Cùng với sự phát triển chung của Thế Giới, nền kinh tế của Việt Nam cũng đang có những bước chuyển mình mạnh mẽ. Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đang diễn ra hết sức khẩn trương, bộ mặt xã hội có nhiều chuyển biến tích cực. Tuy nhiên gia tăng dân số cùng với quá trình công nghiệp hóa đã và đang gây sức ép lớn cho môi trường, đặc biệt là vấn đề nước thải. Là một thành phố trẻ có vị trí quan trọng của vùng cửa ngõ miền Bắc và vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc. Trong những năm gần đây kinh tế Ninh Bình liên tục tăng trưởng ở mức 2 con số, năm 2010 chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh xếp thứ 1163, liên tục nằm trong nhóm tỉnh đứng đầu miền Bắc. Có được kết quả như vậy là do những năm gần đây Ninh Bình không ngừng đẩy mạnh công nghiệp hóa – hiện đại hóa để phát triển kinh tế hơn nữa. Đóng góp vào sự phát triển kinh tế chung của toàn tỉnh những năm gần đây Kim Sơn cũng có bước chuyển mình mạnh mẽ về kinh tế. Đó là do Kim Sơn là huyện ven biển thuần khiết đồng bằng, nên đã đầu tư phát triển kinh tế biển, tạo ra sự đang dạng trong ngành nghề sản xuất, tạo ra nhiều của cải vật chất. Tuy nhiên, bên cạnh những lợi thế to lớn về mặt kinh tế, xã hội đó lại kéo theo nhu cầu tiêu dùng và sử dụng sản phẩm tăng lên mạnh, làm lượng chất thải sinh họat phát sinh nhiều, gây ô nhiễm môi trường tăng mạnh. Vì chưa có một biện pháp quản lý đúng cách nên tình trạng người dân xả rác bừa bãi vẫn diễn ra phổ biến quá sức chịu tải của môi trường. Tại một số tuyến sông cấp 1 đã bắt đầu có dấu hiệu bị nhiễm bẩn. Rác thải không chỉ ảnh hưởng đến mỹ quan đô thị mà còn ảnh hưởng tới sức khỏe người dân, tại một số nơi trong huyện như tại thị trấn Bình Minh, người dân đang tỏ ra rất bức xúc về vấn đề vệ sinh môi trường. Vì vậy làm thế nào để có một biện pháp quản lý, xử lý chất thải rắn sinh hoạt thật tốt là một đòi hỏi tất yếu vào lúc này. Xuất phát từ thực trạng trên, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài : “ Đánh giá tình hình quản lý rác thải sinh hoạt và đề xuất một số giải pháp tại Huyện Kim Sơn – Tỉnh Ninh Bình ”
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG HÀ NỘI
KHOA MÔI TRƯỜNG
CHUYÊN ĐỀ TÌNH HÌNH QUẢN LÝ RÁC THẢI SINH HOẠT VÀ ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP TẠI HUYỆN KIM SƠN,
TỈNH NINH BÌNH
NGƯỜI THỰC HIỆN: MAI VĂN TOÀN
HÀ NỘI, THÁNG 5 NĂM 2017
Trang 2MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
CHƯƠNG I: ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ XÃ HỘI CỦA TỈNH NINH BÌNH VÀ HUYỆN KIM SƠN 2
1.1 Điều kiện tự nhiên 2
1.2 Tình hình phát triển kinh tế - xã hội 3
CHƯƠNG II: TÌNH HÌNH QUẢN LÝ RÁC THẢI TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM 8
2.1 Phát sinh rác thải trên Thế Giới 8
2.2 Quản lý rác thải trên Thế Giới 9
2.3 Quản lý rác thải ở Việt Nam 12
CHƯƠNG III THỰC TRẠNG QUẢN LÝ RÁC THẢI SINH HOẠT TẠI THỊ TRẤN BÌNH MINH VÀ XÃ THƯỢNG KIỆM CỦA HUYỆN KIM SƠN 14
3.1 Cơ cấu tổ chức quản lý rác thải tại Ninh bình 14
3.2 Thực trạng quản lý 15
3.3 Thực trạng công tác thu gom ( Tại Thượng Kiệm) 16
CHƯƠNG IV: ĐỀ XUẤT BIỆN PHÁP QUẢN LÝ RÁC THẢI TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN KIM SƠN 19
KẾT LUẬN-KIẾN NGHỊ 20
Trang 3DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1 Phát sinh chất thải rắn đô thị ở mốt số nước Châu Á 9
Bảng 2.2 Hoạt động thu gom rác tại một số thành phố Châu Á 12
Bảng 3.1 Lượng người, tấn suất và tiền công của người thu gom rác 17
DANH MỤC HÌNH ẢNH Hình 1.1 Bản đồ danh sách các đơn vị hành chính thuộc tỉnh Ninh Bình 2
Hình 1.2 Cảng Ninh Phúc ở khu CN Khánh Phú 4
Hình 1.3 Vùng ven biển Kim Sơn - khu dự trữ sinh quyển thế giới 5
Hình 1.4 Bệnh viện đa khoa 700 giường 6
Hình 3.1 Tổ chức quản lý rác thải tại Ninh Bình 14
Trang 4ĐẶT VẤN ĐỀ
Cùng với sự phát triển chung của Thế Giới, nền kinh tế của Việt Nam cũng đang
có những bước chuyển mình mạnh mẽ Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đang diễn ra hết sức khẩn trương, bộ mặt xã hội có nhiều chuyển biến tích cực Tuy nhiên gia tăng dân số cùng với quá trình công nghiệp hóa đã và đang gây sức ép lớn cho môi trường, đặc biệt là vấn đề nước thải
Là một thành phố trẻ có vị trí quan trọng của vùng cửa ngõ miền Bắc và vùng kinh
tế trọng điểm phía Bắc Trong những năm gần đây kinh tế Ninh Bình liên tục tăng trưởng
ở mức 2 con số, năm 2010 chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh xếp thứ 11/63, liên tục nằm trong nhóm tỉnh đứng đầu miền Bắc Có được kết quả như vậy là do những năm gần đây Ninh Bình không ngừng đẩy mạnh công nghiệp hóa – hiện đại hóa để phát triển kinh tế hơn nữa Đóng góp vào sự phát triển kinh tế chung của toàn tỉnh những năm gần đây Kim Sơn cũng có bước chuyển mình mạnh mẽ về kinh tế Đó là do Kim Sơn là huyện ven biển thuần khiết đồng bằng, nên đã đầu tư phát triển kinh tế biển, tạo ra sự đang dạng trong ngành nghề sản xuất, tạo ra nhiều của cải vật chất Tuy nhiên, bên cạnh những lợi thế to lớn về mặt kinh tế, xã hội đó lại kéo theo nhu cầu tiêu dùng và sử dụng sản phẩm tăng lên mạnh, làm lượng chất thải sinh họat phát sinh nhiều, gây ô nhiễm môi trường tăng mạnh Vì chưa có một biện pháp quản lý đúng cách nên tình trạng người dân xả rác bừa bãi vẫn diễn ra phổ biến quá sức chịu tải của môi trường Tại một số tuyến sông cấp 1 đã bắt đầu có dấu hiệu bị nhiễm bẩn Rác thải không chỉ ảnh hưởng đến mỹ quan đô thị mà còn ảnh hưởng tới sức khỏe người dân, tại một số nơi trong huyện như tại thị trấn Bình Minh, người dân đang tỏ ra rất bức xúc về vấn đề vệ sinh môi trường Vì vậy làm thế nào để có một biện pháp quản lý, xử lý chất thải rắn sinh hoạt thật tốt là một đòi hỏi tất yếu vào lúc này Xuất phát từ thực trạng trên, chúng tôi
tiến hành thực hiện đề tài : “ Đánh giá tình hình quản lý rác thải sinh hoạt và đề xuất
một số giải pháp tại Huyện Kim Sơn – Tỉnh Ninh Bình ”
Trang 5CHƯƠNG I: ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ XÃ HỘI CỦA
TỈNH NINH BÌNH VÀ HUYỆN KIM SƠN 1.1 Điều kiện tự nhiên
Ninh Bình là một tỉnh nằm ở cực Nam
đồng bằng Bắc Bộ Có dãy núi Tam Điệp chạy
theo hướng Tây Bắc – Đông Nam, làm ranh
giới tự nhiên giữa hai tỉnh Ninh Bình và Thanh
Hóa Phía Đông và Đông Bắc có sông Đáy bao
quanh, giáp với hai tỉnh Hà Nam và Nam Định,
phía Bắc giáp Hòa Bình, phía Nam là biển
Đông
Địa hình địa mạo
Địa hình Ninh Bình có hướng nghiêng từ Tây Bắc xuống Đông Nam, từ vùng núi Nho Quan, Tam Điệp tới miền đồng bằng Hoa Lư, Yên Khánh rồi thấp dần ra vùng biển Kim Sơn Đồng bằng chiếm phần lớn diện tích, vùng núi chỉ chiếm khoảng 20% diện tích toàn tỉnh
Địa hình thấp, chia cắt bởi núi đá vôi từ phía Tây sông Đáy, phân chia thành ba vùng tương đối rõ rệt Vùng núi ở phía Tây bao gồm những dãy núi chạy theo hướng Tây Bắc- Đông Nam, bắt nguồn từ vùng rừng núi Hòa Bình chạy ra biển Đông, có nhiều hang động đẹp như: Bích Động, Tam Cốc, Địch Lộng, Xuyên Thủy Động,… Phía Đông
và Đông Bắc là vùng đồng chiêm trũng thuộc các huyện Nho Quan, Gia Viễn, Hoa Lư, Yên Mô được phù sa bồi đắp hàng năm, đồng bằng tiến ra biển từ 80-100m, tạo nên vùng đất mới phì nhiêu, màu mỡ Phía Nam là vùng đồng bằng ven biển Yên Khánh, Yên Mô, Kim Sơn
Hình 1.1 Bản đồ danh sách các đơn
vị hành chính thuộc tỉnh Ninh Bình
Trang 6vận tải và sinh hoạt của nhân dân Ngoài ra, Ninh Bình cũng thường xuyên chịu ảnh hưởng của một số ngày nắng nóng, khô kiểu gió Lào vào mùa hạ
Thủy văn
Hệ thống sông ngòi ở Ninh Bình bao gồm hệ thống sông Đáy, sông Hoàng Long, sông Bôi, sông Ân, sông Vạc, sông Lạng, sông Vân Sàng, với tổng chiều dài 496km, phân bố rộng khắp toàn tỉnh Mật độ sông suối bình quân 0,5km/km2, các sông thường chảy theo hướng Tây Bắc – Đông Nam để đổ ra biển Đông
Các nguồn tài nguyên
- Đất: Ninh Bình có gần 14.000 ha diện tích đất tự nhiên, bao gồm các loại: đất
phù sa mới, đất phù sa cũ, đất chua, đất mặn Trong đó, đất nông nghiệp chiếm ti trọng lớn nhất với 6.900 ha chiếm 46,5% diện tích đất tự nhiên
- Rừng: diện tích rừng của Ninh Bình chủ yếu trong khu vực Vườn Quốc gia Cúc
Phương với diện tích lên đến 25.000 ha Đây là một khu rừng nguyên sinh độc đáo, là
cơ sở nghiên cứu khoa học về động vật, thực vật và lâm học nhiệt đới Rừng ở đây thuộc loại rừng mưa nhiệt đới với điển hình cấu trúc thảm thực vật nhiều tầng trong đó có 3 tầng cây gỗ
- Khoáng sản: Ninh Bình có nhiều loại khoáng sản, nhưng đáng kể nhất là đá vôi
Tỉnh có nhiều núi đá vôi với diện tích 1,2 vạn ha, trữ lượng hàng chục tỉ mét khối Đây
là nguồn nguyên liệu lớn cho sản xuất vật liệu xây dựng, đặc biệt là xi măng và một số hóa chất Ngoài ra Ninh Bình còn có đất sét, phân bố rải rác ở vùng núi thấp thuộc thị
xã Tam Điệp, các huyện Gia Viễn, Yên Mô, dùng để sản xuất gạch ngói và là nguyên liệu cho ngành đúc Than Bùn có trữ lượng 2 triệu tấn/năm, phân bố ở Gia Sơn, Sơn Hà( Nho Quan) dùng để sản xuất phân vi sinh
1.2 Tình hình phát triển kinh tế - xã hội
Phát triển kinh tế
Ninh Bình ưu tiên cho việc phát triển công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng, đặc biệt là xi măng, đá, gạch Bên cạnh đó, địa phương còn phát triển đa dạng các ngành kinh tế thủy sản, trong đó nuôi thủy,hải sản là trọng tâm Với các khu du lịch danh lam thắng cảnh nổi tiếng, đặc biệt khu cố đô Hoa Lư, Tam Cốc - Bích Động là thế mạnh của tỉnh trong phát triển du lịch
Ninh Bình có vị trí quan trọng của vùng cửa ngõ miền Bắc và vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc Đây là nơi tiếp nối giao lưu kinh tế và văn hoá giữa khu vực châu thổ sông Hồng với Bắc Trung Bộ, giữa vùng đồng bằng Bắc Bộ với vùng rừng núi Tây
Trang 7Bắc Thế mạnh kinh tế nổi bật của Ninh Bình là các ngành công nghiệp vật liệu xây dựng và du lịch
Trong những năm gần đây kinh tế Ninh Bình liên tục tăng trưởng ở mức 2 con số, Năm 2010 chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh xếp thứ 11/63, liên tục nằm trong nhóm tỉnh đứng đầu miền Bắc Ninh Bình là một trong những tỉnh thu hút vốn đầu tư nước ngoài lớn của Việt Nam; Năm 2010 thu ngân sách đạt 3.100 tỷ đồng trong khi diện tích
và dân số tỉnh chỉ đứng thứ 56/63 và 43/63 Cơ cấu kinh tế trong GDP năm 2011: Công nghiệp - xây dựng: 46,35%; Nông, lâm - ngư nghiệp: 13,9%; Dịch vụ: 39,6%
Công nghiệp
Ninh Bình có tiềm năng và thế mạnh phát triển công nghiệp vật liệu xây dựng với
số lượng nhà máy sản xuất xi măng nhiều trong đó nổi bật là các doanh nghiệp xi măng The Vissai, xi măng Hệ Dưỡng (công suất 3,6 triệu tấn/năm), xi măng Tam Điệp, xi măng Phú Sơn, xi măng Duyên Hà, xi măng Hướng Dương Sản phẩm chủ lực của địa phương là xi măng, đá, thép, vôi, gạch
Ninh Bình hiện có 7 khu công nghiệp sau gồm:
Khu công nghiệp Gián Khẩu: nằm ở huyện Gia Viễn, bên quốc lộ 1A
Khu công nghiệp Khánh Phú: nằm ở đông nam thành phố Ninh Bình, bên sông Đáy, gần quốc lộ 10
Khu công nghiệp Tam Điệp 1: 64 ha, phường Trung Sơn, Tam Điệp, bên quốc lộ 1A và đường sắt Bắc Nam
Khu công nghiệp Tam Điệp 2: 400 ha, xã Quang Sơn, Tam Điệp, bên quốc lộ 1A
và đường sắt Bắc Nam
Hình 1.2 Cảng Ninh Phúc ở khu CN Khánh Phú
Trang 8 Khu công nghiệp Phúc Sơn: nằm ở thành phố Ninh Bình, bên tuyến đường cao tốc Ninh Bình - Thanh Hóa
Khu công nghiệp Khánh Cư: nằm ở huyện Yên Khánh, bên quốc lộ 10
Khu công nghiệp Kim Sơn nằm trong khu kinh tế tổng hợp ven biển có diện tích
500 ha thuộc huyện Kim Sơn, gần đường quốc lộ ven biển Việt Nam
Ninh Bình còn có 22 cụm công nghiệp với diện tích 880 ha Các dự án thuộc khu công nghiệp lớn như: Nhà máy đạm Ninh Bình,Công ty Phân lân Ninh Bình (một trong
4 công ty sản xuất phân lân lớn nhất cả nước), Nhà máy xi măng The Vissai;…
Nghề thủ công truyền thống địa phương có: thêu ren Văn Lâm, đá mỹ nghệ Ninh Vân ở Hoa Lư, dệt chiếu và làm hàng cói mỹ nghệ ở Kim Sơn, Yên Khánh , đan lát mây tre ở Gia Viễn, Nho Quan, làng nghề mộc Phúc Lộc, Ninh Phong (Tp Ninh Bình)
Nông nghiệp
Ninh Bình có lợi thế phát triển ngành nông nghiệp đa dạng nhiều thành phần Các vùng chuyên canh nông nghiệp chính của tỉnh: vùng nông trường Đồng Giao chuyên trồng cây công nghiệp như cây dứa thơm, vùngKim Sơn trồng cây cói làm chiếu, hàng
mỹ nghệ, nuôi tôm sú, hải sản, khu vực làng hoa Ninh Phúc, Ninh Sơn trồng hoa và rau sạch Cơ cấu Nông, lâm, thuỷ sản trong GDP của tỉnh, năm 2007 đạt 26% (mục tiêu đến năm 2010 là 17%) Lĩnh vực nuôi thuỷ sản phát triển khá ổn định, nhất là ở khu vực nuôi thả thuỷ sản nước ngọt Diện tích nuôi thuỷ sản năm 2007 đạt 9.021 ha, tăng 27,7%
so với năm 2004; trong đó diện tích nuôi thả vùng nước ngọt đạt 6.910 ha, nuôi thuỷ sản nước lợ 2.074 ha Sản lượng thuỷ sản năm 2007 đạt 18.771 tấn Trong đó sản lượng tôm
sú đạt 1.050 tấn, cua biển đạt 1.280 tấn Tổng giá trị thuỷ sản năm 2007 đạt 350 tỷ đồng, tăng 73,4 tỷ đồng so với năm 2004 Về hạ tầng, tỉnh đang đầu tư, nâng cấp, xây mới nhiều trạm bơm nước, kênh mương Các tuyến đê quan trọng như: đê biển Bình Minh
Hình 1.3 Vùng ven biển Kim Sơn - khu dự trữ sinh quyển thế giới
Trang 9II; đê tả, hữu sông Hoàng Long; đê Đầm Cút, đê Năm Căn, hồ Yên Quang, được nâng cấp theo hướng kiên cố hoá
Từ năm 2004, Sở Công thương Ninh Bình đã xây dựng quy hoạch mạng lưới chợ trên địa bàn tỉnh đến năm 2010 và định hướng đến năm 2015 Năm 2008, toàn tỉnh có 107 chợ, trong đó hiện có Chợ Rồng ở thành phố Ninh Bình là chợ loại 1 và 5 chợ loại 2 Các chợ Rồng, chợ Đồng Giao, chợ Nam Dân, chợ Ngò đều được Bộ Công thương quy hoạch thành chợ đầu mối tổng hợp, 3 chợ đầu mối nông sản được đầu tư xây mới là chợ thủy sản Kim Đông, chợ rau quả Tam Điệp và chợ nông sản Nho Quan
Dân số, lao động, việc làm
Với quy mô dân số năm 2009 là gần 900 nghìn người So với dân số khu vực đồng bằng sông Hồng, dân số Ninh Bình chiếm 5,6% và bằng 1,2% dân số cả nước Nguồn lao động khá về cả số lượng, chất lượng và đang ở thời kỳ đầu với tổng số lao động năm
2008 chiếm 51,2% dân số ( khoảng 480,3 nghìn người) Ninh Bình có tỷ lệ lao động thất nghiệp đô thi khá thấp (3,7%), chất lượng nguồn nhân lực được đánh giá là khá so với cùng ĐBSH cũng như cả nước Do vậy, đây là một nhân tố rất thuận lợi để phát triển
Hình 1.4 Bệnh viện đa khoa 700 giường
Trang 10kinh tế, nhất là với các ngành, lĩnh vực thủ công mỹ nghệ và công nghiệp nhẹ sử dụng nhiều lao động
-> Đánh giá chung
Thuận lợi: Huyện Kim Sơn có hệ thống giao thông tương đối hoàn chỉnh, tạo điều
kiện thuận lợi giao lưu thông thương hàng hóa với các địa bàn trong tỉnh và trong cả nước Trong thời gian tới huyện được đầu tư xây dựng mới và nâng cấp nhiều công trình
hạ tầng cơ sở, mở rộng, phát triển đô thị và tiếp cận các dự án phát triển công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp, thương mại, du lịch
- Là huyện có địa hình bằng phẳng, khí hậu thuận lợi phù hợp với nghề trồng lúa nước Bên cạnh đó ngành chăn nuôi cũng tạo điều kiện phát triển
- Kim Sơn có lực lượng lao động dồi dào, các làng nghề cói truyền thống vẫn được duy trì và ngày càng mở rộng là nguồn nhân lực quan trọng thúc đẩy kinh tế của huyện phát triển, hơn thế nữa trình độ dân trí ngày càng được nâng cao, thuận lợi cho việc tiếp thu khoa học kỹ thuật để áp dụng vào sản xuất
Khó khăn: Lực lượng lao động dồi dào chủ yếu là lao động nông nghiệp nên tình
trạng lao động nông nhàn vẫn còn phổ biến, hiện tượng lao động nông nhan đi làm thêm
ở thành phố lớn vẫn còn nhiều Điều đó làm ảnh hưởng không nhỏ đến việc quản lý nhân khẩu lao động
Trang 11CHƯƠNG II: TÌNH HÌNH QUẢN LÝ RÁC THẢI TRÊN THẾ GIỚI VÀ
VIỆT NAM 2.1 Phát sinh rác thải trên Thế Giới
Nhìn chung, lượng RTSH ở mỗi nước trên thế giới là khác nhau, phụ thuộc vào sự phát triển kinh tế, dân số và thói quen tiêu dùng của người dân nước đó Tỷ lệ phát sinh rác thải tăng theo tỷ lệ thuận với mức tăng GDP tính theo đầu người Tỷ lệ phát sinh rác thải theo đầu người ở một số thành phố trên thế giới: Băng Cốc (Thái Lan): 1,6kg/người/ngày, Singapo 2kg/người/ngày; Hồng Kông là 2,2kg/người/ngày;NewYork (Mỹ) là 2,65kg/người/ngày Tỷ lệ CTRSH trong dòng CTR đô thị rất khác nhau giữa các nước Theo ước tính, tỷ lệ chiếm tới 60-70% ở Trung Quốc (Gao et al.2002); chiếm 78% ở Hồng Kông; 48% ở Philipin và 37% ở Nhật Bản, chiếm 80% ở nước ta Theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới, nước có thu nhập cao chỉ có khoảng 25-35% chất thải sinh hoạt trong toàn bộ dòng CTR đô thị
+ Ở Anh : Số liệu thống kê tổng lượng chất thải ở Anh cho thấy hàng năm Liên hiệp Anh tạo ra 307 triệu tấn chất thải, trong đó ước tính 46,6 triệu tấn chất thải sinh học
và chất thải dạng tương tự phát sinh ở Anh, trong đó 60% chôn lấp, 34% được tái chế
và 6% được thiêu đốt Chỉ tính riêng rác thải thực phẩm, theo dự án khảo sát được thực hiện từ tháng 10/2006-3/2008, chất thải thực phẩm từ hộ gia đình nhiều hơn tới hàng tấn
so với chất thải bao bì chiếm 19% chất thải đô thị Hàng năm hộ gia đình ở Anh phát sinh 6,7 triệu tấn chất thải thực phẩm, ở England là 5,5 triệu tấn, trong đó 4,1 triệu tấn
là thực phẩm có thể sử dụng được Trung bình mỗi hộ gia đình thải ra 276 kg chất thải thực phẩm/năm hay 5,3 kg/tuần, trong đó 3,2 kg vẫn có thể sử dụng được
+ Nhật Bản : Theo số liệu thống kê của Bộ TN & MT Nhật Bản, hàng năm nước này có khoảng 450 triệu tấn rác thải, trong đó phần lớn là rác công nghiệp (397 triệu tấn) Trong tổng số rác thải trên, có khoảng 5% rác thải phải đưa tới bãi chôn lấp, trên 36% được đưa đến các nhà máy để tái chế Số còn lại được xử lý bằng cách đốt hoặc chôn tại các nhà máy xử lý rác Với rác thải sinh hoạt của các gia đình, khoảng 70% được tái chế thành phân bón hữu cơ, góp phần giảm bớt nhu cầu sản xuất và nhập khẩu
phân bón
+ Ở Singapore : mỗi ngày thải ra khoảng 16.000 tấn rác Rác ở Singapore được phân loại tại nguồn (nghĩa là nhà dân, nhà máy, xí nghiệp ) Nhờ vậy 56% số rác thải ra mỗi ngày (9.000 tấn) quay lại các nhà máy để tái chế Khoảng 41% (7.000 tấn) được đưa vào bốn nhà máy thiêu rác để đốt thành tro Mỗi ngày chừng 1.500 tấn tro rác cùng với 500 tấn rác không thể đốt được sẽ lên sà lan trực chỉ Semakau Landfill Như vậy khối lượng từ 16.000 tấn rác mỗi ngày, sau khi đốt rác Singapore chỉ cần bãi đổ rác cho