Tuy nhiên các đề tài của chuyên gia đi trước với mục đích chủ yếu là nghiên cứuchưa có tính thực tiễn cao chính vì vậy dựa trên những nền tảng của các nhànghiên cứu đi trước chúng tôi sẽ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
ĐINH THỊ PHƯƠNG
RÈN LUYỆN NĂNG LỰC CẢM THỤ VĂN HỌC CHỮ HÁN CHO HỌC
SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG (LỚP 10)
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆPNGÀNH SƯ PHẠM NGỮ VĂN
Hà Nội – 2017
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP NGÀNH SƯ PHẠM NGỮ VĂN
RÈN LUYỆN NĂNG LỰC CẢM THỤ VĂN HỌC CHỮ HÁN CHO HỌC
SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG (LỚP 10)
GVHD: TS.LÊ THANH HUYỀN SVTH: ĐINH THỊ PHƯƠNG
Hà Nội – 2017
Trang 3- Các thầy cô trong khoa sư phạm tại Trường ĐH Giáo Dục – ĐHQGHN đã cungcấp nhiều tư liệu quý báu để tác giả có thể hoàn thiện khóa luận đày đủ và sâusắc.
Mặc dù trong quá trình thực hiện đề tài tác giả đã cố gắng tìm tòi, nghiên cứunhưng do năng lực còn hạn chế nên công trình nghiên cứu không tránh khỏithiếu sót Chân thành cảm ơn quý các thầy cô và các bạn độc giả lượng thứ!
Hà Nội 12.5.2015
Tác giả
Đinh Thị Phương
Trang 5MỤC LỤC
LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 6
2 Lịch sử nghiên cứu 8
3 Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu 9
4 Phương pháp nghiên cứu 11
5 Cấu trúc luận văn 12
CHƯƠNG I: CƠ SỞ (KHOA HỌC LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN) 13
1 Cơ sở lí luận 13
1.1 Khái niệm chung về năng lực 13
1.2 Năng lực chung và năng lực chuyên môn 13
1.3 Dạy học phát triển năng lực 14
1.3 Cảm thụ văn học và dạy học phát triển năng lực cảm thụ văn học 24
2 Cơ sở thực tiễn 27
2.1 Vị trí của thơ văn chữ Hán và chữ Nôm trong chương trình Ngữ văn 10 27 2 Thực trạng dạy học đọc hiểu văn bản văn học chữ Hán trong chương trình THPT hiện nay 31
2.3 Thực trạng rèn luyện năng lực cảm thụ thơ văn chữ Hán 34
Chương 2: Đề xuất giải pháp rèn luyện năng lực cảm thụ trong đọc hiểu văn bản chữ Hán 50
Trang 61 Đẩy mạnh vai trò của việc đọc văn bản trong quá trình tiếp nhận 50
1.1 Đọc đúng 50
1.2 Đọc thuộc lòng 52
1.3 Đọc sáng tạo 54
1.4 Đọc có trọng tâm 58
1.5 Đọc kỹ chú thích 59
1.6 Đọc mở rộng 59
2 Ứng dụng các trò chơi con chữ để tạo hứng thú, tăng khả năng ghi nhớ, khả năng phân tích sâu 60
2.1 Trò chơi ô chữ 63
2.2 Trò chơi điền bảng 64
2.3 Trò chơi đọc thơ 66
3 Nâng cao khả năng cảm thụ bằng các thử thách viết sáng tạo 67
4 Sử dụng hợp lý các kỹ thuật dạy học tích cực 68
4.1 Kỹ thuật “khăn trải bàn” 68
4.2 Kỹ thuật "kích não" 72
4.3 Kỹ thuật KWL 76
Biểu đồ KWL 77
4.4 Kỹ thuật chia nhóm 81
5 Chú trọng dạy học dự án để định hướng tiếp nhận và khuyến khích cảm thụ sáng tạo 83
6 Đổi mới kiểm tra đánh giá 85
Trang 7Hoạt động đọc sáng tạo không chỉ là sự đọc ( thật đúng, thật hay, thật ấn tượng) thuần túy mà còn bao gồm sự tổ chức hướng dẫn cho học sinh vận dụng kết hợp
của tư duy Kiểm tra kĩ năng viết của học sinh: 93
Chương III Thực nghiệm sư phạm 99
KẾT LUẬN 117
TÀI LIỆU THAM KHẢO 119
Phụ Lục 121
Trang 9LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Văn học Việt Nam từ thế kỉ X đến hết thế kỉ XIX còn gọi là văn học Trung đạitồn tại và phát triển trong xã hội phong kiến Hai thành phần chủ yếu của vănhọc trung đại là văn học chữ Hán và chữ Nôm Việc dạy văn học trung đại đếnnay vẫn là một thử thách lớn không chỉ với người đứng lớp mà cả những nhànghiên cứu về phương pháp tiếp thụ Ở mảng văn học này tồn tại không ít nhữngrào cản về văn tự không chỉ chữ Hán mà cả chữ Nôm, văn hóa, lịch sử… trongmối tương quan với thời đại chúng ta Văn học chữ Hán suốt một nghìn năm lịch
sử trải qua các thời đại phong kiến với bao truyền thống hiển hách chiến đấudựng nước và giữ nước… Hơi thở của dân tộc đọng lại trong từng câu chữ vớibao vẻ đẹp hào sảng kết tinh ở các thể loại: Chiếu, Biểu, Hịch, Phú, Cáo, Văn tế
và các thể tài văn xuôi khác Thơ chữ Hán là một trong những thành tựu rực rỡcủa văn học trung đại Việt Nam Thơ chữ Hán không chỉ đa dạng về đề tài,phong phú về số lượng tác phẩm, mà còn đạt đến trình độ nghệ thuật điêu luyện,hình tượng thơ hàm xúc, ngôn ngữ tinh tế, sáng tạo Thơ chữ Hán của văn họcTrung Đại Việt Nam thể hiện hai nội dung lớn là yêu nước nhân đạo, phát triểntheo quy luật vừa tiếp thu và dân tộc hóa tinh hoa văn học nước ngoài chủ yếu làvăn học Trung Quốc Thành tựu của thơ chữ Hán có sự đóng góp của những tàinăng lớn như: Phạm Ngũ Lão, Pháp Thuật, Nguyễn Trung Ngạn, Mãn giác Thiền
Sư, Nguyễn Du… Thơ chữ Hán có một giá trị nhân bản rất cao, chứa đựngnhững nỗi niềm mà nhà thơ gửi gắm Đó là những tiếng lòng của nhà thơ nên cósức truyền cảm mạnh mẽ, sâu lắng trong lòng và tồn tại mãi với thời gian
Nền văn học chữ Hán, dù là thơ hay văn xuôi, trữ tình hay tự sự, chính luận ở thểloại nào cũng có những thành tựu lớn một trong những thành tự nghệ thuật đặcsắc gợi mở cho học sinh những tư duy bay bổng Thơ chữ Hán của văn học trungđại Việt Nam được giảng dạy chủ yếu bâc trung học cơ sở (THCS) đến trung học
Trang 10phổ thông (THPT) Nó đã góp phần hình thành những phẩm chất tốt đẹp cho thế
hệ trẻ, giáo dục cho học sinh lòng yêu nước, quê hương thiết tha, lòng nhân ái,nhạy cảm trước cái đẹp, biết vượt qua thử thách để vươn tới lý tưởng cao đẹp.Tuy nhiên hiện nay các em không mấy hứng thú, mặn mà với phần văn học trungđại tiêu biểu là các tác phẩm văn học chữ Hán với lý do “ Đây là các tác phẩmkhó học khó nhớ khó cảm thụ” Trong khi đó nhà trường Việt Nam trong nhữngnăm đầu thế kỷ XXI đang khẩn trương hiện đại hóa hướng đi, phương pháp vàovới từng môn học để hội nhập khu vực và quốc tế, vừa để giữ gìn bản sắc riêngcủa dân tộc thì ở văn học trung đại đã bảo tồn được sâu sắc bản sắc riêng về vănhóa dân tộc
Đặc biệt trong chương trình đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục theo địnhhướng phát triển năng lực cho người học như hiện nay thì việc cung cấp nhữngkiến thức nền tảng cho học sinh là rất cần thiết cho học sinh để các em chủ độnglĩnh hội, khám phá kiến thức một cách sáng tạo Chính vì vậy người giáo viêncần trang bị học sinh một số kĩ năng cần thiết để học sinh cảm thụ tốt các bài thơchữ hán của văn học Trung Đại Việt Nam
Ngày nay trong quá trình giảng dạy môn Ngữ văn trong nhà trường, người ta nóinhiều đến việc cải tiến phương pháp theo hướng tích cực hoá quá trình tiếp nhậntri thức của học sinh (HS) Điều này đúng nhưng chưa đủ, thậm chí sẽ không đạthiệu quả bởi sự chuyển biến này chỉ là phần ngọn Phần gốc ngôn ngữ là phầnquan trọng, phần căn bản nhưng lại chưa được nhìn nhận một cách thấu đáo.Trong khuôn khổ bài viết này tôi muốn đề cập đến vấn đề: Rèn luyện năng lựccảm thụ văn học chữ Hán cho học sinh Trung học phổ thông (lớp 10)
Hiện thực đã cho thấy chất lượng dạy và học môn Ngữ văn đã và đã và đang códấu hiệu giảm sút nghiêm trọng Sau mỗi kì thi quan trọng báo chí lại cho đăngtải những bài viết chi chít lỗi ngôn ngữ của thí sinh trong đó lỗi về dùng từ Hán
Trang 11Việt chiếm một phần không nhỏ Ngay bản thân chúng tôi là những thầy cô giáotương lai cũng gặp không ít khó khăn trong việc tiếp cận các tác phẩm, tôi càngcảm nhận sâu sắc hơn vấn đề này hơn.Điều đó phản ánh một hiện thực, HS ngàynay rất thờ ơ với việc trau dồi khả năng sử dụng tiếng mẹ đẻ thông qua nhữnggiờ học Ngữ văn Quả thật đây là một điều cần được nhìn nhận một cách nghiêmtúc và nhanh chóng có những công trình điều tra xã hội trên bình diện rộng khắp
từ đó đưa ra những giải pháp thật cụ thể và thiết thực để chấn chỉnh
2 Lịch sử nghiên cứu.
Việc nhiên cứu và tìm tòi ra nhiều biện pháp để tạo hứng thú học tập cho họcsinh nói chung và môn Ngữ văn nói riêng từ lâu đã được các nhà khoa học vàcác nhà sư phạm quan tâm Trên thực tế đã có nhiều công trình nghiên cứu vềvấn đề này và có thể kể ra đây một số công trình
Dạy học các tác phẩm thơ Đường ở THPT theo chương trình mới của Lê XuânSoan
Nguyễn Sĩ Cẩn (1984) Mấy vấn đề phương pháp giảng dạy thơ văn cổ điển ViệtNam
Nguyễn Huệ Chi (1982) Con đường giao tiếp văn học cổ Trung Đại Việt Namnhìn trong khu vực
Nguyễn Thị Thanh Hương (1998) Phương pháp tiếp cận tác phẩm văn học ởtrường phổ thông trung học NXB Giáo dục
Nguyễn Thanh Hùng (2002) kỹ năng đọc hiểu văn NXB Đại học sư phạm
Phan Trọng Luận (1993) Văn học nhà trường – Nhận diện, tiếp cận, đổi mới.NXB Đại học sư phạm, Hà Nội
Ưu điểm : Những nhà nghiên cứu đi trước đã có tìm hiểu rất kĩ về các yếu tố ảnhhưởng và cản trở đến việc phát triển văn học chữ Hán và chữ Nôm ở trườngTHPT và tầm quan trọng của nó trong việc giảng dạy trong giáo duc Việt Nam
Trang 12Tuy nhiên các đề tài của chuyên gia đi trước với mục đích chủ yếu là nghiên cứuchưa có tính thực tiễn cao chính vì vậy dựa trên những nền tảng của các nhànghiên cứu đi trước chúng tôi sẽ phát triển đề tài mang tính thực tiễn nhiều hơn.
Áp dụng vào thực tế giảng dạy trong các trường THPT để giúp các em có thểphát triển năng lực đọc hiểu một cách toàn diện và đồng bộ các tác phẩm vănchương nói chung và các tác phẩm khó như phần văn học chữ Hán nói riêng
3 Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Từ việc tìm hiểu lí thuyết về cảm thụ và năng lực cảm thụ trong đọc hiểu vănbản , các điều kiện nguyên tắc và vận dụng lí thuyết về cảm thụ và năng lực cảmthụ trong đọc hiểu văn bản chữ Hán chương trình ngữ văn lớp 10 chúng tôi tiếnhành điều tra về năng lực cảm thụ của các em và từ đó có những biện pháp giúpcác em phát triển toàn diện năng lực của học sinh Trong đề tài của mình tôi đềxuất một số biện pháp để tạo hứng thú cho học sinh phát triển năng lực cảm thụtrong đọc hiểu văn học chữ Hán nhằm giúp học sinh yểu thích môn học này Từ
đó, góp phần nâng cao chất lượng dạy thơ chữ Hán nói riêng, dạy văn học nướcngoài và môn ngữ văn nói chung
Để đạt được những mục đích đề ra ở trên, đề tài tập trung nghiên cứu các nộidung sau:
Nghiên cứu cơ sở khoa học bao gồm cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn của việcphát triển năng lực cảm thụ trong đọc hiểu văn bản chương trình văn học chữHán
- Đề xuất các giải pháp để để phát triển năng lực cảm thụ trong dạy đọc hiểu vănbản văn bản chữ Hán
- Tổ chức dạy học dự án, dạy học nhóm và sử dụng các phương tiện dạy học tích
Trang 13cực để phát triển năng lực cho học sinh.
- Thực nghiệm sư phạm để kiểm chứng tính khả thi của những giải pháp pháttriển năng lực cảm thụ trong dạy đọc hiểu văn bản chương trình văn học chữHán
Lớp 10 trường THPT Việt Đức – Hà Nội
- Hướng triển khai nghiên cứu
Nghiên cứu về những thuyết tâm lí về năng lực và phát triển năng lực cho họcsinh và đặc trưng của thơ chữ Hán trong chương trình ngữ văn 10, điều kiện đểphát triển toàn diện cho học sinh khi dạy các tác phẩm này: phương pháp,phương tiện dạy học, môi trường học tập, hình thức và phương pháp kiểm trađánh giá
Giữa các đặc trưng của thơ chữ Hán và tâm lí học sinh trong khi học thơ có thểtạo ra những khó khăn nhưng cũng có một số thuận lợi trong việc xây dựngnhững phương pháp mới sáng tạo để phát triển năng lực cảm thụ cho học sinhtạo hứng thú học tập
Các biện pháp để phát triển năng lực cho học sinh trong dạy học đọc hiểu thơchữ Hán phải đảm bảo các nguyên tắc: Đảm bảo tính hình tượng, tính nghệ thuậttrong khi dạy học Ngữ Văn; tăng cường cho học sinh liên hệ với bản thân; cáchoạt động đảm bảo tính vừa sức; đảm bảo tính dân chủ ; tăng cường phát huy sứcmạnh của hứng thú cá nhân và trí tuệ tập thể
Trang 14Có thể đưa ra một số biện pháp để phát triển năng lực cảm thụ cho học sinhtrong dạy đọc – hiểu văn bản văn học chữ Hán, trong chương trình Ngữ văn lớp10: Phương pháp đọc sáng tạo, phương pháp vấn đáp- đàm thoại tích cực,phương pháp dạy học nêu vấn đề, phương pháp trò chơi học tập, biện pháp ứngdụng công nghệ thông tin trong day học.
Việc xây hựng các hệ thống các biện pháp phát triển năng lực cảm thụ cho họcsinh trong dạy học Ngữ văn lớp 10 giúp học sinh hứng thú, say mê, sáng tạo, vàchủ động chiếm lĩnh tri thức để giờ học ngữ văn không còn căng thẳng, nhàmchán và có thể liên hệ tới quan niệm sống , suy nghĩ của bản thân trong đời sốnghiệm đại
4 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này, chúng tôi sử dụng các phương pháp sau:
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu:
Tiếp thu kinh nghiệm của các nhà khoa học, đồng nghiệp, xác định cơ sở khoahọc cho việc phát triển năng lực cảm thụ các tác phẩm văn học
- Nhóm phương pháp chuyên gia bao gồm:
+ Phương pháp quan sát: Quan sát các giờ dạy – học thơ Hán của giáo viên vàhọc sinh 10 (có sử dụng phiếu nhật ký quan sát đề ghi lại kết quả), chú ý đến cácbiểu hiện, thái độ, hành động của học sinh trong giờ học
+ Phương pháp phỏng vấn: Phỏng vấn các giáo viên và học sinh đang giảng dạy
và học Ngữ văn 10 tại trường THPT Việt Đức
+ Phương pháp thảo luận: Tổ chức thảo luận cùng giáo viên bộ môn Ngữ văn vànhận ý kiến đề xuất của học sinh để phát triển toàn diện cho học sinh
+ Phương pháp thực nghiệm: Thực nghiệm đối chứng quy trình dạy học cụ thể
có sự vận dụng hệ thống tạo biện pháp để phát triển năng lực cảm thụ cho học
Trang 15sinh trong chương trình giảng dạy đọc hiểu văn học chữ Hán lớp 10
+ Phương pháp điều tra qua phiếu hỏi đối với học sinh các lớp trong mẫu khảosát
- Phương pháp thống kê:
Thống kê kết quả khảo sát, kết quả của lớp thực nghiệm và đối chứng trong tổthực nghiệm
5 Cấu trúc luận văn
Ngoài cấu trúc mở đầu, kết luận, khuyến nghị, tài liệu tham khảo, luận văn đượctrình bày trong 3 chương
Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn
Chương 2: Đề xuất giải pháp rèn luyện năng lực cảm thụ trong đọc hiểu văn bảnchữ Hán
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm và khuyến nghị
Trang 16CHƯƠNG I: CƠ SỞ (KHOA HỌC LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN)
1 Cơ sở lí luận
1.1 Khái niệm chung về năng lực
Theo quan điểm của những nhà tâm lý học
Năng lực là tổng hợp các đặc điểm, thuộc tính tâm lý của cá nhân phù hợp vớiyêu cầu đạc trưng của một hoạt động, nhất định nhằm đảm bảo cho hoạt động đóđạt hiệu quả cao
Các năng lực hình thành trên cơ sở của các tư chất tự nhiên của cá nhân nới đóngvai trò quan trọng, năng lực của con người không phải hoàn toàn đo tự nhiên mà
có, phần lớn do công tác, do tập luyện mà có
1.2 Năng lực chung và năng lực chuyên môn
Tâm lý học chia năng lực thành các dạng khác nhau như năng lực chung và nănglực chuyên môn
- Năng lực chung là năng lực cần thiết cho nhiều ngành hoạt động khác nhau nhưnăng lực phán xét tư duy lao động, năng lực khái quát hoá, năng lực tưởngtưởng
- Năng lực chuyên môn là năng lực đặc trưng trong lĩnh vực nhất định của xã hộinhư năng lực tổ chức, năng lực âm nhạc, năng lực kinh doanh, hội hoạ, toánhọc Năng lực chung và năng lực chuyên môn có quan hệ qua lại hữu cơ vớinhau, năng lực chung là cơ sở của năng lực chuyên luôn, nếu chúng càng pháttriển thì càng dễ thành đạt được năng lực chuyên môn Ngược lại sự phát triển
Trang 17của năng lực chuyên môn trong những điều kiện nhất định lại có ảnh hưởng đốivới sự phát triển của năng lực chung Trongg thực tế mọi hoạt động có kết quả
và hiệu quả cao thì mỗi người đều phải cớ năng lực chung phát triển ở trình độcần thiết và có một vài năng lực chuyên môn tương ứng với lĩnh vực công việccủa mình Những năng lực cơ bản này không phải là bẩn sinh, mà nó phải đượcgiáo dục phát triển và bồi dưỡng ở con người Năng lực của một người phối hợptrong mọi hoạt động là nhờ khả năng tự điều khiển, tự quản lý, tự điều chỉnh ởlỗi cá nhân được hình thành trong quá trình sống và giáo dục của mỗi người.Năng lực còn được hiểu theo một cách khác, năng lực là tính chất tâm sinh lýcủa con người chi phối quá trình tiếp thu kiến thức, kỹ năng và kỹ xảo tối thiểu
là cái mà người đó có thể dùng khi hoạt động Trong điều kiện bên ngoài nhưnhau những người khác nhau cớ thể tiếp thu các kiến thức kỹ năng và kỹ xảo đóvới nhịp độ khác nhau có người tiếp thu nhanh, có người phải mất nhiều thờigian và sức lực mới tiếp thu được, người này có thể đạt được trình độ điêu luyệncao còn người khác chỉ đạt được trình trung bình nhất định tuy đã hết sức cốgắng Thực tế cuộc sống có một số hình thức hoạt động như nghệ thuật, khoahọc, thể thao Những hình thức mà chỉ những người có một số năng lực nhấtđịnh mới có thể đạt kết quả
1.3 Dạy học phát triển năng lực
Để nắm được cơ bản các dấu hiệu khi nghiên cứu bản chất của năng lực ta cầnphải xem xét trên một số khía cạnh sau:
- Năng lực là sự khác biệt tâm lý của cá nhân người này khác người kia, nếu một
sự việc thể hiện rõ tính chất mà ai cũng như ai thì không thể nói về năng lực
- Năng lực chỉ là những khác biệt có liên quan đến hiệu quả việc thực hiện mộthoạt động nào đó chứ không phải bất kỳ những sự khác nhau cá biệt chung
Trang 18chung nào.
- Khái niệm năng lực không liên quan đến những kiến thức kỹ năng, kỹ xảo đãđược hình thành ở một người nào đó Năng lực chỉ làm cho việc tiếp thu các kiếnthức kỹ năng, kỹ xảo trở nên dễ dàng hơn
- Năng lực con người bao giờ cũng có mầm mống bẩm sinh tuỳ thuộc vào sự tổchức của hệ thống thần kinh trung ương, nhưng nó chỉ được phát triển trong quátrình hoạt động phát triển của con người, trong xã hội có bao nhiêu hình thứchoạt động của con người thì cũng có bấy nhiêu loại năng lực có người có nănglực về điện, có người có năng lực về lái máy bay, có người có năng lực về thểthao Năng lực của người lãnh đạo quản lý chính là năng lực tổ chức, Lê Nin
đã vạch ra đầy đủ cấu trúc của năng lực tổ chức chỉ ra những thuộc tính cần thiếtcho người cán bộ tổ chức là bất cứ người lãnh đạo nào cũng cần phải có: Sựminh mẫn và tài xắp xếp công việc sự hiểu biết mọi người
Như vậy năng lực của mỗi người là không giống nhau vì vậy cách tiếp nhậncông việc không giống hau và mực độ hoàn thành công việc năng lực khônggiống nhau tùy vào mức độ tiếp nhận và năng lực làm việc của mỗi cá nhân.Theo chương trình của Bộ Giáo Dục và Đào tạo Chương trình giáo dục địnhhướng phát triển năng lực (định hướng phát triển năng lực) nay còn gọi là dạyhọc định hướng kết quả đầu ra được bàn đến nhiều từ những năm 90 của thế kỷ
20 và ngày nay đã trở thành xu hướng giáo dục quốc tế Giáo dục định hướngphát triển năng lực nhằm mục tiêu phát triển năng lực người học
Giáo dục định hướng năng lực nhằm đảm bảo chất lượng đầu ra của việc dạyhọc, thực hiện mục tiêu phát triển toàn diện các phẩm chất nhân cách, chú trọngnăng lực vận dụng tri thức trong những tình huống thực tiễn nhằm chuẩn bị chocon người năng lực giải quyết các tình huống của cuộc sống và nghề nghiệp.Chương trình này nhấn mạnh vai trò của người học với tư cách chủ thể của quá
Trang 19trình nhận thức.
Khác với chương trình định hướng nội dung, chương trình dạy học định hướngphát triển năng lực tập trung vào việc mô tả chất lượng đầu ra, có thể coi là ”sảnphẩm cuối cùng” của quá trình dạy học Việc quản lý chất lượng dạy học chuyển
từ việc điều khiển “đầu vào” sang điều khiển “đầu ra”, tức là kết quả học tập củaHS
Chương trình dạy học định hướng phát triển năng lực không quy định những nộidung dạy học chi tiết mà quy định những kết quả đầu ra mong muốn của quátrình giáo dục, trên cở sở đó đưa ra những hướng dẫn chung về việc lựa chọn nộidung, phương pháp, tổ chức và đánh giá kết quả dạy học nhằm đảm bảo thựchiện được mục tiêu dạy học tức là đạt được kết quả đầu ra mong muốn Trongchương trình định hướng phát triển năng lực, mục tiêu học tập, tức là kết quả họctập mong muốn thường được mô tả thông qua hệ thống các năng lực(Competency) Kết quả học tập mong muốn được mô tả chi tiết và có thể quansát, đánh giá được HS cần đạt được những kết quả yêu cầu đã quy định trongchương trình Việc đưa ra các chuẩn đào tạo cũng là nhằm đảm bảo quản lý chấtlượng giáo dục theo định hướng kết quả đầu ra
Ưu điểm của chương trình giáo dục định hướng phát triển năng lực là tạo điềukiện quản lý chất lượng theo kết quả đầu ra đã quy định, nhấn mạnh năng lựcvận dụng của HS Tuy nhiên nếu vận dụng một cách thiên lệch, không chú ý đầy
đủ đến nội dung dạy học thì có thể dẫn đến các lỗ hổng tri thức cơ bản và tính hệthống của tri thức Ngoài ra chất lượng giáo dục không chỉ thể hiện ở kết quả đầu
ra mà còn phụ thuộc quá trình thực hiện
Trong chương trình dạy học định hướng phát triển năng lực, khái niệm năng lựcđược sử dụng như sau:
- Năng lực liên quan đến bình diện mục tiêu của dạy học: mục tiêu dạy học được
Trang 20mô tả thông qua các năng lực cần hình thành;
- Trong các môn học, những nội dung và hoạt động cơ bản được liên kết vớinhau nhằm hình thành các năng lực;
- Năng lực là sự kết nối tri thức, hiểu biết, khả năng, mong muốn ;
- Mục tiêu hình thành năng lực định hướng cho việc lựa chọn, đánh giá mức độquan trọng và cấu trúc hóa các nội dung và hoạt động và hành động dạy học vềmặt phương pháp;
- Năng lực mô tả việc giải quyết những đòi hỏi về nội dung trong các tình huống:
ví dụ như đọc một văn bản cụ thể Nắm vững và vận dụng được các phép tính
Chương trình định hướng phát triển năng lực
Mục tiêu
giáo dục
Mục tiêu dạy học được mô tảkhông chi tiết và không nhấtthiết phải quan sát, đánh giáđược
Kết quả học tập cần đạt được mô tảchi tiết và có thể quan sát, đánh giáđược; thể hiện được mức độ tiến bộcủa HS một cách liên tục
Nội dung
giáo dục
Việc lựa chọn nội dung dựavào các khoa học chuyênmôn, không gắn với các tình
Lựa chọn những nội dung nhằm đạtđược kết quả đầu ra đã quy định,gắn với các tình huống thực tiễn
Trang 21huống thực tiễn Nội dungđược quy định chi tiết trongchương trình.
Chương trình chỉ quy định nhữngnội dung chính, không quy định chitiết
- GV chủ yếu là người tổ chức, hỗtrợ HS tự lực và tích cực lĩnh hội trithức Chú trọng sự phát triển khảnăng giải quyết vấn đề, khả nănggiao tiếp,…;
- Chú trọng sử dụng các quan điểm,phương pháp và kỹ thuật dạy họctích cực; các phương pháp dạy họcthí nghiệm, thực hành
Tiêu chí đánh giá dựa vào năng lựcđầu ra, có tính đến sự tiến bộ trongquá trình học tập, chú trọng khảnăng vận dụng trong các tình huốngthực tiễn
Để hình thành và phát triển năng lực cần xác định các thành phần và cấu trúc củachúng.Có nhiều loại năng lực khác nhau.Việc mô tả cấu trúc và các thành phần
Trang 22năng lực cũng khác nhau Cấu trúc chung của năng lực hành động được mô tả là
sự kết hợp của 4 năng lực thành phần: Năng lực chuyên môn, năng lực phươngpháp, năng lực xã hội, năng lực cá thể
(i) Năng lực chuyên môn (Professional competency): Là khả năng thực hiện các
nhiệm vụ chuyên môn cũng như khả năng đánh giá kết quả chuyên môn mộtcách độc lập, có phương pháp và chính xác về mặt chuyên môn Nó được tiếpnhận qua việc học nội dung – chuyên môn và chủ yếu gắn với khả năng nhậnthức và tâm lý vận động
(ii) Năng lực phương pháp (Methodical competency): Là khả năng đối với những
hành động có kế hoạch, định hướng mục đích trong việc giải quyết các nhiệm vụ
và vấn đề Năng lực phương pháp bao gồm năng lực phương pháp chung vàphương pháp chuyên môn Trung tâm của phương pháp nhận thức là những khảnăng tiếp nhận, xử lý, đánh giá, truyền thụ và trình bày tri thức Nó được tiếpnhận qua việc học phương pháp luận – giải quyết vấn đề
Năng lực xã hội (Social competency): Là khả năng đạt được mục đích trong
những tình huống giao tiếp ứng xử xã hội cũng như trong những nhiệm vụ khácnhau trong sự phối hợp chặt chẽ với những thành viên khác Nó được tiếp nhậnqua việc học giao tiếp
Năng lực cá thể (Induvidual competency): Là khả năng xác định, đánh giá được
những cơ hội phát triển cũng như những giới hạn của cá nhân, phát triển năngkhiếu, xây dựng và thực hiện kế hoạch phát triển cá nhân, những quan điểm,chuẩn giá trị đạo đức và động cơ chi phối các thái độ và hành vi ứng xử Nóđược tiếp nhận qua việc học cảm xúc – đạo đức và liên quan đến tư duy và hànhđộng tự chịu trách nhiệm
Mô hình cấu trúc năng lực trên đây có thể cụ thể hoá trong từng lĩnh vực chuyênmôn, nghề nghiệp khác nhau.Mặt khác, trong mỗi lĩnh vực nghề nghiệp người ta
Trang 23cũng mô tả các loại năng lực khác nhau Ví dụ năng lực của GV bao gồm nhữngnhóm cơ bản sau: Năng lực dạy học, năng lực giáo dục, năng lực chẩn đoán và tưvấn, năng lực phát triển nghề nghiệp và phát triển trường học.
Mô hình bốn thành phần năng lực trên phù hợp với bốn trụ cốt giáo dục theoUNESCO:
Từ cấu trúc của khái niệm năng lực cho thấy giáo dục định hướng phát triểnnăng lực không chỉ nhằm mục tiêu phát triển năng lực chuyên môn bao gồm trithức, kỹ năng chuyên môn mà còn phát triển năng lực phương pháp, năng lực xãhội và năng lực cá thể Những năng lực này không tách rời nhau mà có mối quan
hệ chặt chẽ Năng lực hành động được hình thành trên cơ sở có sự kết hợp cácnăng lực này
Nội dung dạy học theo quan điểm phát triển năng lực không chỉ giới hạn trong trithức và kỹ năng chuyên môn mà gồm những nhóm nội dung nhằm phát triển cáclĩnh vực năng lực:
Trang 24Học nội dung
chuyên môn
Học phương pháp chiến lược
Học giao tiếp
-Xã hội
Học tự trải nghiệm - đánh giá
- Các phương phápnhận thức chung:
Thu thập, xử lý,đánh giá, trình bàythông tin
- Các phương phápchuyên môn
- Làm việc trongnhóm
- Tạo điều kiệncho sự hiểu biết
về phương diện
xã hội
- Học cách ứng
xử, tinh thầntrách nhiệm, khảnăng giải quyếtxung đột
- Tự đánh giá điểmmạnh, điểm yếu
- XD kế hoạch pháttriển cá nhân
- Đánh giá, hìnhthành các chuẩnmực giá trị, đạođức và văn hoá,lòng tự trọng
Năng lực chuyên
môn
Năng lực phương pháp
Năng lực xã hội Năng lực cá nhân
Theo tiến sỹ Ngô Thị Thu Dung – Giảng viên Trường Đại học Giáo dục (Đại họcQuốc gia Hà Nội), dạy học và giáo dục cần hướng tới “vùng phát triển năng lựcgần nhất” Đồng thời phải dự trên cấu trúc cùa hoạt động, của nhận thức
“Kết quả của hướng tác động này sẽ đem lại kết quả trong sự phát triển ở người học Cụ thể như: Góp phần xây dựng động cơ học tập, nhu cầu đối với tri thức
và tăng cường thái độ tích cực đối với học tập.Đồng thời giúp người học có
Trang 25được tri thức sâu, chính xác, phản ảnh đúng bản chất, kỹ năng kỹ xảo chắc chắn Quan sát sâu, có tính khái quát, trình độ tư duy và năng lực phát triển cao.”
Tiến sỹ Ngô Thị Thu Dung nhấn mạnh: Hướng phát triển này dựa trên lý luận:Giáo dục cần phải tác động vào những kết cấu tâm lý chưa hoàn thiện, các chứcnăng tâm lý chưa hoàn thành để xây dựng được những kết cấu mới
“Nói như vậy có nghĩa là giáo dục cần phải hướng đến phạm vi vùng phát triểngần của học sinh, hay nói cách khác giáo dục phải đi trước sự phát triển, hướngđến sự phát triển hoàn thiện hơn”
Theo đó, tiến sỹ Dung cho rằng, hướng phát triển này cần tiến hành theo các nộidung sau:
Tôn trọng vốn sống của người học Cần phải xác định được mức độ phát triểnhiện tại của người học, những gì người học đang có và những gì người học cóthể phát triển trong tương lai gần để từ đó có những cách giáo dục phù hợp nhất.Đây là cách giáo dục cá biệt hóa, sát đối tượng
Khi nhà giáo dục làm được điều này sẽ làm tăng hứng thú học tập của người học,tạo ra không khí làm việc thoải mái, tự tin vì những hoạt động mà người họchiện nằm trong khả năng của họ
Xây dựng việc dạy học và giáo dục trên lớp mức độ khó khăn và nhịp điệu học
có tính thử thách.Việc học cần phải được phát triển dần từ thấp đến cao và luônđặt cho người học những nhiệm vụ cần giải quyết
Khi giải quyết được một vấn đề theo yêu cầu, người học cần phải xem xét thêmnhững vấn đề khác có liên quan để tìm hiểu toàn diện vấn đề đặt ra Nhịp điệuhọc có tính thử thách nghĩa là tránh việc để học sinh dậm chân tại chỗ hay nhắc
đi nhắc lại nhiều lần một vấn đề
Nâng tỉ trọng tri thức lý luận khái quát Tùy theo mức độ nhận thức của người
Trang 26học để đưa ra mức độ tri thức lý luận khái quát phù hợp Tuy nhiên, khi ngườihọc có khả năng thì có thể cho người học các định luật, các quy tắc, các biểuthức để cho người học có thể khái quát hóa các quy tắc hay định luật đó.
Đồng thời, phải làm cho người học có ý thức về toàn bộ quá trình học tập, tựgiác khi học.Việc người học ý thức được toàn bộ quá trình học tập giúp cho họ
có thể xâu chuỗi kiến thức, tìm ra mối liên hệ giữa các kiến thức đồng thời xâydựng được kế hoạch học tập phù hợp
Giáo dục dựa trên cấu trúc của hoạt động và nhận thức
“Muốn phát triển năng lực cho người học thì đầu tiên cần phải hình thành tư duy lý luận, nghĩa là cần phải thay đổi căn bản cấu trúc của nội dung và phương pháp học”.
Liên quan đến nội dung này, tiến sỹ Dung chia sẻ: Cơ sở lý luận của hướng tiếpcận này là quá trình phát triển tâm lý của người học qua việc lĩnh hội những kinhnghiệm, lịch sử xã hội loài người, từ đó tái tạo các năng lực và phương thức hành
vi có tính người đã hình thành trong lịch sử
Để làm được điều này, người học phải có các hoạt động nhận thức và hoạt độngthực tiễn phù hợp với hoạt động của con người, hoạt động đã hiện thân gửi gắmcác công cụ và tri thức đó
Muốn thực hiện tốt theo hướng này, nhà giáo dục cần phải chỉ rõ cấu trúc củahoạt động của con người thể hiện trong kiến thức cụ thể hay một kỹ năng cụ thể.Nghiên cứu cách tổ chức hoạt động của người học và năng lực của họ để có thểđảm bảo người học có đủ khả năng tiếp nhận được cấu trúc hoạt động của conngười thể hiện trong kiến thức hay một kỹ năng cụ thể
Từ xuất phát điểm này, TS Dung đề xuất: phương pháp giáo dục theo hướng trênnhà giáo cần phải làm cho người học cảm thấy hứng thú và thấy cần thiết phảitiếp nhận nội dung học, nội dung khái niệm, quá trình xây dựng khái niệm,
Trang 27nguồn gốc khái niệm.
Mặt khác, phải làm cho người học có kỹ năng ghi nội dung các khái niệm bằng
mô hình và sử dụng mô hình như là một phương tiện học tập
Việc cung cấp khái niệm cho người học không phải là dạng có sẵn mà phải đểngười học xem xét từ nguồn gốc phát sinh, mối liên hệ xuất phát và bản chất củakhái niệm, khôi phục lại mối liên hệ đó bằng mô hình, ký hiệu, hướng dẫn ngườihọc chuyển dần và kịp thời từ các hành động trực tiếp với các sự vật sang cácthao tác và hoạt động trí tuệ (người học cần kiến tạo kiến thức)…
Đồng thời, có kỹ năng giải quyết các nhiệm vụ cụ thể trên cơ sở những tri thức
lý luận khách quan phù hợp với chúng
“Dạy học theo hướng này sẽ đạt đến những kết quả tích cực sau: Người học hìnhthành được khái niệm không dựa trên quan sát và so sánh tính chất bề ngoài của
sự vật mà trên cơ sở hành động với đối tượng, các mối liên hệ bản chất giữa các
sự vật
Người học nắm được cái chung, cái tổng quát, trừu tượng trước khi nắm đượcnhững riêng, cụ thể, phức tạp Người học nắm được khái niệm bằng các hoạtđộng độc lập dưới dạng tìm tòi, khám phá từ những tình huống và điều kiện mà ở
đó như cầu đã được nảy sinh”
1.3 Cảm thụ văn học và dạy học phát triển năng lực cảm thụ văn học.
“ Cảm thụ văn học là một quá trình tiếp nhận, hiểu, cảm được văn chương , tínhhình tượng của văn chương, đặc trưng ngôn ngữ nghệ thuật, đặc trưng phản ánhnghệ thuật của văn chương”( Phương pháp dạy học tiếng Việt ở tiểu học,NXBDHQG, Hà Nội 1999)
“Cảm thụ văn học là cảm nhận giá trị nổi bật, những điều sâu sắc, tế nhị và đẹp
đẽ của văn học thể hiện trong tác phẩm (cuốn truyện, bài thơ, bài văn….) haymột bộ phận của tác phẩm (đoạn văn, đoạn thơ, … thậm chí chỉ một từ ngữ có
Trang 28giá trị trong câu văn câu thơ”(Luyện tập cảm thụ văn học , NXB Giáo dục ,2003).
Cảm thụ văn học là hoạt động thâm nhập vào thể giới nghệ thuật của tác phẩmvăn học bằng nhiều tinh thần, tri giác xúc giác thị giác, liên tưởng và tưởngtượng nhằm phát hiện, khám phám, chiếm lĩnh tinh thần thẩm mĩ của vănchương , tạo được mối quan hệ đặc biệt giữa tác giả và bạn đọc
- Cấu trúc của cảm thụ văn học: là sự đan xen phức tạp các yếu tố: tri giác, lígiải, xúc cảm, liên tưởng tưởng tượng văn học
- Mục đích của cảm thụ: Cảm nhận phát hiện khám phá và chiếm lĩnh bản chấtthẩm mĩ của văn chương, nhằm bồi dưỡng mĩ cảm phong phú, cho độc giả
Yêu cầu của cảm thụ văn học:
+ Phải có xúc cảm, suy ngẫm, tưởng tượng, thực sự gần gũi “ nhập thân vào thếgiới nghệ thuật của tác phẩm văn hoc
+ Cảm nhận những giá trị nổi bật, những điều nổi bật, những điều sâu sắc, tế nhị
và đẹp đẽ nhất của văn học thể hiện trong tác phẩm văn học hay một bộ phận củatác phẩm văn học
+ Phương thức chiếm lĩnh đối tượng chủ yếu là bằng tình cảm, những xúc độngmang tính trực quan, trực cảm mang tính suy luận, liên tưởng,…
+ Cảm thụ văn học đặc biệt cần đến sự tinh tế nhạy cảm, sâu sắc của tâm hồn,cần đến vốn sống văn hóa, sự trải nghiệm của con người
Cảm thụ văn học và tiếp nhận văn học
– Tiếp nhận văn học là hoạt động “tiêu dùng”, thưởng thức”, “phê bình” văn họccủa độc giả Nó góp phần làm thỏa mãn nhu cầu tinh thần, nhu cầu thẩm mỹ củacon người trong cuộc sống Nó giúp hoạt động sáng tạo nghệ thuật trở nên có ýnghĩa, có mục đích và những giá trị chân chính của tác phẩm văn học được bảotồn và được phát triển phong phú.mang tính đặc thù trong tiếp nhận văn học
Trang 29Đọc hiểu Cảm thụ
- Là nắm bắt thông tin, là quá trình
nhận thức để có khả năng thông hiểu
những gì được đọc
- Là đọc – hiểu ở mức độ cao nhất, hiểusâu sắc tác phẩm, khám phá chiếm lĩnhbản chất thẩm mỹ của văn chương
- Hiệu quả: hiểu được ý nghĩa của ngôn
ngữ nghệ thuật : nắm bắt được nội
dung thông tin của văn bản -> thiên về
tri giác
- Hiệu quả: đánh giá khả năng sử dụngngôn ngữ nghệ thuật, thẩm thấu thôngtin, cảm nhận ý nghĩa sâu xa của tácphẩm, tạo mối quan hệ giao cảm tác giả
- bạn đọc -> huy động cả tri giác, xúccảm tưởng tượng…
- Đọc hiểu tất cả các loại văn bản - Cảm thụ văn bản nghệ thuật
- Mối quan hệ giữa đọc – hiểu và cảm thụ văn học.
Đọc - hiểu và cảm thụ văn học là những hoạt động thâm nhập vào tác phẩm vănchương.Chúng có sự tác động qua lại, thống nhất nhưng không đồng nhất Có thểnói từ đọc hiểu đến cảm thụ là một tiến trình chiếm lĩnh thế giới nghệ thuật Nếucoi đọc hiểu là bước khởi đầu, là nền móng cảm thụ văn học thì cảm thụ văn học
là bước cuối cùng hoàn thành quá trình thâm nhập một văn bản nghệ thuật Tuynhiên mỗi người lại có cách cảm thụ văn học khác nhau và người ta gọi đó lànăng lực cảm thụ Vậy năng lực cảm thụ là gì?
Năng lực cảm thụ là khả năng nắm bắt một cách nhanh, nhạy, chính xác, các đặcđiểm đặc trưng đặc trưng tác phẩm về nội dung và nghệ thuật, là khả năng hiểu,rung cảm một cách sâu sắc, tinh tế với những điều tâm sự thầm kín nhất của tác
Trang 30giả gửi gắm qua hình tượng là khả năng đánh giá chính xác và sâu sắc tài năngcũng như sự độc đáo trong phong cách nhà văn.
Năng lực cảm thụ văn học ở mỗi người không hoàn toàn giống nhau do nhiềuyếu tố qui định như: vốn sống và hiểu biết, năng lực và trình độ kiến thức, tìnhcảm và thái độ, sự nhạy cảm và tiếp xúc với tác phẩm văn học, …Ngay ở cả mộtngười, sự cảm thụ ở một bài văn, bài thơ, trong một thời điểm khác nhau cũngkhác nhau
Thơ chữ Hán trong chương trình Ngữ văn 10 là tiền đề vô cùng quan trọng trongquá trình phát triển năng lực phân tích lịch sử văn học và cảm thụ văn học
Do quan hệ đặc biệt giũa Việt Nam và Trung Quốc, văn học viết nước ta ngay từbuổi đầu ra đời đã chịu ảnh hưởng sâu sắc và chịu nhiều ảnh hưởng sâu sắcnhiều yếu tố văn học Hán, văn hóa Hán Từ chữ viết là chữ Hán đến các thể tàisáng tác văn học như thơ Đường (gồm thất ngôn bát cú, thất ngôn tứ tuyệt) thơ
cổ phong phú, truyện, kí ….Thơ chữ Hán là một thành tựu xuất sắc của văn họctrung đại Việt
Phân phối chương trình văn học chữ Hán Ngữ Văn 10
Cả năm học: 37 tuần = 10 tiết
Học kỳ I: 19 tuần (16 tuần x 3 tiết + 3 tuần x 2 tiết = 54 tiết)
Học kỳ II: 18 tuần (3 tuần x 2 tiết + 15 tuần x 3 tiết = 51 tiết)
Trong đó văn học chữ Hán và chữ Nôm: 16 tiết
Trang 3121 2 tiết Phú sông Bạch Đằng (Bạch Đằng giang phú).
Tiết 1 tìm hiểu tác giả tác phẩm
Tiết 2 – 3: Tìm hiểu tác phẩm
28
2 tiết Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ (chinh phụ
ngâm)
Trang 32Bảng các tác phẩm văn học nước ngoài trong chương trình Ngữ Văn 10.
3 3 Tam quốc diễn nghĩa
+ Hồi trống cổ thành
+ Tào Tháo uống rượu luận anh
hùng
La Quán Trung(Trung Quốc)
Đọc thêm
4 Tại lầu Hoàng Hạc tiễn Mạnh Hạo
Nhiên đi Quảng Lăng
Lí Bạch (TrungQuốc)
5 Cảm xúc mùa thu Đỗ phủ ( Trung
Trang 33để giúp học sinh hiểu rõ vấn đề.
Ví dụ:
Với những từ ghép Hán Việt là những từ ghép đa nghĩa khi đi vào ngôn ngữViệt để trở thành từ ghép Hán- Việt- Việt tạo theo cách mở rộng nghĩa của từcũng có nhiều tiểu loại khác nhau: mượn nghĩa gốc, mở rộng nghĩa phái sinh,mượn nghĩa phái sinh và mở rộng thêm nghĩa Sau khi dạy học xong tác phẩm
“Bình Ngô đại Cáo” của tác gia Nguyễn Trãi phải rèn luyện cho học sinh đượccác kĩ năng sau:
- Rèn luyện kỹ năng xâu chuỗi hàng loạt tác phẩm vào một quan hệ liênvăn bản để sự đánh giá có được tầm bao quát (muốn thực hiện có hiệu quả côngviệc này, giáo viên cần nhắc nhớ đến hàng loạt tác phẩm của văn học trung đạiViệt Nam đã sử dụng hình thức miêu tả ước lệ và liên hệ các tác phẩm đã đượchọc ngay sau đó để thấy rõ hơn những đóng góp đặc biệt của tác giả)
- Rèn luyện kỹ năng diễn tả và sử dụng từ ngữ đạt hiệu quả thẩm mỹ tối
đa, vừa dồi dào khả năng tạo hình, vừa giàu tính biểu cảm (các đoạn trích tácphẩm văn bản đã được học đều cung cấp cho ta những ví dụ sống động, phục vụđắc lực cho việc rèn luyện kỹ năng đang được đề cập);
- Phân biệt sự khác nhau trong quan niệm về cái đẹp của ngôn từ, củanghệ thuật trần thuật giữa một tác giả trung đại và một tác giả hiện đại (chỉ cầnlập một bảng đối chiếu giữa các tác phẩm trung đại với nhiều tác phẩm của vănhọc hiện đại đã được học hay đang học gần như song song với tác phẩm muốn sosánh là nội dung tích hợp này hoàn toàn có thể được thực hiện) v.v…
Tất nhiên, trên chỉ là một vài gợi ý sơ sài mà sự giải thích, phân tích đikèm còn rất đại lược.Những gợi ý đó cũng không chỉ nhằm vào việc dạy học các
tác phẩm văn chương ở lớp 9 mà còn ở lớp 10 nữa, giữa các tác phẩm luôn có sự
so sánh đối chiếu để làm nổi bật tác phẩm mình muốn đề cập Mục đích của
Trang 34chúng tôi là chỉ ra sự đa dạng của các phương án tích hợp Chọn phương án nào
và tích hợp cái gì khi dạy học các văn bản Ở đây không thể có một quy địnhcứng nhắc, bởi đối tượng dạy học cụ thể của chúng ta không giống nhau, tìnhhuống nảy sinh trong giờ học mỗi nơi mỗi khác và sự nhạy bén của từng ngườidạy vốn luôn khác biệt Thực hiện sự tích hợp trong dạy học có thể rèn luyệnđược cho học sinh năng lực huy động tổng hợp các vốn liếng tri thức và điềukiện sẵn có để giải quyết mọi vấn đề trong cuộc sống Nếu tích hợp khiên cưỡng,không đúng cách, năng lực đó dễ bị phá hoại hoặc rất khó hình thành Với tưcách là một tập đại thành của văn học cổ điển Việt Nam, là minh chứng sinh
động cho bản sắc độc đáo của văn hóa Việt Nam, Bình Ngô Đại Cáo luôn mở ra
trước hoạt động dạy học của chúng ta những khả năng tích hợp phong phú Đây
là điều cần được tận dụng, Bình Ngô Đại Cáo khi luôn có vị trí quan trọng trong
mà các nhà thơ gửi gắm Đó là những tiếng lòng của các nhà thơ nên có sức
Trang 35truyền cảm mạnh mẽ, lắng sâu trong lòng người, tồn tại mãi với thời gian, còntỏa sáng đến muôn đời sau Trong trường phổ thông, các tác phẩm thơ chữ Hángiúp cho học sinh hiểu biết thêm về lịch sử – xã hội Việt Nam thời kỳ trung đại,tinh thần yêu nước, lòng tự hào dân tộc, lòng yêu thương con người bao la,những triết lý nhân sinh sâu sắc…Học sinh còn được cung cấp thêm những hiểubiết về cái hay, cái đẹp của ngôn từ, hình tượng nghệ thuật, độ súc tích theohướng “ quý hồ tinh bất quý hồ đa” trong nghệ thuật của văn học trung đại Mộtbài thơ chữ Hán hay gợi mở cho học sinh những tư duy bay bổng, những tìnhcảm lắng đọng, những rung động thấm đẫm tình người, cái đẹp hài hòa về nộidung về hình thức của thơ chữ Hán cuốn hút, hấp dẫn học sinh Nó bồi dưỡngcho học sinh năng lực thẩm mỹ, nhạy cảm với cái đẹp, hướng các em tới nhữngđiều đẹp đẽ tốt lành Như vậy, người giáo viên ở trường THPT cần rèn luyện chohọc sinh kỹ năng đọc - hiểu tác phẩm thơ chữ Hán thời kỳ văn học trung đại.Hoạt động dạy và học thơ chữ Hán đạt hiệu quả sẽ góp phần nâng cao chất lượngmôn Ngữ văn ở trường THPT Thông qua hoạt động giảng dạy, kiểm tra, đánhgiá, người giáo viên cần trang bị cho học sinh một số kỹ năng cần thiết để họcsinh cảm thụ tốt một bài thơ chữ Hán của văn học trung đại Việt Nam Nhàtrường được cung cấp nhiều trang thiết bị: máy chiếu, tranh ảnh, đồ dùng dạyhọc….tạo hứng thú cho học sinh học tập môn Ngữ văn Nhiều giáo viên trong tổchuyên môn tự làm đồ dùng dạy học, tìm tòi tư liệu phục vụ cho việc giảng dạymôn Ngữ văn.
Chương trình phân ban đòi hỏi thầy và trò phải sáng tạo trong giảng dạy và họctập, phải phát huy tính chủ động, tích cực của học sinh Giáo viên phải đổi mớicách soạn giáo án, thiết kế bài dạy, tổ chức các khâu lên lớp và chuẩn bị ởnhà.Nhờ vậy, chất lượng giảng dạy các bộ môn, trong đó có môn Ngữ văn ngàycàng cao Tỉ lệ học sinh khá giỏi ngày càng tăng so với năm học trước - Học
Trang 36sinh học chương trình phân ban muốn đạt danh hiệu học sinh tiên tiến, học sinhgiỏi phải cố gắng học tập môn Ngữ văn.
b Khó khăn:
Trình độ học sinh nhà trường nhìn chung tương đối đồng đều Học sinh đượctuyển vào lớp 10 trong các năm học đều là các học sinh có học lực khá, giỏi Họcsinh có tinh thần ham học hỏi, thông minh, sáng tạ Nhưng trong mỗi lớp học,học lực của học sinh chưa đồng đều.Nhiều học sinh có ý thức phấn đấu chưa cao,bằng học lực trung bình.Một số học sinh học tập còn lơ là, ham chơi chưa tậptrung nghe giảng, thụ động.Nhiều học sinh dành thời gian cho các môn khoa học
tự nhiên, ôn thi vào đại học, môn Ngữ văn chỉ mong đạt điểm trung bình
Chương trình học của học sinh THPT hiện còn nặng nề, kiến thức nhiều, quỹthời gian hạn chế Giáo viên chưa có điều kiện đào sâu, nâng cao kiến thức chohọc sinh Một số giáo viên chưa dành nhiều thời gian và công sức cho việc soạngiảng về thơ chữ Hán Giáo án đánh máy còn có hiện tượng sao chép của nhauhoặc lấy nguyên từ trên mạng, ít chỉnh sửa cho phù hợp với tình hình học tập củatừng trường, với trình độ của từng lớp Nhiều học sinh khi soạn bài ở nhà cònchép nguyên trong sách tham khảo, lười suy nghĩ, thiếu sáng tạo khi trả lời câuhỏi theo nguyên mẫu có sẵn Nhiều giáo viên chưa chú ý đến ra đề, chưa phânloại chính xác từng đối tượng học sinh Một số học sinh chưa có hứng thú họcthơ chữ Hán do thơ chữ Hán không dễ hiểu, học sinh ngại hiểu, học sinh ngạihọc thuộc lòng bản phiên âm và bản dịch thơ
Văn học chữ Hán vô cùng quan trọng nhưng hiện nay ngay cả giáo viên và họcsinh không còn coi trọng nó và dạy học một cách hời hời cho đủ chương trình vàchủ yếu tập trung các bài thi đại học và thi tốt nghiệp phục vụ cho thi cử vì vậycảm nhận văn học của học sinh không còn sâu sắc
Trang 372.3 Thực trạng rèn luyện năng lực cảm thụ thơ văn chữ Hán.
Thực trạng dạy học Ngữ văn hiện nayở các trường THPT đặc biệt là phần vănhọc chữ Hán trong những năm trở lại đây, trên nhiều phương tiện thông tin đạichúng cũng như trao đổi, phản ánh của nhiều giáo viên trực tiếp giảng dạy bộmôn, trong qua trình kiểm tra đánh giá kết quả của học sinh ta thấy kết quả họctập của học sinh thật đáng buồn về chất lượng dạy học Ngữ Văn nói chung vàđọc hiểu văn học Chữ Hán nói riêng
Trong quá trình phân tích tác phẩm giải thích nghĩa của từ các em không giảithích được nghĩa gốc thậm chí còn hiểu sai vấn đề Các em học trên lớp với tưtưởng là học đối phó do chương trình nặng, bài học khó và nó không liên quanđến thi tốt nghiệp hay thi đại học các em chỉ cầng đủ điểm qua môn, đủ điều kiệnlên lớp Chính vì vậy trong quá trình kiểm tra chúng tôi chưa cần xét đến kiếnthứ các em đạt được gì chỉ chú trọng đến kĩ năng các em làm việc thì thấy đượcrằng lỗi sai chính tả là nhiều nhất hay các em không biết làm thế nào để phântích một tác phẩm hoàn chỉnh Nhưng lỗi chính tả là phổ biến nhất ví dụ như: tênriêng không viết hoa, rất nhiều bài văn từ đầu đến cuối không có dấu chấm câu,hoặc có cũng chỉ là dùng dấu chấm câu một cách tùy tiện không theo một quyluật nào, không theo một quy luật nào, không phù hợp với cách diễn đạt Nhiều
từ đơn giản các em viết cũng không đúng cùng với đó là lỗi dùng từ đặt câu.Đoạn văn thì viết câu quỳ câu cụt không rõ nghĩa với nguyên nhân rất đơn giản
đó là chính các em cũng không hiểu rõ vấn đề không hiểu hết nghĩa của từ dẫnđến dùng từ sai, câu cú lủng củng.Có một thực tế hiện nay đó là có rất ít học sinhbiết rung động trước các tác phẩm văn chương hay Do vậy, khi học sinh làm bàisuy luận còn chủ quan, dung tục hóa văn chương.Vẫn còn một số bộ phận khôngnhỏ học sinh làm bài sai kiến thức cơ bản Tình trạng “Bứt râu ông nọ cắm cằm
Trang 38bà kia” không phải là không phổ biến Học sinh nhầm chi tiết của tác phẩm nàyvới tác phẩm khác, sai tác giả, tác phẩm, lẫn lộn nhà văn này với nhà văn khác.
Để dẫn đến những tồn tại trên, ngoài việc có một bộ phận nhỏ ngữ liệu được lựachọn đưa vào sách giáo khoa còn vượt quá ngưỡng tiếp nhận của học sinh thìnguyên nhân cơ bản thuộc về phái người dạy và người học chưa có phương phápphù hợp Để khảo sát thực trạng dạy học thơ chữ Hán ở trường THPT, chúng tôi
tập trung vào hai tác phẩm chính: “Bình Ngô đại cáo” của Nguyễn Trãi và bài
“Phú sông Bạch Đằng” của Trương Hán Sêu.
2.3.1 Mục đích khảo sát.
Kháo sát tình trạng học thơ chữ Hán ở trường THPT hiện nay sẽ giúp chúng tađánh giá được những việc đã làm được, hững tồn tại trong quá trình dạy học tácphẩm văn chương, tìm nguyên nhân và đưa ra giải pháp thực hiện tối ưu nhất
2.3.2 Nội dung kháo sát.
Chúng tôi tiến hành khảo sát việc dạy học của tác phẩm thơ chữ Hán của giáoviên và học sinh lớp 10 THPT Việt Đức quận Hai Bà Trưng Hà Nội
2.3.3 Đối tượng khảo sát
Để nắm được thực trạng dạy học thơ Chữ Hán trong trường THPT hiện nay, tôitiến hành khải sát các đối tượng tham gia quá trình dạy học trong nhà trường đó
là giáo viên và học sinh
* Giáo viên Ngữ Văn: thầy cô dạy Ngữ văn trường THPT Việt Đức quận Hai BàTrưng – Hà Nội
* Học sinh lớp 10 trường THPT Việt Đức quận Hai bà Trưng – Hà Nội
* Tư liệu khảo sát:
- Sách giáo khoa Ngữ văn lớp 10, tập II, NXB Giáo Dục, Hà Nội – 2012
- Sách giáo viên Ngữ văn lớp 10, Tập II, NXB Giáo Dục, Hà Nội – 2012
- Phiếu điều tra
Trang 39- Vở ghi và bài làm văn của học sinh.
* Thời gian khảo sát
* Đối với giáo viên:
- Chúng tôi tiến hành phỏng vấn các vấn đề xoay quanh vấn đề “ Giáo viên hiệnnay tiếp nhận, cảm thụ và dạy học thơ chữ Hán như thế nào, những khó khăn họgặp phải và có những đề xuất như thế nào để đổi mới phương pháp dạy học hayyêu cầu gì đối với bộ môn hay không?
- Chúng tôi nhận được rất nhiều ý kiến phong phú và thực tế
+ Các thầy cô chú trọng vào sách giáo khoa và các bài hướng dẫn trong sáchgiáo khoa và sử dụng một số tư liệu liên quan đến bài học
+ Phương pháp thực hiện: Cho học sinh tìm hiểu về tác phẩm và nêu cảm nhận
và đánh giá của riêng cá nhân về tác phẩm, những hình ảnh tình cảm trong thơ
Trang 40Giáo viên chủ yếu thuyết giảng cho học sinh, cho học sinh đối thoại để tìm hiểutác phẩm…….
Chúng tôi đã tiến hành tham gia những buổi sinh hoạt chuyên môn của tổ chuyênmôn về sử dụng các phương pháp sao cho phù hợp với năng lực của học sinh vàvới yêu cầu của hiện nay Và cũng có rất nhiều ý kiến đóng góp, đề xuất để pháttriển cách dạy học với các tác phẩm văn học này Đây là một tín hiệu đáng mừngtrong xu hướng đổi mới phương pháp dạy học mà chúng ta đang thực hiện
Tuy Nhiên qua quá trình dự giảng chúng tôi nhận thấy rằng: Nhìn chung giáoviên đã cung cấp cho học sinh đầy đủ kiến thức cơ bản trên cả nội dung và nghệthuật Tuy nhiên, các giáo án chưa chú trọng đến tiếp cận đồng bộ thơ chữ Hán
Có giáo án thiên về tiếp cận văn bản hay tiếp cận loại thể… Và hầu hết hưa chútrọng đến tiếp cận lịch sử chức năng Giáo viên hướng dẫn học sinh tổ chức cáchoạt động một cách hời hợt chú trọng đến thuyết giảng
* Đối với học sinh: Chúng tôi tiến hành bằng hình thức phỏng vấn, phát phiếuđiều tra, kiểm tra kết quả học tập sau giờ dạy và mức độ thời lượng khác nhaunhư kiểm tra miệng , kiểm tra 15 phút, kiểm tra 45 phút
PHIẾU KHẢO SÁT HỌC SINH