1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

SKKN vận dụng tích hợp ba phân môn và liên hệ với chương trình văn 10 và văn THCS

15 64 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 256,41 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong khuôn khổ bài viết này, tôi chỉ xin đưa ra một số kinh nghiệm nhỏ từ thực tế dạy học của bản thân trong việc “Vận dụng tích hợp ba phân môn và liên hệ với chương trình văn học lớp

Trang 1

Mẫu 1A

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

ĐỀ TÀI:

VẬN DỤNG TÍCH HỢP BA PHÂN MÔN

VÀ LIÊN HỆ VỚI CHƯƠNG TRÌNH VĂN HỌC LỚP 10

VÀ CHƯƠNG TRÌNH VĂN HỌC THCS TRONG GIẢNG DẠY MÔN NGỮ VĂN LỚP 11

Quảng Bình, tháng 01 năm 2019

Trang 2

Mẫu 1B

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

ĐỀ TÀI:

VẬN DỤNG TÍCH HỢP BA PHÂN MÔN

VÀ LIÊN HỆ VỚI CHƯƠNG TRÌNH VĂN HỌC LỚP 10

VÀ CHƯƠNG TRÌNH VĂN HỌC THCS TRONG GIẢNG DẠY MÔN NGỮ VĂN LỚP 11

Quảng Bình, tháng 01 năm 2019

Trang 3

1 PHẦN MỞ ĐẦU

1.1 Lý do chọn đề tài

Trong những năm gần đây, tích hợp - một xu thế dạy học hiện đại - được Bộ Giáo dục và Đào tạo chỉ đạo áp dụng trong dạy học, xem đây là nguyên tắc để tổ chức nội dung chương trình, biên soạn sách giáo khoa, lựa chọn phương pháp giảng dạy Do đó, trong những năm qua, khi thực hiện chương trình, sách giáo khoa mới, giáo viên bộ môn văn không còn xa lạ với nguyên tắc này

Chủ trương dạy học theo nguyên tắc tích hợp không còn là điều bàn cãi nữa Điều đáng quan tâm ở đây là phải tiếp cận, nghiên cứu và ứng dụng nguyên tắc này vào dạy học bộ môn Ngữ văn ở trường THPT như thế nào, nhằm lĩnh hội những nội dung, năng lực mà mỗi phân môn riêng rẽ không có được, tránh kiến thức, kĩ năng trùng lặp, phát huy hiệu quả nhằm nâng cao năng lực sử dụng kiến thức, kĩ năng mà học sinh lĩnh hội, học sinh có khả năng huy động hiệu quả kiến thức, kĩ năng này để giải quyết các tình huống phong phú trong đời sống Việc vận dụng nguyên tắc tích hợp trong dạy học đã góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy của giáo viên và chất lượng học tập của học sinh

Thế nhưng trong thực tế, ta thấy một số giáo viên còn lúng túng khi dạy học theo hướng tích hợp Việc giảng dạy theo nguyên tắc tích hợp không được thường xuyên thực hiện Về phía học sinh cũng không ý thức sâu sắc về nguyên tắc tích hợp trong học tập

Tích hợp đặt ra nhiều vấn đề phong phú trong đó có tích hợp ba phân môn, tích hợp kĩ năng sống, tích hợp nội dung bảo vệ môi trường, tích hợp tư tưởng Hồ Chí Minh Trong khuôn khổ bài viết này, tôi chỉ xin đưa ra một số

kinh nghiệm nhỏ từ thực tế dạy học của bản thân trong việc “Vận dụng tích hợp ba phân môn và liên hệ với chương trình văn học lớp 10 và chương trình văn học THCS trong giảng dạy môn Ngữ văn lớp 11” mà bản thân tôi

tâm đắc

1.2 Phạm vi áp dụng đề tài

Sáng kiến được áp dụng trong thực tế giảng dạy môn Ngữ văn lớp 11 tại trường THPT Phan Đình Phùng - Đồng Hới - Quảng Bình năm học 2017-2018, 2018-2019

Trang 4

2 PHẦN NỘI DUNG

2.1 Thực trạng dạy học tích hợp môn Ngữ văn ở trường THPT

Tích hợp có nghĩa là sự hợp nhất, sự hòa nhập, sự kết hợp Nội hàm khái niệm tích hợp có thể hiểu một cách khái quát là sự nhất thể hóa đưa đến một đối tượng mới như là một thể thống nhất trên những nét bản chất nhất của các thành phần đối tượng chứ không phải là phép cộng giản đơn những thuộc tính của các thành phần đó Không thể gọi là tích hợp nếu các tri thức, kĩ năng chỉ tác động riêng rẽ, không có sự liên kết, phối hợp với nhau trong lĩnh vực nội dung hay giải quyết một vấn đề, một tình huống

Trong dạy học, tích hợp được hiểu là sự kết hợp hữu cơ, có hệ thống, ở những mức độ khác nhau, các kiến thức, kĩ năng thuộc các môn khác nhau hoặc các hợp phần của bộ môn thành nội dung thống nhất, dựa trên cơ sở các mối liên hệ về lí luận và thực tiễn được đề cập đến trong các môn học hoặc các hợp phần của bộ môn đó

Trong chương trình bộ môn ngữ văn THPT vào năm 2002, Bộ Giáo dục

và Đào tạo đã chỉ ra rằng: Tích hợp là sự phối hợp cac tri thức gần gũi, có quan

hệ mật thiết với nhau trong thực tiễn, để chúng hỗ trợ và tác động vào nhau nhằm tạo nên kết quả tổng hợp nhanh chóng và vững chắc”

Nguyên tắc tích hợp trong dạy học môn ngữ văn được thực hiện bằng cách liên thông chương trình đang học với chương trình lớp dưới và trong mối liên kết giữa các phân môn đọc hiểu văn bản, Tiếng Việt, làm văn và giữa ba phương diện kiến thức, kĩ năng, thái độ

Cơ sở của việc tích hợp này là: Tiếng Việt là nền tảng của văn học và làm văn, làm văn là phần thực hành của Tiếng Việt, phần văn bản văn học là tinh hoa của Tiếng Việt do các bậc thầy văn chương thực hiện Hơn nữa, đọc văn và làm văn vốn gắn bó với nhau Khi học sinh đọc hiểu văn bản, học sinh cần biết khái quát, diễn đạt chính xác các ấn tượng đã tiếp nhận, tức là phải có năng lực làm văn và năng lực sử dụng tiếng Việt để hổ trợ Mặt khác, việc đọc văn tốt sẽ giúp học sinh học tập kinh nghiệm lập bố cục, viết mở bài, kết bài,

sử dụng từ ngữ, hình ảnh và như vậy học sinh sẽ có điều kiện nâng cao năng lực viết văn hơn

Ba bộ phận đọc hiểu, Tiếng Việt và làm văn gắn bó với nhau trong một chỉnh thể, đảm bảo tính hệ thống, kế thừa, hỗ trợ cho nhau nhằm tạo ra kết quả đào tạo thống nhất nhằm tiết kiệm thời gian, góp phần giảm tải và tránh lãng phí Dạy học tích hợp khiến bài dạy linh hoạt hơn, khắc phục lối dạy học khép kín trong nội bộ phân môn

Dạy học tích hợp làm cho việc học tập có ý nghĩa hơn, giúp học sinh học tập chủ động, hình thành thói quen kỹ năng tư duy tổng hơp, liên kết, giúp phát

Trang 5

triển năng lực giải quyết những vấn đề, những tình huống phong phú, mới mẻ trong đời sống

Giáo viên có chú trọng đến nguyên tắc tích hợp trong dạy học và học sinh biết cách học theo lối tích hợp, biết kết nối với chương trình các lớp dưới,

từ bài học này nghĩ tới bài học khác có liên quan thì sẽ khắc sâu kiến thức hơn,

sẽ ghi nhớ kiến thức lâu hơn

Như đã phân tích ở trên, dạy học tích hợp là một tất yếu trong dạy học

bộ môn Ngữ văn Thế nhưng, việc vận dụng phương pháp này trong thực tế không phải lúc nào cũng đạt hiệu quả Từ thực tế giảng dạy, chúng ta dễ dàng nhận thấy trong nội dung và phương thức giảng dạy môn Văn ở nhà trương hiện nay đang tồn tại những hạn chế sau:

- Về phía giáo viên, có khi chúng ta chưa chú trọng thực hiện thường xuyên nguyên tắc này dẫn đến việc khai thác bài dạy thiếu tính hệ thống, thiếu chiều sâu,làm cho chất lượng bài dạy không đạt,các đơn vị kiến thức được tích hợp không có mối liên hệ gắn bó và chưa biết hướng dẫn học sinh cách thức tích hợp phù hợp với từng đơn vị bài học, phương pháp giảng dạy của giáo viên đôi lúc cứng nhắc, khô khan khiến các em học sinh không còn thấy hứng thú trong giờ học văn

- Về phía học sinh, do tác động từ xu hướng chung của xã hội nên học sinh đua nhau thi vào các ngành học thuộc khối A, B với hi vọng ra trường sẽ

dễ có việc làm hơn và có thu nhập cao hơn nên học sinh đa phần đều xem nhẹ

bộ môn ngữ văn Hơn nữa, nội dung kiến thức cần tiếp nhận thì rất nhiều mà học sinh thì chưa biết cách tích hợp, không nhận ra được sự gắn kết của các đơn vị kiến thức trong SGK, một vấn đề mà người biên soạn sách rất lưu tâm không cảm nhận được chiêu sâu, những vẻ đẹp riêng của mỗi tác phảm văn học trong hệ thống thể loại, đề tài, chủ đề khiến đa phần các em không thấy yêu thích giờ học văn Khi đến lớp, học sinh không chuẩn bị kĩ càng cho bài học, hay học vẹt, đối phó với các lần kiểm tra Tâm lí thụ động khi tiếp nhận tri thức còn phổ biến Học sinh chưa biết phát huy tính tích cực, chưa chủ động liên hệ tìm hiểu với những vấn đề có liên quan đã học từ trước

2.2 Cách thức thực hiện

2.2.1 Mục tiêu chung

Giáo viên cần nhận thức thấu đáo và thường trực vấn đề này trong tư duy dạy học

Cần đầu tư cho bài dạy kĩ càng, trong quá trình soạn bài thì cần chú ý rằng qua tiết học này học sinh sẽ thu nhận được kiến thức, kĩ năng gì về đọc hiểu, Tiếng Việt, làm văn và những hiểu biết về cuộc sống, kĩ năng sống

Khi soạn bài, giáo viên cần tìm hiểu những bài học có liên quan ở chương trình THCS

Trang 6

Trong khâu hướng dẫn học sinh chuẩn bị bài mới, cần hướng học sinh đến việc tìm hiểu những bào học có liên quan ở những năm học trước

Hướng dẫn học sinh chiếm lĩnh những tri thứ, kĩ năng đặc thù của từng phân môn, từng bài cụ thể, đồng thời biết khai thác những yếu tố có mối liên

hệ giữa các phân môn, các bài học khác cùng loại

2.2.2 Vận dụng nguyên tắc tích hợp các phân môn trong tiết dạy đọc hiểu văn bản văn học

Khai thác khía cạnh ngữ âm, ngữ nghĩa, tình hình tượng của ngôn ngữ, hiệu quả biểu đạt ngôn ngữ giúp học sinh cảm nhận được cái hay, cái đẹp của tác phẩm

Khai thác kết cấu tác phẩm giúp học sinh hình thành kiến thức đặc trưng thể loại và kĩ năng tạo lập văn bản

Ví dụ như khi giảng dạy bài thơ “Từ ấy” của Tố Hữu, giáo viên cần giúp học sinh hiểu được niềm sung sướng, say mê mãnh liệt của người thanh niên trong buổi đầu bắt gặp lí tưởng cộng sản và tác dụng diệu kì của lí tưởng đó đến cuộc đời của nhà thơ Học sinh cũng nhận thấy được hiệu quả nghệ thuật của các biệ pháp tu từ được sử dụng như ẩn dụ, so sánh:

“ Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ Mặt trời chân lí chói qua tim”

và các hình ảnh thơ tươi sáng, ngôn ngữ thơ giàu nhịp điệu Ngoài ra qua bài thơ này, học sinh nắm được kĩ năng phân tích một bài thơ trữ tình Học sinh thấy cần phải chọn cho mình một lẽ sống đúng đắn, gắn bó chan hòa, đồng cảm cùng mọi người

Khi hướng dẫn học sinh lĩnh hội đọan trích “Về luân lí xã hội ở nước ta” (trích “Đạo đức và luân lí Đông Tây” của tác phẩm Phan Châu Trinh), giáo viên giúp học sinh hiểu được lòng yêu nước, tư tưởng tiến bộ của Phan Châu Trinh trong việc đề cao tinh thần đoàn thể, hướng đến ngày mai tươi sáng của dân tộc Qua đoạn trích, học sinh còn nhận thấy được cách sử dụng ngôn ngữ rất khéo léo của tác giả góp phần bộ lộ sắc thái tình cảm của nhà văn Đó có khi là thái độ lên án gay gắt lũ vua quan ham quyền tước, ham bả vinh hoa thể hiện khá rõ qua các cụm từ gọi tên bọn chúng như “bọn thượng lưu”, “lũ ăn cướp có giấy phép” Có những cụm từ ẩn chứa tình cảm đồng bào, tình cảm dân tộc sâu nặng như “ người nước ta”, “người mình”, “ông cha mình”, “anh em”, “người trong một làng đối với nhau” Ngoài ra, văn bản này là một bài học thiết thực để học sinh học tập nghệ thuật viết văn chính luận: lập luận chặt chẽ, chứng cứ cụ thể, xác thực, lời văn sinh động lúc từ tốn mềm mỏng, lúc kiên quyết đanh thép

Trang 7

2.2.3 Vận dụng nguyên tắc tích hợp trong tiết dạy Tiếng Việt

Sử dụng thích hợp các tác phẩm mà học sinh được tiếp nhận trong tiết đọc hiểu văn bản làm nguồn ngữ liệu phong phú để hình thành khái niệm, kĩ năng liên quan đến Tiếng Việt hoặc làm ngữ liệu để học sinh làm các bài tập nhận diện đơn vị ngôn ngữ

Cần đặt yếu tố ngôn ngữ đó trong văn cảnh cụ thể của tác phẩm để hiểu đúng

Có thể đặt các yếu tố ngôn ngữ trong các tình huống đời sống để so sánh

mở rộng giúp học sinh khắc sâu kiến thức

Chẳng hạn như khi dạy bài “Đặc điểm loại hình của Tiếng Việt”, để giúp học sinh hiểu được đặc điểm “Từ Tiếng Việt không biến đổi hình thái” , giáo viên có thể chọn ngữ liệu trích từ một câu ca dao mà học sinh đã được học

ở lớp 10:

“ Mình ơi có nhớ ta chăng

Ta như sao Vượt chờ trăng giữa trời”

Phân tích ngữ liệu nay, học sinh sẽ nhận thấy từ “ta” ở dòng trên (giữ vai trò là phụ ngữ chỉ đối tượng của “nhớ”) và từ “ta” ở dòng thứ hai (giữ vai trò là chủ ngữ) hoàn toàn không có sự đổi thay xét về ngữ âm và sự thể hiện bằng chữ viết

Chẳng hạn như dạy bài “Thực hành về thành ngữ, điển cố”, giáo viên đã

có nguồn tài liệu phong phú từ chính các tác phẩm văn học trung đại mà học sinh đã học trong chương trình trước đó Giáo viên có thể ra bài tập yêu cầu học sinh nhận diện thành ngữ có trong đoạn trích “Trao duyên” và “Nỗi thương mình” (đều trích từ “Truyện Kiều” của Nguyễn Du) mà học sinh đã được học trong tiết đọc văn hoặc yêu cầu học sinh tìm các điển cố có trong đoạn trích “Nỗi thương mình” và đoạn trích “Chí khí anh hùng” Giáo viên có thể chia lớp thành 2 nhóm, yêu cầu các nhóm thảo luận và cử đại diện lên bảng ghi ra tất cả các thành ngữ, điển cố có trong các ngữ liệu quen thuộc đó Trong đoạn trích “Nỗi thương mình” (trích từ “Truyện Kiều”), học sinh sẽ tìm được khá nhiều điển cố như “lá gió cành chim”, “Tống Ngọc, Trường Khanh”, “mưa

Sở, mây Tần”, còn ở đoạn trích “Chí khí anh hùng “ cũng trích từ “Truyện Kiều”, học sinh sẽ chỉ ra các điển cố như “lòng bốn phương”, “phận gái chữ tòng”, “nghi gia”, cánh chim bằng Giáo viên sẽ kiểm tra kết quả của hai nhóm

đề xem nhóm nào tìm được nhiều đơn vị ngôn ngữ theo yêu cầu nhất nhằm tạo bầu không khí sôi nổi trong giờ học Qua bài tập này, học sinh không chỉ được củng cố kiến thức về thành ngữ, điển cố mà còn nhớ lại nội dung bài đọc hiểu

đã học

2.2.4 Vận dụng nguyên tắc tích hợp trong tiết dạy làm văn

Giáo viên sử dụng các văn bản trong phần đọc hiểu văn bản như là dữ liệu cơ sở cho học sinh lĩnh hội kiến thức, kĩ năng làm văn Ví dụ như để tổ

Trang 8

chức giảng dạy bài “Tiểu sử tóm tắt”, giáo viên có thể chọ phần tiểu dẫn giới thiệu các nhà văn, nhà thơ trong bài đọc hiểu văn bản làm ngữ liệu để hướng dẫn học sinh tìm hiểu cách thức viết tiểu sử tóm tắt Khi tổ chức giảng dạy bài

“Thao tác lập luận phân tích”, giáo viên có thể chọn bài viết của Xuân Diệu về bài thơ “Thu điếu” làm ngữ liệu, một mặt vừa giúp học sinh có dữ liệu thích hợp để tìm hiểu cách thức phân tích, mặt khác vừa giúp cho học sinh có dịp củng cố lại kiến thức về nội dung, nghệ thuật đã học trong phân đọc hiểu bài

“Thu điếu” trước đó

Ngoài việc sử dụng các văn bản trong phân đọc hiểu văn bản làm ngữ liệu để học sinh lĩnh hội kiến thức, kĩ năng làm văn, giáo viên có thể ra các đề bài tập xoay quang các ngữ liệu từ tiết đọc hiểu để củng cố kiến thức, kĩ năng cho phần làm văn Ví dụ như khi học bài “Thao tác lập luận so sánh”, giáo viên

có thể chọn một trong các đề luyện tập sau có liên quan đến các tác phẩm đã học:

- Yêu cầu so sánh bối cảnh không gian và thời gian trong bài “Tự tình II” của Hồ Xuân Hương và trong đoạn trích “Nỗi thương mình” (trích từ

“Truyện Kiều” của Nguyễn Du) để thấy được điểm giống và khác nhau trong cảnh ngộ và tâm trạng mổi người

- Yêu cầu học sinh so sánh để tìm ra điểm giống nhau khi khắc hoạ hình ảnh người phụ nữ thời phong kiến trong bài “Tự tình II” của Hồ Xuân Hương

và bài “Thương vợ” của Trần Tế Xương để thấy hai bài thơ trên là những vần thơ đáng quý của Văn Học VN trung đại Qua những vần thơ ấy, hình ảnh người phụ nữ VN xưa kia hiện lên thật rõ nét, thật đẹp đẽ, cao quí nhưng chứa đựng đầy chua xót, đắng cay Tất cả đều nói chung về thân phận bé nhỏ, số phận chìm nổi, bèo bọt, bị lệ thuộc vào XH của người phụ nữ xưa kia Qua sự khắc hoạ hình ảnh người phụ nữ thời phong kiến Hồ Xuân Hương và Trần Tế Xương đã đóng góp không nhỏ vào tiếng nói, tiếng khóc chung để đòi quyền sống, quyền tự do, hạnh phúc cho một nửa nhân lọai, những con người gánh vác trọng trách duy sự sống loài người trên trái đất

- So sánh hai khúc tráng ca của hai thời đại là “Bình Ngô đại cáo” của Nguyễn Trãi và “Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc” của Nguyễn Đình Chiểu để học sinh rút ra tiêu chí và căn cứ so sánh từ đó học sinh thấy được hai bài văn, hai cảnh ngộ, hai thời buổi nhưng một dân tộc Bài ca của Nguyễn Trãi là khúc ca khải hoàn, ca ngợi chiến công oanh liệt chưa từng thấy Bài văn tế Nghĩa sĩ cần giuộc là khúc ca những người anh hùng thất thế nhưng vẫn hiên ngang

- Vận dụng thao tác so sánh để tìm hiểu hình ảnh bóng tối và ánh sáng thể hiện qua cảnh cho chữ trong truyện ngắn “Chữ người tử tù” của Nguyễn Tuân và cảnh phố huyện trong đêm ở truyện ngắn “Hai đứa trẻ” của Thạch

với một tần số lớn, ánh sáng đều biểu tượng cho những điều tốt đẹp còn bóng tối biểu tượng cho hiện thực đen tối, nghiệt ngã Ánh sáng và bóng tối ở cả hai tác phẩm đều tồn tại trong thế giao tranh với nhau một cách gay gắt và đều

Trang 9

được xây dựng bằng bút pháp tương phản đối lập đặc trưng của chủ nghĩa lãng

sống tù đọng, quẩn quanh nơi phố huyện vừa được sử dụng như phông nền chính nhằm làm nổi bật ba loại ánh sáng: Ánh sáng nơi phố huyện - những quầng sáng giới hạn, nhỏ nhoi, leo lét, những hột sáng tượng trưng cho số phận mòn mỏi của những con ngưòi nơi đây; Ánh sáng đô thị - vừa là quá khứ, vừa là tương lai, là miền mơ ước của hai đứa trẻ; Ánh sáng con tàu - ánh sáng thức tỉnh đời sống tỉnh lẻ, như một cầu nối từ hiện tại (ánh sáng phố huyện) về quá khứ (ánh sáng đô thị), rồi hướng tới tương lai (ánh sáng đô thị) Từ đây ánh sáng, bóng tối không còn mang nghĩa thực nữa mà mang nghĩa biểu tượng, biểu tượng của ước mơ, của khát khao hạnh phúc và những điều tốt đẹp trong cuộc sống.Còn với Nguyễn Tuân, cảm hứng thẩm mỹ của ông bắt nguồn từ cái đẹp lớn lao, cái cao cả, bi hùng hoặc mô tả những nhân cách lớn nên thủ pháp nghệ thuật cũng xây dựng dựa trên sự đối lập gay gắt, ánh sámg và bóng tối cũng được sử dụng nhằm miêu tả những tương phản mạnh mẽ, những chuyển biến bất ngờ, đột ngột Đó vừa là một thủ pháp trong xây dựng tình huống truyện, vừa là sự dẫn dắt đi đến kết thúc của sự chiến thắng giữa chân

lý, cái đẹp với cái xấu, cái ác

- So sánh cái ngông của Nguyễn Công Trứ trong “Bài ca ngất ngưởng”

nhau là hai nhà thơ đều ngông trong cách lựa chọn đề tài, nội dung, ngông trong cách thể hiện những nôi dung đề tài đó, ngông trong cách sử dụng ngôn ngữ, hình ảnh, và đặc biệt ngông thể hiện cái Tôi rất riêng, đầy phong cách Còn điểm khác nhau là ở Nguyễn Công Trứ cái Ngông thể hiện trong cách lựa chọn đề tài (hưởng lạc), phong cách ngông nghênh, đạo mạo của một người vượt lên trên tất cà những khen chê của dư luận Đặc biệt cái tôi cái tài của cá nhân luôn đề cao khẳng định

Trời đất cho ta một cái tài Giắt lưng thơ thẩn tháng ngày chơi Còn Tản Đà do sống trong xã hôi thực dân nữa phong kiến, ông ngông làm ngược đời là để thể hiện mình trong sạch, khẳng định nhân cách, tài năng của bản than, vì vậy ta bắt gặp trong những sáng tác của ông là sự đan xen giữa

“tỉnh - mộng” “tỉnh – say” Ông mộng để gặp được người lí tưởng, vì mộng nên ông muốn ngông để khác đời Giữa ngông và mộng có mối quan hệ khăng khít, cái này làm tiền đề cho cái kia Chính cái ngông ấy mà dã hình thành cho mình nột thế giới mộng riêng Khi ông mộng là lúc ông được sống trong cuộc đời mới mẻ, đẹp đẽ do ông tự vẽ ra Vì mộng mới ngông, ngông để mà mộng

2.2.5 Liên hệ với các tác phẩm trong chương trình văn học lớp 10 và chương trình THCS

Kiến thức văn học ở bậc THPT có tính kế thừa, nối tiếp, phát triển Vì vậy mà giáo viên khi dạy các tác phẩm trong chương trình THPT cần gợi học sinh nhớ lại những tác phẩm, những kiến thức đã tích lũy trong các bài học

Trang 10

Tiếng Việt và làm văn trong chương trình văn học lớp 10 và chương trình văn học THCS có liên quan

Ở bài đọc hiểu văn học, giáo viên có thể hướng dẫn học sinh liên hệ giữa tác phẩm đang học với các tác phẩm đã học trước đây trên cơ sở chúng có mối quan hệ tương đồng về nội dung hoặc giống nhau về thể loại hoặc là những tác phẩm của cùng một nhà thơ, nhà văn Ví dụ như khi hướng dẫn học sinh học đoạn trích “Vào phủ chúa Trịnh ” (trích “Thượng kinh kí sự” của Lê Hữu Trác), giáo viên gợi học sinh nhớ lại đọan trích “Chuyện cũ trong phủ chúa Trịnh” (trích “Vũ trung tùy bút” của Phạm Đình Hổ) do có nét tương đồng về nội dung nói về cuộc sống xa hoa quyền quý, hưởng lạc của chúa Trịnh Sâm

Khi tổ chức cho học sinh đọc thêm đoạn trích “Cha con nghĩa nặng” của

Hồ Biểu Chánh, giáo viên gợi ý để học sinh liên hệ so sánh tình cảm cha con Trần Văn Sửu với tình cảm cha con giữa anh Sáu và bé Thu trong tác phẩm

“Chiếc lược ngà” của nhà văn Nguyễn Quang Sáng mà các em đã học ở lớp 9 Học sinh sẽ có cảm nhận sâu sắc về tình yên thương con của Trần Văn Sửu và lòng hiếu thảo của Tí Khi nhắc đến “Chiếc lược ngà”, học sinh sẽ không quên tình cha con sâu nặng của anh Sáu và bé Thu trong hoàn cảnh éo le của chiến tranh, trong cuộc sống nhiều gian khổ, hi sinh của người cán bộ cách mạng Hai tác phẩm cùng đề cập đến cùng một đề tài được thể hiện trong những hoàn cảnh khác nhau của đời sống đã giúp cho học sinh thấy rằng ở thời đại nào đi nữa thì tình cảm cha con cũng vẫn mãi là tình cảm thiêng liêng, cao đẹp của con người, từ đó góp phần giáo dục các em tình cảm trân trọng, yêu thương đấng sinh thành ra mình trong cuộc đời

Sau đây là tổng hợp phần liên hệ tác phẩm đang học ở lớp 11 với các tác phẩm văn học lớp 10 và các tác phẩm ở phần đọc hiểu ở THCS:

- Đoạn trích “Vào phủ chúa Trinh” có mối liên hệ đến đoạn trích

“Chuyện cũ trong phủ chúa Trịnh” (trích “Vũ trung tùy bút” của Phạm Đình Hổ) ở sách Ngữ văn lớp 9 về nội dung đề tài

- Bài “Chiếu cầu hiền” của Ngô thì Nhậm có mối liên hệ đến bài “Chiếu dời đô” của Lí Công Uẩn ở sách ngữ văn lớp 8 do cùng thể loại

- Bài “Chữ người tử tù” của Nguyễn Tuân có mối liên hệ đến bài “Ông đồ” của Vũ Đình Liên ở sách ngữ văn lớp 8 khi đề cập đến nghệ thuật viết thư pháp

- Đoạn trích “Cha con nghĩa nặng” của Hồ Biểu Chánh có mối liên hệ đến bài “Chiếc lược ngà” của Nguyễn Quang Sáng ở sách ngữ văn lớp 9 do cùng đề tài

- Bài “Tràng giang” có mối liên hệ đến bài “Đoàn thuyền đánh cá” ở sách ngữ vă lớp 9 do cùng một tác giả sáng tác nhưng khác nhau về cảm hứng sáng tác và âm hưởng thơ trong hai giai đoạn khác nhau (Trước và sau cách mạng tháng Tám)

Ngày đăng: 13/11/2019, 11:01

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w