là kim chỉ nam cho hành động để hướng tới bảo vệ quyền lợi của trẻ và gia đình trẻ, giúp họ tiếp nhận được các nguồn lực mà
họ cần được hưởng
1.1.4 Các hoạt động công tác xã hội đối với trẻ em làng chài
1.1.4.1 Hoạt động truyền thông n ng cao nhận thức đối với trẻ em
Truyền thông nhằm thay đổi hành vi và nhận thức đóng một vai trò rất quan trọng của người NVXH khi làm việc với bất kỳ đối tượng nào, đóng vai trò không thể thiếu trong việc tuyên truyền, vận động, chuyển đổi hành vi của đối tượng và cộng đồng để thực hiện tốt việc trợ giúp và hỗ trợ trẻ em làng chài
Cũng như việc giáo dục, vai trò truyền thông cũng đòi hỏi người NVXH phải có những kiến thức cơ bản, có đủ những kỹ năng cần thiết như: kỹ năng hiểu vấn đề; kỹ năng lắng nghe; kỹ năng quan sát; truyền đạt và động viên; thuyết phục chỉ có năng lực và sự nhiệt thành để thay đổi nhận thức, hành vi và hành động của đối tượng, cộng đồng xã hội Đồng thời, NVXH cũng cần thay đổi chính suy nghĩ của trẻ em làng chài
về bản thân trẻ, coi trọng bản thân và sống có ích hơn cho gia đình xã hội, không tự ti mặc cảm hoặc ỷ lại mà phải có thái độ sống đúng đắn, có nghị lực vươn lên trước mọi khó khăn thử thách trong cuộc sống
Nhân viên công tác xã hội tuyên truyền thông qua rất nhiều hình thức và nội dung khác nhau nhằm mục đích giúp mọi người tiếp cận một cách đầy đủ những thông tin cần thiết về trẻ em làng chài và những khó khăn của các em cũng như các chương trình, chính sách của Nhà nước hỗ trợ cho trẻ em làng chài và gia đình trể, cộng đồng quan tâm, phối hợp với nhau trong quá trình giải quyết vấn đề
Mục đích của tuyên truyền trong CTXH đối với trẻ em làng chài là nhằm, thay đổi thái độ và hành vi chưa phù hợp (kỳ thị, phân biệt đối xử, ngược đãi, xâm hại…)
Trang 22tăng cường nhận thức đúng đắn, của cộng đồng đối với trẻ em làng chài
Nội dung tuyên truyền trong CTXH đối với Trẻ em làng chài phải gắn liền với các vấn đề liên quan đến trẻ em bao gồm:
Tuyên truyền nâng cao nhận thức về Quyền của trẻ em theo luật pháp (Quốc tế
và Việt Nam) nhằm thúc đẩy việc thực hiện quyền của trẻ em làng chài tại cộng đồng
Các đặc điểm tâm lý, tình cảm, nhu cầu của trẻ em làng chài và biện pháp giáo dục, giao tiếp phù hợp Vấn đề hỗ trợ giáo dục, học tập cho trẻ em làng chài
Đặc biệt là nội dung giáo dục dạy nghề và việc làm cho trẻ em không thể đến trường (do không có khả năng học tiếp vì chậm phát triển trí tuệ).Các vấn đề về chăm sóc sức khỏe đối với trẻ em làng chài
Các dịch vụ, mô hình chăm sóc Trẻ em làng chài Cần khai thác các dịch vụ CTXH tại địa phương cho Trẻ em làng chài và cung cấp thông tin về dịch vụ đó cho gia đình trẻ em làng chài được biết Chế độ, chính sách xã hội dành cho Trẻ em làng chài Giúp trẻ em và gia đình nắm được quyền, chế độ của mình, để từ đó giúp họ tổ chức các hoạt động tăng cường quyền của mình theo quy định của pháp luật
Tuyên truyền nâng cao nhận thức của cộng đồng, gia đình và chính bản thân Trẻ
em làng chài trong mọi khía cạnh liên quan đếnTrẻ em làng chài
Hình thức tuyên truyền:
Tuyên truyền trực tiếp: Nhân viên CTXH trực tiếp làm việc với Trẻ em làng chài, với gia đình của trẻ, với cộng đồng thông qua các hoạt động như: hội thi, tọa đàm, nói chuyện chuyên đề, diễn dàn trẻ em, câu lạc bộ trẻ em, sinh hoạt đoàn - đội thiếu nhi,…
Tuyên truyền gián tiếp: Nhân viên CTXH tuyên truyền về các nội dung liên quan tới CTXH với trẻ em thông qua việc sử dụng các tài liệu tuyên truyền như: pano,
tờ rơi, băng rôn, qua đài phát thanh, đài truyền hình hoặc hệ thống báo chí, qua mạng
xã hội,
1.1.4.2 Hoạt động trợ giúp tiếp cận giáo dục
Với những đứa trẻ ở làng chài, được đi học là một niềm hạnh phúc nhưng với các em, được biết chữ, biết đánh vần, đọc sách đã là may mắn lắm rồi Gia đình
Trang 23nào cũng có ít nhất 2 đến 3 đứa con Với họ, việc kiếm ăn ngày ba bữa đã rất vất
vả, nói gì đến việc nuôi 2, 3 đứa con đi học Việc nâng cao chất lượng giáo dục văn hóa cho trẻ em làng chài là thực hiện chiến lược lâu dài về xóa đói giảm nghèo, góp phần phát triển kinh tế xã hội, nâng cao đời sống của người dân và từng bước thực hiện mục tiêu xây dựng nông thôn mới tại địa phương
Mục đích của việc tiếp cận giáo dục cho trẻ em làng chài là giúp các em có thể phát triển một cách toàn diện các mặt về xã hội, văn hóa, giúp các em được tiếp cận với giáo dục một cách bình đẳng, nâng cao học vấn, trình độ và tạo điều kiện cho các em sau này có thể thoát ra khỏi cuộc sống khó khăn, lênh đênh sông nước, đây cũng là yếu
tố quan trọng trong chiến lược phát triển toàn diện tăng trưởng xóa đói giảm nghèo ở
xã Hồng Tiến
Các nội dung và phương pháp giáo dục gồm:
- Giáo dục phổ thông: Để có thể thực hiện tốt việc giáo dục phổ thông xóa mù chữ, trang bị cho trẻ em làng chài những kiến thức phổ thông thì việc đầu tiên và trước nhất là phải chú trọng tới giáo dục các bậc học mầm non và tiểu học và từ đó làm tiền
đề cho giáo dục trung học cơ sở, THPT Bên cạnh đó cần nâng cao trình độ, chất lượng dậy và học của đội ngũ giáo viên Những năm trước đây trẻ em ở làng chài hầu hết chỉ được học đến lớp 5 rồi phải nghỉ học vì không có điều kiện lên bờ học tiếp Trẻ em của làng chài thiếu điều kiện học tập, vui chơi giải trí, ít được tiếp cận thông tin, thiếu thốn trong chăm sóc sức khoẻ, giáo dục kỹ năng sống Từ Năm học 2014-2015 đến nay, được sự quan tâm của nhà nước, các tổ chức xã hội, các nhà hảo tâm, chính quyền địa phương đã huy động được 100% số trẻ sáu tuổi đến trường Riêng 68 trẻ em ở làng chài Cao Bình đang học bán trú tại Trường tiểu học Hồng Tiến, được các nhà hảo tâm
hỗ trợ cơm trưa
- Giáo dục kỹ năng sống: Lựa chọn chủ đề phù hợp với từng nhóm trẻ; tập trung vào những kỹ năng cần thiết thường xuyên diễn ra trong cuộc sống thường nhật hằng ngày của trẻ em làng chài như: Định vị bản thân, lòng biết ơn, làm chủ cuộc đời, những kiến thức về nhận biết cảm xúc và kỹ năng để ứng phó tích cực với cảm xúc bản thân; giá trị của sự tôn trọng và ứng phó với sự trêu chọc Qua đó, trẻ em được tạo dựng nếp
Trang 24sống văn minh, có tổ chức và kỷ luật, hướng tới giảm thiểu nguy cơ xấu với trẻ” Phương pháp giáo dục kỹ năng sống là thông qua những trò chơi, truyền đạt bằng hình ảnh kết hợp với các giáo cụ trực quan, những bức tranh và những tình huống cụ thể từ
đó các em được phát biểu cảm nhận và nói lên những suy nghĩ của bản thân; được thể hiện giải pháp ứng phó tích cực với các tình huống trong cuộc sống
Giáo dục về hướng nghiệp - dạy nghề: Nhân viên công tác xã hội của thực hiện tham vấn, tư vấn chính thức, kết nối với các trung tâm dạy đào tạo nghề để mở các lớp
tư vấn hướng nghiệp tại trường học hoặc tại địa phương để giúp trẻ nắm bắt được các nội dung về vấn đề việc làm Nhiều khi NVCTXH còn phải thực hiện rất nhiều lần vãng gia đến gia đình trẻ em làng chài và cơ sở dạy nghề để tư vấn, vận động; đôi lúc còn phải dùng uy tín của bản thân, bạn bè, người thân để đảm bảo với cơ sở cho trẻ được học nghề Trong năm qua, trẻ em làng chài đến các cơ sở dạy nghề theo hình thức
“cầm tay, chỉ việc” như: trang điểm; sửa chữa điện lạnh; may mặc, vẽ móng, làm đẹp; chăn nuôi, trồng trọt; nấu ăn, hàn xì…
- Giáo dục chăm sóc và bảo vệ bản thân: Trang bị cho trẻ và gia đình trẻ những kiến thức về chính sách, quyền lợi của trẻ em tạo điều kiện để trẻ em được hưởng các quyền của trẻ em; sự hỗ trợ cá nhân, gia đình nhận chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ em; khuyến khích tổ chức, cá nhân tham gia trợ giúp trẻ em, thành lập cơ sở trợ giúp để bảo đảm cho mọi trẻ em được chăm sóc, nuôi dưỡng Thay đổi nhận thức của xã hội, gia đình về vấn đề chăm sóc, bảo vệ trẻ em, đáp ứng các nhu cầu của trẻ, giúp trẻ phát triển toàn diện về mọi mặt, hòa nhập cuộc sống
Nhân viên công tác xã hội với vai trò là người giáo dục nhằm giáo dục cộng đồng,
xã hội có những đóng góp cho trẻ em làng chài và các vấn đề liên quan đến trẻ Nâng cao nhận thức cộng đồng trong cách nhìn nhận, suy nghĩ và hành động đối với trẻ em làng chài đòi hỏi người NVXH phải có những kiến thức cơ bản nhất là về khả năng sư phạm và giáo dục thuyết phục
Nhân viên công tác xã hội hỗ trợ trẻ em làng chài những kiến thức thiếu hụt thông qua vai trò là người giáo dục với các hình thức giáo dục đa dạng, nội dung phong phú phù hợp với trẻ em làng chài như: Tập huấn, ngoại khóa, cung cấp tài liệu, lồng ghép
Trang 25các hình thức giáo dục để chuyển tải đến trẻ em làng chài, gia đình trẻ em làng chài và cộng đồng một cách tốt nhất, từ đó giúp cho trẻ em làng chài trở nên tự tin hơn
1.1.4.3.Hoạt động trợ giúp tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức kh e
Một trong những hoạt động CTXH với trẻ em làng chài là hỗ trợ các em tiếp cận dich vụ chăm sóc sức khỏe Đối với trẻ em làng chài thì khả năng tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức khỏe thường bị hạn chế hoặc triển khai kém hiệu quả do cản trở về khoảng cách, địa lý Điều kiện kinh tế, chi phí tài chính nhìn chung là rào cản để tiếp cận các dịch vụ y tế Nếu các trẻ em khác được dựa vào cộng đồng và không bị tách khỏi cộng đồng mà mình đang sinh sống thì các em đươc hỗ trợ tiếp cận dịch vụ y tế ngay trong môi trường sống hiện tại của mình
Các cơ sở hoạt động trong lĩnh vực y tế cho trẻ em làng chài gồm có: Y tế tuyến
xã, y tế tuyến huyện …một đơn vị quan trọng cần có mà Việt Nam đã và đang tiến hành thành lập và vẫn còn một số tỉnh thành chưa thành lập xong, đó là các trung tâm dịch vụ Công tác xã hội, làm nhiệm vụ hỗ trợ trẻ em làng trài tiếp cận phúc lợi xã hội Nhìn chung, tăng cường công tác bảo vệ chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân trong tình hình mới đã coi trọng vấn đề bảo vệ chăm sóc, nâng cao sức khỏe nhân dân từ khi chưa bị bệnh, phòng bệnh hơn chữa bệnh và coi đây là nhiệm vụ mà mỗi người dân phải tự làm cho chính mình, đồng thời là trách nhiệm của các cấp ủy đảng, chính quyền các cấp, của NVCTXH phải hướng đến mục tiêu chung là nâng cao sức khỏe tinh thần, thể chất, tuổi thọ và chất lượng cuộc sống của mỗi người dân nói chúng
và trẻ em làng chài nói riêng NVCTXH phải giúp kết nối người dân, trẻ em làng chài tiếp cận với dịch vụ chăm sóc sức khỏe ban đầu, dự phòng các bệnh mới nổi, đặc biệt
là các bệnh không lây nhiễm như tim mạch, tăng huyết áp, tiểu đường, gắn với tăng cường đầu tư cho y tế cơ sở và lộ trình thực hiện bảo hiểm y tế toàn dân để tiến tới bao phủ sức khỏe toàn dân
Tại địa phương cơ chế chính sách trợ giúp xã hội đối với trẻ em làng chài vẫn còn những bất cập nhất định Chưa có sự phối hợp giữa các cán bộ y tế và cán bộ ngành Lao động – Xã hội Đặc biệt chưa có mạng lưới nhân viên xã hội trợ giúp Vì những lý do trên nên hiệu quả của họat động trợ tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe
Trang 26cho trẻ em làng chài tại địa bàn chưa cao
1.1.4.4.Hoạt động tiếp cận vui chơi giải trí
Đối với trẻ em làng chài việc tiếp cận dịch vụ vui chơi giải trí là rất cần thiết, bởi vì đặc điểm môi trường sống của các trẻ em làng chài khi còn nhỏ thường sống cùng bố mẹ trên các con thuyền, lênh đênh trên sông, trên biển nên việc các em không
có một không gian và điều kiện vui chơi giải trí là điều thiệt thòi cho tuổi thơ của các
em Vui chơi giải trí không chỉ giúp trẻ giải tỏa căng thẳng trong học tập mà còn giúp trẻ học được nhiều điều trong cuộc sống như thích ứng xã hội, phát triển trí tưởng tượng, học cách hợp tác với người khác…
NVCTXH cần kết nối, tăng cường tổ chức và triển khai các hoạt động đảm bảo các điều kiện cho trẻ em làng chài tham gia hoạt động văn hóa, thể thao và du lịch phù hợp với đặc điểm lứa tuổi và sự phát triển toàn diện của trẻ em Lồng ghép nội dung chăm sóc phát triển toàn diện trẻ em trong xây dựng gia đình hạnh phúc và giáo dục đời sống gia đình; công tác phòng, chống bạo lực gia đình; Phối hợp hỗ trợ các dịch
vụ liên quan đến phát triển toàn diện trẻ em trong gia đình Bên cạnh đó, tổ chức và tạo điều kiện, hỗ trợ để trẻ em trong những năm đầu đời được hưởng thụ các sản phẩm văn hóa lành mạnh, bổ ích; tham gia các hoạt động văn hóa, vui chơi giải trí, tham quan di tích lịch sử và thắng cảnh, tập luyện năng khiếu, thể dục thể thao phù hợp với thành phần và lứa tuổi
1.1.4.5 Hoạt động tư v n, tham v n hỗ trợ t m lý
Trẻ em làng chài là những đứa trẻ từ nhỏ đã có thói quen sống lênh đênh trên sông nước cùng cha mẹ Vì thế khi lên bờ các em sẽ gặp rất nhiều những vấn đề trong cuộc sống, tâm lý nhút nhát, không tự tin khi tiếp xúc với đám đông, các kiến thức về
xã hội cùng bị hạn chế Các em cần được tư vấn và hỗ trợ tâm lý về các vấn đề khó khăn gặp phải khi đến trường hoặc trong cuộc sống hàng ngày Ngoài ra trẻ em làng chài cần được cung cấp đầy đủ những kiến thức về chính sách pháp luật của Nhà nước, chính sách trợ giúp đối với gia đình hộ nghèo, đối với trẻ em làng chài thuộc hộ nghèo theo quy định Cán bộ làm công tác xã hội cần giải thích cho họ biết quyền con người,
đó chính là được đảm bảo an toàn về tính mạng và tài sản, được biết chế độ chính sách
Trang 27đối với bản thân họ Tuy nhiên, trong nghiên cứu này, học viên chỉ đi sâu nghiên cứu bốn hoạt động là tuyên truyền nâng cao nhận thức, hoạt động hỗ trợ tiếp cận giáo dục, hoạt động tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe, hoạt động tiếp cận vui chơi giải trí đối với trẻ em làng chài thôn Cao Bình, xã Hồng Tiến Huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình
1.1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động công tác xã hội với trẻ em làng chài
1.1.5.1 Yếu tố thuộc về trẻ em và môi trường sống
Khi trẻ em được sống trong một gia đình có cuộc sống ổn định, điều kiện kinh tế tốt, môi trường sống lành mạnh sẽ đảm bảo cho trẻ sự phát triển mọi mặt về xã hội, thể chất, tâm lý ổn định và có điều kiện để học tập tốt hơn Chính vì thế mà nhà nước ta vẫn luôn quan tâm rất nhiều đến các vấn đề từ gia đình, luôn có các chế tài để đảm bảo gia đình hạnh phúc, tạo môi trường sống lành mạnh cho trẻ em được hưởng những quyền lợi đặc biệt của mình, phát huy tốt những tiềm năng tương lai của trẻ góp phần xây dựng đất nước giàu mạnh
Phần lớn trẻ em làng chài khi sinh ra đã sống và tiếp xúc với môi trường sông nước, lênh đênh nay đây mai đó, ít được lên bờ và tiếp xúc với xã hội Vì thế các em bị hạn chế về mặt xã hội, văn hóa, giáo dục, các em không có không gian vui chơi giải trí lành mạnh, không được học các kỹ năng sống, được chăm sóc bảo vệ, hỗ trợ về mặt ý
tế và không được định hướng đào tạo nghề phù hợp, khả năng tiếp cận các dịch vụ xã hội kém hiệu quả Yếu tố này ảnh hướng rất lớn đến quá trình hòa nhập cuộc sống và
sự phát triển toàn diện của trẻ
1.1.5.2.Yếu tố tính chuyên nghiệp của đội ngũ nh n lực công tác xã hội với trẻ
em làngchài tại địa phương
Nhân viên CTXH là những người có kiến thức, kỹ năng Họ là cầu nối giữa đối tượng với các nguồn lực hỗ trợ của xã hội và là người có trách nhiệm kết nối với đối tượng để có được sự thống nhất nhằm đạt hiệu quả tối đa nguồn lực hỗ trợ cho đối tượng Chính vì thế nhân viên CTXH có vai trò rất to lớn trong hoạt động hướng nghiệp, giáo dục, kết nối nguồn lực cho đốitượng.Nhân viên CTXH thực hiện các hoạt động CTXH với trẻ em cần được yêu cầu có trình độ và được trang bị một cách đầy đủ
Trang 28kiến thức về CTXH, tâm lý học, xã hội học cũng như những chuyên ngành cần thiết khác Tham gia các khóa tập huấn, lớp bồi dưỡng kiến thức về CTXH nhất là phải nắm được Luật trẻ em và các chính sách liên quan đến trẻ em để bảo vệ quyền lợi của TE theo quy định Ngoài ra, nhân viên CTXH có đủ trình độ ngoại ngữ, tin học để đáp ứng nhu cầu của côngviệc
Khi làm việc, trò chuyện với TE, nhân viên CTXH cần sử dụng các kỹ năng như: lắng nghe, quan sát, giao tiếp, tham vấn, kỹ năng ghi chép Khi làm CTXH với Trẻ em làng chài, ngoài các kỹ năng trên cần phải thêm kỹ năng tiếp cận và thiết lập mối quan hệ với trẻ Với mỗi nhóm trẻ khác nhau có cách tiếp cận khác nhau, chú ý là phải luôn giữ thái độ hòa nhã, tin tưởng, không nên có thái độ lên án hay miệt thị, luôn luôn giữ thái độ gần gũi, chân thành, lắng nghe để cảm thông chia sẻ, không áp đặt Phải để cho Trẻ em làng chài được bộc lộ suy nghĩ, nói lên tiếng nói của mình, được đưa ra những quyết định mang tính định hướng tương lai cho bản thân như việc học hành, nghề nghiệp,… Nhân viên CTXH phải luôn giữ thái độ tôn trọng với Trẻ em làng chài Ngoài ra, nhân viên CTXH cần phải có kỹ năng thu thập và phân tích thông tin,
kỹ năng vãng gia, kỹ năng bộc lộ và kỹ năng quản lý trường hợp
Trình độ chuyên môn luôn ảnh hưởng hoạt động CTXH Khi có trình độ chuyên môn cao, nhân viên CTXH có thể thực hiện tốt những nhiệm vụ của mình như kết nối nguồn lực, tham vấn, tư vấn cho TE, từ đó có thể trợ giúp cho TE một cách hiệu quả Nếu trình độ chuyên môn chưa cao, chưa sâu thì có thể khiến TE và gia đình chưa tin tưởng vào sự trợ giúp của nhân viên CTXH Từ đó hạn chế hiệu quả trong hoạt động CTXH đối với TE
1.1.5.3 Yếu tố thuộc về chính sách của nhà nước,chính quyền địa phương và cộng đồng
CTXH chính thức được công nhận là một nghề từ năm 2010 thông qua Đề án
32 của Chính phủ, là một ngành, nghề mới chưa được quan tâm đúng mức Mọi người trong xã hội vẫn chưa hiểu rõ về CTXH nên gây rất nhiều trở ngại cho hoạt động CTXH
Một số người còn nghĩ rằng CTXH giống như một hoạt động từ thiện nên các
Trang 29hoạt động CTXH đối với TE ngày càng khó khăn và phức tạp hơn nhiều Bên cạnh đó, vẫn còn tư tưởng coi những người làm CTXH (nhất là những người tự nguyện) là “ăn cơm nhà vác tù và hàng tổng” và ít được xem trọng Một số nơi lại phó thác hoàn toàn công tác trợ giúp xã hội cho những người làm CTXH mà không nghĩ đó là công việc của cả xã hội và của cả hệ thống chính trị Bên cạnh đó, bản thân người là CTXH không được quan tâm trợ giúp nhất là trợ giúp về khung pháp lý, nâng cao mức thu nhập, điều kiện làm việc và cơ sở vật chất,
Chính quyền địa phương có sự quan tâm cùng với nhận thức của cộng đồng về CTXH với TE cao thì CTXH với TE ngày càng phát triển và TE sẽ ngày càng được chăm sóc tốt hơn
1.1.5.4 Yếu tố thuộc về nguồn lực tài chính và cơ sở vật ch t cho hoạt động CTXH đối với trẻ em làng chài
Khả năng nguồn lực tài chính
Mọi hoạt động CTXH đều xuất phát từ cái tâm của người làm xã hội nhưng nếu
thiếu kinh phí thì các hoạt động trợ giúp cho đối tượng sẽ không đem lại hiệu quả cao.Nguồn kinh phí dành cho việc trợ giúp TE hầu như được trích từ nguồn ngân sách của nhà nước, ngân sách của từng địa phương Ngoài ra còn có sự hỗ trợ kinh phí của các tổ chức trong và ngoài nước, các nhà hảo tâm…Thế nhưng nguồn kinh phí cho hoạt động CTXH đối với TE làng chài vẫn chưa nhiều Trong khi đó số lượng TE làng chài ngày càng gia tăng sẽ là thách thức đối với nhân viên CTXH nếu không dự trù được nguồn kinh
phí khi thực hiện các hoạt động, chương trình can thiệp giải quyết các vấn đề của trẻ
Ngoài việc kinh phí để hỗ trợ cho TE làng chài thì kinh phí dành cho hoạt động của nhân viên CTXH cũng là một điều rất quan trọng Đó là vì tiền lương cho nhân viên CTXH rất thấp trong khi trách nhiệm và áp lực công việc của họ rất cao và đòi hỏi nhiều kỹ năng trong nghề nghiệp Đây cũng là lý do vì sao các sinh viên khi tốt nghiệp
ra trường lại không chọn làm việc trong các cơ sở xã hội mà lại làm trái ngành học
Cơ sở vật ch t
Trẻ em làng chài là nhóm trẻ em yếu thế và cần được nhận nhiều sự quan tâm chăm sóc từ xã hội Trẻ cần đáp ứng rất nhiều những nhu cầu thiết yếu trong cuộc sống
Trang 30để phát triển một cách toàn diện cả về mặt thể chất và tinh thần như: Nhu cầu về không gian vui chơi giải trí lành mạnh, cơ sở y tế đảm bảo chất lượng, nhu cầu khám chữa bệnh cho trẻ, cơ sở vật chất phục vụ việc giáo dục đào tào văn hóa, cơ sở dạy nghề, lớp
ăn bán trú cho trẻ làng chài cũng là những yếu tố rất quan trọng đối với sự phát triển của trẻ em làng chài xã Hồng Tiến
1.1.6 Cơ sở pháp lý về công tác xã hội đối với trẻ em
Quan điểm chung của Nhà nước là tạo môi trường pháp lý - hành chính phù hợp để chăm sóc và giáo dục trẻ em Xây dựng hệ thống chính sách nhằm tạo cơ hội cho TE phát triển một cách toàn diện về mọi mặt, để sau này các em có thể đóng góp sức mình vào
công cuộc xây dựng và phát triển đất nước
*Chính sách trợ c p xã hội cho trẻ em
Theo quy định hiện hành trẻ em rơi vào hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, trẻ em sống cùng với cha hoặc mẹ là người đơn th n…… sẽ được nhà nước trợ c p xã hội hàng tháng để giúp các em, tạo điều kiện cho các em và gia đình có thêm thu nhập để
ổn định cuộc sống, bảo đảm nhu cầu về dinh dưỡng
Luật số 28/2018/QH14 ngày 15 tháng 6 năm 2018 của Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trẻ em 2016, từng bước điều chỉnh luật cho phù hợp hơn trong thực tiễn, nhằm đáp ứng nhu cầu bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em [20] Chương trình quốc gia Bảo vệ trẻ em giai đoạn 2011-2015 (Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 267/QĐ-TTg ngày 22/02/2011) [27] Triển khai xây dựng Dự án bảo vệ trẻ em và nhân rộng các mô hình để hỗ trợ cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt dựa vào cộng đồng Trong đó, mục tiêu của dự án: 90 trẻ em mồ côi được chăm sóc
Chính phủ ban hành (Quyết định Số: 647/QĐ-TTg năm 2013) [28] Đề án chăm sóc trẻ em mồ côi không nơi nương tựa, trẻ em bị bỏ rơi, trẻ em nhiễm HIV/AIDS, trẻ em là nạn nhân của chất độc hóa học, trẻ em khuyết tật nặng và trẻ em bị ảnh hưởng bởi thiên tai, thảm họa giai đoạn 2013-2020, ngày 26 tháng 4 năm 2013 nhằm mục đích huy động
sự tham gia của xã hội và gia đình trong việc chăm sóc, trợ giúp trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt giúp các em hòa nhập cuộc sống Phấn đấu mục tiêu đến năm 2020 có 95 trẻ em
Trang 31có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn được nhận sự trợ giúp và được cung cấp các dịch vụ
xã hội phù hợp; tiếp tục thí điểm mô hình gia đình, cá nhân nhận nuôi có thời hạn đối với trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn; mô hình dạy nghề gắn với tạo việc làm cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, nâng cấp cơ sở vật chất và trang thiết bị cho các cơ sở bảo trợ xã hội và nhà xã hội để đủ điều kiện chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt
Chính sách hỗ trợ giáo dục cho TE
Nghị định số 86/2015/NĐ-CP ngày 02/10/2015 của Chính phủ quy định về vấn
đề miễn giảm học phí và hỗ trợ kinh phí cho việc học tập, cơ chế thu, chi sử dụng học phí ở cơ sở giáo dục nằm trong hệ thống giáo dục quốc dân từ năm học 2015 - 2016 đến năm học 2020 -2021 Như vậy trẻ em bị tàn tật, khuyết tật có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn ; trẻ em mồ côi…sẽ được miễn học phí và hỗ trợ chi phí trong học tập[9]
Nhằm phát triển CTXH trở thành một nghề ở Việt Nam,ngày 25/3/2010 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 32/2010/QĐ-TTg phê duyệt Đề án phát triển nghề công tác xã hội giai đoạn 2010- 2020 [26] Đề án ra đời đã đánh dấu một bước phát triển mới cho nghề CTXH tại Việt Nam nhằm nâng cao nhận thức của toàn
xã hội về nghề CTXH, đồng thời xây dựng đội ngũ cán bộ, viên chức, nhân viên và cộng tác viên CTXH đủ về số lượng, đạt chất lượng gắn với phát triển hệ thống cơ sở cung cấp dịch vụ CTXH tại các cấp
Trang 321.2 Lý thuyết sử dụng trong nghiên cứu
1.2.1 Thuyết nhu cầu của Abraham Maslow
Lý thuyết nhu cầu của Abraham Maslow (1908 – 1970) có tầm ảnh hưởng khá rộng rãi, được ứng dụng ở nhiều lĩnh vực khoa học Nội dung của thuyết đề cập tới các thang bậc nhu cầu của con người Cụ thể: Nhu cầu cơ bản: ăn uống, hít thở; nhu cầu về
an toàn: an ninh, nhà ở, việc làm; nhu cầu xã hội: được hòa nhập; nhu cầu được quý trọng: được chấp nhận có vị trí trong một nhóm người, cộng đồng, xã hội; nhu cầu được thể hiện mình: hoàn thiện, phát triển trí tuệ, được thể hiện khả năng và tiềm lực cá nhân…
Hệ thống nhu cầu của A.Maslow được thể hiện dưới hình kim tự tháp
Nhu cầu ở bậc thấp thì xếp ở dưới Các nhu cầu trên luôn tồn tại và đan xen lẫn nhau
Thuyết nhu cầu được sử dụng trongnghiên cứu này nhằm mục đích đánh giá nhu cầu thực tế của trẻ em làng chài Đánh giá nhu cầu có ý nghĩa quan trọng bởi việc thỏa mãn nhu cầu của cá nhân có mối quan hệ chặt chẽ với việc sử dụng các dịch vụ xã hội cơ bản Xác định đúng nhu cầu của trẻ em làng chài, chúng ta sẽ có cơ sở để đáp ứng những nhu cầu như giáo dục kỹ năng sống, kỹ năng giao tiếp, định hướng nghề nghiệp cho phù hợp và hiệu quả hơn nhằm thỏa mãn nhu cầu của trẻ em làng chài tại địa phương
Vận dụng thuyết nhu cầu của Maslow vào công tác xã hội đối với trẻ em làng chài xã Hồng Tiến, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình
Vận dụng lý thuyết nhu cầu của Maslow trong nghiên cứu, học viên tìm hiểu nhu cầu của các trẻ em làng chài xã Hồng Tiến, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình theo năm bậc thang về nhu cầu Với mỗi nấc thang nhu cầu đó thì trẻ em làng chài sẽ
có những mong muốn được đáp ứng điều gì? Đáp ứng như thế nào? Bên cạnh đó học viên vận dụng thuyết nhu cầu để đánh giá về việc đáp ứng các nhu cầu cơ bản và nhu cầu nâng cao của trẻ em làng chài xã Hồng Tiến, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình
Đặc biệt tìm hiểu, nghiên cứu và phân tích sâu các nhu cầu cơ bản cũng như các nhu cầu nâng cao hoạt động CTXH đối với trẻ em làng chài Nhằm có những đánh giá
Trang 33nhận thức, giáo dục văn hóa cho trẻ em làng chài xã Hồng Tiến, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình
Vận dụng thuyết nhu cầu vào việc tìm hiểu nhu cầu của các trẻ em, người dân làng chài tại xã Hồng Tiến giúp cho NVCTXH có thể hiểu được sâu hơn về các nhu cầu cũng như mong muốn của trẻ em làng chài từ đó NVCTXH có thể đưa ra các kế hoạch, các giải pháp tốt nhất nhằm đáp ứng nhu cầu cho trẻ em, người dân làng chài cũng là yếu tố quan trọng trong hoạt động chăm sóc, giáo dục trẻ và chia sẻ với trẻ về mặt tinh thần
1.2.2 Thuyết học tập xã hội của Bandura
Nội dung thuyết học tập xã hội
Bandura là người đã có nhiều thí nghiệm dựa trên những kiến thức của mình, từ
đó ông đã ra các thuyết học tập xã hội Thuyết học tập xã hội hay còn gọi là “Học từ quan sát hay rập khuôn”, từ các thí nghiệm mà ông nghiên cứu giúp ông nhận thấy việc trẻ em thay đổi hành vi của mình mà không cần phải được thưởng hay có những tính toán nào trước đó và ông đã gọi đây là hiện tượng học bằng cách quan sát hay rập khuôn Bằng những kinh nghiệm nghiên cứu thực tế ông thiết lập một hệ thống thao tác thực nghiệm gồm các bước trong quá trình rập khuôn (học tập xã hội) như sau:
Thứ nh t, sự chú ý: nếu chúng ta muốn học một lĩnh vực hay một điều gì đó thì
chúng ta đều sẽ phải tập trung tư tưởng vào vấn đề đó và tất cả những cản trở trong quá trình tập trung tư tưởng đó sẽ làm giảm khả năng học tập qua cách quan sát
Thứ hai, giữ lại: là khả năng lưu giữ vào trong trí nhớ về những gì mà chúng ta
đã tập trung chú ý tư duy vào đó Sau này khi cần truy cập những dữ kiện đã được lưu trữ trong trí nhớ thì chúng sẽ nghĩ đến những hình ảnh trong hệ tâm thức và những mô
tả quá trình lưu trữ và khi nhớ từ mô hình mẫu qua hình thái của những chuỗi hình ảnh trong tâm thức và mô tả ngôn từ thì chúng ta có thể diễn đạt lại các mô hình mẫu bằng chính những hành vi của chúng ta
Thứ ba, lặp lại: vào lúc này, cá nhân sẽ chuyển tải những hình ảnh trong hệ tâm
thức hay những mô tả ngôn ngữ trở thành hành vi thật sự Điều này xảy ra cho phép mỗi chúng ta có khả năng lập lại và tái diễn hành vi ban đầu
Trang 34Thứ tư, động cơ: là một bộ phận quan trọng trong quá trình học tập một thao tác
mới và khi chúng ta có mô hình mẫu hấp dẫn, có trí nhớ và khả năng bắt chước, nhưng nếu không có động cơ bắt chước thì ít nhất là một lý do tại sao ta phải bắt chước hành
vi này, khí đó chúng ta sẽ không thể học tập hiệu quả được Bandura đã nêu rõ tại sao chúng ta có động cơ? Đó là: Sự củng cố trong quá khứ, đây là nét chính của thuyết hành vi truyền thống; Sự củng cố được hứa trước và nó phục vụ như một phần thưởng khi tưởng tượng ra điều đó; Sự củng cố ngầm, hiện tượng chúng ta nhìn và nhớ về mô hình được củng cố
Vận dụng lý thuyết trong nghiên cứu: Từ việc nghiên cứu thuyết học tập xã hội của Bandura, học viên đã ứng dụng trong việc tìm hiểu, đánh giá về khả năng quan sát tham dự và bán tham dự để đánh giá về khả năng học hỏi, quan sát, các phương pháp làm việc, làm bài tập… của trẻ, cũng như cách thức chăm sóc, giáo dục của các gia đình đối với các trẻ em làng chài Từ đó NVCTXH sẽ đưa ra các giải pháp hỗ trợ và tham vấn, tư vấn cho các hộ gia đình về một số cách thức nhằm giúp cho trẻ em làng chài có thể biết tự chăm sóc bản thân và học tập kỹ năng sống một cách hiệu quả
1.2.3 Lý thuyết hệ thống- sinh thái ( Ecological systems theory)
Các quan điểm trong hệ thống CTXH có nguồn gốc xuất phát từ lý thuyết hệ thống tổng quát của Bertalanffy Đây là một lý thuyết sinh học cho rằng: “mọi tổ chức hữu cơ đều là những hệ thống được tạo nên từ các tiểu hệ thống, ngược lại cũng là một phần của hệ thống lớn hơn Do vậy nên con người cũng là một bộ phận của xã hội được tạo nên từ các phân tử, tạo dựng từ các nguyên tử nhỏ hơn” Sau này, lý thuyết hệ thống được các nhà khoa học khác nghiên cứu như nhà khoa học Hanson (1995), nhà khoa học Mancoske (1981), nhà khoa học Siporin (1980)
Người có công đưa lý thuyết hệ thống áp dụng vào thực tiễn CTXH là nhà khoa học Pincus và Anna Minakan Các nhà hệ thống sinh thái cho rằng: Cá nhân là 1 hệ thống nhỏ trong các hệ thống lớn và là hệ thống lớn trong các tiểu hệ thống quan hệ, và các thể chế xã hội, các tổ chức chính sách có ảnh hưởng tới cá nhân.Con người có chịu
sự tác động nhất định của các hệ thống (tích cực hoặc tiêu cực) Vì vậy khi xem xét vấn
đề của cá nhân, nhóm cần phải xem xét các mối quan hệ, tác động qua lại của các hệ
Trang 35thống đối với cá nhân hoặc nhóm đó để chúng ta có thể khai thác những tác động tích cực của hệ thống đối với cá nhân, nhóm Đồng thời hạn chế những tác động tiêu cực từ
hệ các thống này đến cá nhân, nhóm
Mục đích của CTXH là thúc đẩy công bằng xã hội để con người mở rộng các cơ hội tạo ra chỗ đứng cho mình trong xã hội Lý thuyết hệ thống đặt cá nhân vào vị trí tương tác liên tục với những người khác và với những hệ thống khác trong môi trường
và những con người, những hệ thống khác nhau này tác động tương hỗ với nhau Như vậy lý thuyết hệ thống trong nghiên cứu này giúp cho nhân viên CTXH phân tích thấu đáo sự tương tác giữa trong các hệ thống xã hội và hình dung những tương tác này ảnh hưởng ra sao tới hành vi, nhận thức của trẻ em làng chài, từ đó nhân viên CTXH đưa ra những giải pháp trợ giúp tốt nhất cho trẻ em làng chài Có ba loại hệ thống có thể trợ giúp: Hệ thống thân tình, tự nhiên: gia đình, bạn bè, anh chị em họ hàng; hệ thống chính quy: các nhóm cộng đồng, công đoàn; hệ thống tập trung của tổ chức xã hội: bệnh viện hay trường học; trong CTXH với trẻ em làng chài, lý thuyết hệ thống chỉ ra
sự tác động mà các nhóm trong xã hội, gia đình, môi trường ảnh hưởng lên trẻ em làng chài
Lý thuyết hệ thống cho phép phân tích thấu đáo sự tương tác giữa trẻ em làng chài và hệ thống sinh thái – môi trường xã hội Mỗi cá nhân trẻ đều có một môi trường sống và một hoàn cảnh sống, chịu tác động của các yếu tố trong môi trường sống và cũng tác động, ảnh hưởng ngược lại môi trường xung quanh
Trên cơ sở của lý thuyết hệ thống, khi tiến hành can thiệp sớm cho trẻ em làng chài cần đặt trẻ vào trong hệ thống, môi trường xã hội đang sinh sống để từ đó có thể tìm ra được những nguồn lực cũng như rào cản của các yếu tố tác động bên ngoài nhằm
hỗ trợ cho trẻ em làng chài hướng giải quyết được vấn đề của mình một cách tốt nhất, giúp các em có thể hòa nhập và ổn định cuộc sống của mình
Trang 36Tiểu kết chương
Trong chương này tác giả đã trình bày một số vấn đề lý luận về CTXH đối với trẻ em làng chài như khái niệm về trẻ em, khái niệm trẻ em làng chài, CTXH đối với trẻ em làng chài Những khái niệm này làm rõ về khách thể nghiên cứu và đối tượng nghiên cứu,trình bày nguyên tắc CTXH đối với TE, đặc điểm tâm lý trẻ em làng chài Trên cơ sở đó đề tài tập trung nghiên cứu các hoạt động CTXH đối với trẻ em làng chài
;các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động CTXH đối với TE làng chài và chính sách của
nhà nước đối với trẻ em làng chài
Như vậy, qua hệ thống cơ sở lý luận ở chương một sẽ định hướng cho việc
nghiên cứu đề tài “Công tác xã hội đối với trẻ em làng chài tại xã Hồng Tiến huyện
Kiến Xương, tỉnh Thái Bình”
Trang 37Chương 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI TRẺ EM LÀNG CHÀI TẠI XÃ HỒNG TIẾN, HUYỆN KIẾN XƯƠNG,
TỈNH THÁI BÌNH 2.1 Khái quát về địa bàn nghiên cứu và khác thể nghiên cứu
2.1.1.Địa bàn và khách thể nghiên cứu
Xã Hồng Tiến nằm trên một vùng đất bồi của hạ lưu tả ngạn sông Hồng, được thành lập năm 1963 trên cơ sở tách ra khỏi xã Bình Thanh gồm một phần thôn Khả Cảnh và các làng Khả Lễ, làng Khả Cửu Xã Hồng Tiến nay được phân thành 6 thôn gồm: Khả Cảnh, Tân Thành, Đông Tiến, Nam Hòa, Nam Tiến và Cao Bình
Vùng đất này xưa kia do cụ Đào Khắc Tuân dẫn 10 nhân đinh của 5 họ (Đào,
Đỗ, Vũ, Bùi, Nguyễn - thường gọi là Ngũ tộc) từ làng Khả Phú ra quai đê lập làng Cơ Chỉ vào năm Canh Dần 1820 Thôn Đông Tiến trước đây là làng Khả Cửu cùng với Nam Tiến là vùng bãi bồi sông Hồng được các cụ của dòng họ Phạm, Trần từ vùng Trà
Lũ (Xuân Trung Nam Định) sang khai phá và lập nghiệp cùng với dòng họ Nguyễn ở làng Khả Phú xã Bình Thanh vào khoảng giữa thế kỷ 19
Xã Hồng Tiến đang trong giai đoạn xây dựng phát triển xây dựng hạ tầng nông thôn mới Dù còn gặp nhiều khó khăn nhưng với tiềm lực sẵn có của địa phương và sự đồng thuận cao trong nhân dân, xã Hồng Tiến đã triển khai thực hiện và đạt được nhiều kết quả khả quan: những con đường liên xã, liên thôn đã được cứng hoá, người dân đồng thuận cao trong việc chỉnh trang đồng ruộng, quy vùng sản xuất, hệ thống giao thông thuỷ lợi nội đồng được ưu tiên phát triển theo kế hoạch đầu tư xây dựng nông thôn mới, đầu tư quy hoạch xây dựng các khu dân cư tập trung
2.1.2.Đặc điểm về kinh tế - xã hội
Trang 38Trên địa bàn xã có 1.600 hộ trong đó có khoảng 1.520 hộ làm nông nghiệp chiếm 95 , 80 hộ làm dịch vụ thương mại trên khắp địa bàn xã chiếm 5 , thành phần dân cư chủ yếu là dân tộc Kinh, số người trong độ tuổi lao động cao nên địa bàn có nhiều điều kiện để phát triển kinh tế - xã hội
+ Về kinh tế: Cơ cấu kinh tế của người dân xã Hồng Tiến trong thời gian qua có hướng chuyển dịch từ tăng tỷ trọng ngành thương mại dịch vụ, tiểu thủ công nghiệp
Sự phát triển về ngành nghề đã góp phần đưa tốc độ tăng trưởng kinh tế ở xã Hồng Tiến đạt 7,8 /năm, tỷ trọng công nghiệp chiếm 30 , thương mại dịch vụ chiếm 18
cơ cấu kinh tế Bình quân thu nhập đầu người đạt 20 triệu đồng/năm, tỷ lệ hộ khá, giàu chiếm 20 , tỷ lệ hộ nghèo còn 6,2 …
Thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, trong những năm qua, tuy còn gặp nhiều khó khăn nhưng nhìn chung nền kinh tế của xã đã đạt được những kết quả đáng
kể như giảm tỷ lệ hộ nghèo, đời sống của nhân dân từng bước được cải thiện, các cơ sở
hạ tầng như điện, đường, trường, trạm được đầu tư và xây dựng khang trang
Về xã hội: UBND xã Hồng Tiến luôn chú trọng triển khai tuyên truyền về thực hiện các nhiệm vụ chính trị tại địa phương, giữ vững an ninh quốc phòng và đảm bảo trật tự xã hội xây dựng nông thôn mới, thôn xóm đạt chuẩn văn hóa, thường xuyên quan tâm thực hiện các chính sách an sinh xã hội cho người có công, đối tượng bảo trợ
xã hội, hộ nghèo/cận nghèo, hỗ trợ cho các đối tượng gặp khó khăn đột xuất, tuyên truyền vận động các tầng lớp nhân dân tham gia bảo hiểm y tế tự nguyện…
Để đảm bảo an sinh xã hội cho nhóm đối tượng yếu thế và dễ bị tổn thương trên địa bàn xã, chính quyền xã ưu tiên nguồn ngân sách hỗ trợ cho những hộ gia đình có hoàn cảnh khó khăn, trong đó có người dân làng chài Ngoài ra, chính quyền địa phương còn kêu gọi sự hỗ trợ của các nhà hảo tâm, các tổ chức xã hội, tổ chức phi chính phủ nhằm tạo thêm nguồn lực trong đảm bảo đời sống cho người dân
Trong năm 2018, UBND xã đã huy động được 101.000.000đ để tặng quà cho các đối tượng người có công, đối tượng bảo trợ xã hội, hộ nghèo nhân dịp tết Nguyên Đán Bên cạnh đó, xã còn quan tâm tổ chức các hoạt động cho thiếu nhi vào ngày 1/6
và ngày rằm trung thu, quan tâm hỗ trợ cho trẻ em mồ côi, khuyết tật, tặng thưởng cho
Trang 39các học sinh giỏi và đặc biệt là kêu gọi sự ủng hộ từ các nhà hảo tâm tặng quà cho các trẻ em làng chài Thôn Cao Bình nhân dịp lễ tết, đầu năm học mới…Tổng cộng có 480
em được nhận quà với tổng kinh phí trên 60.000.000 đồng (Theo Báo cáo tình hình kinh tế xã hội và an ninh quốc phòng năm 2018, UBND xã Hồng Tiền) [35]
2.1.3 Đặc điểm môi trườn sống của trẻ em làng chài thôn Cao Bình xã Hồng Tiến - địa bàn nghiên cứu
Người dân làng chài Thôn Cao Bình, các hộ dân sống theo tập quán quần tụ trên sông, neo thuyền từ cống Tân Lập đến cống Cao Bình (xã Hồng Tiến), vì đây là vùng kín gió, chỉ cách biển 13 km Nghề chài lưới gắn bó với họ qua hai, ba thế hệ, nhiều hộ dân muốn lên bờ để hòa nhập với cộng đồng không phải dễ, bởi không có đất định cư, đất canh tác Hơn 200 hộ gia đình với hơn 900 nhân khẩu, trong đó 30 gia đình không có đất làm nhà, dân chài vẫn sống trong cảnh sông nước làm nhà, người lớn vẫn điểm chỉ khi làm thủ tục pháp lý, trẻ nhỏ thì thất học, tái mù chữ Làng Chài Cao Bình có hoảng 150 em nhỏ trong độ tuổi đến trường mầm non, tiểu học, làng chài Cao Bình đang dần trở nên quá tải và đáng báo động trước tương lai của đám trẻ
Do cuộc sống lênh đênh này đây mai đó, cuộc sống ít ổn định, việc tiếp cận với giáo dục, kỹ năng sống xã hội bị hạn chế Nên người dân và trẻ em làng chài thôn Cao Bình xã Hồng Tiến huyện Kiến Xương tỉnh Thái Bình cũng như những làng chài khác trên cả nước đều có các đặc điểm môi trường sống chung như:
Về không gian cư trú: Có không gian cư trú biệt lập so với không gian trên bờ,
lấy thuyền làm nhà, làm phương tiện sinh hoạt, sản xuất và lênh đênh theo con nước, nay đây mai đó Trẻ em không có không gian vui chơi giải trí lành mạnh mà có rất nhiều nguy cơ hiểm họa nơi sông nước
Về mặt d n cư: Cơ cấu dân cư phức đa dạng, do dân du nhập ở nhiều nơi khác
nhau quy tụ về Đây là cộng đồng có trình độ dân trí thấp, tỷ lệ mù chữ, thất học cao; tồn tại các vấn đề xã hội tiêu cực như rượu chè, cờ bạc, đánh nhau, bỏ học
Về kinh tế: Là cộng đồng nghèo cơ sở vật chất, nhà cửa, đồ dùng sinh hoạt,
phương tiện sống cũng như nhu cầu về thông tin và các mối quan hệ xã hội; không có
Trang 40đất sản xuất; cơ cấu nghề khá đơn giản nhưng lại rất đa dạng, nặng về lao động chân tay; lao động mùa vụ, nguồn thu nhập không đủ tích lũy mà chỉ đủ chi tiêu hàng ngày
Về giáo dục:Làng Cao Bình có đến 80 người trên 30 tuổi không biết chữ nào,
còn lại cũng chỉ biết i tờ, viết được tên mình là giỏi Ai “nhiều chữ” cũng chỉ đến lớp 5, lớp 6 là nghỉ học đi chài lưới Cũng bởi không biết chữ, nên suốt hàng chục năm liền, hầu hết người làng, đặc biệt là chị em phụ nữ, đều chọn cách… điểm chỉ vào các giấy
tờ hành chính Từ giấy đăng ký kết hôn cho đến sổ vay nợ ngân hàng của dân làng ít khi có chữ ký, hiếm lắm thì có nét chữ nguệch ngoạc ghi tên ở dưới, còn lại toàn là dấu điểm chỉ Bởi thế, cái tên “làng điểm chỉ” có một không hai trong cả nước cũng từ đây
mà sinh ra
Từ năm 2015 đến nay sau quá trình thực hiện chính sách tái định cư cho các hộ dân làng chài xã Hồng Tiến thì cuộc sống của người dân làng chài thôn Cao Bình đã có nhiều thay đổi đáng kể như có chỗ ở ổn định, nhiều hộ gia đình, trẻ em làng chài được lên bờ sống, được hỗ trợ cấp đất xây dựng nhà ở và cuộc sống dần đi vào ổn định hơn
so với cuộc sống lênh đênh sông nước trước đây, nhiều thói quen sinh hoạt trong cuộc sống đã dần được thay đổi khá nhiều Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là những trẻ em làng chài gặp nhiều vấn đề về mặt hòa nhập và thích nghi với cuộc sống trên bờ khiến các
em dễ bị tổn thương Trẻ em làng chài thiếu các kỹ năng sống, kỹ năng giao tiếp và giáo dục văn hóa, hướng nghiệp dạy nghề, hỗ trợ y tế, tiếp cận các dịch vụ xã hội còn hạn chế, chưa được quan tâm chăm sóc bảo vệ
2.1.4 Tổng quan về khách thể nghiên cứu
Qua khảo sát trẻ em làng chài Cao Bình xã Hồng Tiến huyện Kiến Xương tỉnh Thái Bình, trong 100 trẻ em làng chài được chọn khảo sát có: 35 trẻ em nam (35 ) và
65 trẻ em nữ (65 ); tuổi từ 13 đến dưới 16 tuổi có 32 em (32 ); độ tuổi từ 8 - đến dưới 13 có 68 em (68 ) Phần lớn là các em ở độ tuổi học Tiểu học (lớp 1,2,3,4,5), số trẻ em học khối Trung học cơ sở (THCS) và Trung học phổ thông (THPT) chiếm tỷ lệ rất thấp Trẻ em học khối THCS có 28 em (34,6 ), học tiểu học (lớp 5) có 45 em (55,5 ), học trung học phổ thông (lớp 10) chỉ có 08 trẻ (9,9 ), số trẻ còn lại 19 em (19 ) đã nghỉ học gồm trẻ em theo bố mẹ sống trên tuyền nay đây mai đó lênh đênh