Luận văn là sự khái quát một cách toàn diện và có hệ thống những vấn đề lý luận cũng như các quy định của pháp luật Việt Nam về bồi thường cho người sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất. Phân tích và chỉ ra thực trạng áp dụng pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn thành phố Hà Nội. Từ đó, đưa ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện quy định của pháp luật và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật về bồi thường cho người sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất trên cả nước nói chung và tại thành phố Hà Nội nói riêng. Luận văn đi sâu nghiên cứu những vấn đề lý luận về bồi thường cho người sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi như khái niệm, đặc điểm, cơ sở, ý nghĩa,… của việc bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất. Đồng thời chỉ ra, phân tích và đánh giá thực tiễn thi hành pháp luật về bồi thường thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn thành phố Hà Nội có những thành tựu gì, còn tồn tại những bất cập gì và nguyên nhân của những bất cập đó. Trên cơ sở những nghiên cứu về mặt lý luận và thực tiễn của việc thi hành pháp luật về bồi thường cho người sử dụng đất khi Nhà nước trên địa bàn thành phố Hà Nội, tác giả đưa ra một sô giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật về bồi thường cho người sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất trên cả nước nói chung và tại thành phố Hà Nội nói riêng. 12. Khả năng ứng dụng trong thực tiễn: Luận văn thạc sĩ luật học sau khi được hoàn thành sẽ cập nhật quy định của pháp luật hiện hành điều chỉnh vấn đề bồi thường cho người sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất. Đánh giá thực trạng thi hành pháp luật về bồi thường cho người sử dụng đất trên địa bàn thành phố Hà Nội nhằm chỉ ra những mặt được, những hạn chế còn tồn tại và nguyên nhân của những hạn chế đó trong quá trình áp dụng pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất ở nơi đây. Ngoài ra, luận văn đưa ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật về bồi thường cho người sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất tại thành phố Hà Nội
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
HỒ TRỌNG NGHĨA
PHÁP LUẬT VỀ BỒI THƯỜNG CHO NGƯỜI
SỬ DỤNG ĐẤT KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT QUA THỰC TIỄN TẠI THÀNH PHỐ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Hà Nội – 2018
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
HỒ TRỌNG NGHĨA
PHÁP LUẬT VỀ BỒI THƯỜNG CHO NGƯỜI
SỬ DỤNG ĐẤT KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT QUA THỰC TIỄN TẠI THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Chuyên ngành: Luật kinh tế
Mã số: 8380101.05
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Cán bộ hướng dẫn khoa học: PGS.TS Doãn Hồng Nhung
Hà Nội – 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn Thạc sĩ “Pháp luật về bồi thường cho người sử
dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất qua thực tiễn tại thành phố Hà Nội” là công
trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu và tài liệu trong luận án là trung thực và chưa được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào Tất cả những tham khảo
và kế thừa đều được trích dẫn và tham chiếu đầy đủ
Học viên
Hồ Trọng Nghĩa
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN CỦA PHÁP LUẬT VỀ BỒI THƯỜNG CHO NGƯỜI SỬ DỤNG ĐẤT KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT 7
1.1 Khái niệm, đặc điểm của bồi thường cho người sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất 7
1.1.1 Khái niệm về bồi thường cho người sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất 7
1.1.2 Đặc điểm của bồi thường cho người sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất 9
1.1.3 Phân biệt giữa bồi thường với hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất 12
1.2 Cơ sở của bồi thường cho người sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất 13
1.3 Khái niệm, đặc điểm, vai trò của pháp luật về bồi thường cho người sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất 14
1.3.1 Khái niệm, đặc điểm của pháp luật về bồi thường cho người sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất 14
1.3.2 Vai trò của pháp luật về bồi thường cho người sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất 16
1.4 Các yếu tố chi phối pháp luật về bồi thường cho người sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất 17
1.4.1 Về nhận thức, tư tưởng 17
1.4.2 Về chính sách pháp luật 18
1.4.3 Về tổ chức bộ máy cán bộ 18
1.4.4 Về trình tự, thủ tục, phương pháp hoạt động 18
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 19
Trang 5Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ BỒI THƯỜNG CHO NGƯỜI SỬ DỤNG ĐẤT KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT QUA THỰC TIỄN THI HÀNH
TẠI THÀNH PHỐ HÀ NỘI 21
2.1 Thực trạng pháp luật Việt Nam về bồi thường cho người sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất 21
2.1.1 Nguyên tắc thực hiện bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất 21
2.1.2 Phạm vi và đối tượng được bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất 23
2.1.3 Điều kiện được bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất 25
2.1.4 Các khoản bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất 27
2.1.5 Quy trình bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất 35
2.1.6 Giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bồi thường cho người sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất 37
2.1.7 Xử lý vi phạm trong bồi thường cho người sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất 38
2.2 Thực tiễn thi hành pháp luật về bồi thường cho người sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn thành phố Hà Nội 40
2.2.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của thành phố Hà Nội40 2.2.2 Áp dụng pháp luật về bồi thường cho người sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn thành phố Hà Nội 45
2.2.3 Đánh giá thực tiễn thi hành pháp luật về bồi thường cho người sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn thành phố Hà Nội 54
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 67
Chương 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC THI PHÁP LUẬT VỀ BỒI THƯỜNG CHO NGƯỜI SỬ DỤNG ĐẤT KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT QUA THỰC TIỄN TẠI THÀNH PHỐ HÀ NỘI 69
3.1 Định hướng hoàn thiện pháp luật về bồi thường cho người sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất 69
3.2 Giải pháp hoàn thiện pháp luật 70
Trang 63.3 Giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật 73
3.3.1 Đẩy mạnh việc công khai hóa, minh bạch hóa quá trình thực thi pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất 73
3.3.2 Tăng cường và kiểm tra, giám sát việc tuyên truyền, phổ biến và giáo dục pháp luật 74
3.3.3 Kiện toàn tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất 75 3.3.4 Tăng cường thanh tra, kiểm tra, giám sát việc thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất và xử lý vi phạm 76
3.3.5 Chấn chỉnh công tác lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất 77
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 78
KẾT LUẬN 79
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 82
DANH MỤC PHỤ LỤC 88
Trang 71
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Tại Đại hội VIII, Đảng và Nhà nước ta đã xác định rõ mục tiêu “phấn đấu
đến năm 2020 cơ bản đưa nước ta trở thành một nước công nghiệp hóa, hiện đại hóa’ Để thực hiện được mục tiêu này, Nhà nước ta đã thu hồi hàng vạn ha đất nhằm xây dựng các khu đô thị, khu công nghiệp, khu kinh tế, các nhà máy sản xuất hay cơ
sở hạ tầng phục vụ cho quốc phòng an ninh và phát triển kinh tế
Thu hồi đất không đơn thuần chỉ là việc chấm dứt quyền sử dụng đất của các
cá nhân, tổ chức đang sử dụng đất mà còn để lại hậu quả nghiêm trọng về kinh tế, gây mất ổn định chính trị, xã hội nếu như không được giải quyết kịp thời Bởi thu hồi đất ảnh hưởng trực tiếp tới đời sống cũng như mọi hoạt động của người sử dụng đất Thực tế cho thấy, thu hồi đất và chính sách bồi thường sau thu hồi đất là một trong những vấn đề “nóng” và hết sức “nhạy cảm” hiện nay
Chính vì vậy, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều quan điểm, chính sách và ban hành các văn bản pháp luật để điều chỉnh về việc thu hồi đất, bồi thường cho người sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất Tuy nhiên, thực tế thi hành pháp luật
về đất đai nói chung và đặc biệt là pháp luật về bồi thường sau khi thu hồi đất vẫn còn bộc lộ rất nhiều khó khăn, thiếu sót Tỉ lệ các vụ khiếu kiện liên quan đến thu hồi đất, bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất vẫn chiếm tỉ trọng khá lớn trong tổng
số các vụ khiếu kiện về đất đai Trước tình hình đó, vấn đề cấp thiết đặt ra là cần tiếp tục nghiên cứu để đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về thu hồi đất
và bồi thường cho người sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất Đồng thời nâng cao hiệu quả trong việc áp dụng các quy định này của pháp luật vào thực tiễn
Thành phố Hà Nội là Thủ đô của nước Việt Nam, là một trong hai trung kinh
tế, chính trị, văn hóa, xã hội lớn nhất cả nước Do đó, trên địa bàn thành phố có rất nhiều các dự án lớn đã được khởi công và xây dựng buộc phải thu hồi hàng nghìn
ha đất của người sử dụng nơi đây Công tác thu hồi đất và bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất luôn được thành phố Hà Nội chú trọng Tuy nhiên, do nhiều nguyên
Trang 82
nhân khác nhau mà thực tế thi hành pháp luật về bồi thường cho người sử dụng đất còn gặp nhiều khó khăn, bất cập Chẳng hạn như mức bồi thường không thỏa đáng, gây thiệt hại nghiêm trọng cho các tổ chức, cá nhân đang sử dụng đất; số lượng các
vụ khiếu kiện có liên quan đến thu hồi đất trên địa bàn thành phố Hà Nội là tương đối lớn, kéo dài nhiều năm
Xuất phát từ những lý do trên, tác giả quyết định lựa chọn đề tài “Pháp luật
về bồi thường cho người sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất qua thực tiễn tại thành phố Hà Nội” để nghiên cứu và hoàn thiện Luận văn thạc sĩ của mình
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Thu hồi đất và bổi thường cho người sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất là
một vấn đề “nóng” của xã hội, luôn dành được sự quan tâm của giới luật học nước
ta Có thể kể đến một vài công trình nghiên cứu như sau:
Cuốn “Hỏi đáp pháp luật đất đai về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất” của tác giả Nguyễn Thị Mai và Trần Minh Sơn, Nxb Học viện Tư pháp 2005; “Hậu giải phóng mặt bằng ở Hà Nội – vấn đề và giải pháp” của tác giả Nguyễn Chí Mỳ và Hoàng Xuân Nghĩa đồng chủ biên, Nxb Chính trị quốc gia 2009; “Hệ thống văn bản quy định về giá đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất” của tác giả Sơn Hà, Nxb Học viện Tư pháp năm 2012; … Bên cạnh đó, còn có một số bài viết mang tính nghiên cứu, trao đổi dưới nhiều khía cạnh khác nhau, như bài của Thạc sĩ Đặng Anh Quân với tựa “Bàn về giá đất khi bồi thường nên cao hay thấp”, Tạp chí Tài nguyên và môi trường, số 8/2005; bài viết của Tiến sĩ Nguyễn Quang Tuyến với tựa đề “Vấn đề thu hồi và bồi thường khi thu hồi đất trong Dự thảo Luật đất đai (sửa đổi, bổ sung), Tạp chí Luật học, số 12/2008; Nguyễn Quang Tuyến, “Vấn đề lý luận xung quang khái niệm bồi thường khi nhà nước thu hồi đất, Tạp chí Luật học số 01/2009; Thạc sĩ Lê Ngọc Thạnh với bài viết “Một số ý kiến hoàn thiện pháp luật về bồi thường khi nhà nước thu hồi đất” đăng trên Tạp chí Tài nguyên và môi trường số 6/2009; Đồng tác giả Nguyễn Quang Tuyến và Nguyễn Ngọc Minh có bài “Pháp luật về bồi thường, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất của Singapore và Trung Quốc – Những gợi mở
Trang 93
cho Việt Nam trong hoàn thiện pháp luật về bồi thường, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất” đăng tại Tạp chí Luật học số 10/2010; Thạc sĩ Nguyễn Thị Dung với bài “Chính sách đền bù khi thu hồi đất của một số nước trong khu vực và Việt Nam”, Tạp chí Cộng sản 2010; Bài viết “Những tồn tại, vướng mắc phát sinh trong quá trình áp dụng các phương thức bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất” của tác giả Nguyễn Thị Nga và Bùi Mai Liên, Tạp chí Luật học số 5/2011,…
Ngoài ra, một số học viên hay nghiên cứu sinh cũng lựa chọn đề tài về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất để làm luận văn, luận án của mình Ví dụ như: Luận
án Tiến sĩ luật học với đề tài “Pháp luật về bồi thường thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp ở Việt Nam”, tác giả Phạm Thu Thủy, trường Đại học Luật Hà Nội, năm 2014; Luận văn Thạc sĩ “Pháp luật về bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn thành phố Hà Nội hiện nay, Trần Cao Hải Yến, Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2014; Luận văn Thạc sĩ luật “Pháp luật về bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp và thực tiễn áp dụng tại Hà Nam”, Trần Thị Huyền Lê, Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2015; Luận văn Thạc sĩ
“Nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất vì mục đích công cộng trên địa bàn huyện Quỳnh Phụ - tỉnh Thái Bình”, Nguyễn Minh Đức, Khoa Luật – Đại học Kinh tế Quốc dân, năm 2017; Luận văn Thạc sĩ “Pháp luật về thu hồi đất đối với các dự án đầu tư kinh doanh bất động sản và thực tiễn thi hành tại thành phố Hà Nội”, trường Đại học Luật Hà Nội, năm 2017; Luận văn Thạc sĩ “Pháp luật về hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất và thực tiễn thi hành tại tỉnh Hòa Bình”, trường Đại học Luật Hà Nội, năm 2017,…
Các công trình nghiên cứu nêu trên đã trình bày một cách khái quát nhất những vấn đề lý luận về thu hồi đất, pháp luật về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất, thực trạng thực hiện các quy định của pháp luật về các vấn đề trên tại một số địa phương cụ thể trong một vài năm trước đây Tuy nhiên, tính đến thời điểm hiện tại chưa có công trình nào nghiên cứu một cách khái quát và toàn diện về riêng vấn đề bồi thường cho người sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất trong bối cảnh hiện nay
Trang 104
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Luận văn đã nghiên cứu một cách khái quát và có hệ thống những vấn đề lý
luận về bồi thường cho người sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất Đồng thời, phân tích và chỉ ra thực trạng áp dụng pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn thành phố Hà Nội Từ đó, đưa ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện quy định của pháp luật và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật về bồi thường cho người sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất trên cả nước nói chung và tại thành phố
Hà Nội nói riêng
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu nêu trên, nhiệm vụ nghiên cứu đặt ra là:
1 Nghiên cứu những vấn đề lý luận về bồi thường cho người sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi như khái niệm, đặc điểm, cơ sở, ý nghĩa,… của việc bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất
2 Nghiên cứu những quy định của pháp luật hiện hành về việc bồi thường cho người sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất Đồng thời chỉ ra, phân tích và đánh giá thực tiễn thi hành pháp luật về bồi thường thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn thành phố Hà Nội có những thành tựu gì, còn tồn tại những bất cập gì và nguyên nhân của những bất cập đó
3 Trên cơ sở những nghiên cứu về mặt lý luận và thực tiễn của việc thi hành pháp luật về bồi thường cho người sử dụng đất khi Nhà nước trên địa bàn thành phố
Hà Nội, tác giả đưa ra một sô giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật
về bồi thường cho người sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất trên cả nước nói chung và tại thành phố Hà Nội nói riêng
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu các quan hệ pháp luật về bồi thường cho hộ gia đình, cá nhân, bồi thường về đất và tài sản trên đất khi Nhà nước thu hồi đất Trên nền tảng
đó, luận văn nghiên cứu các vấn đề lý luận và quy định của pháp luật Việt Nam về
Trang 115
vấn đề bồi thường cho người sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất Đồng thời đi sâu tìm hiểu việc áp dụng những quy định này trên thực tiễn
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của luận văn là những quy định của Luật Đất đai năm
2013 về bồi thường cho người sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất Đồng thời, luận văn cũng nghiên cứu thực tiễn áp dụng các quy định này trên địa bàn thành phố
Hà Nội trong khoảng thời gian từ ngày 1 tháng 7 năm 2014 - kể từ khi Luật Đất đai năm 2013 có hiệu lực thi hành đến nay
5 Phương pháp nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu, đề tài sử dụng các phương pháp luận nghiên cứu khoa học của Chủ nghĩa Mác – Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về Nhà nước và pháp luật
Bên cạnh đó, với mục tiêu tìm hiểu các quy định của pháp luật về bồi thường cho người sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất và đánh giá thực tiễn thi hành việc bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn thành phố Hà Nội, luận văn còn sử dụng các phương pháp sau:
- Phương pháp thống kê, tổng hợp, phân tích, đánh giá: Phân tích, tổng hợp số liệu, dữ liệu thu thập được tại Cục Thống kê thành phố Hà Nội, Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội để đánh giá, phân tích thực trạng công tác bồi thường cho người
sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất
- Phương pháp so sánh: Phương pháp so sánh được tác giả sử dụng để đối chiếu các quy định của pháp luật, tìm ra các điểm bất cập, chưa phù hợp, chưa thống nhất trong hệ thống pháp luật về bồi thường cho người sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất; tìm ra điểm chưa phù hợp giữa quy định của pháp luật và thực tiễn thi hành
- Phương pháp bình luận, phân tích, tổng hợp, quy nạp, diễn dịch: Phương pháp này được sử dụng khi nghiên cứu một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật về luật về bồi thường cho người sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất Luận văn đã tiếp cận, thu thập và kế thừa các thông tin, tài liệu tổng kết thi hành Luật Đất đai năm 2013, số liệu của các công trình khoa học đã công bố để trên
Trang 126
cơ sở đó phân tích, đánh giá pháp luật về bồi thường cho người sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất Trên cơ sở đó, tác giả tiến hành phân tích, đánh giá pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất Đồng thời, chỉ ra những tồn tại, bất cập của pháp luật về vấn đề này để đề xuất các giải pháp phù hợp theo mục tiêu đặt ra
6 Ý nghĩa của luận văn
Luận văn thạc sĩ luật học sau khi được hoàn thành có những ý nghĩa sau:
- Luận văn nghiên cứu một cách có hệ thống và toàn diện các quy định của pháp luật hiện hành về vấn đề về bồi thường cho người sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất
- Luận văn đánh giá thực trạng thi hành pháp luật về bồi thường cho người sử dụng đất trên địa bàn thành phố Hà Nội nhằm chỉ ra những mặt được, những hạn chế còn tồn tại và nguyên nhân của những hạn chế đó trong quá trình áp dụng pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất ở nơi đây
- Luận văn đưa ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật về bồi thường cho người sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất tại thành phố Hà Nội
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, bố cục của luận văn gồm
Trang 137
Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN CỦA PHÁP LUẬT VỀ BỒI THƯỜNG
CHO NGƯỜI SỬ DỤNG ĐẤT KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT
1.1 Khái niệm, đặc điểm của bồi thường cho người sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất
1.1.1 Khái niệm về bồi thường cho người sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất
Bồi thường cho người sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất là một trong
những nội dung quan trọng của hoạt động quản lý đất đai; được thực hiện bởi cơ quan Nhà nước có thẩm quyền nhằm đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp cho người
bị thu hồi
Nếu như giao đất, cho thuê đất là cơ sở phát sinh quan hệ pháp luật về đất đai giữa cơ quan Nhà nước có thẩm quyền với đối tượng được giao đất, cho thuê đất thì thu hồi đất lại là một biện pháp nhằm chấm dứt quan hệ đất đai Bàn về khái niệm thu hồi đất, Từ điển Luật học do Viện Khoa học pháp lý (Bộ Tư pháp) biên soạn
năm 2006 có viết: “Thu hồi đất là việc Nhà nước ra quyết định hành chính để thu
lại quyền sử dụng đất hoặc thu lại đất đã giao cho tổ chức, Ủy ban nhân dân xã phường, thị trấn quản lý theo quy định của Luật Đất đai” [51]
Theo Giáo trình Luật Đất đai của trường Đại học Luật Hà Nội thì “Thu hồi
đất là văn bản hành chính của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền nhằm chấm dứt một quan hệ đất đai để phục vụ lợi ích của Nhà nước, của xã hội hoặc xử lý hành chính hành vi vi phạm pháp luật đất đai của người sử dụng đất” [42]
Tại Khoản 11, Điều 3 Luật Đất đai năm 2013, thu hồi đất được hiểu “là việc Nhà
nước quyết định thu lại quyền sử dụng đất của người được Nhà nước trao quyền sử dụng đất hoặc thu lại đất của người sử dụng đất vi phạm pháp luật về đất đai”
Dưới mỗi một khía cạnh nghiên cứu thì khái niệm thu hồi đất được hiểu có sự khác nhau Nhưng xét về bản chất, thu hồi đất là hành vi pháp lý đơn phương của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền nhằm chấm dứt quyền sử dụng đất đối với người sử dụng đất theo quy định của pháp luật đất đai Hầu hết các trường hợp thu hồi đất vì
Trang 14ra định nghĩa bồi thường về đất như sau: “Bồi thường về đất là việc Nhà nước trả
lại giá trị quyền sử dụng đất đối với diện tích đất thu hồi cho người sử dụng đất”
(Khoản 12, Điều 3, Luật Đất đai năm 2013) Điều này có nghĩa là, khi Nhà nước thu hồi đất, Nhà nước có trách nhiệm trả lại cho người sử dụng đất hợp pháp những giá trị, thiệt hại hợp lý về đất và tài sản trên đất trong diện tích đất bị thu hồi
Như vậy có thể hiểu, bồi thường cho người sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước bù đắp những tổn hại về đất và tài sản trên đất cho tổ chức, cá nhân được Nhà nước giao đất, cho thuê đất mà do hành vi thu hồi đất của Nhà nước
vì mục đích quốc phòng an ninh; phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng theo những quy định của pháp luật đất đai
Xung quanh việc luận bàn về khái niệm bồi thường cho người sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất vẫn còn một số thắc mắc như tại sao có người sử dụng cụm từ
“đền bù”, “bồi hoàn” mà không dùng cụm từ “bồi thường”, khi nào sử dụng hia cụm từ này,… Điều này có thể được lý giải như sau:
Đền bù là khái niệm dùng để chỉ sự “đền trả”, “bù đắp” lại những thiệt hại do một hoạt động của một chủ thể gây ra Khái niệm “đền bù” xuất hiện từ Luật Đất đai năm 1987 và Luật Đất đai năm 1993 Từ khi Luật Đất đai năm 1993 được sửa đổi, bổ sung năm 2001, Quốc hội đã thống nhất cụm từ “bồi thường” thay cho “đền bù” và “đền bù thiệt hại” Và từ đó đến nay, khái niệm “đền bù” đã không được sử dụng trong pháp luật về đất đai Việc một số người, một số địa phương sử dụng khái niệm “đền bù” trong quan hệ đất đai là không đúng
Còn bồi hoàn là sự “hoàn trả” lại những gì đã “mượn đi”, “lấy đi” Đây là khái niệm gắn với thời bao cấp, khi mà việc bồi thường về đất chưa đặt thành một vấn đề trong thu hồi đất Khi đất đang sử dụng bị thu hồi, Luật Đất đai năm 1987 ghi nhận
Trang 151.1.2 Đặc điểm của bồi thường cho người sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất
Từ khái niệm nêu trên có thể rút ra một số đặc điểm của việc bồi thường cho
người sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất như sau:
Thứ nhất, về chủ thể bồi thường cho người sử dụng đất khi Nhà nước thu
hồi đất: Nhà nước vừa là chủ thể quyết định việc chấm dứt quan hệ pháp luật đất đai với người sử dụng đất (thu hồi đất) đồng thời cũng là chủ thể tiến hành việc bồi thường cho người sử dụng đất Việc bồi thường cho người sử dụng đất được tiến hành theo quy định của pháp luật đất đai
Thứ hai, về đối tượng được bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất: Đối tượng
được bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất ở đây là những người sử dụng đất hợp pháp có đất bị Nhà nước thu hồi Hay nói cách khác là những cá nhân, tổ chức được Nhà nước giao đất, cho thuê đất sử dụng hợp pháp và có giấy chứng nhận được Nhà nước cấp về quyền sử dụng đất đối với diện tích đất bị thu hồi hay có các giấy tờ khác chứng minh họ có quyền hợp pháp đối với diện tích đất bị thu hồi
Thứ ba, về mục đích thu hồi đất: Không phải bất cứ trường hợp nào mà Nhà
nước thu hồi đất thì Nhà nước đều có trách nhiệm phải bồi thường cho người sử dụng đất bị thu hồi Bởi trên thực tế có rất nhiều trường hợp Nhà nước tiến hành thu hồi đất như: Thu hồi đất do vi phạm pháp luật về đất đai; Thu hồi đất do chấm dứt
Trang 1610
việc sử dụng đất theo pháp luật, tự nguyện trả lại đất, có nguy cơ đe dọa tính mạng con người,…Tuy nhiên, chỉ trong trường hợp Nhà nước thu hồi đất để vì mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng thì Nhà nước mới tiến hành bồi thường Hay nói cách khác, cơ sở để nhận bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất chính là việc đất bị thu hồi được sử dụng vào mục đích chung của xã hội
Thứ tư, khoản bồi thường cho người sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất
gồm có những tổn hại về đất và tài sản trên đất như thiệt hại về nhà, công trình xây dựng trên đất, cây trồng, vật nuôi,…
Thứ năm, về giá đất bồi thường Giá đất bồi thường cho người sử dụng đất
khi Nhà nước thu hồi đất do Nhà nước chủ động xác định dựa trên những nguyên tắc nhất định và tôn trọng giá đất trên thị trường trong điều kiện bình thường của thửa đất
Như vậy, qua những đặc điểm của việc bồi thường cho người sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất nêu trên, có thể rút ra một số tính chất của việc bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất Cụ thể:
Một là, tính phức tạp Đất đai là nguồn tài nguyên thiên nhiên quý giá, đóng
vai trò rất quan trọng trong đời sống kinh tế - xã hội Căn cứ vào mục đích sử dụng đất, đất đai được chia thành ba nhóm chính là đất nông nghiệp, đất phi nông nghiệp
và nhóm đất chưa sử dụng Trong mỗi nhóm đất này lại chia nhỏ ra thành các loại đất khác nhau Ví dụ như trong nhóm đất nông nghiệp thì có đất trồng cây hàng năm; Đất trồng cây lâu năm; Đất rừng sản xuất; Đất rừng phòng hộ; Đất rừng đặc dụng; Đất nuôi trồng thủy sản; Đất làm muối; Đất nông nghiệp khác gồm đất sử dụng để xây dựng nhà kính và các loại nhà khác phục vụ mục đích trồng trọt, kể cả các hình thức trồng trọt không trực tiếp trên đất; xây dựng chuồng trại chăn nuôi gia súc, gia cầm và các loại động vật khác được pháp luật cho phép; đất trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản cho mục đích học tập, nghiên cứu thí nghiệm; đất ươm tạo cây giống, con giống và đất trồng hoa, cây cảnh Hay như trong nhóm đất phi nông nghiệp gồm các loại đất sau: Đất ở (bao gồm cả đất ở tại nông thôn và đất ở tại đô
Trang 1711
thị); Đất xây dựng trụ sở cơ quan; Đất sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh; Đất xây dựng công trình sự nghiệp (gồm đất xây dựng trụ sở của tổ chức sự nghiệp; đất xây dựng cơ sở văn hóa, xã hội, y tế, giáo dục và đào tạo, thể dục thể thao, khoa học và công nghệ, ngoại giao và công trình sự nghiệp khác); Đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp (gồm đất khu công nghiệp, cụm công nghiệp, khu chế xuất; đất thương mại, dịch vụ; đất cơ sở sản xuất phi nông nghiệp; đất sử dụng cho hoạt động khoáng sản; đất sản xuất vật liệu xây dựng, làm đồ gốm); Đất sử dụng vào mục đích công cộng (gồm đất giao thông (gồm cảng hàng không, sân bay, cảng đường thủy nội địa, cảng hàng hải, hệ thống đường sắt, hệ thống đường bộ và công trình giao thông khác); thủy lợi; đất có di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh; đất sinh hoạt cộng đồng, khu vui chơi, giải trí công cộng; đất công trình năng lượng; đất công trình bưu chính, viễn thông; đất chợ; đất bãi thải, xử lý chất thải và đất công trình công cộng khác); Đất cơ sở tôn giáo, tín ngưỡng; Đất làm nghĩa trang, nghĩa địa, nhà tang lễ, nhà hỏa táng; Đất sông, ngòi, kênh, rạch, suối và mặt nước chuyên dùng; Đất phi nông nghiệp khác (gồm đất làm nhà nghỉ, lán, trại cho người lao động trong cơ sở sản xuất; đất xây dựng kho và nhà để chứa nông sản, thuốc bảo vệ thực vật, phân bón, máy móc, công cụ phục vụ cho sản xuất nông nghiệp và đất xây dựng công trình khác của người sử dụng đất không nhằm mục đích kinh doanh mà công trình đó không gắn liền với đất ở)
Với mỗi một loại đất có tính chất khác nhau Do đó, mức bồi thường cho người sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất với mỗi loại đất này là khác nhau Đất nông nghiệp, tập trung chủ yếu ở khu vực nông thôn và là tư liệu sản xuất không thể thiếu được trong sản xuất nông nghiệp Đối với đất ở, nhất là tại khu vực đô thị, được xem là quyền tài sản có giá trị lớn, đặc biệt là đối với các chủ thể sản xuất - kinh doanh
Hai là, tính đa dạng Diện tích đất sau khi Nhà nước thu hồi sẽ được giao cho
các dự án đầu tư có nhu cầu sử dụng đất Các dự án này được diễn ra trên các khu vực hành chính với điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội và trình độ dân trí khác nhau
và mục đích sử dụng đất sau bồi thường cũng rất khác nhau
Trang 1812
1.1.3 Phân biệt giữa bồi thường với hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất
Bồi thường, hỗ trợ và tái định cư là ba chính sách của Đảng và Nhà nước ta đối với người sử dụng đất khi Nhà nước tiến hành thu hồi đất Theo đó, bồi thường về đất là việc Nhà nước trả lại giá trị quyền sử dụng đất đối với diện tích đất thu hồi cho người sử dụng đất Hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước trợ giúp cho người có đất thu hồi để ổn định đời sống, sản xuất và phát triển Còn tái định cư là việc bố trí chỗ ở mới,
ổn định cho người bị thu hồi đất mà phải di chuyển chỗ ở Như vậy, ba chính sách này là hoàn toàn khác nhau Có thể phân biệt chúng dựa vào những đặc điểm sau:
Thứ nhất, về nguyên tắc:
Bồi thường cho người sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất được thực hiện theo nguyên tắc bồi thường toàn bộ giá trị quyền sử dụng đất đối với diện tích đất bị thu hồi mà thỏa mãn các điều kiện về bồi thường được quy định tại Luật Đất đai năm 2013 Còn đối với hỗ trợ và tái định cư thì được thực hiện căn cứ vào mức độ khó khăn về đời sống và sản xuất, vấn đề đào tạo và chuyển đổi nghề nghiệp, về điều kiện nhân khẩu, tình hình không còn chỗ ở,… Qua xem xét các điều kiện đó, Nhà nước sẽ quyết định hỗ trợ hay không hỗ trợ; bố trí, thực hiện tái định cư cho người có đất bị thu hồi
Thứ hai, về nội dung:
Khi Nhà nước thu hồi đất, người sử dụng đất sẽ được bồi thường giá trị quyền sử dụng đất đối với diện tích đất bị thu hồi; bồi thường chi phí đầu tư còn lại vào đất; bồi thường thiệt hại về tài sản, sản xuất, kinh doanh gắn liền với đất Hỗ trợ
và tái định cư là việc Nhà nước giải quyết các hệ quả tiếp theo này sinh sau khi bồi thường Cụ thể nội dung của việc hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất gồm có hỗ trợ ổn định đời sống và sản xuất; Hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm đối với trường hợp thu hồi đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp; thu hồi đất ở kết hợp kinh doanh dịch vụ của hộ gia đình, cá nhân
mà phải di chuyển chỗ ở; Hỗ trợ tái định cư đối với trường hợp thu hồi đất ở của hộ gia đình, cá nhân, người Việt Nam định cư ở nước ngoài mà phải di chuyển chỗ ở
và các hỗ trợ khác
Trang 1913
Thứ ba, về vị trí, vai trò:
Bồi thường cho người sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất là quyền của người dân có đất bị thu hồi và là nghĩa vụ của Nhà nước Bởi hoạt động này đóng vai trò trung tâm và có tính chất quyết định trực tiếp đến quyền lợi của người sử dụng đất có đất bị thu hồi Nhà nước có nghĩa vụ bồi thường ngang giá và sát với giá thị trường cho người sử dụng đất những thiệt hại hữu hình và vô hình phát sinh trực tiếp từ hoạt động thu hồi đất Với hỗ trợ lại khác, đây một giải pháp nằm trong bồi thường Hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất đóng vai trò bù đắp vào khoảng trống
mà các quy định về bồi thường còn thiếu, chưa hoàn thiện và không vươn tới được chức năng của bồi thường Còn tái định cư là việc Nhà nước bồi thường về đất, các tài sản gắn liền với đất và các chi phí di chuyển, ổn định cuộc sống của những người bị thu hồi đất phải di chuyển chỗ ở Do đó, tái định cư giữ vai trò là yếu tố trợ giúp các quy định về bồi thường được áp dụng triệt để và có tính khả thi cao
1.2 Cơ sở của bồi thường cho người sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất Theo quy định của pháp luật Việt Nam, trường hợp Nhà nước thu hồi đất vì
mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng thì người sử dụng đất có đất bị thu hồi sẽ được bồi thường Việc bồi thường của Nhà nước trong các trường hợp này xuất phát từ những cơ sở sau:
Một là, chế độ sở hữu toàn dân về đất đai mà Nhà nước là người đại diện
Hiến pháp 2013 đã khẳng định “Đất đai, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng
sản, nguồn lợi ở vùng biển, vùng trời, tài nguyên thiên nhiên khác và các tài sản do Nhà nước đầu tư, quản lý là tài sản công thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý” (Điều 53) Thể chế hóa quy định của Hiến
pháp 2013, Điều 4 Luật Đất đai năm 2013 cũng tái khẳng định “Đất đai thuộc sở
hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý Nhà nước trao quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất theo quy định của Luật này” Như
vậy, quyền sử dụng đất đã được đại diện chủ sở hữu đất đai (Nhà nước) chuyển giao cho người sử dụng đất Lúc này, quyền sử dụng đất trở thành một loại quyền về tài sản thuộc sở hữu của người sử dụng đất Người sử dụng đất hoàn toàn có quyền sử
Trang 2014
dụng đất lâu dài, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, tặng cho, thế chấp, góp vốn, được bồi thường, được lựa chọn hình thức sử dụng đất, được cải tạo đất để khai thác giá trị từ đất có hiệu quả hơn,… bằng quyền sử dụng đất của mình Tất cả các quyền này đều được Nhà nước ghi nhận và bảo hộ
Hai là, Nhà nước ta là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân Điều này đã được Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam 2013 ghi nhận tại khoản 1, Điều 2 và các văn kiện của Đảng Nhà nước chăm
lo cho đời sống của nhân dân, đảm bảo các quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân được thực thi Nhân dân có toàn quyền sử dụng diện tích đất mà Nhà nước đã trao cho họ quyền sử dụng Khi đất của họ bị thu hồi thì có nghĩa là quyền và lợi ích hợp pháp của họ không được bảo đảm Hay nói cách khác là họ sẽ bị thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất nhằm mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng Do đó, với tư cách là người đứng đầu, Nhà nước hoàn toàn phải có trách nhiệm bồi thường về đất cũng như tài sản gắn liền với đất, các hoạt động sản xuất, kinh doanh cho người sử dụng đất Việc làm này xuất phát từ quyền và lợi ích của người dân cũng như nhu cầu tồn tại, sự phát triển kinh tế, xã hội của Nhà nước
Ba là, thiệt hại về lợi ích của người bị thu hồi đất xuất phát trực tiếp từ việc thu hồi đất của Nhà nước Hơn nữa, đất nước ta là Nhà nước xã hội chủ nghĩa, mọi công dân, các tổ chức kinh tế, tổ chức chính trị - xã hội đều bình đẳng trước pháp luật, quyền và lợi ích hợp pháp của mọi thành viên trong xã hội phải được pháp luật tôn trọng và bảo vệ Do đó, khi Nhà nước thu hồi đất gây thiệt hại cho người dần thì Nhà nước phải có chính sách bồi thường phù hợp
1.3 Khái niệm, đặc điểm, vai trò của pháp luật về bồi thường cho người sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất
1.3.1 Khái niệm, đặc điểm của pháp luật về bồi thường cho người sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất
Pháp luật về bồi thường cho người sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất là một lĩnh vực cụ thể của pháp luật về đất đai Việc bồi thường cho người sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất được thực hiện dựa trên các quy định của pháp luật đất đai và
Trang 2115
được ghi nhận trong Luật Đất đai năm 2013 Mặc dù, Luật Đất đai năm 2013 không giải thích cụ thể thế nào là pháp luật về bồi thường cho người sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất nhưng qua quá trình nghiên cứu về vấn đề này, có thể hiểu như sau: Pháp luật về bồi thường cho người sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất được hiểu là tổng hợp các quy phạm pháp luật trong lĩnh vực bồi thường cho người sử dụng đất để điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong quá trình Nhà nước thu hồi đất
Từ khái niệm nêu trên có thể rút ra một số đặc điểm của pháp luật về bồi thường cho người sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất như sau:
Một là, pháp luật về bồi thường cho người sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi
đất gồm tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ phát sinh có liên quan đến việc bồi thường cho người sử dụng đất Điển hình là Luật Đất đai năm
2013, Luật Thủ đô năm 2012 áp dụng cho Thủ đô Hà Nội, các thông tư, nghị định
có liên quan: Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/05/2014 quy định chi tiết thi
định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất; Nghị định số 01/2017/NĐ-CP ngày 06/01/2017 sửa đổi, bổ sung một số nghị định quy định chi tiết thi hành Luật Đất đai; Thông tư số 36/2014/TT-BTNMT ngày 30/06/2014 quy định chi tiết phương pháp định giá; xây dựng, điều chỉnh bảng giá đất; định giá đất
30/06/2014 quy định chi tiết về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất; Thông tư số 80/2017/TT-BTC ngày 02/08/2017 hướng dẫn về việc xác định giá trị quyền sử dụng đất, tiền thuê đất, tài sản gắn liền với đất được hoàn trả khi Nhà nước thu hồi đất và việc quản lý, sử dụng số tiền bồi thường tài sản do Nhà nước giao quản lý sử dụng, số tiền khi Nhà nước thu hồi đất nhưng không được bồi thường về đất ; Thông tư số 33/2017/TT-BTNMT ngày 29/09/2017 quy định chi tiết Nghị định số 01/2017/NĐ-CP ngày 06/01/2017 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một
số nghị định quy định chi tiết thi hành Luật Đất đai và sửa đổi, bổ sung một số điều của các thông tư hướng dẫn thi hành Luật Đất đai ,…
Trang 2216
Hai là, pháp luật về bồi thường cho người sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi
đất là tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong việc bồi thường khi thu hồi đất của Nhà nước nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất
Pháp luật về bồi thường cho người sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất chịu
sự chi phối của nhiều yếu tố như:
Một , quan điểm, đường lối của Đảng về xây dựng và hoàn thiện chính sách, pháp luật đất đai nói chung và chính sách, pháp luật về bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất nói riêng;
Hai, chế độ sở hữu toàn dân về đất đai;
Ba, cơ chế quản lý kinh tế;
Bốn, quá trình hội nhập quốc tế
1.3.2 Vai trò của pháp luật về bồi thường cho người sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất
Việc pháp luật quy định về bồi thường cho người sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất có vai trò, ý nghĩa vô cùng to lớn Cụ thể:
Thứ nhất, pháp luật về bồi thường cho người sử dụng đất khi Nhà nước thu
hồi đất chính là chuẩn mực nhằm đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp và bù đắp những thiệt hại cho người sử dụng đất có đất bị Nhà nước thu hồi Đồng thời, hoạt động này còn giúp cho người bị thu hồi đất nhanh chóng ổn định đời sống, sản xuất, có việc làm và có thu nhập ổn định
Thứ hai, pháp luật về bồi thường cho người sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi là
công cụ để Nhà nước quản lý các vấn đề có liên quan đến đất đai, nhằm củng cố sự ổn định về chính trị của nước nhà Đất đai là nguồn tài nguyên thiên nhiên, là tư liệu sản xuất chính của người dân Việt Nam ta Chính vì vậy, các chính sách pháp luật về đất đai
có ảnh hưởng rất lớn về mặt chính trị Các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đúng đắn, phù hợp với thực tiễn và được thực thi nghiêm túc sẽ không những tạo được
sự ổn định trong nhân dân mà còn góp phần củng cố sự ổn định chính trị Và ngược lại, nếu các chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước không phù hợp thì
sẽ tạo ra sự bất ổn về chính trị
Trang 23Thứ ba, pháp luật về bồi thường cho người sử dụng đất khi nhà nước thu hồi
đất giúp nâng cao nhận thức về tầm quan trọng, ý nghĩa nhân văn cũng như tính chất phức tạp của việc bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất của các nhà quản lý, của chính quyền địa phương Cần nhấn mạnh rằng, bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất là quyền của người dân và là trách nhiệm của Nhà nước
1.4 Các yếu tố chi phối pháp luật về bồi thường cho người sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất
1.4.1 Về nhận thức, tư tưởng
Để thực hiện tốt pháp luật về bồi thường cho người sử dụng đất khi nhà nước thu hồi đất thì trước hết người sử dụng đất và cán bộ, công chức thực hiện công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cần nhận thức rõ các quyền và nghĩa vụ của mình Trước hết đối với cán bộ thi hành pháp luật phải hiểu rõ việc bồi thường cho người
sử dụng đất khi thu hồi đất là nghĩa vụ, trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước Khi thực hiện thu hồi đất và bồi thường cho người sử dụng đất thì cơ quan nhà nước phải có nhiệm vụ thực hiện theo đúng quy định của pháp luật Việc cơ quan nhà nước từ chối hoặc chậm trễ thực hiện có thể dẫn đến hậu quả pháp lý cho chính cán
bộ thụ lý và cơ quan nhà nước đó Ví dụ như những người có đất thu hồi bị chậm chễ trong việc bồi thường thì họ sẽ chống đối, không chịu di rời, gây khó khăn trong công tác thu hồi đất,…
Trang 2418
Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, cán bộ, công chức phải nắm rõ trách nhiệm và nghĩa vụ của mình trong thi hành công vụ Đồng thời khi người sử dụng đất hiểu rõ quyền và nghĩa vụ của mình trong việc thu hồi đất; hiểu và nắm bắt đầy
đủ quy trình thủ tục hành chính sẽ hạn chế được việc người có chức vụ, quyền hạn thi hành thay Nhà nước thực hiện việc bồi thường gây khó khăn làm chậm tiến độ ảnh hưởng đến việc thực hiện pháp luật về thu hồi đất
1.4.2 Về chính sách pháp luật
Sau yếu tố nhận thức, tư tưởng của người cầm quyền và của người dân thì chính sách pháp luật về bồi thường cho người sử dụng đất cũng là một vấn đề quan trọng, chi phối, tác động và ảnh hưởng tới việc thu hồi đất Xây dựng hệ thống chính sách, pháp luật về bồi thường cho người sử dụng đất phù hợp đúng đắn góp phần quan trọng trong công tác thực hiện pháp luật về thu hồi đất Hiệu quả quản lý nhà nước về đất đai nói chung và thu hồi đất nói riêng từng bước được tăng cường
Từ đó, các quyền của người sử dụng đất được mở rộng và được Nhà nước bảo đảm
Và ngược lại, nếu như một đất nước mà có các chính sách pháp luật về bồi thường cho người sử dụng đất không tốt thì công tác thu hồi bị chậm chễ, quyền và lợi ích của người có đất thu hồi không đảm bảo Hơn nữa, nó còn ảnh hưởng nghiêm trọng đến tình hình an ninh, chính trị của đất nước
1.4.3 Về tổ chức bộ máy cán bộ
Để pháp luật về thu hồi đất, bồi thường cho người sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi được thực hiện một cách có hiệu quả thì công tác tổ chức cán bộ, công chức đóng vai trò chủ chốt Đối với bộ máy cơ quan quản lý nhà nước hoạt động hiệu quả, cán bộ có nhận thức, trình độ chuyên môn cao, đảm bảo yêu cầu công việc sẽ triển khai thực hiện công vụ đúng quy định của pháp luật làm tăng cường năng lực quản lý nhà nước về quản lý đất đai, đẩy nhanh tiến độ thu hồi đất
1.4.4 Về trình tự, thủ tục, phương pháp hoạt động
Thủ tục hành chính trong lĩnh vực đất đai đã được cải tiến theo hướng đơn giản hóa, thống nhất và công khai, tạo điều kiện thuận lợi cho người sử dụng đất thực hiện các quyền theo luật định, đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính
Trang 2519
Khi các cơ quan nhà nước phổ biến và công khai các quy định về thủ tục hành chính trong quá trình thu hồi đất cũng như bồi thường cho người sử dụng đất cho đông đảo người dân và cộng đồng xã hội, các cơ quan, đơn vị để các công dân thực hiện tốt công tác giám sát, kiểm tra việc thực hiện pháp luật của các cá nhân, đơn vị liên quan
Từ đó, kết quả thực hiện pháp luật sẽ thay đổi theo chiều hướng tốt
Xây dựng hệ thống thủ tục hành chính trong bồi thường cho người sử dụng đất khi nhà nước thu hồi đất theo hướng đơn giản, minh bạch, công khai; tổ chức bộ máy hoạt động của cơ quan chuyên môn theo hướng tinh giản, làm tăng hiệu quả thực hiện, giảm thời gian thu hồi đất
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Bồi thường cho người sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất là một trong những nội dung quan trọng của hoạt động quản lý đất đai Vấn đề này luôn nhận được sự quan tâm của đông đảo nhân dân và cơ quan Nhà nước có thẩm quyền Trong chương 1, Luận văn đã giải thích và làm rõ khái niệm, đặc điểm của việc bồi thường cho người sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất Theo đó, bồi thường cho người sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước bù đắp những tổn hại về đất và tài sản gắn liền với đất cho tổ chức, cá nhân được Nhà nước giao đất, cho thuê đất mà do hành vi thu hồi đất của Nhà nước vì mục đích quốc phòng an ninh; phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng theo những quy định của pháp luật đất đai
Việc bồi thường cho người sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất khác với việc
hỗ trợ hay tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất Bởi việc bồi thường được căn cứ thực hiện theo đúng quy định của pháp luật về đất đai Còn việc hỗ trợ và tái định
cư thì được thực hiện căn cứ qua việc xem xét các mức độ khó khăn về đời sống, về sản xuất hay vấn đề đào tạo việc làm, chuyển đổi nghề nghiệp, không có chỗ ở,… Không phải ngẫu nhiên mà Nhà nước bồi thường cho những người có đất bị thu hồi Việc bồi thường này xuất phát từ chế độ sở hữu toàn dân về đất đai mà Nhà nước là người đại diện Hơn nữa, Nhà nước ta là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ
Trang 2620
nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân Chính vì vậy việc bảo vệ quyền và lợi ích của người dân là trách nhiệm của Nhà nước Mặt khác, thiệt hại về lợi ích của người
bị thu hồi đất xuất phát trực tiếp từ việc thu hồi đất của Nhà nước
Bên cạnh đó, Luận văn đã chỉ ra khái niệm, đặc điểm cũng như vai trò của pháp luật về bồi thường cho người sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất Pháp luật
về bồi thường cho người sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất là tổng hợp các quy phạm pháp luật trong lĩnh vực bồi thường cho người sử dụng đất để điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong quá trình Nhà nước thu hồi đất Trong lĩnh vực bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất, pháp luật đóng vai trò như một công cụ để Nhà nước quản lý
lý các vấn đề có liên quan đến đất đai, nhằm củng cố sự ổn định về chính trị của nước nhà Đồng thời pháp luật còn là chuẩn mực để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cũng như bù đắp thiệt hại cho người có đất bị Nhà nước thu hồi
Ngoài những nội dung trên, ở Chương này, Luận văn đã liệt kê một số yếu tố chi phối tới pháp luật về bồi thường cho người sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất Ví dụ như các yếu tố về nhận thức, tư tưởng; các yếu tố về chính sách pháp luật; yếu tố về tổ chức bộ máy cán bộ hay những yếu tố về trình tự, thủ tục và phương pháp hoạt động Những yếu tố này đều có những sự ảnh hưởng nhất định đến pháp luật về bồi thường cho người sử dụng khi Nhà nước thu hồi đất
Trang 2721
Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ BỒI THƯỜNG CHO NGƯỜI SỬ DỤNG ĐẤT KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT QUA THỰC TIỄN THI HÀNH TẠI
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
2.1 Thực trạng pháp luật Việt Nam về bồi thường cho người sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất
2.1.1 Nguyên tắc thực hiện bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất
Nếu như Luật Đất đai năm 2003 quy định về nguyên tắc bồi thường về đất và
nguyên tắc bồi thường thiệt hại về tài sản gắn liền với đất ngay tạo một điều luật (Điều 42), thì đến Luật Đất đai năm 2013 đã tách nguyên tắc bồi thường về đất và nguyên tắc bồi thường thiệt hại về tài sản, ngừng sản xuất, kinh doanh khi Nhà nước thu hồi đất thành 02 điều riêng biệt ( Điều 74 và Điều 88) Điều này đã tạo nên sự thống nhất về những nguyên tắc bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất để các bộ, ban, ngành, các địa phương và người bị thu hồi đất thực hiện, nhằm tránh phát sinh tranh chấp có liên quan
Điều 74 Luật Đất đai năm 2013 quy định nguyên tắc bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất như sau:
“1 Người sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất nếu có đủ điều kiện được bồi thường quy định tại Điều 75 của Luật này thì được bồi thường
2 Việc bồi thường được thực hiện bằng việc giao đất có cùng mục đích sử dụng với loại đất thu hồi, nếu không có đất để bồi thường thì được bồi thường bằng tiền theo giá đất cụ thể của loại đất thu hồi do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định tại thời điểm quyết định thu hồi đất
3 Việc bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất phải bảo đảm dân chủ, khách quan, công bằng, công khai, kịp thời và đúng quy định của pháp luật”
Theo đó, có ba nguyên tắc bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất Đó là: Nguyên tắc thứ nhất, bất cứ người sử dụng đất nào cứ đảm bảo các điều kiện
để được bồi thường khi thu hồi đất thì đều được Nhà nước bồi thường
Trang 2822
Nguyên tắc thứ hai, ưu tiên bồi thường bằng đất cùng mục đích sử dụng Nếu không có đất cùng loại thì bồi thường bằng tiền với giá trị tương đương Cách tiếp cận này xuất phát từ quan niệm coi đất đai là tài sản có thể thay thế được bằng tiền Nguyên tắc này là khá hợp lý trên thực tế Bởi hiện nay quỹ đất của Nhà nước đã được giao cho người sử dụng đất sử dụng ổn định và lâu dài, hầu như không còn đất
có cùng mục đích sử dụng để bồi thường cho người dân Do đó, phương án bồi thường bằng tiền là hợp lý Đồng thời, quy định này cũng nhằm ngăn ngừa tình trạng người bị thu hồi đất đòi hỏi giá bồi thường quá cao do giá trị của đất đai tăng lên từ việc chuyển mục đích sử dụng đất hoặc do sự đầu tư của Nhà nước mang lại Nguyên tắc thứ ba, đảm bảo tính dân chủ, khách quan, công bằng, công khai, kịp thời và đúng quy định của pháp luật trong quá trình bồi thường cho người sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất Dân chủ, khách quan, công bằng, công khai, kịp thời và đúng quy định của pháp luật là những yếu tố hết sức cần thiết giúp cho người bị thu hồi đất được tham gia trực tiếp bàn bạc những vấn đề liên quan đến quyền và lợi ích của mình khi Nhà nước thu hồi đất; việc thực hiện công tác bồi khi Nhà nước thu hồi đất đạt hiệu quả cao, đảm bảo hài hòa lợi ích của Nhà nước, người
bị thu hồi đất và chủ đầu tư Hơn nữa, nguyên tắc này còn là một trong những giải pháp hữu hiệu đề phòng chống tham nhũng trong lĩnh vực đất đai nói chung và lĩnh vực hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất nói riêng Việc ghi nhận nguyên tắc này trong Luật đất đai năm 2013 thể hiện bước tiến mới trong những quy định của pháp luật
về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất, thể hiện sự tôn trọng quyền và lợi ích hợp pháp của người bị thu hồi đất
Ngoài việc quy định nguyên tắc bồi thường về đất, Luật Đất đai năm 2013 cũng ghi nhận nguyên tắc bồi thường thiệt hại về tài sản sản xuất, kinh doanh khi Nhà nước thu hồi đất tại Điều 88 Cụ thể:
“1 Khi Nhà nước thu hồi đất mà chủ sở hữu tài sản hợp pháp gắn liền với đất
bị thiệt hại về tài sản thì được bồi thường
2 Khi Nhà nước thu hồi đất mà tổ chức, hộ gia đình, cá nhân, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài phải ngừng sản xuất, kinh doanh mà có thiệt hại thì được bồi thường thiệt hại.”
Trang 2923
Đây là một điểm mới của Luật đất đai năm 2013 khi đã bắt đầu xem xét bồi thường về đất không chỉ với tư cách là tài sản mà còn là tài nguyên và tư liệu sản xuất Đất đai là công cụ để người sử dụng đất tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh Khi đất bị Nhà nước thu hồi thì đương nhiên các hoạt động sản xuất, kinh doanh trên đất cũng sẽ bị chấm dứt Nếu như chỉ bồi thường về đất không thì chưa
đủ, chưa đảm bảo đến cùng quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất có đất
bị thu hồi Do đó, Luật Đất đai năm 2013 ghi nhận nguyên tắc bồi thường thiệt hại
về tài sản sản xuất, kinh doanh khi Nhà nước thu hồi đất là rất “thấu tình, đạt lý”
2.1.2 Phạm vi và đối tượng được bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất
Căn cứ khoản 3 Điều 26 Luật Đất đai năm 2013, phạm vi bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất được thực hiện trong các trường hợp sau:
Trường hợp thứ nhất: Nhà nước thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an
ninh Theo quy định tại Điều 61 Luật Đất đai năm 2013, các trường hợp Nhà nước thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh gồm: Đất được sử dụng làm nơi đóng quân, trụ sở làm việc; Xây dựng căn cứ quân sự; Xây dựng công trình phòng thủ quốc gia, trận địa và công trình đặc biệt về quốc phòng, an ninh; Xây dựng ga, cảng quân sự; Xây dựng công trình công nghiệp, khoa học và công nghệ, văn hóa, thể thao phục vụ trực tiếp cho quốc phòng, an ninh; Xây dựng kho tàng của lực lượng
vũ trang nhân dân; Làm trường bắn, thao trường, bãi thử vũ khí, bãi hủy vũ khí; Xây dựng cơ sở đào tạo, trung tâm huấn luyện, bệnh viện, nhà an dưỡng của lực lượng vũ trang nhân dân; Xây dựng nhà công vụ của lực lượng vũ trang nhân dân; Xây dựng cơ sở giam giữ, cơ sở giáo dục do Bộ Quốc phòng, Bộ Công an quản lý
Trường hợp thứ hai: Nhà nước thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội vì
lợi ích quốc gia, công cộng Điều 62 Luật Đất đai năm 2013 quy định rất rõ, Nhà nước thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng trong các trường hợp sau đây:
Một, thực hiện các dự án quan trọng quốc gia do Quốc hội quyết định chủ
trương đầu tư mà phải thu hồi đất;
Hai, thực hiê ̣n các dự án do Th ủ tướng Chính phủ chấp thuận, quyết định đầu
tư mà phải thu hồi đất, bao gồm: Dự án xây dựng khu công nghiệp, khu chế xuất,
Trang 3024
khu công nghệ cao, khu kinh tế; khu đô thị mới, dự án đầu tư bằng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA); Dự án xây dựng trụ sở cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương; trụ sở của tổ chức nước ngoài có chức năng ngoại giao; công trình di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh được xếp hạng, công viên, quảng trường, tượng đài, bia tưởng niệm, công trình sự nghiệp công cấp quốc gia; Dự án xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ thuật cấp quốc gia gồm giao thông, thủy lợi, cấp nước, thoát nước, điện lực, thông tin liên lạc; hệ thống dẫn, chứa xăng dầu, khí đốt; kho dự trữ quốc gia; công trình thu gom, xử lý chất thải;
Ba, thực hiê ̣n các dự án do Hội đồng nhân dân cấp tỉnh chấp thuận mà phải thu
chức chính trị - xã hội; công trình di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh được xếp hạng, công viên, quảng trường, tượng đài, bia tưởng niệm, công trình sự
phương gồm giao thông, thủy lợi, cấp nước, thoát nước, điện lực, thông tin liên lạc,
phục vụ sinh hoạt chung của cộng đồng dân cư; dự án tái định cư, nhà ở cho sinh viên, nhà ở xã hội, nhà ở công vụ; xây dựng công trình của cơ sở tôn giáo; khu văn hóa, thể thao, vui chơi giải trí phục vụ công cộng; chợ; nghĩa trang, nghĩa địa, nhà
chỉnh trang đô thị, khu dân cư nông thôn; cụm công nghiệp; khu sản xuất, chế biến nông sản, lâm sản, thủy sản, hải sản tập trung; dự án phát triển rừng phòng hộ, rừng đặc dụng; Dự án khai thác khoáng sản được cơ quan có thẩm quyền cấp phép, trừ trường hợp khai thác khoáng sản làm vật liệu xây dựng thông thường, than bùn, khoáng sản tại các khu vực có khoáng sản phân tán, nhỏ lẻ và khai thác tận thu khoáng sản
Về đối tượng được hưởng bồi thường khi nhà nước thu hồi đất chính là những người sử dụng đất có đất bị thu hồi Theo quy định tại Khoản 2 Điều 2 Nghị định số 47/2014/NĐ-CP ngày 15/05/2014 quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất thì đối tượng được bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất và
Trang 3125
quy định tại Điều 5 Luật Đất đai năm 2013 thì đối tượng được bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất gồm:
Thứ nhất, tổ chức trong nước gồm cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang nhân
dân, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức kinh tế, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức sự nghiệp công lập và tổ chức khác theo quy định của pháp luật về dân sự (sau đây gọi chung
là tổ chức);
Thứ hai, hộ gia đình, cá nhân trong nước (sau đây gọi chung là hộ gia đình, cá
nhân); Cộng đồng dân cư gồm cộng đồng người Việt Nam sinh sống trên cùng địa bàn thôn, làng, ấp, bản, buôn, phum, sóc, tổ dân phố và điểm dân cư tương tự có cùng phong tục, tập quán hoặc có chung dòng họ;
Thứ ba, cơ sở tôn giáo gồm chùa, nhà thờ, nhà nguyện, thánh thất, thánh
đường, niệm phật đường, tu viện, trường đào tạo riêng của tôn giáo, trụ sở của tổ chức tôn giáo và cơ sở khác của tôn giáo;
Thứ tư, tổ chức nước ngoài có chức năng ngoại giao gồm cơ quan đại diện
ngoại giao, cơ quan lãnh sự, cơ quan đại diện khác của nước ngoài có chức năng ngoại giao được Chính phủ Việt Nam thừa nhận; cơ quan đại diện của tổ chức thuộc Liên hợp quốc, cơ quan hoặc tổ chức liên chính phủ, cơ quan đại diện của tổ chức liên chính phủ;
Thứ năm, người Việt Nam định cư ở nước ngoài theo quy định của pháp luật
về quốc tịch;
Thứ sáu, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài gồm doanh nghiệp 100% vốn đầu
tư nước ngoài, doanh nghiệp liên doanh, doanh nghiệp Việt Nam mà nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần, sáp nhập, mua lại theo quy định của pháp luật về đầu tư
Tất cả những đối tượng này đều phải có đất bị Nhà nước thu hồi và phải đáp ứng được những điều kiện nhất định theo quy định của pháp luật
2.1.3 Điều kiện được bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất
Để được hưởng bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất thì người đang
sử dụng đất phải đáp ứng các điều kiện sau:
Trang 3226
Điều kiện cần: Việc thu hồi đất phải thuộc trường hợp Nhà nước thu hồi đất
vì mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng Bởi theo quy định của Điều 75 Luật Đất đai năm 2013 thì không phải cứ có đất bị Nhà nước thu hồi là sẽ được bồi thường Các trường hợp bị thu hồi đất còn lại như thu hồi đất do vi phạm pháp luật về đất đai; thu hồi đất do chấm dứt việc sử dụng đất theo pháp luật, tự nguyện trả lại đất, có nguy cơ đe dọa tính mạng con người sẽ không được Nhà nước bồi thường, trừ trường hợp pháp luật quy định khác
Điều kiện đủ: Đối tượng đang sử dụng đất bị Nhà nước thu hồi phải đảm bảo
các điều kiện về chứng minh mình có quyền sử dụng đối với diện tích đất bị Nhà nước thu hồi như có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc các giấy tờ khác có giá trị chứng minh Điều kiện này được quy định tại Điều 75 Luật Đất đai năm
2013 Cụ thể như sau:
Đối với hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất không phải là đất thuê trả tiền thuê đất hàng năm, có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, Giấy chứng nhận quyền
sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền
sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (sau đây gọi chung là Giấy chứng nhận) hoặc có đủ điều kiện để được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền
sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của Luật Đất đai năm
2013 mà chưa được cấp (trừ trường hợp đất nông nghiệp đã sử dụng trước ngày 01 tháng 7 năm 2004 mà người sử dụng đất là hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp nhưng không có Giấy chứng nhận hoặc không đủ điều kiện để được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất); người Việt Nam định cư ở nước ngoài thuộc đối tượng được sở hữu nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở tại Việt Nam mà có Giấy chứng nhận hoặc
có đủ điều kiện được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở
và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của Luật Đất đai năm 2013 mà chưa được cấp
Đối với cộng đồng dân cư , cơ sở tôn giáo , tín ngưỡng đang sử dụng đất mà không phải là đất do Nhà nước giao, cho thuê và có Giấy chứng nhận hoặc có đủ
Trang 3327
điều kiện để được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của Luật Đất đai năm 2013 mà chưa được cấp
Đối với người Việt Nam định cư ở nước ngoài được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất, cho thuê đất trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê; nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất trong khu công nghiệp, cụm công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế, có Giấy chứng nhận hoặc có đủ điều kiện được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của Luật Đất đai năm 2013 mà chưa được cấp
Đối với tổ chức được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất, cho thuê đất trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê; nhận thừa kế quyền sử dụng đất, nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất mà tiền sử dụng đất đã nộp, tiền nhận chuyển nhượng đã trả không có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước, có Giấy chứng nhận hoặc có đủ điều kiện được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của Luật Đất đai năm 2013 mà chưa được cấp
Đối với tổ chức nước ngoài có chức năng ngoại giao được Nhà nước cho thuê đất trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê và có Giấy chứng nhận hoặc có đủ điều kiện cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của Luật Đất đai năm 2013 mà chưa được cấp Đối với tổ chức kinh tế, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp
có vốn đầu tư nước ngoài được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất để thực hiện dự án đầu tư xây dựng nhà ở để bán hoặc bán kết hợp cho thuê; cho thuê đất trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê, có Giấy chứng nhận hoặc có đủ điều kiện cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của Luật Đất đai năm 2013 mà chưa được cấp
2.1.4 Các khoản bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất
Khi Nhà nước thu hồi đất, Nhà nước sẽ tiến hành bồi thường cho người sử dụng đất ở hai khía cạnh Một là bồi thường về đất, chi phí đầu tư còn lại vào đất khi Nhà nước thu hồi đất Hai là bồi thường tài sản có trên đất bị thu hồi
Trang 34bộ hoặc một phần của các khoản chi phí như: Chi phí san lấp mặt bằng; Chi phí cải tạo làm tăng độ màu mỡ của đất, thau chua rửa mặn, chống xói mòn, xâm thực đối với đất sử dụng vào mục đích sản xuất nông nghiệp; Chi phí gia cố khả năng chịu lực chống rung, sụt lún đất đối với đất làm mặt bằng sản xuất kinh doanh; Chi phí khác có liên quan đã đầu tư vào đất phù hợp với mục đích sử dụng đất
Để xác định được chi phí đầu tư còn lại vào đất cần có hồ sơ, chứng từ chứng minh đã đầu tư vào đất Trường hợp chi phí đầu tư vào đất còn lại không có hồ sơ, chứng từ chứng minh thì Ủy ban nhân dân Tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi là Ủy ban nhân dân cấp Tỉnh) căn cứ tình hình thực tế tại địa phương quy định việc xác định chi phí đầu tư vào đất còn lại Chi phí đầu tư vào đất còn lại được tính phải phù hợp với giá thị trường tại thời điểm có quyết định thu hồi đất và được xác định theo công thức được ghi nhận tại phụ lục số 1
Theo như đã trình bày trong phần nguyên tắc bồi thường khi thu hồi đất Việc bồi thường được thực hiện bằng việc giao đất có cùng mục đích sử dụng với loại đất thu hồi, nếu không có đất để bồi thường thì được bồi thường bằng tiền theo giá đất
cụ thể của loại đất thu hồi do Ủy ban nhân dân cấp Tỉnh quyết định tại thời điểm quyết định thu hồi đất
Tùy thuộc vào từng loại đất bị thu hồi mà Nhà nước ta đã đưa ra các phương
án bồi thường khác nhau Điều này được quy định khá chi tiết tại các Điều 77, Điều
78, Điều 79, Điều 80 và Điều 81 Luật Đất đai năm 2013 Cụ thể:
Trường hợp bồi thường về đất, chi phí đầu tư vào đất còn lại khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng
Trang 3529
đất nông nghiệp khi Nhà nước thu hồi đất thì được bồi thường về đất, chi phí đầu tư vào đất còn lại theo quy định sau đây: Diện tích đất nông nghiệp được bồi thường bao gồm diện tích trong hạn mức theo quy định tại Điều 129, Điều 130 của Luật Đất đai năm 2013 và diện tích đất do được nhận thừa kế; Đối với diện tích đất nông nghiệp vượt hạn mức quy định tại Điều 129 của Luật Đất đai năm 2013 thì không được bồi thường về đất nhưng được bồi thường chi phí đầu tư vào đất còn lại; Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất nông nghiệp vượt hạn mức nhận chuyển quyền
sử dụng đất trước ngày 01 tháng 7 năm 2014 do được thừa kế, tặng cho, nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất từ người khác theo quy định của pháp luật mà đủ điều kiện được bồi thường thì được bồi thường, hỗ trợ theo diện tích thực tế mà Nhà nước thu hồi Đối với đất nông nghiệp đã sử dụng trước ngày 01 tháng 7 năm 2004
mà người sử dụng đất là hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp nhưng không có Giấy chứng nhận hoặc không đủ điều kiện để được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của Luật Đất đai năm 2013 thì được bồi thường đối với diện tích đất thực tế đang sử dụng, diện tích được bồi thường không vượt quá hạn mức giao đất nông nghiệp quy định tại Điều 129 của Luật Đất đai năm 2013
Trường hợp bồi thường về đất, chi phí đầu tư vào đất còn lại khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp của tổ chức kinh tế, tổ chức sự nghiệp công lập tự chủ tài chính, cộng đồng dân cư, cơ sở tôn giáo Tổ chức kinh tế đang sử dụng đất nông
nghiệp được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất, cho thuê đất trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê, nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất, nếu có đủ điều kiện được bồi thường quy định tại Điều 75 của Luật Đất đai năm 2013 thì được bồi thường về đất; mức bồi thường về đất được xác định theo thời hạn sử dụng đất còn lại Tổ chức kinh tế, tổ chức sự nghiệp công lập
tự chủ tài chính đang sử dụng đất nông nghiệp được Nhà nước cho thuê trả tiền thuê đất hàng năm khi Nhà nước thu hồi đất thì không được bồi thường về đất nhưng được bồi thường chi phí đầu tư vào đất còn lại nếu chi phí này không có nguồn gốc
từ ngân sách nhà nước Trường hợp đất nông nghiệp không phải là đất rừng đặc
Trang 3630
dụng, đất rừng phòng hộ, đất rừng sản xuất là rừng tự nhiên của tổ chức kinh tế đã giao khoán cho hộ gia đình, cá nhân theo quy định của pháp luật khi Nhà nước thu hồi đất thì hộ gia đình, cá nhân nhận khoán không được bồi thường về đất nhưng được bồi thường chi phí đầu tư vào đất còn lại
Đối với đất nông nghiệp sử dụng trước ngày 01 tháng 7 năm 2004 (ngày Luật Đất đai năm 2003 có hiệu lực thi hành) có nguồn gốc không phải là đất do được Nhà nước giao không thu tiền sử dụng đất, đất do được Nhà nước cho thuê trả tiền thuê đất hàng năm, có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc đủ điều kiện để được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định tại Điều 100 và Điều 102 của Luật Đất đai năm 2013 thì được bồi thường về đất theo quy định tại Khoản 2 Điều 74 của Luật Đất đai năm
2013 Đối với đất nông nghiệp sử dụng có nguồn gốc do được Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất, cho thuê đất trả tiền thuê đất hàng năm thì không được bồi thường về đất nhưng được bồi thường chi phí đầu tư vào đất còn lại (nếu có)
Trường hợp bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất ở Hộ gia đình, cá
nhân đang sử dụng đất ở, người Việt Nam định cư ở nước ngoài đang sở hữu nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất tại Việt Nam khi Nhà nước thu hồi đất ở mà có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc đủ điều kiện để được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của pháp luật về đất đai thì việc bồi thường về đất được thực hiện như sau: Trường hợp thu hồi hết đất ở hoặc phần diện tích đất ở còn lại sau thu hồi không đủ điều kiện để ở theo quy định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh mà hộ gia đình, cá nhân không còn đất ở, nhà ở nào khác trong địa bàn xã, phường, thị trấn nơi có đất ở thu hồi thì được bồi thường bằng đất ở hoặc nhà ở tái định cư Trường hợp thu hồi hết đất ở hoặc phần diện tích đất ở còn lại sau thu hồi không đủ điều kiện để ở theo quy định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh mà hộ gia đình, cá nhân còn đất ở, nhà ở khác trong địa bàn xã, phường, thị trấn nơi có đất ở thu hồi thì được bồi thường bằng tiền Đối với địa phương có điều kiện về quỹ đất ở thì được xem xét để bồi thường bằng đất ở
Trang 3731
Trường hợp trong hộ gia đình mà trong hộ có nhiều thế hệ, nhiều cặp vợ chồng cùng chung sống trên một thửa đất ở thu hồi nếu đủ điều kiện để tách thành từng hộ gia đình riêng theo quy định của pháp luật về cư trú hoặc có nhiều hộ gia đình có chung quyền sử dụng một (01) thửa đất ở thu hồi thì Ủy ban nhân dân cấp tỉnh căn cứ vào quỹ đất ở, nhà ở tái định cư và tình thực tế tại địa phương quyết định mức đất ở, nhà ở tái định cư cho từng hộ gia đình
Hộ gia đình, cá nhân, người Việt Nam định cư ở nước ngoài thuộc các trường hợp nêu trên mà không có nhu cầu bồi thường bằng đất ở hoặc bằng nhà ở tái định
cư thi được Nhà nước bồi thường bằng tiền
Đối với hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất gắn liền với nhà ở thuộc trường hợp phải di chuyển chỗ ở nhưng không đủ điều kiện được bồi thường về đất ở, nếu không có chỗ ở nào khác trong địa bàn xã, phường, thị trấn nơi có đất ở thu hồi thì được Nhà nước bán, cho thuê, cho thuê mua nhà ở hoặc giao đất ở có thu tiền sử dụng đất Giá bán, cho thuê, cho thuê mua nhà ở; giá đất ở tính tiền sử dụng đất khi Nhà nước giao đất do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định
Trường hợp trong thửa đất ở thu hồi còn diện tích đất nông nghiệp không được công nhận là đất ở thì hộ gia đình, cá nhân có đất thu hồi được chuyển mục đích sử dụng đất đối với phần diện tích đất đó sang đất ở trong hạn mức giao đất ở tại địa phương, nếu hộ gia đình, cá nhân có nhu cầu và việc chuyển mục đích sang đất ở phù hợp với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt Hộ gia đình, cá nhân khi chuyển mục đích sử dụng đất phải thực hiện nghĩa vụ tài chính theo quy định của pháp luật về thu tiền sử dụng đất; thu tiền thuê đất, thuê mặt nước
Tổ chức kinh tế, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đang sử dụng đất để thực hiện dự án xây dựng nhà ở khi Nhà nước thu hồi đất, nếu có đủ điều kiện được bồi thường quy định tại Điều 75 của Luật Đất đai thì việc bồi thường thực hiện theo quy định sau đây: Trường hợp thu hồi một phần diện tích đất của dự án mà phần còn lại vẫn đủ điều kiện để tiếp tục thực hiện dự án thì được bồi thường bằng tiền đối với phần diện tích đất thu
Trang 3832
hồi; Trường hợp thu hồi toàn bộ diện tích đất hoặc thu hồi một phần diện tích đất của dự án mà phần còn lại không đủ điều kiện để tiếp tục thực hiện dự án thì được bồi thường bằng đất để thực hiện dự án hoặc bồi thường bằng tiền; Đối với dự án đã đưa vào kinh doanh khi Nhà nước thu hồi đất thì được bồi thường bằng tiền
Trường hợp bồi thường về đất, chi phí đầu tư vào đất còn lại khi Nhà nước thu hồi đất phi nông nghiệp không phải là đất ở của hộ gia đình, cá nhân Hộ gia đình,
cá nhân đang sử dụng đất phi nông nghiệp không phải là đất ở khi Nhà nước thu hồi đất, nếu có đủ điều kiện được bồi thường quy định tại Điều 75 của Luật Đất đai năm
2013 thì được bồi thường bằng đất có cùng mục đích sử dụng; trường hợp không có đất để bồi thường thì được bồi thường bằng tiền theo thời hạn sử dụng đất còn lại đối với đất sử dụng có thời hạn
Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất phi nông nghiệp không phải là đất ở được Nhà nước cho thuê đất thu tiền thuê đất hàng năm; cho thuê đất trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê nhưng được miễn tiền thuê đất, khi Nhà nước thu hồi đất thì không được bồi thường về đất nhưng được bồi thường chi phí đầu tư vào đất còn lại, trừ trường hợp hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất do thực hiện chính sách đối với người có công với cách mạng
Trường hợp bồi thường về đất, chi phí đầu tư vào đất còn lại khi Nhà nước thu hồi đất phi nông nghiệp không phải là đất ở của tổ chức kinh tế, tổ chức sự nghiệp công lập tự chủ tài chính, cộng đồng dân cư, cơ sở tôn giáo, tín ngưỡng, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức nước ngoài có chức năng ngoại giao, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài Tổ chức kinh tế, người Việt Nam định cư ở nước
ngoài đang sử dụng đất phi nông nghiệp không phải là đất ở, đất nghĩa trang, nghĩa địa, khi Nhà nước thu hồi đất, nếu có đủ điều kiện được bồi thường quy định tại Điều 75 của Luật Đất đai năm 2013 thì được bồi thường bằng đất có cùng mục đích
sử dụng; trường hợp không có đất để bồi thường thì được bồi thường bằng tiền theo thời hạn sử dụng đất còn lại
Tổ chức kinh tế đang sử dụng đất được Nhà nước giao đất để làm nghĩa trang, nghĩa địa quy định tại khoản 4 Điều 55 của Luật Đất đai năm 2013; doanh nghiệp
Trang 3933
liên doanh sử dụng đất phi nông nghiệp không phải là đất ở do nhận góp vốn bằng quyền sử dụng đất quy định tại Điều 184 của Luật Đất đai năm 2013, khi Nhà nước thu hồi đất thì được bồi thường về đất theo quy định của Chính phủ
Tổ chức kinh tế, tổ chức sự nghiệp công lập tự chủ tài chính, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức nước ngoài có chức năng ngoại giao, doanh nghiệp
có vốn đầu tư nước ngoài đang sử dụng đất phi nông nghiệp được Nhà nước cho thuê đất trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê, khi Nhà nước thu hồi đất nếu
đủ điều kiện được bồi thường quy định tại Điều 75 của Luật Đất đai năm 2013 thì được bồi thường về đất theo thời hạn sử dụng đất còn lại
Tổ chức kinh tế, tổ chức sự nghiệp công lập tự chủ tài chính, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức nước ngoài có chức năng ngoại giao, doanh nghiệp
có vốn đầu tư nước ngoài đang sử dụng đất phi nông nghiệp được Nhà nước cho thuê đất trả tiền thuê đất hàng năm, khi Nhà nước thu hồi đất thì được bồi thường chi phí đầu tư vào đất còn lại
Cộng đồng dân cư, cơ sở tôn giáo, tín ngưỡng đang sử dụng đất phi nông nghiệp, khi Nhà nước thu hồi đất mà có đủ điều kiện được bồi thường quy định tại Điều 75 của Luật Đất đai năm 2013 thì được bồi thường về đất theo quy định của Chính phủ
Thứ hai, bồi thường thiệt hại về tài sản, về sản xuất, kinh doanh
Bên cạnh việc bồi thường về đất và các chi phí đầu tư vào đất còn lại thì khi thu hồi đất, Nhà nước còn xem xét bồi thường thiệt hại về tài sản, về sản xuất, kinh doanh cho những đối tượng có đất bị thu hồi Theo đó, các khoản bồi thường này gồm có:
Một, bồi thường thiệt hại về nhà, công trình xây dựng trên đất khi Nhà nước thu hồi đất Đối với nhà ở, công trình phục vụ sinh hoạt gắn liền với đất của hộ gia
đình, cá nhân, người Việt Nam định cư ở nước ngoài khi Nhà nước thu hồi đất phải tháo dỡ toàn bộ hoặc một phần mà phần còn lại không bảo đảm tiêu chuẩn kỹ thuật theo quy định của pháp luật thì chủ sở hữu nhà ở, công trình đó được bồi thường bằng giá trị xây dựng mới của nhà ở, công trình có tiêu chuẩn kỹ thuật tương
Trang 40Bộ quản lý chuyên ngành ban hành Khoản tiền tính bằng tỷ lệ phần trăm theo giá trị hiện có của nhà, công trình do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định, nhưng mức bồi thường không quá 100% giá trị xây dựng mới của nhà, công trình có tiêu chuẩn
kỹ thuật tương đương với nhà, công trình bị thiệt hại
Đối với công trình hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội gắn liền với đất đang sử dụng không thuộc trường hợp nêu trên thì mức bồi thường tính bằng giá trị xây dựng mới của công trình có tiêu chuẩn kỹ thuật tương đương theo quy định của pháp luật chuyên ngành
Hai, bồi thường đối với cây trồng, vật nuôi Khi Nhà nước thu hồi đất mà gây
thiệt hại đối với cây trồng thì việc bồi thường thực hiện theo quy định sau đây: Đối với cây hàng năm, mức bồi thường được tính bằng giá trị sản lượng của vụ thu hoạch Giá trị sản lượng của vụ thu hoạch được tính theo năng suất của vụ cao nhất trong 03 năm trước liền kề của cây trồng chính tại địa phương và giá trung bình tại thời điểm thu hồi đất; Đối với cây lâu năm, mức bồi thường được tính bằng giá trị hiện có của vườn cây theo giá ở địa phương tại thời điểm thu hồi đất mà không bao gồm giá trị quyền sử dụng đất; Đối với cây trồng chưa thu hoạch nhưng có thể di chuyển đến địa điểm khác thì được bồi thường chi phí di chuyển và thiệt hại thực tế
do phải di chuyển, phải trồng lại; Đối với cây rừng trồng bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước, cây rừng tự nhiên giao cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân trồng, quản lý,