1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tội không tố giác tội phạm trong Luật hình sự Việt Nam

89 74 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 89
Dung lượng 737,98 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

: Luận văn góp phần nghiên cứu làm rõ một số vấn đề lý luận và thực tiễn về Tội không tố giác tội phạm. Trên cơ sở đó, luận văn nêu ra những giải pháp mang tính hệ thống để nâng cao hiệu quả áp dụng các quy định của pháp luật hình sự cũng như công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm này.: Luận văn góp phần nghiên cứu làm rõ một số vấn đề lý luận và thực tiễn về Tội không tố giác tội phạm. Trên cơ sở đó, luận văn nêu ra những giải pháp mang tính hệ thống để nâng cao hiệu quả áp dụng các quy định của pháp luật hình sự cũng như công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm này.: Luận văn góp phần nghiên cứu làm rõ một số vấn đề lý luận và thực tiễn về Tội không tố giác tội phạm. Trên cơ sở đó, luận văn nêu ra những giải pháp mang tính hệ thống để nâng cao hiệu quả áp dụng các quy định của pháp luật hình sự cũng như công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm này.: Luận văn góp phần nghiên cứu làm rõ một số vấn đề lý luận và thực tiễn về Tội không tố giác tội phạm. Trên cơ sở đó, luận văn nêu ra những giải pháp mang tính hệ thống để nâng cao hiệu quả áp dụng các quy định của pháp luật hình sự cũng như công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm này.vấn đề lý luận và thực tiễn về Tội không tố giác tội phạm. Trên cơ sở đó, luận văn nêu ra những giải pháp mang tính hệ thống để nâng cao hiệu quả áp dụng các quy định của pháp luật hình sự cũng như công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm này.

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Cán bộ hướng dẫn khoa học: TS.Lê Đăng Doanh

Hà Nội – 2018

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội

Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

NGƯỜI CAM ĐOAN

Cao Thị Hằng Hà

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TỘI KHÔNG TỐ GIÁC TỘI PHẠM 7

1.1 Khái niệm, đặc điểm và ý nghĩa của việc quy định tội không tố giác tội phạm 7

1.2 Khái quát lịch sử quy định tội không tố giác tội phạm trong luật hình sự Việt Nam từ trước Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến trước khi ban hành Bộ luật hình sự Việt Nam năm 2015 11

1.3 Tội không tố giác tội phạm trong pháp luật hình sự ở một số nước trên thế giới 24

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 32

Chương 2:QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM NĂM 2015 VỀ TỘI KHÔNG TỐ GIÁC TỘI PHẠM VÀ THỰC TIỄN XÉT XỬ 33

2.1 Quy định của Bộ luật Hình sự Việt Nam năm 2015 về tội không tố giác tội phạm 33

2.2 Phân biệt tội không tố giác tội phạm với tội che giấu tội phạm 47

2.3 Thực tiễn xét xử tội không tố giác tội phạm 48

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 53

Chương 3:MỘT SỐ KHÓ KHĂN, VƯỚNG MẮC TRONG THỰC TIỄN ÁP DỤNG VÀ GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC 54

3.1 Một số khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn áp dụng 54

Trang 5

3.2 Những giải pháp hoàn thiện quy định của pháp luật hình sự và giải pháp nâng cao hiệu quả trong đấu tranh phòng, chống tội không tố giác tội phạm 69 KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 75

KẾT LUẬN 77 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 6

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

STT Ký hiệu Nguyên nghĩa

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Hiện nay, đất nước ta đang trên con đường đổi mới, đời sống nhân dân từng bước được nâng cao, tình hình kinh tế - chính trị - xã hội đạt được nhiều thành tựu, quan hệ đối ngoại được mở rộng, hợp tác quốc tế được tiến hành chủ động và đạt được nhiều kết quả tốt Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực, nền kinh tế thị trường cũng làm nảy sinh nhiều vấn đề tiêu cực, trong đó có nhiều vấn đề liên quan đến công tác phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm

Công cuộc đấu tranh, phòng chống tội phạm không chỉ là hoạt động mang tính bắt buộc của Nhà nước mà đòi hỏi sự tham gia tích cực, chủ động

và rộng rãi của đông đảo quần chúng nhân dân Trong đó, việc tích cực phát hiện, tố giác tội phạm của người dân chính là điều kiện cho việc xử lý tội phạm được nhanh chóng, chính xác góp phần bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của nhà nước cũng như người dân

Hiến pháp năm 2013 quy định : “Công dân có nghĩa vụ tuân theo Hiến pháp và pháp luật, tham gia bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội và chấp hành những quy tắc sinh hoạt công cộng” [32, Điều 26]

Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 quy định : “Tổ chức, cá nhân có quyền và nghĩa vụ phát hiện, tố giác, báo tin về tội phạm; tham gia đấu tranh phòng, chống tội phạm” [7, Điều 5, Khoản 2]

Trên thực tế, trong những năm qua, bên cạnh một bộ phận người dân thực hiện tốt nghĩa vụ tố giác tội phạm với cơ quan có thẩm quyền góp phần đảm bảo an ninh, trật tự xã hội còn có một bộ phận không nhỏ đã không tố giác tội phạm, dẫn đến hậu quả khó lường Điều này dẫn đến việc hoạt động phát hiện, điều tra, xử lý tội phạm của các cơ quan tư pháp rất khó khăn, làm giảm hiệu lực và hiệu quả của công cuộc đấu tranh, phòng chống tội phạm Tính từ năm 2010 đến năm 2017, theo số liệu thống kê của Tòa án nhân

Trang 8

dân tối cao, tổng số lượng vụ án đã xét xử về tội không tố giác tội phạm trong

8 năm qua là 133 vụ, trong khi đó tổng số các tội xâm phạm hoạt động tư pháp là 1.173 vụ (chiếm tỷ lệ 11,34%) Điều này cho thấy tỷ lệ tội không tố giác tội phạm so với nhóm các tội xâm phạm hoạt động tư pháp nói chung chiếm một tỷ lệ đáng kể

Nguyên nhân của tình trạng trên chủ yếu xuất phát từ việc thiếu hiểu biết pháp luật của công dân, hoặc do xuất phát từ quan hệ tình cảm, do nể nang, do sợ bị trả thù Trong khi đó, những quy định của pháp luật về tội không tố giác tội phạm còn nhiều điểm cần phải tiếp tục nghiên cứu, làm rõ

Bộ luật Hình sự năm 2015 ra đời đã có những sửa đổi, bổ sung quan trọng liên quan đến tội không tố giác tội phạm

Chính vì vậy, việc nghiên cứu đề tài “Tội không tố giác tội phạm trong

Luật hình sự Việt Nam” mang tính cấp thiết, có ý nghĩa quan trọng không

những về lý luận, mà còn là đòi hỏi của thực tiễn hiện nay

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Liên quan đến đề tài trên, cũng đã có nhiều tác giả đề cập trực tiếp hoặc gián tiếp trong các công trình nghiên cứu khác nhau:

Các công trình nghiên cứu dưới dạng tài liệu chuyên khảo, giáo trình, bình luận khoa học như:

- Những vấn đề cơ bản trong khoa học Luật hình sự của GS.TSKH Lê

Cảm, Nxb Đại học Quốc Gia Hà Nội, năm 2005;

- Giáo trình Luật hình sự Việt Nam (phần chung) của Khoa Luật - Đại

học Quốc gia Hà Nội, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2001;

- Giáo trình Luật hình sự Việt Nam (phần các tội phạm) của Khoa Luật

- Đại học Quốc gia Hà Nội, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2009;

- Giáo trình luật hình sự Việt Nam, tập I, II của Trường Đại học Luật Hà

Nội, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2013;

Trang 9

- Bình luận Khoa học Bộ luật Hình sự năm 2015 (Phần chung), GS.TS

Nguyễn Ngọc Hòa, NXB Tư pháp;

- Bình luận Khoa học Bộ luật Hình sự năm 2015 (Phần các tội phạm),

PGS.TS Trần Văn Luyện, NXB Công an nhân dân;

- Bình luận Khoa học Bộ luật Hình sự năm 2015 (Tập 1),TS Lê Đăng

Doanh, PGS.TS Cao Thị Oanh, NXB Hồng Đức;

Bên cạnh đó, còn được nghiên cứu trong một số đề tài khoa học cấp Bộ, bài viết đăng trên tạp chí chuyên ngành nghiên cứu khoa học pháp lý như:

- Các tội xâm phạm hoạt động tư pháp, của tác giả ThS Phạm Thanh Bình

và TS Nguyễn Vạn Nguyên, nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1997;

- Luận án phó tiến sĩ luật học của tác giả Nguyễn Tất Viễn đề cập đến

nhóm "Các tội xâm phạm hoạt động tư pháp" trong Bộ luật hình sự;

- Một số bất hợp lý trong các quy định về tội che giấu tội phạm và tội không tố giác tội phạm" của tác giả Thái Văn Đoàn, Tạp chí Tòa án nhân dân,

tháng 10-2005;

- Một số vấn đề lý luận, thực tiễn về tội không tố giác tội phạm, của

TS.Trần Quang Tiệp, đăng trên Tạp chí Kiểm sát số 23, tháng 12 - 2005;

- Một số vấn đề về việc bảo vệ người tố giác tội phạm, người làm

chứng, người bị hại trong các vụ án hình sự, của ThS Trần Đại Thắng, đăng

trên Tạp chí Kiểm sát, tháng 12- 2005, số 24;

- Mấy ý kiến về Điều 314 Bộ luật hình sự về tội không tố giác tội phạm,

tác giả Vũ Thành Long (Tạp chí Tòa án nhân dân, tháng 10-2005)

Có thể thấy, các tội phạm xâm phạm hoạt động tư pháp nói chung và Tội không tố giác tội phạm nói riêng trong những năm qua ít được nghiên cứu Các công trình nói trên đã đề cập đến tội không tố giác tội phạm, nhưng chưa có công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện và có hệ thống về tội không tố giác tội phạm dưới hai góc độ lý luận và thực tiễn xét xử, đặc biệt là trong hoàn cảnh thực tế hiện nay Bộ luật Hình sự Việt Nam năm 2015 được

Trang 10

ban hành (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đã bổ sung thêm quy định về tội không

tố giác tội phạm

Chính vì vậy, việc nghiên cứu “Tội không tố giác tội phạm trong luật hình sự Việt Nam ” là đòi hỏi khách quan và cấp thiết

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

* Mục đích nghiên cứu đề tài:

Mục đích của việc nghiên cứu đề tại nhằm phân tích khoa học để làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận và thực tiễn về Tội không tố giác tội phạm Trên cơ sở đó, luận văn nêu ra những giải pháp mang tính hệ thống để nâng cao hiệu quả áp dụng các quy định của pháp luật hình sự cũng như công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm này

* Nhiệm vụ nghiên cứu đề tài:

Để đạt được những mục đích trên, cần phải giải quyết những

nhiệm vụ chính sau đây:

1) Làm sáng tỏ khái niệm, đặc điểm và ý nghĩa của sự quy định tội không tố giác tội phạm trong luật hình sự Việt Nam

2) Nghiên cứu khái quát sự hình thành và phát triển của quy định tội không tố giác tội phạm trong pháp luật hình sự Việt Nam

3) Nghiên cứu quy định về không tố giác tội phạm trong BLHS của một số nước trên thế giới

4) Nghiên cứu quy định của BLHS hiện hành về không tố giác tội phạm ở Phần chung và Phần các tội phạm

5) Phân tích một số khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn áp dụng và đưa ra một số giải pháp kiến nghị

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

* Đối tượng nghiên cứu:

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là nghiên cứu lý luận, phân tích cụ

thể các quy định của Bộ luật hình sự Việt Nam năm 2015 về tội không tố giác

Trang 11

tội phạm với thực tiễn xét xử, luận văn đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện quy định của pháp luật hình sự về tội không tố giác tội phạm và giải pháp nâng cao hiệu quả trong đấu tranh phòng, chống tội không tố giác tội phạm

Luận văn nghiên cứu một số vấn đề lý luận về Tội không tố giác tội phạm, thể hiện trong các quy định của pháp luật ở Việt Nam trong các thời kỳ lịch sử khác nhau

Về thực tiễn đề tài nghiên cứu trên thực tiễn xét xử tội không tố giác tội phạm trên phạm vi toàn quốc từ năm 2010 đến năm 2017

5 Cơ sở lý luận và các phương pháp nghiên cứu của luận văn

5.1 Cơ sở lý luận

Việc nghiên cứu đề tài dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác-Lê Nin và tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật; quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về cải cách tư pháp và đấu tranh phòng, chống tội phạm, cũng như các luận điểm khoa học trong các công trình nghiên cứu khoa học, sách báo pháp lý hình sự

5.2 Các phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu cụ thể của khoa học luật hình sự như: phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, thống kê xã hội học, điều tra… để tổng hợp các tri thức khoa học luật hình sự và luận chứng các vấn đề tương ứng được nghiên cứu trong luận văn này

6 Những điểm mới và ý nghĩa của luận văn

* Những điểm mới của luận văn

Luận văn là công trình khoa học ở cấp độ luận văn thạc sĩ luật học nghiên cứu về đề tài này và thực tiễn xét xử trên địa bàn toàn quốc trong giai đoạn 08 năm (2010 – 2017)

Do đó, những điểm mới về mặt khoa học của luận văn bao gồm:

1) Phân tích rõ các dấu hiệu pháp lý của tội không tố giác tội phạm và ý nghĩa của việc quy định tội phạm này trong luật hình sự Việt Nam

Trang 12

2) Phân tích một số khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn áp dụng và đưa

ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả trong việc đấu tranh, phòng chống tội không tố giác tội phạm

3) Phân tích pháp luật hình sự một số nước trên thế giới về loại tội phạm này, trong đó chỉ ra khái niệm, cơ sở lý luận và thực tiễn của việc quy định các tội không tố giác tội phạm;

* Ý nghĩa của luận văn

Kết quả nghiên cứu và những kiến nghị của luận văn có ý nghĩa nhất định đối với việc nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng, chống tội không tố giác tội phạm ở nước ta Thông qua kết quả nghiên cứu và các kiến nghị, tác giả mong muốn đóng góp phần nhỏ bé của mình vào việc phát triển lý luận về định tội danh giúp việc điều tra, truy tố, xét xử các loại tội phạm nói chung và tội không tố giác tội phạm nói riêng được chính xác; tránh truy tố, xét xử oan và tránh bỏ lọt người phạm tội; giúp cho hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng có hiệu quả

Ngoài ra, luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho công tác nghiên cứu, giảng dạy về khoa học pháp lý nói chung, khoa học luật hình sự nói riêng và cho các cán bộ thực tiễn đang công tác tại cơ quan Công an, Viện kiểm sát, Tòa án

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:

Chương 1 Một số vấn đề chung về tội không tố giác tội phạm

Chương 2 Quy định của Bộ luật hình sự Việt Nam năm 2015 về

tội không tố giác tội phạm và thực tiễn xét xử

Chương 3 Một số khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn áp dụng và giải

pháp khắc phục

Trang 13

Chương 1:

MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TỘI KHÔNG TỐ GIÁC TỘI PHẠM

1.1 Khái niệm, đặc điểm và ý nghĩa của việc quy định tội không tố giác tội phạm

1.1.1 Khái niệm tội không tố giác tội phạm

Theo định nghĩa của từ điển Tiếng Việt thì “tố giác” là một động từ có nghĩa là báo cho cơ quan chính quyền biết người hoặc hành động phạm pháp nào đó Như vậy, có thể hiểu không tố giác tội phạm là hành vi của một người biết rõ hành vi tội phạm của người khác nhưng lại im lặng, không để lộ hoặc không báo cho ai biết Tuy người có hành vi không tố giác không trực tiếp gây ra tội phạm nhưng lại đã cố ý bằng việc không báo cho cơ quan có thẩm quyền biết làm cho người gây ra tội phạm đó không bị phát hiện và bị xử lý trước pháp luật Hành vi không tố giác này là hành vi gây nguy hiểm cho xã hội bởi lẽ nó gây khó khăn cho quá trình điều tra, phát hiện người phạm tội, đồng thời còn gây khó khăn cho việc ngăn chặn kịp thời những thiệt hại xảy

ra cũng như gây khó khăn cho việc tìm ra, xử lý người phạm tội

Thông tư liên tịch số VKSNDTC ngày 02 tháng 8 năm 2013 quy định: “Tố giác về tội phạm là những thông tin về hành vi có dấu hiệu tội phạm do cá nhân có danh tính, địa chỉ rõ ràng cung cấp cho cơ quan, cá nhân có trách nhiệm tiếp nhận, giải quyết” [42, Điều 3, Khoản 1]

06/2013/TTLT-BCA-BQP-BTC-BNN&PTNT-Không tố giác nghĩa là không báo cho các cơ quan có thẩm quyền về những tin tức về tội phạm mà mình biết rõ [23, tr.667]

Hành vi không tố giác tội phạm luôn luôn được thực hiện dưới hình thức không hành động Hành vi này có thể xảy ra trong giai đoạn tội phạm đang chuẩn bị hoặc đang được thực hiện cũng như sau khi tội phạm đã kết

Trang 14

thúc, lỗi của người không tố giác là lỗi cố ý trực tiếp Người không tố giác biết rõ có tội phạm xảy ra nhưng cố ý không báo cho cơ quan chuyên trách bảo vệ pháp luật biết [23, tr.239] Người không tố giác hoàn toàn nhận thức được hành vi của mình, biết hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, tuy nhiên lại cố ý không hành động, không tố giác người phạm tội

Hậu quả của hành vi không tố giác tội phạm của một người dẫn tới việc gây khó khăn cho quá trình điều tra, phát hiện người phạm tội, đồng thời còn gây khó khăn cho việc ngăn chặn kịp thời những thiệt hại xảy ra Hành vi không tố giác tội phạm là một hành vi nguy hiểm gây cản trở tới hoạt động tư pháp làm cho người phạm tội không bị phát hiện và xử lý kịp thời Do nhiều động cơ khác nhau trong từng trường hợp cụ thể thúc đẩy dẫn đến hành vi không tố giác tội phạm ở một người Có thể do có quan hệ gắn bó về tình cảm (quan hệ cha mẹ với con cái, ông bà với cháu, vợ với chồng…), do mục đích chuộc lợi,… mà người này thực hiện hành vi không tố giác cho hành động phạm tội của người khác Chính vì vậy theo quan điểm của các nhà lập pháp thì không phải tất cả các trường hợp này đều bị coi là không tố giác tội phạm

mà chỉ có người nào thực hiện các hành vi không tố giác tội phạm được PLHS quy định mới là người không tố giác tội phạm

Như vậy, cần khẳng định, tội không tố giác tội phạm phải thỏa mãn đầy

đủ các dấu hiệu của tội phạm, mà theo PGS.TSKH Lê Cảm, phải thể hiện được đầy đủ cả ba bình diện với năm đặc điểm (dấu hiệu) của nó là: a) bình diện khách quan - tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội; b) bình diện pháp lý - tội phạm là hành vi trái PLHS; và c) bình diện chủ quan - tội phạm

là hành vi do người có năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự thực hiện một cách có lỗi [23, tr.105]

Trên những cơ sở phân tích trên, có thể đưa ra khái niệm tội không tố giác tội phạm như sau: Tội không tố giác tội phạm là hành vi nguy hiểm cho

Trang 15

xã hội, trái pháp luật hình sự do người có năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự thực hiện, tuy không tham gia vào việc thực hiện tội phạm và cũng không có sự hứa hẹn trước, nhưng biết rõ tội phạm do người khác đang chuẩn bị, đang được thực hiện hoặc đã được thực hiện, nhưng cố ý không báo cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền để kịp thời ngăn chặn, phát hiện, xử lý tội phạm và người phạm tội, qua đó xâm phạm tới hoạt động đúng đắn của các cơ quan điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án

1.1.2 Đặc điểm của Tội không tố giác tội phạm

Từ những phân tích trên, chúng ta có thể rút ra được những đặc điểm của tội không tố giác tội phạm như sau:

Thứ nhất, không tố giác tội phạm là hành vi của một người, tuy không

hứa hẹn trước và không tham gia vào việc thực hiện tội phạm, nhưng biết rõ tội phạm do người người khác đang được chuẩn bị, đang được thực hiện hoặc

đã được thực hiện nhưng lại thờ ơ, giữ im lặng, không thông báo về tội phạm

và người phạm tội cho cơ quan chuyên trách bảo vệ pháp luật biết Tức là hành vi không tố giác có thể xảy ra trong giai đoạn tội phạm đang chuẩn bị hoặc đang được thực hiện cũng như sau khi tội phạm đã kết thúc [23,tr.239]

Thứ hai, hành vi không tố giác tội phạm luôn luôn được thực hiện dưới

hình thức không hành động Mặc dù biết rõ hành vi phạm tội của người khác nhưng người không tố giác lại không thông báo cho các cơ quan có thẩm quyền để phát hiện, nhanh chóng xử lý kịp thời tội phạm Động cơ dẫn đến hành vi không tố giác ở một người có thể do quan hệ về tình cảm (quan hệ cha mẹ với con cái, vợ với chồng, anh chị với em ) hoặc do chuộc lợi

Thứ ba, lỗi của người không tố giác là lỗi cố ý trực tiếp Người này

mặc dù biết hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, trái với pháp luật hình

sự, nhưng lại cố ý không hành động, không tố giác tội phạm Hành vi này gây khó khăn cho việc ngăn chặn kịp thời những thiệt hại xảy ra cũng như gây

Trang 16

khó khăn cho quá trình điều tra, phát hiện ra, xử lý người phạm tội, nhằm đảm bảo sự công minh, khách quan và công bằng của xã hội Hành vi không tố giác tội phạm là một hành vi xâm phạm hoạt động đúng đắn của các Cơ quan điều tra, kiểm sát, xét xử trong việc bảo vệ quyền lợi của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân [24, tr.405]

Thứ tư, không phải hành vi không tố giác nào cũng đều coi là tội phạm

Hành vi không tố giác tội phạm chỉ bị xử lý trách nhiệm hình sự nếu không tố giác một số loại tội phạm được quy định trong các trường hợp cụ thể của BLHS mà không áp dụng đối với tất cả các trường hợp có hành vi không tố giác tội phạm Điều này cho thấy, tùy vào mức độ, tính chất nguy hiểm cho xã hội, nghiêm trọng hay ít nghiêm trọng của loại tội phạm không bị tố giác mà người có hành vi không tố giác mới bị truy cứu trách nhiệm hình sự Đây là

cơ sở để xác định một người có bị coi là tội phạm hay không khi thực hiện hành vi không tố giác tội phạm

1.1.3 Ý nghĩa của việc quy định tội không tố giác tội phạm trong luật hình sự Việt Nam

Việc quy định tội không tố giác tội phạm trong Bộ luật hình sự có ý nghĩa rất quan trọng

Thứ nhất, như chúng ta đã biết cơ quan tư pháp là cơ quan được nhà

nước giao cho nhiệm vụ thi hành pháp luật để bảo vệ quyền và lợi ích của mọi công dân trong xã hội, tuy nhiên tại khoản 3 Điều 4 Bộ luật hình sự hiện hành cũng quy định rằng công dân có nghĩa vụ phải tố giác tội phạm nhằm giúp các

cơ quan Tư pháp trong quá trình thực hiện nhiệm vụ của mình Khi luật yêu cầu chủ thể thực hiện một nghĩa vụ và có điều kiện thực hiện nghĩa vụ nhưng chủ thể này không thực hiện, điều này đồng nghĩa với việc chủ thể đã làm trái với những quy định của pháp luật, vì thế cần phải có chế tài đối với hành vi không tuân thủ pháp luật này Từ lý do trên để có những quy định về cấu

Trang 17

thành tội phạm và hình phạt xử lý hành vi không tố giác tội phạm thì việc quy định tội không tố giác tội phạm trong luật hình sự là rất cần thiết

Thứ hai, không tố giác tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội, nếu

hành vi này diễn ra một cách phổ biến trong xã hội thì việc phát hiện, điều tra,

xử lý hành vi phạm tội của cơ quan Tư pháp sẽ gặp khó khăn, trở ngại, quyền

và lợi ích của nhà nước, của công dân không được bảo vệ kịp thời Từ lý do

đó đòi hỏi phải quy định tội không tố giác tội phạm vào luật hình sự, một mặt thể hiện sự nghiêm khắc của pháp luật đối với hành vi này, mặt khác tạo tính răn đe đối với công dân trong xã hội

Thứ ba, việc quy định hành vi không tố giác tội phạm là một cấu thành

tội phạm độc lập, mặc dù hành vi này có liên quan đến tội phạm nhưng không phải là đồng phạm, có ý nghĩa to lớn trong việc góp phần bảo vệ pháp chế và tăng cường hiệu quả của công tác đấu tranh chống tội phạm Trong lĩnh vực

tư pháp hình sự, nó sẽ tạo thuận lợi cho các cơ quan bảo vệ pháp luật và Tòa

án áp dụng chính xác trong thực tiễn các quy định của PLHS về các hành vi không tố giác tội phạm với những trường hợp cụ thể tương ứng

Thứ tư, các quy định của pháp luật về không tố giác tội phạm góp phần

bảo vệ các quyền con người bằng PLHS, nó góp phần cá thể hóa và phân hóa TNHS, hình phạt cũng như nâng cao ý thức trách nhiệm của mọi công dân đối với xã hội

Thứ năm, quy định tội không tố giác tội phạm nhằm góp phần hạn chế

tỷ lệ tội phạm ẩn, đồng thời phát hiện nhanh chóng, kịp thời các hành vi phạm tội, góp phần đấu tranh chống và phòng ngừa tội phạm

1.2 Khái quát lịch sử quy định tội không tố giác tội phạm trong luật hình

sự Việt Nam từ trước Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến trước khi ban hành Bộ luật hình sự Việt Nam năm 2015

1.2.1 Giai đoạn trước cách mạng tháng 8 năm 1945

Trang 18

Tội không tố giác tội phạm là một trong những tội phạm được quy định rất sớm trong luật hình sự Việt Nam Trong pháp luật phong kiến, tác giả chỉ nghiên cứu hai BLHS điển hình hiện đang còn lưu giữ, đó là “Quốc triều Hình luật” (còn gọi là Bộ luật Hồng Đức) và “Hoàng Việt luật lệ” (còn gọi là

Bộ luật Gia Long)

Quốc triều hình luật là bộ luật chính thống và quan trọng nhất của triều đại nhà Lê đã đề cập đến tội không tố giác tội phạm tại Điều 500:

“Những người biết có kẻ mưu phản loạn, mưu đại nghịch, thì phải đến mật báo ngay với các quan ty gần đó, nếu không tố cáo, thì xử tội lưu đi châu xa Biết có kẻ chỉ trích nhà Vua hay là đặt ra những lời quái gở mà không đi báo, thì xử nhẹ hơn tội kể trên một bậc Quan ty thấy báo mà không tâu lên hay đi bắt ngay (quan ở kinh thành thì phải tâu ngay, quan ở ngoài thì phải bắt ngay), để quá nửa ngày, thì cũng phải tội như

kẻ không đi báo Nếu là việc truy bắt còn phải sắp đặt nên quá thời hạn trên thì không phải tội” [50, tr.181-182]

Đáng chú ý hơn nữa, Bộ luật Hồng Đức đã phân biệt trách nhiệm phát hiện, tố giác tội phạm giữa quan và dân thường như quy định tại Điều 158:

“Các quan giám lâm, quan chủ ty biết thuộc viên phạm tội mà không phát giác, xử biếm hai tư, đàn cư quan biết mà không phát giác, tội cũng như thế Những người biết hàng xóm của mình phạm tội mà không phát giác, tội giảm một bậc…” [50, tr.79]

Điều 355 Bộ luật Hồng Đức còn quy định việc khen thưởng cho người

tố giác tội phạm:

“Dân đinh mà tự thiến mình, thì xử tội lưu; ai thiến hộ hoặc chứa chấp

kẻ ấy, thì giảm tội một bậc; các nhà lân cận không tố cáo, thì xử tội nhẹ hơn 2 bậc; xã quan không phát giác, thì xử tội đồ; người tố cáo đúng sự thật thì được thưởng một tước tư” [50, tr.119]

Trang 19

Điều 373 Bộ luật còn đồng nhất việc không tố giác tội phạm với che giấu tội phạm trong trường hợp quan biết mà không tố giác:

“Những người cày ruộng đất công mà khai dối là cày cấy cho quan ty,

để mong tránh đóng thuế, thì xử tội theo luật chiếm ruộng đất công Quan ty dung túng thì cũng đồng tội; không biết thì không xử tội Xã quan biết mà không tố giác thì xử tội giấu giếm; không biết thì được giảm 2 bậc; quan lộ huyện vô tình không biết thì xử tội biếm” [50, tr.137]

Pháp luật hình sự thời kỳ nhà Lê cho phép người trong gia đình được che chở lẫn nhau, nghiêm cấm sự tố cáo ông bà, cha mẹ - đó là đạo hiếu truyền thống của người Việt từ ngàn đời nay được thể chế hoá vào trong luật Điều 504 Bộ luật Hồng Đức còn đề cập việc tố giác ông bà, cha mẹ, vợ chồng phạm tội:

“Con cháu tố cáo ông bà, cha mẹ, nô tỳ tố cáo chủ có tội lỗi gì, đều xử tội lưu đi châu xa; vợ tố cáo chồng cũng bị tội trên Tố cáo ông bà ngoại, cha mẹ và ông bà, cha mẹ về bậc tôn trưởng vào hàng cơ thân của chồng, cùng là nô tỳ tố cáo người vào bậc cơ thân của chủ, dẫu việc

có thật, cũng phải tội biếm hay tội đồ; nếu là tội mưu phản, đại nghịch hay là mẹ đích, mẹ kế mà giết cha, cha mẹ nuôi giết con đẻ thì cho phép

tố cáo” [50, tr.183]

Đây là quy định mang tính nhân văn, thể hiện truyền thống tôn kính đối với ông bà, cha mẹ, đồng thời kết hợp được chữ “hiếu” đối với sự tồn vong của đất nước Chính vì vậy, mặc dù tại khoản 7 Điều 2 của Bộ luật này quy định bất hiếu là một trong mười tội ác (thập ác): “Bất hiếu là tố cáo, rủa mắng ông bà, cha mẹ, trái với lời cha mẹ dạy bảo” [50, tr.37], nhưng Bộ luật này vẫn quy định: Nếu là tội mưu phản, đại nghịch hay là mẹ đích, mẹ kế mà giết cha, cha mẹ nuôi giết con đẻ thì cho phép tố cáo

Trang 20

Điều 508 Bộ luật đã quy định cụ thể cách thức tố cáo: “Tố cáo tội người, thì phải ghi năm tháng và trình bày sự thực không được nói là việc còn ngờ (nói việc đó không đáng tin cũng vậy); trái luật này thì phải phạt 80 trượng; quan nhận những đơn trái lệ này, mà đem ra xét xử, thì phạt tiền 30 quan” [50, tr.184]

Mặc dù Bộ luật Hồng Đức vẫn còn đồng nhất hai tội danh không tố giác tội phạm và che giấu tội phạm Tuy nhiên, pháp luật thời kỳ này đã cho thấy được trình độ lập pháp tương đối cao của cha ông ta thời kỳ này, trong việc quy định cụ thể từng hành vi và hình phạt của tội không tố giác tội phạm, bên cạnh đó còn thể hiện được tính nhân đạo sâu sắc về truyền thống đạo hiếu của người dân Việt

Tiếp thu những tinh hoa của triều đại trước đặc biệt là những tiến bộ trong bộ “Quốc triều Hình Luật”, Vua Gia Long sau khi lên ngôi để có cơ sở

về luật pháp, cho soạn bộ luật mới có tên gọi là Hoàng Việt luật lệ [49, 11] Hoàng Việt luật lệ vẫn quy định về không tố giác tội phạm trong những trường hợp quy định trong các chương, Điều riêng rẽ mà chưa có quy định chung về chế định này áp dụng chung cho tất cả các trường hợp

tr.8-Trong Hoàng Việt luật lệ, việc tố cáo những người thân thuộc, bất hiếu, bất cố gia truyền được quy định tại Điều 341:

“Phàm cáo giác ông bà cha mẹ, tức là bất hiếu sẽ bị câu cầm từ 6 năm đến 10 năm Trừ trường hợp sau này thời người cáo giác không có tội; hoặc cha mẹ, ông bà phạm một tội đại hình có can đến sự trị an của Bổn quốc (hay nước bảo hộ), hoặc là mẹ giết cha, cha giết mẹ hoặc cha

mẹ mình làm con nuôi cho người ta mà giết cha mẹ nuôi hoặc cha mẹ nuôi giết cha mẹ đẻ hoặc cha mẹ giết ông bà nội, ông bà ngoại hoặc là cha mẹ ông bà ngược đãi con bé chưa đến 16 tuổi và đến nỗi nguy hiểm đến tính mạng” [49, tr.23]

Quy định này cho thấy, ngoài việc tiếp tục kế thừa tinh hoa của Bộ luật

Trang 21

Hồng Đức, Hoàng Việt luật lệ còn thể hiện rõ sự thuộc vào nước Pháp bảo hộ của chính quyền thực dân phong kiến lúc bấy giờ

Tóm lại, có thể thấy rằng tội không tố giác tội phạm đã được quy định

từ rất sớm trong lịch sử pháp luật hình sự Việt Nam Từ thời nhà Lê, tội không tố giác tội phạm đã được đề cập, quy định trong Bộ luật Hồng Đức và dưới thời nhà Nguyễn, nó tiếp tục được ghi nhận và quy định trong Hoàng Việt luật lệ Mặc dù các quy định này còn nhiều điểm hạn chế như: chưa tập trung, thống nhất ở một điều luật, chưa đưa ra được những khái niệm pháp lý

rõ ràng về tội không tố giác tội phạm và có chỗ còn đồng nhất với với che giấu tội phạm, cũng như cách diễn đạt từ ngữ thể hiện về tội không tố giác tội phạm chưa được chuẩn hóa, không nhất quán Tuy nhiên, các quy định này đã thể hiện rõ thái độ, nhận thức nghiêm khắc của chế độ cầm quyền phong kiến đương thời đối với những hành vi không tố giác tội phạm, nghiêm trị bằng pháp luật hình sự đối với những người có các hình vi này Bên cạnh đó, pháp luật hình sự thời kỳ này cũng chú trọng về tính nhân đạo trong các quy định của pháp luật, đặc biệt là việc tôn trọng truyền thống đạo hiếu là điểm nổi bật của cả hai bộ luật này

1.2.2 Giai đoạn từ sau năm 1945 đến trước khi Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1985 được ban hành

Sau khi Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, chỉ trong gần bốn tháng năm 1945 và năm 1946, Nhà nước ta đã ban hành một loạt các văn bản quy phạm pháp luật hình sự, đáp ứng yêu cầu giữ vững chính quyền nhân dân, góp phần xây dựng và phát triển lực lượng, chuẩn bị sẵn sàng bước vào cuộc kháng chiến lâu dài của cả nước thời kỳ này

Tuy nhiên, do tình hình hết sức khẩn trương, không thể ban hành kịp các văn bản quy phạm pháp luật nói chung, văn bản quy pháp pháp luật hình

sự nói riêng, nên ngày 10/10/1945, Nhà nước ta đã ban hành Sắc lệnh số 47-

Trang 22

SL cho tạm thời giữ các luật lệ cũ, trong đó có bộ “Luật hình An Nam”, bộ Hoàng Việt hình luật” và bộ “Hình luật pháp tu chính” với điều kiện “không trái với nguyên tắc độc lập của nước Việt Nam và chính thể dân chủ cộng hòa” [50, tr.190]

Sau cách mạng tháng Tám thành công cho tới năm 1954 là thời điểm

ký Hiệp Định Giơnevơ, đất nước ta đang trong thời kỳ kháng chiến kéo dài Trong hoàn cảnh khó khăn đó, do phải tập trung quy định các tội phạm liên quan đến sự an nguy của chính quyền nhân dân như các tội phản bội Tổ quốc, tội gián điệp, tội hối lộ, tham ô, cho nên, trong giai đoạn này tội không tố giác tội phạm chưa được chú trọng đến

Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, Hiệp định Giơ ne vơ được ký kết, miền Bắc hoàn toàn được giải phóng, miền Nam tạm thời bị đế quốc Mỹ và bọn tay sai thống trị Tình hình đó đã hình thành ở nước ta “hai khu vực có chế độ chính trị và xã hội khác nhau” [28, tr.505] Ở miền Bắc, tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa, xây dựng miền Bắc thành căn cứ cách mạng của cả nước, ở miền Nam tiến hành cách mạng dân tộc, dân chủ nhằm giải phóng miền Nam khỏi ách thống trị của đế quốc Mỹ và tay sai, thực hiện thống nhất nước nhà

Ngày 15/6/1956, nhà nước ta đã ban hành Sắc lệnh số 267-SL về trừng trị những âm mưu và hành động phá hoại tài sản của Nhà nước, của Hợp tác

xã, của nhân dân và cản trở việc thực hiện chính sách, kế hoạch Nhà nước Sắc lệnh này đã đề cập đến vấn đề tố giác tội phạm tại Điều 14:

“Đối với kẻ phạm pháp, nhân dân có nhiệm vụ tố cáo hoặc mật báo với

cơ quan có trách nhiệm và hết sức giúp đỡ việc điều tra xét xử, nhưng không được vì thù riêng, lợi riêng mà vu cáo Người nào có công trong việc tố cáo, khám phá các vụ phạm pháp, tìm bắt kẻ có tội, sẽ được khen thưởng” [26, tr.117]

Trang 23

Tuy nhiên, Sắc lệnh chưa có quy định nếu một người nào đó không thực hiện nghĩa vụ này thì có phải chịu trách nhiệm hình sự hay không?

Các văn bản quy phạm pháp luật hình sự ban hành trong thời gian sau

đó như Pháp lệnh không số ban hành ngày 30/10/1967 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về “Trừng trị các tội phản cách mạng”, Pháp lệnh ngày 21/10/1970 trừng trị các tội xâm phạm tài sản xã hội chủ nghĩa, tài sản của công dân đều đã đề cập đến vấn đề động viên nhân dân tố giác tội phạm ở lời nói đầu: “Để nâng cao tinh thần cảnh giác cách mạng của nhân dân, động viên toàn dân tích cực tham gia giữ gìn trật tự an ninh” [11, tr.193] và “Để phát huy tinh thần làm chủ tập thể của cán bộ, công nhân, viên chức, bộ đội và toàn thể nhân dân, đề cao đạo đức xã hội chủ nghĩa, động viên mọi người ra sức đấu tranh chống những hành động xâm phạm tài sản đó” [11, tr.203] Tuy nhiên cả hai Pháp lệnh này đều chưa đề cập cụ thể đến tội không tố giác tội phạm, mà chỉ quy định nguyên tắc tương tự Ví dụ như Điều 21 Pháp lệnh ngày 30/10/1967 về trừng trị các tội phản cách mạng quy định: “Đối với những tội phản cách mạng chưa nêu trong Pháp lệnh này, thì áp dụng những điều về tội phạm tương tự trong Pháp lệnh này mà xét xử” [11, tr.198]

Sau khi miền Nam được giải phóng cho đến năm 1981, trong bối cảnh

Mỹ và các thế lực thù địch khác ra sức bao vây, cấm vận, nước ta còn phải được đầu với những khó khăn chồng chất cả về kinh tế và đời sống, tình hình tiêu cực, đặc biệt là tệ hối lộ diễn biến phức tạp Trước tình hình đó, Nghị quyết Hội nghị lần thứ 6 Ban chấp hành trung ương Đảng khóa IV đã đề ra chủ trương: “Kiên quyết đấu tranh khắc phục những mặt tiêu cực trong hoạt động kinh tế và xã hội, nhất là tệ ăn cắp, hối lộ, ức hiếp quần chúng” [37, tr8]

Để kịp thời thể chế hóa chủ trương của Đảng và trên cơ sở Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1980, ngày 20/5/1981, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội đã ban hành Pháp lệnh trừng trị tội hối lộ Mặc dù Pháp lệnh chưa đề cập tội không tố giác tội phạm, nhưng Điều 12 Pháp lệnh quy

Trang 24

định việc khen thưởng cả về tinh thần và vật chất đối với những người có công phát hiện tội hối lộ:

“Những người không nhận hối lộ và tố giác với cơ quan có trách nhiệm người đưa hối lộ hoặc người môi giới hối lộ thì được khen thưởng theo quy định chung của Nhà nước

Những người tố giác và giúp đỡ cơ quan có trách nhiệm trừng trị tội hối lộ thì được khen và được thưởng tiền bằng 10% giá trị của hối

lộ đã bị tịch thu” [37, tr.69]

Giai đoạn từ năm 1978 đến những năm 1981, Pháp lệnh trừng trị các tội đầu cơ, buôn lậu, làm hàng giả, kinh doanh trái phép được Hội đồng Nhà nước ban hành ngày 30/6/1982 nhằm giải quyết thực trạng tình hình kinh tế -

xã hội của nước ta gặp nhiều khó khăn, phải đối phó với chiến tranh phá hoại nhiều mặt của các thế lực thù địch, bọn gian thương đầu cơ, buôn lậu, làm hàng giả, kinh doanh trái phép, hoạt động gây rối loạn thị trường góp phần vào việc đấu tranh chống những hiện tượng tiêu cực trên thị trường là một yêu cầu cấp bách nhằm thiết lập một trật tự xã hội chủ nghĩa mới góp phần thúc đẩy sản xuất, ổn định giá cả, bảo đảm đời sống cho nhân dân

Để động viên, khuyến khích việc tố giác đầu cơ, buôn lậu, làm hàng giả, kinh doanh trái phép; Điều 12 Pháp lệnh trừng trị các tội đầu cơ, buôn lậu, làm hàng giả, kinh doanh trái phép đã quy định:

“Người có công trong việc chống đầu cơ, buôn lậu, làm hàng giả, kinh doanh trái phép, được xét khen thưởng theo chế độ chung của Nhà nước Ngoài ra, tuỳ theo tính chất của vụ án và công lao đóng góp của mỗi người, còn được thưởng một khoản tiền từ 5% đến 10% trị giá hàng hoá tịch thu hoặc tiền phạt” [34, tr.98]

Cùng với sự phát triển của khoa học luật hình sự, khái niệm tội không

tố giác tội phạm đã bắt đầu xuất hiện trong các sách báo pháp lý, và đưa ra

Trang 25

khái niệm không tố giác tội phạm: “Không tố giác tội phạm nghĩa là không báo cáo cho cơ quan có thẩm quyền về một tội phạm mà mình biết đang được chuẩn bị thực hiện hoặc đã được thực hiện hoặc biết rõ một kẻ sắp phạm tội hay đã phạm tội rồi nhưng không báo cáo Tội không tố giác tội phạm khác với tội che giấu ở chỗ, hành vi của kẻ không tố giác là một hành vi tiêu cực (biết chắc chắn mà không báo cáo)” [47, tr.189]

Nói tóm lại, ở thời kì này tội không tố giác tội phạm chưa thực sự được quan tâm, chú trọng tới Các quy định về tội không tố giác tội phạm còn được quy định riêng lẻ trong các Sắc lệnh, Pháp lệnh của từng giai đoạn nhằm giải quyết những nhu cầu đấu tranh chống các hành vi tội phạm cấp bách trong thời kỳ này Điểm đáng chú ý trong thời kì này là việc đã bắt đầu có sự ghi nhận đầu tiên về mặt pháp lý và khoa học pháp lý về luật hình sự đã ra khái niệm cơ bản đầu tiên về tội không tố giác tội phạm

1.2.3 Giai đoạn từ sau Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1985 được ban hành đến trước khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1999

Sau khi miền Nam được hoàn toàn giải phóng và giành được độc lập thống nhất đất nước, nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng, đã giành được một

số thành tựu quan trọng, nhất là trên các lĩnh vực chính trị, an ninh, quốc phòng Tuy nhiên, trong lĩnh vực quản lý và phát triển kinh tế - xã hội, pháp luật, kỷ cương chúng ta đã gặp phải nhiều khó khăn và có nhiều khuyết điểm Trong lĩnh vực lập pháp hình sự, các văn bản quy phạm pháp luật hình sự đơn hành đã không thể tạo cơ sở pháp lý cho cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm Vì vậy, việc ban hành Bộ luật hình sự là vấn đề có tính tất yếu khách quan và cấp thiết, có ý nghĩa góp phần thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược là xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa

Trước tình hình đó, ngày 27/6/1985, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa VII, tại kỳ họp thứ 9 đã thông qua Bộ luật Hình sự,

Trang 26

có hiệu lực từ ngày 01/01/1986 Đây là BLHS Việt Nam đầu tiên được ban hành BLHS năm 1985 với ý nghĩa là nguồn duy nhất trong đó quy định tội phạm và hình phạt được xây dựng trên cơ sở kinh tế xã hội của nền kinh tế bao cấp và trên cơ sở thực tiễn của tình hình tội phạm của thời kì đó

Lần đầu tiên trong lịch sử lập pháp hình sự Việt Nam, BLHS năm 1985 chính thức ghi nhận về mặt pháp lý hình sự về tội không tố giác tội phạm Theo đó tại Điều 19 quy định như sau:

“Người nào biết rõ tội phạm đang được chuẩn bị, đang được thực hiện hoặc đã được thực hiện mà không tố giác, thì phải chịu trách nhiệm hình sự về tội không tố giác tội phạm trong những trường hợp mà Bộ luật này quy định”

Bên cạnh đó, tội không tố giác tội phạm được quy định tại Điều 247 trong Chương X- Các tội xâm phạm hoạt động tư pháp của Bộ luật, cụ thể là:

1- Người nào biết rõ một trong những tội phạm quy định ở các Điều sau đây đang được chuẩn bị hoặc đã được thực hiện mà không tố giác thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc bị phạt tù từ ba tháng đến ba năm:

- Các Điều từ 72 đến 85 về các tội đặc biệt nguy hiểm xâm phạm an ninh quốc gia; Điều 87(tội chiếm đoạt máy bay, tàu thuỷ); Điều 94, khoản 2 (tội phá huỷ công trình, phương tiện quan trọng về an ninh quốc gia); Điều

95, khoản 2 và 3 (tội chế tạo, tàng trữ, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự); Điều 96, khoản 2 và 3 (tội chế tạo, tàng trữ, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất nổ, chất cháy, chất độc, chất phóng xạ); Điều 98 (tội làm tiền giả, tội tàng trữ, lưu hành tiền giả, tội phá huỷ tiềntệ)

- Điều 101(tội giết người); Điều 112, khoản 2, 3 và 4 (tội hiếp dâm);

- Điều 129 (tội cướp tài sản xã hội chủ nghĩa); Điều 132, khoản 2 và 3 (tội trộm cắp tài sản xã hội chủ nghĩa); Điều 133, khoản 2 và 3 (tội tham ô tài

Trang 27

sản xã hội chủnghĩa); Điều 138, khoản 2 và 3 (tội huỷ hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản xã hội chủ nghĩa);

- Điều 151(tội cướp tài sản công dân); Điều 152 (tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản của công dân);

- Điều 165, khoản 2 và 3 (tội đầu cơ); Điều 172, khoản 2 và 3 (tội chiếm đoạt tem, phiếu, tội làm hoặc lưu hành tem, phiếu giấy tờ giả dùng vào việc phân phối);

- Điều 245, khoản 2 (tội trốn khỏi nơi giam)

2- Người không tố giác nếu đã có hành động can ngăn người phạm tội hoặc hạn chế tác hại của tội phạm thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự hoặc miễn hình phạt

Như vậy, có thể nói sự ra đời của BLHS năm 1985 đã đánh dấu một bước tiến mới về mặt kỹ thuật lập pháp hình sự của nhà nước ta, trong đó có các quy định về không tố giác tội phạm Mặc dù bộ luật chưa đưa ra khái niệm cụ thể về tội này nhưng cũng đã đánh dấu sự ghi nhận chính thức của các quy định về chế tài áp dụng cho hành vi không tố giác tội phạm trong pháp luật hình sự Việt Nam

1.2.4 Giai đoạn từ sau Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1999 đến trước khi ban hành Bộ luật hình sự năm 2015

Năm 1985 Bộ luật hình sự đầu tiên của nước ta ra đời trên cơ sở của nền kinh tế bao cấp và thực tiễn của tình hình tội phạm thời kỳ đó Để đáp ứng và phục vụ công cuộc đổi mới của đất nước, luật hình sự buộc phải có những thay đổi mang tính phát triển, một số quy định trong bộ luật này đã không còn phù hợp cho việc bảo vệ các quan hệ phát sinh trong nền kinh tế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa

Trong khoảng 15 năm tồn tại (giai đoạn từ năm 1986 đến trước khi có BLHS năm 1999), BLHS năm 1985 đã được sửa đổi, bổ sung 4 lần vào các

Trang 28

năm 1989, 1991, 1992 và 1997 Qua bốn lần sửa đổi, bổ sung có trên 100 lượt điều luật được sửa đổi hoặc bổ sung Với những sửa đổi, bổ sung này luật hình sự đã có sự phát triển đáp ứng được phần nào đòi hỏi của cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm trong điều kiện đổi mới Trong đường lối chủ động hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực của Đảng đề ra, nhất là trong thời kỳ đẩy mạnh nền công nghiệp hóa, hiện đấu hóa đất nước, việc sửa đổi toàn diện BLHS năm 1985 là một đòi hỏi khách quan của hoạt động lập pháp hình sự Đáp ứng yêu cầu đó, ngày 21/12/1999, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa X, tại kỳ họp thứ 6 đã thông qua Bộ luật hình sự (BLHS năm 1999), thay thế cho BLHS năm 1985, và có hiệu lực từ ngày 01/7/2000

Bộ luật hình sự năm 1999 được xây dựng trên cơ sở kế thừa những nội dung hợp lý, tích cực của BLHS năm 1985 So với BLHS năm 1985, BLHS năm

1999 có những thay đổi cơ bản mang tính tương đối toàn diện thể hiện sự phát triển mới của Luật hình sự Việt Nam

Trong BLHS năm 1999, tội không tố giác tội phạm được quy định tại Điều 22 (phần chung) và Điều 314 (phần các tội phạm)

“Điều 22 Không tố giác tội phạm

1 Người nào biết rõ tội phạm đang đựơc chuẩn bị, đang được thực hiện hoặc đã được thực hiện mà không tố giác, thì phải chịu trách nhiệm hình sự về tội không tố giác tội phạm trong những trường hợp quy định tại Điều 313 của Bộ luật này

2 Người không tố giác là ông, bà , cha, mẹ, con, cháu, anh chị em ruột,

vợ hoặc chồng của người phạm tội chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự trong trường hợp không tố giác các tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc các tội khác là tội đặc biệt nghiêm trọng quy định tại Điều 313 của

Bộ luật này”

Bên cạnh đó, theo quy định tại Điều 314 Bộ luật hình sự 1999:

Trang 29

“Điều 314 Tội không tố giác tội phạm

1 Người nào biết rõ một trong các tội phạm được quy định tại Điều

313 của Bộ luật này đang được chuẩn bị, đang hoặc đã được thực hiện

mà không tố giác, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm

2 Người không tố giác là ông, bà, cha, mẹ, con, cháu, anh chị em ruột,

vợ hoặc chồng của người phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự về việc không tố giác các tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc các tội khác

là tội đặc biệt nghiêm trọng theo quy định tại khoản 1 Điều này”

3 Người không tố giác nếu đã có hành động can ngăn người phạm tội hoặc hạn chế tác hại của tội phạm, thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự hoặc miễn hình phạt.”

Như vậy, so với các quy định tương ứng tại Điều 19 và Điều 247 BLHS năm 1985, tội không tố giác tội phạm trong BLHS 1999 đã có những nội dung sửa đổi, bổ sung như sau:

Thứ nhất, bổ sung khoản mới (khoản 2) nhằm thu hẹp phạm vi trách

nhiệm hình sự của ông, bà, cha, mẹ, con cháu, anh chị em ruột, vợ hoặc chồng của người có hành vi không tố giác khi biết người thân của mình phạm tội Quy định này được bổ sung trên cơ sở kế thừa những giá trị truyền thống nhân văn trong pháp luật của ông cha ta Đây là sự ghi nhận mối quan hệ tình cảm gia đình sâu nặng vốn là một trong những nét đặc trưng của truyền thống văn hóa Á Đông

Theo quy định mới được bổ sung thì người không tố giác là ông, bà, cha, con, cháu, anh chị em ruột, vợ hoặc chồng của người phạm tội chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội không tố giác các tội xâm phạm an ninh quốc gia (quy định tại các điều từ 78 đến điều 91 Bộ luật) hoặc các tội khác là tội phạm đặc biệt nghiêm trọng được liệt kê tại khoản 1 Điều 313

Trang 30

Thứ hai, không liệt kê các điều, khoản của Bộ luật hình sự về các tội

mà nếu không tố giác thì phải chịu trách nhiệm hình sự, mà chỉ viện dẫn Điều

313 Bộ luật Hình sự cho điều luật được ngắn gọn

Thứ ba, tăng mức hình phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm (trong

BLHS năm 1985, quy định đến một năm), và giữ nguyên mức phạt tù đối với

tội này

Như vậy, so với BLHS năm 1985, BLHS 1999 đã có sự thay đổi tiến bộ trong kỹ thuật lập pháp về tội không tố giác tội phạm, tuy nhiên bên cạnh đó vẫn còn một số điểm còn hạn chế như:

Một là, tại Điều 22 nhà làm luật chưa đưa ra được định nghĩa pháp lý

của khái niệm không tố giác tội phạm

Hai là, việc khoản 2 Điều 22 và khoản 2 Điều 314 đều có quy định về

trường hợp người không tố giác ông, bà, cha, mẹ, con, cháu, anh chị em ruột,

vợ hoặc chồng của người phạm tội là sự trùng lặp không cần thiết về kỹ thuật lập pháp hình sự

1.3 Tội không tố giác tội phạm trong pháp luật hình sự ở một số nước trên thế giới

Nghiên cứu những quy định về tội không tố giác tội phạm trong pháp luật hình sự của Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào, Nhật Bản, Vương quốc Thụy Điển, Liên bang Nga, Cộng hoà nhân dân Trung Hoa, Cộng hòa Liên Bang Đức cho thấy, các nước quy định rất khác nhau về tội phạm này, thể hiện những nét đặc trưng riêng biệt của mỗi nước

Bộ luật Hình sự Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào không có quy phạm định nghĩa về khái niệm không tố giác tội phạm, nhưng có quy định về tội không tố giác tội phạm tại Điều 154: “Người nào biết hoặc thấy hành vi phạm tội của người khác nhưng không báo cho nhà chức trách thì bị phạt tước quyền tự do từ

ba tháng đến năm năm hoặc cải tạo không tước quyền tự do” [43, tr.46]

Trang 31

Như vậy, theo quy định pháp luật hình sự của Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào thì bất kỳ một ai nếu biết hoặc thấy hành vi phạm tội của người khác

mà không báo cho nhà chức trách biết thì đều bị truy cứu trách nhiệm hình sự Cũng theo đó, bộ luật hình sự của Lào không quy định cụ thể chi tiết các điều khoản về các tội nếu mà không tố giác thì phải chịu trách nhiệm hình sự như

Bộ luật hình sự của nước ta

Bộ luật Hình sự Nhật Bản không có quy định về tội không tố giác tội phạm, mà chỉ có quy định về tội che giấu tội phạm và giấu chứng cứ tại Điều

103 và Điều 104

Nói về nghĩa vụ tố giác tội phạm, Điều 239 Bộ luật Tố tụng Hình sự Nhật Bản quy định: 1 Mọi người đều được tố giác tội phạm khi biết về tội phạm đó 2 Quan chức trung ương và quan chức địa phương phải tố giác tội phạm nếu biết về tội phạm khi thi hành công vụ

Tức là, việc tố giác tội phạm là quyền của mọi công dân Mọi công dân đều có quyền, và tự mình định đoạt quyền đó khi biết về tội phạm Nghĩa vụ

tố giác tội phạm chỉ đặt ra đối với quan chức nhà nước khi thi hành công vụ (nếu khi quan chức không thi hành công vụ, thì sẽ áp dụng quy định tại khoản

1 như đối với công dân) Như vậy, Nhật Bản không có tội không tố giác tội phạm đối với công dân (không phải quan chức nhà nước khi thi hành công vụ), chỉ có tội che giấu tội phạm Tuy nhiên, để khuyến khích việc tố giác tội phạm, Nhật Bản có các quy định và thiết chế riêng nhằm bảo vệ những người

Trang 32

cho bản thân của mình, trong trường hợp có các quy định cụ thể cho việc này, thì bị kết án về tội không tố giác tội phạm tương tự như đã quy định đối với người đồng phạm tham gia phạm tội ở mức độ nhỏ Tuy nhiên, trong mọi trường hợp, hình phạt không được nặng hơn hình phạt hai năm tù Trong những trường hợp có quy định đặc biệt, hình phạt đối với tội không tố giác tội phạm cũng được áp dụng đối với người không biết, nhưng đáng ra phải biết là tội phạm đang được thực hiện

Nếu cha mẹ, thầy cô giáo hoặc những người giám hộ ngoài các trường hợp nói tại Điều 1, vì không báo cáo với nhà chức trách khi có thể làm điều đó và không gây nguy hại cho bản thân hoặc người thân của mình mà không ngăn chặn được người nằm trong sự kiểm soát của mình thực hiện một tội phạm, thì bị xử phạt theo quy định tại đoạn

1 về tội không tố giác tội phạm

Hành vi không tố giác hoặc ngăn chặn một tội phạm không bị xử phạt theo luật hình sự trừ khi tội danh được thực hiện đã tiến triển tới mức phải áp dụng hình phạt” [15, tr.85]

Điều 14 Bộ luật này có quy định cụ thể về tội không tố giác tội phản bội Tổ quốc, tội không trung thành với Vương quốc trong đàm phán với nước ngoài, tội gián điệp, tội gián điệp trong trường hợp nghiêm trọng hoặc tội tiết

lộ trái phép thông tin bí mật đang được thực hiện mà tiếp tay cho việc thực hiện các tội trên

“Đối với hành vi chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt hoặc đồng phạm các tội phản bội Tổ quốc, tội không trung thành với Vương quốc trong đàm phán với nước ngoài, tội gián điệp, tội gián điệp trong trường hợp nghiêm trọng, tội vô ý làm lộ thông tin bí mật trong trường hợp nghiêm trọng, tội hoạt động tình báo bất hợp pháp, cũng như các

Trang 33

hành vi chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt, tội vô ý làm lộ thông tin

bí mật, thì hình phạt được áp dụng theo quy định tại chương 23 Người nào có hành vi móc nối với nước ngoài nhằm mục đích chuẩn

bị, tạo điều kiện hoặc khả năng thực hiện tội phản bội Tổ quốc, thì bị coi là người đồng phạm tội phản bội Tổ quốc

Người nào không tố giác tội phản bội Tổ quốc, tội không trung thành với Vương quốc trong đàm phán với nước ngoài, tội gián điệp, tội gián điệp trong trường hợp nghiêm trọng hoặc tội tiết lộ trái phép thông tin bí mật đang được thực hiện mà tiếp tay cho việc thực hiện các tội trên, thì cũng bị xử phạt theo quy định tại chương 23, kể cả trong trường hợp người đó không biết nhưng đáng ra đã phải biết rằng tội phạm đã được thực hiện [15, tr.69]

Từ những quy định trên, có thể thấy pháp luật Hình sự của Thụy Điển

đã quy định khá cụ thể và chi tiết về tội không tố giác tội phạm Theo đó, chỉ người nào không kịp thời báo cáo hoặc tố giác một tội phạm đang được thực hiện khi có thể làm việc đó mà không gây nguy hiểm cho bản thân mình, trong trường hợp có các quy định cụ thể cho việc này, thì bị kết án về tội không tố giác tội phạm tương tự như đã quy định đối với người đồng phạm tham gia phạm tội ở mức độ nhỏ, còn nếu do báo cáo hoặc tố giác tội phạm mà bị gây nguy hiểm cho tính mạng thì pháp luật cho phép không tố giác tội phạm đó Đây là quy định mang tính nhân văn của pháp luật hình sự nước này

Bộ luật Hình sự Cộng hòa Liên Bang Đức cũng quy định trách nhiệm hình sự đối với tội không tố giác tội phạm tại Điều 138 và Điều 139

Điều 138 quy định về không tố giác những tội phạm đã được lập kế hoạch: (1) Người nào biết được một cách đáng tin về dự định hoặc việc thực hiện của

1 tội chuẩn bị một cuộc chiến tranh xâm lược (Điều 80)

Trang 34

2 tội phản bội tổ quốc trong các trường hợp của các Điều khoản

5 tội giết người (Điều 211)

Tại thời điểm mà việc thực hiện hoặc hậu quả còn có thể được ngăn chặn và không tố giác kịp thời cho nhà đương cục hoặc cho người bị đe dọa thì bị xử phạt với hình phạt tự do đến 01 năm hoặc với hình phạt tiền

(3) Người nào khinh xuất không tố giác, mặc dù họ đã biết một cách đáng tin về dự định hoặc việc thực hiện của hành vi trái pháp luật thì bị xử phạt với hình phạt tự do đến 01 năm hoặc hoặc với hình phạt tiền [14, tr.256,258]

Pháp luật hình sự Cộng hòa Liên Bang Đức cũng quy định việc loại trừ trách nhiệm hình phạt trong các trường hợp sau đây (Điều 139):

(1) Nếu một tội phạm trong những điều của Điều 138 đã không được bắt đầu thực hiện thì có thể được miễn hình phạt

(2) Một mục sư không có nhiệm vụ tố giác điều mà họ đã tin tưởng cho biết với tư cách là người chăm lo phần hồn

(3) Người nào bỏ qua việc tố giác mà họ lẽ ra phải thực hiện chống lại một người thân thích thì không bị xử phạt nếu họ thực sự cố gắng ngăn cản người này thực hiện tội phạm hoặc ngăn chặn hậu quả, trừ khi là

1 tội giết người hoặc đánh chết người (Điều 211 hoặc Điều 212),

Trang 35

2 tội diệt chủng trong các trường hợp Điều 6 khoản 1 số 1 BLHS quốc tế hoặc tội phạm chống loài người của Điều 7 khoản 1 số 1 BLHS quốc tế hoặc tội phạm chiến tranh trong các trường hợp của Điều 8 khoản 1 số 1 BLHS quốc tế hoăc

3 tội bắt cóc để cưỡng đoạt (Điều 239a khoản 1)

Theo các điều khoản như vậy, thì luật sư, người bào chữa, bác sĩ, nhà trị liệu tâm lý về tâm lý học, nhà trị liệu tâm lý trẻ em và người chưa thành niên không có nhiệm vụ phải tố giác điều mà họ được tin tưởng cho biết với

tư cách này

Trong Bộ luật hình sự năm 1996 của Liên Bang Nga, không có quy định về tội không tố giác tội phạm Tuy nhiên, pháp luật của quốc gia này lại quy định về tội Che giấu tội phạm tại Điều 310:

“Không hứa hẹn trước mà che giấu tội phạm thì bị phạt tiền từ

200 lần đến 500 lần mức thu nhập tối thiểu hay mức lương hay khoản thu nhập khác của người bị kết án trong thời gian từ 2 tháng đến 5 tháng hoặc phạt giam từ 3 tháng đến 6 tháng hoặc phạt tù đến 2 năm

Ghi chú: vợ, chồng hay người thân của người phạm tội không hứa hẹn trước mà che giấu tội phạm, thì không phải chịu trách nhiệm hình sự”[13, tr.90]

Như vậy, khác với pháp luật hình sự của Liên Xô trước đây có quy định

về tội không tố giác tội phạm, pháp luật hiện hành của Liên bang Nga không có quy định về tội phạm này Quan điểm về việc không quy định tội không tố giác tội phạm trong pháp luật hình sự hiện hành là cho rằng việc phát hiện, đấu tranh phòng, chống tội phạm là trách nhiệm của các cơ quan chức năng, chứ công dân không buộc phải phát hiện, đấu tranh phòng, chống tội phạm

Trong khi đó, BLHS của nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa tại Điều

311 cũng quy định:

Trang 36

Người nào biết rõ người khác có những hành vi phạm tội gián điệp, khi cơ quan an ninh quốc gia điều tra những tình tiết có liên quan, thu thập chứng cứ có liên quan, mà từ chối không cung cấp, có tình tiết nghiêm trọng thì bị phạt tù đến 3 năm, cải tạo lao động hoặc quản chế [30, tr.190] Như vậy, BLHS của nước này chỉ quy định về tội không tố giác tội phạm ở tội gián điệp và cũng chỉ khi người không tố giác từ chối cung cấp tình tiết, chứng cứ liên quan và có tình tiết nghiêm trọng thì mới bị truy cứu TNHS mà thôi

Nhận xét chung:

Tóm lại, qua các quy định của pháp luật hình sự một số nước liên quan tội không tố giác tội phạm được nêu và phân tích ở trên, có thể rút ra một số nhận xét như sau:

Thứ nhất, những quy định về tội không tố giác tội phạm trong pháp luật

hình sự của các nước như: Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào, Liên Bang Nga, Cộng hòa dân chủ nhân dân Trung Hoa, Nhật Bản, Vương quốc Thụy Điển, Cộng hòa Liên Bang Đức là rất khác nhau, phụ thuộc vào điều kiện kinh tế, chính trị, văn hóa - xã hội của từng quốc gia Pháp luật hình sự Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào, Thụy Điển, Cộng hòa Liên Bang Đức đều có quy định về tội không tố giác tội phạm, trong khi đó pháp luật hình sự của Nhật Bản, Liên bang Nga lại không quy định về tội phạm này Tuy rằng, trong pháp luật hình sự của

đa số các nước cũng đều chưa đưa ra được một khái niệm pháp lý rõ ràng định nghĩa về không tố giác tội phạm, tuy nhiên các hành vi bị xử lý về tội không tố giác tội phạm đã được đề cập và quy định trong Bộ luật hình sự các nước một cách tương đối rõ ràng và rất ngắn gọn, dễ hiểu

Thứ hai, tương tự như pháp luật hình sự của Việt Nam, pháp luật hình sự

nước Thụy Điển và Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào đều quy định tội không tố giác tội phạm là loại tội phạm ít nghiêm trọng, ít nguy hiểm cho xã hội, cho nên

Trang 37

mức hình phạt được áp dụng cho tội này là loại hình phạt không tước tự do hoặc mức tối đa của hình phạt tù có thời hạn là 03 năm tù Đối với pháp luật nước Cộng hòa Liên Bang Đức, ngoài hình phạt tù còn áp dụng cả hình phạt tiền đối với người phạm tội không tố giác tội phạm

Thứ ba, pháp luật hình sự Cộng hòa Liên Bang Đức và Thụy Điển đã có

quy định cụ thể về tội không tố giác tội phản bội Tổ quốc, tội không trung thành với Vương quốc trong đàm phán với nước ngoài, tội Gián điệp, các tội đặc biệt nghiêm trọng khác như tội giết người và cũng có các quy định miễn trừ TNHS đối với các đối tượng như luật sư, người bào chữa, bác sĩ, nhà trị liệu tâm lý không có nhiệm vụ phải tố giác điều mà họ được tin tưởng cho biết với tư cách này Đây là điểm khá tương đồng với những quy định về tội không tố giác tội phạm của pháp luật hình sự Việt Nam

Thứ tư, pháp luật hình sự của Thụy Điển đã đề cập đến vấn đề đảm bảo an

toàn cho người tố giác tội phạm, nếu do báo cáo hoặc do tố giác tội phạm mà bị gây nguy hiểm đến tính mạng của người tố giác thì pháp luật cho phép không phải tố giác tội phạm đó Đây là một trong những quy định mang tính nhân văn

và đảm bảo, tôn trọng quyền con người của pháp luật hình sự nước này

Trang 38

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Tội không tố giác tội phạm đã được quy định từ rất sớm trong lịch sử pháp luật hình sự Việt Nam Từ thời nhà Lê, tội không tố giác tội phạm đã được đề cập, quy định trong Bộ luật Hồng Đức và dưới thời nhà Nguyễn, nó tiếp tục được ghi nhận và quy định trong Hoàng Việt luật lệ Sau Cách mạng tháng 8 năm 1945, các quy định về tội không tố giác tội phạm được quy định riêng lẻ trong các Sắc lệnh, Pháp lệnh của từng giai đoạn nhằm giải quyết những nhu cầu đấu tranh chống các hành vi tội phạm cấp bách trong thời kỳ này Có thể nói sự ra đời của BLHS năm 1985 đã đánh dấu một bước tiến mới

về mặt kỹ thuật lập pháp hình sự của nhà nước ta, trong đó có các quy định về không tố giác tội phạm Mặc dù bộ luật chưa đưa ra khái niệm cụ thể về tội này nhưng cũng đã đánh dấu sự ghi nhận chính thức của các quy định về chế tài áp dụng cho hành vi không tố giác tội phạm trong pháp luật hình sự Việt Nam Bộ luật hình sự năm 1999 được xây dựng trên cơ sở kế thừa những nội dung hợp lý, tích cực của BLHS năm 1985 So với BLHS năm 1985, BLHS năm 1999 có những thay đổi cơ bản mang tính tương đối toàn diện thể hiện sự phát triển mới của Luật hình sự Việt Nam, trong đó có sự thay đổi tiến bộ trong kỹ thuật lập pháp về tội không tố giác tội phạm, bổ sung thêm nội dung mới nhằm thu hẹp phạm vi trách nhiệm hình sự của ông, bà, cha, mẹ, con cháu, anh chị em ruột, vợ hoặc chồng của người có hành vi không tố giác khi biết người thân của mình phạm tội

Nghiên cứu những quy định về tội không tố giác tội phạm trong pháp luật hình sự của Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào, Nhật Bản, Vương quốc Thụy Điển, Liên bang Nga, Cộng hoà nhân dân Trung Hoa, Cộng hòa Liên Bang Đức cho thấy, các nước quy định rất khác nhau về tội phạm này, thể hiện những nét đặc trưng riêng biệt của mỗi nước, phụ thuộc vào điều kiện kinh tế, chính trị, văn hóa - xã hội của từng quốc gia

Trang 39

Chương 2:

QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM NĂM 2015 VỀ TỘI

KHÔNG TỐ GIÁC TỘI PHẠM VÀ THỰC TIỄN XÉT XỬ

2.1 Quy định của Bộ luật Hình sự Việt Nam năm 2015 về tội không tố giác tội phạm

Bộ luật này

2 Người không tố giác là ông, bà, cha, mẹ, con, cháu, anh chị em ruột, vợ hoặc chồng của người phạm tội không phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều này, trừ trường hợp không tố giác các tội quy định tại Chương XIII của Bộ luật này hoặc tội khác là tội phạm đặc biệt nghiêm trọng

3 Người không tố giác là người bào chữa không phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều này, trừ trường hợp không tố giác các tội quy định tại Chương XIII của Bộ luật này hoặc tội khác là tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do chính người mà mình bào chữa đang chuẩn bị, đang thực hiện hoặc đã thực hiện mà người bào chữa biết rõ khi thực hiện việc bào chữa

Hành vi không tố giác tội phạm luôn được thực hiện dưới hình thức không hành động, lỗi của người có hành vi không tố giác tội phạm là cố ý trực tiếp Hành vi không tố giác tội phạm có thể xảy ra ở giai đoạn tội phạm đang được chuẩn bị, đang được thực hiện hoặc đã được thực hiện (đã kết thúc) Họ

Trang 40

biết rõ tội phạm đang được chuẩn bị, đang được thực hiện hoặc đã được thực hiện nhưng không thực hiện nghĩa vụ tố giác sự việc với cơ quan có thẩm quyền

Hành vi không tố giác tội phạm tuy có liên quan đến tội phạm nhưng

không phải là hành vi đồng phạm bởi người không tố giác không “cố ý cùng

thực hiện tội phạm” với người mà người đó không tố giác Hành vi không tố

giác tội phạm không có quan hệ nhân quả với hành vi phạm tội và hậu quả của tội phạm do người khác gây ra [4, tr.46]

Hành vi không tố giác tội phạm thể hiện thái độ thờ ơ, thiếu trách nhiệm và vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ của công dân đối với trách nhiệm đấu tranh phòng chống tội phạm do luật quy định, góp phần gây khó khăn cho việc phát hiện, điều tra, xử lý người phạm tội, không ngăn chặn kịp thời các hậu quả nguy hiểm cho xã hội do tội phạm gây ra

Do tính nguy hiểm của hành vi không bị tố giác khác nhau nên hành vi không tố giác cũng có tính nguy hiểm khác nhau Vì vậy, không phải hành vi không tố giác tội phạm nào cũng cấu thành tội không tố giác tội phạm Hành

vi không tố giác tội phạm chỉ cấu thành tội không tố giác tội phạm khi không

tố giác những tội nhất định được quy định trong BLHS Như vậy, điều luật này chỉ xác định về nguyên tắc vấn đề trách nhiệm hình sự của hành vi không

tố giác tội phạm Khi giải quyết trách nhiệm hình sự của hành vi không tố giác tội phạm thì phải căn cứ vào Điều 390 BLHS là điều luật quy định về tội phạm này

Ghi nhận mối quan hệ tình cảm đặc biệt giữa những người thân thiết trong gia đình vốn là một trong những nét đặc trưng của truyền thống văn hóa dân tộc, nên cũng như khoản 2 Điều 22 BLHS năm 1999, khoản 2 Điều 19 BLHS năm 2015 quy định người không tố giác tội phạm là ông, bà, cha, mẹ, con, cháu, anh chị em ruột, vợ hoặc chồng của người phạm tội không phải chịu trách nhiệm hình sự về tội không tố giác tội phạm theo quy định tại

Ngày đăng: 11/11/2019, 21:31

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Phạm Văn Beo: Giáo trình Luật hình sự Việt Nam phần các tội phạm, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật hình sự Việt Nam phần các tội phạm
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
2. Bình luận Khoa học Bộ luật Hình sự năm 2015 (Phần các tội phạm),PGS.TS Trần Văn Luyện, NXB Công an nhân dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bình luận Khoa học Bộ luật Hình sự năm 2015 (Phần các tội phạm)
Nhà XB: NXB Công an nhân dân
3. Bình luận Khoa học Bộ luật Hình sự năm 2015 (Phần chung), GS.TS Nguyễn Ngọc Hòa, NXB Tƣ pháp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bình luận Khoa học Bộ luật Hình sự năm 2015 (Phần chung)
Nhà XB: NXB Tƣ pháp
4. Bình luận Khoa học Bộ luật Hình sự năm 2015 (Tập 1),TS. Lê Đăng Doanh, PGS.TS Cao Thị Oanh, NXB Hồng Đức Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bình luận Khoa học Bộ luật Hình sự năm 2015 (Tập 1)
Nhà XB: NXB Hồng Đức
5. ThS. Phạm Thanh Bình và TS. Nguyễn Vạn Nguyên, Các tội xâm phạm hoạt động tư pháp, nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các tội xâm phạm hoạt động tư pháp
Nhà XB: nhà xuất bản Chính trị quốc gia
6. Bộ Chính trị (2005), Nghị quyết 49-NQ/TW, ngày 2/6/2005, khoá IX, về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết 49-NQ/TW, ngày 2/6/2005, khoá IX, về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020
Tác giả: Bộ Chính trị
Năm: 2005
7. Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), NXB Chính trị Quốc gia, năm 2017 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ luật Hình sự năm 2015
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
8. Bộ luật tố tụng Hình sự Cộng hòa Pháp (1998), NXB Công an nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ luật tố tụng Hình sự Cộng hòa Pháp
Tác giả: Bộ luật tố tụng Hình sự Cộng hòa Pháp
Nhà XB: NXB Công an nhân dân
Năm: 1998
9. Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015, NXB Chính trị Quốc gia, năm 2017 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
10. Bộ Nội Vụ, Tổng cục cảnh sát nhân dân (1994), Tội phạm ở Việt Nam thực trạng, nguyên nhân và giải pháp, (Đề tài KX.0414), Nxb Công an nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tội phạm ở Việt Nam thực trạng, nguyên nhân và giải pháp
Tác giả: Bộ Nội Vụ, Tổng cục cảnh sát nhân dân
Nhà XB: Nxb Công an nhân dân
Năm: 1994
11. Bộ Tƣ pháp (1957), Tập luật lệ về tư pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tập luật lệ về tư pháp
Tác giả: Bộ Tƣ pháp
Năm: 1957
12. Bộ tư pháp (1994), Bộ luật hình sự Nhật Bản, Nguyễn Văn Hoàn (người dịch), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ luật hình sự Nhật Bản
Tác giả: Bộ tư pháp
Năm: 1994
13. Bộ Tƣ pháp (1998), “Luật hình sự một số nước trên thế giới”, tạp chí Dân chủ và pháp luật, (số chuyên đề), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật hình sự một số nước trên thế giới
Tác giả: Bộ Tƣ pháp
Năm: 1998
14. Bộ Tƣ pháp, Bộ luật hình sự Cộng hòa Liên Bang Đức, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ luật hình sự Cộng hòa Liên Bang Đức
18. Bộ Tƣ pháp, Viện nghiên cứu khoa học pháp lý (2001), Bình luận khoa học Bộ luật Hình sự Việt Nam năm 1999, tập 1 phần chung, Nxb Chính trị Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bình luận khoa học Bộ luật Hình sự Việt Nam năm 1999
Tác giả: Bộ Tƣ pháp, Viện nghiên cứu khoa học pháp lý
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia Hà Nội
Năm: 2001
20. Lê Cảm (1999), Các nghiên cứu chuyên khảo về phần chung Luật hình sự, tập 1, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các nghiên cứu chuyên khảo về phần chung Luật hình sự
Tác giả: Lê Cảm
Nhà XB: Nxb Công an nhân dân
Năm: 1999
21. Lê Cảm (1999), Hoàn thiện pháp luật hình sự Việt Nam trong giai đoạn xây dựng nhà nước pháp quyền, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàn thiện pháp luật hình sự Việt Nam trong giai đoạn xây dựng nhà nước pháp quyền
Tác giả: Lê Cảm
Nhà XB: Nxb Công an nhân dân
Năm: 1999
22. Lê Cảm (2000), “Luật hình sự Việt Nam thế kỷ XV- cuối thế kỷ XVIII”, Dân chủ và pháp luật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật hình sự Việt Nam thế kỷ XV- cuối thế kỷ XVIII
Tác giả: Lê Cảm
Năm: 2000
23. Lê Cảm (2001) (chủ biên), Giáo trình Luật hình sự Việt Nam (phần chung), Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật hình sự Việt Nam (phần chung)
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
24. Lê Cảm (chủ biên) (2007), Giáo trình Luật hình sự Việt Nam (phần các tội phạm), Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật hình sự Việt Nam (phần các tội phạm)
Tác giả: Lê Cảm (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2007

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w