1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

luận văn Kế thừa và phát huy bản sắc văn hóa của dân tộc thái ở tây bắc hiện nay (qua thực tế ở tỉnh sơn la

90 116 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 90
Dung lượng 537,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

luận văn hay nhất về Kế thừa và phát huy bản sắc văn hóa của dân tộc thái ở tây bắc hiện nay (qua thực tế ở tỉnh sơn la ) có các số liệu, biểu bảng và cột, biểu đồ minh họa rất công phu, chất lượng cao. được mọi người tải nhiều nhất

Trang 1

Mở đầu

1 Tính cấp thiết của đề tài

Văn hóa vốn gắn liền với toàn bộ cuộc sống và với sự phát triển của xãhội Con ngời ra đời cùng với văn hóa, trởng thành nhờ văn hóa, hớng tới tơnglai cũng từ văn hóa Văn hóa của một dân tộc trớc hết thể hiện ở bản sắc củadân tộc ấy Bản sắc dân tộc thể hiện trong hệ giá trị của văn hóa dân tộc, nóbiểu hiện và định hớng cho sự lựa chọn trong hành động của con ngời Nhữnggiá trị văn hóa là thớc đo trình độ phát triển và đặc tính riêng của mỗi dân tộc

“Một dân tộc thiếu văn hóa cha phải là một dân tộc thật sự hình thành, mộtnền văn hóa không có bản sắc dân tộc thì nền văn hóa ấy không có sức sốngthật sự của nó” [9, tr.16]

Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc, 54 dân tộc là 54 sắc màu văn hóatạo nên nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc Việt Nam, đợc phân bố ở cácvùng, miền của Tổ quốc Do đặc điểm về điều kiện địa lý, kinh tế - xã hội vànhiều nhân tố ảnh hởng khác nhau, đã hình thành nên các vùng văn hóa khácnhau, từ đó văn hóa của các dân tộc cũng có những điểm khác biệt và mangtính đặc thù Trong các vùng văn hóa ấy, vùng Tây Bắc nớc ta gồm 6 tỉnh:Hòa Bình, Sơn La, Lai Châu, Điện Biên, Lào Cai, Yên Bái Là một vùng rộnglớn, có địa chính trị, kinh tế - văn hóa độc đáo, có vị trí rất quan trọng đối với sựphát triển của đất nớc cả về an ninh - quốc phòng, kinh tế, văn hóa, xã hội baogồm rất nhiều dân tộc thiểu số sinh sống Mỗi dân tộc với những đặc điểm riêng,

đều sớm hình thành những nét văn hóa riêng có, độc đáo của mình

Dân tộc Thái là dân tộc có số dân đông thứ hai trong 53 dân tộc thiểu

số ở nớc ta Cũng nh mọi dân tộc khác, ngời Thái ở Tây Bắc đã sớm hìnhthành một nền văn hóa mang mầu sắc riêng và hết sức đặc sắc Nền văn hóa

ấy ảnh hởng sâu xa đến từng cá nhân trong cộng đồng ngời Thái, góp phầnlàm phong phú thêm những giá trị cho nền văn hóa đa dân tộc vùng Tây BắcViệt Nam

Những năm gần đây, tình hình thế giới có nhiều biến đổi Xu thế toàncầu hóa đang diễn ra nh một cơn lốc cuốn hút tất cả các nớc trên thế giới ViệtNam cũng nh tất cả các quốc gia khác không thể đứng ngoài dòng chảy này.Kinh tế thị trờng với những u điểm và mặt trái của nó, có ảnh hởng không nhỏ

đến nền văn hóa truyền thống của các dân tộc trong cộng đồng các dân tộcViệt Nam, trong đó có văn hóa của dân tộc Thái ở Tây Bắc Bên cạnh những

Trang 2

giá trị tốt đẹp trong văn hóa truyền thống của ngời Thái, còn có những yếu

tố không còn phù hợp với sự phát triển của thời đại Tr ớc sự tác động của cơchế thị trờng, của mở rộng hội nhập quốc tế và giao lu văn hóa hiện nay,nhiều giá trị văn hóa truyền thống của ngời Thái nói chung, và ngời Thái ởTây Bắc nói riêng đang bị mai một, pha trộn, lai căng, không còn giữ đ ợcbản sắc Vấn đề khác quan trọng hơn cả, đó là chúng ta đang phấn đấu để

có đợc sự bình đẳng về mọi mặt giữa các dân tộc, các vùng miền trên cả n

-ớc Để đạt đợc điều này phải kết hợp nhiều yếu tố, trong đó văn hóa chiếmvai trò, vị trí hết sức quan trọng, không thể có bình đẳng dân tộc nếu nhkhông giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa các dân tộc thiểu số ở n ớc ta,bởi lẽ: "Vấn đề dân tộc là vấn đề văn hóa, đừng tìm vấn đề dân tộc ở chỗkhác" [19, tr.10]

Hiện nay, Đảng và Nhà nớc ta đã đa ra nhiều chủ trơng, chính sáchnhằm thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóacác dân tộc, tạo điều kiện để vùng Tây Bắc phát triển đồng đều và vững chắc,

đóng góp vào việc thực hiện mục tiêu chung của đất nớc trong thời kỳ đẩymạnh CNH, HĐH Trớc tình hình đó thì việc giữ gìn, kế thừa và phát huy bảnsắc văn hóa dân tộc Thái ở Tây Bắc là vấn đề mang tính thời sự, cấp báchtrong giai đoạn hiện nay

Nhận thức về ý nghĩa và tầm quan trọng của vấn đề, để đóng góp phầncông sức nhỏ bé vào mục tiêu của cả nớc nói chung, và tỉnh Sơn La nói riêng,

tôi chọn vấn đề “Kế thừa và phát huy bản sắc văn hóa của dân tộc Thái ở Tây Bắc hiện nay (qua thực tế ở tỉnh Sơn La)" làm đề tài cho luận văn tốt

nghiệp của mình

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Vấn đề này đã đợc nhiều ngời nghiên cứu ở những phạm vi và góc độkhác nhau

Nghiên cứu dới góc độ bản sắc văn hóa có những tác phẩm tiêu biểu nh:

"Suy nghĩ về bản sắc văn hóa dân tộc", Huy Cận, Nxb Chính trị Quốc gia, 1994 "Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam", PGS Viện sĩ Trần Ngọc Thêm, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, 2001 "Bản sắc văn hóa Việt Nam", Phan Ngọc, Nxb Văn học, 2002 "Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc", Nguyễn Khoa Điềm (chủ biên) "Bản sắc văn hóa dân tộc", Hồ Bá Thâm, Nxb Văn hóa Thông tin, 2003

Nghiên cứu về văn hóa các dân tộc thiểu số có:

Trang 3

"Tìm hiểu văn hóa vùng các dân tộc thiểu số" của Lò Giàng Páo, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội, 1997 "Văn hóa các dân tộc thiểu số ở Việt Nam", Ngô Văn Lệ, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1998 Đề tài: "Văn hóa truyền thống của các dân tộc Jrai và Bahnar ở tỉnh Gia Lai hiện nay - Thực trạng và giải pháp", Luận văn thạc sĩ Triết học của Lê Thị Mỹ Vân, 1999, Đại học KHXH

& NV - ĐHQG Hà Nội."Văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu số trong cuộc sống hôm nay", Nguyễn Khoa Điềm, Tạp chí Văn hóa nghệ thuật, số 7/2000 Đề tài: "Vấn đề giữ gìn và phát huy giá trị văn hóa các dân tộc thiểu

số ở Gia Lai trong điều kiện kinh tế thị trờng hiện nay", Luận văn thạc sĩ Triết

học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, 2003 của Đỗ Văn Hòa

Nghiên cứu văn hóa dân tộc Thái có các công trình:

“Nghệ thuật trang phục thái”, Lê Ngọc Thắng, Nxb Văn hóa Dân tộc,

Hà Nội, 1990 "Văn hóa thái Việt Nam", Cầm Trọng, Phan Hữu Dật, Nxb Văn hóa Dân tộc, Hà Nội, 1995 "Văn hóa và lịch sử ngời Thái ở Việt Nam", Nxb Văn hóa Dân tộc, Hà Nội, 1996."Bản Mờng - một cấu trúc xã hội truyền thống Thái, Báo cáo khoa học trình bày tại hội nghị quốc tế Thái học lần thứ

4, Chiềng Mai - Thái Lan, (10-1996), Cầm Trọng Đề tài khoa học KX.03.97:

"Nghiên cứu văn hóa bản dân tộc Thái Đen, trên cơ sở đó đề xuất nội dung, giải pháp xây dựng mô hình bản văn hóa", 1999, UBND tỉnh Sơn La "Vài nét

về ngời Thái ở Sơn La", Vì Trọng Liên, Nxb Văn hóa Dân tộc, Hà Nội, 2002.

"Hoa Văn Thái" của Hoàng Lơng, Nxb Lao động, Hà Nội, 2003 "Bảo tồn và phát triển văn hóa truyền thống ở vùng núi Bắc Trung Bộ hiện nay", Cao Văn

Thanh (chủ biên), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004 Và nhiều bài viết trêncác tạp chí: Dân tộc học, nghiên cứu lịch sử

Nhìn chung: Các công trình, tác phẩm đều đã đi vào khai thác những đặc

điểm chung về bản sắc văn hóa; văn hóa các dân tộc thiểu số; văn hóa của dântộc Thái ở nớc ta Tuy nhiên, những nghiên cứu này mới chỉ dừng lại ở việctìm hiểu những giá trị văn hóa, phong tục tập quán của ngời Thái (nói chung),ngời Thái ở Tây Bắc (nói riêng) nhằm giới thiệu về ngời Thái; những nét đặcsắc - cái hay, cái đẹp của văn hóa dân tộc Thái Một số đề tài, công trình cũng

đề cập tới vấn đề bảo tồn, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Tháinhng mới chỉ đề cập một cách chung chung hoặc đi sâu tìm hiểu một số nétvăn hóa cụ thể; đã đề cập đến thực trạng và một số giải pháp cho sự phát triểnvăn hóa các dân tộc Tây Bắc nhng cũng chỉ là những giải pháp mang tính định

Trang 4

hớng chung cho các dân tộc thiểu số; chủ yếu nghiên cứu về văn hóa dân tộcThái ở góc độ văn hóa, cha đi sâu vào nghiên cứu một cách có hệ thống dớigóc độ triết học, cha bàn nhiều tới vấn đề kế thừa và phát huy bản sắc văn hóadân tộc Thái ở Tây Bắc một cách khái quát.

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn

* Mục đích nghiên cứu:

trên cơ sở làm rõ thực trạng kế thừa và phát huy bản sắc văn hóa dân tộcThái ở Tây Bắc hiện nay (qua thực tế ở tỉnh Sơn La), luận văn đa ra một sốgiải pháp cơ bản nhằm kế thừa và phát huy bản sắc văn hóa của dân tộc Thái ởTây Bắc nói chung, và dân tộc Thái ở Sơn La nói riêng

* Nhiệm vụ:

luận văn tập trung giải quyết những nhiệm vụ chính sau:

Một là, làm rõ bản sắc văn hóa của dân tộc Thái và tính tất yếu khách

quan của việc kế thừa và phát huy bản sắc văn hóa của dân tộc Thái

Hai là, đánh giá thực trạng vấn đề kế thừa và phát huy bản sắc văn hóa

dân tộc Thái ở Tây Bắc hiện nay (minh họa bằng các số liệu, thực tế khảo sát

ở tỉnh Sơn La)

Ba là, chỉ ra nguyên nhân của thực trạng và đề ra một số giải pháp cơ

bản, nhằm kế thừa và phát huy bản sắc dân tộc Thái ở Tây Bắc và Sơn La

4 Đối tợng và phạm vi nghiên cứu

* Đối tợng nghiên cứu:

Với mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đã trình bày ở trên, luận văn xác

định đối tợng nghiên cứu là văn hóa dân tộc Thái ở Tây Bắc (nội dung chủ yếu làvăn hóa dân tộc Thái ở tỉnh Sơn La) trên góc độ triết học

* Phạm vi nghiên cứu:

Văn hóa là một vấn đề rất rộng, văn hóa các dân tộc cũng rất đa dạng vàphong phú Luận văn không trình bày toàn bộ các vấn đề thuộc về văn hóacủa dân tộc Thái ở Tây Bắc mà chủ yếu khai thác một cách có hệ thống, ởkhía cạnh triết học những giá trị văn hóa tạo nên "Bản sắc văn hóa" của dântộc Thái ở Tây Bắc và ở Sơn La nhằm kế thừa và phát huy nó trong giai đoạnhiện nay

5 Cơ sở lý luận và phơng pháp nghiên cứu

* Cơ sở lý luận:

Thực hiện đề tài này, luận văn chủ yếu dựa trên cơ sở lý luận là chủnghĩa Mác - Lênin, t tởng Hồ Chí Minh và đờng lối quan điểm của Đảng và

Trang 5

Nhà nớc ta về văn hóa và chính sách phát triển văn hóa, nhất là quan hệ biệnchứng giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội; đồng thời có tham khảo một sốcông trình nghiên cứu, đề tài khoa học, sách, báo tài liệu có liên quan đếnnội dung đợc đề cập trong luận văn.

* Phơng pháp nghiên cứu:

Luận văn sử dụng các phơng pháp của chủ nghĩa duy vật biện chứng vàduy vật lịch sử, phơng pháp lịch sử và lôgíc; phân tích và tổng hợp; quy nạp vàdiễn dịch, điều tra, so sánh nhằm thực hiện mục đích mà đề tài đặt ra

6 Đóng góp khoa học của luận văn

Luận văn góp phần làm rõ thêm những nét đặc sắc của tộc Thái ở TâyBắc; phân tích và hệ thống hóa các giá trị văn hóa của dân tộc Thái dới góc độtriết học Qua đó đa ra những giải pháp cơ bản và thiết thực nhằm kế thừa vàphát huy bản sắc văn hóa của dân tộc Thái ở Tây Bắc và Sơn La trong giai

đoạn hiện nay

7 ý nghĩa của luận văn

Kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ góp phần bổ sung và làm sáng tỏ lýluận về văn hóa, bản sắc văn hóa và vấn đề kế thừa nó; đồng thời góp phầnkhẳng định vai trò, ý nghĩa của những giá trị văn hóa của dân tộc Thái ở TâyBắc theo hớng: Xây dựng một nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắcdân tộc

Luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu vàgiảng dạy các bộ môn: Triết học, Văn hóa, Dân tộc học ở các nhà trờng, làmtài liệu tham khảo cho cán bộ hoạch định chính sách và quản lý văn hóa ở TâyBắc và tỉnh Sơn La

8 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,luận văn gồm 2 chơng, 4 tiết

Trang 6

Chơng 1

Bản sắc văn hóa của dân tộc Thái Tính tất yếu khách

quan của việc kế thừa và phát huy nó

1.1 Bản sắc văn hóa của dân tộc Thái

là huyện Đà Bắc và Mai Châu) và miền Tây hai tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An.Cuối cùng còn thấy những nhóm sống rải rác trong các tỉnh thuộc vùng núiTây Nguyên, trong đó huyện Đức Trọng tỉnh Lâm Đồng là nơi họ ở đông hơncả

Trải qua hàng ngàn năm sinh sống trên các địa bàn trên lãnh thổ ViệtNam, dân tộc Thái đã cùng các dân tộc anh em khác, tham gia dựng nớc vàgiữ nớc Đây cũng chính là quá trình hình thành tộc ngời để phát triển đếnngày nay Hiện nay, cha có cách nào khác để tìm ra cội nguồn của văn hoálịch sử tộc ngời Thái, ngoài việc rút ra và đúc kết những hiểu biết mới về đờisống tâm linh của họ Từ đó, đa ra những kết luận về nguồn gốc hình thànhcủa dân tộc này

Ngời Thái ở Việt Nam không theo một tôn giáo chính thống nào trên thếgiới mà theo một trong những tục có nghi thức thờ Nớc (nặm) và Đất gọi là Cạn(bốc) Nớc có biểu tợng Thần chủ là con Rồng (Tô Luông) mang tên chủ nớc

(chảu nặm), và đất có biểu tợng thần chủ là loài Chim ở núi mang tên chủ đất

(chảu đin) Hai biểu tợng thần chủ Rồng, Chim cũng là Mẹ, Cha của Mờng vàtục thờ này nằm trong toàn bộ nghi lễ cúng mờng (xên mơng)

Trang 7

Theo truyền thống, Thái Đen và Thái Trắng có tục thờ Mẹ- Cha gắn vớibiểu tợng thần linh Rồng- nớc và Chim- cạn trong cúng Mờng chéo ngợc nhsau:

Mờng Thái Đen thờ: Mẹ - Rồng - nớc > < Cha - Chim - Cạn

Mờng Thái Trắng thờ: Mẹ - Chim - Cạn > < Cha - Rồng - Nớc

Điều này cho thấy mối liên hệ giữa văn hóa biểu tợng cội nguồn giữa

ng-ời Thái với truyền thuyết thủy tổ ngng-ời Việt (Kinh): “Mẹ thủy tổ ngng-ời Kinh là

bà Âu Cơ thuộc giống Tiên (Chim lạc) ở đất, và Cha thủy tổ là ông Lạc LongQuân thuộc loài Rồng- nớc (Thủy tộc (biển) Bà Âu Cơ sinh ra một bọc trămtrứng, nở ra trăm con trai, khi khôn lớn thì năm mơi con trai theo cha xuốngbiển và năm mơi con trai theo mẹ về núi” [41, tr 23] Từ đây, ta có thể hìnhdung đợc bức tranh có thể có về sự hình thành, và phát triển văn hóa cộinguồn của hai ngành Ngời thuộc nhóm nói tiếng Thái có liên hệ với Ngời Việt(Kinh) trong lịch sử hàng ngàn năm hình thành và phát triển:

Trong khi Mẹ thủy tổ hay thần Mẹ của ngành ngời Thái Trắng

ở cùng nhóm nữ với bà Âu Cơ trong tập đoàn ngời mang biểu tợngChim - cạn thì Mẹ thủy tổ, hay thần Mẹ của ngành ngời Thái Đen sẽ

ở nhóm Nữ của tập đoàn ngời có đại diện nhóm Nam là ông LạcLong Quân mang biểu tợng Rồng - nớc Ngợc lại, Cha thủy tổ haythần Cha của ngành ngời Thái Trắng cùng nhóm Nam là ông LạcLong Quân mang biểu tợng Rồng Nớc thì Cha của ngành Thái Đen

sẽ ở nhóm Nam có đại diện nhóm Nữ là Bà Âu Cơ trong tập đoànngời mang biểu tợng Chim - cạn [69]

Theo các nhà nghiên cứu, thì tổ tiên của ngời Thái đã sinh cơ lậpnghiệp tại một vùng nào đó chính trong phạm vi họ đang c trú hiện nay, có thể

từ trớc công nguyên đã có một phần ngời Thái c trú chủ yếu là ở vùng MờngThanh bây giờ Sang những thế kỷ đầu công nguyên, một bộ phận Thái Trắng

ở đầu sông Đà, sông Nậm Na đã di c xuống phía Nam c trú ở các huyện phíaBắc nh mờng Tè, mờng Xo (Phong Thổ), mờng Lay, Quỳnh Nhai (Sơn La)

Đến thế kỷ thứ XI theo “Quăm Tô Mơng” cho rằng: khởi thủy từ thời đại củaanh em Tạo Xuông, Tạo Ngần đa ngành Thái Đen xuôi theo dòng sông Hồngxuất phát từ mờng Ôm, mờng Ai (Vân Nam, Trung Quốc) đến mờng Lò

Trang 8

(Nghĩa Lộ) Sau đó hậu duệ Tạo Xuông, Tạo Ngần đã khai “Mờng” lập “Tạo”tạo ra cả một vùng rộng lớn gồm rất nhiều huyện Vùng giữa ngày nay: ThuậnChâu (Mờng Muổi) thuộc tỉnh Sơn La là thủ phủ của ngành Thái Đen Cho

đến cuối thế kỷ XIII, ngời Thái ở Việt Nam đã ổn định về c trú chủ yếu ở TâyBắc Việt Nam

Dân tộc Thái chia thành nhiều ngành, mỗi ngành lại chia thành nhiều nhóm khác nhau:

Thái Đen (Táy Đăm): C trú chủ yếu ở các tỉnh Sơn La (hầu nh toàn

tỉnh) Nghĩa Lộ (mờng Lò) thuộc tỉnh Yên Bái; ở tỉnh Điện Biên; Tuần Giáotỉnh Lai Châu và một số ở phía Tây Nam tỉnh Lào Cai

Thái Trắng: (Táy Đón hay Táy Khao) tập trung ở Mờng Lay, mờng So

(Phong Thổ, Lai Châu); mờng Chiến (Quỳnh Nhai); một số khác tự xng làThái Trắng nhng có nhiều nét giống Thái Đen sống tập trung ở Mờng Tấc(Phù Yên), Bắc Yên; mờng Sang, Mộc Châu (Sơn La)

Nhóm Thái Hòa Bình (Mai Châu, Đà Bắc) có nét giống với các nhómThái ở Thanh Hóa Nhóm Thái ở Thanh Hóa c trú ở mờng Một- mờng Đeng tựnhận mình thuộc ngành Đeng (Tay Thanh), ngành Trắng (Tay Mờng- HàngTổng, Tay Dọ) Nhóm Thái Nghệ An với việc chia ngành Đen, Trắng đã mờnhạt, họ chỉ quan tâm đến thời gian và quê hơng xuất xứ của mình khi đến nơinày

Lịch sử phát triển của ngời Thái theo con đờng dích dắc qua hàng ngànnăm, nhng với ngời trong nhóm nói tiếng Thái vẫn giữ mạch t duy văn hóa l-ỡng phân, lỡng hợp để tởng nhớ quê cha đất tổ xa xa nhất

1.1.1.2 Ngời Thái ở Tây Bắc

Là dân tộc cú số dõn khá đông ở miền Tây Bắc, năm 1955 ngời Thái ởmiền Tây Bắc nớc ta mới có 22 vạn ngời, thì đến năm 1989 riêng ngời Thái ở

tỉnh Sơn La đã có khoảng 40 vạn ngời, năm 2005 có khoảng 52 vạn ngời Có thể

thấy rõ điều này khi khảo sát sự phân bố dân c của tỉnh Sơn La (phụ lục)

Ngời Thái ở Tây Bắc là bộ phận tiêu biểu của ngời Thái Mặc dù cónhững đặc trng cơ bản, nhng ngời Thái ở Tây Bắc vẫn chia hai ngành: TháiTrắng và Thái Đen

Thái Trắng có thể chia thành hai nhóm địa phơng: Nhóm thứ nhất c trú ởphía Bắc ở các huyện Mờng Lay, Mờng Tè, Phong Thổ, một phần ở Tuần

Trang 9

Giáo (Lai Châu), Quỳnh Nhai, Sình Hồ, Tủa Chùa và xã Ngọc Chiến thuộc ờng La, Sơn La Về đại thể, nhóm này có những đặc trng văn hóa của mộtnhóm địa phơng thống nhất nh: cùng một vùng thổ ngữ, cùng một loại hìnhsinh hoạt phong tục tập quán, văn học, nghệ thuật, tôn giáo…Nhóm thứ hai,phân bố ở phía Nam trong các huyện Mộc Châu, Phù Yên (Sơn La) và mộtphần ở Văn Chấn (Yên Bái) Nhóm này do ảnh hởng của nhiều luồng văn hóakhác nhau, nên chỉ có thể thống nhất trên các nét nh: Cùng chung một câuchuyện kể về nguồn gốc của sự thiên di, cùng một phong tục tập quán, mộtloại hình văn nghệ dân gian Riêng về ngôn ngữ, có hai vùng thổ ngữ: MộcChâu và Phù Yên.

M-Thái Đen có những đặc trng của một nhóm địa phơng tơng đối thuầnnhất Hiện phân bố ở các huyện Văn Chấn, Than Uyên (Yên Bái); Mờng La,Thuận Châu, Mai Sơn, Sông Mã (Sơn La); Tuần Giáo, Điện Biên Ngoài ra,còn có một phần phân bố ở các huyện Phong Thổ, Sình Hồ, Quỳnh Nhai Mộtnhóm Thái Đen có hơi khác một số điểm về tập quán và thổ ngữ, hiện đang c

trú ở huyện Yên Châu nên thờng gọi là Thái Yên Châu.

Sự phân chia hai ngành Thái Trắng và Thái Đen ở miền Tây Bắc hiệnnay, là kết quả của một quá trình thiên di, xáo động trên những diễn biến lịch

sử lâu dài và phức tạp Cho dù hiện nay có hai ngành Thái, chẳng qua cũng là

sự chuyển hóa từ một nhóm Thái cổ xa nhất mà thiên di đi mỗi ngời một ngả.Rồi đến địa vực c trú mới của mình, từng nhóm một tiếp xúc với điều kiện tựnhiên và chịu ảnh hởng của các dân tộc xung quanh rồi xa dần cái nguyên gốccủa mình Tuy vậy, ngời Thái ở Tây Bắc vẫn mang trong mình những nét vănhóa riêng, độc đáo cần đợc giữ gìn, kế thừa và phát huy

Sự hình thành nhóm Thái ở Tây Bắc:

Đơn vị c trú của ngời Thái đợc gọi là Bản và Mờng Nhiều bản hợp thànhmột mờng nhỏ, nhiều mờng nhỏ hợp thành một Châu mờng Ngay từ đầu, cácbản mờng đã phân bố tơng đối đông đúc trên những vùng c trú của ba nhóm

địa phơng:

ở phía Bắc- những bản mờng của ngời Thái Trắng tập trung trong cácthung lũng ruộng đồng màu mỡ Khoảng thế kỷ thứ VIII, Mờng Lay dới thờiLô Lạnh Lạt Ma đã trở thành trung tâm của vùng này Lợi dụng sự phát triểncủa ngời Thái, quý tộc thống trị Mờng Lay đã bành trớng thế lực khắp nơi.Phía Bắc phát triển tới giáp tỉnh Vân Nam (Trung Quốc) Từ Mờng Tè ở phía

Trang 10

Đông kéo sang đầu Nặm U (Thợng Lào) ở phía Tây Phía Nam phát triển dọctheo sông Đà từ Mờng Chiên (Quỳnh Nhai) xuống đến miền đất thuộc huyệnMờng La ngày nay.

Phía Nam, sau đợt thiên di của ngời Thái Trắng từ Lào sang, bản mờngbắt đầu xuất hiện Khoảng cuối thế kỷ thứ VIII đầu thế kỷ thứ IX dới thờichúa Nhọt Cằm, Mờng Sang đã trở thành trung tâm của vùng này Thế lực củaquý tộc Mờng Sang đã ảnh hởng khắp khu vực rộng lớn Phía Bắc đến vùng

đất thuộc Mờng Vạt (Yên Châu), Phia Đông là đất Mờng Tấc (Phù Yên, SơnLa) Phía Tây và miền Tây Nam là miền đất thuộc Mờng ét, Chiềng Cọ (SầmNa- Thợng Lào), và phía Nam là vùng đất thuộc hai huyện Đà Bắc, Mai Châuthuộc Hòa Bình ngày nay

Khu vực giữa- sau khi Lạng trợng thu phục đất Mờng Thanh, con cháu

ông đã nối nghiệp nhau thống trị đất này Càng về sau anh em trởng thứ củaquý tộc càng trở nên bất hòa Lợi dụng tình thế đó, các thế lực của quý tộc M-ờng Lay và ngời Lự ở Thợng Lào đã đánh đuổi quý tộc Thái Đen ở MờngThanh Con cháu Lạng Trợng phải dần về ở Mờng Muổi Sau khi ổn định tạiMờng Muổi, họ lại bắt đầu bành trớng khắp vùng c trú của ngời Thái Đen, kéosuốt từ vùng hữu ngạn sông Hồng sang sông Mã Từ đó, trung tâm Mờng

Muổi thời chúa Lò Lẹt đã nổi tiếng khắp vùng Tây Bắc Theo nhà nghiên cứu

Cầm Trọng trong cuốn “Ngời Thái ở Tây Bắc Việt Nam”, ông đã dựa trên cáctài liệu lịch sử và cho rằng: Vào khoảng thế kỷ X cho đến thế kỷ XIV, do quýtộc Thái Đen đã sớm quy thuận triều đình và đợc triều đình tin dùng, nên đãtạo điều kiện cho thế lực này ở trung tâm Mờng Muổi phát triển nhanh chóng.Vào cuối thế kỷ thứ XIV, nơi đây đã trở thành trung tâm thống nhất bộ tộcThái ở phía Tây Đây là bớc phát triển rất quan trọng của xã hội ngời Thái ởTây Bắc, nó đã bớc đầu xóa bỏ ranh giới giữa ba vùng cát cứ với các thế lựcquý tộc khác nhau Thời kỳ này còn đợc tăng cờng thêm một bớc, nhờ sự giao

lu văn hóa giữa dân tộc Thái với các dân tộc anh em khác trên miền Tây Bắc

và các vùng lân cận khác Từ đó trở đi, cho dù ngời Thái có bị phân thành từngchâu mờng, dù cho núi non hiểm trở và kinh tế chậm phát triển, sự giao lugiữa các châu mờng còn hạn chế Xã hội Thái cũng trải qua những năm tháng

bị bọn đế quốc, phong kiến chia rẽ…Nhng lịch sử ngời Thái ở Tây Bắc vẫnphát triển thành một khối Đến nay, mặc dù ngời Thái vẫn có các nhóm địaphơng với hai ngành Thái Đen, Thái Trắng ở phía Bắc và phía Nam Nhng tựu

Trang 11

trung lại chỉ là một dân tộc mà tên thờng gọi là “Ngời Thái ở Tây Bắc ViệtNam”

1.1.2 Văn hóa của dân tộc Thái - bản sắc của nó

1.1.2.1 khái niệm văn hóa và bản sắc văn hóa

- Văn hóa: Là khái niệm đợc sử dụng phổ biến trong đời sống xã hội, thuật

ngữ này không những có nhiều nghĩa trong ngôn ngữ hàng ngày mà cả trong cácngành khoa học khác nhau Tuy nhiên, việc xác định nội hàm của nó cũng cònnhiều ý kiến, vì thế trên thế giới hiện nay có tới hàng trăm cách định nghĩa về vănhóa Song, về cơ bản đều thống nhất coi văn hóa là những gì mà con ngời sáng tạo

để hình thành nên các giá trị, các chuẩn mực xã hội trong quá trình lao động, hoạt

động thực tiễn Các giá trị chuẩn mực đó tác động, chi phối, điều chỉnh đời sống tâm

lý, hành vi, đạo đức và các hoạt động trên mọi lĩnh vực có sự hiện diện của con ời.Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng:

Vì lẽ sinh tồn cũng nh mục đích của cuộc sống, loài ngời đãsáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật,khoa học, tôn giáo, văn học nghệ thuật, những công cụ cho sinhhoạt hàng ngày về ăn, ở, mặc và các phơng thức sử dụng, toàn bộnhững sáng tạo và phát minh đó là văn hóa Văn hóa là sự tổng hợpcủa mọi phơng thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài ng-

ời đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏicủa sự sinh tồn [35, tr 431]

Trong diễn văn khai mạc lễ phát động “Thập niên quốc tế phát triển văn hóa”tại Pháp (21/1/1998), Tổng th ký UNESCO định nghĩa:

Văn hóa phản ánh và thể hiện một cách tổng quát sống độngmọi mặt của cuộc sống (của mỗi cá nhân và cộng đồng) đã diễn ratrong quá khứ, cũng nh đang diễn ra trong hiện tại, qua hàng bao thế

kỷ, nó đã cấu thành nên một hệ thống các giá trị, truyền thống, thẩm

mỹ và lối sống mà dựa trên đó từng dân tộc tự khẳng định bản sắcriêng của mình [72, tr 23]

UNESCO thừa nhận văn hóa là cội nguồn trực tiếp của phát triển xã hội,

có vị trí trung tâm và đóng vai trò điều tiết xã hội Nó không những là yếu tốnội sinh của sự phát triển, mà còn là mục tiêu động lực cho sự phát triển xãhội Văn hóa giúp cho con ngời tự hoàn thiện, nó quyết định tính cách riêngcủa một xã hội, làm cho dân tộc này khác dân tộc khác

Trang 12

Nghiên cứu về văn hóa các nhà văn hóa Việt Nam cũng đa nhiều địnhnghĩa khác nhau: “Văn hóa là tất cả những sản phẩm vật chất và không vậtchất của hoạt động con ngời, là giá trị và phơng thức xử thế đợc công nhận, đãkhách thể hóa và thừa nhận trong một cộng đồng truyền lại cho một cộng

đồng khác và cho các thế hệ mai sau” [28, tr.11] Định nghĩa này nhấn mạnhtrong văn hóa bao gồm các sản phẩm vật chất và các hệ thống giá trị các mẫumực xử thế và các hệ thống hành vi Vấn đề cần đợc nhấn mạnh ở đây là trongkhái niệm văn hóa, điều quan trọng là phải đợc thừa nhận hoặc có nhiều khảnăng đợc thừa nhận trong một nhóm xã hội, và đợc truyền bá cho các cá thểhoặc các nhóm trong cộng đồng

“Văn hóa là khái niệm dùng để chỉ tổng thể những năng lực bản chấtngời trong tất cả các dạng hoạt động của họ, là tổng thể các hệ thống giá trị -cả giá trị vật chất và giá trị tinh thần do con ngời sáng tạo ra trong hoạt độngthực tiễn và lịch sử xã hội của mình.” [24, tr.13-14]

Nh vậy, nói đến văn hóa là nói đến con ngời Lịch sử văn hóa là lịch sửcủa con ngời và loài ngời: Con ngời tạo ra văn hóa và văn hóa làm cho con ng-

ời trở thành ngời Điều đó có nghĩa là tất cả những gì liên quan đến con ngời,

đến mọi cách thức tồn tại của con ngời đều mang trong nó cái gọi là văn hóa

Có thể nói, văn hóa là sự phát triển lực lợng vật chất và tinh thần, là sự thểhiện những lực lợng đó trong lĩnh vực sản xuất vật chất và lĩnh vực sản xuấttinh thần của con ngời Từ đó, văn hóa đợc chia làm hai lĩnh vực cơ bản: vănhóa vật chất và văn hóa tinh thần Tuy nhiên, sự phân chia này chỉ có tính chấttơng đối, bởi cái gọi là “văn hóa vật chất” về thực chất cũng chỉ là sự “vật chấthóa” các giá trị tinh thần, và các giá trị văn hóa tinh thần không phải bao giờcũng tồn tại một cách thuần túy tinh thần, mà thờng đợc “vật thể hóa” trong cácdạng tồn tại vật chất Ngoài ra, còn các giá trị tinh thần tồn tại dới dạng phi vậtthể, nhng vẫn mang tính tồn tại vật chất khách quan nh văn hóa trong các lĩnhvực đạo đức, giao tiếp, ứng xử, lối sống, phong tục tập quán…

ở Việt Nam, khi luận bàn về văn hóa của dân tộc thờng đợc hiểu theo hainghĩa, hai cấp độ khác nhau: ở phạm vi hẹp, văn hóa dân tộc đồng nghĩa vớivăn hóa của một tộc ngời, văn hóa dân tộc hoặc văn hóa tộc ngời + tộc danh, làmột chi tiết của văn hóa nói chung Phạm vi rộng, văn hóa dân tộc là văn hóachung của cả cộng đồng tộc ngời (Nation) sống trong cùng một quốc gia

Trang 13

Văn hóa tộc ngời là toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần, cũng nhnhững quan hệ xã hội đợc sáng tạo trong điều kiện môi trờng sinh tụ của mộttộc ngời, phản ánh những nhận thức, tâm lý, tình cảm, tập quán riêng biệt đợchình thành trong lịch sử của tộc ngời đó ở các quốc gia đa dân tộc, văn hóacủa các tộc ngời đan xen, hấp thụ lẫn nhau tạo nên nét chung của văn hóaquốc gia, của cả cộng đồng dân tộc, và mỗi nền văn hóa đều có những giá trịriêng của nó.

Giá trị văn hóa: “là cái dùng để căn cứ vào đó mà xem xét, đánh giá, sosánh nền văn hóa của dân tộc này với nền văn hóa của dân tộc khác, là cái đểxác định bản sắc văn hóa của một dân tộc, những nét đặc thù về truyền thống,phong tục, tập quán, lối sống của một dân tộc trên nền tảng các giá trị chân,thiện, ích, mỹ” [60, tr.19]

Bản chất đặc trng của văn hóa là chiều cạnh trí tuệ, năng lực sáng tạo,khát vọng nhân văn biểu hiện ở hoạt động sống của mỗi cá nhân, cộng đồng,dân tộc Mục đích của giá trị văn hóa là nhằm hớng tới các giá trị nhân bản, h-ớng tới sự hoàn thiện của mỗi cá nhân và của cộng đồng, dân tộc Mặc dù, tiêuchuẩn của các giá trị văn hóa của các cộng đồng, dân tộc là không nh nhau.Giá trị văn hóa còn mang tính khách quan, không phụ thuộc vào bất cứ cái gì

từ bên ngoài áp đặt vào để trở thành văn hóa của một cộng đồng, một dân tộc.Không thể căn cứ vào văn hóa của một dân tộc nào đó để làm tiêu chí xemxét, đánh giá nền văn hóa của các dân tộc còn lại là cao hay thấp, phát triểnhay không…điều đó sẽ rơi vào bệnh chủ quan, tạo nên sự nô dịch hay sự áp

đặt về văn hóa

Có thể nói, giá trị văn hóa của mỗi cộng đồng, dân tộc nh là “mật mã ditruyền xã hội” của tất cả các thành viên sống trong cộng đồng, dân tộc đó, đã

đợc tích lũy lắng đọng trong quá trình hoạt động của mình Chính quá trình đó

đã hình thành nên bản sắc văn hóa riêng của dân tộc họ Cộng đồng sẽ bền vữngkhi nó trở thành dân tộc Yếu tố dân tộc là yếu tố quyết định nhất của một nềnvăn hóa, bởi: “Nói đến văn hóa là nói đến dân tộc; một dân tộc đánh mất truyềnthống văn hóa và bản sắc dân tộc thì dân tộc ấy sẽ mất tất cả” [65, tr.13] Mộtdân tộc đánh mất bản sắc văn hóa, dân tộc ấy đã đánh mất chính mình, mộtnền văn hóa có tính dân tộc, là nền văn hóa mang đầy đủ bản sắc của dân tộc.Chính vì vậy, việc kế thừa và phát huy các giá trị văn hóa tạo nên bản sắc văn

Trang 14

hóa của dân tộc, là vấn đề có ý nghĩa hết sức lớn lao đối với sự tồn vong củamỗi dân tộc.

điều kiện môi sinh mà dân tộc ấy thích nghi và phát triển qua các giai đoạnphát triển khác nhau của một dân tộc Những giá trị văn hóa ấy, cho dù có trảiqua những thăng trầm, biến cố của lịch sử nó không những không mất đi, màcùng với thời gian, nó còn tiếp nhận những cái hay, cái đẹp, cái phù hợp củavăn hóa các dân tộc khác làm phong phú, đặc sắc hơn cho văn hóa dân tộcmình, làm cho nó là nó chứ không phải là cái khác Khi nói đến một trongnhững nét đặc trng văn hóa ấy, ngời ta có thể dễ dàng nhận ra đó là dân tộcnào mà không cần phải gọi tên

Bản sắc văn hóa là một sức mạnh, là sức mạnh nội tại của dân tộc Nó làhạt nhân năng động nhất trong toàn bộ tinh thần sáng tạo truyền từ đời nàyqua đời khác Bản sắc văn hóa làm cho một dân tộc luôn là chính mình:

Một dân tộc qua các biến cố lịch sử một lúc nào đó, một thời

đại nào đó có thể mất độc lập, bị ngời ngoài đô hộ nhng nếu dân tộc

ấy vẫn giữ đợc tiếng nói của mình, vẫn giữ đợc vốn văn nghệ dângian, vẫn giữ và phát triển đợc bản sắc văn hóa của mình, thì dân tộc

ấy vẫn nắm chắc trong tay chìa khóa của sự giải phóng, chìa khóacủa tự do, độc lập [6, tr 48]

Bản sắc văn hóa còn là mối liên hệ thờng xuyên, có định hớng của cáiriêng (văn hóa dân tộc) và cái chung (văn hóa nhân loại) Mỗi dân tộc trongquá trình giao lu văn hóa, sẽ cống hiến những gì đặc sắc của mình vào khotàng văn hóa chung Đồng thời tiếp nhận có lựa chọn, nhào nặn thành giá trịcủa mình, tạo ra sự khác biệt trong cái đồng nhất đó chính là bản sắc văn hóacủa một dân tộc Bản sắc văn hóa dân tộc không phải là một biểu hiện nhấtthời, nó có mối liên hệ lâu dài, sâu sắc và bền vững trong lịch sử và đời sốngvăn hóa dân tộc

Trang 15

Bản sắc dân tộc gắn liền với văn hóa và thờng đợc biểu hiện thông quavăn hóa Vì vậy, có thể coi bản sắc dân tộc của văn hóa hoặc bản sắc văn hóadân tộc: “Bản sắc chính là văn hóa, song không phải bất cứ yếu tố văn hóa nàocũng đợc xếp vào bản sắc Ngời ta chỉ coi những yếu tố văn hóa nào giúp phânbiệt một cộng đồng văn hóa này với một cộng đồng văn hóa khác là bản sắc”[64, tr.13].

“Bản sắc văn hóa dân tộc” là tổng hòa những khuynh hớng cơ bản trongsáng tạo văn hóa của một dân tộc, vốn đợc hình thành trong mối liên hệ thờngxuyên với điều kiện kinh tế, môi trờng tự nhiên, các thể chế, các hệ t tởng…trong quá trình vận động không ngừng của dân tộc đó” [18, tr 37]

Khi nói tới bản sắc văn hóa của một dân tộc, cũng có nghĩa là nói tớibản sắc riêng của dân tộc ấy, hay nói cách khác bản sắc văn hóa là cái cốt lõicủa bản sắc dân tộc Bởi bản sắc của dân tộc không thể biểu hiện ở đâu đầy đủ

và rõ nét hơn ở văn hóa Sức sống trờng tồn của một nền văn hóa khẳng định

sự tồn tại của một dân tộc, khẳng định bản sắc và bản lĩnh của dân tộc ấy Bản sắc văn hóa dân tộc có hai mặt giá trị Giá trị tinh thần bên trong vàbiểu hiện bên ngoài của bản sắc dân tộc có mối quan hệ khăng khít củng cốthúc đẩy nhau phát triển Văn hóa không đợc rèn đúc trong lòng dân tộc để cóbản lĩnh, trở thành sức mạnh tiềm tàng bền vững thì bản sắc dân tộc của vănhóa sẽ mờ phai Ngợc lại, nếu văn hóa tự mình làm mất đi những màu sắcriêng biệt, độc đáo của mình, sẽ làm vơi chất keo gắn kết tạo thành sức mạnhbản lĩnh của văn hóa

Nguồn gốc tạo thành bản sắc văn hóa dân tộc có thể do nhiều yếu tố nh:hoàn cảnh địa lý, nguồn gốc chủng tộc, đặc trng tâm lý, phơng thức hoạt độngkinh tế Nhng bản sắc văn hóa dân tộc, không thể không xuất phát từ nhữngyếu tố tạo thành dân tộc Vì thế hiểu khái niệm bản sắc văn hóa dân tộc phảihiểu theo khái niệm phát triển, khái niệm mở Nó không chỉ là hình thức màcòn là nội dung đời sống cộng đồng, gắn với bản lĩnh các thế hệ các dân tộcViệt Nam Nghị quyết hội nghị BCH TW lần thứ V khóa VIII của Đảng đã chỉrõ:

Bản sắc dân tộc bao gồm những giá trị bền vững, những tinhhoa của cộng đồng các dân tộc Việt Nam đợc vun đắp nên qua lịch

sử hàng ngàn năm đấu tranh dựng nớc và giữ nớc Đó là lòng yêu

n-ớc nồng nàn, ý chí tự cờng dân tộc, tinh thần đoàn kết, ý thức cộng

đồng gắn kết cá nhân- gia đình- làng xã- Tổ quốc…Bản sắc văn hóa

Trang 16

dân tộc còn đậm nét trong cả hình thức biểu hiện mang tính dân tộc

độc đáo [16, tr.56]

Bản sắc văn hóa dân tộc là các giá trị tiêu biểu, bền vững, phản ánh sứcsống của từng dân tộc, nó thể hiện tập trung ở truyền thống văn hóa Truyềnthống văn hóa là các giá trị do lịch sử để lại đợc thế hệ sau tiếp nối, khai thác

và phát huy trong thời đại của họ để tạo nên dòng chảy liên tục của lịch sử vănhóa các dân tộc Khi đã đợc hình thành, truyền thống mang tính bền vững và

có chức năng định hớng, đánh giá, điều chỉnh hành vi của cá nhân và cộng

đồng Tuy nhiên, khái niệm bản sắc văn hóa không phải là sự bất biến, cố địnhhoặc khép kín mà nó luôn vận động mang tính lịch sử cụ thể Trong quá trìnhnày nó luôn đào thải những yếu tố bảo thủ, lạc hậu và tạo lập những yếu tốmới để thích nghi với đòi hỏi của thời đại Truyền thống cũng không phải chỉbao hàm các giá trị do dân tộc sáng tạo nên, mà còn bao hàm cả các giá trị từbên ngoài đợc tiếp nhận một cách sáng tạo và đồng hóa nó, biến nó thànhnguồn lực nội sinh của dân tộc

Văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu số gồm nhiều loại hình, nhiềutầng, nhiều lớp, nhiều sắc màu, nhiều mức độ và quy mô khác nhau, tạo nêngiá trị to lớn là nền tảng bền vững của bản sắc dân tộc Nguồn nuôi dỡng vôtận tâm hồn và đời sống tinh thần của đồng bào các dân tộc Đây là kho củacải vô giá, di sản vô cùng quý báu của văn hóa Việt Nam Việc nhận diện

đúng về bản sắc văn hóa mỗi dân tộc và các dân tộc thành viên là việc làm hếtsức có ý nghĩa Bởi lẽ, việc giữ gìn, kế thừa và phát huy bản sắc văn hóa dântộc phải có sự chặt chẽ, hài hòa và thực hiện theo định hớng, đờng lối của

Đảng, Nhà nớc và ý thức dân chủ tự nguyện của nhân dân

1.1.2.2 Văn hóa của dân tộc Thái

Nói đến văn hóa của dân tộc Thái là ta nói đến hệ thống những giá trịvăn hóa do chính cộng đồng tộc ngời đó tạo ra và là sản phẩm của con ngờibao gồm nhiều lĩnh vực khác nhau: văn hóa vật chất, văn hóa tinh thần và vănhóa thiết chế xã hội Nh đã trình bày ở phạm vi nghiên cứu, luận văn chỉ trìnhbày những giá trị văn hóa đặc trng thuộc về văn hóa của dân tộc Thái:

Trớc hết, nói đến văn hóa của dân tộc Thái là phải nói đến một loại hình

văn hóa thung lũng Bởi lẽ, với những đặc điểm đặc thù về điều kiện tự nhiên

của miền Tây Bắc đã hình thành nên một nền văn hóa tơng ứng, đó là loạihình văn hóa thung lũng

Trang 17

Nói đến văn hóa thung lũng, nghĩa là muốn nói đến mối quan hệ giữatộc ngời này với môi trờng sinh sống là thung lũng lòng chảo Điều này cũngnói lên khả năng thích nghi của con ngời với tự nhiên bằng văn hóa của mình.Văn hóa thung lũng của dân tộc Thái có các đặc trng sau:

Cảnh quan địa lý là những thung lũng lòng chảo lọt vào vùng núi cao,rừng sâu, dầy khe, vực, sông suối cắt xẻ địa hình Khí hậu hai mùa rõ rệt

Từ lâu dân tộc này đã tạo lập các cánh đồng lúa, đối tợng tác động chínhcủa lao động xã hội

Vùng sờn dốc nằm ở vành đai của các lòng chảo thì làm nơng theo cácphơng pháp phát, đốt, chọc lỗ, tra hạt, có tác dụng bổ sung vào hệ thống trồngtrọt Đây là đặc trng chủ yếu nhất trong toàn bộ hệ thống văn hóa thung lũngcủa dân tộc

Các nóc nhà c trú thành từng cụm theo hình thức mật tập gọi là bản, đợc

tự do khai thác tự nhiên Ngoài việc chính làm ruộng và làm nơng, mỗi một hộgia đình đều tiến hành nuôi gia súc, gia cầm, làm các nghề thủ công, trong đónổi lên là nghề trồng bông dệt vải và tiến hành hái lợm, săn, thu bắt hải sản ởsông suối

Các bản nằm trên đờng vành đai thung lũng và nhiều bản hợp thành ờng Bản là lãnh thổ cộng đồng tộc ngời, trong khi mờng thì thờng có nhiềucộng đồng tộc ngời Trong một mờng, ngời Thái bao giờ cũng chiếm đa số vàtiêu biểu

m-Giao thông vô cùng cách trở vì thung lũng nọ cách thung lũng kia là cảchiều dầy của núi non, bị che chắn bởi núi cao, vực sâu, rừng dầy, suối khe

Đây là nền văn hóa tiền công nghiệp, đợc hình thành từ lao động tự cung

tự cấp, cha đạt tới trình độ trong đó chứa đầy chất men cần thiết để kích thích

sự phát triển xã hội

Tóm lại, ngời Thái là một trong những dân tộc có khả năng thổi vào tự

nhiên một sức sống mới khác với tự nó Khả năng ấy chính là chiều dầy củavăn hóa phát triển thành truyền thống Giờ đây, khi mà khoa học phát triểnmạnh và cơ chế thị trờng thì liệu có thể giữ gìn và phát huy đợc dòng truyềnthống này không? Điều này còn phụ thuộc vào khả năng phát huy bản lĩnh vàbản sắc dân tộc đã tạo ra đợc các mô hình thích nghi mới trong hệ sinh tháinhân văn của mình

- Các giá trị văn hóa vật chất:

+ Văn hóa nông nghiệp Thái: Sống với điều kiện tự nhiên môi sinh có

nhiều điểm đặc thù cho nên, định hớng tác động trong khai thác tự nhiên

Trang 18

truyền thống của ngời Thái là đồng ruộng lòng chảo và nơng rẫy trên sờn núi.Hàng ngàn năm nay, dân tộc này đã có những biện pháp dẫn thuỷ nhậpnúiđiền, đúc rút đợc tập quán làm thuỷ lợi bằng biểu tợng ngôn ngữ (điều màkhông phải bất cứ cộng đồng ngời làm ruộng nào cũng làm đợc) Ngời Thái cóbốn chữ nói lên bốn giải pháp: Mơng, Phai, Lái, Lin “Đây là mặt biểu hiện cụthể của văn hóa lúa nớc có cội nguồn từ c dân nói tiếng Tày- Thái cổ, trải quacác giai đoạn lịch sử của nó, không những đọng lại trong ngôn ngữ Thái màcòn có ở ngôn ngữ văn hóa Việt - Mờng” [10] Yếu tố đầu tiên trong văn hóa

mu sinh của tộc ngời Thái là việc làm ruộng nớc, nó trở thành động lực pháttriển lịch sử cộng đồng tộc ngời theo mạch vừa tụ c, vừa định c, lan tỏa chungcho cả nhóm nói tiếng Thái Việc khai khẩn vùng đất hoang vu thành cánh

đồng trồng lúa trở thành hàng đầu trong hệ thống kinh tế cổ truyền Thái.Trong đó, cùng với việc vỡ đất phải giải quyết ngay khâu dẫn nớc từ các dòngchảy tự nhiên vào tới tiêu, sao cho cánh đồng trồng lúa hợp lý với vùng tựnhiên của nó Từ đó, dòng nớc thiên nhiên gắn chặt với các khâu của côngtrình thủy lợi truyền thống, mà ngời Thái quen lấy Mơng làm tiêu biểu chung

“có nớc mới có mơng, có mờng mới có Tạo” Nớc đã sinh ra tổ chức xã hộimang tên Mờng, mờng xa có ngời đứng đầu mang tên Tạo Tạo lại trở thànhpháp nhân đứng ra tổ chức xã hội, tác động và biến tự nhiên thành ruộng lúa,cung cấp cho con ngời thóc gạo Giải pháp nớc (văn hóa Thủy lợi) đợc ngời ta

đặt lên hàng đầu trong việc làm ruộng nớc

Qua hệ thống Mơng, Phai, Lái, Lin, ngời Thái đã sớm tích lũy đợc một sốkinh nghiệm để dẫn nớc tới ruộng theo phơng pháp thủ công và thu đợc nhữnghiệu quả nhất định, cho cuộc sống lao động sản xuất của dân tộc Thái trongmột thời gian dài Song song với việc sản xuất lơng thực trên ruộng nớc, ngờiThái còn làm nơng rẫy Trên một diện tích nơng, tập quán Thái chỉ thực hiện

ba vụ cũng là ba năm hay ba mùa, đến năm thứ t phải phá rừng làm nơng mới.Một gia đình nông dân Thái chỉ cần phá rừng làm bốn đám nơng luân chuyển

đã khép kín trong chu kỳ 12 năm Thời gian đó là khoảng thời gian đủ chorừng nhiệt đới tái sinh và ngời dân có thể trở lại canh tác trên diện tích ban

đầu Trong cấu trúc văn hóa mu sinh, hình thức canh tác nơng rẫy chiếm phầnquan trọng sau làm ruộng, nằm trong lãnh thổ bản

+ Công cụ lao động: Dân tộc Thái trên bớc đờng phát triển của mình

không thể không biết sử dụng các công cụ kim loại, trong sản xuất cũng nh

Trang 19

trong sinh hoạt Tuy nhiên, trong chế tác những kim loại đó, họ cha có kỹthuật nấu, đúc, khoan mà chỉ biết rèn, gò ở trình độ thô sơ, đơn giản Nh đã nói

đến ở trên, trong tổng thể văn hóa thung lũng với nền nông nghiệp phức hợpthì việc sản xuất các công cụ lao động tinh xảo, hầu nh cha đợc chú ý lắm.Trong sáng tạo văn hóa trên cánh đồng lòng chảo và làm nơng rẫy trên các sờndốc, dân tộc này chỉ cần có bốn công cụ kép có lỡi kim loại là: Dao (mịt haypạ), rìu (khoan), cày (thay), và mai (lủa)

Từ rất lâu dân tộc này đã coi con dao là công cụ lao động quan trọng bậcnhất trong việc tạo ra những giá trị văn hóa, đặc biệt là văn hóa vật chất Có

nó, ngời ta lấy gỗ, tre dựng nhà ở, tạo ra các công cụ và vật dụng cho sinh hoạthàng ngày, dùng để chế biến thức ăn, phát cây cỏ, làm nơng rẫy Trong cungcách làm ăn ấy, dao đợc xem nh công cụ vạn năng hầu nh lúc nào cũng đợcngời chủ mài sắc

Cày và Mai là công cụ không thể thiếu đợc trong sản xuất trên đồng áng

của dân tộc Thái Theo truyền thống, cày và mai là công cụ lao động của nam

giới vì cho rằng đây là công việc nặng nhọc, phụ nữ kiêng không sử dụngcông cụ này Ngoài dao, rìu việc làm nơng còn có các công cụ khác nh chiếccuốc, vách, thuổng Công cụ để gieo hạt là chiếc gậy vót nhọn để chọc lỗ trahạt Trong quá trình làm ruộng còn có chiếc bừa, theo cách làm ăn xa thờnglàm bừa răng gỗ Công cụ thu hoạch gồm có: liềm, nhíp, néo, ván đập lúa vàquạt đan tay bằng tre, nứa

+ Nhà ở: Theo truyền thống thì ngời Thái ở nhà sàn làm bằng gỗ, tre,

nứa…lợp bằng cỏ tranh Họ hiểu, không chỉ riêng dân tộc mình ở nhà sàn,

nh-ng ở tronh-ng tâm thức vẫn coi đây nh một tronh-ng nhữnh-ng nét văn hóa của dân tộc

mình Điều này đợc biểu hiện trong câu tục ngữ: “nhà Thái - nhà có gác - đầu hồi có cột” Nhà sàn của ngời Thái không phải dùng đến một mẩu sắt nào

trong thiết kế xây dựng Thay vào những cái đinh đóng là cả một hệ thống dâychằng, buộc, thắt khá công phu và tinh xảo bằng lạt tre, giang, mây và một sốloại vỏ cây chuyên dụng Để nối các cột kèo, ngời ta dùng những đòn dầmxuyên suốt các lỗ đục của các cột làm cho ngôi nhà rất chắc chắn, đủ sứcchống nắng, ma, gió, bão Nhìn vào cấu trúc mái, có thể phân biệt đợc kiểunhà của từng nhóm địa phơng khác nhau Nhà sàn của ngời Thái Đen và TháiTrắng ở Mộc Châu, Sơn La thì có mái “vòm khum mai rùa” và thờng đặt ở hai

đầu hồi biểu tợng tạc bằng gỗ quét vôi trắng hai thanh tre, tựa nh hai đôi sừng

Trang 20

gọi là khau cút Nhà sàn của ngời Thái trắng ở Mờng Lay, Mờng Tè, Phong

Thổ (Lai Châu) do có mặt phẳng hình chữ nhật gần vuông nên có 4 mái thẳng

và gấp góc Nếp nhà sàn là một đơn vị không gian chứa đựng tế bào của xãhội Đó có thể là một gia đình nhỏ gồm một cặp vợ chồng và con cái cha đếntuổi trởng thành, cũng có thể là tổ hợp gia đình lớn có từ hai cặp vợ chồng trởlên và đàn con cháu của họ Dù gia đình nhỏ hay lớn, đều có một sự thốngnhất cộng đồng tộc ngời trong giải pháp nội thất xử lý phân chia mặt bằngthành khái niệm:

Phân đôi không gian dọc theo chiều đòn nóc thành hai phần Tục ngữ

Thái có câu “đầu gối đất, chân kề nớc” quy định tập quán nơi ngủ thống nhấtquay đầu về sờn núi, đó cũng là “mé đầu” hay “phía trên” của thân nhà; duỗichân về phía cánh đồng hay dòng suối, sông con, đây là “mé chân” hay “ phíadới” Từ đó, nẩy sinh việc bố trí, sắp xếp thành một nửa là các gian ngủ củagia đình Trong nửa phía trên (đầu) chủ nhà bao giờ cũng nằm kề sát gian thờ

tổ tiên, tục gọi là “ngủ cài hóng” Nếu là gia đình lớn thì tiếp đó là gian ngủtheo thứ tự con cả đến con thứ…nửa phía dới (chân) là nơi để tiếp khách, đặtbếp núc và giành cho sinh hoạt ban ngày

Phân đôi bổ ngang theo chiều quá giang Một bên là cầu thang dẫn lên

lan can đi vào cửa chính bên hồi để vào nội thất Đầu tiên sẽ thấy “phía trên”

có gian thờ tổ tiên nh đợc giấu kín trong buồng có vách ngăn - hóng; đối diện

ở phía dới có khoang gọi là “gian cửa sổ tựa” để ngồi tựa hóng mát, tiếp kháchlạ và quý, đọc và viết lách khi cần thiết Giữa nhà, nơi giáp với chân chỗ ngủcủa chủ nhà thờng đặt thêm một bếp để sum họp gia đình Nửa này tính từ

phía giữa gian nhà đổ về phía lan can hồi đợc gọi là “quản , ” quy định giànhchủ yếu cho các sinh hoạt đàn ông Một bên cầu thang dẫn lên sàn phơi và nơi

đặt nớc dùng Sàn phơi là nơi để thanh thiếu nữ ngồi kéo sợi, làm vải và là nơingồi tâm tình cùng ngời yêu vào buổi tối Qua cửa chính vào nội thất ở “phíadới” sẽ tiếp ngay với bếp ăn hàng ngày và đối diện về “phía trên” là nơi trang

điểm và sinh hoạt của phái đẹp - gọi là “cửa sổ gơng” Nửa này tính từ giữanhà đổ về phía sàn phơi gọi là “chan” quy định giành chủ yếu cho các sinhhoạt đàn bà, gắn với công việc nội trợ

Nếp nhà sàn còn là không gian chứa đựng văn hóa tâm linh Theo cách tduy truyền thống này thì ngôi nhà sàn còn là nơi “trú ngụ của các linh hồn”mỗi thành viên trong gia đình, đợc tập trung vào khái niệm linh hồn chủ nhà

Trang 21

có vật tợng trng là “cột chủ áo” treo “thanh gơm thiêng của tông tộc” Sự tínngỡng linh hồn gắn liền với nếp nhà sàn, nó không những biểu hiện trong cuộcsống hàng ngày mà còn sống động trong văn học, âm nhạc, nhảy múa…Nếpnhà sàn còn mang ý niệm là “nơi chứa đựng cộng đồng những ngời thuộcdòng máu cha” nên có tên “nhà tông - nhà cúng” Riêng trong nhà của nhữngngời thuộc dòng họ quý tộc thì có thêm gian thờ ở mé ngoài giáp lan can phía

quản, gọi là chong căm

+ Vải vóc và các biểu hiện văn hóa: Theo truyền thống của dân tộc Thái,

theo phân công tự nhiên thì việc làm ra vải là lao động chủ yếu của nữ giới.Tập quán, xã hội Thái đã rèn luyện cho ngời phụ nữ một tay nghề làm vải rấttài hoa, là con gái Thái thì không đợc phép ngừng tay làm vải và phải đạt tới

trình độ tinh xảo nh câu tục ngữ: “xấp đôi tay đã thành hoa văn, ngửa bàn tay

đã thành hoa lá” Nếp sống xa cho rằng: Biết làm vải thì mới là phụ nữ, bằng

không thì cho dù ngời phụ nữ đó dù có chăm chỉ mọi việc khác đến đâu, cũng

bị xã hội cho là chây lời, thờng thì không ai muốn lấy làm vợ Ngời đàn bàsành nghề làm vải thì đợc bản mờng tặng danh hiệu “Đàn bà tám cạnh sắcnét”

Trong văn hóa dân tộc Thái, vải vóc chứa đựng bốn khái niệm:

Thứ nhất, nó đợc coi nh vật tợng trng cho phái đẹp Ngời Thái có câu thành

ngữ “thân hình cao thanh, óng ánh trong, tựa giải lụa”, và cái nết của ngời đẹp đólà: “Vui làm vui ăn Vui quay xa thành sợi Vui kéo sợi ơm tơ”

Thứ hai, nó là vật dùng trong suốt cả cuộc đời một con ngời

Thứ ba, vải vóc là vật tợng trng cho sự giàu sang trong xã hội Trong

cuộc sống thờng ngày, ngời ta coi vải vóc là sản phẩm quý Tuy giá trị của nókém vàng, bạc, châu báu nhng xét về yếu tố xã hội chứa trong nó, thì các sảnphẩm này có giá trị nh nhau Bởi thế, hiện tợng coi tiền bạc hơn phúc đức cha,

mẹ mới bị d luận lên án mạnh mẽ

Thứ t, vải vóc là văn hóa kỹ thuật mà ngời sản xuất phải trải qua quá

trình hiểu biết mới làm ra đợc Bởi việc làm ra vải là cả một quá trình dài cóthể chia làm hai giai đoạn chính trong đó bao gồm nhiều những công việckhác nhau: Trớc hết là trồng bông và từ bông dệt thành vải Sau đó là công

đoạn nhuộm sợi cũng rất phức tạp và cầu kỳ Tấm thổ cẩm là một dải vải hoavăn dày, màu sắc tơi mát, phong phú, trong đó, màu đỏ đóng vai trò chủ đạo

đợc nhuộm bằng cánh kiến nấu pha với nhựa cây rừng

Trang 22

Khung cửi Thái không thể dệt đợc vải khổ rộng quá 50 cm, cách đo vảithì tính bằng đốt tay, nắm tay, khuỷu tay, một bên sải và sải tay Cứ 4 sải thì

đợc một đơn vị gọi là Chầu, 10 chầu một đơn vị gọi là Ton Khi đã có vải vóc,ngời phụ nữ Thái lại phải đảm bảo biến các nguyên liệu này thành sản phẩmtiêu dùng, đáp ứng các yêu cầu khác nhau của đời sống Điều này đòi hỏi ở họ

có sự hiểu biết để thể hiện làm sao cho mỗi thành phẩm có thể chứa đựng đợcbản sắc văn hóa dân tộc mình

+ Mặc: Ngời khác dân tộc đã không sai khi đã nhận xét rằng, ngời Thái

là một cộng đồng tộc ngời biết mặc và mặc đẹp Trang phục của họ phân biệttheo giới; trang phục thờng ngày với lễ phục; khi chết và để tang; lúc đi làmngoài đồng, nơng rừng với ở nhà; mùa nóng bức với những tháng đông lạnhgiá trong năm; hai độ tuổi cha thành niên với khi đã trởng thành và khi nhắmmắt xuôi tay

Nam giới: Cách ăn vận truyền thống của nam giới dân tộc Thái là: Khi đã

lớn thì mặc quần ta, không dải rút mà khâu cạp để thắt dây lng, quần chỉ có hailoại quần dài và quần đùi áo thì có hai kiểu: thờng ngày và lễ phục

Thờng ngày, mặc áo cánh mang tên “mở lòng” có đính cúc hoặc khuy tếtbằng dây vải, hai bên sờn giáp hông có đờng xẻ để thân áo không bị bó sátvào ngời, ở đây ngời ta đính thêm vật trang trí, gọi là “quả chỉ” Mặt trớc tathấy túi ở mé dới hai vạt Nếu là áo ngời Thái Đen thì có thể có hoặc không túingực bên trái, nhng áo ngời Thái Trắng ở phía Bắc thì phải có Không phânbiệt Thái Đen hay Thái Trắng, bộ quần áo nam phục thờng ngày thờng là màu

đen

Lễ phục, kiểu quần không đổi, nhng ngời ta mặc áo dài, cắt theo kiểu xẻnách tơng tự nh áo dài của ngời Kinh

Nữ giới: Trang phục nữ Thái đợm vẻ đẹp bản sắc văn hóa dân tộc Điều

này luôn chiếm u thế rõ rệt trong các nét văn hóa độc đáo của dân tộc Thái

Nó không những đẹp về kiểu dáng mà hơn hết, nó còn làm tăng vẻ đẹp trờiban cho ngời phái nữ: “Y phục Thái nổi tiếng bởi sự hài hòa giữa cái che vàcái phô ra, giữa cái giản dị mà không kém phần lộng lẫy”[44, tr 34] “Và

cũng nhờ lẽ đó mà cụm từ “cô gái Thái” đã trở thành ngôn ngữ biểu tợng văn

hóa Folklore Việt Nam” [51, tr 145] Đã là nữ giới đã trởng thành thì mặc váykhâu liền (váy ống) dài chấm gót chân, không có màu nào khác ngoài màu

đen Mép dới ở bên trong lòng váy thì đợc táp một dải vải bề rộng từ 3-4 cm,

Trang 23

màu phổ biến là đỏ, ngoài ra có thể là màu xanh, vàng, hoa nhng tuyệt đốikhông phải là màu trắng Đầu váy có cạp, khâu bằng dải vải màu đỏ, trắng hoặcxanh, miễn không đồng màu đen với thân váy để khi mặc dễ nhìn thấy phần bắtbuộc phải dùng dải thắt lng phủ ở bên ngoài Dải cạp là để gập mép sao cho váy

bó sát thân eo, làm đờng thắt lng nổi cộm rõ vòng eo

Khác với váy, áo phụ nữ có nhiều hình vẻ, màu sắc hơn áo cổ truyền

có hai kiểu:

Trong ngày thờng cũng nh khi cần thiết, ngời ta mặc một thứ áo tên là

“áo cỏm” (cỏm có nghĩa là cộc, cụt và ngắn) áo cỏm có áo ngắn tay và dàitay Chữ “cỏm” ở đây ứng với độ ngắn, dài trong số đo từ eo thắt dới ngực.Nhìn vào chiếc áo cỏm, ta sẽ thấy ngay cái gọi là cộc của áo đợc giới hạn ởphần áp chót thân áo mà không phải ở hai bên cánh tay Chính vì vậy, mới đòihỏi việc cắt khâu phải có kỹ thuật để chiếc áo vừa với thân ngời mặc thể hiệnthẩm mỹ của ngời Thái Cắt áo phải đúng kích cỡ của chiều rộng sao chochiếc áo che phủ toàn thân thật kín đáo, nhng khi mặc phải bó rất sát để hìnhdáng thân thể nh đợc phô ra Nách áo phải đợc chiết sao cho ngực nở căngtròn, đạt tới tiêu chuẩn nh câu ngạn ngữ: “mình thon vú dựng” Kỹ thuật nàylàm cho cơ thể và hai chi trên tởng nh bị áo bó chặt nhng vẫn hoàn toàn tự dokhi vận động Điều đặc biệt hơn cả là việc tạo dáng áo cỏm, từ lâu đã trở thànhtiêu chí nhận biết cách ăn vận theo từng nơi hoặc từng nhóm địa phơng áocỏm của ngời Thái Đen thì dải viền hai vạt để cài cúc không liền với cổ áo, áocủa ngời Thái Trắng thì cổ và đờng viền đó liền một dải nên có tên là “áo liềncổ” (xửa co diên) áo Thái Đen do đó dựng theo kiểu cổ đứng, còn áo TháiTrắng phải tạo ra cách để đờng viền bó ôm lấy cổ Trên hai đờng viền vạt áo

xẻ ngực, ngời ta thờng cài cúc đồng, nếu không có thì thay bằng hạt cờm Lúc

ăn diện thì mặc áo cỏm cài cúc bạc (má pém), đây là một phần đẹp, hấp dẫncủa trang phục nữ Thái Cúc bạc có hình dẹt, mỏng đợc khâu đính bám trênhai dải vạt áo chạy suốt từ cổ qua ngực xuống eo thắt Trên vạt áo cúc bạc đợckhâu xếp đối xứng thành từng đôi, dải thành hai hàng, bên phải là những con

đực (Tô po) và bên trái là những con cái (Tô me) Vì làm bằng bạc nên bộ

khuy này khá bền, có bộ không những chỉ dùng suốt đời Mẹ mà còn truyềnsang đời con

Trang 24

Nói đến bộ trang phục nữ, ta không thể không kể tới dải thắt lng dệt bằngsợi tơ tằm có chiều dài hơn 2m Nó không chỉ là vật để thắt giữ váy xiết vào thân

mà còn là chỗ để tạo dáng thắt đáy lng ong của phái đẹp Màu thắt lng là tínhiệu xác định hai độ tuổi Nếu nh ở tuổi niên thiếu đến tuổi 30 ngời ta dùng thắtlng màu xanh, những lứa tuổi sau đó chuyển sang màu tím

Trang phục nữ Thái Đen còn có khăn Piêu màu đen, hai đầu có thêu

những hoa văn hình kỷ hà bằng chỉ nhiều màu sắc có những chùm hoa vải tết

hoặc thêu gọi là cút Truyền thống cút piêu phải lẻ để xếp thành chùm 3, 5 để

biểu thị sự trung thành của ngời đàn bà với chồng con (số lẻ là tợng trng cho

sự chung thủy và số chẵn là lứa đôi), không xếp chẵn vì cho rằng số chẵn đôilứa rẽ hai ngả Nữ Thái trắng không chít khăn piêu mà thờng mua khăn vuônglen hoặc khăn bông trắng để cuốn

Kiểu tóc của phụ nữ Thái cũng phân biệt hai ngành đen và trắng Khi cha

chồng, nữ Thái Đen búi tóc đằng sau gáy (khót phôm), khi có chồng thì búi tóc ngợc lên đỉnh đầu để hơi nghiêng về phía bên trái (tằng cẩu) Chồng chết,

trong thời gian để tang thì búi ở lng chừng giữa đỉnh đầu với gáy gọi là búi tóckiêng, hết tang lại búi tóc ngợc nh khi chồng còn sống Nữ Thái trắng thìkhông dùng tóc làm tín hiệu báo có hoặc không chồng mà chỉ búi đằng sauhay cuốn vấn trên đầu, nhng không vấn bọc khăn nh kiểu nữ ngời Kinh mà ở

đằng sau, búi tóc đợc hạ xuống thấp để lăn đi lăn lại trên vai

+ Ngủ: Là một trong những nét sinh hoạt văn hóa, truyền thống lâu đời

của dân tộc Thái Tục ngữ Thái có câu: “ăn tốt, ngủ ấm, thọ tới tuổi già” đãbiểu thị hiểu biết của tộc ngời này về mối tơng quan giữa chế độ ăn, uống vàgiấc ngủ với sức khỏe và tuổi già Vì vậy, ngời phụ nữ còn dồn cuộc đời lao

động của mình vào việc sản xuất bộ để ngủ Đây là một dân tộc không theonếp nằm chiếu, giờng mà quanh năm phải trải đệm Nằm đệm đắp chăn đếnngày nay vẫn là nếp sống phổ biến của ngời Thái Bộ vật dụng cần cho ngủ

bao gồm: đệm (xứa), chăn (pha), gối (mon), màn (dắn), rèm (man), cót (sát), chiếu (phụ) Nó không những làm cho con ngời ấm cúng mà còn là sản phẩm

tợng trng cho sự chăm chỉ và giầu có, biếng nhác và nghèo nàn của mỗi gia

đình ngời Thái

+ Văn hóa ẩm thực:

Ăn: Trong tiếng Thái, lơng thực gọi là Khảu (dịch sang tiếng việt là lúa,

gạo, cơm) Nếu nh ngời Kinh cơm xôi (cơm nếp) là thứ ăn lót dạ hoặc dùngtrong các nghi thức tập quán nh cúng lễ, cới xin thì ngời Thái coi xôi là cơm

ăn thờng ngày Đây là một nét đặc trng và in đậm trong văn hóa tộc ngời

Trang 25

Công thức ăn uống của ngời Thái là: xôi đồ chấm chẻo, măng rau đồ, thịt cánớng, cơm lam, thịt - cá làm chua, lạp sống hoặc chín, gỏi, mọk…

Từ gạo chế biến thành cái ăn đã biểu hiện rõ bản sắc cộng đồng tộc

ng-ời Cách chế biến cổ xa hơn cả là cơm nếp lam, cơm lam có mùi hơng sắc đặc

biệt và hơng vị thơm ngon bổ dỡng

Lơng thực chính là xôi nếp, nên dụng cụ bếp núc chính là ninh đồnghay chõ Chõ để xôi cơm thì lấy khúc thân cây gỗ để đục, và đồ rau thì làmbằng khúc cây bơng Trong gia đình ngời Thái ninh đồng là một trong bốn thứcủa gia truyền, và theo tập quán thì chiếc chõ còn là vật chứa đựng “điều cấmkỵ” Dùng với cơm xôi, ngời Thái có hệ thực phẩm đợc chế biến từ ba nguồngọi chung: Rau, cá, thịt lấy trong thiên nhiên hoặc do con ngời sản xuất ra.Ngoài ra, cá thịt thờng đợc chế biến bằng cách nớng với các loại gia vị riêngtạo nên mùi vị thơm ngon, độc đáo riêng có của món ăn dân tộc Thái mà ai đãthởng thức một lần thì không bao giờ quên

Uống: Ngời Thái đã biết uống trà từ rất lâu, nhng đáng nói nhất là Rợu.

Rợu là thức uống trong các dịp vui buồn và là vật tợng trng của các nghi thức

Do đó, trong sinh hoạt cuộc sống, với ý nghĩa nào đó, dân tộc này đã xem nó

nh một nghi thức cần thiết ngang tầm với cơm Họ dùng rợu khi đón tiếp bàcon và tiếp khách, nghi thức và cúng lễ, cới xin và hội hè, ngâm thuốc và đểuống tăng lực, cuối cùng là tang ma Nhìn tổng thể một bản sẽ thấy không cóngày nào không có ngời uống rợu, nên có thể coi đây là thức dùng quanh năm

Rợu Thái có hai loại chính - rợu cất (lảu xiêu) , rợu cần (lảu xá) và hai

loại phụ Kỹ thuật làm rợu cũng rất công phu cầu kỳ, rợu làm ra rất thơm ngon(nổi tiếng là rợu Mờng Thanh, Điện Biên) Rợu cần và tục uống rợu cần là nétvăn hóa rất độc đáo của dân tộc Thái, mà hầu nh ai cũng hâm mộ Vị vừangọt, vừa cay và hăng, thơm khó quên Đồng bào mời rợu bằng những lời cócánh, bằng thơ, bằng hát và bằng cả tấm lòng mình

Cách thức tổ chức ăn uống thờng ngày cũng không cầu kỳ, nhng khi có cỗbàn hay tiệc tùng thì lại mang những nét văn hóa của cộng đồng tộc ngời Bộ đồmâm ghế ăn tuy đơn giản nhng mang sắc thái văn hóa một cách rõ rệt Ngời Thái

là một dân tộc mến khách và có xu hớng coi đó là đặc trng về tâm lý khác vớicác dân tộc khác chính là ở sự thể hiện Với ngời Thái thì lấy bữa ăn, uống làm

đầu câu chuyện giữa chủ và khách Trong tập tục này có một định hớng t duy ghithành câu tục ngữ: “ngời đợc ăn, đồn tiếng tốt; ma đợc ăn sẽ phù hộ” Cho nên,

Trang 26

khi “anh em đến họ ngoại lại” sẽ “mổ gà, mở rợu” (khả cáy, khay lảu) và cao hơn thì “mở rợu mời, mổ lợn tiếp” (lảu xú, mu ha)

- Các giá trị văn hóa tinh thần:

+ Ngôn ngữ và văn tự: Ngời Thái là một cộng đồng tộc ngời có ngôn ngữ

riêng, có chung cội nguồn ngôn ngữ với tiếng nói của các dân tộc: Tày, Nùng,Lào, Lự, Bố y, Sán Chay ở Việt Nam; với tiếng Lào và Thái Lan; với tiếngChoang và tiếng Thái ở miền Nam Trung Quốc Về mặt cấu trúc ngôn ngữ, ta

có thể thấy tiếng Thái nổi bật lên một số nét cơ bản nh sau:

Do dùng chung một cội nguồn, ngôn ngữ nhóm ngời Thái có đợc mộttổng thể thống nhất Là một thứ tiếng có khá nhiều vùng thổ ngữ Song nếumột ngời có thể tờng tận đọc, nói, viết đợc một loại thổ ngữ có thể giao tiếp đ-

ợc với ngời Thái ở các nhóm Thái, các vùng khác nhau

Tiếng Thái có âm tiết và có thanh điệu - một âm mang một thanh tạothành một từ biểu đạt ý Về cấu trúc các thành phần trong cú pháp tiếng Tháicùng một mô típ với tiếng Việt, đó là thứ tự: Chủ ngữ - vị ngữ - các thành phầntân ngữ và bổ ngữ Ngôn ngữ Thái rất phong phú, biểu hiện đợc mọi cung bậctình cảm Đặc biệt dân tộc Thái có chữ viết riêng, là một trong những dân tộc

đợc đánh giá là có chữ viết sớm nhất ở vùng Đông Nam á cổ đại

Đây là thứ tiếng phát triển, đã sớm hình thành ngôn ngữ văn học và cóthể diễn đạt đợc sự vật tự nhiên, xã hội mà con ngời cần nhận thức Đơngnhiên, để thực hiện điều đó ngời Thái đã du nhập, vay mợn các yếu tố ngônngữ sắc tộc khác Trong đó, có phần đóng góp của tiếng Việt hiện nay là quantrọng và chiếm tỉ lệ nhiều nhất Song, đây là một loại ngôn ngữ cha đợcnghiên cứu một cách tờng tận để có thể có đợc một nền ngữ pháp cũng nh từ

điển Do đó, ngôn ngữ Thái mới chỉ đạt ở trình độ văn hoá dân gian, cha từcó

đợc một nền ngôn ngữ bác học

Có ngôn ngữ, văn tự ngời Thái đã xây dựng đợc một nền văn hóa của mình

Có thể coi đây là sự tổng kết quá trình t duy các quá trình tự nhiên, xã hội bằnghình tợng của nghệ thuật ngôn ngữ, cấu tạo thành ba luồng cơ bản:

Văn học dân gian truyền miệng gồm: Các câu truyện thần thoại, giúp ta

có thể hình dung đợc về bức tranh lịch sử của dân tộc Thái Các câu truyện cổtích mang nội dung đấu tranh giữa cái thiện và cái ác, giữa ngời nghèo và kẻgiầu, giữa ngời lao động trí tuệ và kẻ ngồi mát ăn bát vàng và kết quả bao giờcũng khẳng định sự toàn thắng của yếu tố thiện và ngời lao động chăm chỉ

Trang 27

Thành ngữ, ngạn ngữ, tục ngữ và dân ca phát triển, ngôn ngữ Thái mới thoátkhỏi chỉ có lớp từ vựng cơ bản để vơn tới tri thức văn học Theo cộng đồng tộcngời này thì có văn hóa nghĩa là biết nói, biết viết, sử dụng thành ngữ, ngạnngữ, tục ngữ, dân ca hợp ngữ cảnh và ngợc lại Bởi họ cho rằng: “ngôn ngữ là

sự gạn lọc tinh khiết của t duy”

Văn học đợc ghi chép thành văn: Khi nói đến văn hóa Thái không thể

không nói đến những pho sách cổ - tài sản vô giá không chỉ của dân tộc Thái màcủa cả dân tộc Việt Nam Những pho sách cổ này nêu ba chủ đề lớn nh sau:Những tác phẩm nói về lịch sử xã hội, nh cuốn sách nhan đề “Kể chuyện

bản mờng” (Quăm tô mơng) Tác phẩm này đã đợc dịch ra và xuất bản bằng

tiếng Việt Cùng đó, còn có các tập thơ lịch sử nhan đề Dựng mờng lớn

(Phanh mơng luông), Dựng mờng nhỏ (Phanh mơng nọi), đặc biệt là tập sử thi

nổi tiếng nhan đề: Những bớc đờng chinh chiến của cha ông (Táy pú xớc)…vàrất nhiều những tập thơ nh: Chống giặc cờ vàng (1873- 1880); Cuộc nổi dậycủa ngời tù Sơn La do Cai Khạt đứng đầu (1911), Cuộc nổi dậy chống Pháp ởSầm Na - Sơn La (1914 - 1916)…

Những tác phẩm ghi chép về luật lệ bản mờng, phong tục tập quán cớixin, ma chay đợc tập hợp trong cuốn “Luật tục Thái ở Việt Nam” Những tậpmang nội dung văn hóa tâm linh biểu hiện vũ trụ quan, thế giới quan folklorenguyên Thái

Những tác phẩm văn học bằng thơ rất nhiều Đến nay, đã có một số tácphẩm đợc biên dịch và xuất bản nh Xống Chụ Xon Sao, Khun Lu Nàng ủa, TánChụ Xiết Xơng là những tác phẩm rất nổi tiếng Trong đó, phải kể đến tập truyện

thơ: Tình Ca - tập thiên tình ca tiễn dặn ngời yêu (Xống chụ xon xao) không chỉ

đạt đỉnh cao trong loại hình văn học này mà cho cả nền văn học cổ điển TháiViệt Nam Bên cạnh đó còn rất nhiều những tác phẩm văn học của ba dân tộcViệt, Lào, Trung Quốc phỏng dịch thành truyện thơ nh của chính cộng đồng tộcngời mình nh: Tống Chân- Cúc Hoa, Truyện Kiều của Nguyễn Du…Ngoài ra,còn có rất nhiều sách Thái cổ ghi lại những phong tục tập quán, lễ nghi, ca daotục ngữ, các bài cúng và Sách về các bài thuốc chữa bệnh dân gian

+ Nghệ thuật: bao gồm có họa tiết trang trí và múa.

Họa tiết trang trí bao gồm có: Họa tiết điêu khắc gỗ và đan mây, tre và

họa tiết trên vải Họa tiết điêu khắc gỗ thể hiện ở các họa tiết điêu khắc gỗ

Trang 28

mang tên Khau Cút treo trên hai đầu hồi mái nhà sàn của một số nhóm Thái.

Xa, đã có thời nhìn vào bộ trang trí này ngời ta biết đợc vị trí xã hội của chủnhà Họa tiết điêu khắc còn thực hiện trên khung và tấm chắn cửa sổ và cáchọa tiết trang trí trên các mặt dụng cụ dùng để làm thức đựng, đồ đựng Cácmẫu hoa văn tuy nhiều hình, nhiều vẻ nhng đều gọi chung bằng một tên chung

là hoa văn Ăm.

Họa tiết trên vải có nguồn gốc từ việc trực tiếp kế thừa cách thể hiện hoa

văn ăm, và từ việc dệt nên các tấm thổ cẩm để làm chăn, đệm, gối Ngoài ra,

còn có cách thể hiện họa tiết trang trí trên vải bằng phơng pháp thêu thùa bằngchỉ màu trên khăn đội đầu (khăn Piêu), trên nền vải làm khăn tay, mặt rèm vàdải đỉnh màn…bằng các họa tiết hình kỷ hà Ngoài ra, còn có nghệ thuật khâughép đáp vải màu kế thừa từ việc khâu ghép da các loài thú săn bắt Nghệthuật khâu ghép này phổ biến ở phía Bắc, nó thể hiện sự khéo léo của đôi tayngời phụ nữ Thái, đã bứt khỏi khuôn mẫu chật hẹp của cách dệt thành hoa vănhình kỷ hà:

Nó làm cho nghệ thuật folklore Thái vơn tới đỉnh cao của hiệnthực Đôi tay họ hoàn toàn tự do trong thực hiện các đờng viềncong, dễ tạo ra các vòng tròn, uốn lợn, khép kín làm cho họa tiếttrang trí trên vải của ngời Thái thêm phần đẹp muôn hình muôn vẻ,xứng đáng làm nền cho sự đóng góp của văn hóa cộng đồng tộc ng-

ời vào hội họa Việt Nam nói chung [52, tr 212]

Múa: Ngời Thái từ lâu đã nổi tiếng trong các điệu dân vũ Khi nói đến

ngời Thái, ngời Việt không mấy ai không hình dung các cô gái đẹp, trangphục hoàn chỉnh, thanh cao, mềm mại, cuốn hút trong các điệu múa mang tên

xòe của mình Và nh thế, múa xòe đã trở thành một trong những biểu hiện đặc

trng văn hóa cụ thể, thật sự đậm đà bản sắc dân tộc Thái Múa xòe vô hìnhchung trở thành sự thừa nhận mang tính truyền thống, đối với nền nghệ thuậtcủa ngời Thái nh một loại hình vũ điệu Sở dĩ có điều đó, là vì nền nghệ thuậtfolkore này đã phát triển đạt tới sự phân chia thành hai cấp độ: Múa tập thểdân dã mà tiêu biểu là múa xòe vòng; múa biểu diễn hay múa phong cách mà

đặc trng là sự phô trơng tối đa vẻ đẹp của hình tợng văn hóa- cô gái Thái ViệtNam Có thể kể một số điệu múa phổ biến nh: múa xòe, múa sạp, múa nón,múa chai, múa khăn, múa quạt…

Trang 29

+ Âm nhạc: Nhìn chung âm nhạc folklore Thái thể hiện bằng ba cách:

Thanh nhạc Thái chia các loại hình cơ bản là: Khắp x (còn gọi là hát chữ); Khắp mo- dùng trong lễ nghi và diễn ca sử thi Táy Pú Xớc toát lên vẻ trang nghiêm, mạnh mẽ; Khắp chơng- dùng cho giọng nam trung, nam trầm diễn các tập sử thi anh hùng ca; Khắp một- là tiếng Thái dùng để làm ma thuật

chữa bệnh, loại hình thanh nhạc đã mang tính cảm thụ tôn giáo làm ngời nghe

sùng bái các điều tín, và Khắp xe - hát múa

Nhạc khí: Ngời Thái dùng âm thanh, nhịp điệu của các nhạc khí để thổ lộ

t tởng, tình cảm của mình trên sự phô diễn nhạc cụ nh chơi nhị hay tính tảu,

đàn môi, pí, sáo và tiêu Bộ gõ: có trống, chiêng, chũm chọe và nhạc, bộ bahòa vào nhau tạo thành dàn nhạc nhịp, nhạc xâu lại thành chùm để đeo trênngón tay, gõ nhịp cho hát then và múa xòe

+ Tôn giáo, tín ngỡng: Ngời Thái có ngôn ngữ và văn tự, có t duy và văn

hóa nhng không theo một tôn giáo nghiêm ngặt nào nh đạo Phật, đạo Hồi, đạoThiên chúa Vì xã hội ngời Thái ở Việt Nam nói chung, ngời Thái ở Tây Bắcnói riêng không hình thành t duy trên con đờng đó mà theo một hớng riêngcủa mình Có thể nói, dân tộc Thái là dân tộc có tín ngỡng đa thần Tín ngỡngcủa ngời Thái cha phát triển thành tôn giáo riêng nhng họ cũng không chịu

ảnh hởng hay du nhập vào mình các tôn giáo khác Nằm trong phạm trù tâmlinh, tôn giáo tín ngỡng dân gian Thái tập trung trong các trong các phong tụctập quán, lễ nghi xoay quanh sự thể hiện nhận thức về: đờng sống, đờng chết

và đờng thần linh

Đờng sống: Nhận thức về đờng sống theo tâm linh Thái đợc bắt đầu từ

quan niệm sinh ra con ngời Ngời mẹ đã nhận con của mình từ bà Then mangtên Me Bảu, bà có khuôn chuyên đúc rồi dập thành hài nhi trai hay gái rồigiáng xuống đầu thai vào các bà mẹ ở cõi trần Mọi thủ tục chuẩn bị đờngsống cho một con ngời đã hoàn tất ở cõi trời và theo mạch tâm linh ấy Tín ng-ỡng ngời Thái cho rằng con ngời sống nhờ có linh hồn Họ quan niệm mỗi bộ

Trang 30

phận cơ thể có một linh hồn và con ngời có tất cả có 80 linh hồn đợc chiathành hai nửa nh câu ngạn ngữ: “30 hồn ở mặt trớc, 50 hồn ở mặt sau”, nhiều

linh qui về một, mang tên hồn ngời ngụ ở đỉnh đầu chỗ có chỏm xoáy tóc, vị trí đó đặt tên là đỉnh hồn Khi ở bên thể xác, hồn nh bóng nên gọi là kép bóng hồn, bóng hồn bao quanh thân thể nh ngời mặc áo Tập quán của ngời Thái, áo

là vật tợng trng cho linh hồn Cho nên, trong tất cả các lễ nghi tôn giáo, tín ỡng Thái, cạnh mâm cúng bao giờ cũng đặt áo của chủ hồn (thân chủ) Xanay, dân tộc này vẫn tin và thờ lực lợng siêu tự nhiên mà thuật ngữ Thái gọi làPhi (ma), tất cả các phi đều trú ngụ ở một thế giới gọi là Mờng Phi (mờngma), mờng ma đợc quan niệm nh một thế giới vĩnh hằng bất biến Cách giảithích này trùng lặp với thuyết cho rằng linh hồn là bất tử Ngợc lại là MờngNgời thì tồn tại theo sự biến động theo từng thế hệ con ngời Linh hồn, lúc

ng-tách khỏi thân sống trở thành bản thể riêng gọi là phi khoăn, dùng để chỉ khái

niệm hồn hay linh hồn sống của ngời, vật, hiện tợng tự nhiên, xã hội, nh triếthọc gọi là vật linh giáo Chúng có thể tạm thời tách khỏi thể xác nhập cõi trời

đất mà đờng sống của thân chủ vẫn tồn tại Theo quan niệm tâm linh Thái, sựsống không có gì thiêng hơn linh hồn nên có những tập quán pháp kiêng kỵ,không đợc phép vô tình hay hữu ý vi phạm Tâm linh Thái cho rằng sự sốngvốn do trời tạo ra và giáng xuống trần gian tạo thành ngời và ngợc lại cái chếtcủa con ngời lại bắt đầu từ trần gian trở về trời

Đờng chết: Theo quan niệm tâm linh Thái, đờng chết đợc giải thích phân

thành hai trờng hợp: đờng chết không bình thờng và chết bình thờng Theo đó,

linh hồn sau khi lìa thể xác đã tan, hóa thành phi (ma) ngụ ở nhiều vị trí khác

nhau trong cõi chết để rồi tiếp tục gây ra điều ác hay điều thiện ở cõi sống

Nếp nhà sàn để ở mang thêm tên tâm linh “nơi chứa dựng cái minh cái hồn của mình”, không gian tâm linh đó đợc cộng đồng tộc ngời này thu nhỏ lại

thành gian “hóng” của nếp nhà ở mỗi gia đình, nó trở thành chỗ hội tụ của tổtiên để con cháu thờ phụng Do có quan niệm linh hồn bất tử, nên dân tộc này

có tục thờ cúng tổ tiên, coi đó là tôn giáo tín ngỡng chính

Đờng thần linh: Về tâm linh: đờng sống, đờng chết còn có quan hệ

khăng khít với thần linh và không gian chứa đựng nó Với ngời Thái phi bản,phi mờng (thần bản, thần mờng) gộp lại đợc miêu tả thành ba phần:

Phần hồn trong không gian tâm linh mờng

Phần chảu sửa trong không gian tâm linh mờng

Phần thần, ma trong không gian tâm linh mờng

Trang 31

Theo ngời Thái, vũ trụ có ba tầng: Tầng trên, phi ở có tên Mờng Phạ ờng Bôn), ngoài ra còn có các vị Then nên còn gọi là Mờng Then Tầng giữa,ngời ở có tên Mờng Lum (tức cõi trần) và tầng ba là tầng dới lòng đất của cácloài phi nhỏ trú ngụ, khác với các phi ở tầng trên.

(m-Khi nói đến phong tục tập quán Thái, không thể không kể đến một trongnhững phong tục truyền thống đặc trng của ngời Thái đợc thể hiện trong tục c-

ới xin Các đôi trai gái yêu nhau, khi đã quyết định đi đến hôn nhân thì sẽ tổchức cới Theo phong tục truyền thống ngời Thái thờng tổ chức cới 2 lần Lần

thứ nhất cới tại nhà gái - còn gọi là “đoong khửn”, nhà trai mang đồ cúng, lễ

vật đến nhà gái, sau đó chú rể ở lại sinh sống tại nhà gái trong vòng 3 năm(tùy thuộc vào hoàn cảnh từng gia đình mà quyết định số năm ở rể) Ngời Tháiquan niệm ngời con rể phải ở lại nhà gái làm lụng, để trả ơn bố mẹ vợ đã sinh

ra và nuôi dỡng cô dâu Hết thời gian ở rể, nhà trai giết trâu, bò tổ chức cới lần

2 “đoong lông” để đón cô dâu về nhà chồng, khi đó cô dâu mới chính thức thuộc về gia đình nhà chồng Cới xin phải qua các trình tự: đi dạm (pay tộ), đi hỏi (pay tham), đám cới đa rể về nhà gái (sống khơi), lễ ghép chăn (sú phả), lễ búi tóc ngợc cho cô dâu khi đã có chồng (tằng cẩu - với ngời Thái Đen) Sau

đó là lễ cới chính thức, cuối cùng là lễ đa dâu về nhà chồng mới hoàn thànhcác thủ tục hôn nhân Khi sinh con ngời Thái thờng đặt tên con vào đầu tháng.Ngoài những nội dung nổi bật trên, văn hóa của ngời Thái còn thể hiệnrất rõ trong các lễ hội truyền thống Trớc hết, phải kể đến nghi thức ăn mừng

mùa thu hoạch đợc gọi là “ăn cơm mới” đợc tiến hành bằng hội giã cốm và

nấu các món ăn chế biến từ thịt những con vật săn bắn đợc Các bản mờngThái còn lu giữ nhiều lễ hội khá đặc sắc nh: “lễ gội đầu” thờng đợc tổ chức ởnhững bản gần sông hoặc dòng suối lớn; “lễ săn bắn” và “lễ hái lợm” đợc tổchức ở những bản gần với núi rừng “Lễ hội ném còn” là nơi quy tụ nhiều chàngtrai, cô gái từ nhiều bản mờng lân cận, là cơ hội tốt để nhiều đôi trai gái làm quenvới nhau

Cũng nh các dân tộc khác, đồng bào Thái có nhiều hình thức sinh hoạtcộng đồng trong gia đình, trong bản, trong mờng Đó là các lễ, tết, hội hè của

dân tộc nh tết Kin tón ú vào ngày mồng 5 tháng 5, Kin trết xíp xí vào ngày 14 tháng 7 âm lịch Đó là tục xên bản, xên mờng (cúng bản, cúng mờng) vào

khoảng tháng ba âm lịch hàng năm, đợc đồng bào rất coi trọng Tục này vừa

có yếu tố phồn thực và tâm linh, đây là ngày tết, ngày hội to nhất, vui nhất

Trang 32

trong năm Đồng bào Thái ở Tây Bắc còn có hình thức sinh hoạt cộng đồngthờng đợc mọi ngời nhắc đến là Hạn Khuống, Hạn Khuống không chỉ là nơivui chơi ca hát, nhảy múa mà còn là nơi để trai gái thi tài, tìm hiểu lành mạnh;

là nơi ngời già nhớ lại thời trẻ, ngời trẻ học hỏi kinh nghiệm ứng xử giao tiếp

Là nơi, là dịp để sinh hoạt cộng đồng, truyền lu văn hóa truyền thống của dântộc và tiếp thu cái mới Một thời lễ hội này là linh hồn của bản mờng, nói lên

sự bình yên, no ấm của quê hơng Ngoài ra, đồng bào Thái còn nhiều hìnhthức sinh hoạt văn hóa dân gian mang tính lễ hội mang yếu tố tâm linh vàphồn thực nh “kin pang then” “kin pang lẩu pó”

- Các giá trị văn hóa với t cách là thiết chế xã hội:

+ Gia đình: Ngời Thái gọi gia đình là hơn và đợc phân thành hai loại hình: Tiểu gia đình phụ hệ - Chỉ một đơn vị tế bào xã hội, đợc hợp bởi một cặp

vợ chồng có thể đã, cha hoặc không có con Nếu có thì chúng cũng cha trởngthành, cha đủ các điều kiện để lập gia đình riêng Tiểu gia đình phụ hệ Thái,

đến nay vẫn giữ những tập quán của mối quan hệ thân thuộc trong họ hàng.Khi hai cá thể nam, nữ đã thiết lập thành một tổ hợp gia đình, thì lập tức mỗi

cá thể ấy sẽ hình thành cho mình một tập quán quan hệ ba chiều là: ải Lung ta- Nhinh xao ải nọng (những anh em trai cùng một hàng thế hệ với

nọng-chồng có gốc từ một ông tổ, tơng đơng với cách hiểu của ngời Việt là họ Nội).Khi các chị, em gái đã thành lập gia đình riêng, nhóm những anh em trai của

họ sẽ tổ hợp thành cộng đồng thuật ngữ hệ thống thân tộc gọi là Lung ta (họ

bên Ngoại) Những anh em trai bên vợ lập gia đình riêng, thì những anh em

cọc chèo của họ sẽ tổ hợp thành nhóm thân tộc có thuật ngữ Nhinh xao tức họ

nhà rể, theo nghĩa sát là họ các cô gái Theo ngời Thái mỗi chiều ấy đợc gọi làmột họ, và với những mối quan hệ khác nhau phải tuân theo những quy tắcnhất định mà truyền thống cũng nh tập quán t duy đặt ra Tục ngữ Thái còncho rằng sự gắn bó khối anh em trong cộng đồng (ải nọng) tạo sức mạnh vô

địch Tình nghĩa anh em vừa xem nh tự nhiên vừa xem nh đạo đức làm ngờivì: “Dao nào chặt đợc dòng nớc đổ từ lòng máng; anh em dù cách trở nơi chínchợ, chín hàng cũng vẫn là anh em”, khác với quan hệ vợ chồng “anh em dù

có gặp phải đờng xấu cũng không chia lìa; vợ chồng chỉ cần phật ý, một buổicũng thành dng” Nổi trội trong gia đình Thái, là sự bảo lu tàn d mẫu hệ trongchế độ gia đình quyền Cha, trong đó đặc biệt xem trọng chế độ quyền cậu.Ngời Thái ở Tây Bắc chế độ này có vẻ đậm hơn và có thể coi là một điểm đặc

Trang 33

thù, có thể thấy qua câu tục ngữ: “Nếu phải bỏ màn đành bỏ chăn; nếu phải bỏLung ta ta đành bỏ ải nọng” Trong một gia đình Thái tất cả đều do ngờichồng, ngời cha quyết định, nhng ngời vợ, ngời mẹ vẫn có một chỗ đứng vữngvàng Phải chăng, đây là u điểm của truyền thống gia đình Thái Nó thể hiệnquyền bình đẳng nam, nữ trong gia đình cần đợc kế thừa và phát huy cho phùhợp với điều kiện mới

Từ lâu gia đình hạt nhân đã trở thành tế bào kinh tế - xã hội Thái, là môhình gia đình phổ biến nhất trong xã hội Thái từ trớc tới nay, nó tồn tại trongphong tục tập quán, nếp sống và t duy về mối quan hệ thân thuộc đợc gọi là ba

họ Là ngời Thái, bất cứ cá nhân và hạt nhân gia đình nào không giữ đợc nềnếp, vô tình hay hữu ý làm trái các quy định phong tục tập quán: ải nọng -lung ta - nhinh xao chắc chắn sẽ bị xã hội lên án, chê trách

Đại gia đình phụ hệ: là đơn vị kinh tế - xã hội tổ hợp bởi ít nhất có hai

gia đình hạt nhân Trong đó, những ngời chồng cùng chung hệ dòng cha nêngọi là đại gia đình phụ hệ Mô hình gia đình này không phổ biến, ta có thểhình dung nó nh những dấu chấm nhỏ điểm xuyết trên nền gia đình hạt nhânphổ biến và phủ khắp mọi nơi Hiện nay, mô hình gia đình này còn rất ít theonghĩa trọn vẹn của nó Nó có những đặc điểm cơ bản đó là: Các gia đình nhỏtrong đại gia đình bao gồm tất cả các nhóm ải nọng trong cùng một ông tổ

sinh ra, vẫn ở chung trong một nóc nhà gọi là chua hơn Ông tổ ấy chính là

ngời mang cái tên thuật ngữ hệ thống thân tộc là Pấn Ngời đứng đầu gia đình

lớn mang tên là Chởng cốc hay Phủ cốc có nghĩa "ngời làm gốc của họ" Từ

đời cha trở lên thế hệ khác, hễ ai còn sống thuộc chi trên là anh thì ngời đó

mặc nhiên là Chởng cốc Đây là tập quán bất di bất dịch và không có ngoại lệ.

Trong gia đình lớn nh vậy, các gia đình chỉ là thành viên không phải là một

đơn vị kinh tế - xã hội riêng biệt mà thống nhất Mọi tài sản có trong gia đình

đều là của chung, mọi nhu cầu tiêu dùng trong gia đình đều dùng của chung,mọi vấn đề của gia đình nhỏ đều coi nh việc chung của cả gia đình Các gia

đình hạt nhân phải có trách nhiệm giúp đỡ việc thực hiện tiêu dùng cho thậttốt Về mặt tâm linh, ngoài chỗ thờ đẳm trong nhà, các gia đình lớn còn có

nghĩa địa chung gọi là heo đẳm, ở đó ngời chết đợc chôn theo thế hệ rõ ràng,

quy củ

+ Bản mờng: Chỉ một loại hình tổ chức xã hội đã từng tồn tại phổ biến ở

khắp miền Nam Trung Hoa và bán đảo Đông Dơng của ngời nói tiếng Thái

Trang 34

Riêng ngời Thái ở Tây Bắc Việt Nam, cơ cấu tổ chức xã hội này chính thứcxuất hiện thành văn bản ghi bằng chữ Thái cổ cách đây hàng ngàn năm,khoảng thế kỷ thứ X

Đợc hình thành trong lịch sử tộc ngời, Bản là một đơn vị tổ chức c dân ổn

định, có ranh giới đất đai rõ rệt Trong mỗi bản Thái c trú một nhóm đồng tộc

ít khi ngời Thái ở cùng với nhóm tộc ngời khác Thờng thì các nóc nhà trongmột bản đều nằm trong mối quan hệ thân thuộc chặt chẽ, do đờng dây sinhthành và hôn nhân tạo ra Bản lớn thờng ở gần chợ hoặc bến nớc thờng làtrung tâm của một mờng Vùng đất bản hoàn chỉnh phải chứa từ 10 nóc nhàtrở nên, bao gồm các vùng tự nhiên nh: những thung lũng lòng chảo lớn,những phạm vi đất núi rừng, những đoạn sông khúc suối, khe lạch Bản còn làmột đơn vị c dân có tổ chức nên từ lâu đã là tổ hợp cộng đồng xã hội mangmàu sắc văn hóa dân tộc Theo truyền thống vùng Thái ở Tây Bắc, thì ruộng

đất là của bản mờng, cá nhân không có quyền t hữu mà chỉ đợc sử dụng đểcày cấy và thu hoạch Bản thừa hành luật lệ của mờng, trực tiếp tổ chức phânphối và điều chỉnh các thửa ruộng cho từng nóc nhà Đây là một đặc điểm đểbản của ngời Thái ở vùng Tây Bắc khác với bản của ngời Thái ở các vùngkhác, cũng nh tổ hợp các nóc nhà của các dân tộc Tày, Nùng cũng mang tênbản (bản của họ không phải là tổ chức kinh tế xã hội mà chỉ là danh từ chỉ nơichốn, gia đình hạt nhân đã trở thành chủ cá thể của mảnh đất trong phạm vibản của mình) Với ngời Thái, bản không chỉ là chốn quê hơng mà còn là nơi

tổ chức quản lý ruộng đất Là một đơn vị quản lý kinh tế xã hội dới cấp mờngtrớc đây, theo truyền thống cổ truyền thì bản có hai chức dịch: một ngời đứng

đầu bản gọi là quan hoặc tạo (nếu là họ quý tộc) và một ngời giúp việc gọi là chá, khi miền Tây Bắc đợc giải phóng buổi đầu chính quyền ta đặt chức trởng

bản Sau này các bản đợc sát nhập thành đơn vị liên hiệp gọi là xã, đơn vị bảntuy còn nhng đã bắt đầu lu mờ Theo truyền thống xa, bản còn là tổ chức đảmnhiệm chức năng văn hóa mang đầy đủ màu sắc dân tộc, cho nên ngời đứng

đầu bản phải là ngời biết chữ Thái cổ và am hiểu phong tục tập quán Bản còn

là một cộng đồng ngời có tổ chức, mọi phong tục tập quán, lối suy nghĩ, sinhhoạt về mọi mặt trên một tuyến thống nhất Bản bao giờ cũng là lực lợngchính trong tất cả các công việc hiếu, hỉ cho tất cả các thành viên trong bảntheo thể thức tập quán dân tộc, tơng trợ các gia đình hạt nhân thành viên củamình Chức năng ấy in rất đậm và gần nh thành nếp hằn để biến thành tập

Trang 35

quán một cách tự nhiên, đó là đặc trng văn hóa cần đợc nuôi dỡng và pháttriển.

Mờng: Sau các thế kỷ thiên di, cuộc sống c dân Thái ở nớc ta đã ổn

định, nhiều bản hợp thành mờng, buổi đầu tiên phải kể đến ba sắc thái mờng:Vùng phía Bắc Lai Châu nay là sắc thái của nhóm Thái Trắng Vùng pháiNam tỉnh Sơn La và Tây Bắc Hòa Bình; Vùng giữa bao gồm các mờng thuộcmiền đất của tỉnh Sơn La, Nam tỉnh Lai Châu, Bắc Yên Bái và Tây Nam LàoCai Đến thế kỷ thứ XIV, trên vùng c trú của ngời Thái đã hình thành 16 đơn

vị Châu mờng Tổ chức xã hội của mờng theo mô hình cơ cấu vòng đồng tâmxoay quanh trục, đã đợc thể hiện một cách hoàn thiện trong hệ thống tổ chức

một châu mờng và sự quy tụ các châu mờng về một mối Mỗi mờng có Chảu

Mờng là ngời đứng đầu và cai quản chung, dới Chảu Mờng là các Phìa, Tạo

đứng đầu và cai quản các Phài và bản Mờng là một cơ cấu tổ chức chínhquyền mang những nét đặc trng rất Thái ở nớc ta Là tổ chức xã hội dựa trênquan hệ lãnh thổ và sở hữu, có đờng ranh giới rõ rệt, mang tên đất mờng Vớicác gia đình hạt nhân, tổ chức mờng không trực tiếp tác động mà thông quacấp cơ sở dới mình Ngày nay, mặc dù cấu trúc xã hội Thái theo kiểu bản m-ờng không còn nguyên gốc (do việc thiết lập bộ máy hành chính từ trên xuốngdới thống nhất trong cả nớc), nhng danh từ ghép này vẫn đợc sử dụng khi nói

đến mô hình tổ chức xã hội Thái

1.1.2.3 Bản sắc của văn hóa dân tộc Thái

Khi nói đến văn hóa dân tộc Thái (văn hóa cộng đồng tộc ngời Thái), lànói đến những đặc trng cơ bản để tạo thành bản sắc riêng của nền văn hóanày, tựu chung lại bao gồm bốn nét đặc trng cơ bản sau:

Thứ nhất, đặc trng hệ sinh thái nhân văn, tức là mối quan hệ giữa con

ng-ời với môi trờng sống của mình trong tự nhiên và xã hội, mà ta gọi văn hóaThái là “Văn hóa thung lũng”

Thứ hai, đặc trng hệ thống kỹ thuật trong sản xuất và sinh hoạt cuộc sống Thứ ba, là đặc trng hệ thống thiết chế xã hội Văn hóa Thái - một loại

hình cơ cấu gia đình hạt nhân phụ hệ, phụ quyền và tổ chức bản mờng

Thứ t, là những đặc trng hệ thống t tởng và tri thức của dân tộc.

Bốn đặc trng văn hóa này đợc hình dung nh những sự vật hiện tợng luôn

luôn vận động, không bao giờ đứng yên Chúng chuyển động theo đờng xoay tròn, kết hợp để gặp nhau tạo thành các điểm giao thoa, các điểm giao thoa

Trang 36

này tiếp tục xoay tụ vào tâm bản sắc Tâm bản sắc cho thấy rõ sự hiện diện của văn hóa dân tộc Thái Nhìn vào đó ngời ta có thể phân biệt đợc văn hóa

cộng đồng tộc ngời này với văn hóa cộng đồng tộc ngời khác:

Vòng đặc trng 1 của văn hóa Thái là văn hóa thung lũng, khi xoay vòng

hớng tới tâm đã gặp vòng đặc trng 2 tạo thành điểm giao thoa là những biểu hiệntập quán của nếp sống lao động hoàn toàn thủ công Từ đó xuất hiện tâm bản sắcvăn hóa thung lũng Thái ở giai đoạn lịch sử tiền công nghiệp

Vòng đặc trng 3 vận động xoay vòng tâm sẽ cắt qua hai vòng đặc trng 2

và 1 để xuất hiện các điểm giao thoa Tâm bản sắc do các điểm giao thoa vòng

3 sẽ là văn hóa cơ cấu xã hội dới hình thức gia đình hạt nhân phụ hệ, phụquyền và tổ chức bản mờng

Vòng đặc trng 4 xoay vòng vào tâm sẽ gặp vòng đặc trng 3 mang đầy đủ

điểm giao thoa các vòng đặc trng 2 và 1, hình thành các điểm giao thoa mangcác nội dung: ngôn ngữ, văn tự, văn học nghệ thuật, tôn giáo, tín ngỡng riêng.Những mặt biểu hiện này cho dù có ít nhiều tính bác học, nhng về cơ bản vẫnnằm trong phạm trù folklore Vậy, tâm bản sắc của văn hóa cộng đồng tộc ngờiThái là văn hóa hệ t tởng tri thức mang trong đó các yếu tố của một dạng trunggian giữa foklore có manh nha bác học

Quá trình vận động của bốn vòng đặc trng, đồng thời cũng là quá trìnhvăn hóa cộng đồng tộc ngời mở, nên trong bớc phát triển không có một nềnvăn hóa nào thuần khiết chỉ một yếu tố cấu thành Mà trong khi khẳng địnhnhững yếu tố của mình, thì đã bao hàm cả sự giao thoa tiếp nhận Sự tiếp nhận

ấy thờng diễn thành hai trạng thái khách quan, nằm ngoài trạng thái ý thức:

Trang 37

Nếu các vòng đặc trng khỏe khoắn, đủ sức chống chọi và tiếp thu sàng lọcnhuần nhuyễn thành cái của mình thì các điểm giao thoa (cái bản sắc) sẽ trở nênlành mạnh, trong sáng và đa sắc màu rực rỡ Tâm bản sắc không những đợc giữgìn mà còn luôn đợc đổi mới Điều đó không những chỉ có văn hóa cộng đồngtộc ngời, mà còn làm cho chính dân tộc có văn hóa ấy trờng tồn.

Nếu các vòng đặc trng chứa sức ỳ lớn, vận động yếu ớt, không có khảnăng tiếp thu chọn lọc Thêm vào đó là các luồng văn hóa bên ngoài có sứcmạnh quá lớn làm thu nhỏ văn hóa cộng đồng tộc ngời, thì các điểm giao thoa

sẽ bị pha tạp, lạc lõng dẫn tới đổi màu tâm bản sắc và có nguy cơ tan biến nếukhông có phơng hớng khắc phục mạnh mẽ Lúc đó, con ngời còn, nhng vănhóa và tộc ngời không còn nữa Nh vậy, do cách vận động của văn hóa chonên bản sắc dân tộc không bao giờ cứng nhắc, đứng yên mà luôn biến đổi Nh-

ng bản sắc là cái của nó, cái bên trong, không phải cái bên ngoài văn hóa cộng

đồng tộc ngời, cho nên khi thể hiện bản sắc thì văn hóa cộng đồng tộc ngời lại

đóng Và nhờ có lẽ đó nên các vòng đặc trng khi vận hành vào điểm hội tụ,cũng nh khi giao thoa tiếp nhận không bị đứt đoạn

Tóm lại, bất cứ một dân tộc nào dù bé nhỏ hay to lớn, dù kém phát triển

hay đạt tới đỉnh cao của văn minh đều luôn có ý thức giữ gìn văn hóa củamình Dân tộc nào có dân trí thấp thì việc giữ gìn càng tỏ ra bất giác Ngợc lại,dân tộc nào có trình độ dân trí cao thì tự ý thức đợc nhiều và tốt hơn Song, giữgìn là ý thức, còn sự vận động của văn hóa là khách quan, hai mặt này luônmâu thuẫn và phủ định lẫn nhau Cho nên, một dân tộc muốn giữ gìn và luônphát huy đợc bản sắc của mình quan trọng nhất là hai yếu tố bản sắc và bảnlĩnh, nhng không thể không kể đến những nhân tố tác động khác

Dân tộc Thái là một trong 53 dân tộc thiểu số ở nớc ta, nhng cho đếnnay với nền văn hóa riêng có của mình, đã chứng tỏ Thái là một dân tộc cóbản lĩnh và bản sắc - một cộng đồng tộc ngời có nền văn hóa Với chính sáchphát triển vùng dân tộc và miền núi của Đảng, chúng ta cần phải bảo lu, khaithác cả cái cũ và mới trong những vùng dân c mới để biến Tây Bắc thành vùnggiàu mạnh của đất nớc với một bản sắc văn hóa đa dạng và độc đáo trong sựthống nhất của nền văn hóa Việt Nam

1.2 Tính tất yếu khách quan của việc kế thừa và phát huy bản sắc văn hóa của dân tộc Thái

1.2.1 Tính tất yếu khách quan của việc kế thừa

Trang 38

Kế thừa là một trong những vấn đề có tính quy luật của phủ định biệnchứng, là cầu nối giữa cái cũ và cái mới Với ý nghĩa đó tìm hiểu vấn đề kếthừa có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận lẫn thực tiễn.

Theo từ điển tiếng Việt: Kế thừa là sự thừa hởng, giữ gìn và tiếp tục pháttriển những cái có giá trị tinh thần [57, tr 509] ‘‘Phát huy’’ là làm cho cáihay, cái tốt tỏa tác dụng

Bách khoa th triết học xem “Kế thừa là mối liên hệ giữa những giai đoạnhay nấc thang phát triển khác nhau, mà bản chất của mối liên hệ đó là bảo tồnnhững yếu tố này hay yếu tố khác của chỉnh thể” [1, tr 360]

Đại học bách khoa toàn th Liên Xô (cũ) cho rằng: “Kế thừa là mối liên

hệ giữa các hiện tợng trong quá trình phát triển trong đó có cái mới lột bỏ cái

cũ, giữ lại trong mình một số yếu tố của cái cũ”[12, tr 360]

Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng, mọi sự vật, hiện tợngtrong thế giới khách quan đều luôn nằm trong quá trình vận động, biến đổi vàphát triển không ngừng theo những quy luật nhất định Một trong những quyluật chung, biểu hiện khuynh hớng của sự phát triển, là quy luật phủ định củaphủ định mà kế thừa là một đặc trng cơ bản Tính kế thừa thực chất chính là

“mối liên hệ tất yếu khách quan giữa mới và cũ trong quá trình phát triển” [56,

tr 269] Trong mối quan hệ đó, cái mới luôn ra đời, thay thế và phủ định cái

cũ, nhng giữa chúng lại có mối liên hệ khăng khít với nhau, đó là sự kế thừacủa cái mới đối với cái cũ Ăngghen khẳng định: “Phủ định trong phép biệnchứng, không phải chỉ có ý nghĩa giản đơn là nói: không, hoặc giả là tuyên bốrằng một sự vật không tồn tại, hay phá hủy sự vật ấy theo một cách nào đó”

mà “sự phủ định trong đó có sự phát triển” [32, tr 201] Quá trình phủ địnhdiễn ra không phải là sự phủ định siêu hình, phủ định sạch trơn mà là sự phủ địnhbiện chứng, đó là “quá trình tự thân phủ định, tự thân phát triển, là mắt khâu trêncon đờng dẫn tới sự ra đời của cái mới, tiến bộ hơn so với cái cũ bị phủ định”

[21, tr 333] Phủ định biện chứng mang hai đặc trung cơ bản, đó là: tính khách

quan và tính kế thừa

Tính khách quan của phủ định biện chứng thể hiện ở chỗ: phủ định là kếtquả của quá trình giải quyết mâu thuẫn nội tại bên trong sự vật, chứ khôngphải do sự áp đặt từ bên ngoài Phủ định biện chứng là sự phủ định mang tính

kế thừa Với nghĩa đó, phủ định đồng thời cũng là khẳng định Giá trị của kếthừa biện chứng đợc quy định bởi vai trò của nó trong sự ra đời của cái mới

Trang 39

Không có cái mới nào lại ra đời từ h vô Nhờ việc giữ lại những nhân tố tíchcực của cái bị phủ định - tức là nhờ có kế thừa - mà cái mới có tiền đề cho sựxuất hiện của mình.

Phát triển chính là sự vận động theo khuynh hớng đi lên từ thấp đến cao,

từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn, từ lạc hậu đến tiến bộ Kết quả của quátrình vận động đó là sự ra đời của sự vật mới hoàn thiện hơn sự vật cũ Trongquá trình này, những yếu tố tích cực của cái cũ đợc giữ lại, cải biến để thamgia vào sự vật Phát triển không phải là bớc đi thuần túy mà là một khuynh h-ớng trải qua nhiều giai đoạn bao hàm trong nó những bớc đi quanh co, phứctạp Tuy nhiên, sự phát triển đó không phải diễn ra theo đờng thẳng mà theo đ-ờng xoáy ốc Đề cập đến vấn đề này, V.I Lênin viết: “Sự phát triển hình nhdiễn lại những giai đoạn đã qua nhng dới một hình thức khác, ở một trình độcao hơn (“phủ định của phủ định”); sự phát triển có thể nói là theo đờng trôn

ốc chứ không phải theo đờng thẳng” [27, tr 65]

Nh vậy, kế thừa là một trong những đặc trng quan trọng, phổ biến củaquy luật phủ định của phủ định Nó là sự biểu hiện mối quan hệ giữa cái cũ vàcái mới trong quá trình phát triển của sự vật: cái mới tuy phủ định cái cũ nhng

là một sự phủ định có kế thừa Cụ thể hơn, kế thừa chính là mối liên hệ giữacác giai đoạn hay giữa các cấp độ khác nhau trong sự phát triển của sự vật Sự

kế thừa biểu hiện ở chỗ, một hay nhiều yếu tố của sự vật đợc bảo tồn khi sựvật chuyển từ trạng thái này sang trạng thái khác Kế thừa là nhân tố bên trongcủa sự phát triển Không thể nói đến sự phát triển mà tớc bỏ đi tính kế thừa,cũng không thể nói đến kế thừa mà tách rời khỏi sự phát triển Kế thừa là sựbảo tồn những đặc điểm, đặc tính của một sự vật và hiện tợng cũ trong quátrình phát triển Còn phát triển không chỉ là sự bảo tồn mà còn là sự mở rộng,

bổ sung, hoàn thiện và nâng cao về chất những đặc điểm, đặc tính vốn cótrong sự vật và hiện tợng Nh vậy, “để phát triển đợc bao giờ cũng cần có sự

kế thừa, tức là bảo tồn, giữ lại những đặc điểm, đặc tính của đối tợng để trêncơ sở đó mở rộng, nâng cao trình độ, còn phát triển chính là sự kế thừa tốtnhất, tích cực nhất” [20, tr.35] Mặt khác, kế thừa phải luôn gắn liền với lọc bỏ

và đổi mới Ngay cả đối với nhân tố tích cực của cái bị phủ định đợc giữ lại,

nó vẫn đợc duy trì dới dạng lọc bỏ, chứ không phải bê nguyên xi, không phêphán, không cải tạo và không phải lắp ghép một cách máy móc cái cũ vào cáimới Nếu kế thừa mà không gắn với đổi mới và lọc bỏ thì sự kế thừa đó không

Trang 40

thể làm xuất hiện cái mới tiến bộ hơn, hoàn thiện hơn cái cũ mà cùng lắm chỉlặp lại cái cũ một cách phiến diện hơn

Trong tự nhiên, tính kế thừa đợc biểu hiện, chẳng hạn nh những nhân tốvô cơ đợc giữ lại khi chuyển sang giới tự nhiên hữu cơ Trong sự phát triển củaxã hội, tính kế thừa cũng đợc biểu hiện rõ nét, mà lịch sử phát triển của lực l-ợng sản xuất và quan hệ sản xuất là một minh chứng Trong t duy, sự pháttriển của các hình thái ý thức xã hội nh khoa học, triết học, nghệ thuật, đạo

đức, pháp quyền cũng thể hiện rõ tính kế thừa trong nhận thức của con ngờiqua các thời đại lịch sử khác nhau

Chủ nghĩa Mác đã kế thừa và cải tạo cả chủ nghĩa duy vật siêu hình lẫnphép biện chứng duy tâm để xây dựng nên chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủnghĩa duy vật lịch sử Tất nhiên, học thuyết của Mác cũng không phải là tuyệt

đối, bất di bất dịch, không phải là một cái gì đã xong xuôi mà nó cần khôngngừng đợc bổ sung và phát triển trong điều kiện mới theo quan điểm kế thừa

Nh vậy, qua sự phân tích ở trên, chúng ta thấy rõ rằng: kế thừa, đổi mới

là một quá trình mang tính quy luật, biểu hiện đặc trng của sự phát triển bất kể

đó là sự phát triển trong tự nhiên, xã hội hay t duy Tuy nhiên, trong mỗi lĩnhvực cụ thể, tính kế thừa có những đặc thù riêng Quy luật kế thừa không phảichỉ biểu hiện về mặt thời gian, không gian, mối liên hệ giữa truyền thống vàhiện đại, quá khứ và tơng lai mà cả trong không gian Việc kế thừa không chỉ

bó hẹp trong phạm vi một quốc gia, một dân tộc Trong điều kiện toàn cầu hóahiện nay thì kế thừa còn bao hàm cả sự tiếp thu có chọn lọc, có phê phánnhững tinh hoa trong nền văn hóa nhân loại nhng đồng thời phải cải biến chophù hợp với truyền thống văn hóa của dân tộc mình nh Đảng ta khẳng định:

“Tiếp thu những tinh hoa của nhân loại, song phải luôn coi trọng những giá trịtruyền thống và bản sắc dân tộc, quyết không đợc tự đánh mất mình trở thànhbóng mờ hoặc bản sao chép của ngời khác” [13, tr.30] Quá trình kế thừanhững giá trị tạo nên bản sắc văn hóa của một dân tộc cũng có những đặc thùriêng của nó

1.2.2 Sự cần thiết phải kế thừa và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Thái trong giai đoạn hiện nay

Kế thừa là một hiện tợng mang tính quy luật đối với sự phát triển nóichung Không có một sự phát triển nào lại đợc bắt đầu từ con số “0” Mọi sựphát triển luôn luôn là quá trình phủ định có kế thừa Những yếu tố tích cựccủa cái cũ bao giờ cũng đợc giữ lại, kế thừa và phát triển trong sự ra đời của

Ngày đăng: 14/11/2019, 14:35

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Ban T tởng Văn hóa Trung ơng (2001), Tài liệu nghiên cứ các văn kiện đại hội VIII của Đảng, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ban T tởng Văn hóa Trung ơng (2001)", Tài liệu nghiên cứcác văn kiện đại hội VIII của Đảng
Tác giả: Ban T tởng Văn hóa Trung ơng
Nhà XB: Nxb Chính trịquốc gia
Năm: 2001
3. Nguyễn Trần Bạt (2005), Văn hóa và con ngời, Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Trần Bạt (2005), "Văn hóa và con ngời
Tác giả: Nguyễn Trần Bạt
Nhà XB: Nxb Hội Nhàvăn
Năm: 2005
4. Trần Văn Bính (chủ biên) (2004), Văn hóa các dân tộc Tây Bắc, thực trạng và những vấn đề đặt ra, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trần Văn Bính (chủ biên) (2004), "Văn hóa các dân tộc TâyBắc, thực trạng và những vấn đề đặt ra
Tác giả: Trần Văn Bính (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Chínhtrị quốc gia
Năm: 2004
6. Huy Cận (1994), Suy nghĩ về bản sắc dân tộc, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Huy Cận (1994), "Suy nghĩ về bản sắc dân tộc
Tác giả: Huy Cận
Nhà XB: NxbChính trị quốc gia
Năm: 1994
7. Quàng Thị Chính (2005), Lễ cới dòng họ Mè (huyện Yên Châu - tỉnh Sơn La), Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quàng Thị Chính (2005), "Lễ cới dòng họ Mè (huyện YênChâu - tỉnh Sơn La)
Tác giả: Quàng Thị Chính
Nhà XB: Nxb Văn hóa Thông tin
Năm: 2005
8. Cục thống kê tỉnh Sơn La (2006), Niên giám thống kê n¨m 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cục thống kê tỉnh Sơn La (2006)
Tác giả: Cục thống kê tỉnh Sơn La
Năm: 2006
9. Thành Duy (2006), Bản sắc dân tộc và hiện đại hóa văn hóa Việt Nam mấy vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thành Duy (2006), "Bản sắc dân tộc và hiện đại hóa vănhóa Việt Nam mấy vấn đề lý luận và thực tiễn
Tác giả: Thành Duy
Nhà XB: NxbChính trị quốc gia
Năm: 2006
11. Đại học Quốc gia Hà Nội - Chơng trình Thái học Việt Nam (1998), Văn hóa và lịch sử ngời Thái ở Việt Nam, Nxb Văn hóa Dân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại học Quốc gia Hà Nội - Chơng trình Thái học Việt Nam(1998), "Văn hóa và lịch sử ngời Thái ở Việt Nam
Tác giả: Đại học Quốc gia Hà Nội - Chơng trình Thái học Việt Nam
Nhà XB: NxbVăn hóa Dân tộc
Năm: 1998
13. Đảng Cộng Sản Việt Nam (1996), Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đảng Cộng Sản Việt Nam (1996), "Văn kiện đại hội đại biểutoàn quốc lần thứ VIII
Tác giả: Đảng Cộng Sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1996
14. Đảng Cộng Sản Việt Nam (2001), Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đảng Cộng Sản Việt Nam (2001), "Văn kiện đại hội đại biểutoàn quốc lần thứ IX
Tác giả: Đảng Cộng Sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2001
15. Đảng Cộng Sản Việt Nam (2006), Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đảng Cộng Sản Việt Nam (2006), "Văn kiện đại hội đại biểutoàn quốc lần thứ X
Tác giả: Đảng Cộng Sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2006
16. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện hội nghị BCH Trung ơng lần thứ 5, khóa VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), "Văn kiện hội nghị BCHTrung ơng lần thứ 5, khóa VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2001
17. Đảng Cộng sản Việt Nam (2004), Tài liệu học tập kết luận Hội nghị Trung ơng 10 khóa IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đảng Cộng sản Việt Nam (2004), "Tài liệu học tập kết luậnHội nghị Trung ơng 10 khóa IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốcgia
Năm: 2004
18. Nguyễn Khoa Điềm (2002), Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Khoa Điềm (2002), "Xây dựng và phát triển nền vănhóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc
Tác giả: Nguyễn Khoa Điềm
Nhà XB: NxbChính trị quốc gia
Năm: 2002
19. Phạm Văn Đồng (1995), Văn hóa và đổi mới, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phạm Văn Đồng (1995), "Văn hóa và đổi mới
Tác giả: Phạm Văn Đồng
Nhà XB: Nxb Chính trịquốc gia
Năm: 1995
20. Phạm Văn Đức (1991), Vấn đề kế thừa và phát triển trong lịch sử triết học, Tạp chí Triết học, (3) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phạm Văn Đức (1991), "Vấn đề kế thừa và phát triển tronglịch sử triết học
Tác giả: Phạm Văn Đức
Năm: 1991
22. Phạm Minh Hạc (1996), Phát triển văn hóa - giữ gìn và phát huy bản sắc dân tộc kết hợp với tinh hoa nhân loại, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phạm Minh Hạc (1996), "Phát triển văn hóa - giữ gìn vàphát huy bản sắc dân tộc kết hợp với tinh hoa nhânloại
Tác giả: Phạm Minh Hạc
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1996
23. Đỗ thị Hòa (2003), Trang phục các dân tộc thiểu số nhóm ngôn ngữ Việt- Mờng và Tày - Thái, Nxb văn hóa dân tộc, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đỗ thị Hòa (2003), "Trang phục các dân tộc thiểu số nhómngôn ngữ Việt- Mờng và Tày - Thái
Tác giả: Đỗ thị Hòa
Nhà XB: Nxb văn hóa dântộc
Năm: 2003
24. Lê Văn Hòa (2003), Vấn đề giữ gìn và phát huy giá trị văn hóa các dân tộc thiểu số ở Gia Lai trong điều Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lê Văn Hòa (2003)
Tác giả: Lê Văn Hòa
Năm: 2003
26. Đỗ Huy (2005), Văn hóa và phát triển, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đỗ Huy (2005), "Văn hóa và phát triển
Tác giả: Đỗ Huy
Nhà XB: Nxb Chính trị quốcgia
Năm: 2005

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w