1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Công tác xã hội cá nhân với người cao tuổi cô đơn thuộc hộ nghèo từ thực tiễn huyện lương sơn, tỉnh hòa bình

95 131 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 95
Dung lượng 1,13 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong đề tài nghiên cứu “ Nghiên cứu một số đặc trưng của người cao tuổi Việt Nam và đánh giá mô hình chăm sóc người cao tuổi đang áp dụng” của Đặng Vũ Cảnh Linh 2009 đã đưa ra một số v

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

TS BÙI THỊ MAI ĐÔNG

HÀ NỘI, 2019

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn này là kết quả nghiên cứu do cá nhân tôi thực hiện cùng sự hướng dẫn của TS Bùi Thị Mai Đông Nội dung số liệu sử dụng trong luận văn đều được trích dẫn nguồn Các kết quả nghiên cứu trong luận văn trung thực, khách quan và phù hợp với phạm vi nghiên cứu và chưa từng được công bố trong các tài liệu nghiên cứu trước đây

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC XÃ HỘI CÁ NHÂN VỚI NGƯỜI CAO TỔI CÔ ĐƠN THUỘC HỘ NGHÈO 11

1.1 Một số khái niệm 11

1.2 Lý luận về Công tác xã hội cá nhân với người cao tuổi cô đơn thuộc hộ nghèo 16

1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến Công tác xã hội cá nhân với người cao tuổi cô đơn thuộc hộ nghèo 27

Chương 2 KẾT QUẢ KHẢO SÁT THỰC TRẠNG CÔNG TÁC XÃ HỘI CÁ NHÂN VỚI NGƯỜI CAO TUỔI CÔ ĐƠN THUỘC HỘ NGHÈO TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN LƯƠNG SƠN, TỈNH HÒA BÌNH 32

2.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu và khách thể nghiên cứu 32

2.2 Kết quả khảo sát thực trạng công tác xã hội cá nhân với người cao tuổi cô đơn thuộc hộ nghèo trên địa bàn huyện Lương Sơn 42

2.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác xã hội cá nhân đối với người cao tuổi cô đơn thuộc hộ nghèo 55

Chương 3 THỰC NGHIỆM ỨNG DỤNG TIẾN TRÌNH CÔNG TÁC XÃ HỘI CÁ NHÂN VÀO TRỢ GIÚP NGƯỜI CAO TUỔI CÔ ĐƠN THUỘC HỘ NGHÈO VÀ MỘT SỐ ĐỀ XUẤT, KHUYẾN NGHỊ 62

3.1 Thực nghiệm ứng dụng tiến trình công tác xã hội cá nhân vào trợ giúp người cao tuổi cô đơn thuộc hộ nghèo 62

3.2 Một số đề xuất 72

3.3 Một số khuyến nghị 74

KẾT LUẬN 78

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 79

Trang 4

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

Từ viết tắt Nội dung cụ thể

CTXHCN Công tác xã hội cá nhân

LĐ-TBXH Lao động - Thương binh xã hội NVCTXH Nhân viên công tác xã hội

Trang 5

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ

Bảng 2.1: Đặc điểm người cao tuổi cô đơn thuộc hộ nghèo 34

Bảng 2.2: Khó khăn của người cao tuổi cô đơn thuộc hộ nghèo 39

Bảng 2.4: Nội dung truyền thông nâng cao nhận thức 43

Bảng 2.5: Hình thức truyền thông nâng cao nhận thức 45

Bảng 2.6: Mức độ hài lòng của NCT cô đơn thuộc hộ nghèo đối với hoạt động truyền thông nâng cao nhận thức 46

Bảng 2.7: Các chính sách người cao tuổi cô đơn thuộc hộ nghèo được tiếp cận 48 Bảng 2.8: Mức độ hài lòng của người cao tuổi cô đơn thuộc hộ nghèo đối với 49 các chính sách được hỗ trợ tiếp cận 49

Bảng 2.9: Mức độ hài lòng của NCT cô đơn thuộc hộ nghèo đối với hoạt động hỗ trợ chăm sóc sức khỏe 52

Bảng 2.10: Đánh giá của NCT cô đơn thuộc hộ nghèo về mức độ giúp đỡ của các cá nhân, tổ chức 53

Bảng 2.11: Mức độ hài lòng của NCT cô đơn thuộc hộ nghèo 54

về thái độ trợ giúp pháp lý 54

Sơ đồ 3.1 Sơ đồ phả hệ 66

Sơ đồ 3.2 Cây vấn đề 67

Bảng 3.4: Bảng phân tích điểm mạnh - điểm yếu 69

Bảng 3.5: Kế hoạch can thiệp cho thân chủ 70

Trang 6

1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Già hóa dân số đang là một trong những quan tâm của nhiều quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam Già hóa dân số là một thành quả của khoa học y tế, của phát triển, phúc lợi xã hội nhưng già hóa cũng sẽ tác động đến phát triển kinh tế, văn hóa xã hội và hệ thống phúc lợi xã hội đối với người cao tuổi Người cao tuổi là lớp người có quá trình cống hiến lâu dài cho gia đình, xã hội và đất nước và được coi là thế hệ duy trì tính liên tục phát triển của nhân loại, là lớp người nhiều tri thức, kinh nghiệm để truyền lại cho thế hệ tiếp theo Cho đến khi đã về già, nhiều người cao tuổi vẫn tham gia lao động với những hình thức và mức độ khác nhau, họ cũng cung cấp nhiều kiến thức, kỹ năng và kinh nghiệm cho thế hệ trẻ… Vì vậy, người cao tuổi cần được con cháu trong gia đình cũng như xã hội quan tâm chăm sóc về vật chất và tinh thần

Chăm sóc và phát huy vai trò của người cao tuổi là trách nhiệm của toàn xã hội, trong đó có nhân viên công tác xã hội Tuy nhiên, Công tác xã hội ở Việt Nam còn trong giai đoạn đầu hình thành và phát triển, đặc biệt công tác xã hội với người cao tuổi còn rất manh nha, vì vậy còn rất nhiều khó khăn, hạn chế trong việc chăm sóc và phát huy vai trò của người cao tuổi Nhiều địa phương chưa có nhân viên công tác xã hội, hoặc có nhưng cũng chưa được đào tạo một cách bài bản, chính quy nên các hoạt động công tác xã hội còn chưa

rõ nét và thiếu chuyên nghiệp

Lương Sơn là một huyện cửa ngõ phía Đông Bắc của tỉnh Hòa Bình, với tổng dân số 96.423 người, trong đó người cao tuổi là 11.219 người ( nữ 7.583 người, nam 3.636 người) chiếm 11,6% dân số toàn huyện Cũng như người cao tuổi khác trên cả nước, người cao tuổi huyện Lương Sơn cũng cần được hỗ trợ, quan tâm, chăm sóc từ gia đình và cộng đồng Trong số người cao tuổi sống trên địa bàn huyện, người cao tuổi cô đơn thuộc hộ nghèo là đối tượng đang gặp rất nhiều khó khăn, rất cần tới sự trợ giúp của cộng đồng Họ là một trong những nhóm đối tượng dễ bị tổn thương nhất trong xã hội vì họ phải đối mặt với nhiều vấn đề tiềm ẩn như: nghèo đói, bệnh tật, cô đơn, khó khăn trong sinh hoạt hàng ngày, bị phân biệt đối xử

Là học viên cao học ngành Công tác xã hội, tác giả rất quan tâm đến nhóm đối tượng đặc biệt khó khăn này Với mong muốn mang những kiến thức và kỹ năng học được trong

Trang 7

2

những năm đại học và cao học áp dụng vào thực tiễn chăm sóc người cao tuổi cô đơn thuộc

hộ nghèo tại địa phương, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của họ, tác giả đã chọn đề

tài “ Công tác xã hội cá nhân với người cao tuổi cô đơn thuộc hộ nghèo từ thực tiễn huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình” để làm luận văn thạc sĩ của mình Đó sẽ là tiến trình

giúp đỡ của một nhân viên công tác xã hội giúp đỡ thân chủ thay đổi suy nghĩ, hành động của mình mà qua đó bản thân tác giả sẽ được tiếp cận thêm nhiều kiến thức thực tế trong quá trình làm việc với thân chủ, sẽ có được nhận thức rõ ràng hơn về nghề Công tác xã hội

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Trong những năm gần đây, người cao tuổi và các vấn đề của người cao tuổi đều nhận được sự quan tâm của các nhà nghiên cứu, các chuyên gia, học giả trong và ngoài nước Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn này, tác giả đã chọn và phân tích một số công trình nghiên cứu, bài viết, tạp chí, đề tài tiêu biểu có nội dung liên quan:

2.1 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài

Nhà tâm lý học người Mỹ Ann Bowling (1998) dẫn ra một số nghiên cứu về

sự lão hóa có liên quan đến chất lượng sống của tuổi già: đó là sự tách rời, sự tiếp tục hoạt động và sự liên tục Tổng hợp kết quả nghiên cứu thực nghiệm về các kiểu hình về chất lượng sống tuổi già của một số tác giả, ông đã kết luận về việc nâng cao chất lượng cuộc sống chính là tăng sức khỏe, niềm vui của tuổi già [24, pg.43]

Năm 1998, các nhà tâm lý học M Pinquart, H Newman đã chứng minh tuy người cao tuổi có sức khỏe kém hơn những người trẻ tuổi nhưng trạng thái hạnh phúc không giảm đi ở tuổi già, có nghĩa là trạng thái hạnh phúc ở người cao tuổi không hề thấp hơn trạng thái hạnh phúc ở người trẻ tuổi hơn [25]

Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đã đưa ra cảnh báo cho biết, trong giai đoạn từ năm 2000 đến 2050 trên quy mô toàn cầu, số người già sẽ nhiều hơn số trẻ em dưới

14 tuổi Già hoá dân số sẽ trở thành một vấn đề lớn ở các nước đang phát triển, nơi

mà dân số sẽ bị già hoá nhanh chóng trong nửa đầu của thế kỷ XXI Các nước đang phát triển sẽ là nơi có tỉ lệ người cao tuổi tăng cao nhất và nhanh nhất, theo dự báo

số người cao tuổi ở khu vực này sẽ tăng gấp 4 lần trong vòng 50 năm tới Tỷ lệ người cao tuổi theo dự báo sẽ tăng từ 8% lên 19% vào năm 2025, trong khi đó tỷ lệ

Trang 8

3

trẻ em sẽ giảm từ 33% xuống 22% Hơn một nửa dân số tuổi 80+ sống ở những nước đang phát triển, dự báo sẽ tăng lên 71% vào năm 2050 [26]

Theo Báo cáo “Già hóa trong thế kỷ 21: Thành tựu và thách thức” của Quỹ

dân số Liên Hợp Quốc (UNFPA), New York và Tổ chức Hỗ trợ Người cao tuổi quốc tế (HelpAge International), London năm 2012 đã phân tích thực trạng của người cao tuổi và rà soát tiến độ thực hiện các chính sách và hành động của chính phủ và các cơ quan liên quan kể từ khi Hội nghị Thế giới lần thứ hai về Người cao tuổi về thực hiện Kế hoạch Hành động quốc tế Madrid về Người cao tuổi nhằm đáp ứng với những cơ hội và thách thức của một thế giới đang già hóa Báo cáo đưa ra nhiều ví dụ minh họa sinh động về các chương trình đổi mới đã đáp ứng thành công với vấn đề già hóa và các mối quan tâm của người cao tuổi Bên cạnh đó, báo cáo này cũng đưa ra khuyến nghị về định hướng tương lai nhằm đảm bảo mọi người ở mọi lứa tuổi trong xã hội bao gồm cả NCT và giới trẻ đều có cơ hội góp phần xây dựng xã hội cũng như cùng được hưởng những phúc lợi xã hội đó Theo báo cáo, năm 1950, toàn thế giới có 205 triệu người từ 60 tuổi trở lên Đến 2012, số NCT tăng gần 810 triệu người Dự tính con số này là 1 tỷ người trong vòng 10 năm nữa

và đến 2050 sẽ tăng gấp đôi là 2 tỷ người Trong khi đó, có sự khác nhau giữa các vùng, các dân tộc, các giới tính …[27]

Golandaj và cộng sự (2013) sử dụng số liệu Điều tra Phát triển Con người

Ấn Độ năm 2004-2005 đã cho thấy 17% dân số già chỉ sống với vợ hoặc chồng, 2% sống một mình, 85% sống cùng với các con Họ cũng cho thấy, với NCT, gia đình

có vai trò quan trọng trong việc chăm sóc và hỗ trợ NCT và rằng nhà dưỡng lão không hẳn là sự thay thế lý tưởng cho gia đình trong việc hỗ trợ NCT về mặt xã hội, kinh tế và tình cảm Tương tự, nghiên cứu của Lu (2012) với 289 người cao tuổi ở Đài Loan cũng cho thấy thái độ tích cực về sự già hóa của người già và nhận thức, quan niệm xã hội về NCT có tính quyết định tới dự định của NCT trong công việc, cuộc sống Tác giả cho thấy cần có chính sách duy trì hình ảnh tích cực về già hóa dân số, về NCT Sự tự tin và tương tác với người trẻ trong cộng đồng sẽ giúp người già tiếp tục làm việc cũng như hòa đồng với xã hội [28]

Trang 9

4

2.2 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam

Nghiên cứu “ Hoàn cảnh của người cao tuổi nghèo ở Việt Nam” năm 2001

do Help Age International phối hợp với Hội người cao tuổi Việt Nam, Bộ Lao động

- Thương binh và Xã hội, Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam, Viện Xã hội học và Trung tâm nghiên cứu Hỗ trợ người cao tuổi thực hiện Nghiên cứu đã tiến hành thực hiện tại 1 thôn của 5 tỉnh/thành phố ( thành phố Hồ Chí Minh, Lào Cai, Sóc Trăng, Ninh Thuận, Phú Yên) Nghiên cứu tập trung nội dung: Định nghĩa về tuổi già và thái độ của xã hội đối với người cao tuổi; các phương kê mưu sinh và đóng góp của người cao tuổi; khó khăn và mối quan tâm chủ yếu của người cao tuổi, hệ thống hỗ trợ người cao tuổi’ [14]

Trong đề tài nghiên cứu “ Nghiên cứu một số đặc trưng của người cao tuổi Việt Nam và đánh giá mô hình chăm sóc người cao tuổi đang áp dụng” của Đặng

Vũ Cảnh Linh (2009) đã đưa ra một số vấn đề về người cao tuổi như: điều kiện sống ngày một tăng góp phần tích cực vào việc nâng cao sức khỏe của người cao tuổi; công tác chăm sóc sức khỏe người cao tuổi đã được quan tâm; công tác tổ chức các hoạt động chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi tại cộng đồng còn ít, tại nhiều địa bàn khảo sát tình trạng người cao tuổi hoạt động đơn lẻ, tự phát phổ biến; điều kiện sống của người cao tuổi đang dần được cải thiện cùng với cuộc sống của toàn

xã hội [13]

Báo cáo thực tập “ Nhu cầu quan hệ của người già cô đơn, không nơi nương tựa tại Trung tâm Bảo trợ xã hội IV Ba Vì - Hà Nội và vai trò can thiệp của nhân viên công tác xã hội” năm 2013 của Lê Thảo Vy đã nhấn mạnh và nâng cao vai trò,

những kiến thức và kỹ năng của nhân viên công tác xã hội [20]

Đề tài “Một số giải pháp nâng cao chất lượng chăm sóc người cao tuổi Việt Nam” của tác giả Phạm Vũ Hoàng năm 2013, nghiên cứu chung ở tầm vĩ mô trên cả

nước về chăm sóc người cao tuổi, tác giả đã lựa chọn Trung tâm chăm sóc sức khỏe người cao tuổi Thiên Đức tại huyện Từ Liêm, Hà Nội để đánh giá chất lượng chăm sóc người cao tuổi Đề tài đánh giá về thực trạng chăm sóc, chất lượng chăm sóc người cao tuổi và các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng chăm sóc người cao tuổi, nghiên cứu phát hiện các nguyên nhân dẫn tới các hạn chế trong chất lượng chăm

Trang 10

cơ sở thực tiễn để điều chỉnh chính sách nhằm phát huy tốt hơn nữa vai trò của người cao tuổi và chăm sóc người cao tuổi tốt hơn trong giai đoạn 2011 - 2015 [12]

Đề tài khoa học “ Nhu cầu tham gia hoạt động xã hội của người cao tuổi (nghiên cứu tại phường Vĩnh Tuy, quận Hai Bà Trưng và xã Nghĩa Hương, huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội” năm 2016 của TS Bùi Thị Mai Đông - Học viện Phụ

nữ Việt Nam: Nghiên cứu đã chỉ ra NCT có rất nhiều nhu cầu, trong đó nhu cầu được tham gia các hoạt động xã hội là nhu cầu cao Tuy nhiên việc đáp ứng nhu cầu

đó thì ở khu vực đô thị sẽ khác với khu vực nông thôn Tác giả đã so sánh nhu cầu tham gia các hoạt động xã hội thì nhu cầu là như nhau Tuy nhiên nhu cầu của NCT

ở thành thị khác với nhu cầu của NCT ở nông thôn, NCT ở thành thị rất thích tham gia các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể thao, đi du lịch; còn NCT ở nông thôn thì

có nhu cầu về lễ hội, chùa chiền, chăm sóc gia đình nhiều hơn [4]

Đề tài “Công tác xã hội cá nhân trong việc hỗ trợ người cao tuổi tại xã Minh Quang, huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội” của tác giả Nguyễn Thị Thương Huyền

năm 2017 đã nêu được đặc điểm thực trạng người cao tuổi, những vấn đề và nhu cầu người cao tuổi đang gặp phải, cần tới sự trợ giúp của các cơ quan chức năng, tổ chức đoàn thể, nhân viên công tác xã hội Từ đó chỉ ra sự cần thiết của hoạt động công tác xã hội cá nhân trong cộng đồng với thực trạng hiện nay Qua nghiên cứu, tác giả cũng đề xuất phương pháp hỗ trợ cho người cao tuổi bị khủng hoảng tâm lý nói riêng và người cao tuổi nói chung có thể trở về trạng thái cân bằng và hòa nhập lại với cuộc sống hàng ngày [7]

Trang 11

Qua những nghiên cứu kể trên, tác giả nhận thấy đã có rất nhiều tác giả và công trình nghiên cứu về NCT như: thực trạng đời sống, những vấn đề nảy sinh trong cuộc sống, những vấn đề về an sinh xã hội, phúc lợi xã hội cũng như các mô hình chăm sóc dành cho NCT Tuy nhiên có rất ít công trình chuyên sâu nghiên cứu

về công tác xã hội cá nhân với người cao tuổi tại cộng đồng Do vậy, đề tài nghiên cứu Công tác xã hội cá nhân với người cao tuổi cô đơn thuộc hộ nghèo từ thực tiễn huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình là một đề tài mới mẻ, có giá trị tham khảo đối với các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong quá trình xây dựng, hoàn thiện phát triển nghề công tác xã hội nói chung và công tác xã hội cá nhân với người cao tuổi với người cao tuổi cô đơn thuộc hộ nghèo nói riêng

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu lý luận và thực trạng CTXH cá nhân đối với NCT cô đơn thuộc

hộ nghèo và thực nghiệm ứng dụng tiến trình CTXH cá nhân vào trợ giúp một tình huống NCT cô đơn thuộc hộ nghèo Trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả CTXH cá nhân đối với NCT cô đơn thuộc hộ nghèo trên địa bàn huyện nói riêng, đồng thời góp phần phát triển nghề CTXH với NCT ở Việt

Nam nói chung

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Xây dựng các khái niệm công cụ và cơ sở lý luận về CTXH cá nhân đối với NCT cô đơn thuộc hộ nghèo

Trang 12

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Công tác xã hội cá nhân với người cao tuổi cô đơn thuộc hộ nghèo từ thực tiễn huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Về khách thể nghiên cứu: 20 người cao tuổi cô đơn thuộc hộ nghèo Ngoài ra khách

thể nghiên cứu mở rộng là: cán bộ lãnh đạo chính quyền, các ban ngành đoàn thể ở địa bàn khảo sát

- Về đối tượng nghiên cứu: CTXH cá nhân là phạm trù tương đối rộng có

nhiều khía cạnh để nghiên cứu Tuy nhiên trong phạm vi nghiên cứu của một luận văn thạc sĩ, tác giả đi sâu nghiên cứu các hoạt động CTXH nói chung đối với NCT

cô đơn thuộc hộ nghèo và thử nghiệm áp dụng tiến trình CTXH cá nhân vào trợ giúp một trường hợp cụ thể

- Về địa bàn nghiên cứu: Các số liệu sử dụng trong luận văn được khảo sát tại

15 xã có người cao tuổi cô đơn thuộc hộ nghèo trên địa bàn huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình

- Về thời gian nghiên cứu: Luận văn được tiến hành từ tháng 3 năm 2019 đến

tháng 8 năm 2019 Các số liệu sử dụng trong đề tài được thu thập trong giai đoạn từ năm 2018 -2019

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Cơ sở lý luận

Theo quan điểm của chủ nghĩa Mac - LeNin, giúp chúng ta có cái nhìn đúng đắn và toàn diện hơn về thế giới khách quan Mỗi khi nghiên cứu ta thấy chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử đã chứng minh được những quy luật cơ bản thể hiện sự luận giải và nguyên tắc chung cho khoa học Khi nghiên cứu đòi hỏi phải đặt đối tượng, cụ thể ở đây là NCT cô đơn thuộc hộ nghèo trong hoàn

Trang 13

8

cảnh môi trường xã hội, thời gian cụ thể mà hoạt động công tác xã hội cá nhân triển khai Từ những đánh giá thực trạng về đời sống, các yếu tố ảnh hưởng, thực trạng công tác xã hội cá nhân với người cao tuổi trên địa bàn rút ra những lý luận và đưa

ra được những đề xuất về biện pháp nâng cao hiệu quả công tác xã hội cá nhân nói riêng và công tác xã hội nói chung trên địa bàn

5.2 Phương pháp nghiên cứu

5.2.1 Phương pháp phân tích tài liệu

Phương pháp này rất quan trọng trong nghiên cứu CTXH Mục đích sử dụng phương pháp này nhằm để thu thập thông tin từ những nguồn như: tạp chí, đề tài nghiên cứu khoa học, giáo trình, sách chuyên khảo luận văn, luận án tiến sĩ nghiên cứu về NCT và nghiên cứu các tài liệu có liên quan và cách hỗ trợ NCT cô đơn thuộc hộ nghèo như: danh sách hộ nghèo, hộ NCT cô đơn thuộc hộ nghèo của huyện Lương Sơn, các báo cáo tổng kết, đánh giá chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững, báo cáo tổng kết hàng năm của UBND huyện, báo cáo của Hội người cao tuổi huyện… Ngoài ra phương pháp này cũng nhằm thu thập tất cả những thông tin về chính sách ban hành về NCT nói chung và NCT cô đơn thuộc hộ nghèo nói riêng để tổng quan các nghiên cứu và xây dựng cơ sở lý luận cho đề tài

5.2.2 Phương pháp điều tra bảng hỏi

Phỏng vấn bằng bảng hỏi là một công cụ quan trọng trong nhận thức thực nghiệm, nó là sự thể hiện bên ngoài của chương trình nghiên cứu Bảng hỏi là một

hệ thống các câu hỏi được xếp đặt trên cơ sở logic bảo đảm theo nội dung của vấn

đề nghiên cứu nhằm tạo điều kiện cho người được hỏi thể hiện quan điểm của mình với những vấn đề thuộc về đối tượng nghiên cứu và người nghiên cứu thu nhận được các thông tin cá biệt đầu tiên đáp ứng các yêu cầu của đề tài, mục tiêu và nội dung nghiên cứu

Trong đề tài này, tác giả thiết kế bảng hỏi gồm 18 câu hỏi dùng để hỏi 20 NCT cô đơn thuộc hộ nghèo trên địa bàn huyện Lương Sơn để tìm hiểu những thông tin cơ bản về khách thể nghiên cứu, về đời sống vật chất và tinh thần, những khó khăn, nhu cầu, nguyện vọng và các hoạt động công tác xã hội cá nhân trong hỗ trợ NCT cô đơn thuộc hộ nghèo tại huyện Lương Sơn

Trang 14

9

5.2.3 Phương pháp phỏng vấn sâu

Phỏng vấn sâu là phương pháp được sử dụng để có được những thông tin cần thiết từ thân chủ Thông qua cách hỏi và trả lời trực tiếp giữa nhân viên CTXH với thân chủ, người làm CTXH và những NCT cô đơn thuộc hộ nghèo đang sống tại cộng đồng Mục đích của phương pháp này là tìm hiểu rõ hơn về vấn đề đối tượng cần can thiệp Trong quá trình phỏng vấn, nhân viên CTXH sử dụng những kỹ năng chuyên sâu như: kỹ năng quan sát, kỹ năng thấu hiểu, kỹ năng khuyến khích với thân chủ và đối tượng cần phỏng vấn để từ đó có thể hiểu sâu sắc hơn những biểu hiện về tâm lý, cảm xúc, tình cảm ẩn chứa trong những lời nói và câu chuyện của đối tượng

Trong nghiên cứu này, tác giả tiến hành phỏng vấn sâu 05 NCT cô đơn thuộc

hộ nghèo; 05 cán bộ lãnh đạo chính quyền, các ban ngành đoàn thể ở địa bàn khảo sát (01 PCT UBND xã; 01 cán bộ phòng LĐ-TB&XH huyện, 01 cán bộ y tế xã, 01 cán bộ mặt trận tổ quốc xã, 01 chủ tịch hội NCT) để tìm hiểu sâu về những khó khăn, nhu cầu của NCT cô đơn thuộc hộ nghèo, tìm hiểu thực trạng các hoạt động công tác xã hội CTXH cá nhân đối với NCT cô đơn thuộc hộ nghèo để rút ra những kết luận cần thiết

5.2.4 Phương pháp thực nghiệm:

Tác giả vận dụng tiến trình CTXH cá nhân vào thực tiễn để trợ giúp một tình huống NCT cô đơn thuộc hộ nghèo cụ thể trên địa bàn để đánh giá hiệu quả của việc vận dụng tiến trình vào hoạt động trợ giúp, từ đó đưa ra các đề xuất, khuyến nghị

Tiến trình CTXH cá nhân gồm 6 bước sau:

Bước 1: Tiếp cận thân chủ

Bước 2: Thu thập thông tin

Bước 3: Đánh giá và xác định vấn đề

Bước 4: Lập kế hoạch can thiệp

Bước 5: Triển khai kế hoạch can thiệp

Bước 6: Lượng giá và kết thúc/chuyển giao

Trang 15

cô đơn, NCT cô đơn thuộc hộ nghèo, các tiêu chí đo lường nghèo đói, các hoạt động trợ giúp NCT nghèo cô đơn trong cộng đồng Đề tài cũng khẳng định tính hiệu quả của việc sử dụng tiến trình CTXH cá nhân trong việc giúp đỡ NCT cô đơn thuộc hộ nghèo trong điều kiện hiện nay

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu, các phụ lục thì luận văn gồm có 3 chương sau đây:

Chương 1: Những vấn đề lý luận về công tác xã hội cá nhân với người cao

tuổi cô đơn thuộc hộ nghèo

Chương 2: Kết quả khảo sát thực trạng công tác xã hội cá nhân với người

cao tuổi cô đơn thuộc hộ nghèo trên địa bàn huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình

Chương 3: Thực nghiệm tiến trình công tác xã hội cá nhân vào trợ giúp

người cao tuổi cô đơn thuộc hộ nghèo và một số đề xuất, khuyến nghị

Trang 16

11

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC XÃ HỘI CÁ NHÂN

VỚI NGƯỜI CAO TUỔI CÔ ĐƠN THUỘC HỘ NGHÈO

1.1 Một số khái niệm

1.1.1 Khái niệm người cao tuổi

Có rất nhiều khái niệm khác nhau về NCT; Trước đây, người ta thường dùng thuật ngữ “người già”, “người cao niên” để chỉ những người có tuổi, hiện nay thuật ngữ “người cao tuổi” được sử dụng nhiều hơn

Theo quan điểm y học: NCT là người ở giai đoạn già hóa gắn liền với việc suy giảm các chức năng của cơ thể Theo WHO, NCT phải từ 70 tuổi trở lên

Quy định độ tuổi của NCT ở mỗi nước có sự khác nhau do các biểu hiện về già của người dân ở các nước khác nhau ở các độ tuổi; Những nước có hệ thống y

tế, chăm sóc sức khỏe tốt thì tuổi thọ và sức khỏe của người dân cũng được nâng cao, do đó, các biểu hiện của tuổi già thường đến muộn hơn Hầu hết các nước phát triển như: Đức, Hoa K , Nhật bản… quy định NCT là những người từ 65 tuổi trở lên Quỹ dân số Liên hợp quốc cũng định nghĩa “Người cao tuổi là những người từ

65 tuổi trở lên”

Ở Việt Nam, tại Điều 2, Luật Người cao tuổi, Luật số 39/2009/QH12 đã được Quốc hội khóa 12 thông qua năm 2009 qui định: “Người cao tuổi được quy định trong Luật này là công dân Việt Nam từ đủ 60 tuổi trở lên” [17]

Người cao tuổi là những người đang trong quá trình lão hóa nên diện mạo thay đổi (tóc bạc, da mồi, có thêm nhiều nếp nhăn…), chức năng của các cơ quan như: nội tạng, cảm giác suy giảm, hoạt động kém hiệu quả, khả năng tình dục giảm Bên cạnh sự thay đổi về mặt sinh lý, tâm lý của NCT cũng có sự thay đổi khi bước sang giai đoạn tuổi già Họ thường có tâm lý hướng về quá khứ, thích ôn lại quá khứ; tâm trạng chuyển từ trạng thái “tích cực” sang trạng thái “tiêu cực” do khi về già NCT phải đối mặt với bước ngoặt lớn lao về lao động và nghề nghiệp Đó là chuyển từ trạng thái lao động (bận rộn với công việc, bạn bè) sang trạng thái nghỉ ngơi, chuyển từ trạng thái tích cực khẩn trương sang trạng thái tiêu cực xả hơi; NCT cảm thấy cô đơn và mong được quan tâm chăm sóc nhiều hơn khi con cháu thường

Trang 17

12

bận rộn với cuộc sống Điều này làm cho NCT cảm thấy mình bị lãng quên, bị bỏ rơi Họ rất muốn tuổi già của mình vui vẻ bên con cháu, muốn được người khác coi mình không là người vô dụng Họ rất muốn được nhiều người quan tâm, lo lắng cho mình và ngược lại Họ sợ sự cô đơn, sợ phải ở nhà một mình

1.1.2 Khái niệm người cao tuổi cô đơn

Tại khoản 2, Điều 6, Nghị định số 07/2000/NĐ-CP ngày 09/03/2000 của Thủ tướng chính phủ về chính sách cứu trợ xã hội qui định: “Người già cô đơn không

nơi nương tựa là người từ đủ 60 tuổi trở lên sống độc thân” [18]

Người cao tuôi cô đơn mang những đặc điểm chung của NCT đồng thời họ còn mang những đặc điểm riêng do hoàn cảnh cô đơn mang lại, chủ yếu là đặc điểm

về tâm lý Họ luôn cảm thấy mặc cảm, tự ti và hay buồn chán, ít khi chia sẻ tâm sự với những người xung quanh

1.1.3 Khái niệm người cao tuổi cô đơn thuộc hộ nghèo

Tại Khoản 1, Điều 2, Thông tư 17/2016/TT-BLĐTBXH ngày 28/6/2016 của

Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội hướng dẫn quy trình rà soát hộ nghèo hằng năm theo chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016-2020 quy định:

“Hộ nghèo là hộ gia đình qua điều tra, rà soát hằng năm ở cơ sở đáp ứng các tiêu chí về xác định hộ nghèo được quy định tại Khoản 1 và Khoản 2 Điều 2 Quyết định

số 59/2015/QĐ-TTg ngày 19/11/2015 của Thủ tướng Chính phủ và được Chủ tịch

Ủy ban nhân dân cấp xã quyết định công nhận thuộc danh sách hộ nghèo trên địa bàn” [2], cụ thể:

Ở khu vực nông thôn, hộ nghèo là hộ đáp ứng một trong hai tiêu chí sau:

- Có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ đủ 700.000 đồng trở xuống;

- Có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 700.000 đồng đến 1.000.000 đồng và thiếu hụt từ 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội

cơ bản trở lên

Ở khu vực thành thị, hộ nghèo là hộ đáp ứng một trong hai tiêu chí sau:

- Có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ đủ 900.000 đồng trở xuống;

Trang 18

13

- Có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 900.000 đồng đến 1.300.000 đồng và thiếu hụt từ 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội

cơ bản trở lên

Từ khái niệm NCT cô đơn và khái niệm hộ nghèo nói trên, người cao tuổi cô

đơn thuộc hộ nghèo trong luận văn này được hiểu “là những người cao tuổi cô đơn, sống độc thân, được Ủy ban nhân dân xã cấp giấy xác nhận hộ nghèo”

Ngoài những đặc điểm chung của NCT, những đặc điểm của NCT cô đơn, người cao tuổi cô đơn thuộc hộ nghèo còn có những đặc điểm tâm lý của người nghèo Mặc dù cảm giác cô đơn luôn thường trực nhưng thực tại cuộc sống vẫn bắt buộc họ phải tìm kế sinh nhai hàng ngày nên ý thức tự lực cao, tinh thần chịu đựng lớn Trước những khó khăn, họ ít kêu ca, phàn nàn Họ rất nặng tình cảm hàm ơn người khác nếu được ai giúp đỡ dù là việc nhỏ Do tuổi già sức yếu lại mất nguồn nuôi dưỡng, họ cảm nhận sâu sắc khó khăn của mình hơn so với lúc còn trẻ nên có tâm trạng lo lắng thường xuyên về ngày mai Nhìn chung các cụ đều có ý thức chủ động lo liệu cho lúc ốm đau và lúc từ giã cõi đời của mình tuy khả năng lo liệu là rất nhỏ…

1.1.4 Khái niệm Công tác xã hội

Thuật ngữ CTXH được dùng khá rộng rãi để chỉ các hoạt động (cá nhân, nhóm, tổ chức, đoàn thể) từ những hình thức giúp đỡ, hỗ trợ cá nhân thiếu hụt chức năng xã hội Mặc dù vậy, nếu xét dưới góc độ khoa học thì cách áp dụng đó hoàn toàn chưa phù hợp và đúng ý nghĩa khi nhiều nhà khoa học khẳng định rằng CTXH

là một ngành khao học, một nghề chuyên môn

Hiện nay có nhiều định nghĩa khác nhau về CTXH, tùy thuộc vào thời gian

và không gian văn hóa, mỗi quốc gia sẽ có những cách khác nhau để định nghĩa, cụ thể như sau:

Theo từ điển Bách khoa ngành CTXH định nghĩa: “CTXH đó là một ngành khoa học

xã hội ứng dụng nhằm giúp con người thực hiện chức năng tâm lý xã hội của mình một cách

có hiệu quả và tạo ra những thay đổi trong xã hội để đem lại sự an sinh cao nhất cho con người” Nó còn là “Một nghệ thuật, một khoa học, một nghề nhằm giúp người dân giải quyết vấn đề từ cấp độ cá nhân, gia đình, nhóm, cộng đồng” [19]

Trang 19

14

Theo Hiệp hội quốc gia Nhân viên CTXH Mỹ (NASW): Công tác xã hội là hoạt động nghề nghiệp giúp đỡ các cá nhân, nhóm hay cộng đồng để nhằm nâng cao hay khôi phục tiềm năng của họ để giúp họ thực hiện chức năng xã hội và tạo ra các điều kiện xã hội phù hợp với các mục tiêu của họ CTXH tồn tại để cung cấp các dịch vụ xã hội mang tính hiệu quả và nhân đạo cho cá nhân, gia đình, nhóm, cộng đồng và xã hội giúp họ tăng năng lực và cải thiện cuộc sống [9]

Định nghĩa của Hiệp hội Nhân viên CTXH Quốc tế (IFSW) cho rằng CTXH chuyên nghiệp thúc đẩy sự thay đổi xã hội, tiến trình giải quyết vấn đề trong mối quan hệ con người, sự tăng quyền lực và giải phóng cho con người, nhằm giúp cho cuộc sống của họ ngày càng thoải mái và dễ chịu Vận dụng các lý thuyết về hành vi con người và các hệ thống xã hội CTXH can thiệp ở những điểm tương tác giữa con người và môi trường của họ [8]

Cuộc họp thường niên của Hiệp hội Nhân viên Công tác xã hội quốc tế và đại hội đồng các trường đào tạo Công tác xã hội quốc tế tháng 7/2014 đã thống nhất

định nghĩa về CTXH như sau: Công tác xã hội là một nghề, dựa trên những vấn đề thực tiễn và kiến thức khoa học nhằm thúc đẩy sự thay đổi và gắn kết xã hội Công tác xã hội hướng tới sự trao quyền và nâng cao năng lực giải quyết vấn đề của con người, nền tảng triết liết của công tác xã hội là công bằng xã hội, nhân quyền, tính trách nhiệm và việc tôn trọng sự đa dạng của con người, đặt nền tảng bởi các lý thuyết về công tác xã hội và các ngành khoa học xã hội khác cũng như những nền văn hóa riêng của từng khu vực công tác xã hội sẽ thúc đẩy con người tham gia vào quá trình giải quyết những vấn đề, thách thức trong cuộc sống và nâng cao an sinh

xã hội cho con người

Theo Đề án 32 phát triển nghề CTXH giai đoạn 2010-2020 của Thủ tướng Chính

hạn chế phát sinh các vấn đề xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống của thân chủ xã hội, hướng tới một xã hội lành mạnh, công bằng, hạnh phúc cho người dân và xây dựng hệ thống an sinh xã hội tiên tiến [2]

Theo tác giả Nguyễn Thị Oanh: “CTXH là một hoạt động thực tiễn, mang tính tổng hợp cao được thực hiện theo những nguyên tắc và phương pháp nhất định nhằm hỗ trợ cá nhân, nhóm người trong việc giải quyết các vấn đề đời sống của họ

Trang 20

xã hội” [11]

1.1.5 Khái niệm Công tác xã hội cá nhân

Có nhiều cách định nghĩa về Công tác xã hội cá nhân như sau:

Theo tác giả Nguyễn Thị Oanh (1998): “CTXH cá nhân là một phương pháp can thiệp (của Công tác xã hội) quan tâm đến những vấn đề về nhân cách mà một thân chủ cảm nghiệm Mục đích của CTXH cá nhân là phục hồi, củng cố và phát triển sự thực hành bình thường các chức năng xã hội của cá nhân và gia đình”.[15]

Theo tác giả Lê Chí An ( 2006): “CTXH cá nhân là một phương pháp giúp

đỡ con người giải quyết các vấn đề khó khăn Nó mang tính đặc thù, khoa học và nghệ thuật Nó giúp các cá nhân có những vấn đề riêng cũng như vấn đề bên ngoài

và vấn đề môi trường Đó là một phương pháp giúp đỡ thông qua mối quan hệ để khai thác tài nguyên cá nhân và những tài nguyên khác nhằm giải quyết vấn đề Lắng nghe, quan sát, vấn đàm, vãng gia và đánh giá là những công cụ chủ yếu của CTXH cá nhân Nhờ tính năng động trong CTXH cá nhân mà cá nhân thân chủ thay đổi thái độ, suy nghĩ và hành vi của mình” [1]

Theo tác giả Bùi Thị Xuân Mai, Nhập môn công tác xã hội thì công tác xã

hội cá nhân được định nghĩa là “hệ thống giá trị và phương pháp được các nhân viên xã hội chuyên nghiệp sử dụng, trong đó các khái niệm về tâm lý xã hội, hành vi

và hệ thống được chuyển thành các kỹ năng giúp đỡ cá nhân và gia đình giải quyết những vấn đề về nội tâm lý, quan hệ giữa các cá nhân, giữa cá nhân, kinh tế xã hội

và môi trường thông qua các mối quan hệ một – một”[11]

1.1.6 Khái niệm Công tác xã hội cá nhân với người cao tuổi cô đơn thuộc hộ nghèo

Trang 21

1.2 Lý luận về Công tác xã hội cá nhân với người cao tuổi cô đơn thuộc

1.2.1.2 Chức năng, nhiệm vụ

Đánh giá nhu cầu, năng lực của NCT cô đơn thuộc hộ nghèo, những cản trở đối với việc thực hiện các chức năng xã hội của NCT cô đơn thuộc hộ nghèo; đánh giá các yếu tố xã hội tác động đến đời sống của NCT cô đơn thuộc hộ nghèo, xác định nguồn lực, những thế mạnh và hạn chế của NCT cô đơn thuộc hộ nghèo trên cơ sở đó giúp họ nhận thức đúng vấn đề của mình đồng thời nâng cao năng lực trong giải quyết vấn đề, giúp họ đương đầu và hành động có hiệu quả trong cuộc sống

Kiểm tra, giám sát chất lượng mạng lưới cung cấp dịch vụ xã hội Đảm bảo

hệ thống cung cấp dịch vụ xã hội mang tính nhân đạo và phi lợi nhuận với mục tiêu

vì NCT nói chung và NCT cô đơn thuộc hộ nghèo nói riêng

Trang 22

17

Thúc đẩy sự công bằng xã hội thông qua phát triển chính sách xã hội Nghiên cứu các vấn đề xã hội để thực hiện chính sách đối với NCT cô đơn thuộc hộ nghèo Đưa ra những đề xuất các chính sách mới và biện hộ để dừng áp dụng thực hiện những chính sách không hữu ích Ngoài ra, CTXH cụ thế hóa các chính sách chung thành các chương trình và các dịch vụ cụ thể nhằm đáp ứng các nhu cầu của NCT

cô đơn thuộc hộ nghèo [5]

1.2.2 Các hoạt động công tác xã hội cá nhân đối với người cao tuổi cô đơn thuộc hộ nghèo

Xuất phát từ khái niệm và mục đích của CTXH cá nhân, nhận thấy việc vận dụng CTXH cá nhân đối với NCT cô đơn thuộc hộ nghèo rất phù hợp và tạo ra hiệu quả cao trong hỗ trợ NCT cô đơn thuộc hộ nghèo có tâm lý là mặc cảm, cô đơn, tự

ti, thường sống khép mình, ngại giao tiếp, ít tham gia các hoạt động xã hội; họ có rất nhiều nhu cầu thiết yếu cần được đáp ứng CTXH cá nhân sẽ trợ giúp khắc phục những khó khăn, nhu cầu của NCT cô đơn thuộc hộ nghèo, giúp họ vươn lên hòa nhập xã hội thông qua các hoạt động sau đây:

1.2.2.1 Truyền thông nâng cao nhận thức của cộng đồng về người cao tuổi

cô đơn thuộc hộ nghèo

Truyền thông là công cụ có thể cải thiện cuộc sống của con người, giúp con người nâng cao nhận thức, thái độ và chuyển đổi hành vi, hiểu biết Trong thực tế, truyền thông là một công cụ hữu hiệu, giúp con người dễ dàng trao đổi, thấu hiểu theo hướng tích cực thông qua giao tiếp và sử dụng các phương tiện truyền thông

Hoạt động truyền thông về NCT cô đơn thuộc hộ nghèo nhằm tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức của cộng đồng, gia đình, cơ quan, đoàn thể về các vấn

đề liên quan đến NCT cô đơn thuộc hộ nghèo như: chăm sóc sức khỏe, chế độ chính sách, tạo điều kiện để họ sống vui, sống khỏe, sống có ích

Bằng các phương tiện thông tin truyền thông như: sinh hoạt Hội NCT, các buổi họp xóm, các hoạt động văn nghệ thể thao hoặc bằng các phương tiện thông tin đại chúng như: báo đài, tivi, mạng xã hội, pano, tờ rơi, đài phát thanh và truyền hình… Nội dung chủ yếu của hoạt động truyền thông là tuyên truyền phủ biến các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước để họ biết và được hưởng những chế

Trang 23

18

độ theo quy định; vai trò trách nhiệm của gia đình, cộng đồng với NCT cô đơn thuộc hộ nghèo; đặc biệt là tuyên truyền, phổ biến những thông tin, kiến thức khoa học về chăm sóc sức khỏe, các dịch vụ hỗ trợ xã hội như tư vấn tâm lý, dịch vụ chăm sóc NCT cô đơn thuộc hộ nghèo tại cơ sở nuôi dưỡng hay tại gia đình và cộng đồng….để cho họ có thể tham gia, từ đó đáp ứng một số nhu cầu cần thiết của NCT

cô đơn thuộc hộ nghèo

1.2.2.2 Hỗ trợ người cao tuổi cô đơn thuộc hộ nghèo tiếp cận các chính sách, chương trình, dịch vụ xã hội

Một trong những vấn đề mà NCT cô đơn thuộc hộ nghèo quan tâm hiện nay bên cạnh vấn đề kinh tế thì còn có vấn đề chế độ chính sách mà họ được hưởng, các chương trình, dịch vụ xã hội mà họ được tiếp cận Hỗ trợ tiếp cận các chính sách, chương trình, dịch vụ xã hội cho NCT cô đơn thuộc hộ nghèo sẽ giúp cho họ nắm bắt và hiểu được những chính sách của Nhà nước mà họ được hưởng như: Tu sửa, xây mới nhà ở, chế độ tiền trợ cấp hàng tháng, hỗ trợ tiền điện hộ nghèo, cấp thẻ bảo hiểm y tế miễn phí, hỗ trợ chăm sóc y tế, hỗ trợ sinh kế… cũng như giúp họ hiểu biết thêm về các chương trình, dịch vụ xã hội hỗ trợ cho NCT nói chung và NCT cô đơn thuộc hộ nghèo nói riêng

1.2.2.3 Hỗ trợ người cao tuổi cô đơn thuộc hộ nghèo chăm sóc sức khỏe

Chăm sóc sức khỏe không chỉ giúp kéo dài tuổi thọ mà còn nâng cao chất lượng cuộc sống, giúp NCT cô đơn thuộc hộ nghèo sống vui, sống khỏe, sống có ích Chăm sóc sức khỏe NCT cô đơn thuộc hộ nghèo vừa là trách nhiệm, vừa là nghĩa vụ, vừa thể hiện sự văn minh của xã hội tiến bộ Chăm sóc sức khỏe không chỉ đơn thuần là chăm sóc trong khám chữa bệnh mà còn bao gồm cả những hoạt động chăm sóc về vật chất, tinh thần và xã hội

Trong Hoạt động chăm sóc sức khỏe, có thể thực hiện tư vấn, hướng dẫn, bồi dưỡng và tập huấn kiến thức tự chăm sóc bản thân, nâng cao sức khoẻ đối với NCT cô đơn thuộc hộ nghèo; đầu tư phát triển cơ sở vật chất - kỹ thuật của hệ thống dịch vụ y tế,; phát triển hệ thống trung tâm dịch vụ chăm sóc sức khỏe người cao tuổi, khuyến khích hoạt động khám, chữa bệnh miễn phí cho người cao tuổi; xây dựng và phát triển mạng lưới chăm sóc sức khoẻ, phục hồi chức năng cho người cao

Trang 24

19

tuổi dựa vào cộng đồng; lồng ghép việc chăm sóc sức khỏe người cao tuổi vào các chương trình phòng ngừa, phát hiện và điều trị sớm các bệnh liên quan người cao tuổi; chương trình nghiên cứu các bệnh liên quan tới tuổi già; chương trình đào tạo, tập huấn, nâng cao năng lực cho đội ngũ nhân viên xã hội, cộng tác viên, tình nguyện viên làm công việc tư vấn, chăm sóc người cao tuổi

1.2.2.4 Hỗ trợ người cao tuổi cô đơn thuộc hộ nghèo về tâm lý

Cùng với những đặc điểm tâm lý của NCT thì đặc điểm tâm lý nổi bật của NCT cô đơn thuộc hộ nghèo là cảm giác cô đơn luôn dày vò nhưng thực tại cuộc sống vẫn bắt buộc phải tìm kế sinh nhai hàng ngày,từ đó này sinh căng thẳng tâm

lý, họ cô đơn nên có cảm giác bị bỏ rơi Cùng với sự suy giảm về sức khỏe, NCT cô đơn thuộc hộ nghèo suy nghĩ mình là người thừa của xã hội, không còn vai trò hữu ích, không ai cần mình nữa Do đó vấn đề tâm lý ảnh hưởng rất lớn đến cuộc sống của NCT cô đơn thuộc hộ nghèo

Hỗ trợ tâm lý cho NCT cô đơn thuộc hộ nghèo là những hoạt động mà nhân viên CTXH sử dụng phương pháp, kỹ năng chuyên nghiệp của CTXH cá nhân để thực hiện các hoạt động nhằm giúp NCT cô đơn thuộc hộ nghèo thích ứng với những thay đổi không thể tránh được trong cuộc sống

1.2.2.5 Hỗ trợ người cao tuổi cô đơn thuộc hộ nghèo về pháp lý

Trợ giúp pháp lý là việc cung cấp dịch vụ pháp lý miễn phí cho NCT cô đơn thuộc hộ nghèo những thông tin về luật pháp, chính sách; hỗ trợ họ tiếp cận và bảo

vệ quyền lợi, lợi ích hợp pháp của mình đối với những chính sách mà họ được hưởng NVXH đóng vai trò là người biện hộ, bảo vệ quyền lợi cho NCT cô đơn thuộc hộ nghèo

Hoạt động hỗ trợ NCT cô đơn thuộc hộ nghèo về pháp lý góp phần vào việc tham mưu, đề xuất những chính sách phù hợp, tạo môi trường thuận lợi giúp NCT

cô đơn thuộc hộ nghèo khắc phục những khó khăn, phát huy được những mặt tích cực của chính bản thân họ Bên cạnh đó cũng góp phần đảm bảo cho việc cung cấp những dịch vụ tốt nhất cho NCT cô đơn thuộc hộ nghèo

1.2.3 Các nguyên tắc cơ bản trong công tác xã hội cá nhân với người cao tuổi cô đơn thuộc hộ nghèo

Trang 25

20

1.2.3.1 Nguyên tắc tôn trọng, chấp nhận thân chủ

Chấp nhận thân chủ dù họ ở trong hoàn cảnh nào sẽ giúp NVXH có thái độ tôn trọng và tránh sự phán xét khi làm việc với thân chủ Điều này giúp thiết lập và tăng cường mối quan hệ giữa người trợ giúp và người được trợ giúp Mỗi cá nhân NCT cô đơn thuộc hộ nghèo đều có những giá trị riêng, họ là những người thuộc nhóm yếu thế trong xã hội Chấp nhận NCT cô đơn thuộc hộ nghèo với tất cả những phẩm chất tốt hoặc xấu, điểm mạnh hay điểm yếu của họ

1.2.3.2 Nguyên tắc đảm bảo bí mật thông tin của thân chủ

Đây là một trong những nguyên tắc quan trọng trong hoạt động trợ giúp thân chủ Việc bảo mật thông tin cần được tuân thủ tốt trong cả tiến trình, từ các thông tin thu thập được qua chia sẻ, nói chuyện với thân chủ đến các giấy tờ hồ sơ có liên quan NVXH cần lưu ý tới nguyên tắc bảo mật để đảm bảo việc thực hiện nguyên tắc của mình vì lợi ích cao nhất cho thân chủ

1.2.3.3 Nguyên tắc đảm bảo tính cá biệt hóa

Con người có những nhu cầu cơ bản giống nhau, nhưng mỗi người lại ở những hoàn cảnh khác nhau NCT cô đơn thuộc hộ nghèo cũng vậy, họ có những tính cách, nhu cầu, mong muốn không giống nhau, tùy từng cộng đồng mà họ sinh sống mà có những vấn đề, nhu cầu riêng Cá biệt hóa giúp cho NVXH đưa ra được phương pháp giúp đỡ phù hợp với NCT cô đơn thuộc hộ nghèo trong điều kiện cụ thể của từng cộng đồng; thực hiện đuoẹc các hoạt động trợ giúp đmr bảo đúng nhu cầu, nguyện vọng của họ

Người cao tuổi cô đơn thuộc hộ nghèo hay NCT nói chung đều có quyền bình đẳng như nhau, họ đều được tiếp cận các dịch vụ xã hội như nhau Vì vậy NVXH phải có thái độ khách quan và công bằng khi xây dựng và triển khai kế hoạch trợ giúp

1.2.3.4 Nguyên tắc đảm bảo mối quan hệ nghề nghiệp

Nhân viên xã hội cần có phảm chất đạo đức, tác phong nghề nghiệp, những hành vi thể hiện mối quan hệ nghề nghiệp như: tôn trọng qua điểm giá trị, nguyên tắc nghề nghiệp, không lợi dụng cương vị công tác của mình để đòi hỏi sự trả ơn

Trang 26

21

Mối quan hệ giữa NVXH với NCT cô đơn thuộc hộ nghèo cần dảm bảo tính thân thiện, sự tương tác hai chiều, khách quan

1.2.3.5 Nguyên tắc tôn trọng quyền tự quyết của thân chủ

Đó chính là việc tôn trọng sự khác biệt của mỗi người, dành quyền tự quyết cho NCT cô đơn thuộc hộ nghèo Xây dựng kế hoạch dựa trên tiềm năng và lợi ích của mỗi thân chủ NVXH cần đảm bảo sự tham gia của thân chủ trong cả tiến trình,

từ thu thập thông tin, đánh giá xác định nhu cầu, xây dựng kế hoạch và triển khai kế hoạch cũng như đánh giá kế hoạch Bên cạnh đó, NVXH cần trang bị cho NCT cô đơn thuộc hộ nghèo những kỹ năng phát triển, đặc biệt khuyến khích họ trong việc tham gia tìm kiếm và huy động các nguồn lực vào giải quyết các vấn đề khó khăn của chính mình

1.2.3.6 Nguyên tắc khuyến khích thân chủ cùng tham gia giải quyết vấn đề Nguyên tắc này gắn liền với quyền tự quyết của thân chủ Nguyên tắc này tạo điều kiện cho NCT cô đơn thuộc hộ nghèo tích cực tham gia vào quá trình can thiệp, giải quyết vấn đề

1.2.4 Tiến trình Công tác xã hội cá nhân với người cao tuổi cô đơn thuộc hộ nghèo

Công tác xã hội cá nhân với NCT cô đơn thuộc hộ nghèo được thực hiện theo các bước hoạt động của tiến trình giải quyết vấn đề gồm 6 bước, bao gồm: (1) Tiếp cận thân chủ, (2) Thu thập thông tin, (3) Đánh giá thông tin, xác định vấn đề, (4) Lập kế hoạch can thiệp, (5) Triển khai kế hoạch can thiệp, (6) Lượng giá và kết thúc

1.2.4.1 Bước 1: Tiếp cận thân chủ

Tiếp cận thân chủ là bước đầu tiên trong tiến trình trợ giúp Có thể NCT cô đơn thuộc hộ nghèo tự tìm đến với NVXH khi họ gặp vấn đề và cần sự giúp đỡ, song trong một chừng mực nào đó cũng có thể chính NVXH lại là người tìm đến với NCT cô đơn thuộc hộ nghèo trong phạm vi hoạt động theo chức năng của mình

Ở bước tiếp cận này nếu NVXH tạo được ấn tượng tốt với thân chủ thì những bước sau sẽ thuận tiện hơn

1.2.4.2 Bước 2: Thu thập thông tin

Trang 27

22

Mục đích của bước này là giúp cho NVXH có được những dữ kiện đầy đủ nhất liên quan thân chủ của mình Trên cơ sở đó lập được kế hoạch trị liệu phù hợp Thông tin càng chính xác và cụ thể bao nhiêu, thì quá trình can thiệp càng thuận lợi bấy nhiêu Hoạt động thu thập thông tin không chỉ dừng lại ở bước thứ 3 mà diễn ra trong cả quá trình can thiệp Thông tin thu được có thể không hoàn toàn chính xác

Vì vậy, NVXH cần biết chắt lọc

Những nội dung thông tin cần thu thập về thân chủ là NCT cô đơn thuộc hộ nghèo:

- Thông tin về đối tượng, bao gồm: yếu tố sức khỏe thể chất, những suy nghĩ,

tình cảm của đối tượng, diễn biến của những yếu tố này Điểm mạnh của thân chủ Những trải nghiệm của thân chủ đã sử dụng nhằm cố gắng giải quyết vấn đề của họ Những tác động từ vấn đề của họ tới những người xung quanh họ … Mục đích của những thông tin cần thu thập này, nhằm trả lời cho các câu hỏi: Vấn đề của đối tượng thuôc loại vấn đề gì? (tâm lý, sức khỏe, kinh tế, mối quan hệ …); Thời gian nảy sinh vấn đề? Nguyên nhân? Đã từng có giải pháp can thiệp chưa? Nếu có thì hiệu quả đến đâu? Các yếu tố chịu tác động và tác động?

- Môi trường sống, nguồn lực của thân chủ, bao gồm: Các thành viên trong

gia đình, thành viên có ý nghĩa quan trọng và tác động lớn đến thân chủ (Người đó

sẽ là nguồn lực mà NVXH cần biết huy động tham gia trong tiến trình can thiệp); Điều kiện sống: nhà cửa, thu nhập … Thông tin về các nguồn lực trợ giúp liên quan

mà NVXH có thể huy động được (CBLĐTBXH, Hội Người cao tuổi…)

- Luật pháp, chính sách và các chương trình có liên quan nhằm sử dụng và

huy động vào quá trình trợ giúp cho thân chủ Ví dụ: Luật Người cao tuổi, các chính sách hỗ trợ người cao tuổi …

1.2.4.3 Bước 3: Đánh giá thông tin, xác định vấn đề

Nhân viên xã hội dựa trên những thông tin thu thập được, đánh giá và cùng thân chủ phân tích vấn đề của họ

- Xác định các vấn đề của thân chủ gặp phải Xác định nguyên nhân nảy sinh những vấn đề trên Trong đó nguyên nhân nào là quan trọng nhất? Nhân viên xã hội

có thể sử dụng “Cây vấn đề” để phân tích nguyên nhân

Trang 28

23

- Xác định vấn đề ưu tiên và sắp xếp theo trình tự Thao tác này giúp cho NVXH biết được vấn đề cần được giải quyết trước nhất của thân chủ là gì Từ đó phân bổ thời gian và nguồn lực một cách thích hợp

- Nhân viên xã hội xác định nguồn lực và yếu tố tác động thông qua phân tích sơ đồ phả hệ và sơ đồ sinh thái của thân chủ

- Nhân viên xã hội phân tích những điểm mạnh, điểm yếu của thân chủ Đặc biệt là những điểm mạnh để vận động và phát huy trong quá trình lập kế hoạch và can thiệp cụ thể

1.2.4.4 Bước 4: Lập kế hoạch can thiệp

Nhân viên xã hội cùng thân chủ xây dựng các hoạt động dự kiến để giúp đỡ đối tượng giải quyết vấn đề của họ Lưu ý: kế hoạch này không do NVXH tự xây dựng, mà cần dựa trên sự thảo luận, tham gia của thân chủ

Giai đoạn này NVXH cần xác định được các yếu tố sau:

- Các mục tiêu cụ thể Mục tiêu đưa ra căn cứ vào vấn đề ưu tiên được xác định và nguồn lực mà thân chủ có Trước tiên, cần đặt ra mục tiêu giải quyết vấn đề của thân chủ; sau đó là những mục tiêu nhằm hướng đến cải thiện hoàn cảnh và nâng cao năng lực cho thân chủ

- Các hoạt động can thiệp/hỗ trợ nhằm thực hiện mục tiêu đã đặt ra Các kỹ năng, kỹ thuật cần áp dụng Thời gian và những người tham gia thực hiện Ở bước này, kế hoạch càng được thiết kế chi tiết, cụ thể và rõ ràng thì việc thực hiện, lượng giá sẽ càng dễ dàng và hiệu quả hơn

1.2.4.5 Bước 5: Triển khai kế hoạch can thiệp

Trước khi triển khai kế hoạch, NVXH cùng thân chủ và các cá nhân hỗ trợ cần có sự chuẩn bị kỹ lưỡng, bao gồm: chuẩn bị tâm thế sẵn sàng nhập cuộc để thực hiện các hoạt động; chuẩn bị tất cả điều kiện về vật chất, tài chính và các nguồn lực

hỗ trợ khác tham gia vào tiến trình Khi đã đảm bảo các yếu tố này, chúng ta mới có thể bắt đầu triển khai kế hoạch can thiệp hiệu quả được

Nhân viên xã hội không làm thay cho thân chủ, song cần luôn bám sát để hỗ trợ thân chủ bằng chuyên môn của mình Vai trò của NVXH trong suốt tiến trình thực hiện là người hỗ trợ, định hướng, đánh giá, phản hồi lại cho thân chủ những

Trang 29

24

điều họ đã đạt được, khuyến khích họ thực hiện tốt hơn; ngòai ra, NVXH còn là điểm tựa về tinh thần cho thân chủ trong lúc họ gặp khó khăn Thân chủ sẽ không tránh khỏi những khó khăn trong quá trình thực hiện kế hoạch giải quyết vấn đề của mình và cần đến sự hỗ trợ chuyên nghiệp của NVXH

1.2.4.6 Bước 6: Lượng giá và kết thúc/chuyển giao

Lượng giá là hoạt động đo lường, đánh giá lại các hoạt động Từ đó kịp thời

bổ sung và điều chỉnh Lượng giá không chỉ diễn ra ở cuối tiến trình, mà trong suốt quá trình can thiệp, NVXH luôn luôn lượng giá để kịp thời thay đổi

Tiến trình kết thúc khi các mục tiêu đặt ra đã hoàn thành, vấn đề của thân chủ được giải quyết Lúc này, để kết thúc tiến trình, NVXH cần có sự giãn cách dần khỏi thân chủ, tránh kết thúc đột ngột sẽ gây sốc cho thân chủ Bởi trong quá trình can thiệp, thân chủ và NVXH đã có một mối liên hệ nhất định, NVXH là chỗ dựa tinh thần cho thân chủ Vì thế, để thân chủ có thể chấp nhận sự kết thúc trợ giúp và

tự lực được vững vàng, cần có một quá trình giãn cách dần

Trong trường hợp vấn đề của thân chủ chưa giải quyết được, tiến trình trợ giúp của NVXH này không hiệu quả, cần chuyển giao cho một NVXH khác phù hợp hơn Trên thực tế, không phải tất cả mọi vấn đề của mọi thân chủ, các NVXH đều có thể giải quyết được Điều này còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khách quan và chủ quan khác nhau NVXH luôn phải đặt lợi ích của thân chủ lên hàng đầu.Vì thế, việc chuyển giao ca là cần thiết

1.2.5 Một số lý thuyết ứng dụng trong công tác xã hội cá nhân với người cao tuổi

cô đơn thuộc hộ nghèo

1.2.5.1 Lý thuyết nhu cầu

Thuyết nhu cầu của Abraham Maslow (1908-1970) là một trong những học thuyết được ứng dụng nhiều trong các lĩnh vựa khác nhau của đời sống, xã hội Maslow đã thiết lập một hệ thống gồm năm cấp độ của nhu cầu cơ bản Bậc thang nhu cầu cơ bản của Maslow được tóm lại bằng những ý chính như sau:

- Nhu cầu sinh lý: Đây là những nhu cầu sinh học Chúng bao gồm nhu cầu khí thở, thực phẩm, nước, và cơ thể có nhiệt độ tương đối ổn định Đây là những nhu cầu mạnh mẽ nhất, bởi vì nếu một người bị tước đoạt tất cả các nhu cầu trên, thì

Trang 30

25

nhu cầu về sinh học sẽ là cái đầu tiên con người tìm kiếm để sống còn Những nhu cầu này thường mang tính bản năng và có thể chế ngự, thúc giục một cá nhân hành động khi nó có thể bị thiếu hụt

- Nhu cầu an toàn: Được an toàn cũng là một trong những nhu cầu cơ bản của con người Nhu cầu này bao gồm sự mong muốn an toàn về thể chất, về kinh tế,

về sức khỏe, hạnh phúc cũng như các dịch vụ hỗ trợ khi xảy ra thiên tai, thảm họa, được thể hiện thông qua các mong muốn về sự ổn định trong cuộc sống, được sống trong môi trường an toàn, thân thiện, trong xã hội có sự bảo đảm của pháp luật

- Nhu cầu xã hội (tình cảm, tình yêu và được nhìn nhận): Đó là những mong muốn có được các mối quan hệ với người khác, được trở thành thành vien của một nhóm, tổ chức, hoặc xã hội Nhu cầu này được thể hiện qua quá trình giao tiếp như: việc tìm bạn đời, lập gia đình, tham gia vào các câu lạc bộ, nhóm sở thích, làm việc nhóm…

- Nhu cầu cần được tôn trọng: Nhu cầu này còn được gọi là nhu cầu tự trọng

và được thể hiện ở hai khía cạnh: Nhu cầu được người khác quý mến, nể trọng thông qua các thành quả của bản thân và nhu cầu cảm nhận, quý trọng chính bản thân của mỗi người; Có lòng tự trọng, có sự tự tin vào khả năng của bản thân

- Nhu cầu thể hiện bản thân: Ở nhu cầu này, cá nhân mong muốn được là chính mình, được làm những cái mà mình “sinh ra để làm” Đây chính là nhu cầu được phát huy, được thể hiện hết khả năng, tiềm năng của mình để tự khẳng định mình, để làm việc, cống hiến và tỏa sáng những thế mạnh của mình cho gia đình, xã hội

Thuyết nhu cầu giúp NVXH có cái nhìn tổng quan về nhu cầu của con người trong quá trình làm việc với các thân chủ nói chung, NCT cô đơn thuộc hộ nghèo nói riêng Trong quá trình vận dụng, trợ giúp NCT cô đơn thuộc hộ nghèo NVXH cần lưu ý một số điểm sau:

Nhân viên xã hội cần trao đổi và cùng NCT cô đơn thuộc hộ nghèo phân tích

và xác định cụ thể các nhu cầu của họ và sắp xếp ưu tiên để đáp ứng từng bước Với nhiều NCT cô đơn thuộc hộ nghèo cần xem xét đáp ứng các nhu cầu cho phù hợp từng cá nhân NCT cô đơn thuộc hộ nghèo có thể có nhiều nhu cầu đa dạng khác nhau Ở mức độ tối thiểu, NVXH cần giúp NCT cô đơn thuộc hộ nghèo thỏa mãn

Trang 31

26

các nhu cầu tối thiểu nhất Cụ thể, nếu họ thiếu ăn, mặc, không được chăm sóc, bảo

vệ an toàn…thì NVXH phải ưu tiên kết nối với các nguồn lực trợ giúp xung quanh

để đảm bảo đáp ứng các nhu cầu đó Việc khám chữa bệnh, chăm sóc dinh dưỡng, bệnh lý, trợ giúp ổn định tâm lý, tinh thần của NCT cô đơn thuộc hộ nghèo cần được ưu tiên trước khi tiến hành các can thiệp khác

Nhu cầu được tự trọng cũng vô cùng quan trọng đối với NCT cô đơn thuộc

hộ nghèo Họ muốn được nhìn nhận, được tôn trọng với những ý kiến, khả năng và kinh nghiệm của họ Việc già cả, ốm đau, nghèo đói có thể làm họ mất đi cảm giác

có giá trị và dẫn tới buồn bã, trầm cảm NVXH cần chú ý để tăng cường các hoạt động trợ giúp để NCT cô đơn thuộc hộ nghèo được đáp ứng nhu cầu của họ

1.2.5.2 Lý thuyết hệ thống - sinh thái

Thuyết hệ thống ra đời từ năm 1940, do nhà sinh vật học Ludwig Von BertaLffy đề xướng Sau này lý thuyết hệ thống được các nhà khoa học khác nghiên cứu và phát triển Đây là một lý thuyết sinh học cho rằng mọi tổ chức hữu cơ đều là những hệ thống, được tạo nên từ các tiểu hệ thống và ngược lại cũng là một phần của hệ thống lớn hơn Do đó con người là một bộ phận của xã hội, đồng thời cũng được tạo nên từ các phần tử nhỏ hơn

Theo định nghĩa của lý thuyết CTXH hiện đại “ hệ thống là một tập hợp các thành tố được sắp xếp có trật tự và liên hệ với nhau để hoạt động thống nhất” Thuyết hệ thống trong CTXH sử dụng nhiều cặp khái niệm về hệ thống đóng và hệ thống mở Hệ thống đóng là hệ thống không có sự trao đổi năng lượng và thông tin vượt qua biên giới của nó Hệ thống mở là hệ thống năng lượng và thông tin được trao đổi bằng cách thẩm thấu qua vách ngăn biên giới của chính nó

Thuyết hệ thống được sử dụng trong CTXH như một công cụ trợ giúp NVXH khi học phải sắp xếp, tổ chức những lượng thông tin lớn thu thập được để xác định mức độ nghiêm trọng của vấn đề và tìm cách can thiệp

Qua lý thuyết này, NVXH có thể phát hiện ra được nhũng nguồn lực quan trọng trong hệ thống mà NCT cô đơn thuộc hộ nghèo đang sống Từ đó đánh giá được NCT cô đơn thuộc hộ nghèo đã và đang liên hệ chặt chẽ với các yếu tố nào, chưa chặt chẽ với yếu tố nào, cũng như việc kết hợp và huy động các nguồn lực sẵn

Trang 32

để hỗ trợ họ trong việc giải quyết các vấn đề khó khăn của mình

1.2.5.3 Lý thuyết vai trò xã hội

Thuyết vị trí vai trò trong xã hội nhấn mạnh đến các bộ phận cấu thành của

xã hội và cho rằng mỗi cá nhân có một vị trí xã hội nhất định, được thừa nhận trong

cơ cấu xã hội, gắn liền với những quyền lợi, nghĩa vụ hay k vọng để định hướng cho những hành vi xã hội của cá nhân đó Lý thuyết về vị trí - vai trò xã hội cho rằng, mỗi cá nhân có một vị trí xã hội là vị trí tương đối trong cơ cấu xã hội, hệ thống quan hệ xã hội Mỗi cá nhân có vị trí xã hội khác nhau, do đó cũng có nhiều

vị thế khác nhau Vai trò của cá nhân được xác định trên cơ sở các vị thế xã hội tương ứng Vai trò là những đòi hỏi của xã hội đặt ra với các vị thế xã hội Những đòi hỏi đó luôn dựa vào các chuẩn mực của xã hội Tùy thuộc vào đặc thù văn hóa của mỗi vùng, của mỗi dân tộc mà có những chuẩn mực riêng của nó Vì vậy một vị thế xã hội nhưng tùy vào dặc thù của xã hội đó mà có những vai trò khác nhau

Lý thuyết vị trí - vai trò xã hội được sử dụng trong luận văn này nhằm mục đích nói lên rằng trong CTXH khi hoạt động ở từng lĩnh vực cụ thể thì cũng có những vai trò cụ thể đối với từng lĩnh vực Trong công tác chăm sóc NCT cô đơn thuộc hộ nghèo thì CTXH có vai trò như thế nào để NCT cô đơn thuộc hộ nghèo sống lâu, sống khỏe và sống có ích Trong quá trình chăm sóc NCT thì NVCTXH phải hiểu rõ vai trò và vị thế của NCT trong gia đình và xã hội Từ việc hiểu rõ vai trò này, thì NVCTXH dễ dàng thực hiện các nội dung chăm sóc NCT

1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến Công tác xã hội cá nhân với người cao tuổi cô đơn thuộc hộ nghèo

1.3.1 Cơ chế, chính sách, pháp luật của Nhà nước

Trong các chính sách của Đảng và Nhà nước thì chính sách quan tâm, chăm

lo, hỗ trợ cho NCT là một trong những chính sách quan trọng Sự quan tâm đó của

Trang 33

28

Nhà nước đã giúp đảm bảo một phần đời sống của NCT nói chung và NCT cô đơn thuộc hộ nghèo nói riêng NCT cô đơn thuộc hộ nghèo đều được cấp thẻ BHYT, được hỗ trợ tiền điện hàng tháng, được hưởng trợ cấp hàng tháng nếu thuộc đối tượng NCT thuộc hộ nghèo không có người có nghĩa vụ và quyền phụng dưỡng hoặc có người có nghĩa vụ và quyền phụng dưỡng nhưng người này đang hưởng chế độ trợ cấp xã hội hàng tháng; Người từ đủ 80 tuổi trở mà không có lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội hàng tháng, trợ cấp xã hội hàng tháng; NCT thuộc hộ nghèo không có người có nghĩa vụ và quyền phụng dưỡng, không có điều kiện sống ở cộng đồng, đủ điều kiện tiếp nhận vào cơ sở bảo trợ xã hội, nhà xã hội nhưng có người nhận chăm sóc tại cộng đồng Tuy nhiên bên cạnh đó vẫn còn tồn tại những bất cập như việc triển khai các hoạt động chăm sóc sức khỏe chưa đồng bộ và kịp thời đến NCT cô đơn thuộc hộ nghèo, cũng như việc triển khai thực hiện còn chồng chéo giữa các vai trò của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội với Bộ Y tế Điều này khiến cho các hoạt động vẫn chưa phát huy được hết vai trò và chức năng của mình

Ở Việt Nam hiện nay, CTXH đã được công nhận là một nghề và có vai trò ngày càng quan trọng trong mục tiêu và chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, góp phần giải quyết công bằng và tiến bộ xã hội Đề án 32 của Chính phủ

về phát triển nghề CTXH Theo Quyết định số 32/2010/QĐ-TTg ngày 25/3/2010 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án phát triển nghề CTXH giai đoạn 2010-

2020 Mục tiêu chung: Phát triển CTXH trở thành một nghề ở Việt Nam Nâng cao nhận thức của toàn xã hội về nghề CTXH, xây dựng đội ngũ cán bộ, viên chức nhân viên, cộng tác viên CTXH đủ về số lượng, đạt yêu cầu về chất lượng gắn với phát triển hệ thống cơ sở cung cấp dịch vụ CTXH tại các cấp, góp phần xây dựng hệ thống an sinh xã hội tiên tiến [3, 2010] Tuy nhiên, khi triển khai đến các cấp cơ sở thì CTXH vẫn là một nghề mới mẻ, các cấp chính quyền địa phương vẫn chưa nhận thức được sâu sắc về các hoạt động của CTXH đối với NCT nói chung và NCT cô đơn thuộc hộ nghèo nói riêng Vì vậy, việc tổ chức và thực hiện các hoạt động còn hạn chế, chưa thiết thực và đáp ứng được với yêu cầu, nhiệm vụ

1.3.2 Điều kiện phát triển kinh tế - xã hội

Trang 34

29

Việt Nam vẫn đang là nước đang phát triển, kinh tế còn gặp nhiều khó khăn Tuy nhiên Đảng và Nhà nước luôn quan tâm đến công tác chăm sóc NCT Ngân sách Nhà nước hàng năm đã dành khoản kinh phí lớn cho các đối tượng bảo trợ xã hội, các hoạt động như: tổ chức Hội NCT, chúc thọ, mừng thọ, khám chữa bệnh, chăm sóc sức khỏe…góp phần đảm bảo an sinh xã hội, đời sống của NCT cơ bản được đáp ứng Nhà nước đóng vai trò chủ đạo trong việc hoạch định và chỉ đạo thực hiện chính sách đối với NCT, đảm bảo nguồn lực để đưa các chính sách đi vào cuộc sống

Ngoài những sự hỗ trợ của Nhà nước, công tác kết nối các nguồn lực, dịch

vụ cung cấp chương trình trợ giúp NCT cũng đang được điều phối mạnh mẽ Sự tham gia của các tổ chức từ thiện trong và ngoài nước, cộng đồng và xã hội cùng chung tay thực hiện các chương trình hành động cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả của việc chăm sóc NCT cả về vật chất và tinh thần, góp phần hỗ trợ ngày càng đảm bảo

và kịp thời cho NCT, giúp cho NCT cảm thấy mình còn có ích cho gia đình và xã hội…Tuy nhiên quá trình kết nối đôi khi vẫn còn chưa có sự thống nhất, sự phối hợp giữa các ngành, tổ chức, cá nhân chưa nhịp nhàng nên trên thực tế nhiều NCT vẫn chưa được tiếp cận với chế độ chính sách cũng như những nguồn lực trợ giúp

Khả năng nguồn lực kinh tế có ảnh hưởng đến triển khai thực hiện các chính sách và vận động, kết nối nguồn lực trong CTXH đối với NCT Địa phương có tiềm lực kinh tế mạnh, chính quyền cũng như các cơ quan, doanh nghiệp, cá nhân dễ dàng quyết định những chính sách chính sách ASXH, đầu tư nguồn lực (kinh phí, con người) để thực hiện các chính sách đối với NCT

1.3.3 Nhận thức của cộng đồng về Công tác xã hội

Ở Việt Nam, CTXH là một nghề được pháp luật công nhận, có vị trí ngày càng quan trọng trong mục tiêu và chiến lược phát triển kinh tế - xã hôi của đất nước Tuy nhiên, CTXH là một nghề còn tương đối mới mẻ, các cấp, chính quyền địa phương khi chưa có nhận thức sâu sắc về các hoạt động của CTXH nói chung và CTXH đối với NCT cô đơn thuộc hộ nghèo nói riêng sẽ dẫn đến khó tạo được sự đồng thuận, ủng hộ về chủ trương, nguồn lực trong việc phê duyệt cũng như chỉ đạo

tổ chức triển khai thực hiện các chương trình hỗ trợ NCT tại địa phương

Trang 35

30

1.3.4 Trình độ, năng lực của nhân viên công tác xã hội

Nhân viên xã hội phải được trang bị tốt về trình độ, bên cạnh kiến thức nghề nghiệp họ càn phải có kiến thức về chính sách xã hội, tâm lý học, xã hội học, các kiến thức bổ trợ khác như kinh tế, pháp luật thì mới có thể làm tốt được vai trò của mình trong việc trợ giúp đối tượng của CTXH xã hội nói chung và NCT cô đơn thuộc hộ nghèo nói riêng NVXH cần có đạo đức nghề nghiệp, bên cạnh đó còn cần

có các kỹ năng như: kỹ năng lắng nghe, kỹ năng thu thập và phần tích thông tin, kỹ năng đánh giá, kỹ năng quan sát, kỹ năng giao tiếp… và có thái độ làm việc nghiêm túc, trung thực, thái độ cởi mở, kiên trì

Các yếu tố tính cách, sở thích và cảm xúc của nhân viên CTXH có ảnh hưởng mạnh mẽ đến nghiệp vụ của họ, bởi nhân viên CTXH sẽ phải tương tác nhiều với đối tượng của mình bằng các hoạt động tư vấn, tham vấn…Vì vậy, nhân viên CTXH dễ mang cái thuộc về cá nhân của mình để truyền đạt cho đối tượng của mình nhằm điều chỉnh nhận thức, hành vi của đối tượng

Yếu tố gia đình của nhân viên CTXH: Mỗi còn người đều có gia đình, họ coi gia đình là chỗ dựa, đồng thời họ cũng có những trách nhiệm cần phải hoàn thành vai trò của họ trong gia đình của mình Gia đình có ảnh hưởng quan trọng đến chất lượng công việc trợ giúp của nhân viên CTXH Đặc biệt là đối với phụ nữ, họ sẽ gặp nhiều khó khăn hơn vì bản thân họ phải đảm đương nhiều trách nhiệm trong gia đình

1.3.5 Đặc điểm, khó khăn và nhu cầu của người cao tuổi cô đơn thuộc hộ nghèo

Người cao tuổi cô đơn thuộc hộ nghèo do có đặc điểm tâm sinh lý của tuổi già nên gặp các vấn đề về sức khỏe, điều này gây nên những khó khăn trong các hoạt động hàng ngày như đi lại trở nên chậm chạp, không còn nhanh nhẹn, thường hay ốm đau

Tâm lý cũng là vấn đề rất cần được quan tâm ở NCT cô đơn thuộc hộ nghèo Không còn ở tuổi lao động nhưng họ vẫn phải lao động để kiếm sống Họ thường cảm thấy cô đơn, mặc cảm, sống khép kín Họ ngại va chạm, giao tiếp vì mặc cảm bản thân, vì vậy sẽ gay trở ngại, khó khăn cho NVXH trong quá trình thu thập thông

Trang 36

Tiểu kết chương

Trong chương 1, luận văn đã làm rõ một số khái niệm công cụ để nghiên cứu

đề tài, bao gồm các khái niệm: NCT, NCT cô đơn, NCT cô đơn thuộc hộ nghèo, CTXH, CTXH cá nhân với NCT cô đơn thuộc hộ nghèo… Đồng thời, tác giả cũng

đề cập đến một số lý thuyết và các nguyên tắc cơ bản mà NVXH sẽ vận dụng và sử dụng khi hỗ trợ NCT cô đơn thuộc hộ nghèo Chương 1 cũng đã nêu ra các hoạt động của CTXH cá nhân trong việc trợ giúp NCT cô đơn thuộc hộ nghèo; đồng thời phân tích một số yếu tố ảnh hưởng đến CTXH cá nhân với NCT cô đơn thuộc hộ nghèo Những lý luận này là cơ sở để tác giả tìm hiểu thực trạng CTXH cá nhân với NCT cô đơn thuộc hộ nghèo trên địa bàn huyện Lương Sơn ở chương tiếp theo

Trang 37

32

Chương 2 KẾT QUẢ KHẢO SÁT THỰC TRẠNG CÔNG TÁC XÃ HỘI CÁ NHÂN VỚI NGƯỜI CAO TUỔI CÔ ĐƠN THUỘC HỘ NGHÈO TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN

LƯƠNG SƠN, TỈNH HÒA BÌNH 2.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu và khách thể nghiên cứu

2.1.1 Vài nét về huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình

2.1.1.1 Đặc điểm tự nhiên

Lương Sơn là huyện cửa ngõ phía đông của tỉnh Hòa Bình, tiếp giáp với Thủ

đô Hà Nội với vùng Tây bắc của Tổ quốc, gần với khu Công nghệ cao Hòa Lạc, khu đô thị Phú Cát, Miếu Môn, Đại học Quốc gia, Làng văn hóa các dân tộc Việt Nam Huyện nằm ở tọa độ địa lí: từ 105025’14” - 105041’25” Kinh độ Đông; 20036’30” - 20057’22” Vĩ độ Bắc Phía tây giáp huyện K Sơn Phía nam giáp các huyện Kim Bôi và Lạc Thủy Phía đông giáp các huyện Mỹ Đức, Chương Mỹ; phía bắc giáp huyện Quốc Oai (thành phố Hà Nội)

Tổng diện tích tự nhiên toàn huyện 36.488,85 ha, được chia thành 20 đơn vị hành chính, bao gồm 19 xã và 1 thị trấn Trung tâm huyện đóng tại thị trấn Lương Sơn - Là trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa của huyện; cách Thủ đô Hà Nội khoảng 40 km về phía Tây và cách thành phố Hòa Bình khoảng 30 km về phía Đông Có đường quốc lộ số 6A, đường Hồ Chí Minh đi qua, có tài nguyên phong phú và nguồn lao động dồi dào

Về địa hình, huyện Lương Sơn thuộc vùng trung du - nơi chuyển tiếp giữa đồng bằng và miền núi, nên địa hình rất đa dạng Địa hình đồi núi thấp có độ cao sàn sàn nhau khoảng 200-400m được hình thành bởi đá macma, đá vôi và các trầm tích lục nguyên, có mạng lưới sông , suối khá dày đặc

Khí hậu Lương Sơn thuộc khí hậu nhiệt đới gió mùa, với mùa đông lạnh, ít mưa; mùa hè nóng, mưa nhiều; Nền nhiệt trung bình cả năm 22,9 - 23,30c Lượng mưa bình quân từ 1.520,7- 2.255,6 mm/ năm, nhưng phân bố không đều trong năm

và ngay cả trong mùa cũng rất thất thường

Lương Sơn có mạng lưới sông, suối phân bố tương đối đồng đều trong các xã.Con sông lớn nhất chảy qua huyện là sông Bùi, bắt nguồn từ dãy núi Viên Nam

Trang 38

33

cao 1.029m thuộc xã Lâm Sơn dài 32 km Đầu tiên sông chảy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam, khi đến xã Tân Vinh thì nhập với suối Bu ( bắt nguồn từ xã Trường Sơn), dòng sông đổi hướng chảy quanh co, uốn khúc theo hướng Tây - Đông cho đến hết địa phận huyện Sông Bùi mang tính chất một con sông già, thung lũng rộng, đáy bằng, độ dốc nhỏ, có khả năng tích nước Ngoài sông Bùi trong huyện còn một số sông, suối nhỏ “nội địa” có khả năng tiêu thoát nước tốt; Tổng diện tích đất lâm nghiệp là 18.733,19 ha chiếm 49,68% diện tích tự nhiên Rừng tự nhiên của huyện khá đa dạng và phong phú với nhiều loại gỗ quý nhưng do tác động của con người, rừng đã mất đi quá nhiều và thay thế chúng là rừng thứ sinh Diện tích rừng phân bố ở tất cả các xã trong huyện Ngoài những đặc điểm trên, Lương Sơn cũng là huyện có nguồn tài nguyên du lịch văn hóa vật thể và phi vật thể [23]

2.1.1.2 Tình hình phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội

Dân số toàn huyện 96.423 người gồm 3 dân tộc chính là Mường, Dao, Kinh, trong đó người Mường chiếm khoảng 70% dân số Lực lượng lao động đông, số lao động phi nông nghiệp ngày càng gia tăng, tỷ lệ lao động qua đào tạo chiếm 63%, điều này cho thấy huyện có thế mạnh về nguồn lực lao động

Năm 2018, trong bối cảnh kinh tế tiếp tục khởi sắc, môi trường kinh doanh tiếp tục được cải thiện, thu hút đầu tư vào địa bàn đạt khá, tình hình kinh tế - xã hội của huyện trong năm đã đạt được những kết quả nhất định mặc dù còn nhiều khó khăn, thách thức cùng với diễn biến bất thường của thời tiết đã ảnh hưởng không nhỏ tới sản xuất kinh doanh và đời sống của nhân dân, một số doanh nghiệp khai thác khoáng sản phảidừng sản xuất trong nhiều tháng để thực hiện thiết kế mỏ theo quy định Song với sự quyết tâm cao trong chỉ đạo, điều hành của cả hệ thống chính trị, sự nỗ lực của các ngành, các cấp, doanh nghiệp và nhân dân đã góp phần đưa kinh tế - xã hội năm 2018 chuyển biến tích cực: Tổng thu ngân sách Nhà nước ước đạt 201,860 tỷ đồng; GRDP bình quân đầu người ước đạt 64,4 triệu đồng; thu nhập bình quân/người ước đạt 31 triệu đồng/người/năm; tỷ lệ che phủ rừng ở mức 41% Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội được quan tâm đầu tư xây dựng

Thực hiện Chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới năm

2018 có 01 xã được công nhận, hoàn thiện hồ sơ đề nghị UBND tỉnh công nhận 04

Trang 39

34

xã đạt chuẩn nông thôn mới năm 2018, số tiêu chí bình quân/xã đạt chuẩn nông thôn mới đạt 18,1 tiêu chí; tỷ lệ hộ nghèo giảm 0,92% ( còn 3,91%); cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực: Nông - lâm nghiệp chiếm 13,2%, Công nghiệp - xây dựng chiếm 62,3%, Thương mại - Dịch vụ chiếm 24,5%; tập trung huy động các nguồn lực xây dựng thị trấn Lương Sơn và 5 xã phụ cận đạt tiêu chí đô thị loại 4 vào năm 2020; thực hiện tốt thí điểm công tác dồn điền đổi thửa, công tác thí điểm sáp nhập xóm, sáp nhập trường học; đời sống tinh thần tiếp tục được nâng cao, các hoạt động văn hóa, thể thao, du lịch hoạt động tích cực và đạt nhiều thành tích; tình hình an ninh - chính trị, trật tự an toàn xã hội ổn định; công tác quốc phòng, quân sự địa phương được đảm bảo [22]

2.1.2 Tình hình người cao tuổi cô đơn thuộc hộ nghèo trên địa bàn huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình

2.1.2.1 Khái quát chung về người cao tuổi cô đơn thuộc hộ nghèo trên địa bàn huyện Theo báo cáo của phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện Lương Sơn, trên địa bàn huyện hiện có 20 NCT cô đơn thuộc hộ nghèo NCT cô đơn thuộc

hộ nghèo trên địa bàn huyện có một số đặc điểm như sau:

Bảng 2.1: Đặc điểm người cao tuổi cô đơn thuộc hộ nghèo

Trang 40

Con cái không có điều kiện chăm sóc 3 15

Về giới tính và độ tuổi của NCT cô đơn thuộc hộ nghèo: Kết quả về khảo sát giới

tính NCT cô đơn thuộc hộ nghèo trong mẫu nghiên cứu cho thấy có sự chênh lệch giới tính giữa nữ và nam Số cụ bà chiếm 60% và cụ ông chiếm 40% Về độ tuổi,

Ngày đăng: 14/11/2019, 14:41

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lê Chí An ( 2006), Công tác xã hội nhập môn, Nxb Đại học Mở thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công tác xã hội nhập môn
Nhà XB: Nxb Đại học Mở thành phố Hồ Chí Minh
4. Bùi Thị Mai Đông (2016), Nhu cầu tham gia hoạt động xã hội của người cao tuổi (nghiên cứu tại phường Vĩnh Tuy, quận Hai Bà Trưng và xã Nghĩa Hương, huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội”, Đề tài khoa học, Học viện Phụ nữ Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhu cầu tham gia hoạt động xã hội của người cao tuổi (nghiên cứu tại phường Vĩnh Tuy, quận Hai Bà Trưng và xã Nghĩa Hương, huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội”
Tác giả: Bùi Thị Mai Đông
Năm: 2016
5. Bùi Thị Mai Đông, Nguyễn Thị Thanh Thủy, Nguyễn Văn Vệ (2017), Giáo trình Công tác xã hội với người cao tuổi, NXB Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Công tác xã hội với người cao tuổi
Tác giả: Bùi Thị Mai Đông, Nguyễn Thị Thanh Thủy, Nguyễn Văn Vệ
Nhà XB: NXB Giáo dục Việt Nam
Năm: 2017
7. Nguyễn Thị Thương Huyền (2017), Công tác xã hội cá nhân trong việc hỗ trợ người cao tuổi tại xã Minh Quang, huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội, Luận văn thạc sĩ, Đại học Lao động xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công tác xã hội cá nhân trong việc hỗ trợ người cao tuổi tại xã Minh Quang, huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội
Tác giả: Nguyễn Thị Thương Huyền
Năm: 2017
10. Phạm Vũ Hoàng (2013), Một số giải pháp nâng cao chất lượng chăm sóc người cao tuổi Việt Nam, Luận án tiến sĩ, Đại học Kinh tế quốc dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số giải pháp nâng cao chất lượng chăm sóc người cao tuổi Việt Nam
Tác giả: Phạm Vũ Hoàng
Năm: 2013
11. Bùi Thị Xuân Mai (2012), Giáo trình Nhập môn Công tác xã hội, NXB Lao động Xã Hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Nhập môn Công tác xã hội
Tác giả: Bùi Thị Xuân Mai
Nhà XB: NXB Lao động Xã Hội
Năm: 2012
12. Lê Ngọc Lân (2010), Một số vấn đề cơ bản về người cao tuoir ở Việt Nam giai đoạn 2011 – 2020, Đề tài khoa học, Viện nghiên cứu Gia đình và giới - Viện Khoa học xã hội Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề cơ bản về người cao tuoir ở Việt Nam giai đoạn 2011 – 2020
Tác giả: Lê Ngọc Lân
Năm: 2010
13. Đặng Phương Liên (2018), Dịch vụ công tác xã hội trong chăm sóc sức khỏe người cao tuổi thuộc hộ nghèo từ thực tiễn huyện Yên Minh, tình Hà Giang, Luận Văn thạc sĩ, Học viện Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dịch vụ công tác xã hội trong chăm sóc sức khỏe người cao tuổi thuộc hộ nghèo từ thực tiễn huyện Yên Minh, tình Hà Giang
Tác giả: Đặng Phương Liên
Năm: 2018
14. Đặng Vũ Cảnh Linh (2009), Ngiên cứu một số đặc trưng của người cao tuổi Việt Nam và đánh giá mô hình chăm sóc NCT đang áp dụng, NXB Dân trí, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngiên cứu một số đặc trưng của người cao tuổi Việt Nam và đánh giá mô hình chăm sóc NCT đang áp dụng
Tác giả: Đặng Vũ Cảnh Linh
Nhà XB: NXB Dân trí
Năm: 2009
15. Nguyễn Thị Oanh (1998), An sinh xã hội và các vấn đề xã hội, Đại học Mở Bán công thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: An sinh xã hội và các vấn đề xã hội
Tác giả: Nguyễn Thị Oanh
Năm: 1998
17. Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam (2009), Luật người cao tuổi số 39/2009/QH12, ban hành ngày 23/11/2009, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật người cao tuổi số 39/2009/QH12
Tác giả: Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam
Năm: 2009
18. Thủ tướng Chính phủ (2000), Nghị định số 07/2000-NĐ-CP quy định về chính sách cứu trợ xã hội, ban hành ngày 09/3/2000, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 07/2000-NĐ-CP quy định về chính sách cứu trợ xã hội
Tác giả: Thủ tướng Chính phủ
Năm: 2000
19. Thủ tướng Chính phủ (2000), Nghị định số 07/2000-NĐ-CP quy định về chính sách cứu trợ xã hội, ban hành ngày 09/3/2000, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 07/2000-NĐ-CP quy định về chính sách cứu trợ xã hội
Tác giả: Thủ tướng Chính phủ
Năm: 2000
20. Lê Thảo Vy (2013), Nhu cầu quan hệ của người già cô đơn, không nơi nương tựa tại Trung tâm Bảo trợ xã hội IB Ba Vì - Hà Nội và vai trò can thiệp của nhân viên công tác xã hội, Báo cáo thực tập, Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhu cầu quan hệ của người già cô đơn, không nơi nương tựa tại Trung tâm Bảo trợ xã hội IB Ba Vì - Hà Nội và vai trò can thiệp của nhân viên công tác xã hội
Tác giả: Lê Thảo Vy
Năm: 2013
21. Nguyễn Thị Thúy Vân (2017), Công tác xã hội đối với người cao tuổi từ thực tiễn tỉnh Long An, Luận văn thạc sĩ, Học viện Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công tác xã hội đối với người cao tuổi từ thực tiễn tỉnh Long An
Tác giả: Nguyễn Thị Thúy Vân
Năm: 2017
23. Bùi Thị Thu Hoài (2018), Công tác xã hội nhóm với phụ nữ nghèo đơn thân tại huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình, Luận văn thạc sĩ, Học viện Khoa học xã hội 24. Bowling A. (1998), “Models of quality of life in older age”, Aging well,OpenUniversiy Press Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công tác xã hội nhóm với phụ nữ nghèo đơn thân tại huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình", Luận văn thạc sĩ, Học viện Khoa học xã hội 24. Bowling A. (1998), “Models of quality of life in older age”, "Aging well
Tác giả: Bùi Thị Thu Hoài (2018), Công tác xã hội nhóm với phụ nữ nghèo đơn thân tại huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình, Luận văn thạc sĩ, Học viện Khoa học xã hội 24. Bowling A
Năm: 1998
25. Pintquart M. (2000), “Influences of Socioeconomic Status, Social Network, and Competence on Subjective Well-Being in Later Life: A Meta-Analysis” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Influences of Socioeconomic Status, Social Network, and Competence on Subjective Well-Being in Later Life: A Meta-Analysis
Tác giả: Pintquart M
Năm: 2000
6. Help Age International (2001), Hoàn cảnh của người cao tuổi nghèo ở Việt Nam Khác
16. Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện Lương Sơn (2018), Báo cáo công tác Lao động - Thương binh và Xã hội năm 2018 Khác
22. Ủy ban nhân dân huyện Lương Sơn (2018), Báo cáo phát triển kinh tế - xã hội năm 2019; Phương hướng thực hiện nhiệm vụ năm 2019 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w