Luận văn đã đi sâu nghiên cứu tình hình biến đổi tín ngưỡng, tôn giáo ở một xã cụ thể thuộc phía Nam đồng bằng sông Hồng là xã Yên Nhân, huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình, trong thời gian từ đổi mới đến nay. Thực tế nghiên cứu cho thấy yếu tố kinh tế đã tác động khá sâu sắc đến đời sống tín ngưỡng, tôn giáo và sinh hoạt của người dân nơi đây. Cùng với đời sống kinh tế được nâng cao, tín ngưỡng, tôn giáo có sự phục hồi và phát triển mạnh mẽ. Ngược lại tín ngưỡng, tôn giáo cũng có ảnh hưởng nhất định đến kinh tế, xã hội và văn hóa ở địa phương, những ảnh hưởng này đánh giá trên cả hai phương diện tích cực và tiêu cực. Luận văn cũng đã chỉ ra được những vấn đề còn tồn tại làm ảnh hưởng không tốt đến đời sống văn hóa xã hội ở địa phương. Từ đó đưa ra những kiến nghị, giải pháp định hướng để tín ngưỡng, tôn giáo hoạt động có hiệu quả và hướng nhiều hơn tới lợi ích cộng đồng. Luận văn đã đi sâu nghiên cứu tình hình biến đổi tín ngưỡng, tôn giáo ở một xã cụ thể thuộc phía Nam đồng bằng sông Hồng là xã Yên Nhân, huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình, trong thời gian từ đổi mới đến nay. Thực tế nghiên cứu cho thấy yếu tố kinh tế đã tác động khá sâu sắc đến đời sống tín ngưỡng, tôn giáo và sinh hoạt của người dân nơi đây. Cùng với đời sống kinh tế được nâng cao, tín ngưỡng, tôn giáo có sự phục hồi và phát triển mạnh mẽ. Ngược lại tín ngưỡng, tôn giáo cũng có ảnh hưởng nhất định đến kinh tế, xã hội và văn hóa ở địa phương, những ảnh hưởng này đánh giá trên cả hai phương diện tích cực và tiêu cực. Luận văn cũng đã chỉ ra được những vấn đề còn tồn tại làm ảnh hưởng không tốt đến đời sống văn hóa xã hội ở địa phương. Từ đó đưa ra những kiến nghị, giải pháp định hướng để tín ngưỡng, tôn giáo hoạt động có hiệu quả và hướng nhiều hơn tới lợi ích cộng đồng. Luận văn đã đi sâu nghiên cứu tình hình biến đổi tín ngưỡng, tôn giáo ở một xã cụ thể thuộc phía Nam đồng bằng sông Hồng là xã Yên Nhân, huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình, trong thời gian từ đổi mới đến nay. Thực tế nghiên cứu cho thấy yếu tố kinh tế đã tác động khá sâu sắc đến đời sống tín ngưỡng, tôn giáo và sinh hoạt của người dân nơi đây. Cùng với đời sống kinh tế được nâng cao, tín ngưỡng, tôn giáo có sự phục hồi và phát triển mạnh mẽ. Ngược lại tín ngưỡng, tôn giáo cũng có ảnh hưởng nhất định đến kinh tế, xã hội và văn hóa ở địa phương, những ảnh hưởng này đánh giá trên cả hai phương diện tích cực và tiêu cực. Luận văn cũng đã chỉ ra được những vấn đề còn tồn tại làm ảnh hưởng không tốt đến đời sống văn hóa xã hội ở địa phương. Từ đó đưa ra những kiến nghị, giải pháp định hướng để tín ngưỡng, tôn giáo hoạt động có hiệu quả và hướng nhiều hơn tới lợi ích cộng đồng. Luận văn đã đi sâu nghiên cứu tình hình biến đổi tín ngưỡng, tôn giáo ở một xã cụ thể thuộc phía Nam đồng bằng sông Hồng là xã Yên Nhân, huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình, trong thời gian từ đổi mới đến nay. Thực tế nghiên cứu cho thấy yếu tố kinh tế đã tác động khá sâu sắc đến đời sống tín ngưỡng, tôn giáo và sinh hoạt của người dân nơi đây. Cùng với đời sống kinh tế được nâng cao, tín ngưỡng, tôn giáo có sự phục hồi và phát triển mạnh mẽ. Ngược lại tín ngưỡng, tôn giáo cũng có ảnh hưởng nhất định đến kinh tế, xã hội và văn hóa ở địa phương, những ảnh hưởng này đánh giá trên cả hai phương diện tích cực và tiêu cực. Luận văn cũng đã chỉ ra được những vấn đề còn tồn tại làm ảnh hưởng không tốt đến đời sống văn hóa xã hội ở địa phương. Từ đó đưa ra những kiến nghị, giải pháp định hướng để tín ngưỡng, tôn giáo hoạt động có hiệu quả và hướng nhiều hơn tới lợi ích cộng đồng.
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
Hà Nội, 11-2012
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ Chuyên ngành Dân tộc học
Mã số: 60 22 70
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS.Đỗ Thị Minh Thúy
Hà Nội, 11-2012
Trang 34 Mục đích nghiên cứu và đóng góp của luận văn 13
5 Khái niệm, nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu 13
Chương 1 Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài 19
1.2 Mối quan hệ giữa kinh tế và tín ngưỡng, tôn giáo 20
1.3 Chính sách tín ngưỡng, tôn giáo của Đảng và Nhà nước Việt
Nam
27
1.4 Tín ngưỡng, tôn giáo ở châu thổ Bắc Bộ trước và sau Đổi mới 33
1.4.1 Tín ngưỡng, tôn giáo châu thổ Bắc Bộ trước Đổi mới 33
1.4.2 Tín ngưỡng, tôn giáo châu thổ Bắc Bộ sau Đổi mới 36
1.5.1 Điều kiện tự nhiên 42
Trang 4tôn giáo ở Yên Nhân từ Đổi mới đến nay
2.1 Sự trỗi dậy của các tín ngƣỡng ở Yên Nhân 52
2.2.1 Sự phục hồi của Phật giáo 71
2.2.2 Những biến động của Công giáo 76 2.2.3 Những tôn giáo khác 82
3.3.1 Biến đổi kinh tế tác động mạnh đến tín ngưỡng, tôn giáo 97
3.3.2 Hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo mang đậm tính chất văn hóa truyền thống
99
3.3.3 Kiến nghị nhìn từ biến đổi tín ngưỡng, tôn giáo ở nông thôn qua 101
Trang 5trường hợp xã Yên Nhân
Trang 7DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1 Cơ cấu sản xuất kinh tế ở Yên Nhân
Bảng 2.1 Số lƣợng điện thờ tƣ gia của các làng ở Yên Nhân Bảng 2.2 Thực trạng cơ sở thờ tự Phật giáo ở Yên Nhân
Bảng 2.3 Thực trạng chức sắc và tín đồ Phật giáo ở Yên Nhân Bảng 2.4 Tín đồ Công giáo ở Yên Nhân
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Vấn đề của đời sống tín ngưỡng, tôn giáo luôn thu hút sự quan tâm, chú
ý nghiên cứu của các nhà khoa học trong và ngoài nước, vì tính lý luận và thực tiễn sâu sắc của chúng Tín ngưỡng, tôn giáo là vấn đề hết sức nhạy cảm, tuy nó nằm sâu trong thế giới tâm linh của mỗi con người, nhưng nó lại có tầm ảnh hưởng lớn trong xã hội, chi phối nhiều hoạt động và có khả năng thâm nhập vào mọi mặt của đời sống văn hóa, kinh tế, chính trị, xã hội Vì vậy, hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo không bao giờ biệt lập với sự phát triển của toàn xã hội Nhiều yếu tố của tín ngưỡng, tôn giáo trở thành những nét truyền thống trong văn hóa của mỗi dân tộc
Công cuộc đổi mới kinh tế đã đem lại những thành tựu quan trọng, tác động đến nhiều mặt của đời sống xã hội trong đó có vấn đề tín ngưỡng, tôn giáo Các tín ngưỡng, tôn giáo có những bước chuyển mình mạnh mẽ với sự thay đổi đáng kể về loại hình, quy mô, cơ cấu và phương thức thực hiện Nhà thờ, chùa chiền, đình miếu được xây dựng lại, tu bổ thêm Những lễ nghi ngày càng phong phú, đa dạng Đồng thời xuất hiện hiện tượng buôn thần bán thánh; sự trở lại của một số hủ tục, tệ nạn mê tín dị đoan Điều đó đã ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống tín ngưỡng, tôn giáo của các cộng đồng dân
cư
Từ những vấn đề nêu trên có thể thấy, nghiên cứu sự tác động của đổi mới kinh tế vào tín ngưỡng, tôn giáo sẽ góp phần tìm hiểu các động thái biến đổi của đời sống xã hội nông thôn hiện nay Đây là loại nghiên cứu cơ bản ở tầm vĩ mô, cần phải tiến hành trong một thời gian dài mới có thể trả lời cho vấn đề này một cách khái quát
Trang 9Tuy nhiên, việc nghiên cứu trong phạm vi địa bàn một xã cụ thể trong một khoảng thời gian và không gian xác định, cũng có thể cho thấy những biến đổi mang tính bộ phận đang diễn ra ở đây Những nghiên cứu trường hợp này nếu được đặt trong sự so sánh với các kết quả tại những không gian và thời điểm khác nhau, sẽ giúp ta thấy được sự biến đổi qua thời gian của xã hội trong quá trình đổi mới và phát triển
Châu thổ Bắc Bộ (hay còn gọi là châu thổ sông Hồng, đồng bằng Bắc
Bộ, đồng bằng sông Hồng), là vùng đất được hình thành từ sự bồi đắp của các
hệ thống sông Hồng, sông Thái Bình và một phần của biển Đông Các cách gọi gắn với tên sông như “châu thổ sông Hồng”, “đồng bằng sông Hồng” làm
mờ nhạt vai trò của hệ thống sông Thái Bình và biển Đông, còn gọi là đồng bằng (đồng bằng Bắc Bộ, đồng bằng sông Hồng” thì hơi khiên cưỡng vì địa hình không bằng phẳng, trừ các tỉnh Thái Bình, Hưng Yên không có núi, còn tất cả các tỉnh khác của châu thổ Bắc bộ đều có địa hình núi đồi xen kẽ châu thổ và thung lũng nên tác giả chọn thuật ngữ châu thổ Bắc Bộ để sử dụng trong luận văn Châu thổ Bắc Bộ nơi những biến đổi kinh tế đã tác động sâu sắc tới đời sống tín ngưỡng, tôn giáo của người dân, điều này đã được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm trong thời gian vừa qua Trong khuôn khổ của luận văn thạc sỹ không thể nghiên cứu trên diện rộng, nên tác giả chọn địa bàn xã Yên Nhân thuộc tỉnh Ninh Bình làm địa bàn nghiên cứu
Yên Nhân là một xã khá tiêu biểu cho vùng nông thôn châu thổ Bắc Bộ với truyền thống làm nông nghiệp lâu đời, nơi các tín ngưỡng dân gian và một
số tôn giáo đã đồng hành cùng với người dân trong quá trình xây dựng làng
xã Hơn nữa đây là nơi sớm chịu ảnh hưởng của Công giáo vì từ rất sớm trên địa bàn xã đã có một bộ phận người dân theo Công giáo
Trang 10Với mong muốn góp một cái nhìn thực tiễn về tình hình biến động của
tín ngưỡng, tôn giáo ở châu thổ Bắc Bộ, chúng tôi chọn đề tài “Tín ngưỡng, tôn giáo ở nông thôn châu thổ Bắc Bộ dưới tác động của đổi mới kinh tế hiện nay (Trường hợp xã Yên Nhân – huyện Yên Mô – tỉnh Ninh Bình)”
làm đề tài luận văn thạc sỹ chuyên ngành Dân tộc học
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Tình hình nghiên cứu trong nước
Tín ngưỡng, tôn giáo được hình thành, phát triển và đồng hành cùng xã hội loài người từ lâu đời Vì lẽ đó mà việc nghiên cứu tín ngưỡng, tôn giáo được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm, các công trình nghiên cứu về tín ngưỡng, tôn giáo chiếm số lượng rất lớn Luận văn không có tham vọng đề cập tới những công trình nghiên cứu liên quan đến tín ngưỡng, tôn giáo nói chung, mà chỉ đi vào tìm hiểu trực tiếp những công trình khoa học, bài viết liên quan đến sự tác động của đổi mới kinh tế vào tín ngưỡng, tôn giáo ở nước
ta trong hơn 20 năm vừa qua
Trong thời gian này những công trình mang tính lý luận chung như:
Những vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến vấn đề tôn giáo tín ngưỡng ở Việt Nam – Chính sách của Đảng và Nhà nước ta Chủ nhiệm đề tài GS.Đặng
Nghiêm Vạn, thực hiện năm 1999 Một số vấn đề cơ bản về tôn giáo ở Việt
Nam hiện nay, đề tài độc lập cấp Nhà nước, chủ nhiệm đề tài GS.TS.Đỗ
Quang Hưng, thực hiện năm 2003 ; Những đề tài này đã cung cấp những vấn
đề lý luận cơ bản về tín ngưỡng, tôn giáo trong giai đoạn hiện nay
Bên cạnh đó, những công trình đề cập đến những vấn đề cụ thể của một
số tín ngưỡng, tôn giáo ở một số địa bàn cụ thể cũng khá đa dạng như: Đề tài
KX.06.10, Nho giáo trong tiến trình phát triển xã hội, đề tài cấp Nhà nước của GS.Vũ Khiêu thực hiện năm 1995, Một số vấn đề cấp bách trong sinh
Trang 11hoạt tôn giáo ở một số tỉnh phía Bắc, đề tài cấp Bộ của GS.TS.Đỗ Quang
Hưng thực hiện năm 2002; Đạo giáo trong xã hội hiện đại (từ thực tiễn đến
cơ sở lý luận), đề tài cấp bộ của TS.Nguyễn Mạnh Cường; Biến động của tín ngưỡng dân gian Hà Nội trong đời sống văn hóa đô thị hiện nay, đề tài cấp
Bộ của TS.Đỗ Thị Minh Thúy thực hiện năm 2004; Tín ngưỡng dân gian của người Việt đồng bằng Bắc Bộ và ảnh hưởng của nó trong xã hội hiện nay, đề
tài cấp Bộ của ThS.Trần Anh Đào Những đề tài này cung cấp cái nhìn về sự chuyển biến của một số tôn giáo, tín ngưỡng ở những địa bàn cụ thể trong điều kiện đổi mới đất nước hiện nay
Sự tác động của kinh tế thị trường vào tín ngưỡng, tôn giáo ở nước ta từ khi đổi mới đã được quan tâm nghiên cứu dưới nhiều góc độ:
Từ cuối những năm 1990 trên các tạp chí chuyên ngành như Nghiên cứu Tôn giáo, Dân tộc học, Văn hóa Nghệ thuật, Xã hội học, đã xuất hiện
những công trình như: Từ góc độ kinh tế thử lý giải một số hiện tượng tôn
giáo ở Việt Nam của Đặng Thế Đại trên TC Xã Hội học, số 3, 1997 “Những
ai đi lễ chùa và họ hành lễ như thế nào?”, của Hoàng Thu Hương trên TC Xã
hội học, số 1, 2004 Nhìn tôn giáo từ góc độ kinh tế của Ngụy Đức Đông, trên
TC Nghiên cứu Tôn giáo, số 5, 2005 “Về mối quan hệ giữa nhu cầu của
người đi lễ chùa và dịch vụ bán đồ lễ (Qua khảo sát thực tế tại chùa Quán Sứ
và chùa Hà ở Hà Nội)”, của Hoàng Thu Hương trên TC Nghiên cứu Tôn
giáo, số 2, 2006 Phật giáo với kinh tế Xưa và Nay của Nguyễn Duy Hinh trên
TC Nghiên cứu Tôn giáo, số 1, 2008.v.v Những công trình này đã phân tích ảnh hưởng của kinh tế đến tín ngưỡng, tôn giáo ở nước ta trong thời gian vừa qua, qua đó thể hiện quy luật cung cầu của thị trường trong hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo
Trang 12Nhà nghiên cứu Lê Hồng Lý với 2 công trình “Những hoạt động lễ hội
tín ngưỡng của người Việt trong sự đổi mới kinh tế hiện nay” In trong Giá trị
và tính đa dạng của Folklore châu Á, trong quá trình hội nhập, do NXB Thế
giới ấn hành năm 2006 và chuyên khảo “Sự tác động của kinh tế thị trường
vào lễ hội tín ngưỡng” do NXB Văn hóa Thông tin và Viện Văn hóa liên kết
xuất bản năm 2008 Hai công trình này đưa ra cái nhìn khá toàn diện về sự tác động của kinh tế thị trường vào hai lễ hội tín ngưỡng tiêu biểu ở hai đầu đất nước là lễ hội tín ngưỡng Bà Chúa Kho Bắc Ninh và lễ hội Bà Chúa Xứ An Giang Tuy nhiên ở công trình này tác giả cũng chỉ đi sâu tìm hiểu sự tác động của kinh tế thị trường vào lễ hội tín ngưỡng mà chưa đi vào tìm hiểu sự biến đổi để thích ứng của các tín ngưỡng, tôn giáo khác ở Việt Nam
Ngoài ra các luận văn cao học, cũng có những nghiên cứu gần với đề
tài luận văn này như: “Sự tác động của kinh tế đối với tôn giáo trong quá
trình chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay” luận văn
thạc sỹ của Nguyễn Huy Hảo “Thực trạng hoạt động Phật giáo và các dịch
vụ nghi lễ ở Hà Nội (qua khảo sát ở ba chùa)”, luận văn thạc sỹ của Nguyễn
Minh Ngọc, hai luận văn này hiện đang lưu giữ tại thư viện Viện Nghiên cứu Tôn giáo Các tác giả của hai luận văn này đã đi vào tìm hiểu những động thái biến đổi của các tôn giáo lớn ở nước ta dưới tác động của kinh tế thị trường đặc biệt là Phật giáo, vì đây là tôn giáo chịu ảnh hưởng mạnh mẽ nhất của kinh tế thị trường
Ngoài các công trình nghiên cứu trên thì báo chí có vai trò quan trọng trong việc phản ánh những biểu hiện của sự tác động của đổi mới kinh tế vào tín ngưỡng tôn giáo đặc biệt là các hoạt động lễ hội Bắt đầu từ những năm
1990 báo chí phê phán mạnh các hiện tượng được coi là mê tín dị đoan như cầu cúng, bói toán Trong giai đoạn này phải kể đến những tác giả với những
Trang 13mê tín dị đoan Báo Văn hóa số 434, ngày 13/1/1999 Nhật Linh với Lên chùa
và đi hội thời nay, Báo Giáo dục và Thời đại, số 18, ngày 5/5/1996 Vũ Kiểm, Làm lành mạnh tục cúng lễ rằm, mồng một ở thôn quê, Báo Nhân dân, ngày
27/3/1999 Vũ Phượng Ngọc, Theo chân các cụ đi chùa mùa lễ hội, Báo Người Hà Nội, số 11, ngày 14/3/1998 Phạm Vinh Kiên, Cần quản lý chặt chẽ
hơn những sinh hoạt tín ngưỡng, Báo Văn hóa, số 496, ngày 18/8/1999 Đặc
biệt trong giai đoạn này đã có một số nhà báo tìm hiểu về yếu tố kinh tế trong
các hoạt động lễ hội: Phạm Danh Nghĩa, Lễ hội và chuyện “Ăn bẩn”, Báo An ninh Thủ đô, số 465, ngày 24/4/1994 Văn Hóa, Đừng thương mại hóa lễ hội, báo Văn hóa số 337, ngày 8/2/1998 Khánh Linh, Cần dẹp tệ nạn đổi tiền ăn
phần trăm ở các lễ hội, báo Văn hóa số 1073, ngày 25-28/2/2005 Nguyễn
Minh Ngọc, Làm gì để ngăn chặn thương mại hóa trong lễ hội, Báo Lao
động, ngày 29/1/2004
Tuy báo chí không phải là những công trình nghiên cứu khoa học, nhưng nó đã phản ánh được hiện thực xã hội và cung cấp nguồn tư liệu tham khảo sinh động từ thực tế
Nghiên cứu ở nước ngoài
Vấn đề sự tác động của kinh tế thị trường đối với tôn giáo được các tác giả Trung Quốc quan tâm nhiều và phân tích sâu Trong số các tác giả Trung Quốc viết về vấn đề này, đáng chú ý là Lang Youxing, Lin Zhangrong và Du Hong
Lang Youxing, trong bài Thế tục hóa và các khuynh hướng của nó, đã
nghiên cứu, vạch ra nguồn gốc, động lực của thế tục hóa trước hết là kinh tế, thực tế là công nghiệp hóa [87, 88-111]
Lin Zhangrong, trong bài Kinh tế thị trường và hướng đi của tôn giáo
Trung Quốc đã phân tích và khái quát những hình thức biểu hiện cơ bản của
Trang 14tiến trình thế tục hóa ở Trung Quốc dưới tác động của kinh tế thị trường [87, 160-185]
Du Hong, trong bài Vấn đề tôn giáo và hiện đại hóa, đã trình bày mối
quan hệ giữa tôn giáo và hiện đại hóa (mà nội dung cốt lõi của hiện đại hóa là hiện đại hóa kinh tế), đặc biệt phân tích những phản ứng của tôn giáo trước hiện đại hóa [87, 16-32]
Những công trình trên đem đến cái nhìn tổng quan về tín ngưỡng, tôn giáo dưới nhiều chiều cạnh, giúp cho luận văn về mặt lý luận và thực tiễn khi nghiên cứu sâu về tín ngưỡng, tôn giáo trên địa bàn cụ thể là xã Yên Nhân, huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình - địa bàn này cho đến nay chưa có một công trình nào khảo sát Do vậy chúng tôi chọn nghiên cứu tín ngưỡng, tôn giáo ở nông thôn châu thổ Bắc Bộ dưới tác động của đổi mới kinh tế hiện nay qua một địa bàn cụ thể xã Yên Nhân với mong muốn bước đầu tìm hiểu những đổi thay của tín ngưỡng, tôn giáo dưới tác động của Đổi mới kinh tế hiện nay
3 Đối tượng, phạm vi, địa bàn nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu: Luận văn đi vào tìm hiểu những biến động
của tín ngưỡng, tôn giáo qua một địa bàn nông thôn cụ thể thuộc châu thổ Bắc
Bộ dưới tác động của sự phát triển kinh tế hiện nay Thông qua kết quả nghiên cứu này, luận văn ghi nhận những động thái biến chuyển về văn hoá,
xã hội đang diễn ra trong xã hội nông thôn đương đại
3.2 Phạm vi nghiên cứu: Có rất nhiều vấn đề khác nhau liên quan đến
các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo, luận văn tìm hiểu sự chi phối của đổi mới kinh tế hiện nay vào đời sống tín ngưỡng, tôn giáo trong xã hội đương đại và tác động trở lại của tín ngưỡng, tôn giáo đối với đời sống kinh tế, xã hội ở địa bàn nghiên cứu, trong giai đoạn từ 1986 đến nay
Trang 153.3 Địa bàn nghiên cứu: Luận văn được tiến hành trên cơ sở một
nghiên cứu trường hợp tại xã Yên Nhân, huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình
4 Mục đích nghiên cứu và đóng góp của luận văn
Tìm hiểu sự tác động của đổi mới kinh tế đến tín ngưỡng, tôn giáo từ hai góc độ tích cực và tiêu cực
Ảnh hưởng của biến đổi tín ngưỡng, tôn giáo đến đời sống văn hoá, xã hội trên một địa bàn nông thôn cụ thể
Trên cơ sở kết quả nghiên cứu, luận văn đề xuất một số gợi ý về việc nghiên cứu và quản lý các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo
5 Khái niệm, nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu
5.1 Khái niệm
Tín ngưỡng, tôn giáo là những thực thể xã hội tồn tại lâu đời, nên đã được sự quan tâm nghiên cứu của nhiều ngành, nhiều giới Vì thế, khái niệm tín ngưỡng, tôn giáo hết sức phong phú đa dạng và có những ý kiến khác nhau Trong thời gian gần đây nhiều nhà nghiên cứu đồng nhất giữa tôn giáo
và tín ngưỡng gọi chung là tôn giáo và họ chia tôn giáo thành các cung bậc khác nhau: tôn giáo dân tộc, tôn giáo nguyên thủy, tôn giáo địa phương; tôn giáo thế giới Luồng ý kiến thứ hai có sự phân biệt giữa tín ngưỡng và tôn giáo, thường coi tín ngưỡng là sản phẩm xã hội ở trình độ phát triển thấp hơn
so với tôn giáo Tác giả luận văn đồng quan điểm với luồng ý kiến thứ hai, do
đó sử dụng khái niệm về tín ngưỡng, tôn giáo sau:
- Tín ngưỡng là một cách từ thực tế cuộc sống cộng đồng con người ý
thức về một dạng thần linh nào đó, rồi cộng đồng con người ấy tin theo tôn thờ lễ bái, cầu mong cho hiện thực cuộc sống, gây thành một nếp sống xã hội
theo niềm tin thiêng liêng ấy [15, 22]
Trang 16- Tôn giáo là một cách lý giải mang danh nghĩa một giáo chủ, về sự
sáng thế và cứu thế một cách siêu hình, nhằm làm cho người ta tin theo, gây thành một nếp sống xã hội theo niềm tin thiêng liêng ấy [15, 16]
Để phân biệt tín ngưỡng và tôn giáo nhà nghiên cứu Ngô Đức Thịnh đã đưa ra 6 tiêu chí cơ bản sau đây:
Tín ngưỡng: Chưa có hệ thống giáo lý, mà chỉ mới có các huyền thoại, thần tích, truyền thuyết; Chưa thành hệ thống thần điện còn mang tính chất đa thần, tản mạn; Còn có sự hòa nhập nhất định giữa thế giới thần linh và con người Chưa mang tính cứu thế; Gắn với cá nhân và cộng đồng làng xã, chưa thành giáo hội; Nơi thờ cúng và nghi lễ còn phân tán và chưa thành quy ước chặt chẽ; Mang tính chất dân gian, sinh hoạt của dân gian, gắn với đời sống nông dân
Tôn giáo: Hệ thống giáo lý kinh điển thể hiện quan niệm vũ trụ và nhân sinh, truyền thụ qua học tập ở các tu viện, thánh đường; Thần điện đã thành
hệ thống dưới dạng đa thần hay nhất thần giáo; Tách biệt thế giới thần linh và con người, xuất hiện hình thức “cứu thế”; Tổ chức giáo hội, hội đoàn khá chặt chẽ, hình thành hệ thống giáo chức; Nơi thờ cúng riêng, nghi lễ thờ cúng chặt chẽ (chùa, nhà thờ, thánh đường); Không mang tính dân gian, có chăng chỉ là
sự biến dạng theo kiểu dân gian hóa, như Phật giáo dân gian [67, 15]
- Hoạt động tín ngưỡng là hoạt động thể hiện sự tôn thờ tổ tiên; tưởng
niệm và tôn vinh những người có công với nước, với cộng đồng; thờ cúng thần, thánh, biểu tượng có tính truyền thống và các hoạt động tín ngưỡng dân gian khác tiêu biểu cho những giá trị tốt đẹp về lịch sử, văn hóa, đạo đức xã hội [6, 10]
Trang 17- Cơ sở tín ngưỡng là nơi thực hiện các hoạt động tín ngưỡng của cộng
đồng, bao gồm đình, đền, miếu, am, từ đường, nhà thờ họ và những cơ sở tương tự khác [6, 11]
- Tổ chức tôn giáo là tập hợp những người cùng tin theo một hệ thống
giáo lý, giáo luật, lễ nghi và tổ chức theo một cơ cấu nhất định được Nhà nước công nhận [6, 11]
- Hoạt động tôn giáo là việc truyền bá, thực hành giáo lý, giáo luật, lễ
nghi, quản lý tổ chức của tôn giáo [6, 11]
- Cơ sở tôn giáo là nơi thờ tự, tu hành, nơi đào tạo người chuyên hoạt
động tôn giáo, trụ sở của tổ chức tôn giáo và những cơ sở khác của tôn giáo được nhà nước công nhận [6, 11]
- Tín đồ là người tin theo một tôn giáo và được tổ chức tôn giáo thừa
nhận [6, 11]
- Nhà tu hành là tín đồ tự nguyện thực hiện thường xuyên nếp sống
riêng theo giáo lý, giáo luật của tôn giáo mà mình tin theo [6, 11]
- Chức sắc là tín đồ có chức vụ, phẩm sắc trong tôn giáo [6, 12]
- Lễ hội tín ngưỡng là hình thức hoạt động tín ngưỡng, thể hiện sự tôn
thờ, tưởng niệm và tôn vinh những người có công với nước, với cộng đồng, thờ cúng tổ tiên, biểu tượng có tính truyền thống và các hoạt động tín ngưỡng dân gian khác tiêu biểu cho những giá trị tốt đẹp về lịch sử, văn hóa, đạo đức
xã hội [6, 31]
- Giáo xứ: giáo xứ là một đơn vị có ranh giới rõ rệt trong một giáo
phận, với nhà thờ riêng, số giáo dân riêng và một chủ chăn riêng, có nhiệm vụ chăm sóc các linh hồn Giáo xứ đối nhân là giáo xứ để đáp ứng nhu cầu của những người thuộc một nghi thức hay một quốc tích nào đó, không phân biệt
Trang 18lãnh thổ Chuẩn giáo xứ là một đơn vị tương đương với giáo xứ, có chủ chăn riêng, nhưng vì những lý do đặc biệt, chưa được nâng lên hàng giáo xứ [27, 7-8]
- Giáo họ (hay còn gọi là họ đạo, giáo họ) là đơn vị nhỏ hơn giáo xứ
Trong một giáo xứ có nhiều giáo họ hợp thành, trong đó có một giáo họ chính thường là họ nhà xứ hay họ đầu xứ Giáo họ có số lượng giáo dân ít hơn giáo
xứ Giáo họ có thể có nhà nguyên quen gọi là nhờ thờ họ nhưng không phải tất cả các giáo họ đều có loại hình cơ sở thờ tự này [27, 8]
- Giáo dân là những người đã chịu phép Rửa khi còn nhỏ hay khi kết
hôn với người Công giáo, hoặc tự nguyện gia nhập đạo Công giáo Giáo dân còn được giới hạn là “các tín hữu không chó chứ thánh và cũng không thuộc
về một bậc tu trì đã được Hội thánh châu phê” Giáo dân Công giáo còn được
gọi là con chiên, tín đồ Công giáo, tín hữu Kitô giáo, hay Kitô hữu [27, 8]
5.2 Các nguồn tư liệu được sử dụng cho luận văn
1 Nguồn thứ nhất: tư liệu điền dã dân tộc học: các biên bản phỏng vấn sâu, các ghi chép, ảnh… được ghi, chụp tại địa bàn nghiên cứu Các bảng biểu thống kê, các báo cáo, tài liệu sưu tầm do UBND xã Yên Nhân và một số cá nhân cung cấp
2 Nguồn thứ hai: sách, luận án, chuyên khảo, bài nghiên cứu từ tạp chí, các website về chủ đề có liên quan
Trong đó, nguồn tư liệu điền dã đóng vai trò quan trọng nhất được tác giả thu thập từ việc khảo sát và nghiên cứu thực địa
5.3 Phương pháp nghiên cứu
Vấn đề nghiên cứu tôn giáo hiện nay có nhiều quan điểm và hướng tiếp cận khác nhau Khi triển khai đề tài nghiên cứu, luận văn dựa trên cơ sở lý
Trang 19luận của chủ nghĩa Mác –Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo, các quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đối với tôn giáo và công tác tôn giáo Luận văn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu cụ thể sau đây:
1 Phân tích tư liệu: Đây là phương pháp quan trọng trong nghiên cứu này, cho phép tổng hợp những thông tin từ những nghiên cứu đi trước, phân tích các văn bản thu thập được trong quá trình nghiên cứu
Thông qua tài liệu khảo cứu lại các nghiên cứu trước đây liên quan đến nhận thức, thái độ, hành vi của cộng đồng dân cư đối với tín ngưỡng, tôn giáo, các văn bản về chính sách tôn giáo của Đảng, Nhà nước; các số liệu thống kê về vấn đề tôn giáo
2 Phỏng vấn sâu: Đây là phương pháp nghiên cứu chủ yếu trong quá trình điền dã dân tộc học nhằm ghi nhận các ý kiến, các câu chuyện của bản thân những người tham gia các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo Các phỏng vấn sâu cũng được sử dụng để thu thập các thông tin chung cần thiết cho luận văn
3 Quan sát - tham dự: Nghiên cứu cũng sử dụng phương pháp này để tìm hiểu các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo và đánh giá thái độ của họ khi tham dự các hoạt động này Đặc biệt, tác giả là người sinh ra và lớn lên trên địa bàn xã nên có thể cùng tham gia một số hoạt động của người dân địa phương để có thể đánh giá chính xác và khách quan hơn về những thái độ cũng như độ tin cậy về thông tin mà các thành viên trong cộng đồng cung cấp
6 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo luận văn được chia thành 3 chương:
Trang 20Chương 1 Cơ sở lý luận và thực tiễn
Chương 2 Những biến động trong hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo ở Yên Nhân từ Đổi mới đến nay
Chương 3 Ảnh hưởng của biến đổi tín ngưỡng, tôn giáo đến đời sống văn hóa – xã hội ở xã Yên Nhân
Trang 21Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.1 Lý thuyết nghiên cứu
Nhiều lý thuyết có thể áp dụng trong nghiên cứu về tín ngưỡng, tôn giáo, đặc biệt là những sinh hoạt tôn giáo như một thành tố của văn hoá Nhưng chúng ta, không thể áp dụng tất cả các lý thuyết trong một nghiên cứu
cụ thể, bởi mỗi vấn đề có thể được xem xét từ nhiều khía cạnh khác nhau và
có những cách giải thích khác nhau Trong đề tài này, chúng tôi chọn một số
lý thuyết chính để áp dụng vào việc nghiên cứu về biến đổi tín ngưỡng, tôn giáo dưới tác động của đổi mới kinh tế ở nước ta trong giai đoạn hiện nay Đó
là các lý thuyết sau:
- Thuyết chức năng của Bronislaw Malinowski áp dụng trong lĩnh vực
tôn giáo và lễ nghi: Malinowski đưa ra giả thuyết là môi trường càng bất trắc thì những lo lắng tâm lý càng tăng, và người ta lại càng có khuynh hướng dùng đến lễ nghi và ma thuật Giả thuyết này dựa trên nghiên cứu ngư dân đảo Trobriand (Trong tranh luận với Malinowski, Reginald Radcliffe-Browncho là tôn giáo gây ra những âu lo cũng nhiều như làm giảm âu lo: thí dụ như
vì niềm tin tôn giáo đã ăn sâu vào tâm trí mà người ta âu lo hệ quả khi qua đời
vì đã gây ra "tội", hay sợ ma thuật của người hàng xóm mà người ta có mâu thuẫn)… Vận dụng lý thuyết này vào nghiên cứu trường hợp cụ thể, xã hội nông thôn làng xã dưới tác động của đổi mới kinh tế, tuy có đời sống vật chất sung túc hơn, song cũng tiềm ẩn không ít những bất chắc, những rủi ro trong làm ăn kinh tế cũng như mọi mặt của cuộc sống hàng ngày, với thực tế xã hội như vậy, chiều hướng biến động của tín ngưỡng, tôn giáo như thế nào
- Thuyết lựa chọn duy lý của Fredrik Barth: Cá thể lựa chọn hành
Trang 22hành động đang được xem xét Giả định phân tích cụ thể này của Barth, dùng
để soi rọi vào thực tế đời sống tín ngưỡng, tôn giáo ở nông thôn Việt Nam hiện nay, khi cuộc sống vật chất được cải thiện, đời sống tinh thần được nâng cao thì người ta lại đua nhau tìm đến với tín ngưỡng, tôn giáo, và không ngần ngại chi những khoản tiền lớn vào việc thực hành các nghi lễ như đốt vàng
mã, mua sắm đèn hương, xây dựng, tu sửa các cơ sở thờ tự, xây mồ mả với quy mô lớn và rất tốn kém Câu hỏi đặt ra là khi đầu tư vào các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo như vậy họ thu được những lợi ích gì về kinh tế hay không?
- Thuyết nhân học diễn giải của Clifford Geertz để có thể hiểu được
các biểu tượng tôn giáo mà qua đó người ta cảm nhận những khuôn mẫu hành
xử, những mô thức cho cuộc sống Thuyết nhân học diễn giải có thể kết hợp với thuyết tiếp cận hệ thống, một khung lý thuyết đang được áp dụng rộng rãi trong nhiều ngành khoa học khác nhau Lý thuyết này yêu cầu tiếp cận đối tượng trên các phương diện: yếu tố, hệ thống và môi trường theo nguyên tắc: một mặt phải thừa nhận bản chất phức tạp của các yếu tố và các mối quan hệ của hệ thống, nhưng mặt khác lại phải quy giản hệ thống về cái bản chất, đơn giản hệ thống để dễ xử lý Đối tượng nghiên cứu của đề tài là sự tác động của đổi mới kinh tế đến tín ngưỡng, tôn giáo ở địa bàn một xã vùng nông thôn, một địa bàn có nhiều loại hình tín ngưỡng, tôn giáo, một hệ thống các nghi lễ
và hành động hành lễ, lễ hội… đan xen chồng xếp lên nhau và mang tải nhiều ngữ nghĩa đòi hỏi phải diễn giải các lớp nghĩa đó, và đặt chúng trong mối quan hệ biện chứng thì mới có thể hiểu được một cách khách quan những vấn
đề cần quan tâm
1.2 Mối quan hệ giữa kinh tế và tín ngưỡng, tôn giáo
Nghiên cứu tín ngưỡng, tôn giáo dưới tác động của Đổi mới kinh tế hiện nay, mà không tìm hiểu khái quát các nghiên cứu của các nhà kinh điển
Trang 23về mối quan hệ giữa kinh tế và tín ngưỡng, tôn giáo thì quả là thiếu sót Từ rất sớm các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác (C.Mác, Ph.Ăngghen, V.Lênin) đã
đề cập đến vai trò, tác động của kinh tế đối với tôn giáo trong một số tác phẩm của mình Tuy nhiên các ông chưa có điều kiện bàn sâu về vấn đề này Quan điểm của các ông chủ yếu có tính nguyên lý, khẳng định vai trò quyết định, xét tới cùng của kinh tế đối với tôn giáo; khẳng định tôn giáo chỉ là phản ánh của kinh tế (tất nhiên không phải hoàn toàn thụ động), vì thế muốn hiểu, muốn giải thích vai trò, biểu hiện và sự biến đổi tôn giáo ở giai đoạn nào đó, ở dân tộc, quốc gia nào đó thì phải xuất phát từ chính cơ sở kinh tế của nó [59, 128]
Theo Lênin, “Ách tôn giáo đè nặng lên loài người chẳng qua chỉ là sản phẩm và là phản ánh của ách áp bức kinh tế” trong xã hội mà thôi [84, 174] V.I.Lênin còn nhấn mạnh “Tình trạng nô lệ về kinh tế” chính là “nguồn gốc
thật sự của sự mê hoặc nhân loại bằng tôn giáo” [84, 175] Vì vậy, muốn tìm
hiểu giải thích bất kỳ hiện tượng tôn giáo nào, dù ở bình diện thế giới, khu vực, quốc gia dân tộc hay địa phương, dù ở bất kỳ giai đoạn lịch sử nào, cũng phải xuất phát từ kinh tế, từ những điều kiện vật chất của sự ra đời, tồn tại và biến đổi nó
Xem xét sự xuất hiện của bất kỳ loại hình tôn giáo nào, cũng như bất
kỳ một tôn giáo cụ thể nào, đều có thể tìm được nguồn gốc kinh tế của nó, mặc dù nguồn gốc kinh tế không phải là duy nhất và tách rời các yếu tố khác
Có thể thấy rõ ảnh hưởng của kinh tế chăn nuôi và thương mại, ở những mức
độ khác nhau trong các tôn giáo của Ai Cập cổ đại, Babilon cổ đại, cũng như trong đạo Do Thái, đạo Kitô, đạo Ixlam (trong kinh thánh, từ “cừu” được
nhắc tới trên 5000 lần [61, 42] Cũng có thể tìm thấy ảnh hưởng của kinh tế
du mục, chăn nuôi bò, ngựa, di chuyển bằng xe và thói quen uống sữa của
Trang 24như trong Phật giáo và Ấn Độ giáo sau này Hình tượng “Bánh xe pháp” trong Phật giáo hay nghi thức “đại sát sinh hiến tế” trong Bà la môn giáo phản ánh
rõ tác động của kinh tế chăn nuôi đến các tôn giáo này Nếu tìm hiểu sự hình thành các tôn giáo, tín ngưỡng phương Đông, ta cũng có thể thấy rõ cơ sở kinh tế nông nghiệp (trồng trọt) của chúng
Cùng với sự thay đổi về cơ sở kinh tế của xã hội, tôn giáo cũng có sự biến đổi theo C.Mác và Ph.Ăngghen khẳng định: “Chính con người khi phát triển sản xuất và giao tiếp vật chất của mình đã làm biến đổi cùng với hiện thực đó của mình cả tư duy lẫn sản phẩm tư duy của mình (trong đó có tôn giáo)” [12, 38] Ph.Ăngghen còn bổ sung thêm: “ Tôn giáo một khi đã hình thành luôn luôn chứa đựng một chất liệu truyền thống, cũng như trong tất cả các lĩnh vực, tư trưởng truyền thống là một lực lượng bảo thủ lớn Song những biến đổi xảy ra trong chất liệu đó đều nảy sinh ra từ những quan hệ giai cấp, do đó từ những quan hệ kinh tế giữa những người gây ra những biến đổi ấy” [13, 449]
Sự khác biệt giữa nền kinh tế gốc du mục của phương Tây và nền kinh
tế gốc trồng trọt của phương Đông đã tạo nên sự khác biệt, thậm chí đối lập, hai loại hình văn hóa (cả về văn hóa ứng xử với môi trường tự nhiên, ứng xử với môi trường xã hội; trong lối nhận thức tư duy; trong nguyên tắc và cách thức tổ chức cộng đồng, cả trong tín ngưỡng tôn giáo) [61, 38-58] Chỉ có ở phương Tây, nơi có nghề chăn nuôi đại gia súc phát triển và cư dân sinh sống chủ yếu bằng nghề này, mới sinh ra chế độ chiếm nô điển hình và mới nảy sinh ra ý niệm độc thần Ngược lại, ở miền viễn Đông, nơi cư dân sinh sống chủ yếu bằng trồng trọt, chỉ có thể sinh ra chế độ cống nạp, từ đó nảy sinh ra
ý niệm đa thần, tâm thức phiếm thần Nếu như tâm thức tôn giáo phương Tây hướng về các tôn giáo độc thần, thiên về các thiên thần, thì tâm thức tôn giáo
Trang 25phương Đông lại hướng về các tôn giáo phiếm thần, thiên về các nhiên thần
và nhân thần [80, 16 – 18]
Yếu tố kinh tế nông nghiệp trồng lúa nước là cái nền chi phối và cùng với các yếu tố khác (về tự nhiên, xã hội, lịch sử, văn hóa) tạo nên diện mạo riêng cho tín ngưỡng tôn giáo Việt Nam (tâm thức phiếm thần, tôn giáo đa thần) đồng thời tạo nên những đặc điểm cơ bản của nó (tôn trọng và gắn bó mật thiết với thiên nhiên; phản ánh đậm nét nguyên lý âm dương (tính phồn thực); có khuynh hướng đề cao nữ tính, mang tính đa thần, trong đó giữa các thần có quan hệ cộng đồng và dân chủ) [61, 287-289]
Trong thực tế cùng một tôn giáo, nhưng khi được du nhập vào những nước khác nhau, những khu vực khác nhau, với cơ sở kinh tế khác nhau, lại được tiếp nhận khác nhau và có biểu hiện khác nhau Cũng giống như thế, cùng một tôn giáo, dù là tôn giáo bảo thủ nhất, trì trệ nhất, khi các cơ sở kinh
tế của nó thay đổi, thì sớm hay muộn nó cũng phải đổi theo, dẫu rằng tên gọi
của nó vẫn chưa thay đổi Đúng như G.V.Plêkhanốp, trong Bàn về sự phát
triển quan niệm lịch sử nhất nguyên, đã viết “Cùng một tôn giáo, nhưng thích
ứng với các giai đoạn phát triển khác nhau về kinh tế của các dân tộc tin theo
nó, tôn giáo thay đổi bản chất nội dung của mình” [87, 17] Nhận xét trên được Ambrốtgiô Đonini (một nhà sử học mác xít người Italia) đồng tình khi đánh giá: “Không có đạo Cơ đốc thống nhất, mà từ lúc sơ khai cho tới đạo Thiên Chúa và đạo Tin Lành, có bao nhiêu thời đại xã hội mà đạo Cơ đốc đã trải qua trong hai nghìn năm đó thì có bấy nhiêu hình thức Cơ đốc giáo” [90, 19] Mặt khác, cùng một tôn giáo nhưng biểu hiện của nó ở những nước khác nhau lại không giống nhau Công giáo ở Việt Nam khác với Công giáo ở Tây Ban Nha, khác với Công giáo Pháp về lối sống đạo về kiến trúc Phật giáo Việt Nam cũng khác với Phật giáo Trung Quốc, hay Phật giáo Lào,
Trang 26Tác động của kinh tế đối với tôn giáo còn được thể hiện trong việc thực hành các lễ nghi tôn giáo Cả phương Đông và phương Tây, dù nền kinh tế gốc có khác nhau, song vai trò của yếu tố nước ở đâu cũng đều quan trọng Vì thế hầu như “trong tất cả các tôn giáo đều có lễ cầu mưa” nhưng “những biểu tượng của tôn giáo gắn với những nghi lễ đó khác nhau” [90, 30] Tuy nhiên
có những nghi lễ chỉ có ở tôn giáo này, mà không có trong tôn giáo khác Cũng có thể thấy qua vật dâng cúng trong các nghi lễ tôn giáo và cả hình tượng thờ cúng của nhiều tôn giáo sự phản ánh của nền kinh tế, mà dựa trên
đó, nó đã hình thành và phát triển
Những biến đổi trong quan niệm của con người về thần thánh cũng phản ánh những biến đổi trong quan hệ kinh tế Tương ứng với mỗi thời đại phát triển kinh tế khác nhau, thần thánh cũng mang những bộ mặt khác nhau Nói như L.Phoi Ơ Bắc trong Bản chất của Kitô giáo: “Chừng nào con người vẫn chỉ mang thuộc tính là con người thiên nhiên nguyên thủy Khi con người biết dựng nhà ở, nó liền nhét ngay các thánh thần của nó vào đền miếu” [88, 112]
Giữa những người sống trong lều tranh và những người sống trong lâu đài không chỉ có suy nghĩ khác nhau mà còn có những quan niệm khác nhau
về thần thánh Chúa của người giàu không giống Chúa của người nghèo Thượng đế trong con mắt kẻ thống trị khác với thượng đế trong con mắt kẻ bị trị Mỗi giai cấp, tầng lớp xã hội có lợi ích kinh tế khác nhau cũng chịu ảnh hưởng của các tôn giáo khác nhau Ở Việt Nam, theo giáo sư Hà Văn Tấn, tầng lớp trên chịu ảnh hưởng Nho giáo nhiều hơn, trong khi đó, tầng lớp bình dân lại chịu ảnh hưởng nhiều của Đạo giáo Riêng Phật giáo, dù có ảnh hưởng đến cả hai tầng lớp này nhưng lớp trên chịu ảnh hưởng của Thiền rõ hơn, còn lớp dưới chịu ảnh hưởng của Tịnh và Mật rõ hơn
Trang 27Sự tác động của kinh tế đối với tôn giáo còn được thể hiện qua vai trò của tôn giáo trong lịch sử, cũng như qua vai trò, vị thế của mỗi tôn giáo trong
xã hội Từ chỗ gần như đóng vai trò chính trong xã hội tiền tư bản chủ nghĩa (dù không quyết định) [80, 50], thậm chí còn được coi là “bản thể của văn hóa”, nhưng “cùng với sự tiến lên của nhân loại, tôn giáo chỉ còn là một bộ phận trong tổng thể văn hóa nhân loại”, “Chỉ còn là một bộ phận nằm trong
xã hội và nhà nước”, hay nói như E.Durkheim “tôn giáo ngày càng chiếm lĩnh một phần bé nhỏ dần trong đời sống xã hội” [50, 278] Tôn giáo chỉ còn là một trong số nhiều nhu cầu của một bộ phận quần chúng (thường đứng sau nhiều nhu cầu khác) “dù số lượng tín đồ có thể chiếm đại đa số” [80, 51]
Sức mạnh kinh tế của mỗi tôn giáo là một trong những nhân tố cơ bản đảm bảo cho vai trò xã hội của nó (tất nhiên, muốn tăng cường sức mạnh kinh
tế của mình, nó lại phải dựa vào vị thế chính trị và có thể dựa cả vào sức mạnh quân sự nữa) Thời trung cổ ở châu Âu “Không có đất đai nào là không
có Chúa” [54, 48] Giáo hội Kitô thời đó cũng là một “chúa phong kiến giàu mạnh nhất, chiếm tới 1/3 sở hữu đất đai của toàn bộ thế giới Thiên Chúa giáo” [89, 20] Sức mạnh kinh tế đó là cơ sở để nó chi phối đời sống tinh thần của xã hội phong kiến châu Âu Nói đến vai trò của Vatican trong đời sống chính trị - xã hội của thế giới ngày nay, cũng không thể không nói đến thế mạnh về tài chính của nó [24, 210]
Khác với châu Âu, ở phương Đông tiền công nghiệp nói chung “không
có chế độ tư hữu về ruộng đất” [54, 48] Tuy nhiên, với việc chiếm hữu, sử dụng số lượng lớn về ruộng đất các giáo hội đã có ảnh hưởng rộng rãi trong quần chúng, đặc biệt là trong những tầng lớp nông dân nghèo Với “hàng vạn mẫu ruộng và những số tiền bạc rất lớn”, các nhà chùa ở thế kỷ thứ XIV đã thu hút được rất đông tín đồ, nhất là những năm đói kém, số nông dân đi làm
Trang 28cấp độ điệp đến nửa dân số” [79, 204] Đối với giáo hội Công giáo, với việc chiếm được 1/5 ruộng đất ở Nam Kỳ, 1/4 ruộng đất ở Hà Nội “cộng thêm một
cái vốn bé xíu mười triệu Frăng” (năm 1925) [49, 99], cùng với nhiều ruộng
đất, tài sản khác ở Bắc Kỳ, Trung Kỳ, “Các nhà Chung được liệt vào hàng địa chủ lớn nhất của thời kỳ ấy” [68, 49] Đó là cơ sở vững chắc để giáo hội Công giáo không ngừng mở rộng ảnh hưởng của mình
Ở Việt Nam quá trình đổi mới về kinh tế là quá trình từng bước chuyển
từ nền kinh tế với cơ chế quản lý tập trung, bao cấp, mà thực chất là hình thức phái sinh của hình thái kinh tế tự nhiên, tự túc, tự cấp ở trình độ cao sang nền kinh tế thị trường Với quá trình chuyển nền kinh tế sang cơ chế thị trường, thể chế kinh tế của nước ta cũng đang đổi mới: chuyển từ chế độ kinh tế hai thành phần (là chủ yếu) sang kinh tế nhiều thành phần; chuyển từ cơ chế quản
lý theo chế độ “cấp phát”, “giao nộp” theo mệnh lệnh, sang chế độ tự chủ kinh tế theo cơ chế thị trường và định hướng kế hoạch vĩ mô của Nhà nước; chuyển từ cơ chế điều hành bằng mệnh lệnh hành chính sang cơ chế điều hành bằng pháp luật, chính sách, công cụ kinh tế; chuyển từ kinh tế “đóng” (quan hệ chủ yếu trong hệ thống xã hội chủ nghĩa) sang kinh tế “mở”, quan hệ song phương, đa phương, trong đó thị trường nội địa thông suốt, thống nhất là
cơ sở để mở cửa với bên ngoài
Cuộc sống thời bao cấp, dù khó khăn, song mọi thứ đều được bảo đảm (ở mức thấp), và mọi người đều cảm thấy ổn định và bình đẳng Khi đó, con người cũng ít có các nhu cầu về tín ngưỡng, tôn giáo Cơ chế thị trường với tính tự phát rất cao đã thay thế sự an toàn, ổn định, bình đẳng của thời bao cấp bằng sự chênh lệch giàu nghèo, bằng sự bất an, sự may rủi và dự cảm không chắc chắn về tương lai của phần lớn dân chúng Những điều đó đã và đang tác động đến tất cả các đối tượng quần chúng và lôi kéo nhiều người đến với tín
Trang 29hoàn cảnh éo le, bất hạnh, cảm thấy hoang mang, lo sợ trước những bất trắc của cuộc sống mới tìm đến tôn giáo để cầu mong được nương tựa về tinh thần, mà ngay cả nhiều người gặp may, phát tài, có chức quyền, bổng lộc cũng tìm đến tôn giáo vì tin rằng đã được thần thánh phù trợ cho hưởng phúc, lộc Đến với tôn giáo không chỉ có những người mù chữ, ít học, dốt nát, mà còn có những người được coi là có học, có trình độ (kỹ sư, bác sỹ ) thậm chí
cả những người có học hàm học vị cao (giáo sư, tiến sỹ); không chỉ có những người lao động bình thường, mà còn có cả những cán bộ nhà nước, các nhà quản lý, chủ doanh nghiệp, sỹ quan quân đội, công an [32] Có thể nói, nhu cầu tôn giáo có tính phổ biến đối với mọi thành phần của xã hội (mặc dù biểu hiện của nó ở các đối tượng khác nhau lại không giống nhau) Tín ngưỡng, tôn giáo đã thực sự trở thành “nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân” như nghị quyết 24-NQ/TW của Bộ chính trị (khóa VI) đã khẳng định
1.3 Chính sách tín ngưỡng, tôn giáo của Đảng và Nhà nước Việt Nam
Ngay từ những ngày đầu thành lập Đảng (1930), Đảng ta, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có những nhận thức đúng đắn về vấn đề tín ngưỡng, tôn giáo Từ nhận thức đúng đắn, Đảng đã quan tâm giải quyết vấn đề này trong suốt quá trình tiến hành cách mạng dân tộc và cách mạng xã hội chủ nghĩa ở nước ta Với đặc thù Việt Nam là quốc gia đa dân tộc, đa tôn giáo, tuy mỗi tôn giáo có những đặc điểm riêng nhưng đều giống nhau ở chỗ cùng tồn tại trong lòng dân tộc Ngay cả trong những thời điểm khó khăn nhất, đại đa
số đồng bào các tôn giáo đều đứng về phía cách mạng, cống hiến sức người sức của để đánh đuổi ngoại xâm, tích cực tham gia xây dựng, phát triển đất nước
Trang 30Đặc biệt, từ khi thực hiện công cuộc Đổi mới (1986), các tôn giáo ở Việt Nam có sự phục hồi, phát triển nhanh chóng và có nhiều tác động trực tiếp tới tình hình kinh tế - xã hội và an ninh, trật tự ở các địa phương Nhận rõ điều đó, Đảng ta đã kịp thời tổng kết, đánh giá tình hình và kết quả công tác tôn giáo; trên cơ sở đó tiếp tục hoàn thiện những chủ trương, chính sách đối với tôn giáo, nhằm đáp ứng yêu cầu đổi mới và hội nhập quốc tế Sự đổi mới
về tôn giáo của Đảng ta được thể hiện qua các quan điểm:
Một là, khẳng định tôn giáo là vấn đề tồn tại lâu dài Trong chế độ xã hội chủ nghĩa, các nguồn gốc nảy sinh tôn giáo vẫn tồn tại và tác động thường xuyên tới sự phát triển của các tôn giáo Do không nhận thức đúng đắn quy luật này, cộng với những mặc cảm, định kiến về tôn giáo, nên trước đây đã có nơi, có lúc, chúng ta có chủ trương, biện pháp đối xử thô bạo với tôn giáo, tìm cách thu hẹp, hạn chế các hoạt động tôn giáo Vì vậy đã gây căng thẳng trong quan hệ giữa chính quyền với tôn giáo, làm mất lòng tin của quần chúng tín
đồ, chức sắc các tôn giáo với Đảng và Nhà nước
Để chấn chỉnh, khắc phục những lệch lạc trên, một số nghị quyết của
Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khẳng định: “Tín ngưỡng, tôn giáo đang và sẽ tồn tại cùng dân tộc trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta” Quan điểm này là cơ sở cho việc xem xét, giải quyết các vấn
đề tôn giáo ở nước ta hiện nay, đòi hỏi chúng ta phải có thái độ bình tĩnh, khách quan trong khi xem xét, giải quyết các hoạt động tôn giáo; đảm bảo cho các tôn giáo ở Việt Nam sinh hoạt một cách bình thường, tuân thủ pháp luật, đồng hành với dân tộc và chủ nghĩa xã hội Quan điểm này cũng yêu cầu các cấp, các ngành và mọi cán bộ đảng viên phải khắc phục tư tưởng chủ quan, nóng vội trong giải quyết các vấn đề liên quan đến tôn giáo nói chung, với hoạt động tôn giáo nói riêng
Trang 31Hai là, tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân Đảng luôn thực hiện nhất quán chính sách tôn giáo và đảm bảo quyền tự
do tín ngưỡng Chống mọi hành động vi phạm tự do tín ngưỡng, đồng thời chống việc lợi dụng tín ngưỡng để làm tổn hại đến lợi ích của tổ quốc và nhân dân
Ba là, đạo đức tôn giáo có nhiều điều phù hợp với sự nghiệp xây dựng
xã hội mới Trong quá trình ra đời, tồn tại và phát triển, tôn giáo nào cũng có hai mặt tích cực và tiêu cực Mặt tích cực thể hiện ở chỗ răn, dạy tín đồ hướng thiện, làm điều lành, tránh điều ác Còn mặt tiêu cực thể hiện ở chỗ làm cho con người sống an phận và chấp nhận “sự an bài”, thậm chí hạn chế họ tham gia vào quá trình cải tạo hiện thực xã hội bằng các phương pháp cách mạng
Bốn là, công tác tôn giáo vừa phải quan tâm giải quyết hợp lý nhu cầu tín ngưỡng của quần chúng, vừa phải kịp thời đấu tranh chống địch lợi dụng tôn giáo phá hoại cách mạng
Năm là, nội dung cốt lõi của công tác tôn giáo là công tác vận động quần chúng, công tác đối với con người Trong công tác này phải quan tâm đến các lợi ích thiết thân, chính đáng của quần chúng tín đồ nói chung, chức sắc, chức việc nói riêng làm cốt lõi
Sáu là, làm tốt công tác đối với tôn giáo là trách nhiệm của toàn bộ hệ thống chính trị do Đảng lãnh đạo [70]
Để hiện thực hóa những quan điểm của Đảng về tín ngưỡng, tôn giáo Đảng Cộng sản Việt Nam, mà trực tiếp là Bộ Chính trị, ngày 16/10/1990 đã ra Nghị quyết số 24: “Về tăng cường công tác tôn giáo trong tình hình mới” Đây là nghị quyết mang tính đổi mới đột phá trong nhận thức của Đảng Cộng sản Việt Nam về vấn đề tôn giáo và công tác tôn giáo So với Nghị quyết 297
và những văn bản ban hành trước Nghị quyết này thì đây là lần đầu tiên trong
Trang 32văn kiện chính thức của Đảng, tôn giáo được thừa nhận là một hiện tượng xã hội còn tồn tại lâu dài, là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân và đạo đức tôn giáo có nhiều điểm phù hợp với công cuộc xây dựng xã hội hiện nay
Sau đó, ngày 2/7/1998, Bộ chính trị ra Chỉ thị số 37CT/TW: “Về công tác tôn giáo trong tình hình mới” Văn bản này tiếp tục khẳng định tinh thần của Nghị quyết 24 và nêu ra một số nguyên tắc, chính sách của Đảng đối với tôn giáo cụ thể là: Tôn trọng và đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và
tự do không tín ngưỡng, tôn giáo của công dân; Đoàn kết gắn bó đồng bào theo các tôn giáo và không theo tôn giáo trong khối đại đoàn kết toàn dân; Mọi cá nhân hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo phải tuân thủ Hiến pháp và pháp luật; Những hoạt động tôn giáo ích nước, lợi dân, phù hợp với nguyện vọng
và lợi ích chính đáng, hợp pháp của tín đồ được bảo đảm; Mọi hành vi lợi dụng tôn giáo làm mất trật tự an toàn xã hội, phương hại đến độc lập dân tộc, phá hoại khối đoàn kết đều bị xử lý theo pháp luật; Công tác tôn giáo phải vừa quan tâm giải quyết hợp lý nhu cầu tín ngưỡng của quần chúng, vừa kịp thời đấu tranh chống địch lợi dụng tôn giáo để phá hoại sự nghiệp cách mạng; Nội dung cốt lõi của công tác tôn giáo là công tác vận động quần chúng; Công tác tôn giáo là trách nhiệm của toàn hệ thống chính trị
Tiếp theo, Ban Chấp hành Trung ương Đảng, khóa IX, ngày 12/3/2003 ban hành Nghị quyết số 25; “Về công tác tôn giáo” Nghị quyết này một lần nữa tái khẳng định những quan điểm trước đó và bổ sung thêm một số điểm mới Nghị quyết này đã trở thành nền tảng chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam đối với tôn giáo trong thời kỳ đổi mới
Điểm mới đầu tiên so với các văn bản trước đó là việc quy định rõ hơn
về vấn đề truyền đạo: Việc theo đạo, truyền đạo cũng như mọi hoạt động tôn giáo khác đều phải tuân thủ Hiến pháp và pháp luật, không được lợi dụng tôn
Trang 33giáo tuyên truyền tà đạo, hoạt động mê tín dị đoan, không được ép buộc người dân theo đạo Nghiêm cấm các tổ chức truyền đạo và các cách thức truyền đạo trái phép, vi phạm các quy định của Hiến pháp và pháp luật
Điểm mới quan trọng thứ hai trong nghị quyết 25 là Đảng ta đưa ra nhiều giải pháp cho công tác tôn giáo đặc biệt là: Tập trung nâng cao nhận thức, thống nhất quan điểm, trách nhiệm của hệ thống chính trị và toàn xã hội
về vấn đề tôn giáo Điều này không chỉ cho thấy sự đổi mới nhận thức về tôn giáo của Đảng mà còn chứng tỏ Đảng ta thực sự muốn thay đổi cách nhìn trước đây của hệ thống chính trị và toàn xã hội đối với vấn đề tôn giáo, vì mục tiêu: tăng cường sự đồng thuận giữa những người có tín ngưỡng, tôn giáo
và những người không có tín ngưỡng, tôn giáo; giữa những người có các tín ngưỡng, tôn giáo khác nhau
Bên cạnh các Chỉ thị, Nghị quyết của Đảng, các văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng các khóa VII, VIII, IX, X đều đề cập đến vấn đề tôn giáo, tín ngưỡng trên tinh thần đổi mới Mới đây Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng khẳng định: Tiếp tục hoàn thiện chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo phù hợp với quan điểm của Đảng Phát huy những giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp của các tôn giáo; động viên các tổ chức tôn giáo, chức sắc, tín đồ sống tốt đời, đẹp đạo, tham gia đóng góp tích cực cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Quan tâm và tạo điều kiện cho các tổ chức tôn giáo sinh hoạt theo hiến chương, điều lệ của tổ chức tôn giáo
đã được Nhà nước công nhận, đúng quy định của pháp luật Đồng thời chủ động phòng ngừa, kiên quyết đấu tranh với những hành vi lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để mê hoặc, chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc
Như vậy ta có thể thấy rằng, Đảng Cộng sản Việt Nam đã có sự nhìn nhận lại vấn đề tín ngưỡng, tôn giáo Điều đó làm chuyển đổi nhận thức của
Trang 34không ít cán bộ đảng viên, khắc phục một bước thái độ phân biệt đối xử với đồng bào có đạo; đồng thời tìm tòi sự tương đồng, chấp nhận sự khác biệt để phát huy mọi nhân tố tích cực có trong tín ngưỡng, tôn giáo
Thực hiện chủ trương đường lối đổi mới của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước ta đã thể chế hóa quan điểm, chính sách tôn giáo của Đảng thông qua Hiến pháp và việc ban hành các văn bản pháp quy như: Nghị định số 69-HĐBT, ngày 21/3/1991: “Về các hoạt động tôn giáo” của Hội đồng bộ trưởng; Nghị định số 26/1999/NĐ-CP, ngày 19/4/1999: “Về các hoạt động tôn giáo”; ngày 18/6/2004, Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa XI, thông qua
“Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo” và ngày 1/3/2005, Chính phủ ra Nghị định
số 22/2005/NĐ-CP: “Hướng dẫn thi hành một số điều của Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo” và mới đây Chính phủ ban hành Nghị định số 92/2012/NĐ-
CP, Quy định chi tiết và biện pháp thi hành Pháp lệnh tín ngưỡng tôn giáo (ngày 08 tháng 11 năm 2012) thay thế Nghị định số 22/2005/NĐ-CP Trong các văn bản này, Nhà nước Việt Nam bày tỏ thái độ đúng đắn của mình đối với tôn giáo Đó là việc, Nhà nước luôn tôn trọng và bảo đảm nhu cầu tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân; khuyến khích những hoạt động tôn giáo vì lợi ích của toàn dân tộc, đồng thời nghiêm cấm và xử lý theo pháp luật những hành vi lợi dụng tôn giáo vì mục đích xấu Mặt khác, Nhà nước cũng xác định
rõ quyền và nghĩa vụ của cá nhân, tổ chức tôn giáo, cũng như trách nhiệm của các cơ quan Nhà nước trong việc bảo đảm quyền và nghĩa vụ của các tổ chức,
cá nhân trong hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo; tôn trọng những công việc nội
bộ của các tôn giáo như đã được ghi nhận trong hiến chương, điều lệ
Đặc biệt, Nhà nước rất tôn trọng luật pháp quốc tế trong việc giải quyết, điều chỉnh hoạt động tôn giáo ở Việt Nam Tại điều 38 của Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo đã ghi nhận: “Trong trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc gia nhập có quy định khác với quy định của pháp lệnh này thì thực hiện theo quy định của điều ước quốc tế” [7, 30]
Trang 35Qua thực tiễn cuộc sống, chủ trương chính sách về tín ngưỡng, tôn giáo của Đảng và Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam đã thể hiện tương đối đầy
đủ những quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề tín ngưỡng, tôn giáo trong cách mạng XHCN Có thể coi đây
là “cẩm nang” để cấp ủy và chính quyền các cấp ứng xử với tín ngưỡng, tôn giáo trong giai đoạn hiện nay
1.4 Tín ngưỡng, tôn giáo ở châu thổ Bắc Bộ trước và sau Đổi mới
Trước khi đi vào nghiên cứu ở một địa bàn cụ thể, thiết nghĩ cùng cần nhìn một cách khái quát bức tranh chung về tình hình tín ngưỡng, tôn giáo ở châu thổ Bắc Bộ để thấy được sự tương đồng và khác biệt với địa bàn nghiên cứu cụ thể
1.4.1 Tín ngưỡng, tôn giáo châu thổ Bắc Bộ trước Đổi mới
Trong lịch sử cư dân ở châu thổ Bắc Bộ nói riêng và Việt Nam nói chung từ xa xưa sống chủ yếu dựa vào việc khai thác tự nhiên, cuộc sống gặp rất nhiều khó khăn Bất lực trước các sự vật hiện tượng của tự nhiên, họ không thể giải thích nổi, thì những hiện tượng ấy trở nên thần bí và được tôn thờ Thường những gì có tác động trực tiếp và ảnh hưởng lớn đến cuộc sống hàng ngày của họ thì được sùng tín Vì vậy, việc thờ cúng các vị thần tự nhiên
đã sớm hình thành Cùng với sự phát triển xã hội loài người từng bước đi vào
có tổ chức, như thị tộc, bộ lạc những người có công với cộng đồng được tôn sùng thờ cúng, dẫn đến hình thành tín ngưỡng thờ nhân thần Tín ngưỡng là một hiện tượng xã hội, nó biến đổi theo trình độ nhận thức của con người và
sự phát triển của xã hội nói chung, ở châu thổ Bắc Bộ nói riêng và ở Việt Nam nói chung đã hình thành một hệ thống tín ngưỡng bản địa khá đa dạng: tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, thờ thành hoàng, thờ mẫu, thờ thần Châu thổ Bắc Bộ còn là nơi diễn ra quá trình giao lưu với nhiều tộc người, của nhiều
Trang 36luồng văn minh khác nhau, đó là điều kiện để tiếp nhận nhiều tôn giáo lớn như Phật giáo, Đạo giáo, Nho giáo, Kitô giáo những yếu tố đó đã quyết định
tính đa tín ngưỡng, tôn giáo ở vùng này Trước sự du nhập của các tôn giáo
ngoại lai, cư dân ở đây không tiếp nhận một cách thụ động mà luôn có sự cải biến cho gần gũi với tín ngưỡng bản địa Vì vậy, khi các tôn giáo phát triển thì các tín ngưỡng dân gian vẫn giữ vai trò quan trọng trong đời sống tâm linh của người dân Cũng chính vì tính hỗn dung tôn giáo ấy mà người Việt thể hiện sự bàng bạc trong niềm tin tôn giáo Đa số người Việt đều có nhu cầu tôn giáo, tuy nhiên, phần đông trong số đó không là tín đồ thành kính của riêng một tôn giáo nào
Chính vì tâm thức đa thần trong niềm tin tôn giáo, mà ở Bắc Bộ nói riêng Việt Nam nói chung đã hình thành một hệ thống tín ngưỡng hết sức đa dạng, có thể chia thành các nhóm cơ bản như:
“Sơn thần, thủy thần (thần núi, thần sông)
Thổ thần (thần đá, cây, rừng, đất)
Thiên thần (những nhân vật thần tiên)
Nhân thần (những anh hùng lịch sử, tiên hiền, tổ sư nghề)
Vật linh (rắn, hổ, trâu…)” [69, 20]
Bên cạnh tín ngưỡng, tôn giáo ở châu thổ Bắc Bộ cũng hết sức đa dạng
đó là sự có mặt lâu đời của các tôn giáo có nguồn gốc từ Trung Hoa và Ấn Độ như Nho giáo, Đạo giáo, Phật giáo Các tôn giáo này du nhập vào Việt Nam sớm muộn khác nhau, nhưng dần được bản địa hóa, tồn tại và phát triển cùng lịch sử dân tộc Mối quan hệ giữa Phật giáo, Nho giáo, Đạo giáo thể hiện rất
rõ trong quan niệm “Tam giáo đồng nguyên” Khi mới du nhập vào nước ta Nho giáo được xem như hệ ý thức của kẻ xâm lược; đến khi nhà nước quân
Trang 37chủ Đại Việt được thành lập, Nho giáo được đưa lên hàng tư tưởng chính thống, chi phối phương thức tổ chức xã hội và đời sống tinh thần Những giá trị bền vững của Nho giáo được phát huy như đức tính hy sinh vì nghĩa lớn, thái độ trách nhiệm trước bản thân, chăm lo quan hệ tốt đẹp với gia đình, với xóm giềng, đảm bảo hài hòa và ấm êm, đề cao thương yêu và nhường nhịn nhau Những giá trị ấy cũng được lồng vào giáo lý Phật giáo ở nước ta tạo nên nền tảng tinh thần và đạo đức xã hội Sau này, vào khoảng giữa thế kỷ XVI đạo Công giáo, được truyền bá vào Việt Nam và trở thành một bộ phận của văn hóa Việt Nam trong truyền thống và hiện đại
Như vậy ta có thể thấy sự phong phú, đa dạng về tín ngưỡng, tôn giáo ở châu thổ Bắc Bộ nói riêng, Việt Nam nói chung Các loại hình tín ngưỡng, tôn giáo này tuy có những nhược điểm hạn chế của nó, song nó cũng có nhiều mặt tích cực, cần thiết cho xã hội ở hiện tại và trong tương lai Tuy nhiên trong những năm chiến tranh và thời kỳ trước đổi mới, đứng trước những thử thách sống còn của quốc gia dân tộc, sự lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo của các thế lực thù địch nhằm chống phá cách mạng Việt Nam đã làm cho đời sống tín ngưỡng, tôn giáo trở nên nặng nề, chúng ta phải luôn luôn sống trong tình trạng cảnh giác với các tín ngưỡng, tôn giáo thậm chí trong một thời kỳ lịch
sử khá dài đã tồn tại một khuynh hướng đặt tín ngưỡng, tôn giáo vào hàng an ninh quốc gia Tất nhiên có những thời điểm lịch sử cần phải như vậy Đáng tiếc cái thời điểm lịch sử ấy đã bị kéo dài một cách không cần thiết Hơn nữa xuất phát từ quan điểm duy vật vô thần được thực thi một cách cứng nhắc, nên chúng ta đơn giản một cách thái quá về nhu cầu tín ngưỡng, tâm linh trong cuộc sống toàn diện của con người Hiện tượng phá chùa đập tượng, dỡ
bỏ đình đền, coi những người được thờ tự là các đại biểu tội lỗi của giai cấp phong kiến Còn các loại đền thờ nhiên thần đều coi là mê tín dị đoan, không
có lợi cần phải phế bỏ
Trang 38Từ các nguyên nhân trên dẫn tới một quan niệm tín ngưỡng, tôn giáo, tâm linh là sự không cần thiết Vì vậy cán bộ chính quyền các cấp các ngành không được học tập, nghiên cứu về tín ngưỡng, tôn giáo, các kinh sách và giáo lý của các tôn giáo ít được lưu hành Làm cho sự hiểu biết về tín ngưỡng, tôn giáo ngày càng trở nên hạn chế
Bên cạnh sự quản lý khắt khe của các cấp chính quyền, cuộc sống của nhân dân trong thời gian đó gặp nhiều khó khăn, nên đời sống tín ngưỡng, tôn giáo khá trầm lắng, hiện tượng đình chùa bị bỏ không, cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo dột nát, hoang phế khá phổ biến, đó là bức tranh chung về đời sống tín ngưỡng, tôn giáo ở nước ta thời kỳ chiến tranh và trước Đổi mới
1.4.2 Tín ngưỡng, tôn giáo châu thổ Bắc Bộ sau Đổi mới
Sau khi đất nước đổi mới, Đảng ta có sự nhìn nhận lại về vấn đề tín ngưỡng, tôn giáo, một đường lối đúng đắn sát hợp với tình hình thực tế đã được thực thi một cách rộng rãi Một đời sống tín ngưỡng, tôn giáo sôi động được hình thành trên khắp đất nước Việt Nam Có thể nói, chưa bao giờ các tín ngưỡng, tôn giáo lại phát triển mạnh như giai đoạn hiện nay Điều này thể hiện rõ trên những mặt cơ bản sau đây:
Từ năm 2006 đến nay, các cơ quan thẩm quyền đã cấp đăng ký hoạt động và công nhận tư cách pháp nhân cho 24 tổ chức tôn giáo, nâng tổng số lên 40 tổ chức tôn giáo thuộc 13 tôn giáo Hoạt động của các tổ chức, cá nhân chức sắc, cá nhân tín đồ diễn ra phong phú sôi động, tự do
Cơ sở đào tạo, thờ tự lớn của các tôn giáo được Nhà nước cấp đất xây dựng, chẳng hạn như Học viện Phật giáo Việt Nam tại Hà Nội được cấp 10ha đất; Việc mở trường đào tạo chức sắc, nhà tu hành được đảm bảo
Trong bước chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường, các tín ngưỡng, tôn
Trang 39và phương thức thực hiện Nhà thờ, chùa chiền, đình miếu được xây dựng lại, tu bổ thêm Những lễ nghi ngày càng phong phú, đa dạng Điều đó đã ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống tín ngưỡng, tôn giáo của các cộng đồng dân
cư
Về đời sống tín ngưỡng ở nước ta nói chung và ở châu thổ Bắc Bộ nói riêng thời gian vừa qua là sự trỗi dậy một cách mạnh mẽ của một số tín ngưỡng có nguồn gốc bản địa, đặc biệt là tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên Theo số liệu thống kê hiện nay thì:
“- 100% gia đình ở khắp các thành phố, nông thôn có bàn thờ tổ tiên
- 96,75% bàn thờ tổ tiên được đặt ở vị trí trang trọng nhất trong nhà ở
- 95,85% cặp vợ chồng nhớ ngày cúng giỗ ông bà tổ tiên
- 100% gia đình ở nông thôn thường xuyên chăm sóc mồ mả ông bà tổ tiên Ở Hà Nội con số này là 85%, ở thành phố Hồ Chí Minh, con số này là 89%
Xu hướng cầu siêu lên chùa cho người chết cũng dần tăng lên, hiện nay
ở Hà Nội là 28% ở thành phố Hồ Chí Minh là 28,4%” [15, 67]
“Qua điều tra xã hội học ở một trường đại học ở Hà Nội cho thấy: Đa
số thanh niên, sinh viên, học sinh có bát hương trong gia đình; một số có bát hương trong kí túc xã, thậm chí cả ở trong phòng học và phòng làm việc 55% sinh viên được hỏi, trả lời rất tin số mệnh; 28% tin rằng ăn thịt chó, cá mè đầu tháng là xui; 30% tin bói chỉ tay; 35% tin bói chân gà; 35% tin hướng nhà; 50% tin hướng mồ mả; 35% tin hướng bàn thờ Nghĩa là sinh viên cũng tin
đủ thứ” [25, 28]
Như vậy, có thể thấy sự gia tăng niềm tin tôn giáo, tín ngưỡng đang phổ biến trong các đối tượng quần chúng nhân dân hiện nay Đó là cơ sở của
Trang 40sự phát triển các nhu cầu tín ngưỡng, tôn giáo cho dù nhu cầu đó có sự biểu hiện khác nhau trong các đối tượng khác nhau Nhưng nhu cầu tôn giáo không bao giờ tồn tại chung chung, trừu tượng, mà luôn luôn được biểu hiện ở những hành vi cụ thể [25, 28]
Từ thực tiễn xã hội, đồng thời với những đổi mới lý luận và nhận thức, Đảng và Nhà nước đã cho phép một số viện, học viện và trường đại học thành lập một bộ môn khoa học rất mới mẻ ở Việt Nam: “Tôn giáo học” Trong đó tiêu biểu là: Viện Nghiên cứu Tôn giáo, thuộc Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, được thành lập từ năm 1991; Viện nghiên cứu Tôn giáo và Tín ngưỡng, thuộc Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh (nay là Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh), được thành lập năm 1995… Đây thực sự là một cơ sở vững chắc để nâng cao trình độ nhận thức cho cán
bộ đảng viên và cho nhân dân về vấn đề tín ngưỡng, tôn giáo và đào tạo những cán bộ nghiên cứu tôn giáo học và công tác tôn giáo của hệ thống chính trị
Những thành tựu của Việt Nam đạt được trên lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo là một bằng chứng sinh động chứng minh cho chính sách tôn giáo đúng đắn, cởi mở, thực sự tôn trọng, bảo vệ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân, của Đảng và Nhà nước Việt Nam Những kết quả đó buộc Bộ Ngoại giao Mỹ năm 2006 phải đưa Việt Nam ra khỏi danh sách các nước cần đặc biệt quan tâm về tôn giáo (CPC)
Sự phát triển rầm rộ của các tín ngưỡng, tôn giáo bên cạnh những mặt tích cực thì những hiện tượng tiêu cực cũng không phải là ít Chúng tôi xin đưa ra một số mặt còn hạn chế trong đời sống tín ngưỡng, tôn giáo hiện nay:
sự trỗi dậy và phát triển thái quá của các tín ngưỡng, sự bùng phát này đã dẫn một bộ phận người dân không phân biệt được đâu là tín ngưỡng, đâu là mê tín