Luận văn được chia thành ba chương, với 72 trang đánh máy khổ A4 bao gồm danh mục tài liệu tham khảo. Chương 1 của luận văn đề cập đến một số vấn đề lý thuyết chung về nguyên tắc bảo đảm quyền khiếu nại và tố cáo trong tố tụng hình sự. Chương 2 của luận văn trình bày và phân tích các quy định về nguyên tắc bảo đảm quyền khiếu nại, tố cáo trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và đồng thời cho so sánh với các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003. Chương 3 của luận văn nêu rõ thực trạng thực thi nguyên tắc bảo đảm quyền khiếu nại, tố cáo sau đó trình bày những hạn chế, vướng mắc và một số kiến nghị để hoàn thiện. Luận văn là một nghiên cứu hệ thống toàn diện về cơ sở lý luận về các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung trong năm 2017. Thông qua ba chương trên, luận văn phân tích, đánh giá và chỉ ra những khó khăn và bất cập trong việc áp dụng nguyên tắc đảm bảo quyền khiếu nại, tố cáo tại Việt Nam. Qua đó, luận văn đưa ra phương hướng và một số kiến nghị để hoàn thiện các quy định pháp luật từ những vướng mắc, bất cập đã phân tích. Luận văn được chia thành ba chương, với 72 trang đánh máy khổ A4 bao gồm danh mục tài liệu tham khảo. Chương 1 của luận văn đề cập đến một số vấn đề lý thuyết chung về nguyên tắc bảo đảm quyền khiếu nại và tố cáo trong tố tụng hình sự. Chương 2 của luận văn trình bày và phân tích các quy định về nguyên tắc bảo đảm quyền khiếu nại, tố cáo trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và đồng thời cho so sánh với các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003. Chương 3 của luận văn nêu rõ thực trạng thực thi nguyên tắc bảo đảm quyền khiếu nại, tố cáo sau đó trình bày những hạn chế, vướng mắc và một số kiến nghị để hoàn thiện. Luận văn là một nghiên cứu hệ thống toàn diện về cơ sở lý luận về các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung trong năm 2017. Thông qua ba chương trên, luận văn phân tích, đánh giá và chỉ ra những khó khăn và bất cập trong việc áp dụng nguyên tắc đảm bảo quyền khiếu nại, tố cáo tại Việt Nam. Qua đó, luận văn đưa ra phương hướng và một số kiến nghị để hoàn thiện các quy định pháp luật từ những vướng mắc, bất cập đã phân tích. Luận văn được chia thành ba chương, với 72 trang đánh máy khổ A4 bao gồm danh mục tài liệu tham khảo. Chương 1 của luận văn đề cập đến một số vấn đề lý thuyết chung về nguyên tắc bảo đảm quyền khiếu nại và tố cáo trong tố tụng hình sự. Chương 2 của luận văn trình bày và phân tích các quy định về nguyên tắc bảo đảm quyền khiếu nại, tố cáo trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và đồng thời cho so sánh với các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003. Chương 3 của luận văn nêu rõ thực trạng thực thi nguyên tắc bảo đảm quyền khiếu nại, tố cáo sau đó trình bày những hạn chế, vướng mắc và một số kiến nghị để hoàn thiện. Luận văn là một nghiên cứu hệ thống toàn diện về cơ sở lý luận về các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung trong năm 2017. Thông qua ba chương trên, luận văn phân tích, đánh giá và chỉ ra những khó khăn và bất cập trong việc áp dụng nguyên tắc đảm bảo quyền khiếu nại, tố cáo tại Việt Nam. Qua đó, luận văn đưa ra phương hướng và một số kiến nghị để hoàn thiện các quy định pháp luật từ những vướng mắc, bất cập đã phân tích.
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN THỊ HỒNG NHUNG
NGUYÊN TẮC BẢO ĐẢM QUYỀN KHIẾU NẠI, TỐ CÁO
TRONG LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2018
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN THỊ HỒNG NHUNG
NGUYÊN TẮC BẢO ĐẢM QUYỀN KHIẾU NẠI, TỐ CÁO
TRONG LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM
Chuyên ngành: Hình sự và TTHS
Mã số: 8380101.03
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS Mai Thanh Hiếu
HÀ NỘI - 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi và được sự hướng dẫn khoa học của TS Mai Thanh Hiếu Các nội dung nghiên cứu, các kết quả nêu trong Luận văn là trung thực và chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Những số liệu, bảng biểu phục vụ cho việc phân tích, nhận xét, đánh giá được chính tác giả thu thập từ các nguồn khác nhau
có ghi rõ phần tài liệu tham khảo
Ngoài ra, trong phần luận văn còn sử dụng một số nhận xét, đánh giá cũng như số liệu của các tác giả khác, cơ quan tổ chức khác đều có trích dẫn
và chú thích nguồn gốc
Nếu phát hiện có bất kỳ sự gian lận nào tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
về nội dung luận văn của mình Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội không liên quan đến những vi phạm tác quyền, bản quyền do tôi gây ra (nếu có)
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN
Nguyễn Thị Hồng Nhung
Trang 5DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 3.1 Thống kê số liệu giải quyết khiếu nại, tố cáo trong tố tụng hình sự từ năm
2014 đến tháng 6/2018 64
Trang 6MỤC LỤC
Trang phụ bìa
LỜI CAM ĐOAN i
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT ii
DANH MỤC BẢNG BIỂU iii
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NGUYÊN TẮC BẢO ĐẢM QUYỀN KHIẾU NẠI, TỐ CÁO TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ 8
1.1 Khái niệm nguyên tắc bảo đảm quyền khiếu nại, tố cáo trong tố tụng hình sự 8
1.2 Cơ sở lý luận và thực tiễn của nguyên tắc bảo đảm quyền khiếu nại, tố cáo trong tố tụng hình sự 16
1.2.1 Cơ sở lý luận 16
1.2.2 Cơ sở thực tiễn 19
1.3 Nội dung nguyên tắc bảo đảm quyền khiếu nại, tố cáo trong tố tụng hình sự 21
1.4 Ý nghĩa nguyên tắc bảo đảm quyền khiếu nại, tố cáo trong tố tụng hình sự 26 1.5 Điều kiện bảo đảm hiệu quả của nguyên tắc bảo đảm quyền khiếu nại, tố cáo trong tố tụng hình sự 30
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 37
CHƯƠNG 2: SỰ THỂ HIỆN CỦA NGUYÊN TẮC BẢO ĐẢM QUYỀN KHIẾU NẠI, TỐ CÁO TRONG LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM 38 2.1 Chủ thể khiếu nại, tố cáo trong tố tụng hình sự 38
2.1.1 Chủ thể khiếu nại trong tố tụng hình sự 38
2.1.2 Chủ thể tố cáo trong tố tụng hình sự 40
2.2 Đối tượng và chủ thể bị khiếu nại, tố cáo trong tố tụng hình sự 41
Trang 72.2.1 Đối tượng bị khiếu nại, tố cáo trong tố tụng hình sự 41
2.3 Chủ thể, thời hạn và trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại, tố cáo trong tố tụng hình sự 48
2.3.1 Chủ thể, thời hạn và trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại trong tố tụng hình sự 48
2.3.2 Chủ thể, thời hạn, trình tự và thủ tục giải quyết tố cáo trong tố tụng hình sự 55
2.4 Bảo vệ người khiếu nại, tố cáo và chống lợi dụng quyền khiếu nại, tố cáo 60 KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 63
CHƯƠNG 3: THỰC TIỄN THI HÀNH VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ THI HÀNH NGUYÊN TẮC BẢO ĐẢM QUYỀN KHIẾU NẠI, TỐ CÁO TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM 64
3.1 Thực tiễn thi hành nguyên tắc bảo đảm quyền khiếu nại, tố cáo trong tố tụng hình sự Việt Nam 64
3.1.1 Kết quả đạt được 68
3.1.2 Hạn chế, vướng mắc 73
3.1.3 Nguyên nhân của những hạn chế, vướng mắc 76
3.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả thi hành nguyên tắc bảo đảm quyền khiếu nại, tố cáo trong tố tụng hình sự Việt Nam 80
3.2.1 Hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam về nguyên tắc bảo đảm quyền khiếu nại, tố cáo 81
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 93
KẾT LUẬN 94
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 96
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Sự cần thiết của việc nghiên cứu đề tài
Quyền khiếu nại, tố cáo là nhân quyền, tức là quyền con người Quyền khiếu nại, tố cáo là nội dung quyền con người quan trọng trong Hiến pháp đầu tiên – Hiến pháp Mỹ, sau đó được nhiều bản Hiến pháp ghi nhận, trong đó có Hiến pháp Việt Nam Điều 30 Hiến pháp năm 2013 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định: “Mọi người có quyền khiếu nại, tố cáo với các
cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền về những việc làm trái pháp luật của
cơ quan, tổ chức, cá nhân”
Trong tố tụng hình sự, quyền khiếu nại, tố cáo có ý nghĩa đặc biệt quan trọng và liên quan chặt chẽ với các quyền khác Thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo là một trong những hình thức dân chủ trực tiếp để nhân dân tham gia vào quá trình giám sát hoạt động của các cơ quan nhà nước, đồng thời cũng là phương thức để công dân tự bảo vệ khi quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm hại
Trong suốt tiến trình cải cách tư pháp, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm bảo đảm quyền khiếu nại, tố cáo của công dân Những quy định của pháp luật ngày càng tạo điều kiện thuận lợi cho công dân, cơ quan, tổ chức thực hiện quyền khiếu nại và giải quyết khiếu nại, tố cáo đúng pháp luật, góp phần đáng kể vào việc phát huy dân chủ, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế bởi lẽ vấn đề này vẫn chưa được quan tâm, nghiên cứu một cách xác đáng
và toàn diện Quy định của pháp luật về khiếu nại, tố cáo và giải quyết khiếu nại, tố cáo còn một số bất cập và còn nhiều nội dung chưa được thống nhất, rõ ràng Các quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khiếu nại, tố cáo là sự cụ
Trang 9thể hóa, chi tiết hóa và tuân theo sự định hướng của nguyên tắc bảo đảm quyền khiếu nại, tố cáo trong tố tụng hình sự Chính vì vậy, việc nghiên cứu sâu sắc và cụ thể về nguyên tắc bảo đảm quyền khiếu nại, tố cáo trong tố tụng hình sự là cần thiết Kết quả của việc nghiên cứu sẽ góp phần vào việc nhận thức đúng, thực hiện đúng các quy định về khiếu nại, tố cáo và giúp chúng ta nắm bắt được những hạn chế trong các quy định của pháp luật về khiếu nại, tố cáo trong tố tụng hình sự, từ đó đưa ra các giải pháp hoàn thiện hơn nữa các quy định này, đáp ứng yêu cầu của công cuộc cải cách tư pháp và xây dựng nhà nước pháp quyền Nhận thức được tầm quan trọng đó, chúng tôi chọn
“Nguyên tắc bảo đảm quyền khiếu nại, tố cáo trong luật tố tụng hình sự
Việt Nam”làm đề tài luận văn thạc sĩ luật học
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Khiếu nại, tố cáo trong tố tụng hình sự là đề tài đã được đề cập ở những cấp độ và mức độ nghiên cứu khác nhau
Ở cấp độ luận văn thạc sĩ luật học, có một số luận văn nghiên cứu về
khiếu nại, tố cáo trong tố tụng hình sự như: Luận văn Hoàn thiện pháp luật về quyền khiếu nại, tố cáo của công dân trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền ở nước ta hiện nay của tác giả Mai Thị Chung tại Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh năm 2001; Luận văn Giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp thuộc thẩm quyền của Viện kiểm sát nhân dân ở Việt Nam hiện nay của tác giả Phạm Quốc Huy tại Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh năm 2008; Luận văn Khiếu nại, tố cáo trong tố tụng hình sự Việt Nam của tác giả Nguyễn Thị Hương tại Khoa Luật Đại học Quốc gia năm 2009; Luận văn Một số giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo của tác giả Phạm Văn Long tại Khoa Luật Đại học Quốc gia năm 2011; Luận văn Giải quyết khiếu nại, tố cáo trong tố tụng hình
sự của Viện kiểm sát nhân dân ở Việt Nam hiện nay của tác giả Đinh Văn Sơn
Trang 10tại Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh năm 2012 và một số luận văn khác Các luận văn nói trên đã đề cập một số vấn đề lý luận về khiếu nại, tố cáo trong tố tụng hình sự, phân tích các quy định của BLTTHS năm 2003 để chỉ ra những điểm tiến bộ và bất cập, hạn chế trong quy định về khiếu nại, tố cáo trong tố tụng hình sự
Ở góc độ tạp chí chuyên ngành, hội thảo khoa học, công trình nghiên cứu các cấp cũng có nhiều bài nghiên cứu về khiếu nại, tố cáo trong tố tụng hình sự như: “Về người khiếu nại, tố cáo vàngười bị khiếu nại, tố cáo trong tố
tụng hình sự” của tác giả Lê Cảm trên Tạp chí Kiểm sát số 20/2004; “Khiếu
nại, tố cáo theo Bộ luật Tố tụng hình sự 2003” của tác giả Phạm Hồng Hải
trên Tạp chí Luật học, số 6/2004; “Tố cáo và giải quyết tố cáo trong tố tụng hình sự: Những vấn đề thực tiễn và lý luận” của tác giả Lê Cảm trên Tạp chí Khoa học số 23/2007; “Về đảm bảo quyền khiếu nại, tố cáo trong luật tố tụng hình sự Việt Nam” của tác giả Nguyễn Trọng Phúc trên Tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 8/2007; “Kiến nghị sửa đổi, bổ sung một số quy định của Bộ luật
tố tụng hình sự nhằm bảo đảm quyền khiếu nại, tố cáo của công dân” của tác
giả Phan Thị Thanh Mai trên Tạp chí Luật học số 5/2012; “Bảo đảm quyền
khiếu nại, tố cáo theo pháp luật Việt Nam” của tác giả Nguyễn Thuỳ Dương,
“Một số vấn đề về khiếu nại, tố cáo và những yêu cầu đặt ra trong việc hoàn thiện pháp luật về khiếu nại, tố cáo” của tác tại Phạm Hồng Thái tại Hội thảo
khoa học: Hoàn thiện pháp luật về khiếu nại, tố cáo ở nước ta hiện nay do
Khoa Luật Đại học Quốc gia và Uỷ ban thường vụ Quốc hội phối hợp tổ
chức ngày 15/07/2016 tại Hà Nội; Đề tài khoa học cấp Bộ Quan hệ phối hợp giữa Viện kiểm sát với Cơ quan điều tra, Toà án trong giải quyết và kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong tố tụng hình sự - Thực trạng và giải pháp của Vụ khiếu tố - Viện kiểm sát nhân dân tối cao năm 2014
Trang 11Nhìn chung, các công trình khoa học trên đây ở những mức độ khác nhau, đã ít nhiều khái quát được các vấn đề lý luận về khiếu nại, tố cáo nói chung và khiếu nại, tố cáo trong tố tụng hình sự nói riêng, cũng như đề cập đến thực tiễn giải quyết khiếu nại, tố cáo trong tố tụng hình sự Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu đó thường dưới dạng bài viết đăng trên các tạp chí khoa học pháp lý chuyên ngành, hoặc các bài viết cho hội thảo khoa học mà chưa có công trình nào nghiên cứu một cách, hệ thống và toàn diện về nguyên tắc bảo đảm quyền khiếu nại, tố cáo trong tố tụng hình sự Việt Nam Bên cạnh đó, những vấn đề về pháp luật và thực tiễn trong các công trình nói trên được nghiên cứu trên cơ sở quy định và thi hành BLTTHS năm 2003 Luận văn của tác giả sẽ kế thừa, tiếp thu có chọn lọc và phát triển những vấn đề lý luận của những công trình nghiên cứu trước, phân tích những vấn đề pháp luật và thực tiễn mới về nguyên tắc bảo đảm quyền khiếu nại, tố cáo, so sánh với BLTTHS năm 2003, tìm ra những điểm tiến bộ cũng như những hạn chế, bất cập trong BLTTHS năm 2015, từ đó đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng nguyên tắc bảo đảm quyền khiếu nại, tố cáo trong tố tụng hình sự Vì vậy, có thể khẳng định luận văn này là công trình nghiên cứu một cách độc lập của tác giả
3 Mục đích, nhiệm vụ, đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
3.1 Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận văn là làm rõ một số vấn đề lý luận về nguyên tắc bảo đảm quyền khiếu nại, tố cáo trong tố tụng hình sự; phân tích những quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam về nguyên tắc bảo đảm quyền khiếu nại, tố cáo và thực tiễn thi hành; phân tích những yêu cầu và
đề xuất những giải pháp nâng cao hiệu quả thi hành nguyên tắc bảo đảm
quyền khiếu nại, tố cáo trong tố tụng hình sự Việt Nam
Trang 123.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nêu trên, luận văn có những nhiệm vụ sau:
- Xây dựng khái niệm, xác định nội hàm, đặc trưng của nguyên tắc bảo đảm quyền khiếu nại, tố cáo trong tố tụng hình sự và phân tích ý nghĩa của nguyên tắc này
- Trên cơ sở tình hình áp dụng nguyên tắc bảo đảm quyền khiếu nại, tố cáo trong tố tụng hình sự Việt Nam, đánh giá thực trạng, chỉ ra kết quả đã đạt được cũng như những hạn chế và nguyên nhân
- Trình bày một số quan điểm và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả
áp dụng nguyên tắc bảo đảm quyền khiếu nại, tố cáo trong tố tụng hình sự trong điều kiện cải cách tư pháp hiện nay
3.3 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những vấn đề lý luận, pháp luật và thực tiễn về nguyên tắc bảo đảm quyền khiếu nại, tố cáo trong tố tụng hình sự Việt Nam
3.4 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của luận văn là pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam hiện hành về nguyên tắc bảo đảm quyền khiếu nại, tố cáo, so sánh, đối chiếu với pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam trước khi BLTTHS năm 2015 có hiệu lực pháp luật và thực tiễn áp dụng từ năm 2014 đến 6 tháng năm 2018
4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
4.1 Phương pháp luận
Phương pháp luận của luận văn là quan điểm của chủ nghĩaMác - Lênin,
tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về bảo đảm cơ chế hoạt động của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, bảo đảm quyền khiếu nại, tố cáo của cá nhân, cơ quan, tổ chức, bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa Ngoài ra, luận văn còn áp dụng các thành tựu về khoa học của chuyên ngành pháp lý, các nhà chuyên môn, các luận điểm nghiên cứu của
Trang 13các nhà khoa học, các công trình nghiên cứu, sách chuyên khảo và các bài viết chuyên ngành pháp lý được đăng trên các tạp chí
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử; phương pháp nghiên cứu kết hợp giữa lý luận và thực tiễn; phương pháp phân tích, diễn giải, tổng hợp; đồng thời, cũng sử dụng kết hợp các phương pháp thống kê, so sánh trong phần đánh giá thực trạng
Ngoài ra,đề tài còn sử dụng các phương pháp tiếp cận khác như:phương pháp lịch sử, tổng hợp… đồng thời đề tài còn sử dụng các nghị quyết của Đảng, văn bản pháp luật của Nhà nước, tài liệu của Viện kiểm sát trong quá trình thực hiện các giai đoạn tố tụng có liên quan đến nguyên tắc bảo đảm quyền khiếu nại, tố cáo
5 Những đóng góp mới về mặt khoa học của luận văn
Đây là đề tài nghiên cứu nguyên tắc bảo đảm quyền khiếu nại, tố cáo trong tố tụng hình sự Việt Nam trên phương diện lý luận, pháp luật và thực tiễn Đề tài giải quyết được các nội dung sau:
- Phân tích và tổng hợp một cách có hệ thống những vấn đề lý luận về nguyên tắc khiếu nại, tố cáo trong tố tụng hình sự: khái niệm khiếu nại; khái niệm tố cáo; bảo đảm quyền khiếu nại, tố cáo là một nguyên tắc cơ bản của tố tụng hình sự
- Phân tích quy định về nguyên tắc bảo đảm quyền khiếu nại, tố cáo trong
tố tụng hình sự để xác định sự cần thiết của nguyên tắc bảo đảm quyền khiếu nại, tố cáo trong các giai đoạn tố tụng của luật tố tụng hình sự Việt Nam
- Tổng hợp và phân tích các nguyên nhân của tồn tại trong quá trình áp dụng nguyên tắc bảo đảm quyền khiếu nại, tố cáo trong tố tụng hình sự, đánh giá tác động của các hệ quả này đối với thực tiễn áp dụng
Trang 14- Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng nguyên tắc bảo đảm quyền khiếu nại, tố cáo trong tố tụng hình sự, góp phần nâng cao nhận thức của người dân về quyền khiếu nại, tố cáo, cũng như hạn chế những sai sót đối với cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài nghiên cứu
Luận văn là công trình đầu tiên nghiên cứu một cách tương đối có hệ thống và toàn diện ở cấp độ luận văn thạc sĩ luật học về nguyên tắc bảo đảm khiếu nại, tố cáo trong Luật tố tụng hình sự Việt Nam
- Về lý luận: luận văn góp phần làm sáng tỏ thêm một số nội dung lý
luận về nguyên tắc bảo đảm quyền khiếu nại, tố cáo trong tố tụng hình sự
- Về thực tiễn: luận văn là tài liệu có giá trị tham khảo trong việc tổng
kết thực tiễn, đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả thi hành nguyên tắc bảo
đảm quyền khiếu nại, tố cáo trong tố tụng hình sự Việt Nam
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1:Một số vấn đề lý luận về nguyên tắc bảo đảm quyền khiếu nại,
tố cáo trong tố tụng hình sự
Chương 2: Sự thể hiện của nguyên tắc bảo đảm quyền khiếu nại, tố cáo
trong luật tố tụng hình sự Việt Nam
Chương 3: Thực tiễn thi hành và giải pháp nâng cao hiệu quả thi hành
nguyên tắc bảo đảm quyền khiếu nại, tố cáo trong tố tụng hình sự Việt Nam
Trang 15CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NGUYÊN TẮC BẢO ĐẢM QUYỀN KHIẾU NẠI, TỐ CÁO TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ
1.1 Khái niệm nguyên tắc bảo đảm quyền khiếu nại, tố cáo trong tố tụng hình sự
Để xây dựng khái niệm nguyên tắc bảo đảm quyền khiếu nại, tố cáo trong tố tụng hình sự, trước hết cần làm rõ các khái niệm khiếu nại, tố cáo và khái niệm nguyên tắc trong tố tụng hình sự
Về khái niệm khiếu nại, tố cáo trong tố tụng hình sự
Khiếu nại trong tố tụng hình sự thực chất là trường hợp cụ thể của khiếu nại nói chung và khiếu nại trong hoạt động tư pháp nói riêng Do vậy, để hiểu đúng bản chất của khiếu nại trong tố tụng hình sự, cần bắt đầu từ việc làm rõ các khái
niệm tiền đề như: “khiếu nại” và “khiếu nại trong hoạt động tư pháp”
Khiếu nại là một hiện tượng khách quan phát sinh trong đời sống xã hội, như là sự phản ứng có tính tự nhiên của con người trước một việc làm nào đó
mà người khiếu nại cho rằng việc đó là không phù hợp với các quy tắc chuẩn mực trong đời sống cộng đồng, hay không hợp lý và xâm phạm tới quyền, tự
do, lợi ích của mình Vì vậy, khiếu nại phát sinh trong mọi lĩnh vực của đời sống cộng đồng con người [39, tr 1]
Theo Từ điển Tiếng Việt thì: “Khiếu nại là việc đề nghị cơ quan có thẩm
quyền xét một việc làm mà mình không đồng ý, cho là trái phép hay không hợp lí” [36, tr.501].Về phương diện xã hội, khiếu nại là việc công dân phản đối, không chấp nhận một việc làm hoặc một quyết định của một tổ chức làm ảnh hưởng đến quyền, lợi ích của họ
Đặt trong mối quan hệ công dân với Nhà nước, khiếu nại là một hình thức công dân hướng đến các cơ quan nhà nước, hay tổ chức xã hội, tổ chức kinh tế, đơn vị vũ trang khi thấy quyết định hay hành vi xâm phạm tới quyền,
Trang 16lợi ích của mình, “hướng tới ở đây cũng chính là sự phản ứng trước những việc làm của cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền trong cơ quan, tổ chức
đó mà người hướng tới cho rằng việc làm đó xâm phạm tới quyền, tự do, lợi
ích của mình” [39, tr.1] Bên cạnh đó, PGS.TS Nguyễn Cửu Việt cho rằng:
“Khiếu nại được sử dụng khi quyền chủ thể của bản thân công dân khiếu nại hoặc của người do mình bảo hộ bị vi phạm do quyết định hoặc hành vi trái pháp luật thuộc phạm vi quản lý nhà nước của các cơ quan nhà nước hoặc viên chức nhà nước”[52, tr.477] Nói cách khác, khiếu nại là một trong những phương thức bảo vệ quyền chủ thể, tạo cơ chế thuận lợi để cá nhân, cơ quan, tổ chức sử dụng quyền khiếu nại của mình đối với cơ quan, người có thẩm quyền
mà theo họ đã bị quyết định hay hành vi trái pháp luật xâm phạm tới
Theo sách Thuật ngữ pháp lý phổ thông thì khiếu nại là “việc yêu cầu cơ
quan nhà nước, trước tiên là tổ chức xã hội hoặc người có chức vụ giải quyết việc vi phạm quyền hoặc lợi ích hợp pháp của bản thân người khiếu nại hay người khác” [31, tr 206]
Pháp luật Việt Nam hiện nay không thừa nhận khiếu nại trong hoạt động lập pháp mà chỉ quy định khiếu nại trong hoạt động hành pháp và khiếu nại trong hoạt động tư pháp Như đã trình bày ở trên, khiếu nại trong tố tụng hình
sự thực chất là một dạng khiếu nại trong hoạt động tư pháp Vậy khái niệm
“hoạt động tư pháp” là gì?
Hiện nay, có nhiều quan điểm khác nhau về phạm vi của hoạt động tư pháp Tuy nhiên, theo tác giả thì những hoạt động tố tụng nói chung theo quy định của pháp luật gồm: hoạt động trong các lĩnh vực tố tụng hình sự, tố tụng dân sự, tố tụng hành chính của chủ thể mang quyền lực nhà nước thì được gọi
là “hoạt động tư pháp” Từ đó có thể thấy, nội hàm của khái niệm “hoạt động
tư pháp” tương đồng với nội hàm của khái niệm “hoạt động tố tụng”, nghĩa là
“hoạt động tư pháp” và “hoạt động tố tụng” đều là những hoạt động trong các
lĩnh vực tố tụng được thực hiện bởi các chủ thể mang quyền lực nhà nước
Trang 17Qua phân tích trên, có thể rút ra một số khái niệm sau:
Hoạt động tư pháp là hoạt động trong các lĩnh vực tố tụng hình sự, tố tụng dân sự, tố tụng hành chính do các chủ thể mang quyền lực nhà nước thực hiện theo quy định của pháp luật tố tụng
Khiếu nại trong hoạt động tư pháp là việc cá nhân, cơ quan, tổ chức theo quy định của pháp luật đề nghị cá nhân, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền xem xét lại quyết định, hành vi mang tính quyền lực nhà nước trong hoạt động tố tụng, khi có căn cứ cho rằng quyết định, hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của mình
Như vậy, có thể thấy khái niệm “khiếu nại trong tố tụng hình sự” nằm trong nội hàm của khái niệm “khiếu nại trong hoạt động tư pháp” Tuy BLTTHS không quy định rõ khái niệm “khiếu nại trong tố tụng hình sự”
nhưng khái niệm này lại được định nghĩa tại khoản 1 Điều 3 Thông tư liên tịch số 02/2018/TTLT-VKSTC-TATC-BCA-BQP-BTC-BNN&PTNT ngày 05/9/2018, cụ thể như sau:
“Khiếu nại trong tố tụng hình sự” là việc cơ quan, tổ chức, cá nhân (sau đây gọi chung là người khiếu nại), theo thủ tục quy định tại Chương XXXIII của Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị cơ quan, người có thẩm quyền xem xét lại quyết định, hành vi tố tụng, quyết định giải quyết khiếu nại khi có căn cứ cho rằng quyết định hoặc hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình
Ngoài khái niệm “khiếu nại trong tố tụng hình sự”, khoản 2 Điều 3
Thông tư nói trên còn đưa ra khái niệm “Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng trong việc giữ người trong trường hợp khẩn cấp, bắt, tạm giữ, tạm giam”,
đó là: “khiếu nại đối với các lệnh, quyết định quy định tại khoản 1 Điều 474
Bộ luật Tố tụng hình sự và các hành vi thực hiện các lệnh, quyết định đó”
Trang 18Như vậy, khái niệm “khiếu nại trong tố tụng hình sự” của Thông tư nói trên có nội hàm hẹp hơn khái niệm “khiếu nại trong tố tụng hình sự” mà
chúng tôi xây dựng trong luận văn này
Trong Nhà nước pháp quyền, quan hệ giữa Nhà nước với cá nhân là
quan hệ bình đẳng cho nên việc coi khiếu nại là “đề nghị xem xét lại” là đặt người khiếu nại vào “thế yếu” so với các cá nhân, cơ quan, tổ chức bị khiếu nại Vì vậy, để thay cho “đề nghị xem xét lại” nên sử dụng thuật ngữ “yêu cầu” sẽ hợp lý hơn và thể hiện được sự phản ứng của cá nhân Từ đó, ta có
thể xây dựng khái niệm khiếu nại trong tố tụng hình sự như sau:
Khiếu nại trong tố tụng hình sự là việc cá nhân, cơ quan, tổ chức chịu sự tác động trực tiếp của các quyết định tố tụng, hành vi tố tụng, theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự yêu cầu cơ quan, người có thẩm quyền giải quyết, xem xét lại các quyết định, hành vi tố tụng của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng khi có căn cứ cho rằng quyết định, hành vi đó vi phạm pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình
Bên cạnh khiếu nại, tố cáo cũng là phản ứng trong đời sống xã hội khi con người thấy một việc làm sai trái, không hợp lý, xâm phạm đến lợi ích của
Nhà nước, quyền và lợi ích của cá nhân, cơ quan, tổ chức Tố cáo theo Từ điển Tiếng Việt là “1 Báo cho mọi người hoặc cơ quan có thẩm quyền biết
người hoặc hành động phạm pháp nào đó; 2 Vạch trần hành động xấu xa hoặc tội ác cho mọi người biết nhằm lên án, ngăn chặn” [36, tr 1008] Xét ở góc độ chung nhất, tố cáo được xem như là “một hành động thể hiện sự tự do ngôn luận cá nhân, một công cụ chống tham nhũng và các vi phạm khác có hại; một cơ chế giải quyết tranh chấp nội bộ, trong đó nhấn mạnh đến việc tiết
lộ các hành vi bất hợp pháp, tham nhũng, vô đạo đức, quản lý yếu kém tại nơi làm việc hoặc trong nội bộ tổ chức” [23, tr 84]
Trang 19GS TSKH Lê Cảm đưa ra định nghĩa khoa học của khái niệm tố cáo trong tố tụng hình sự như sau:
Tố cáo trong luật tố tụng hình sự là việc cá nhân theo trình tự và thủ tục do pháp luật tố tụng hình sự quy định báo cho cơ quan, người
có thẩm quyền giải quyết tố cáo về hành vi vi phạm pháp luật của bất
kỳ người tiến hành tố tụng nào trong các hoạt động khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử hoặc/và thi hành án hình sự đã gây nên (hoặc đe dọa gây nên) thiệt hại cho quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức cũng như lợi ích của Nhà nước [20, tr.118]
Theo quy định tại khoản 3 Điều 3, Thông tư liên tịch số
02/2018/TTLT-VKSTC-TATC-BCA-BQP-BTC-BNN&PTNT ngày 05/9/2018 thì:
“Tố cáo trong tố tụng hình sự” là việc cá nhân theo thủ tục quy định tại Chương XXXIII Bộ luật Tố tụng hình sự, báo cho cơ quan, người có thẩm quyền về hành vi vi phạm pháp luật trong hoạt động tố tụng hình sự của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng mà họ cho rằng hành vi đó gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại lợi ích của nhà
nước, quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân
Những khái niệm trên đã thể hiện được một phần tính đặc thù của tố cáo, thể hiện được tinh thần dân chủ, bảo đảm quyền con người theo Hiến pháp
năm 2013 là “mọi người” đều có quyền tố cáo chứ không chỉ là công dân
Tuy nhiên, những khái niệm trên chưa phân biệt được tố cáo với tố giác tội phạm, hành vi vi phạm pháp luật bị tố cáo trong tố tụng hình sự phải chưa có dấu hiệu của tội phạm Vì vậy, có thể đưa ra khái niệm về tố cáo trong tố tụng hình sự như sau:
Tố cáo trong tố tụng hình sự là việc cá nhân theo quy định của pháp luật
tố tụng hình sự báo cho cơ quan, người có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm pháp luật chưa có dấu hiệu của tội phạm của bất cứ cơ quan, người có
Trang 20thẩm quyền tiến hành tố tụng nào gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại đến lợi ích Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức Theo Từ điển Tiếng Việt, “bảo đảm” là làm cho chắc chắn thực hiện được [36, tr 38]; “quyền” là điều mà pháp luật hoặc xã hội công nhận cho
được hưởng được làm [36, tr.815] Vì vậy, bảo đảm quyền khiếu nại, tố cáo là làm cho mỗi cá nhân chắc chắn thực hiện được quyền bảo vệ quyền chủ thể của mình theo pháp luật quy định bằng phương thức khiếu nại, tố cáo Quyền khiếu nại, tố cáo được thực hiện trong suốt quá trình diễn ra các hoạt động tố tụng hình sự Các cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng có trách nhiệm bảo đảm quyền khiếu nại, tố cáo
Về khái niệm nguyên tắc trong tố tụng hình sự
Thuật ngữ “nguyên tắc” được bắt nguồn từ tiếng Latinh là “principium”
có ba nghĩa sau đây: 1 Luận điểm cơ bản, luận điểm gốc của học thuyết nào đó; 2 Tư tưởng chỉ đạo của quy tắc hoạt động; niềm tin, quan điểm đối với sự vật và chính quan điểm, niềm tin đó xác định quy tắc hành vi; 3 Nguyên lý cấu trúc và hoạt động của bộ máy dụng cụ thiết bị nào đó Hay còn được hiểu
là “cái gì đó mang tính xuất phát điểm, dẫn đầu, chủ đạo”[53, tr.85]
Nguyên tắc là “Điều cơ bản định ra, nhất thiết phải tuân theo trong một loạt việc làm” [34, tr 694] Như vậy nguyên tắc được hiểu là “tư tưởng chỉ đạo, quy tắc cơ bản của một hoạt động nào đó” [21, tr 45] Theo GS TSKH Đào Trí Úc, nguyên tắc pháp luật được hiểu là: “Những tư tưởng xuất phát điểm, có tính chủ đạo, định hướng là quy tắc cơ bản của hành động” [45, tr 3] Từ đó, có thể thấy rằng, nguyên tắc không thể thiếu trong nhận thức và hoạt động thực tiễn của con người, bảo đảm cho hoạt động đó đi đúng hướng
và có hiệu quả Tuy nhiên, bàn về nguyên tắc trong tố tụng đang có các quan điểm khác nhau Có quan điểm cho rằng:
Trang 21Nguyên tắc của luật tố tụng hình sự: “Là những phương châm định hướng chi phối toàn bộ hay một số hoạt động tố tụng hình sự được ghi nhận trong Hiến pháp, Bộ luật tố tụng hình sự và các văn bản khác có liên quan” [38, tr.5]
Trong khi đó, lại tồn tại quan điểm khác cho rằng, nguyên tắc của tố tụng hình sự là những tư tưởng pháp lý chỉ đạo, có giá trị pháp lý bắt buộc chung đối với các chủ thể tham gia vào quá trình giải quyết vụ án hình sự [28,
tr 59]
Như vậy, hiện đang có nhiều quan niệm về “Những nguyên tắc cơ bản” được quy định tại Chương II BLTTHS năm 2015 với các cách tiếp cận khác nhau Mỗi cách tiếp cận đều có lý luận làm cơ sở cho quan niệm của mình Sự
đa dạng trong nghiên cứu giúp chúng ta có thể nhìn nhận sự việc ở mọi khía cạnh để tiệm cận chân lý khách quan Tác giả đồng ý với quan niệm thứ hai
vì, trước hết, nguyên tắc là những quy định, phép tắc, tiêu chuẩn làm cơ sở để làm việc, xem xét Những nguyên tắc trong pháp luật bao giờ cũng là sự thể hiện hệ thống quan điểm của Nhà nước về pháp luật nói chung Khi nói đến nguyên tắc là đề cập đến quy định có tính định hướng đối với hoạt động nào
đó chứ không thể định hướng cho quy định nào đó vì chỉ hoạt động mới có tính động, diễn biến theo thời gian còn quy định có tính tĩnh, là kết quả của hoạt động nên không thể nói “nguyên tắc cơ bản của luật” mà phải là “nguyên tắc cơ bản của hoạt động” “Tố tụng hình sự” được hiểu là toàn bộ hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng và các cá nhân, cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội nhằm giải quyết vụ án khách quan, toàn diện, nhanh chóng, chính xác và đúng pháp luật” [22, tr 239] Do vậy, những hoạt động của các chủ thể này trong tố tụng hình sự phải tuân theo những “điều cơ bản đã định ra” là yếu tố khách quan Đó là những nguyên tắc tố tụng hình sự
Trang 22Tiếp theo, pháp luật tố tụng hình sự là hệ thống những văn bản pháp luật
tố tụng bao gồm những quy phạm pháp luật điều chỉnh những hành vi tố tụng của những cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình
sự Điều đó có nghĩa là, hệ thống những nguyên tắc cơ bản này có ý nghĩa trong xây dựng các quy phạm pháp luật tố tụng hình sự và có ý nghĩa trong hoạt động tố tụng hình sự Vì vậy, những nguyên tắc cơ bản trong chương II BLTTHS năm 2015 là những nguyên tắc của TTHS được quy định trong luật
để điều chỉnh các hoạt động của chủ thể trong lĩnh vực TTHS
Không chỉ mang tính định hướng mà nguyên tắc trong tố tụng hình sự còn mang tính đòi hỏi khách quan đảm bảo cho hoạt động tố tụng hình sự đạt được mục đích Vì vậy, việc ghi nhận, thay đổi hay xóa bỏ một nguyên tắc nào đó trong TTHS trên cơ sở mục đích đặt ra đối với hoạt động đó thì mới
đảm bảo tính khoa học và tính khả thi Như vậy có thể định nghĩa: Nguyên tắc của TTHS là sự thể hiện quan điểm, đường lối và chính sách của Nhà nước ta; là những định hướng cơ bản trong xây dựng và áp dụng pháp luật tố tụng hình sự nhằm hoàn thiện quá trình tố tụng hình sự, vận hành một cách thống nhất, đồng bộ trong phạm vi toàn quốc, đáp ứng yêu cầu bảo vệ lợi ích của Nhà nước, xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân; tổ chức, động viên được các cơ quan khác của Nhà nước, các tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội và đông đảo quần chúng nhân dân tham gia vào việc giải quyết vụ án hình sự nói riêng và cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung
Nguyên tắc bảo đảm quyền khiếu nại, tố cáo là một trong những nguyên tắc cơ bản của tố tụng hình sự được đưa ra làm định hướng cho việc xây dựng các quy phạm pháp luật tố tụng hình sự và thực thi các quy phạm pháp luật này trong thực tiễn liên quan đến các giai đoạn của hoạt động tố tụng hình sự Nguyên tắc này thể hiện quyền dân chủ của cá nhân, cơ quan, tổ chức, là một
Trang 23trong những nguyên tắc cơ bản khi xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền Nguyên tắc này đảm bảo việc thi hành nghiêm chỉnh pháp luật tố tụng hình sự với mọi cá nhân, cơ quan, tổ chức Cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền phản ánh khi thấy quyền và lợi ích hợp pháp của mình và người khác
bị xâm hại trong toàn bộ các giai đoạn của hoạt động tố tụng hình sự Mặt khác, nguyên tắc bảo đảm quyền khiếu nại, tố cáo với bản chất là đảm bảo cơ chế giám sát một cách thực thi nhất đối với các hoạt động tố tụng hình sự của
cá nhân, cơ quan, tổ chức đảm bảo các hoạt động tố tụng hình sự đúng pháp luật Các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng phải đảm bảo quyền khiếu nại cho cá nhân, cơ quan, tổ chức, quyền tố cáo cho cá nhân
Như vậy, có thể đưa ra định nghĩa: Nguyên tắc bảo đảm quyền khiếu nại, tố cáo trong TTHS là tư tưởng chủ đạo, định hướng cơ bản thể hiện quan điểm của Nhà nước được BLTTHS ghi nhận để một mặt bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức khiếu nại, cá nhân tố cáo, mặt khác điều chỉnh hoạt động giám sát một cách thực thi nhất đối với các hoạt động tố tụng hình sự nhằm đảm bảo các hoạt động này đúng pháp luật đồng thời là phương thức hạn chế sự lạm quyền trong chức năng quản lý xã hội của Nhà nước
1.2 Cơ sở lý luận và thực tiễn của nguyên tắc bảo đảm quyền khiếu nại,
tố cáo trong tố tụng hình sự
1.2.1 Cơ sở lý luận
Ý tưởng về nhân phẩm con người đã có từ xa xưa trong lịch sử nhân loại, dưới các hình thức khác nhau, trong tất cả các nền văn hóa và tôn giáo Tuy nhiên, ý tưởng về quyền con người là kết quả của tư tưởng triết học thời hiện đại, không chỉ dựa trên triết học của chủ nghĩa duy lý và thời đại khai sáng, chủ nghĩa tự do và dân chủ, mà còn dựa trên lý luận về chủ nghĩa xã hội Khái niệm về quyền con người hiện đại chủ yếu bắt nguồn từ châu Âu, nhưng cần khẳng định rằng, khái niệm tự do và công bằng xã hội – những khái niệm cơ bản của quyền con người, nằm trong mọi nền văn hóa
Trang 24Trên cơ sở quan niệm đúng đắn và khoa học về con người, C.Mác đã xác
định: “Con người là “con người xã hội” là sự “tổng hòa các quan hệ xã hội”,
cho nên quyền con người thể hiện sâu sắc giá trị quan hệ xã hội và hiển nhiên mang bản chất đó” [19, tr.11]
Theo từ điển Luật học thì quyền con người là: “Quyền của thành viên trong xã hội loài người – quyền của tất cả mọi người Đó là nhân phẩm, nhu cầu, lợi ích và năng lực của con người được thể chế hóa (ghi nhận) trong pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia” [18, tr.648]
Quyền con người là một nội dung lớn của thế giới ngày nay Đây là giá trị cao quý, kết tinh từ nền văn hóa của các dân tộc trên thế giới, là tiếng nói chung, sản phẩm chung, mục tiêu chung, phương tiện chung của mọi quốc gia, dân tộc trên thế giới để bảo vệ và thúc đẩy nhân phẩm, hạnh phúc của mọi con người Nó không còn là nhận thức, là quan điểm mà hữu hình bằng các quy phạm pháp lý được các quốc gia thừa nhận chung, phản ánh quy luật
và hướng đi tất yếu của xã hội loài người cũng như sự hình thành các cơ chế bảo đảm để quyền con người được thực thi trên thực tế Tuy nhiên, do điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội ở các châu lục, các khu vực, các quốc gia phát triển không giống nhau nên ở các quốc gia khác nhau thì năng lực và nhu cầu của mỗi thành viên xã hội sẽ không giống nhau mà phụ thuộc vào điều kiện kinh tế - chính trị - xã hội nhất định mà thành viên đó sinh sống Chính vì vậy, ở các quốc gia khác nhau, quyền con người được ghi nhận ở mức độ khác nhau và bảo đảm thực hiện bởi hệ thồng pháp luật của quốc gia đó
Là thành viên của các Công ước Quốc tế về quyền con người, Nhà nước Việt Nam luôn nỗ lực thực hiện các cam kết của mình đồng thời chủ động hợp tác với các quốc gia và các tổ chức quốc tế trong nhiều hoạt động trên lĩnh vực quyền con người Báo cáo quốc gia kiểm điểm định kỳ việc thực hiện quyền con người ở Việt Nam trình bày tại Hội đồng nhân quyền Liên
Trang 25Hợp Quốc ở Geneva, Thụy Sĩ ngày 08/5/2009 cũng khẳng định: “Nhà nước Việt Nam coi con người là mục tiêu và động lực của mọi chính sách phát triển kinh tế, xã hội và luôn nhất quán trong việc đảm bảo và thúc đẩy các quyền con người” Do đó, chúng ta cần bảo vệ thành quả này trong mọi lĩnh vực, đặc biệt là trong lĩnh vực tố tụng hình sự bởi hoạt động tốtụng hình sựlà một mặt hoạt động của Nhà nước, liên quan rất chặt chẽvới quyền con người Hoạt động tốtụng hình sựlà nơi các biện pháp cưỡng chế Nhà nước được áp dụng phổ biến nhất, vì vậy là nơi quyền con người của các chủ thể tố tụng dễ bị xâm hại nhất
Quyền con người trong tố tụng hình sự là tổng hợp các quyền thuộc nhóm quyền dân sự, chính trị nhằm mục đích khẳng định việc bảo vệ tính mạng, sức khỏe, tôn trọng danh dự nhân phẩm của con người trong mọi hoàn cảnh cũng như bảo đảm việc xét xử công bằng bởi một tòa án độc lập, khách quan đối với những người yếu thế khỏi sự tùy tiện và sự lạm quyền của các cơ quan và nhân viên nhà nước trong các hoạt động tố tụng hình sự Bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự là sự vận hành của các yếu tố khách quan nhằm mục đích công bố, ghi nhận về mặt pháp lý các quyền con người trong tố tụng hình sự và bảo vệ và thực thi các quyền đó trong quá trình giải quyết vụ án hình sự
Quyền khiếu nại, tố cáo là một trong những quyền con người căn bản thuộc nhóm quyền dân sự, chính trị được ghi nhận và bảo vệ trong nhiều văn kiện pháp lý về nhân quyền, cụ thể như trong Công ước quốc tế về quyền dân
sự và chính trị năm 1966 tại điểm b, mục 3, Điều 2 như sau: “Đảm bảo rằng khiếu nại về việc vi phạm của bất kỳ người nào phải được giải quyết bởi cơ quan tư pháp, hành chính, lập pháp có thẩm quyền hoặc những nhà chức trách
có thẩm quyền khác do hệ thống pháp luật của quốc gia quy định và phát triển
cơ chế giải quyết tư pháp thích hợp” [44, tr.79] Quyền khiếu nại là một trong
Trang 26những quyền cơ bản của con người, của công dân, là khả năng của các cá nhân (tổ chức của cá nhân) được thực hiện những hành vi nhất định theo quy định của pháp luật nhằm phản ứng lại những việc làm trái pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền để tự bảo vệ các quyền chủ thể của mình khi bị việc làm trái pháp luật xâm phạm Quyền khiếu nại là quyền có tính tự vệ, tự bảo vệ, gắn với đời sống chính trị xã hội, thể hiện tính tích cực chính trị của công dân, tùy thuộc vào nhiều nhân tố khách quan và chủ quan khác nhau, phản ánh trình độ văn minh của xã hội Quyền tố cáo được hiểu là khả năng của công dân thực hiện các hành vi (thể hiện qua nhiều hình thức khác nhau) phát hiện và thông báo chính thức cho cơ quan, tổ chức, cá nhân
có thẩm quyền về mọi việc làm vi phạm pháp luật Bảo đảm quyền khiếu nại,
tố cáo cũng chính là bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự và bảo đảm quyền con người nói chung
1.2.2 Cơ sở thực tiễn
Trong thực tiễn vẫn còn tồn tại nhiều vi phạm về quyền khiếu nại, tố cáo của công dân Tình hình khiếu nại, tố cáo trong tố tụng hình sự là vấn đề xã hội bức xúc và tiếp tục diễn biến phức tạp.Việc giải quyết khiếu nại trong một
số trường hợp không đúng thẩm quyền và chưa đảm bảo được thời hạn theo quy định của pháp luật Một số trường hợp khiếu nại bức xúc còn để chậm trễ, chất lượng giải quyết khiếu nại trong một số vụ việc chưa thực sự tốt, chưa thấu tình đạt lý dẫn đến việc khiếu nại kéo dài hoặc vượt cấplên Trung ương ngày càng gia tăng với tính chất gay gắt, quyết liệt Vẫn còn hiện tượng “oan sai”, gây bức xúc lớn cho người dân, bên cạnh đó thì việc bồi thường oan sai trong tố tụng hình sự cũng còn có biểu hiện né tránh từ phía đơn vị giải quyết.Việc xử lý người bị khiếu nại, tố cáo chưa thực sự được quan tâm, chưa
có các chế tài cụ thể để xử phạt những người vi phạm Ngoài ra, công tác bảo
Trang 27vệ người khiếu nại, tố cáo chưa được coi trọng, chưa có cơ chế riêng để bảo
vệ người khiếu nại, tố cáo khiến họ không dám thực hiện quyền của mình Tình hình trên do nhiều nguyên nhân Trong đó, có nguyên nhân do cơ chế, chính sách chưa phù hợp với thực tiễn Có nguyên nhân do công tác quản lý yếu kém, tiêu cực, tham nhũng Có nguyên nhân do công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo còn nhiều bất cập, hạn chế như: cơ chế giải quyết khiếu nại chưa đảm bảo đầy đủ tính khách quan, công khai, dân chủ trong quá trình giải quyết; việc thực hiện quyền khiếu nại của người dân tại Toà án còn bị hạn chế; trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại chưa cụthể, rõ ràng, nhất là giải quyết khiếu nại lần đầu còn quá phức tạp, chưa tạo thuận lợi cho công dân; chưa đề cao vai trò của các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội và của luật sư trong quá trình giải quyết khiếu nại, tố cáo; thiếu chế tài cụ thể trong việc xử lý trách nhiệm thực hiện công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo; chất lượng giải quyết khiếu nại, tố cáo thấp, còn nhiều sai sót; hiệu lực thi hành các quyết định giải quyết khiếu nại, tố cáo chưa cao; chưa gắn trách nhiệm của thủ trưởng cơ quan nhà nước trong việc tổ chức tiếp công dân Bên cạnh
đó, một số văn bản pháp luật hiện hành có quy định về khiếu nại, tố cáo và giải quyết khiếu nại, tố cáotrong tố tụng hình sự… còn mâu thuẫn, chồng chéo, chưa tạo được thống nhất trong các quy định về khiếu nại, tố cáo và giải quyết khiếu nại, tố cáo Trên cơ sở đánh giá tình hình khiếu nại, tố cáo và thực trạng giải quyết khiếu nại, tố cáo, trong những năm qua, Đảng, Nhà nước
đã quan tâm đặc biệt tới công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo coi đó là một trong những nhiệm vụ quan trọng trong cải cách hoạt động tư pháp nhà nước
và phát huy quyền dân chủ của nhân dân Thực tiễn nêu trên đòi hỏi bảo đảm quyền khiếu nại, tố cáo phải được quy định thành một nguyên tắc cơ bản của tốtụng hình sự
Trang 281.3 Nội dung nguyên tắc bảo đảm quyền khiếu nại, tố cáo trong tố tụng hình sự
Nguyên tắc bảo đảm quyền khiếu nại, tố cáo trong tố tụng hình sự có những nội dung cơ bản sau đây:
Thứ nhất, phạm vi khiếu nại, tố cáo trong tố tụng hình sự
Khiếu nại trong tố tụng hình sự được giới hạn bởi phạm vi nhất định Phạm vi này được thể hiện trong các hoạt động tố tụng hình sự Đối tượng của khiếu nại trong tố tụng hình sự là các quyết định tố tụng và hành vi tố tụng do vậy nó có phạm vi rất rộng và bao trùm tất cả hoạt động của các cơ quan và người có thẩm quyền tiến hành tố tụng Các hoạt động này diễn ra từ khi tiếp nhận và giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thậm chí có thể đến giai đoạn thi hành án
Phạm vi của tố cáo trong tố tụng hình sự là hành vi vi phạm pháp luật của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng Cá nhân có quyền tố cáo khi có
cơ sở cho rằng, hành vi đó gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của
cơ quan, tổ chức, cá nhân Do phạm vi là các hành vi vi phạm pháp luật, nên các quyết định tố tụng hình sự không phải đối tượng của tố cáo Số lượng hành vi vi phạm pháp luật bị tố cáo là không bị hạn chế Tuy nhiên, hành vi vi phạm pháp luật bị tố cáo trong tố tụng hình sự phải chưa có dấu hiệu của tội phạm Trường hợp hành vi vi phạm pháp luật này có dấu hiệu của tội phạm thì không thực hiện và giải quyết theo quy trình tố cáo mà chuyển sang một quy trình khác, đó là quy trình giải quyết về tố giác tội phạm
Thứ hai, chủ thể có quyền khiếu nại, tố cáo trong tố tụng hình sự
Chủ thể có quyền khiếu nại gồm: cá nhân, cơ quan, tổ chức Tuy nhiên, chủ thể phải có quyền, lợi ích hợp pháp chịu tác động trực tiếp bởi quyết định
tố tụng, hành vi tố tụng mới có quyền khiếu nại “Đối với những chủ thể
Trang 29không liên quan đến hoạt động này thì không có quyền khiếu nại, họ chỉ có
thể “tư vấn”, “góp ý” hoặc sử dụng các hình thức tác động khác để chính
người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thực hiện hành vi khiếu nại” [30]
Chính vì đặc điểm này của chủ thể khiếu nại mà pháp luật quy định nghĩa vụ
của họ một cách “chặt chẽ” hơn so với chủ thể của hành vi tố cáo Người
khiếu nại có nghĩa vụ “khiếu nại đến đúng người có thẩm quyền giải quyết”
Chủ thể có quyền tố cáo là cá nhân Pháp luật tố tụng hình sự không hạn
chế các chủ thể tham gia tố cáo, kể cả những cá nhân không liên quan đến
hoạt động tố tụng Quy định này nhằm cá thể hoá trách nhiệm của người tố
cáo Xuất phát từ việc ảnh hưởng tới quyền, lợi ích hợp pháp của người bị tố
cáo, thậm chí ảnh hưởng đến uy tín, danh dự, nhân phẩm của người bị tố cáo
nếu nội dung tố cáo sai sự thật nên trách nhiệm của người tố cáo khi thực hiện
quyền tố cáo hành vi vi phạm pháp luật là rất quan trọng Người tố cáo phải
nhận thức, buộc phải nhận thức và chịu trách nhiệm về nội dung tố cáo của
mình Trường hợp tố cáo sai sự thật, vu khống, người tố cáo phải hoàn toàn
chịu trách nhiệm tương ứng và bị cá thể hóa trách nhiệm Đó cũng là lý do tại
sao chỉ có cá nhân mới có quyền tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong tố
tụng hình sự mà không quy định là tổ chức Chủ thể có quyền tố cáo trong tố
tụng hình sự cũng tương tự như tố cáo trong các lĩnh vực khác là quyền của
mọi cá nhân có đủ năng lực pháp luật Pháp luật không hạn chế chỉ có những
người bị ảnh hưởng trực tiếp từ hành vi vi phạm pháp luật gây ra mới có quyền
tố cáo Bất cứ hành vi tố tụng nào vi phạm pháp luật xâm hại hoặc đe dọa xâm
hại đến lợi ích của Nhà nước hoặc của người khác đều có thể bị tố cáo
Thứ ba, thẩm quyền, thủ tục, thời gian giải quyết khiếu nại, tố cáo trong
tố tụng hình sự
Chính do chủ thể đặc biệt, đối tượng khiếu nại đặc biệt, nên thẩm quyền
giải quyết khiếu nại trong tố tụng hình sự cũng được quy định cụ thể, quy
Trang 30trình giải quyết được đẩy nhanh nhằm nâng cao trách nhiệm của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng Người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại là những người do BLTTHS quy định có trách nhiệm trả lời những đề nghị (khiếu nại) của người khiếu nại Người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại là người không ra các quyết định hoặc không thực hiện hành vi tố tụng trực tiếp
bị khiếu nại
Thẩm quyền giải quyết tố cáo trong tố tụng hình sự: Tố cáo hành vi vi phạm pháp luật của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng thuộc cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng nào thì người đứng đầu cơ quan đó có trách nhiệm giải quyết Tố cáo hành vi vi phạm pháp luật của người đứng đầu cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng nào thì cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng cấp trên có trách nhiệm giải quyết
Về thủ tục và thời hạn giải quyết khiếu nại trong tố tụng hình sự: Thủ tục giải quyết khiếu nại trong tố tụng hình sự được quy định tại BLTTHS Theo
đó, thủ tục giải quyết khiếu nại theo nguyên tắc hai cấp giải quyết, quyết định giải quyết khiếu nại lần hai là quyết định có hiệu lực pháp luật (trừ một số trường hợp) Do tính chất khẩn trương, liên tục của các thủ tục trong tố tụng hình sự, cho nên thời hạn giải quyết khiếu nại trong tố tụng hình sự ngắn hơn nhiều so với thời hạn giải quyết khiếu nại trong các lĩnh vực tố tụng khác Tuy nhiên, do thời hạn giải quyết khiếu nại trong tố tụng hình sự rất ngắn nên người có thẩm quyền giải quyết gặp không ít khó khăn trong việc xác minh, kết luận và ra quyết định giải quyết khiếu nại
Về thủ tục và thời hạn giải quyết tố cáo trong tố tụng hình sự: Cơ quan,
cá nhân có thẩm quyền giải quyết tố cáo phải ra quyết định về việc kiểm tra, xác minh nội dung tố cáo Sau khi kết thúc xác minh, cơ quan, cá nhân có thẩm quyền giải quyết phải có văn bản kết luận về nội dung tố cáo Trường hợp trong quá trình giải quyết tố cáo, nếu phát hiện thấy hành vi tố tụng liên
Trang 31quan có vi phạm pháp luật thì cơ quan, cá nhân có thẩm quyền giải quyết phải
áp dụng biện pháp khắc phục hoặc kiến nghị cơ quan, cá nhân có trách nhiệm
áp dụng biện pháp khắc phục, không phải đợi kết quả giải quyết tố cáo Thời hạn giải quyết tố cáo theo quy định của BLTTHS
Cơ quan, người có thẩm quyền trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình phải tiếp nhận, xem xét và giải quyết kịp thời, đúng pháp luật khiếu nại,
tố cáo Khi kết thúc việc giải quyết khiếu nại, tố cáo cơ quan, người có thẩm quyền giải quyết phải ban hành quyết định giải quyết Quyết định này phải được gửi cho cá nhân, cơ quan, tổ chức khiếu nại, cá nhân tố cáo Nếu người
bị khiếu nại, tố cáo vi phạm pháp luật thì áp dụng các biện pháp xử lý theo thẩm quyền hoặc kiến nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xử lý theo quy định của pháp luật, áp dụng biện pháp bảo vệ người tố cáo khi có yêu cầu, ngăn chặn thiệt hại có thể xảy ra; nếu hành vi vi phạm của người bị
tố cáo có dấu hiệu tội phạm thì chuyển vụ việc cho cơ quan điều tra hoặc Viện kiểm sát của thẩm quyền để giải quyết tố cáo; trường hợp người bị khiếu nại, tố cáo không vi phạm thì phải thông báo bằng văn bản cho người bị tố cáo, cơ quan quản lý người bị tố cáo, khôi phục quyền, lợi ích hợp pháp của người bị tố cáo bị xâm phạm
Thứ tư, trách nhiệm và quyền được bảo vệ của người khiếu nại, tố cáo trong tố tụng hình sự
Trong quan hệ giải quyết khiếu nại, tố cáo thì người bị khiếu nại, tố cáo
thường là người có quyền lực, ở “thế mạnh”, là người tiến hành hoạt động tố
tụng hình sự còn người khiếu nại, tố cáo thường là người bị quản lý, chịu sự
tác động của chính sách pháp luật một cách bị động, nghĩa là thường ở “thế yếu” hơn Việc giải quyết khiếu nại có thể làm cho người bị khiếu nại phải
thay đổi, chỉnh sửa một quyết định hoặc buộc phải chấm dứt hành vi tố tụng
bị khiếu nại, từ đó có thể xảy ra việc người bị khiếu nại tìm cách cản trở, gây
Trang 32phiền hà cho người thực hiện quyền khiếu nại; đe doạ, trả thù, trù dập người khiếu nại Tố cáo hướng tới việc chỉ ra các hành vi vi phạm pháp luật, vì thế nếu người bị tố cáo thực sự đã có hành vi vi phạm thì họ sẽ tìm mọi cách che giấu, bưng bít thông tin, bịt đầu mối hoặc trả thù người đã tố cáo họ Ngay cả trong trường hợp người bị tố cáo không có hành vi vi phạm thì họ cũng không muốn rơi vào hoàn cảnh bị tố cáo vì vậy có thể xuất hiện những định kiến hoặc thù hằn người đã tố cáo họ Họ thường sử dụng chức vụ, quyền hạn, vị thế xã hội và cả bộ máy trực thuộc và có thể chi phối được để thực hiện hành
vi trả thù người đã tố cáo mình Cho nên, việc bảo vệ người khiếu nại, tố cáo
là một trong những vấn đề cần được pháp luật hết sức quan tâm, đặc biệt là bảo vệ người tố cáo Bảo vệ người tố cáo bao gồm cả việc bảo vệ thông tin, bảo vệ tính mạng, tài sản, sức khỏe, bảo vệ tài sản, uy tín, danh dự, nhân phẩm và các quyền nhân thân, bảo vệ vị trí công tác, việc làm không chỉ bảo
vệ người tố cáo mà cả các quan hệ thân thích của người tố cáo
Bên cạnh quyền được bảo vệ thì người khiếu nại, tố cáo phải chịu trách nhiệm pháp lý về hành vi khiếu nại, tố cáo của mình Người khiếu nại, tố cáo phải “trung thực, thiện ý và có căn cứ hợp lý, không vì lợi ích cá nhân” [14, Điều 33] Căn cứ hợp lý được hiểu là những căn cứ mà người tố cáo tin rằng hành vi, sự việc là sai trái hoặc nghi ngờ là sai trái Và sự nghi ngờ ngay cả khi có sự nhầm lẫn, tuy nhiên phải đi kèm với yêu cầu thứ hai là phải thiện ý Thiện ý là một thuật ngữ chung chung, trừu tượng không rõ ràng nhưng có thể hiểu nó thể hiện động cơ của người tố cáo là nhằm phơi bày hành vi phạm pháp hay việc làm sai trái hoặc người tố cáo không biết nội dung mình tố cáo
là sai Việc tiết lộ thông tin phải được xử lý một cách khách quan và ngay cả khi nó được chứng minh là không chính xác, pháp luật phải được áp dụng miễn là người tố cáo đã hành động với thiện ý Tố cáo có thể là con dao hai lưỡi nếu như người tố cáo bị buộc là phù phiếm, độc hại nhằm mục đích cá nhân hay lăng mạ người khác (cố tình để hại người khác)
Trang 33Hiến pháp nghiêm cấm “lợi dụng quyền khiếu nại, tố cáo để vu khống,
vu cáo làm hại người khác” (khoản 3 Điều 30) Luật nhân quyền quốc tế xác
định các quyền con người nói chung không thể bị hạn chế ngoại trừ trường hợp để bảo vệ lợi ích công cộng và trên cơ sở tôn trọng quyền và tự do của người khác Quyền khiếu nại, tố cáo là quyền tự nhiên của con người cần được tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm thực hiện Chính vì vậy việc chống lợi dụng quyền khiếu nại, tố cáo để vu khống, xúc phạm danh dự nhân phẩm và quyền tự do của người khác là rất cần thiết Luật tố tụng hình sự cần hoàn thiện hệ thống chế tài đủ mạnh, đồng bộ xử lý hành vi vi phạm pháp luật này Khi đã chính thức phát hiện hành vi lợi dụng quyền khiếu nại, tố cáo để vu khống, vu cáo làm hại người khác thì phải xử lý nghiêm theo quy định đưa ra những tuyên bố sai trái và “nó cần phải được công bố rõ cho người tố cáo biết rằng những quy định này cũng được áp dụng đối với họ nếu cáo buộc của họ không được thực hiện với một thiện ý” [23, tr 35] Có như vậy, sẽ hạn chế
được kiểu dân chủ “quá trớn”, dân chủ ngoài khuôn khổ pháp luật
Việc bổ sung quy định về quyền được bảo vệ và trách nhiệm cuả người khiếu nại, tố cáo vào nguyên tắc bảo đảm quyền khiếu nại, tố cáo trong BLTTHS thể hiện bản chất dân chủ của Nhà nước xây dựng trên nền tảng chủ quyền công dân và phù hợp với cách tiếp cận về quyền con người
1.4 Ý nghĩa nguyên tắc bảo đảm quyền khiếu nại, tố cáo trong tố tụng hình sự
Trong giai đoạn hiện nay, khi xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền, một trong những nguyên tắc, yêu cầu cơ bản nhất là bảo đảm, bảo vệ các quyền con người bằng pháp luật và các biện pháp xã hội Quy định và bảo
vệ quyền con người là nguyên tắc xuyên suốt toàn bộ hệ thống chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước ta Điều 14 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người, quyền công
Trang 34dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật” Trong các quyền cơ bản của công dân được thể hiện theo các nhóm quyền như: nhóm quyền công dân về dân sự, chính trị, các quyền về kinh tế, xã hội và văn hóa, thì một trong những quyền đặc biệt là quyền được khiếu nại, tố cáo của công dân Việc ghi nhận
và thực hiện nguyên tắc bảo đảm quyền khiếu nại, tố cáo có ý nghĩa hết sức quan trọng với việc bảo đảm quyền của mỗi công dân cũng như với hiệu quả của hoạt động giám sát của nhân dân với Nhà nước và cán bộ, công chức Nhà nước Có thể khái quát ý nghĩa của nguyên tắc bảo đảm quyền khiếu nại, tố cáo trong tố tụng hình sự như sau:
Ý nghĩa chính trị: Hoạt động tố tụng hình sự là hoạt động của cơ quan,
người có thẩm quyền tiến hành tố tụng nhằm ngăn ngừa, phát hiện và xử lý hành vi phạm tội Tính chất hoạt động của các cơ quan và cá nhân có thẩm quyền này là hoạt động nhân danh Nhà nước và mang quyền lực Nhà nước
Vì vậy trong quan hệ của họ với cá nhân người phạm tội hay người tham gia
tố tụng thường mang tính chất quyền uy Để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, giảm thiểu các nguy cơ xâm phạm bất hợp pháp là mối quan tâm hàng đầu của pháp luật quốc tế về bảo vệ quyền con người trong hoạt động tố tụng hình sự Pháp luật quốc tế về quyền con người có những chuẩn mực tối thiểu bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân trong tố tụng hình sự được áp dụng trong phạm vi toàn thế giới, không kể hệ thống chính trị, trình độ phát triển kinh tế xã hội Hệ thống các chuẩn mực tối thiểu được ghi nhận trong các văn kiện Vì vậy, việc ghi nhận nguyên tắc bảo đảm quyền khiếu nại, tố cáo vào BLTTHS đã khẳng định một trong những chuẩn mực quốc tế về bảo đảm quyền con người trong hoạt động tố tụng hình sự được Nhà nước ta ghi nhận cụ thể và bảo đảm thực hiện bằng pháp luật Đồng thời việc ghi nhận, sửa đổi nguyên tắc bảo đảm quyền khiếu nại, tố cáo trong
Trang 35tố tụng hình sự đã thể chế hóa quan điểm, đường lối của Đảng trong tiến trình cải cách tư pháp nhằm xây dựng nền tư pháp trong sạch, dân chủ, công bằng
Ý nghĩa xã hội: Khi nguyên tắc được đảm bảo thực hiện đã thể hiện sự
tôn trọng và bảo đảm thực hiện một cách hiệu quả quyền con người trong tố tụng hình sự Nguyên tắc bảo đảm quyền khiếu nại, tố cáo trong tố tụng hình
sự tạo điều kiện cho cá nhân, cơ quan, tổ chức bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình và người khác đồng thời thực hiện quyền giám sát đối với các hoạt động của các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, giúp Nhà nước xử lý kịp thời các hành vi vi phạm pháp luật của cán bộ, công chức nhà nước Ngoài ra, nguyên tắc bảo đảm quyền khiếu nại, tố cáo trong tố tụng hình sự thể hiện tính tích cực, ý thức, trách nhiệm của cá nhân, cơ quan, tổ chức trong đấu tranh, phòng chống vi phạm pháp luật Tính tích cực này thể hiện thông qua
số lượng, chất lượng khiếu nại, tố cáo, qua đó phản ánh hiệu lực, hiệu quả của pháp luật, sự vững chắc của pháp chế và trình độ văn minh pháp luật của chế
độ chính trị - xã hội Bên cạnh đó, khi được thực hiện, nguyên tắc này sẽ góp phần đảm bảo công bằng xã hội, nâng cao hiệu quả giáo dục ý thức pháp luật
và phòng chống tội phạm, góp phần củng cố lòng tin của nhân dân vào hoạt động tố tụng, nâng cao uy tín của các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng Nguyên tắc bảo đảm quyền khiếu nại, tố cáo thể hiện tính dân chủ và nhân đạo của tố tụng hình sự, quyền khiếu nại, tố cáo chính là một trong những quyền hiến định cơ bản của công dân, một quyền có tính chất chính trị
và pháp lý của công dân và là một hình thức biểu hiện của dân chủ xã hội chủ nghĩa Việc thực hiện quyền khiếu nại của cá nhân, cơ quan, tổ chức, quyền tố cáo của cá nhân sẽ là cơ sở và nền tảng cho việc thực hiện các quyền và nghĩa
vụ khác của công dân Đấu tranh và phòng ngừa tội phạm là nhiệm vụ không chỉ của các cơ quan bảo vệ pháp luật mà là của toàn xã hội Trong quá trình tố tụng hình sự, ở bất kỳ giai đoạn nào cũng rất cần có sự tham gia, giúp đỡ tích cực của các cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội và công dân Những chủ thể
Trang 36này không những tham gia, giúp đỡ cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phát hiện, điều tra nhanh chóng, chính xác và xử lý công minh, kịp thời mọi hành vi phạm tội, không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội, mà còn tham gia tích cực vào việc phát hiện những hành vi vi phạm pháp luật của các
cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng Những phát hiện đó giúp cơ quan có thẩm quyền xem xét, giải quyết kịp thời các hành vi vi phạm nhằm đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của người tham gia tố tụng
Ý nghĩa pháp lý: Việc ghi nhận các nguyên tắc cơ bản nói chung và
nguyên tắc bảo đảm quyền khiếu nại, tố cáo nói riêng có ý nghĩa định hướng cho việc xây dựng, giải thích và áp dụng pháp luật tố tụng hình sự Với bản chất là các quy định cơ bản, chung nhất, mang tính chỉ đạo đã được ghi nhận trong luật nên nguyên tắc tố tụng hình sự là căn cứ pháp lý để các cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng áp dụng các quy phạm pháp luật tố tụng hình sự Trên cơ sở những nguyên tắc tố tụng hình sự, tất cả các điều khoản cụ thể của BLTTHS cũng như các văn bản pháp luật tố tụng hình sự khác phải là sự cụ thể hóa, chi tiết hóa các tư tưởng chỉ đạo quy định tại
chương II “Những nguyên tắc cơ bản” trong BLTTHS năm 2015 chứ không
thể mâu thuẫn với nó Khi nguyên tắc bảo đảm quyền khiếu nại, tố cáo được sửa đổi, bổ sung là cơ sở sửa đổi bổ sung các quy định khác trong BLTTHS Đồng thời, khi giải thích và áp dụng pháp luật, nguyên tắc đã được pháp điển hóa sẽ là căn cứ pháp lý để các chủ thể viện dẫn cho quan điểm giải thích cũng như áp dụng pháp luật của mình, chứng minh quan điểm đó là có cơ sở pháp lý Các nguyên tắc nói chung và nguyên tắc bảo đảm quyền khiếu nại, tố cáo trong tố tụng hình sự khi được pháp điển hóa không chỉ dừng lại ở việc ghi nhận trong luật mà mục đích đặt ra nó phải là phương châm, định hướng cho hoạt động thực tiễn, giúp cho hoạt động thực tiễn đạt được hiệu quả cao
vì mọi lý luận, quy định đều phải được rút ra từ thực tiễn và phục vụ hoạt động thực tiễn
Trang 371.5 Điều kiện bảo đảm hiệu quả của nguyên tắc bảo đảm quyền khiếu nại, tố cáo trong tố tụng hình sự
Để bảo đảm hiệu quả của nguyên tắc bảo đảm quyền khiếu nại, tố cáo trong tố tụng hình sự cần những điều kiện sau:
Thứ nhất: Hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự về nguyên tắc bảo đảm
quyền khiếu nại, tố cáo
Việc hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự về nguyên tắc bảo đảm quyền khiếu nại, tố cáo phải đáp ứng các yêu cầu sau:
Một là, việc hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự về nguyên tắc bảo đảm
quyền khiếu nại, tố cáo phải phù hợp với đường lối của Đảng về chiến lược cải cách tư pháp, xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
Tại Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng đã chỉ rõ:
Tiếp tục xây dựng, hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa do Đảng lãnh đạo là nhiệm vụ trọng tâm của đổi mới hệ thống chính trị Trong tổ chức và hoạt động của Nhà nước phải thực hiện dân chủ, tuân thủ các nguyên tắc pháp quyền và phải tạo ra sự chuyển biến tích cực, đạt kết quả cao hơn Xây dựng Nhà nước pháp quyền phải tiến hành đồng bộ cả lập pháp, hành pháp, tư pháp và được tiến hành đồng
bộ với đổi mới hệ thống chính trị theo hướng tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả; gắn với đổi mới kinh tế, văn hóa, xã hội Tiếp tục hoàn thiện cơ
chế bảo vệ Hiến pháp và pháp luật [25, tr 111]
Điều 2 Hiến pháp năm 2013 cũng khẳng định: “Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Nhân dân làm chủ; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân mà nền tảng
là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức”
Trang 38Điều 3 Hiến pháp năm 2013 ghi nhận: “Nhà nước bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của Nhân dân; công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân…”
Như vậy, có thể thấy trong cả Hiến pháp - văn bản pháp lý có giá trị cao nhất của Nhà nước và văn kiện của Đảng đều khẳng định mục tiêu xây dựng nhà nước ta trở thành nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân về mọi mặt Nhân dân thực hiện quyền làm chủ của mình thông qua hai hình thức: trực tiếp và gián tiếp Khiếu nại, tố cáo là một trong những hình thức thể hiện quyền làm chủ trực tiếp của nhân dân Khiếu nại, tố cáo không những là phương tiện pháp lý hữu hiệu để công dân bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình khi bị xâm phạm mà còn là một trong những phương thức quan trọng để công dân tham gia quản lý, giám sát hoạt động của các cơ quan nhà nước Thông qua khiếu nại, tố cáo của công dân, nhà nước kiểm tra được tính đúng đắn, sự phù hợp của những chính sách, pháp luật do mình ban hành, đồng thời kiểm tra việc tuân thủ pháp luật của các cơ quan, tổ chức, cá nhân thông qua việc đánh giá tính hợp pháp của các quyết định, hành vi quản lý, qua đó giúp nhà nước hoàn thiện cơ chế quản lý
xã hội bằng pháp luật, đồng thời khôi phục quyền, lợi ích chính đáng của công dân khi bị xâm phạm
Xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa là xây dựng một nhà nước mà ở đó tất cả mọi cá nhân, cơ quan, tổ chức đều có tinh thần “thượng tôn” pháp luật; pháp luật giữ vị trí tối thượng trong xã hội; nhà nước tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân Trong các văn kiện cũng như nghị quyết của Đảng đều đặt ra nhiệm vụ cần phát huy dân chủ; tăng cường pháp chế, giữ vững kỉ luật, kỉ cương; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân; giải quyết kịp thời và khách quan khiếu nại, tố cáo, nhất là các khiếu nại, tố cáo trong tố tụng hình sự vì nó liên quan trực tiếp đến quyền con người, quyền công dân Bảo đảm quyền khiếu nại, tố cáo không
Trang 39chỉ là việc ghi nhận quyền đó trong các văn bản pháp lý mà quan trọng hơn là cần phải có một cơ chế hữu hiệu để các cơ quan có thẩm quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo đúng pháp luật
Quá trình xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa đòi hỏi phải thực hiện chiến lược cải cách tư pháp với mục tiêu là “xây dựng nền tư pháp trong sạch, vững mạnh, dân chủ, nghiêm minh, bảo vệ công lý, từng bước hiện đại, phục vụ nhân dân, phụng sự Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa” [34].Quán triệt nghị quyết của Đảng, công cuộc cải cách tư pháp
đã được chỉ đạo và tổ chức thực hiện với quyết tâm cao, đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận Nhận thức cũng như sự quan tâm của các cấp lãnh đạo đối với công tác tư pháp có nhiều thay đổi theo hướng tích cực, do đó chất lượng hoạt động của công tác này cũng được nâng lên một bước, góp phần đáng kể vào việc giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, tạo môi trường ổn định cho sự phát triển kinh tế, hội nhập quốc tế, xây dựng và bảo vệ tổ quốc Tuy nhiên, nền tư pháp của chúng ta hiện nay vẫn còn bộc lộ nhiều hạn chế, chưa đáp ứng được với yêu cầu của công cuộc đổi mới Một số chế định còn nhiều bất cập; tổ chức bộ máy, cơ chế hoạt động của các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng còn bất hợp lý; trình độ của đội ngũ cán bộ làm công tác tư pháp chưa ngang tầm với nhiệm vụ; cơ sở vật chất, điều kiện làm việc ở nhiều nơi còn thiếu thốn, chưa được đảm bảo, do đó vẫn còn tình trạng oan sai, khiếu nại bức xúc, kéo dài
Bên cạnh đó, nhiệm vụ cải cách tư pháp đang đứng trước nhiều thử thách rất nặng nề: tình hình tội phạm diễn biến ngày càng phức tạp với tính chất và hậu quả nghiêm trọng, đặc biệt là những tội phạm phi truyền thống; khiếu nại,
tố cáo trong tố tụng hình sự có chiều hướng gia tăng về số lượng và phức tạp
về tính chất vụ việc; sự đòi hỏi của người dân và xã hội đối với chất lượng hoạt động của các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng ngày càng cao Do đó,
Trang 40việc giải quyết tốt các khiếu nại, tố cáo sẽ giúp củng cố lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng
Hai là, việc hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự về nguyên tắc bảo đảm
quyền khiếu nại, tố cáo cần bảo đảm một cách hiệu quả quyền và lợi ích hợp
pháp của người khiếu nại, tố cáo
Khiếu nại, tố cáo là một trong những quyền cơ bản của công dân được quy định trong Hiến pháp Khiếu nại, tố cáo là hình thức dân chủ trực tiếp để người dân tham gia và giám sát hoạt động của các cơ quan nhà nước, đồng thời cũng là phương thức để người dân tự bảo về quyền, lợi ích hợp pháp của mình và cá nhân, tổ chức khác khi bị xâm phạm Giải quyết khiếu nại, tố cáo nói chung và giải quyết khiếu nại, tố cáo trong tố tụng hình sự nói riêng là trách nhiệm và nghĩa vụ của các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng Giải quyết tốt các khiếu nại, tố cáo chính là đảm bảo các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân Để đảm bảo quyền và lợi ích của người khiếu nại, tố cáo thì hoạt động giải quyết khiếu nại, tố cáo phải phù hợp với nội dung và mục đích của pháp luật Điều kiện tiên quyết để thực hiện được nhiệm vụ trên là phải có hệ thống pháp luật thuận lợi để công dân thực hiện quyền của mình
Hệ thống pháp luật về khiếu nại và giải quyết khiếu nại ở nước ta hiện nay vẫn còn nhiều bất cập, làm ảnh hưởng không nhỏ đến việc thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo của công dân Việc hoàn thiện hệ thống pháp luật về nguyên tắc bảo đảm quyền khiếu nại, tố cáo trong tố tụng hình sự phải hướng tới mục tiêu hàng đầu là đảm bảo quyền khiếu nại của các chủ thể Tiếp theo, để thực hiện mục tiêu đảm bảo quyền khiếu nại, tố cáo của công dân thì việc giải quyết khiếu nại, tố cáo có hiệu lực, hiệu quả đóng một vai trò quan trọng Bởi
lẽ, cho dù pháp luật có tạo cơ chế thuận lợi cho công dân thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo trong khi việc giải quyết lại hạn chế, hiệu quả không cao, không đáp ứng được yêu cầu, nguyện vọng chính đáng của người dân thì