1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

SKKN một số biện pháp nâng cao chất lượng hoạt động khám phá khoa học qua các thí nghiệm

25 471 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 25
Dung lượng 224,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đề tài sáng kiến kinh nghiệmVvvveed vwqqdvfee2q1 vbczzdgdwsggss PHềNG GD&ĐT THANH OAI TRƯỜNG MẦM NON THANH CAO CỘNG HềA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM - Chức vụ và đơn vị cụng tỏc : Giỏo viờn

Trang 1

Đề tài sáng kiến kinh nghiệm

Vvvveed vwqqdvfee2q1 vbczzdgdwsggss

PHềNG GD&ĐT THANH OAI

TRƯỜNG MẦM NON THANH CAO

CỘNG HềA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

- Chức vụ và đơn vị cụng tỏc : Giỏo viờn trường mầm non Thanh Cao

- Trỡnh độ chuyờn mụn : Đại học sư phạm mầm non

"Một số biện pháp nâng cao chất lợng hoạt động

khám phá khoa học qua các thí nghiệm

cho trẻ 5 - 6 tuổi"

Giáo viên: Trờng Mầm non Thanh Cao

tài liệu kèm theo: 01 đĩa CD

Trang 2

III Các biện pháp thực hiện 8

1 Biện pháp 1 Trải nghiệm để gây hứng thú 8

2 Biện pháp 2 Nâng cao năng lực tổ chức hoạt động thực

hành thí nghiệm

9

3 Biện pháp 3 Đưa các thí nghiệm khoa học vào tiết dạy 12

4 Biện pháp 4 Cho trẻ làm thực nghiệm ở mọi lúc mọi nơi 18

5 Biện pháp 5 Biện pháp tuyên truyền phổ biến kiến thức

4 Những kiến nghị và đề nghị sau khi thực hiện đề tài 24

D TÀI LIỆU THAM KHẢO

Lêi c¶m ¬n

Đầu tiên tôi xin gửi lời cảm ơn tới bạn bè đồng nghiệp trong trường đã ủng

hộ và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài “Một số biện pháp nâng

cao chất lượng hoạt động khám phá khoa học qua các thí nghiệm cho trẻ 5 - 6 tuổi” Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu đã tạo điều kiện về cơ sở vật chất

để tôi hoàn thành chuyên đề trên Tôi xin cảm ơn Hội đồng khoa học trường mầmnon Thanh Cao, Hội đồng khoa học cấp cơ sở huyện Thanh Oai đã đóng góp ýkiến để bản sáng kiến kinh nghiệm của tôi đầy đủ và khoa học hơn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Trang 3

vì thế bản thân trẻ quyết định sự phát triển của chính mình Môi trường cùng vớinhững dụng cụ trực quan chi phối rất nhiều đến hoạt động nhận thức của trẻ, địnhhướng hành vi cá nhân Để giúp trẻ hoạt động tích cực, chủ động, giáo viên nên sửdụng môi trường, đồ dùng là vật thật, mô hình với tư cách là yếu tố để điều chỉnhhành vi cá nhân bằng cách quan tâm đến việc tổ chức môi trường hoạt động chotrẻ, điều khiển hành vi, hoạt động của trẻ thông qua môi trường Bên cạnh đóngười lớn và bạn cùng chơi cũng có ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển nhận

Trang 4

giáo viên tốt phải đưa ra những kiến thức phù hợp với mức độ phát triển của trẻ vàkhông áp đặt áp lực lên quá trình phát triển mà phải trợ giúp cho quá trình này tiến

về phía trước Để tạo điều kiện cho sự phát triển trí tuệ của trẻ em trong quá trìnhhướng dẫn trẻ khám phá khoa học, giáo viên cần:

- Coi tính tích cực của cá nhân trẻ là động lực chính của sự phát triển trẻ em:tôn trọng trẻ, coi mỗi trẻ là một chủ thể nhận thức độc lập; quan sát, đánh giá đúng sựphát triển của trẻ để giúp đỡ, hỗ trợ phát triển kịp thời các ý tưởng ở chúng

- Cần tạo môi trường, đồ dùng dụng cụ là mô hình, vật thật cho trẻ hoạtđộng tích cực: coi môi trường, đồ dùng, mô hình, vật thật vừa là điều kiện và đồngthời là yếu tố trung gian để giáo viên chỉ đạo hành vi của trẻ thông qua việc lựachọn, bổ sung, sắp xếp đồ dùng, đồ chơi và tạo không gian cho trẻ hoạt động

- Người lớn giữ vai trò quan trọng trong quá trình phát triển của trẻ Vaitrò của người lớn không chỉ tạo điều kiện cho trẻ hoạt động, điều khiển hành vigián tiếp thông qua môi trường, mà còn trực tiếp điều khiển trẻ trong quá trìnhhoạt động với tư cách là người khuyến khích, động viên, giúp đỡ, hỗ trợ thực thicác ý tưởng của trẻ

Chính vì vậy phát triển nhận thức, đặc biệt là hình thành thái độ nhận thức

và kỹ năng nhận thức của trẻ là một nhiệm vụ trọng tâm của giáo dục mầm nonnhằm hình thành nền tảng cho việc học tập của trẻ trong tương lai

Những năm gần đây, giáo dục khoa học (tổ chức hoạt động khám phá

khoa học) cho trẻ trong trường mầm non nhằm phát triển nhận thức của trẻ đã trở

thành một bộ phận quan trọng trong chương trình giáo dục mầm non của nhiềunước tiên tiến trên thế giới như: Mĩ, Trung Quốc, Hàn Quốc… nhằm chuẩn bị chothế hệ trẻ sống trong một thế giới có những thay đổi khoa học, công nghệ nhanhchóng, luôn đòi hỏi con người phát triển tư duy sáng tạo, linh hoạt để thích ứngvới cuộc sống thực tại Theo xu thế đó, hoạt động khám phá khoa học cũng đã trởthành bộ phận quan trọng của chương trình giáo dục mầm non mới đã được Bộtrưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ký ban hành theo Quyết định số 17/2009/TT–BGDĐT ngày 25/7/2009

Trang 5

Trong thực tế, tôi mới trải qua một năm thực hiện chương trình mầm nonmới, tôi cũng đã cố gắng đổi mới hình thức các tiết khám phá khoa học nhưng kếtquả vẫn còn hạn chế.

- Bản thân giáo viên còn lúng túng, bỡ ngỡ trong việc vận dụng cách hìnhthức đổi mới vào hoạt động khám phá khoa học

- Những hiểu biết của trẻ sau khi tham gia vào tiết khám phá khoa học cònchưa bộc lộ rõ ràng, kiến thức của trẻ chưa vững chắc, khả năng tư duy phát hiệnvấn đề vẫn chưa đi theo chiều hướng tích cực như mong muốn Trẻ trong lớp cònnhút nhát, lúng túng, thiếu tự tin khi thực hiện nhiệm vụ được cô giao

Năm học 2011- 2012 tôi được nhà trường tiếp tục giao cho phụ trách lớp 5tuổi Là một giáo viên chủ nhiệm tôi rất băn khoăn lo lắng trong việc làm thế nào

để trẻ có những kiến vững vàng, mạnh dạn tự tin cùng với những tư duy khoa họclàm hành trang để bước vào lớp 1, một bước ngoặt đáng kể trong cuộc đời của trẻ

Và cũng đồng nghĩa với việc làm thế nào để hoàn thành nhiệm vụ năm học mà nhàtrường giao phó

Những suy nghĩ, những câu hỏi đó đã làm tôi băn khoăn trăn trở rất nhiều.Cuối cùng tôi cũng tìm ra một số hoạt động để cô và trẻ cùng tham gia: các thínghiệm khoa học, các hoạt động trải nghiệm Cô và trẻ cùng tham gia thí nghiệm,cùng chơi, cùng trải nghiệm

II Đối tượng, phạm vi nghiên cứu:

Đối tượng : Khám phá khoa học qua một số thí nghiệm và hoạtđộng trải nghiệm

Phạm vi : Lớp A2 (5 - 6 tuổi) Trường mầm non Thanh Cao

Thời gian thực hiện: Từ 9/2011- 4/2012

B GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

I Cơ sở lý luận

Bản thân là một giáo viên thuộc tổ 5 tuổi của nhà trường, tôi thường xuyêntìm hiểu về tình hình sử dụng các thí nghiệm khoa học vào các hoạt động khám

Trang 6

thật… trong một khoảng thời gian rất ngắn, khoảng 5 - 7 phút, thời gian còn lạichủ yếu trẻ được hoạt động với đồ dùng, đồ chơi… vì vậy việc tổ chức cho trẻlàm các thí nghiệm khoa học, để trẻ được trải nghiệm nhiều hơn với vật thật, đượcnhìn thấy những điều kỳ diệu, tạo ra những sản phẩm mang tính chất khoa học làrất cân thiết.

II Cơ sở thực tiễn

- Một số cháu trai trong lớp còn quá hiếu động

- Diện tích sân trường còn quá trật hẹp không thuận lợi cho các thí nghiệmthực hiện ở ngoài trời

- Các loại đồ dùng, phương tiện, phục vụ các thí nghiệm còn hạn chế.Những mô hình, những vật mẫu, những vật thật, đồ thật rất ít ỏi

- Các bậc phụ huynh chưa thật sự quan tâm đến hoạt động khám phá khoacủa trẻ mầm non

- Bản thân giáo viên còn lúng túng trong việc đưa hình thức đổi mới giáodục vào hoạt động khám phá khoa học

3 Số liệu điều tra trước khi thực hiện:

Tổng số trẻ là 39 cháu

Ngay từ đầu năm học tôi đã tiến hành khảo sát các cháu với những tiêu chí

cụ thể như sau:

Trang 7

STT Nội dung Số lượng Mức độ đạt được Tỉ lệ

III Các biện pháp thực hiện

1 Biện pháp 1: Trải nghiệm để gây hứng thú

Trải nghiệm là giai đoạn đầu tiên của quá trình nhận thức Việc trảinghiệm với đối tượng diễn ra nhờ sử dụng các giác quan, các bộ phận trên cơ thể

Do vậy tính tích cực nhận thức của trẻ chỉ được thể hiện trong điều kiện nếu chúngđược tiếp xúc trực tiếp với các đối tượng và biết cách khảo sát đối tượng

Để giúp trẻ tích cực trải nghiệm với đối tượng, giáo viên cần tạo ra môitrường cho trẻ hoạt động với các đối tượng phong phú, đa dạng, được bố trí ở nơithuận tiện để trẻ tích cực thao tác với các đối tượng và giao tiếp với bạn trong môitrường hoạt động đó Ngoài ra, giáo viên cần gợi mở giúp trẻ biết cách sử dụng cácgiác quan và mọi khả năng của cơ thể để khám phá đối tượng Nhờ tích cực khảosát đối tượng mà trẻ có những tri thức đầu tiên về đặc điểm đối tượng Đây là cơ

sở để gây hứng thú vào giờ học cho trẻ đồng thời cũng là cơ sở để tích cực hoá cáchoạt động tư duy

Ví dụ: Tiết dạy phân nhóm đồ dùng gia đình theo chất liệu

1 Mục đích:

- Biết phân nhóm đồ dùng theo chất liệu

- Biết những đồ dùng có chất liệu nhựa thì nổi, kim loại thì chìm

- Biết đồ dùng bằng sành, sứ, thuỷ tinh thì cũng chìm

2 Chuẩn bị:

- Các đồ dùng cần thiết cho 1 bữa cơm thông thường trong gia đình: bátcon , bát to, đĩa, thìa, đũa, muôi…(không sử dụng đò dùng có chất liệu dễ vỡ)

Trang 8

- Các đồ dùng trong gia đình: thìa nhựa, thìa inox, cốc nhựa, cốc nhựa, cốcinox, đĩa nhựa, đĩa inox

- Các chậu chứa nước

3 TiÕn hµnh:

Bước 1: Ổn định tổ chức, trải nghiệm đối tượng

- Hát bài: “Đồ dùng bé yêu” sáng tác Minh Châu

- Cho trẻ chơi trò chơi: “Thử tài của bé”

Cách chơi: Cô chia lớp làm hai nhóm, nhiệm vụ của mỗi nhóm sẽ phảichuẩn bị và sắp xếp những đồ dùng cần thiết cho bữa cơm gia đình

Luật chơi: thời gian cho các con là một bản nhạc, kết thúc bản nhạc độinào sắp xếp được đầy đủ, nhanh, đẹp sẽ dành phần thắng

B ướ c 2:

- Cho trẻ gọi tên các đồ dùng cô đã chuẩn bị

- Cho trẻ dự đoán điều gì sẽ xảy ra khi cô thả một đồ dùng bằng nhựa vàochậu nước

- Vì sao đồ dùng bằng nhựa thì nổi, đồ đựng bằng kim loại lại chìm

Bước 3:

- Cô làm thí nghiệm các vật chìm nổi cho trẻ quan sát.

- Cho trẻ suy nghĩ, nhận xét về những vật làm từ cùng 1 chất liệu khi thảvào nước

- Mời trẻ lên chia đồ vật làm 2 nhóm, nhóm những vật nổi và nhóm nhữngvật chìm, sau đó xác định chất liệu của từng nhóm

- Cô chia lớp làm 3 nhóm cho trẻ thực hành thí nghiệm

- Cho trẻ chia nhóm đồ vật theo chất liệu

- Trẻ xác định chất liệu của từng nhóm

- Nhóm trưởng đua ra kết luận: đồ dùng có chất liệu bằng nhựa thì nổi,còn đồ dùng có chất liệu là kim loại thì chìm

Trang 9

Mở rộng: ngoài những đồ dùng có chất liệu là kim loại thì một số đồ dùng

có chất liệu bằng sành, sứ, thuỷ tinh… cũng là những vật chìm trong nước

Biện pháp 2 Nâng cao năng lực tổ chức hoạt động thực hành thí nghiệm

Tổ chức cho trẻ khám phá khoa học qua các thí nghiệm là một điều mới

mẻ đối với cả cô và trẻ Trong quá trình này cô giáo đóng một vai trò rất quantrọng đối với việc lĩnh hội tri thức của trẻ vậy nên đòi hỏi người giáo viên cần cókiến thức phong phú về mọi lĩnh vực về khoa học tự nhiên, hiểu được quy luậtphát triển của sự vật hiện tượng, biết giải thích sự vật, hiện tượng theo đúng quanđiểm duy vật về mối quan hệ giữa sự vật hiện tượng diễn ra trong tự nhiên

Chính vì vậy tôi bắt tay vào việc trang bị kiến thức về các thí nghiệm khoahọc cho bản thân bằng cách: Thu thập và nghiên cứu tài liệu về khám phá khoahọc qua các thí nghiệm cho trẻ mầm non bằng sách vở tài liệu, mạng internet

Nghiên cứu các tài liệu về thí nghiệm khoa học là nhiệm vụ quan trọngcần thiết cho các tiết dạy khám phá khoa học của trẻ Nhờ có sự tập dượt nàyngười giáo viên mới có thể thành công và thu được kết quả cao trong các tiết dạy

Tuy nhiên việc nghiên cứu các tài liệu về các thí nghiệm khoa học vẫn chỉdừng lại ở mặt lý thuyết mà khám phá khoa học lại là hoạt động ứng dụng thựctiễn vì vậy việc ứng dụng các thí nghiệm khoa học là rất cần thiết bởi:

+ Khi giáo viên tự thực hiện thí nghiệm sẽ giúp giáo viên có các kỹ nănglàm các thí nghiệm tránh tình trạng giáo viên bị lúng túng và xử lý không tốt cáctình huống xảy ra

+ Khi tự thực hiện các thí nghiệm giáo viên có thể điều chỉnh những bấtcập, những điều không mong muốn có thể xảy ra

Sau quá trình tự mình nghiên cứu lý thuyết và thực hành các thí nghiệm tôithấy tự tin hơn rất nhiều để tổ chức cho trẻ thực hiện các thí nghiệm khoa học

Ví dụ: Ở bài dạy “Sự kỳ diệu của nước” tôi tiến hành như sau:

I Yêu cầu:

Trang 10

- Trẻ biết được một số tính chất của nước ( không màu, không mùi, không vị,

có thể hòa tan, không hòa tan được một số chất) và có thể phân biệt được 1 số lớpchất lỏng khi cho vào trong nước

- Trẻ có kĩ năng làm một số thí nghiệm đơn giản về nước

- Giáo dục trẻ học tập theo tấm gương đạo đức Bác Hồ: cần tiết kiệm nướctrong sinh hoạt vì nước rất cần thiết cho cuộc sống

II Chuẩn bị:

 Dụng cụ thí nghiệm cho trẻ: ly nhựa, muỗng, muối, sỏi, si rô, dầu ăn

 Đồ dùng thí nghiệm của cô: 2 chai nhỏ trong, 2 lọ trong lớn chứa đầy nước,

1 lọ màu thực phẩm, nước nóng

 Đoạn phim biểu diễn Nhạc nước và trò chơi trên máy tính

III Mở rộng kiến thức: cho trẻ xem thí nghiệm khoa học phân biệt nước nóng –

nước lạnh

IV Tiến hành:

1 Hoạt động 1: Nước – điều kì diệu của cuộc sống.

- Cô mời cả lớp tham gia chương trình “ Em yêu khoa học”

- Trò chuyện với lớp về nước:

+ Hôm nay các bạn mặc những bộ trang phục rất đẹp, các bạn có bí quyết gì

để có trang phục sạch đẹp này ? ( do mẹ giặt hằng ngày)

+ Vậy khi giặt quần áo thì cần có gì ? ( xà bông và nước)

+ Cần có nước để giặt, rồi cần có nắng và gió để làm khô áo quần!

* Cô giới thiệu: Nước, nắng, gió là những điều kì diệu trong cuộc sống Hômnay chúng ta cùng khám phá những điều kì diệu của nước nhé!

2 Hoạt động 2: Bé khám phá và trải nghiệm

- Chia lớp thành 2 nhóm làm thí nghiệm:

+ Nhóm 1: thí nghiệm về tính chất của nước: không mùi, không vị, khôngmàu, có thể hòa tan và không hòa tan một số chất

+ Nhóm 2: thí nghiệm tách lớp chất lỏng trong nước

- Nhóm trưởng mỗi nhóm lên báo cáo kết quả thí nghiệm:

+ Nhóm 1: khi rót nước vào ly, nhận thấy nước không có màu ( vì khi cầm

ly lên có thể nhìn thấy các ngón tay qua nước), ngửi ly nước thấy nước không cómùi, nếm thử nước thấy nước không có vị Khi cho muối vào, nước hòa tan lên,nhận thấy nước không màu, không mùi nhưng có vị.Khi cho sỏi vào, nước khônghòa tan được sỏi

Kết luận: Nước có tính chất không màu, không mùi, không vị, có thể hòatan một số chất và không hòa tan một số chất

+ Nhóm 2: Đổ lần lượt các lớp chất lỏng : si rô, dầu ăn, nước vào trong ly,quan sát ly chất lỏng vừa đổ, thấy các chất lỏng sắp xếp theo thứ tự trong ly nhưsau: si rô dưới đáy ly, nước ở giữa và dầu ăn phía trên

Kết luận: Do lớp si rô nặng hơn nước nên chìm xuống dưới cùng, lớp nướcnhẹ hơn si rô nhưng nặng hơn dầu ăn do đó nằm ở giữa, lớp trên cùng là dầu ăn vìdầu ăn nhẹ hơn nước và si rô

- Cho trẻ xem cô làm thí nghiệm : Ảo thuật với nước nóng, nước lạnh

Trang 11

+ Cho trẻ quan sát và gọi tên các dụng cụ thí nghiệm Đầu tiên, cô đổ nướclạnh và nước nóng vào đầy 2 lọ nhỏ, sau đó nhỏ vài giọt màu thực phẩm vào 2chai, cẩn thận thả chai nước vào trong 2 lọ lớn, mời trẻ sẽ theo dõi thí nghiệm lạisau vài phút

3 Hoạt động 3: Thử tài bé yêu

- Cho trẻ chơi trò chơi tìm những chất tan, không tan trong nước, và xếp thứ

tự vị trí các lớp chất lỏng : si rô, nước, dầu ăn trong ly

- Cho trẻ xem đoạn phim các bé vui chơi ở khu chơi nước

- Cho trẻ xem đoạn phim biểu diễn Nhạc nước

- Xem một số hình ảnh nước còn có thể cứu hỏa

- Xem kết quả thí nghiệm “ Ảo thuật với nước nóng – nước lạnh ”

Cho trẻ quan sát thấy: nước màu trong chai chứa nước lạnh không dâng lên vàkhông tràn màu sang lọ lớn, còn nước màu trong chai chứa nước nóng dâng lên vàtràn màu sang lọ lớn

* Giải thích: nước nóng nhẹ hơn nước lạnh, vì vậy khi thả vào nước lạnh,

nó dâng lên và tràn màu sang lọ lớn

- Giáo dục trẻ: Nước có rất nhiều điều kì diệu xung quanh chúng ta, vì vậykhi dùng nước chúng ta luôn nhớ học tập theo tấm gương của Bác Hồ, cần sử dụngnước tiết kiệm, vừa đủ: khi rửa tay mở vòi nước vừa đủ, rửa xong tắt ngay, uốnghết nước trong cốc

3 Biện ph¸p 3: ®a c¸c thÝ nghiÖm khoa häc vµo tiÕt d¹y :

Được trực tiếp làm thí nghiệm với các vật mà mình đang học quả là mộtđiều thú vị đối với trẻ Thật vậy, cứ để cho các cháu được hoạt động, được trảinghiệm, được thử - sai Cuối cùng qua quá trình đó trẻ có một kết quả (một sảnphẩm của lao động) khiến trẻ vô cùng vui sướng Mặt khác những kiến thức màgiáo viên muốn truyền thụ cho trẻ, được trẻ ghi nhớ một cách tự nhiên, sâu sắc màkhông hề áp đặt, gò bó

H×NH ¶NH TRÎ LµM THÝ NGHIÖM TRONG h® kpkh

Thí nghiệm 1: CÁC LỚP CHẤT LỎNG

1 Mục đích:

- Giúp trẻ nhận biết, phân biệt các chất lỏng khác nhau

- Nhận biết lớp siro nặng nhất nên chìm xuống dưới, lớp dầu ăn nhẹ nhấtnên nổi lên trên cùng Còn lớp nước ở giữa

Trang 12

- 1 chai dầu ăn, 1 chai nước, 1 chai siro dâu

- 3 cốc thuỷ tinh, khay

- Các miếng xốp màu: đỏ, trắng, vàng

3 Tiến hành:

Bước 1:

- Cho trẻ quan sát và gọi tên 3 chai chất lỏng: dầu ăn, nước trắng, siro dâu

- Mỗi chất lỏng cô dùng 1 miếng xốp mầu tương ứng với màu chất lỏngvàng, trắng, đỏ

- Tiếp tục cho trẻ làm tương tự với chất lỏng thứ 3

- Cho trẻ quan sát vị trí các lớp chất lỏng ở trong ly để rút ra kết luận: lớpsiro nặng hơn nước nên chìm xuống dưới cùng Lớp nước nhẹ hơn siro nhưngnặng hơn dầu ăn nên đứng ở giữa Lớp trên cùng là lớp dầu ăn vì dầu ăn nhẹ hơnlớp nước và lớp siro

Bước 3:

- Chia trẻ làm 3 nhóm, mời đại diện của mỗi nhóm lên bắt thăm lựa chọnthứ tự các chất lỏng để đổ vào: (đỏ - trắng - vàng; trắng - đỏ - vàng; vàng - đỏ -trắng) Sau đó mỗi nhóm sẽ đổ thứ tự các lớp chất lỏng theo như đã lựa chọn vàmang ly chất lỏng vừa thực hiện cùng quan sát xem các lớp chất lỏng có đứngđúng vị trí như đã lựa chọn ban đầu không?

- Cho trẻ tự rút ra kết luận: dù đổ chất lỏng nào trước thì nó vẫn đứng theođúng thứ tự: siro, nước trắng, dầu ăn vì siro nặng nhất, nước nhẹ hơn và dầu ănnhẹ nhất

- Trẻ lên gắn lại những miếng xốp màu theo đúng vị trí các chất lỏng trong ly

Ngày đăng: 14/11/2019, 00:18

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w