1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quy định của pháp luật và thực tiễn giải quyết việc làm đối với Người khuyết tật ở Việt Nam hiện nay

12 166 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 24,45 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Người khuyết tật ( NKT) là đối tượng chịu nhiều thiệt thòi trong xã hội, chính vì thế, việc bảo vệ, chăm sóc, giáo dục và tạo việc làm cho người khuyết tật, giúp họ vượt qua những khó khăn, hòa nhập vào đời sống cộng đồng, xã hội là những hoạt động có ý nghĩa kinh tế, chính trị, xã hội và nhân văn sâu sắc. Đã từ lâu, Đảng và Nhà nước ta dành rất nhiều sự quan tâm cho đối tượng này, bằng những chính sách ưu tiên, ưu đãi, ngày càng có nhiều NKT được giúp đỡ để vượt qua những khó khăn, bất hạnh trong cuộc sống... Tuy nhiên, do số lượng NKT ở nước ta còn nhiều (hơn 5.3 triệu người) , họ vẫn còn gặp nhiều khó khăn trên con đường làm chủ cuộc sống và hoà nhập cộng đồng, đặc biệt là vấn đề việc làm. Để hiểu thêm về vấn đề này thì em xin đi sâu vào tìm hiểu vấn đề: “Quy định của pháp luật và thực tiễn giải quyết việc làm đối với NKT ở Việt Nam hiện nay”.

Trang 1

A LỜI MỞ ĐẦU

Người khuyết tật ( NKT) là đối tượng chịu nhiều thiệt thòi trong xã hội, chính vì thế, việc bảo vệ, chăm sóc, giáo dục và tạo việc làm cho người khuyết tật, giúp

họ vượt qua những khó khăn, hòa nhập vào đời sống cộng đồng, xã hội là những hoạt động có ý nghĩa kinh tế, chính trị, xã hội và nhân văn sâu sắc Đã từ lâu, Đảng và Nhà nước ta dành rất nhiều sự quan tâm cho đối tượng này, bằng những chính sách ưu tiên, ưu đãi, ngày càng có nhiều NKT được giúp đỡ để vượt qua những khó khăn, bất hạnh trong cuộc sống Tuy nhiên, do số lượng NKT ở nước ta còn nhiều (hơn 5.3 triệu người) , họ vẫn còn gặp nhiều khó khăn trên con đường làm chủ cuộc sống và hoà nhập cộng đồng, đặc biệt là vấn đề việc làm Để hiểu thêm về vấn đề này thì em xin đi sâu vào tìm hiểu vấn đề:

“Quy định của pháp luật và thực tiễn giải quyết việc làm đối với NKT ở Việt Nam hiện nay”.

B NỘI DUNG

I Quy định của pháp luật về việc làm đối với NKT

1 Khái niệm, nguyên tắc và ý nghĩa của việc làm đối với NKT

a) Khái niệm về việc làm đối với người khuyết tật.

Theo quy định tại khoản 1 Điều 2 Luật Người Khuyết tật thì NKT được

hiểu là : “ Người bị khiếm khuyết một hay nhiều bộ phận cơ thể hoặc bị suy giảm chức năng được biểu hiện dưới dạng tật khiến cho lao động, sinh hoạt, học tập gặp khó khăn”

Việc làm có thể được hiểu là những hoạt động lao động có tính chất thường xuyên liên tục và mang tính nghề nghiệp, do những người lao động thực hiện trong thời gian tương đối ổn định và phạm vi nhất định nhằm tạo ra thu nhập và hoạt động đó phải là hoạt động hợp pháp Từ khái niệm này thì ta có

thể hiểu việc làm đối với NKT là : “Các hoạt động tạo ra thu nhập cho người khuyết tật và không bị pháp luật cấm” Tuy nhiên, việc làm cho NKT là đề cập

dưới góc độ cơ hội việc làm cho họ Việc làm ở đây bao gồm cả việc tiếp nhận

Trang 2

đào tạo nghề, được tiếp nhận việc làm và các loại nghề nghiệp và cả điều kiện

sử dụng lao động cũng như đảm bảo việc làm

Như vậy, theo quy định pháp luật thì NKT được tạo cơ hội việc làm bình đẳng như những người lao động khác

b) Nguyên tắc cơ bản của việc làm đối với NKT

● Nguyên tắc không phân biệt đối xử đối với NKT trong lĩnh vực việc làm:

NKT bị khiếm khuyết nên có được việc làm đối với họ rất khó khăn Thực tế hiện nay những người sử dụng lao động không muốn nhận những NKT mặc dù trong luật có quy định bởi vì năng suất lao động của NKT thấp hơn so với người không khuyết tật, hơn nữa trong một số trường hợp sử dụng lao động khuyết tật thì người sử dụng lao động còn phải đầu tư cơ sở vật chất để tạo môi trường làm việc thuận lợi cho NKT Chính điều này tạo nên sự phân biệt đối xử việc làm giữa NKT và người không khuyết tật Do vậy cần có nguyên tắc để giữa người không khuyết tật với NKT không chịu sự phân biệt đối xử

● Nguyên tắc hỗ trợ, điều chỉnh hợp lý đối với NKT trong lĩnh vực việc làm

Điều 13, Bộ Luật Lao động năm 1994 ( Sửa đổi năm 2007) Đại học Luật

Hà Nội, Giáo trình Luật người khuyết tật Việt Nam, NKT là một trong những đối tượng lao động đặc thù Do những đặc điểm về thể chất nên họ gặp nhiều khó khăn trong tìm kiếm việc làm cũng như duy trì việc làm, hơn thế họ cần được làm việc trong một môi trường đặc thù, riêng biệt phù hợp với sức khỏe

Để NKT bình đẳng như người khác về cơ hội việc làm cũng như duy trì nó thì cần phải có sự hỗ trợ, điều chỉnh hợp lý cho NKT để họ có thể tìm kiếm được việc làm và có được việc làm bền vững, được thực hiện quyền việc làm của mình Những hỗ trợ đặc biệt nhằm tạo cơ hội bình đẳng và đối xử bình đẳng giữa lao động khuyết tật với lao động không khuyết tật không bị coi là phân biệt đối xử mà chỉ là việc làm nhằm tạo điều kiện để NKT được bình đẳng ngang bằng với những người lao động khác, giúp họ tái hòa nhập với cộng đồng Để việc hỗ trợ, điều chỉnh này được đảm bảo thực thi trên thực tế thì Nhà nước với

tư cách là chủ thể quyền lực phải chịu trách nhiệm chình trong việc hỗ trợ, điều

Trang 3

chỉnh này Bản thân NKT cũng phải có những cố gắng nhất định và người sử dụng lao động cũng phải có trách nhiệm hỗ trợ một phần

2 Ý nghĩa của việc làm đối với NKT

■ Việc làm giúp người khuyết tật có thu nhập và cuộc sống ổn định

Từ xa xưa, theo quan niệm truyền thống và đạo đức thì người ta thường nhìn nhận NKT là một đối tượng yếu thế cần được trợ giúp, họ thường sống dựa vào gia đình, xã hội, cộng đồng Chính vì thế xã hội và những người thân cần phải giúp đỡ, hỗ trợ họ Tuy nhiên, chính thái độ này làm cho NKT cảm thấy mình là người “ ăn bám, gánh nặng” Do vậy, nếu NKT có việc làm thì đời sống vật chất và tinh thần của họ sẽ được nâng cao: Họ có thu nhập để nuôi sống bản thân không cần phải sống dựa vào người khác, thậm chí họ còn hỗ trợ gia đình, đóng góp cho xã hội Các nhìn về người lao động cũng sẽ thay đổi, họ trở thành một chủ thể của xã hội, cũng có quyền được làm việc, được đóng góp, cống hiến sức lao động của mình cho xã hội như bao người bình thường khác

■ Việc làm giúp NKT hòa nhập vào cộng đồng và tự tin hơn vào cuộc sống:

Những NKT do những khiếm khuyết về thể chất và tinh thần và thái độ của xã hội dành cho họ nên đa số NKT luôn trong tình trạng tự ti, mặc cảm với

số phận kém may mắn, phó mặc số phận cho ông trời và chỉ biết dựa vào gia đình hoặc của cộng đồng, họ ngại hòa nhập với cuộc sống, họ không tự tin trong cuộc sống, thu hẹp mình lại, ngại giao tiếp Chính vì thế nếu có việc làm, được đóng góp sức mình vào sự phát triển chung của xã hội thì NKT sẽ cảm thấy tự tin trong cuộc sống, có ý chí vươn lên trong 5 cuộc sống và lao động như những người bình thường khác và có thể hòa nhập được với cộng đồng bởi trong môi trường làm việc thì họ được tiếp xúc với nhiều người, được đóng góp sức của mình, cảm thấy mình có ích Bên cạnh đó thì việc làm cũng xây dựng lòng tin

và tạo ra các kênh tương tác xã hội, từ đó mang lại lòng tự hào và nhân phẩm cho người khuyết tật

■ Việc làm cho NKT góp phần phát huy nguồn lực cho xã hội:

Trang 4

NKT là một bộ phận cấu thành của xã hội không thể tách rời và họ cũng

có trách nhiệm trong việc tham gia vào các hoạt động của cộng đồng, đóng góp sức mình vào sự phát triển chung của cả xã hội và cũng được hưởng những thành quả khoa học- công nghệ Nhưng do những khiếm khuyết về thể chất và tinh thần mà họ gặp rất nhiều khó khăn và cản trở khi tham gia vào các hoạt động cộng đồng Việc có việc làm sẽ giúp họ đóng góp được sức mình Tuy nhiên, nếu được tạo điều kiện thuận lợi và tự mình vươn lên thì người khuyết tật

có thể sống, hoạt động và phát huy được năng lực và nguồn lực, đóng góp vào

sự phát triển nền kinh tế đất nước

2 Chế độ làm việc của NKT

2.1 Quyền và nghĩa vụ của NKT trong lĩnh vực việc làm

NKT khi tham gia vào các quan hệ lao động thì trở thành chủ thể của quan hệ lao động, chính vì vậy, NKT cũng có những quyền và nghĩa vụ giống như những người lao động không bị khuyết tật ở trong các lĩnh vực như tuyển dụng lao động, giao kết hợp đồng, sử dụng lao động, bảo đảm việc làm Tuy nhiên do những khiếm khuyết về thể chất hoặc tinh thần mà pháp luật có một số quy định riêng đối với NKT nhằm tạo những cơ hội, điều kiện phù hợp Cụ thể là khi tham gia vào quan hệ lao động thì NKT được giảm giờ làm, “Thời giờ làm việc của người tàn tật không được quá bảy giờ một ngày hoặc 42 giờ một tuần”5 Đặc biệt, để bảo vệ sức khỏe cho NKT thì pháp luật còn quy định : “Người sử dụng lao động không được sử dụng lao động là người tàn tật làm những công việc nặng nhọc, nguy hiểm hoặc tiếp xúc với các chất độc hại theo danh mục do

Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội và Bộ Y tế ban hành”6 , “Cấm sử dụng người tàn tật đã bị suy giảm khả năng lao động từ 51% trở lên làm thêm giờ, làm việc ban đêm”7 Như vậy, nhìn ở một góc độ nào đó thì những quy định pháp luật trên là nhằm bảo vệ NKT, đảm bảo sức khỏe của họ Tuy nhiên, những quy định pháp luật trên lại chình là rào cản đối với họ bởi thực tế người

sử dụng lao động sẽ không muốn sử dụng lao động là NKT bởi năng suất lao động của NKT thấp hơn người không khuyết 5 Khoản 4, Điều 125 Bộ luật lao

Trang 5

động Việt Nam 1994 ( sửa đổi năm 2007) 6 Khoản 3, Điều 127 Bộ luật lao động Việt Nam 1994 ( sửa đổi năm 2007) 7 Khoản 2, Điều 127 Bộ luật lao động Việt Nam 1994 ( sửa đổi năm 2007) 6 tật, và để sử dụng lao động là NKT thì cần phải đầu tư cơ sở vật chất kỹ thuật để người khuyết tật có môi trường làm việc thuận lợi, tránh rủi ro Bởi vậy, trong thời gian tới chúng ta cần thay đổi những quy định trên cho phù hợp và đảm bảo hiện quả thực thi

2.2 Chế độ hỗ trợ đối với người khuyết tật trong lĩnh vực việc làm Do NKT thường có những khiếm khuyết về thể chất hoặc tinh thần mà năng suất lao động của họ thường thấp hơn so với những người không khuyết tật Chính điều này mà những người sử dụng lao động thường không muốn nhận NKT vào cơ

sở sản xuất của mình Để tạo cơ hội cho những NKT có việc làm thì nhà nước ta

có những chính sách hỗ trợ, ưu đãi đối với các doanh nghiệp này Cụ thể tại Điều 34 Luật người khuyết tật có quy định : “ Cơ sở sản xuất, kinh doanh sử dụng từ 30% tổng số lao động trở lên là người khuyết tật được hỗ trợ cải tạo điều kiện, môi trường làm việc phù hợp cho người khuyết tật; được miễn thuế thu nhập doanh nghiệp; được vay vốn với lãi suất ưu đãi theo dự án phát triển sản xuất kinh doanh; được ưu tiên cho thuê đất, mặt bằng, mặt nước và miễn, giảm tiền thuê đất, mặt bằng, mặt nước phục vụ sản xuất, kinh doanh theo tỷ lệ lao động là người khuyết tật, mức độ khuyết tật của người lao động và quy mô doanh nghiệp”8 Bên cạnh đó thì pháp luật còn quy định các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương lập quỹ việc làm cho người khuyết tật để giúp NKT phục hồi chức năng lao động và tạo việc làm Quỹ này được sử dụng với mục đích

là : cấp hỗ trợ cho các cơ sở sản xuất kinh doanh dành riêng cho người khuyết tật để xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật ban đầu, duy trì việc dạy nghề và phát triển sản xuất, để từ đó các doanh nghiệp sẽ nhận nhiều người khuyết tật vào làm việc Bên cạnh đó thì còn chính sách cho vay với lãi suất thấp đối với các đối tượng : Cơ sở dạy nghề, cơ sở sản xuất kinh doanh dành riêng cho người tàn tật; Cá nhân và nhóm lao động là người tàn tật; Cơ sở dạy nghề có nhận người tàn tật vào học nghề; Doanh nghiệp nhận số lao động là người tàn tật vào làm

Trang 6

việc cao hơn tỷ lệ quy định trong luật; Các hoạt động phục hồi chức năng lao động cho người tàn tật Cơ sở dạy nghề và những cơ sở sản xuất kinh doanh dành riêng cho NKT “có trên 51% số lao động là người khuyết tật, có quy chế hoặc điều lệ phù hợp với đối tượng là động là người tàn tật” 9 được giúp cơ sở vật chất ban đầu về nhà xưởng, trường, lớp, trang thiết bị, được miễn thuế, được vay vốn với lãi suất thấp 2.3 Trách nhiệm của một số chủ thể trong lĩnh vực việc làm đối vớ cạnh đó thì nhà nước còn có trách nhiệm tạo điều kiện để NKT phục hồi chức năng lao động, được tư vấn việc làm miễn phí, có việc làm và việc làm phù hợp với sức khỏe Điều này được ghi nhận tại điều 33 Luật Người khuyết tật và tại điều 125 Bộ luật lao động có quy định : “ Nhà nước bảo hộ quyền làm việc của người tàn tật và khuyến khích việc thu nhận, tạo việc làm cho người tàn tật Hàng năm, thì nhà nước dành một khoản ngân sách để giúp người tàn tật phục hồi sức khỏe, phục hồi chức năng lao động, học nghề và có chính sách cho vay với lãi suất thấp để người tàn tật tự tạo việc làm và tự ổn định đời sống”

■ Trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân: Giải quyết việc làm cho NKT không chỉ là trách nhiệm của nhà nước mà còn là trách nhiệm của toàn xã hội Cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân vì vậy cũng phải có trách nhiệm giải quyết việc làm cho NKT Cụ thể:

+ Các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân không được từ chối tuyển dụng NKT có đủ tiêu chuẩn tuyển dụng và làm việc hoặc đặt ra tiêu chuẩn tuyển dụng trái quy định của pháp luật nhằm hạn chế cơ hội việc làm của NKT Các doanh nghiệp phải có trách nhiệm nhận tỉ lệ lao động là NKT đối với một số ngành nghề công việc theo quy định của pháp luật hoặc đóng góp một khoản tiền theo quy định của chính phủ vào quỹ việc làm để góp phần giải quyết việc làm cho NKT

+ Các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân có trách nhiệm bố trí sắp xếp công việc, bảo đảm điều kiện và môi trường làm việc phù hợp cho NKT, đồng thời phải thực hiện đầy đủ các quy định của pháp luật về lao động với NKT Tổ

Trang 7

chức việc làm có trách nhiệm giới thiệu việc làm và tư vấn học nghề, việc làm cho NKT

IV Thực tiễn giải quyết việc làm đối với NKT ở Việt Nam hiện nay

Tỷ lệ NKT có việc làm rất thấp

Trong số 5.3 triệu NKT thì có 60% trong độ tuổi lao động, số còn khả năng lao động chiếm 40%, số đang tham gia lao động chỉ có 30%, khoảng 3% chưa đào tào nghề Người có việc làm phù hợp và ổn định chỉ chiếm 15% là một con số quá ít

Hơn 80% NKT sống ở nông thông, phần lớn họ sống cùng gia đình Số

có làm việc thì đại bộ phận là lao động thủ công như: Làm tăm tre, chổi đót, đan lát, trồng trọt và chăn nuôi….Họ làm việc cùng nhau trong tổ, nhóm ở cùng một thôn, bản, làng, xóm nhưng cũng có thể làm việc làm việc theo đơn lẻ tại gia đình Hiện cả nước có hơn 400 cơ sở này, với khoảng 20.000 lao động NKT đang làm việc với qui mô lớn, nhỏ khác nhau

Thứ nhất, quy định của pháp luật: Pháp luật lao động quy định các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế phải nhận từ 2-3% lao động là người tàn tật vào làm việc tùy theo loại hình doanh nghiệp, doanh nghiệp không nhận đủ tỷ lệ lao động là người tàn tật theo quy định phải đóng một khoản tiền vào Quỹ việc làm cho NKT Nếu thực hiện đúng như quy định này thì với hàng triệu doanh nghiệp trên cả nước, con số lao động khuyết tật được tạo việc làm là rất đáng kể Và trong trường hợp số doanh nghiệp nhận người khuyết tật ít ỏi như hiện nay thì theo quy định trên, Quỹ việc làm cho NKT sẽ thu được số tiền không nhỏ Quy định, chính sách về cơ bản đã đủ nhưng việc thực thi trên thực

tế lại rất khó khăn bởi việc kiểm tra giám sát chưa được quan tâm thực hiện và chưa có một chế tài xử lý những trường hợp doanh nghiệp chưa tuân thủ quy định Bởi vậy, dù đã trải qua hàng chục năm thực hiện quy định này (kể từ khi Nghị định 81/CP được ban hành năm 1995), vẫn tồn tại nghịch lý số doanh nghiệp nhận đủ người khuyết tật vào làm tính trên đầu ngón tay, nhưng Quỹ

Trang 8

việc làm cho NKT ở hầu hết các địa phương đều trống; nhiều cơ sở dành riêng cho NKT thì lại lao đao vì thiếu các nguồn hỗ trợ Bên cạnh đó thì Tình trạng sử dụng lao động khuyết tật không có hợp đồng lao động, không có bảo hiểm xã hội, sự vi phạm về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi, về an toàn vệ sinh lao động,… còn xảy ra khá phổ biến Hơn thế, công tác thanh kiểm tra còn lỏng lẻo, việc xử lý vi phạm còn bị xem nhẹ, việc tuyên truyền phổ biến pháp luật trong đối tượng này còn chưa thường xuyên và chưa sâu rộng Bên cạnh đó thì quy định cấm xe 3 bánh chở hàng, nhưng đồng thời lại chưa có giải pháp tháo gỡ thỏa đáng khiến một bộ phận NKT sống bằng nghề chở hàng xe ba bánh mất việc, không có thu nhập và cũng chưa chuyển đổi nghề khác phù hợp Đi lại bằng giao thông công cộng thì xe buýt không tiếp cận được, thái độ phục vụ còn thờ ơ Đến đi lại bằng đường hàng không còn trường hợp bị từ chối phục vụ Khó khăn trong đi lại đồng nghĩa với khó khăn tìm kiếm việc làm Thứ hai, về phía cơ sở sản xuất, kinh doanh: Do NKT có những khiếm khuyết về thể chất và tinh thần nên luật có những quy định nhằm bảo vệ sức khỏe cho họ như về thời gian làm việc, về điều kiện làm việc….Nhìn ở khía cạnh nào đó thì nó bảo vệ NKT nhưng trên thực tế những quy định này chính là rào cản đối với NKT bởi

so với người bình thường thì năng suất lao động của NKT thấp hơn nhưng người sử dụng lao động vẫn phải trả mức lương như người bình thường, ngoài

ra khi sử dụng lao động là NKT thì người sử dụng lao động còn phải đầu tư cơ

sở vật chất kỹ thuật để tạo môi trường làm việc cho 11 NKT Chính vì điều này

mà các cơ sở sản xuất kinh doanh rất ít khi nhận lao động là NKT Trên thực tế việc làm dành cho NKT vẫn chủ yếu được tạo ra từ các cơ sở kinh doanh dành riêng cho họ, tức là những cơ sở có trên 51% lao động là NKT hoặc trong các tổ chức, cơ sở mang tính nhân đạo, từ thiện, rất ít người tìm được việc làm và làm việc ổn định trong các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp Thống kê năm 2008, đã

có 15.000 lao động là NKT làm việc ổn định trong 400 cơ sở sản xuất, kinh doanh của thương binh và NKT Phần đông NKT là lao động tự do Đặc biệt ở

Trang 9

các vùng nông thôn, NKT chủ yếu tham gia vào công việc nhà nông là chính Một số ít tham gia buôn bán nhỏ

Thứ ba, về phía người khuyết tật: Bản thân NKT chưa đáp ứng được yêu cầu tuyển dụng của các doanh nghiệp, đồng thời do tính chất sản xuất, kinh doanh các doanh nghiệp cũng khó khăn trong việc bố trí việc làm phù hợp với sức khoẻ, đặc điểm của người khuyết tật, nhất là các doanh nghiệp hoạt động trong các ngành nghề đặc thù như luyện kim, hoá chất, địa chất, đo đạc bản đồ, dầu khí, khai thác mỏ, khai thác khoáng sản, xây dựng cơ bản, vận tải Theo số liệu thống kê của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (LĐ-TB & XH) năm

2001, có 97.64% NKT ở Việt Nam không được đào tạo qua trường lớp chính thức, trong đó 1,22% đã có trình độ kỹ thuật đủ để đáp ứng nhu cầu công việc, 0,53% mới tốt nghiệp từ những trường dạy nghề và chỉ có 0,61% tốt nghiệp từ các trường cao đẳng và đại học Thực trạng này dẫn đến tỷ lệ NKT không tìm được việc làm khá cao: 41,86% ở Đồng bằng sông Hồng và 35,77% ở phía Đông Nam đồng bằng sông Cửu Long Trong số người tàn tật từ 15 tuổi trở lên chỉ có 29% người tàn tật trả lời là có khả năng lao động, trong số này có gần 75% tham gia hoạt động kinh tế, tuy nhiên cũng chỉ có 47,5% đủ việc làm, 37,2% thiếu việc làm và 15,3% chưa có việc làm Thu nhập của những người có việc làm cũng rất thấp, thấp hơn cả mức lương tối thiểu, đa số làm việc trong ngành nông nghiệp, nơi mà mức thu nhập thấp nhất Qua số liệu này có thể thấy vấn đề việc làm và thu nhập cho người tàn tật đang là vấn đề bức xúc cần được quan tâm Trong quá trình tiếp cận cơ hội học nghề, tìm việc làm, NKT gặp rất nhiều khó khăn Thiếu thông tin về học nghề, việc làm là một trong những trở ngại, nhất là người khiếm thính Để khắc phục cần có sự quan tâm của gia đình, đoàn thể, tổ chức hội, chính quyền địa phương giới thiệu, cung cấp thông tin cho NKT, những điều này không được như mong đợi

Các chính sách hỗ trợ việc làm cho người khuyết tật: Một biểu hiện cụ thể đấy chính là quỹ việc làm cho người khuyết tật Quỹ Việc làm cho người tàn tật dùng để hỗ trợ cho cơ sở dạy nghề, cơ sở SXKD dành riêng cho người khuyết

Trang 10

tật để xây dựng nhà xưởng, mua máy móc, thiết bị, duy trì dạy nghề và phát triển sản xuất Các cơ quan quản lý để đào tạo nâng cao năng lực đối với người làm công tác dạy nghề, tư vấn, giới thiệu việc làm cho người khuyết tật cũng được hưởng từ nguồn quỹ này Rất nhiều địa phương đã lập quỹ việc làm, điển hình như Quảng Ninh là địa phương đầu tiên trong cả nước thành lập được Quỹ Việc làm cho người tàn tật vào năm 2006 với tổng quỹ hiện nay là hơn 10 tỷ đồng nhưng đến nay Quỹ vẫn chưa phát huy được hiệu quả như mong muốn: cơ chế chi trả quỹ, hỗ trợ các dự án của các cơ sở có người khuyết tật chưa đồng

bộ, thống nhất, nhiều điểm còn chồng chéo Bởi vậy không ít các dự án dạy nghề hoặc việc làm rất có lợi cho người khuyết tật, phù hợp với đối tượng hỗ trợ của Quỹ nhưng lại vướng ở khâu hồ sơ, thủ tục Chính vì vậy, hiện nay Quỹ Việc làm cho người tàn tật vẫn còn tồn đọng hơn 9 tỷ đồng Việc làm của người khuyết tật gắn liền với đào tạo nghề, tuy nhiên việc đào tạo nghề cho người khuyết tật hiện nay vẫn còn nhiều khó khăn Một số trung tâm đào tạo nghề như Trường đào tạo nghề cho người khuyết tật quận Kiến An, Trường khiếm thính (quận Hải An), Trường nuôi dạy trẻ em khiếm thị (quận Ngô Quyền), điển hình

có tỉnh chỉ có một trung tâm đào tạo nghề cho người khuyết tật như Nghệ An ( Trung tâm dạy nghề người tàn tật Nghệ An) trong khi tỉnh có 203.000 người khuyết tật các loại, trong đó có khoảng 70.000 người khuyết tật có thể làm việc mong muốn được học nghề và có nghề để tự lập.… Kinh phí hỗ trợ đào tạo hạn hẹp, các trường phần lớn phải tự lo nên mới chỉ đào tạo một số nghề đơn giản, thủ công, …Sau khóa học, các trường có giới thiệu việc làm cho học sinh tại một số doanh nghiệp, nhưng chỉ một số được tiếp nhận vào các cơ sở sản xuất kinh doanh nhưng mức lương mà họ nhần rất thấp

III Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác giải quyết việc làm đối với NKT

■ Hoàn thiện các quy định pháp luật: + Luật có nhiều quy định riêng đối với

NKT khi họ tham gia vào quan hệ lao động nhưng vô hình chung những quy định đó trở thành rào cản Chính vì thế thay vì có những quy định như vậy thì

Ngày đăng: 13/11/2019, 16:56

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w