Sến mật Madhuca pasqueri (Dubard) H.J.Lam), là loài thuộc họ Sến (Sapotaceae) có mặt trên nhiều vùng sinh thái của nước ta, là loài có giá trị bảo tồn lớn cũng như giá trị cao về kinh tế. Bên cạnh đó, một số thành phần của loài còn được dùng để làm thuốc lá nấu cao để chữa bỏng, gỗ được xếp vào nhóm tứ thiết có tính chịu lực cao. Đặc biệt, theo sách đỏ của IUCN Sến mật là loài thuộc nhóm loài sắp nguy cấp EN trong sách đỏ thực vật rừng năm 2007, cấp VU trong danh mục đỏ IVCW, là loài đang bị nguy cấp ngoài tự nhiên (theo sách đỏ Việt Nam 2007). Hiện nay có một số nghiên cứu về Sến mật nhưng chủ yếu ở Tam Quy – Hà Trung – Thanh Hóa, tuy nhiên chưa có đề tài nào nghiên cứu về khả năng tái sinh tự nhiên của loài này ở các địa phương.
Trang 1ĐẶT VẤN ĐỀ
Nghiên cứu về tái sinh rừng là nghiên cứu rất quan trọng làm cơ sở chocác biện pháp kĩ thuật lâm sinh xây dựng và phát triển rừng Trên quan điểmsinh thái, đặc điểm cấu trúc thể hiện rõ nét những mối quan hệ qua lại giữacác thành phần của hệ sinh thái rừng và giữa chúng với môi trường Tái sinhrừng là một quá trình sinh học mang tính đặc thù của hệ sinh thái, nó đảm bảocho nguồn tài nguyên có khảng năng tái sản xuất mở rộng nếu con người nắmbắt được quy luật tái sinh và điều khiển nó phục vụ kinh doanh rừng Vì vậy,tái sinh rừng trở thành vấn đề then chốt trong việc xác định các phương thứckinh doanh rừng
Việt Nam là một quốc gia nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa,diện rừng chủ yếu là rừng nhiệt đới, thuật lợi cho các loài động thực vật pháttriển nên được quốc tế đánh giá là quốc gia có tính đa dạng sinh học khá cao.Tuy nhiên trong thời kì từ năm 1943 đến năm 1993 có khoảng 5 triệu ha rừngtuy nhiên bị mất, nghĩa là tốc độ phá rừng hàng năm ở Việt Nam vào khoảng100.000 ha, từ đó làm tính đá dạng sinh học bị kiệt quệ nặng nề, nhiều loàithực vật, động vật đã không còn tìm thấy ở bất kỳ đâu trong khu rừng củaViệt Nam, nhiều loài bị đưa vào sách đỏ Việt Nam cũng như thế giới
Nhận thức được điều này trong những năm trở lại đây, chúng ta đã đầu
tư nhiều vào công tác bảo vệ và phát triển rừng, công tác bảo tồn đa dạng sinhhọc ngày càng được chú trọng, nhiều khu bảo tồn thiên nhiên được thành lập
và đầu tư xây dựng nhằm giữ lại những diện tích rừng tự nhiên còn tồn tại từ
đó giữ gìn và bảo tồn loài quý hiếm
Sến mật Madhuca pasqueri (Dubard) H.J.Lam), là loài thuộc họ Sến(Sapotaceae) có mặt trên nhiều vùng sinh thái của nước ta, là loài có giá trịbảo tồn lớn cũng như giá trị cao về kinh tế Bên cạnh đó, một số thành phần
Trang 2của loài còn được dùng để làm thuốc lá nấu cao để chữa bỏng, gỗ được xếpvào nhóm tứ thiết có tính chịu lực cao Đặc biệt, theo sách đỏ của IUCN Sếnmật là loài thuộc nhóm loài sắp nguy cấp EN trong sách đỏ thực vật rừng năm
2007, cấp VU trong danh mục đỏ IVCW, là loài đang bị nguy cấp ngoài tựnhiên (theo sách đỏ Việt Nam 2007) Hiện nay có một số nghiên cứu về Sếnmật nhưng chủ yếu ở Tam Quy – Hà Trung – Thanh Hóa, tuy nhiên chưa có
đề tài nào nghiên cứu về khả năng tái sinh tự nhiên của loài này ở các địaphương
Sến mật phân bố tự nhiên ở hầu hết khu vực Bắc trung bộ và Bắc bộ
Chính vì vậy tôi tiến hành thực hiện chuyên đề: “Nghiên cứu đặc điểm phân
bố và khả năng tái sinh của loài Sến mật (Madhuca pasquieri (Dubard) H.J.Lam) tại Miếu Trắng, thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh” với mong
muốn góp phần bảo tồn và phát triển loài cây này tại khu vực nghiên cứu
Trang 3Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Trên thế giới.
Tái sinh rừng là một quá trình sinh học mang tính đặc thù của hệ sinhthái rừng, biếu hiện của nó là sự xuất hiện của một thế hệ cây con của nhữngloài cây gỗ ở những nơi còn hoàn cảnh rừng: dưới rán rừng, chỗ trống, đấtrừng sau khi khai thác, đất rừng sau nương rẫy vai trò lịch sử của lớp cây connày là thay thế hệ cây già cỗi Theo nghĩa hẹp, tái sinh rừng được hiểu là quátrình phục hồi thành phần cơ bản của rừng chủ yếu là tầng cây gỗ
Theo quan điểm của các nhà nghiên cứu thì hiệu quả tái sinh rừng đượcxác định bởi mật độ, tổ thành loài cây, cấu trúc tuổi, chất lượng cây con, đặcđiểm phân bố
Các chuyên gia sinh thái học đã khẳng định rừng là hệ sinh thái hoànchỉnh nhất Thực vật rừng có biến động cả về chất và lượng khi yếu tố ngoạicảnh thay đổi Rừng cây và con người có quan hệ mật thiết với nhau, nghiêncứu tái sinh rừng tự nhiên đã trải qua hàng trăm năm, nhưng ở rừng nhiệt đới,vấn đề này được đề cập từ năm 1930 trở lại đây
Ở rừng nhiệt đới số lượng loài cây trên một đơn vị diện tích quá lớn,nên kinh doanh tất cả các loài cây đó rất có thể mang lại hiệu quả khôngmong muốn Trong thực tiễn lâm sinh, người ta chỉ khảo sát những loài cây
có giá trị kinh tế cao đáp ứng nhu cầu thị trường
Có hai nhóm nhân tố ảnh hưởng đến tái sinh tự nhiên, đó là nhóm nhân
tố sinh thái ảnh hưởng đến tái sinh rừng không có sự can thiệp con người vànhóm nhân tố ảnh hưởng đến tái sinh rừng có sự can thiệp của con người
Trang 41.1.1 Nhóm nhân tố sinh thái ảnh hưởng đến tái sinh rừng không có
sự can thiệp của con người.
Một trong những nhân tố sinh thái được nhiều tác giả quan tâm và tìmhiểu là ánh sáng ảnh hưởng đến cây con dưới tán rừng Nếu ở trong rừng, câycon chết vì thiếu nước thì cũng không nên loại trừ do thiếu ánh sáng Trongrừng mưa nhiệt đới, sự thiếu hụt ánh sáng ảnh hưởng chủ yếu đến sự pháttriển cây con, còn đối với sự nảy mầm và phát triển mầm non thường không
rõ (Bảu G, N 1962) Khi nghiên cứu tái sinh tự nhiên của rừng, các tác giảnhận định tầng cây cỏ và cây bụi đã ảnh hưởng tới cây tái sinh các loài cây
gỗ Ở quần thụ kín tán, tuy thảm cỏ phát triển kém nhưng cạnh tranh dinhdưỡng và ánh sáng của chúng vẫn ảnh hưởng đến cây tái sinh Những lâmphần đã qua khai thác, thảm cỏ có trong điều kiện phát sinh mạnh mẽ sẽ là trởngại lớn cho tái sinh rừng
Trong công trình nghiên cứu mối quan hệ qua lại giữa cây con và quầnthụ của V.G.Karpov (1969), đã chỉ ra đặc điểm phức tạp trong quan hệ cạnhtranh về dinh dưỡng của đất, ánh sáng, độ ẩm và tính chất thuần nhất củaquan hệ qua lại giữa các thực vật tùy thuộc đặc tính sinh vật học, tuổi và điềukiện sinh thái của quần thể thực vật Năm 1973 tác giả I.N.Nakhteenko chorằng sự trùng hợp cao của sự hấp thụ dinh dưỡng giữa 2 loài có thể gây chonhau sự kìm hãm sinh trưởng và làm tawg áp lực cạnh tranh giữa 2 loài
Trong đa số các nghiên cứu tái sinh tự nhiên của rừng, người ta đềunhận thấy rằng cỏ và cây bụi, qua thu nhận ánh sáng, độ ẩm và các nguyên tốdinh dưỡng khoáng của tầng mặt đất và ảnh hưởng xấu đến cây tái sinh củacác loài cây gỗ Những quần thụ kín tán, đất khô và nghèo dinh dưỡngkhoáng, thảm cỏ phát triển kém nên ảnh hưởng của nó đến các cây gỗ nonkhông đáng kể Ngược lại những lâm phần thưa, rừng đã qua khai thác thì
Trang 5thảm cỏ có điều kiện phát sinh mạnh mẽ, trong điều kiện này chúng là nhân tốgây trở ngại rất lớn cho tái sinh rừng (Bannikov,1967; Vipper 1973)
Cây rừng ra hoa mang tính định kì rõ rệt, cây rừng ra hoa nhiều hay ít
bị ảnh hưởng sâu sắc của thời tiết, nhiều nhà lâm học cho rằng biến động mùahoa quả cây rừng nghiên cứu theo các vùng địa lý khác nhau và các khía cạnhcấu trúc, độ dày, độ khép tán, tuổi lâm phần
1.1.2 Nhóm nhân tố ảnh hưởng đến tái sinh rừng có sự can thiệp của con người.
Đó là sự áp dụng các biện pháp kĩ thuật lâm sinh nhằm tác động có mụcđích vào các lâm phần rừng tự nhiên Từ các xử lý lâm sinh tác động vào cácloài cây tái sinh mục đích, các nhà lâm sinh học đã xây dựng thành côngnhiều phương thức chặt tái sinh, điển hình như công trình của Kennedy(1935), Taylor (1954), Rosevear (1974) ở Nigieria và Gana (1960) ở Xurinamvới phương thức chặt dần tái sinh dưới tán lá Brooks (1941), Ayolife (1952)với phương thức chặt dần nhiệt đới ở Trinidat, Wayatt Smith (1961,1963) vớiphương thức chặt rừng đều tuổi ở Malaysia, Donis và Maudouz (1951,1954)với phương thức đồng nhất hóa tầng trên ở Zava
Nghiên cứu về phân bố cây tái sinh tự nhiên cũng đã có rất nhiều côngtrình đề cập đến, đáng chú ý là công trình nghiên cứu của Richards, P.W(1965) tác giả cuốn rừng mưa nhiệt đới Bernard Roller (1974) tổng kết cáccông trình nghiên cứu về phân bố số cây tái sinh tự nhiên đã nhận xét trong ôtiêu chuẩn kích thước nhỏ (1x1m, 1x1,5m) cây tái sinh tự nhiên có dạng phân
bố cụm, một số ít có phân bố poisson Ở Châu Phi, trên cơ sở các số liệu thuthập Taylor (1954), Barnard (1955) xác định số lượng cây tái sinh tự nhiênnhiệt đới Châu Á như: Bava (1954), Budowski (1956), Kationt (1965) lạinhận định dưới tán rừng nhiệt đới nhìn chung có đủ số lượng cây tái sinh có
Trang 6giá trị kinh tế, do vậy biện pháp lâm sinh đề ra cần thiết để bảo vệ và pháttriển cây tái sinh có sẵn dưới tán rừng.
Về phương pháp điều tra tái sinh, nhiều tác giả đã sử dụng cách lấymẫu ô vuông theo hệ thống Lowdermilk (1972) đề nghị, với diện tích ô dạngbản thông thường từ 1 – 4 m2 Bên cạnh đó, cũng có nhiều tác giả đề nghị sửdụng phương pháp điều tra theo dải hẹp với các ô đo đếm có diện tích biếnđộng từ 10 – 100 m2 Phương pháp này trong điều tra tái sinh sẽ khó xác địnhđược quy luật phân bố hình thái của lớp cây tái sinh trên bề mặt rừng Đểgiảm sai số trong hệ thống Barnrd (1950) đã đề nghị một phương pháp “điềutra chuẩn đoán”, theo đó kích thước ô đo đếm có thể thay đổi tùy theo giaiđoạn phát triển của cây tái sinh ở các trạng thái rừng khác nhau Phương phápnày được áp dụng nhiều hơn vì nó thích hợp cho từng đối tượng rừng cụ thể
Về điều tra và đánh giá tái sinh tự nhiên trong rừng nhiệt đới, M.Loeschau (1977) đã đưa ra một số đề nghị như: để đánh giá một khu bằngcách rút mẫu ngẫu nhiên, trừ trường hợp đặc biệt có thể dựa vào những nhậnxét tổng quát về mật độ tái sinh như nói có lượng cấy tái sinh rất lớn Các sốliệu này sẽ là cơ sở cho các quyệt định trong từng kế hoạch lâm sinh cụ thể,đặc biệt là xét lâm phần có xứng đáng được chăm sóc hay không? Việc chămsóc cấp bách đến mức độ nào? Cường độ chăm sóc phải ra sao? Tác giả cũng
đề nghị những chỉ tiêu cần phải điều tra gồm có mật độ, chất lượng cây táisinh cũng như đường kinh ngang ngực của những cây có giá trị kinh tế lớntrong khoảng từ 1 cm (cây tái sinh đã đảm bảo), đến 12,6 cm (giới hạn dướicủa kích thước sản phẩm)
Từ những tính toán về mặt sai số cũng như về mặt tổ chức thực hiện thìcác ô được chọn là những hình vuông có diện tích là 25cm2 dễ dàng xác lậpbằng gậy tre Tất cả những cây tái sinh của những loài có giá trị kinh tế
Trang 7(đường kính gốc bằng 1 ÷ 2,5 cm), có nguồn gốc hạt và thân thẳng được đếm
và đo hay ước lượng đường kính theo hai cấp 1 – 5 cm và 5 -12,5 cm Các ô
đo đếm được xác định theo từng nhóm, mỗi nhóm gồm 4 ô, bố trí liên tiếptheo kiểu phân bố hệ thống không đồng đều Như vậy, các ô vừa đại diệnđược đầy đủ toàn bộ khu vực điều tra, mặt khác những nhân tố điều tra vừa códạng gần với phân bố chuẩn
1.1.3 Nghiên cứu về tái sinh.
Nghiên cứu về tái sinh rừng ở Việt Nam cũng chỉ mới bắt đầu từ nhữngnăm 1960 Nổi bật có công trình của Thái Văn Trừng (1963,1978) [33] vềThảm thực vật rừng Việt Nam, tác giả đã nhấn mạnh ánh sáng là nhân tố sinhthái khống chế và điều khiển quá trình tái sinh tự nhiên ở cả rừng nguyên sinh
và thứ sinh Đồng thời theo ông, có một nhóm nhân tố sinh thái trong nhómkhí hậu đã khống chế điều khiển quá trình tái sinh tự nhiên trong thảm thựcvật rừng, đó là nhân tố ánh sáng Nếu các điều kiện của môi trường như đấtrừng, nhiệt đới, độ ẩm dưới tán rừng chưa thay đổi thì tổ hợp các loài cây táisinh không có những biến đổi lớn và cũng không diễn thế theo phương pháptái sinh không có quy luật “nhân quả giữa sinh vật và hoàn cảnh” Vì lẽ trên
P.W Risa đã nói: “Lý luận tuần hoàn tái sinh đã ứng dụng rộng rãi được đến mức độ nào, vấn đề này hiện này phải tạm gác lại chưa giải quyết được”.
Trong phương pháp đánh giá tổ thành rừng nhiệt đới, Nguyễn HữuHiến (1970) cho rằng nhiều loài cây tham gia vào một loại hình, trên diện tíchmột ha có khi tới hàng trăm loài, cùng một lúc không thể kể hết được vì vậyngười ta chỉ kể đến các loài nào có số lượng cá thể nhiều nhất trong các tầngquan trọng (tính theo loài cây ưu thế hoặc nhóm loài ưu thế), tác giả đã đưacông thức tính tổ thành X ≥N/a với X là trị số bình quân cụ thể của một loài,
N là số cây điều tra và a là số loài điều tra Một loài được gọi là thành phần
Trang 8chính của một loại hình phải có số lượng cá thể hoặc lớn hơn X Đây là mộtcách đánh giá thuận tiện trong khi phân tích nghiên cứu phân bố các loài diễnthế và sự phân bố các quần lạc thực vật.
Tái sinh tự nhiên rừng miền Bắc Việt Nam có đặc điểm tái sinh củarừng nhiệt đới Trong rừng nguyên sinh tổ thành cây tái sinh tương tự nhưtâng cây gỗ, ở rừng thứ sinh tồn tại nhiều cây gỗ mềm giá trị kém Hiện tượngtái sinh theo đám tạo nên sự phân bố số cây không đồng đều trên mặt đấtrừng Vũ Đình Huề (1975) Từ những kết quả trên, tác giả xây dựng tiêuchuẩn đánh giá tái sinh tự nhiên áp dụng cho các đối tượng rừng lá rộng miềnBắc nước ta
Nghiên cứu về bảo đảm tái sinh trong khai thác rừng, tác giả PhùngNgọc Lan (1984) cho biết do cây mẹ có tính chịu bóng, cho nên một số lượnglớn cây tái sinh phân bố chủ yếu ở cấp chiều cao thấp, trừ một số loài cây ưasáng cựa đoan, tổ thành loài tái sinh dưới tán rừng ít nhiều đều lặp lại giống tổthành tầng cây cao của quần thể Kết quả điều tra khu rừng chưa khai thác ởTam Tấu, Lâm trường Bắc Sơn – Lạng Sơn cho thấy có gần 30 loài tái sinhvới số lượng từ 14.000 – 16.000 cây/ha Điều đó chứng tỏ tiềm năng phongphú của tái sinh rừng nước ta Tác giả cũng đã nhận xét phương thức khaithác có ảnh hưởng rất quyết định đến tái sinh rừng và thực tiễn cho thấy:Thông qua việc xác định tổ thành các loài cây giữ lại gieo giống, điều tiết độkhép tán hợp lý không chỉ có tác dụng điều khiển số lượng, chất lượng táisinh mà còn điều khiển được tổ thành loài cây tái sinh phù hợp với mongmuốn và tác giả cũng đẫ đưa ra đề nghị Nếu số lượng và chất lượng cây mụcđích tái sinh hiện có không đủ thì cần tiến hành dặm thêm để đảm bảo trữlượng cho các luân kỳ khai thác tiếp theo và phương án tối ưu là lựa chọnnhững loài cây mục đích phù hợp với loài cây ưu thế của quần thể vì nguồngiống có nhiều và đã thích hợp với hoàn cảnh sinh thái
Trang 9Để kết hợp chặt chẽ khai thác với tái sinh và nuôi dưỡng rừng NguyễnHồng Quân (1984) đã đưa ra: Đối với rừng không đồng tuổi cần thực hiện cả
4 nội dung chủ yếu là: Thu hoạch cây thành thục, chặt tái sinh, chặt nuôidưỡng và chuẩn hóa cấu trúc rừng về trạng thái mong muốn Đối chiếu 4 nộidung nói trên vào thực tế kinh doanh rừng ở nước ta thì cách khai thác của tachỉ đạt được một nội dung duy nhất là thu hoạch sản phẩm còn 3 nội dung kiahầu như bị bỏ rơi nên đã thể hiện rất nhiều nhược điểm như chủng loại câyphi mục đích ngày càng tăng, kích thước cây tái sinh ngày càng giảm và từ đótác giả cũng đã đưa ra những biện pháp trước mắt khắc phục tình trạng trên đểkhai thác vẫn đảm bảo được tái sinh và nuôi dưỡng rừng
Nghiên cứu về đặc điểm tái sinh của rừng tự nhiên, tác giả Vũ TiếnHinh (1991) đã đề cập đến đặc điểm tái sinh theo thời gian của cây rừng và ýnghĩa của nó trong điều tra cũng như trong kinh doanh rừng Tác giả đã sửdụng phương pháp chặt hết cây gỗ D1.3≥8 cm ở hai ô tiêu chuẩn (một ô là lâmphần sau phục hồi trên đất rừng tự nhiên Sau khai thác kiệt và một ô thuộctrạng thái rừng IIIA3
Nguyễn Duy Chuyên (1995) đã nghiên cứu quy luật phân bố cây táisinh tự nhiên lá rộng thường xanh hỗn loài vùng Quỳ Châu - Nghệ An: Kếtquả nghiên cứu về phân bố cây tái sinh theo chiều cao, nguồn gốc và chấtlượng, tác giả cho biết tổng số 13.657 ô đo đếm có 8.444 ô có ít nhất một câytái sinh Thống kê tập hợp số lượng cây này theo chiều cao, nguồn gốc và chấtlượng tác giả cho thấy 35% cây tái sinh có chiều cao từ 2 m trở lên, 80% câytái sinh có nguồn gốc hạt, 20% cây chồi, 47% cây tái sinh chất lượng tốt, 37%cây tái sinh có chất wlowngj trung bình và 16% cây chất lượng xấu Phân bố
tổ thành cây tái sinh tác giả cho thấy cây tái sinh tự nhiên trong khu vực gồm
46 loài thuộc 22 họ Trong đó có 24 loài cây có giá trị kinh tế và 22 loài cây
có giá trị kinh tế thấp, Ràng ràng và Máu chó có 2 loài có tần xuất hiện thực
Trang 10tế lớn nhất trên 20% Về phân bố số lượng cây tái sinh tác giả cho thấy ở rừnggiàu, có chất lượng (rừng loại IV và IIIB) có số cây tái sinh lớn nhất (3.200 –4.000 cây/ha) Ở rừng nghèo số cây tái sinh chỉ có 1.500 cây/ha (rừng IIIA1),trong rừng thuần tre nứa số cây lá rộng tái sinh tự nhiên thấp nhất 527 cây/ha.Trong toàn lâm phần phân bố lý thuyết của cây tái sinh tự nhiên ở rừng trungbình (IIIA2) cây tái sinh tự nhiên có dạng phân bố Possion, các loại rừng kháccây tái sinh có phân bố cụm.
Đề cập đến cơ sở sinh thái rừng trong tái sinh rừng, muốn phát huy táisinh tự nhiên và nhân tạo thì phải hiểu biết hoàn cảnh sinh thái của các loàicây mục đích mà chúng ta cần tái sinh Khi khai thác cây đủ kích thước chophép đã gây nên một sự thay đổi đột ngột nguy hại nảy mầm thì bị nắng đốt;đất khô mà chết rụi hết, ngược lại chỗ có ít cây lớn thì lại quá rậm rạp, câythảm tươi, dây leo, cây bụi chằng chịt, hạt nảy mầm được thì cây con lạikhông có khoảng sống, Nguyễn Văn Trương (1993) [32] Tác giả cho rằng tavẫn đánh giá đúng ý nghĩa kinh tế và sinh thái của tái sinh tự nhiên nhưngtrong hành động thực tiễn thì chính chúng ta lại vi phạm quy luật sinh thái chiphối chặt chẽ sự tái sinh và tăng cường cây rừng vốn lâu đời thích nghi vớihoàn cảnh sinh thái rừng Vì thế tác giả đã nhấn mạnh cần hiểu biết đầy đủ vềhoàn cảnh sinh thái để phát huy tái sinh tự nhiên được tốt nhất
Nghiên cứu về vai trò của tái sinh và phục hồi rừng tự nhiên ở các vùngmiền Bắc Ở vùng Tây Bắc dù ở vùng thấp hay vùng cao đều có khả năng táisinh tự nhiên khá tốt về số lượng cây từ 500 – 800 cây/ha Rừng Tây Bắc thểhiện rõ các mặt ảnh hưởng đến chất lượng tái sinh: Nghèo về trữ lượng, diễnthế rừng ở nhiều vùng xuất hiện nhóm cây ưu sáng, chịu hạn hoặc rụng lá,kích thước nhỏ và nhỡ là chủ yếu và nhóm loài cây lá kim rất khó tái sinhphục hồi trợ lại do thiếu lớp cây mẹ Vùng trung tâm, sự nghèo kiệt nhanhchóng của rừng đưa đến số lượng và chất lượng tái sinh tự nhiên vào loại
Trang 11thấp, số lượng cây tái sinh thấp hơn nhiều so với khu vực Tây Bắc nhưngkhác với Tây Bắc vùng này môi rừng còn giữ được tốt hơn nên ít thể hiệnchiều hướng cây ưa sáng chịu hạn xuất hiện trong tái sinh Vùng Đông Bắc,
số lượng cây tái sinh trong rừng tự nhiên biến động bình quân từ 8.000 12.000 cây/ha lớn hơn các vùng khác, về chất lượng: có một tập đoàn cây thứsinh kích thước trung bình chiếm tổ thành trong các địa phương như: ChẹoGiẻ, Trám, Sồi phảng, Sau sau, Lõi thọ… phát triển thành cây tái sinh có triểnvọng (H≥1.5m) So với các vùng khác, vùng Đông Bắc có khả năng tái sinh
-tự nhiên tốt Đối với các vùng Bắc Trung Bộ, tái sinh -tự nhiên ở vùng này kháthuận lợi và đây là vùng có tái sinh tự nhiên tốt nhất ở miền Bắc nước ta Sốlượng cây tái sinh từ 7.000-10.000 cây/ha, trong đó 25%là số cây triển vọngtrở thành gỗ lớn, rừng IIIA1 nghèo tái sinh nhất là ở Nghệ An, Hà tĩnh, QuảngBình cũng đạt được đến 4.000 – 5.000 cây/ha với số cây triển vọng từ 1.000 –1.200 cây/ha, về chất lượng tỷ lệ cây gỗ tái sinh xuất hiện với tần số cao TrầnXuân Thiệp (1996) [27]
Lâm Công Định (1987) [10] trong nghiên cứu về tái sinh, ông cho rằngtái sinh là chìa khóa để quyết định nội dung điều chế rừng tác giả kết luậnhiệu quả của việc điều chế đối với một khu rừng cụ thể là phải hướng đạtđược 3 yêu cầu mấu chốt sau đây: (1) Giữ vững được vốn rừng và bề mặt: Địabàn, diện tích, thành phần loại cây mục đích, năng suất sinh học, ssanr lượng,phẩm chất vật liệu và giá trị môi sinh (2) Đảm bảo được sản lượng khai tháchàng năm theo chu kỳ ổn định (3) Nâng thêm đượcgiá trị vốn rừng chủ yếu
về 3 mặt: Thành phần loài cây mục đích, năng suất sinh học và sản lượng thuhoạch Ông nhấn mạnh tất cả 3 yêu cầu trên hoàn toàn phụ thuộc vào khảnăng phương pháp và điều kiện đảm bảo tái sinh Nghĩa là cuối cùng tùythuộc vào đặc tính sinh học của từng loài cây, quy luật lâm học của rừng, hiệulực tác động của các biện pháp kinh tế và ảnh hưởng tốt xấu của từng cách
Trang 12thức khai thác cùng với từng loại dụng vụ máy móc thi công, không có đầy đủhiểu biết trên để làm cơ sở lựa chọn con đường tái sinh khai thác tối ưu chắcchắn không thể đảm bảo được tái sinh.
Nghiên cứu đặc điểm tái sinh rừng tự nhiên sau khai thác chọn làm cơ
sở đề xuất một số biện pháp kinh tế xúc tiến tái sinh tự nhiên cho kinh doanh
gỗ lớn ở Lâm trường Trạm Lập huyện K’ Bang – Gia Lai Ngô Văn Trai(1999) [30] đã có một số kết luận: Cấu trúc cấu thành loài cây gỗ lớn ở rừngIIIB và IVB trước và sau khai thác không có sự thay đổi lớn Tổ thành cây mẹsau khai thác ở trạng thái IIB và IVB ở các rừng độ khai thác khác nhau biếnđộng từ 6.500 – 16.480 cây/ha Đặc biệt có một số loài cây tái sinh lớn có táisinh cao đạt trên 500 cây/ha Đặc biệt có một số loài cây tái sinh lớn có táisinh đạt cao trên 500 cây/ga như: Ràng ràng mít, Re bầu, Giổi xanh, Thôngnàng về chất lượng thì tỷ lệ cây tốt ở 2 trạng thái trên chiếm 62,46% cây caonhất ở rừng đạt IVB đạt 79% tỷ lệ cây tái sinh xấu đều dưới 15% Các loàicây tái sinh gỗ lớn xuất hiện lớn hơn 50% ở trạng thái IIB (cường độ khai thác26%) là 6 loài và cường độ khai thác là 45% là 6 loài, trạng thái IVB vớicường độ khai thác là 30% là 8 loài và cường độ khai thác là 39% là 7 loàithấp nhất ở cường độ khai thác là 51% chỉ có 5 loài Từ đó, tác giả cũng đưa
ra một số đề nghị về các biện pháp xúc tiền tái sinh tự nhiên để kinh doanh gỗlớn ở Lâm trường Trạm Lập
1.1.4 Nghiên cứu về loài Sến mật.
Sến mật (Madhuca pasquieri (Dubard) H.J.Lam) thuộc họ Sến(Sapotaceae) là cây gỗ lớn, thường xanh, có nhựa mủ trắng, cáo 30-35m,đường kính thân đến 1m Vỏ màu nâu thẫm, dày 0.9 cm, nứt ô vuông Gỗ tốtmàu đỏ nâu, cứng, khó gia công, dễ nẻ, có giá trị cao dùng trong các côngtrình đòi hỏi cường độ chịu lực lớn như: đóng tàu thuyền, làm tà vẹt, dầm cầu,
Trang 13đóng đồ cao cấp Lá hình trứng ngược hay hình bầu dục dài, dài 12-16 cm, có13-22 đôi gân bặc hai, cuống lá dài 1.5 - 3.5 cm Hoa mọc chụm 2-3 ở nách
lá, có cuống dài 1.5- 3.5 cm Nhị 18-24 Bầu hình trứng 6-12 ô, vòi dài 8-10
mm Quả hình bầu dục hay gần hình cầu, dài 2-3 cm; hạt 1-5 hình bầu dục,dài2.2 cm, rộng 1.5-1.8 cm Lê Mộng Chân, Lê Thị Huyền (2000)
Mùa ra hoa tháng 1-3 Mùa quả chín tháng 11-12 Tái sinh bằng hạt và chồi.Mọc rải rác, ít khi trở thà nh loài ưu thế (chiếm tới 70%) tổ thành cây rừngnhư ở Tam Quy và ở độ cao dưới 1.000 m trong rừng mưa nhiệt đới thườngxanh mưa mùa ẩm thấp và núi thấp
Theo Đỗ Đình Tiến (2004) [28], trong công trình phân loại thực vật củaLecomte và Humbert (1907-1937) các tác giả cho biết ở Việt Nam cây Sếnmật mọc rải rác ở Thanh Hóa và Ba Vì Tuy nhiên, trong thực tế Sến mật mọcrải rác trong rừng tự nhiên trên nhiều vùng sinh thái của nước ta
Theo Vụ khoa học công nghệ - Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn(1994), Sến mật phân bố ở hầu như khắp các tỉnh Thừa Thiên Huế trở raNghệ An, Yên Bái, Hà Tây (cũ), Quảng Ninh ở các độ cao đến 1.300 m sovới mực nước biển Sến mật thường mọc hỗn giao với các loài cây khác, trêncác loài đất sét pha, đất đá vôi, đất cát, sa thạch
Trong danh mục các khu rừng đặc dụng Việt Nam của Nguyễn HoàngNghĩa (1997) [23] có khu bải tồn Tam Quy - Hà Trung - Thanh Hóa là khubảo tồn nguồn gen đặc biệt danh tiếng cho loài cây này Đặc biệt đáng ngạcnhiên của khu bảo tồn này là Sến mật lại mọc tập trung gần như thuần lòai ởđây Do đặc điểm của hạt Sến chứa tinh dầu nên đến mùa quả chín cần thuhoạch ngay Sau khi thu hoạch quả (hạt) cần được bảo quản trong cát ẩm đểđược duy trì khả năng nẩy mầm Hạt sến có tinh dầu nên sức nảy mầm bị
Trang 14giảm sút rất nhanh, do vậy thông thường người ta gieo hạt ngay sau khi thuhoạch.
Kết quả công trình nghiên cứu của Phạm Quang Vinh (2001) cho biết:(1) Trọng lượng hạt Sến mật: Trọng lượng kho thông thường của 1.000 hạtđạt 1.650 gram Như vật 1 kg hạt Sến Tam Quy có thừ 600 đến 650 hạt (2)
Độ thuần lô hạt thu nhặt từ các hạt rơi rụng trên mặt đất rất cao (k=0.91) Các
lô hạt này đảm bảo chấy lượng đưa vào sản xuất cây con phục vụ trồng rừng.(3) Hàm lượng nước trong hạt Sến mật khá cao, trung bình đạt 48,5% (4) Vềphương pháp kích thích hạt giống nảy mầm: Theo kết quả nghiên cứu của tácgiả thì với nhiệt độ 400C - 450C (2 sôi + 3 lạnh) cho tỷ lệ nảy mầm của hạtgiống đạt cao nhất (P= 90%), tốc độ nảy mầm bình quân là 9 ngày (5) Vềphương pháp bảo quản hạt giống: Do hạt Sến mật có tinh dầu và có hàmlượng chứa nước cao nên bảo quản trong cát tốt hơn là bảo quản trong túi P.E.Bảo quản thông thường và thời gian không quá 60 ngày vì tỷ lệ nảy mầm sẽgiảm Nếu bằng cát ẩm tuy tỷ lệ nảy mầm cao (đạt 78%) nhưng dễ nảy mầmngay trong khi bảo quản
Trong công trình nghiên cứu của Đỗ Đình Tiến (2004) đã nghiên cứu
về một số đặc điểm hình thái, sinh thái của loài Sến mật tại Vườn Quốc GiaTam Đảo Các đặc điểm hình thái như: (1) Thân: Sến mật là cây gỗ lớn thânthẳng, tròn Vỏ thân có màu nâu, thường nứt thành các ô vuông, thịt màuhồng Toàn thân có nhựa mủ trắng (2) Lá: Lá đơn mọc cách, gần chụm ở đầucành, có hình trứng ngược, đầu lá tròn, có mũi lồi hơi ngắn, đuôi lá hình nêm,mặt trên xanh đậm, mặt dưới xanh nhạt, hệ gân song song hơi mở, mép lánguyên, cuống lá hơi mảnh, có rãnh, không có lông, chiều rộng lá trung bình
từ 4.95 - 5.03 cm, chiều dài lá trung bình từ 12.95 - 13.25 cm, chiều dài cuống
lá từ 1.42 - 1.45 cm (3) Hoa: Hoa đơn lẻ hoặc mọc cụm ở nách lá, cuốngngắn có lông, hoa trắng hoặc vàng, mũi nhọn, nhị hoa từ 12-22 có 6-8 ô, mỗi
Trang 15ô chứa 1 noãn (4) Quả: Quả mọng, hình trứng hoặc hình cầu, dài tồn tại Khảnăng nhân giống bằng hom là rất khó Cần được nghiên cứu bổ sung để phục
vụ cho công tác bảo tồn
1.2 Nhận xét chung về tổng quan vấn đề nghiên cứu trên thế giới
và ở Việt Nam.
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu của các tác giả trong và ngoàinước đã đề cập đến đặc điểm tái sinh và nêu lên lý luận về tái sinh; đặc biệt là
sự ảnh hưởng của các nhân tố ánh sáng, chế độ dinh dưỡng đất, độ ẩm nhiệt
độ, sự cạnh tranh của tầng cây bụi thảm tươi đến khả năng tái sinh của câycon, cấu trúc của loài đến tái sinh, có tác giả đã nghiên cứu về ảnh hưởngcủa phương thức khai thác đến tái sinh của các loài, so sánh đánh giá về khảnăng tái sinh của các vùng khác nhau Muốn phát huy tái sinh tự nhiên vànhân tạo thì phải hiểu biết về hoàn cảnh sinh thái của các loài cây mục đích
mà chúng ta cần tái sinh Các nghiên cứu trên mang tính lý luận có tính chấttham khảo làm cơ sở khoa học cho các nghiên cứu sau này Tuy nhiên, chưa
có các nghiên cứu sâu và cụ thể về khả năng tái sinh của từng loài, đặc biệt làtái sinh tự nhiên
Đối với loài Sến mật, trong thời gian qua cũng đã có một số tác giảnghiên cứu về sự nảy mầm của hạt, khả năng nhân giống bằng hom đánh giá
về đặc tính, sinh thái của loài giới hạn trong một nghiên cứu nhất định, chủyếu thuộc khu vực Tam Quy - Thanh Hóa
Chính vì vậy, xuất phát từ thực tiễn trong công tác bảo tồn cũng nhưphát triển loài Sến mật tại Miếu Trắng (Trung tâm thực hành và thực nghiệmNông lâm Nghiệp/ Trường Cao đẳng Nông lâm Đông Bắc, thành phố Uông
Bí, tỉnh Quảng Ninh), chuyên đề “Nghiên cứu đặc điểm phân bố và khả năng tái sinh của loài Sến mật (Madhuca pasquieri (Dubard) H.J.Lam) tại
Trang 16Miếu Trắng, thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh” là rất cần thiết có ý
nghĩa cả về lý luận và thực tiễn, nhằm phục vụ cho việc nghiên cứu phát triển
và bảo tồn loài Sến mật tại thành phố Uông Bí nói riêng và Việt Nam nóichung
Trang 17Chương 2
MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU 2.1 Mục tiêu nghiên cứu.
2.1.1 Mục tiêu tổng quát.
Góp phần bảo tồn loài Sến mật (Madhuca pasquieri (Dubard) H.J.Lam)tại Miếu Trắng (Trung tâm thực hành và thực nghiệm Nông lâm nghiệp/Trường Cao đẳng Nông lâm Đông Bắc), thành phố Uông Bí, tỉnh QuảngNinh
2.1.2 Mục tiêu cụ thể.
Chuyên nghiên cứu nhằm đạt được các mục tiêu cụ thể sau
- Xác định được đặc điểm phân bố theo trạng thái tự nhiên của loài Sếnmật (Madhuca pasquieri (Dubard) H.J.Lam) tại Miếu Trắng (Trung tâm thựchành và thực nghiệm Nông lâm nghiệp/ Trường Cao đẳng Nông lâm ĐôngBắc), thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh
- Xác định được khả năng tái sinh tự nhiên của loài Sến mật (Madhucapasquieri (Dubard) H.J.Lam) tại Miếu Trắng (Trung tâm thực hành và thựcnghiệm Nông lâm nghiệp/ Trường Cao đẳng Nông lâm Đông Bắc), thành phốUông Bí, tỉnh Quảng Ninh
- Đề xuất được các giải pháp bảo tồn loài Sến mật ngoài tự nhiên tạiMiếu Trắng (Trung tâm thực hành và thực nghiệm Nông lâm nghiệp/ TrườngCao đẳng Nông lâm Đông Bắc), thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh
2.2 Đối tượng nghiên cứu
Trang 18Đối tượng nghiên cứu của chuyên đề là loài Sến mật (Madhucapasquieri (Dubard) H.J.Lam) và một số điều kiện sinh thái của chúng tại MiếuTrắng (Trung tâm thực hành và thực nghiệm Nông lâm nghiệp/ Trường Caođẳng Nông lâm Đông Bắc), thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh.
2.3 Nội dung nghiên cứu.
Nhằm đạt được mục tiêu đề ra, đề tài tập trung các nội dung sau:
2.3.1 Nghiên cứu xác định các trạng thái rừng và đặc điểm cấu trúc rừng - nơi có loài Sến mật phân bố.
2.3.1.1 Cấu trúc tổ thành tầng cây cao
2.3.1.2 Mật độ tầng cây cao và Sến mật.
2.3.1.3 Đặc điểm phân bố số cây theo đường kính ngang ngực (n/D 1.3 )
và của Sến mật
2.3.1.4 Sinh trưởng của Sến mật tại khu vực nghiên cứu
2.3.1.5 Đặc điểm phân bố số cây theo chiều cao (n/Hvn) của quần xã thực vật và của loài Sến mật.
2.3.1.6 Đặc điểm của tầng cây bụi thảm tươi.
2.3.2 Nghiên cứu đặc điểm tái sinh của loài Sến mật tai khu vực nghiên cứu.
2.3.2.1 Cấu trúc tổ thành loài cây tái sinh
2.3.2.2 Mật độ cây tái sinh.
2.3.2.3 Phân bố cây tái sinh theo cấp chiều cao và theo nguồn gốc.
2.3.2.4 Phân bố tần suất cây tái sinh.
2.3.2.5 Chất lượng cây tái sinh.
Trang 192.3.3 Đánh giá thực trạng công tác bảo tồn loài Sến mật tại khu vực nghiên cứu.
2.3.4 Đề xuất các giải pháp bảo tồn và phát triển loài Sến mật cho khu vực điểu tra.
2.4 Phương pháp nghiên cứu.
2.4.1 Công tác chuẩn bị.
Chuẩn bị các tài liệu có liên quan đã và đang nghiên cứu về loài
Chuẩn bị bản đồ hiện trạng rừng, đầy đủ các loại bảng biểu, sổ ghi chép
để ghi lại những kết quả điều tra được
Chuẩn bị các dụng cụ cần thiết như: Thước dây, máy GPS, máy ảnh,địa bàn
Chuẩn bị các tư trang cá nhân phục vụ cho quá trình điều tra ngoài thựcđịa
Lập kế hoạch điều tra thực địa
2.4.2 Phương pháp kế thừa số liệu chọn lọc.
Kế thừa các tài liệu cơ bản của khu vực nghiên cứu
Tư liệu về điều kiện tự nhiên: Khí hậu, thủy văn, địa hình, thổnhưỡng
Tư liệu về điều kiện kinh tế xã hội: Cơ cấu ngành nghề, sản xuất hànghóa, dân số, phong tục tập quán
Các tài liệu, số liệu có liên quan của các tác giả trước đó
2.4.3 Phương pháp phỏng vấn
Trang 20Phỏng vấn cán bộ kiểm lâm và người dân địa phương (10 người) vềtình hình xuất hiện của loài Sến mật ở các khu vực trong phạm vi nghiên cứu.Cán bộ kiểm lâm là người bảo vệ khu rừng ở địa bàn Miếu Trắng (Trung tâmthực hành và thực nghiệm Nông lâm nghiệp/ Trường Cao đẳng Nông lâmĐông Bắc), thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh., còn những người dân họ làngười bản địa sống ở đây rất lâu đời, biết cây Sến mật và giá trị của nó.
Bảng 1.1: Mẫu phiếu phỏng vấn người dân, thông tin loài Sến mật.
1 Trần Văn A Trạm kiểm lâm Bắc Sơn 13/10/2016 Kiểm lâm viên
2 Nguyễn Văn B Trạm kiểm lâm Bắc Sơn 13/10/2016 Kiểm lâm viên
* Một số câu hỏi phỏng vấn:
- Ông/bà có biết loài Sến mật không?
- Ông/bà có biết loài cây này sống ở chỗ nào, khu vực nào trong rừngkhông?
- Hiện nay số lượng cây Sến mật có còn nhiều không?
- Ông/ bà có sử dụng gỗ Sến mật làm nhà cửa, hay đóng các đồ dùngtrong nhà không?
- Ông/ bà có trực tiếp khai thác gỗ Sến mật không? Hay mua về sửdụng?
Trang 21+ Đối với cán bộ kiểm lâm, cán bộ bảo vệ rừng ta có thể hỏi thêm một
số câu hỏi để điều tra về tình hình khai thác và công tác bảo tồn loài Sến mậtnhư sau:
- Ông/ bà có biết loài Sến mật thường phân bố ở khoảng độ cao baonhiêu không?
- Ông/ bà có biết hàng năm số lượng Sến mật suy giảm là bao nhiêukhông? Nhiều hay ít?
- Tình hình khai thác trộm ở địa bàn diễn ra như thế nào?
- Ở địa bàn hay khu vực gần đây có chỗ nào nghiên cứu nhân giống loàiSến mật chưa? Còn nghiên cứu nhân giống loài quý hiếm nào nữa không?
2.4.4 Phương pháp điều tra thực địa
2.4.4.1 Điều tra sợ thám
Tiến hành khảo sát toàn bộ khu vực, nghiên cứu, xác định trên bản đồcác trạng thái rừng, tham khảo thêm tài liệu có liên quan về điều kiện tựnhiên, dân sinh kinh tế, tình hình đặc điểm cấu trúc rừng Sến Trên cơ sở đóthiết lập các tuyến điều tra điển hình, đi qua các trạng thái rừng có Sến mậtphân bố
2.4.4.2 Phương pháp điều tra theo tuyến.
Cụ thể tôi đã thực hiện điều tra trên các tuyến như sau:
Tuyến 1: Tọa độ: A (401.769; 2.331.879) đến tọa độ: B (403.269; 2,331.535)
Tuyến 2: Từ tọa độ C (402.373; 2.332.298) đến tọa độ D (403.564; 2.332.289)
Lập các tuyến điều tra trên đi qua các trạng thái rừng đại diện trong khuvực, trên tuyến điều tra tiến hành quan sát trực tiếp trong phạm vi 10 về hai
Trang 22phía, tiến hành xác định địa điểm bắt gặp loài Sến mật và xác định trạng tháirừng để chọn vị trí lập ô Thông tin điều tra theo tuyến ghi theo mẫu biểu:
Mẫu biểu 01: Điều tra phân bố của loài Sến mật theo tuyến
Tọa độ điểm đầu tuyến: Tọa độ điểm cuối tuyến:
STT
(cây)
Sinh trưởng
Độ cao địa hình
Vị trí địa hình (chân, sườn, đỉnh)
Dùng máy GPS, bản độ hiện trạng, bản đồ địa hình để đo độ cao và tọa
độ nơi có Sến mật phân bố
2.4.4.3 Phương pháp điều tra theo ô tiêu chuẩn.
Ô tiêu chuẩn (OTC): Được bố trí tại các vị trí có tính đại diện ở các khuvực nghiên cứu, địa hình trong ô phải tương đối đồng đều, các loài cấp phân
bố tương đối đều, ô tiêu chuẩn không nằm vắt qua các đường mòn hoặc cácchướng ngại vật nhân tạo Tổng số OTC đã điều tra là 6 ô
Trang 23Cách lập OTC: Sử dụng địa bàn, thước dây để lập OTC có diện tích
1000 m2 (40m x 25m) cạnh dài của OTC chạy dọc theo đường đồng mức,dùng GPS xác định vị trí OTC Trên OTC, tiến hành thu thập các thông tinsau:
a Điều tra tầng cây cao
Theo quan điểm lâm học, cây tầng cao là những cây có tán tham giavào tầng chính (tầng A) và D1.3 ≥ 6cm Thông tin điều tra tầng cây cao đượcghi theo mẫu biểu số 02:
Mẫu biểu 02: Biểu điều tra tầng cây cao
b Điều tra cây tái sinh.
Trang 24Phương pháp lập ô dạng bản (ODB): Trong ô tiêu chuẩn lập 5 ô dạngbản để điều tra cây tái sinh theo vị trí: 1 ô ở tâm, 4 ô ở góc của OTC Cụ thể
sơ đồ bố trí ODB như hình vẽ sau:
Lập ODB để diều tra cây tái sinh xung quanh gốc cây mẹ Sến mật.Chọn cây mẹ có sinh trưởng bình thường, không sâu bệnh, không cụt ngọnlàm tâm, diện tích mỗi ODB là 25m2 (5m x 5m) Thông tin điều tra ODB ghitheo mẫu biểu:
Mẫu biểu 03: Điều tra cây tái sinh:
<0,5 0,5- 1 1- 1,5 1,5- 2 2- 2,5 >2,5 Chồi Hạt T TB X
Số ODB ở khu cực nghiên cứu tại Miếu trắng là 5 x 6 = 30 ô
Trang 25c Điều tra loài cây đi kèm với loài Sến mật.
Phương pháp ô 7 cây xác định loài phụ cần cho Sến mật Trong mỗitrạng thái rừng, chọn 3 cá thể Sến mật ngẫu nhiên trong OTC để lập ô 7 câyvới Sến mật là cây tám Xác định khoảng cách từ gốc cây Sến mật đến gốc 6cây gần nhất Thông tin điều tra ô 7 cây ghi theo mẫu biểu:
Mẫu biểu 04: Điều tra loài cây đi kèm với Sến mật
Dtan cây
đi cùng (Di)
Dt Sến mật tâm (Dt)
Mức độ sinh trưởng của cây Sến mật tâm (T,TB,X)
Ghi chú
Dùng thước dây đo Li, Di, Dt Đường kính tán xác định là trị số trungbình của 2 chiều đo tán theo 2 hướng vuống góc với nhau
d Điều tra đặc điểm tái sinh của loài Sến mật xung quanh gốc cây mẹ.
Phương pháp đánh giá tái sinh của Sến mật tái sinh xung quanh gốc câymẹ: Với mỗi cây Sến mật làm tâm trong ô 7 cây, lập 12 ô dạng bản con códiện tích 1m2 chia thành 3 vòng quanh gốc cây mẹ: 4 ô trong tán (ô 1, 2, 3, 4),
4 ô ở mép tán (ô 5,6,7,8), 4 ô ở ngoài tán (ô 9,10,11,12) cây mẹ, với số ODBtrên cả 6 OTC là 6 x 12 = 72 ODB Trên các ô này thu thập thông tin về táisinh Sến mật theo mẫu biểu:
Trang 26Mẫu biểu 05: Tái sinh của Sến mật quanh gốc cây mẹ
Mức độ sinh trưởng của cây Sến mật tâm
(T,TB,X)
Ghi chú
2
…n
e Điều tra mức độ tàn che, che phủ và cây bụi thảm tươi.
* Điều tra độ tàn che rừng:
Sử dụng phương pháp điều tra theo điểm bằng máy xác định độ tàn cheKB-2 Trên mỗi ÔTC, xác định 100 điểm phân bố đều, nhìn vào kính của máy
đo cường độ xác định độ tàn che nếu thấy tán lá tầng cây cao che kín, thì điểm
đó ghi 1, nếu không có gì che lấp, ghi số 0 và nếu ở vị trí mép tán thì ghi 0,5
Độ tàn che tầng cây cao chính là tỉ lệ số điểm mà giá trị tàn che là một trêntổng số điểm điều tra Kết quả điều tra được ghi theo mẫu biểu sau:
Mẫu biểu 06: Biểu xác định độ tàn che rừng.
Trang 27* Điều tra cây bụi thảm tươi:
Cây bụi thảm tươi là cây thân gỗ thuộc tầng thấp, và lớp cây cỏ phủtrên bề mặt đất rừng Chỉ tiêu xác định là: Tên loài cây, số lượng, phẩm chất,Hvn được đo bằng thước mét, độ che phủ bình quân chung các loài được tínhtheo tỷ lệ phần trăm bằng cách dùng cây sào để chọc xuống đất, nếu chọcxuống mà không nhìn thấy cây sào phần chạm đất nữa thì ghi 1, nhìn thấymột nửa cây sào ghi 0,5, nếu nhìn thấy toàn bộ phần cây sào ghi 0 Cây bụithảm tươi được điều tra trong các ODB được dùng để điều tra cây Sến mật táisinh dưới gốc cây mẹ Kết quả thu được ghi vào biểu mẫu sau:
Mẫu biểu 07: Điều tra cây bụi thảm tươi, thực vật ngoại tầng.
Diện tích: Độ cao tương đối: Ngày điều tra:
Thời tiết: Trạng thái: Người điều tra:
ODB Tên loài cây chủ yếu H TB (m)
(cho cây bụi)
Độ che phủ (%)
Tình hình sinh trưởng
* Điều tra tầng thảm khô, thảm mục
Tầng thảm khô, thảm mục ảnh hưởng trực tiếp đến sự tiếp đất và nảymầm của hạt giống, ở mỗi độ dày khác nhau tiến hành thống kê số lượng câytái sinh, từ đó đánh giá được sự ảnh hưởng của tầng thảm khô, thảm mục đến
sự tái sinh tự nhiên của Sến mật Dùng cân để xác định khối lượng của tầngthảm khô, thảm mục tại mỗi ODB
2.4.5 Phương pháp tổng hợp số liệu đánh giá thực trạng công tác bảo tồn loài Sến mật.
Trang 28Điều tra, nghiên cứu, phỏng vấn cán bộ kiểm lâm và người dân bản địaxung quanh khu vực nghiên cứu.
Điều tra các tuyến đi cũng như điều tra các OTC
2.4.6 Phương pháp nội nghiệp.
Số liệu thu thập từ các ô tiêu chuẩn được xử lý bằng các phương phápthống kê thích hợp Sau khi chỉnh lý số liệu, quá trình tính toán các đặc trưngmẫu, các dãy phân bố thực nghiệm được thực hiện trên máy vi tính bằng bảngtính Excell và theo các quy trình đã hướng dẫn trong sách của TS Ngô KimKhôi và GS Nguyễn Hải Tuất 1996 [19]
a Xác định hệ số tổ thành của tầng cây cao.
Để xác định công thức tổ thành (CTTT), trước tiên cần phải xác địnhđược thành phần các loài cây tham gia vào công thức tổ thành
Các loài chính là loài cây có số cây Ni ≥ NTB sẽ được viết vào CTTT.Trong đó:
Ni: là số cây của loài i
NTB: là số cây trung bình mỗi loài, NTB được tính bằng:
NTB = N / m (N: Tổng số cây các loài, m tổng số loài)
Khi đó CTTT được xác định bằng công thức
Trang 29M: Số loài tham gia CTTT
Xi: Tên loài i
Tính hệ số tổ thành theo đơn vị 1/10 Trong công thức thứ tự loài có hệ
số lớn hơn viết trước, tên của các loài được viết tắt Nếu các loài tham giaCTTT có hệ số Ki <1 thì có thể bỏ hệ số tổ thành nhưng phải viết dấu “+” nếu
Ki = 0,5 – 0,9, viết dấu “-“nếu Ki < 0,5
Chỉ tiêu D1.3, Hvn, D tính theo phương pháp bình quân gia quyền, cụ thểqua các bước:
Tính số tổ theo công thức: m = 5logn
Trong đó:
m là số tổ
n là dung lượng mẫu quan sát
Cự ly tổ được tính theo công thức: Xmax Xmin
n
(n > 30)+ Sai tiêu chuẩn:
Trang 30x
Q S
+ Tính mật độ cho cây cao, cây bụi, cây tái sinh thảm tươi
Mật độ: N/ha = (Nđtra x 10000)/Sđtra
Trong đó: N/ha là mật độ cây trên ha
NĐtra là số cây trong ô điều tra
Sđtra là diện tích ô điều tra+ Xác định phân bố N/D1.3, N/Hvn, N/Dt cho cây cao
+ Đánh giá chất lượng sinh trưởng của cây cao, cây bụi thảm tươi, đượcchia làm 3 cấp (tốt, trung bình, xấu)
+ Xác định nguồn gốc cây tái sinh chồi hay hạt
+ Xác định loài cây chủ yếu, độ che phủ, Htb(m), sinh trưởng của câybụi thảm tươi
b Xác định tổ thành tầng cây tái sinh
Tổ thành tầng cây tái sinh được tính như sau:
Ki= mi / N x 100
Trong đó: Ki là tỷ lệ tổ thành của loài thứ i
Mi là số cây của loài thứ i
N là tổng số cây điều tra
Trang 31Sau đó sử dụng dãy cá giá trị Ki để viết công thức tổ thàn theo quy địnhcủa giáo trình Lâm học Trường Đại Học Lâm Nghiệp.
2.4.7 Đề xuất, giải pháp bảo tồn và phát triển loài Sến mật
Từ kết quả điều tra thực địa, phỏng vấn, kết quả phân tích các số liệu đểxác định điểm mạnh, điểm yếu trong vấn đề bảo tồn loài Sến mật hiện nay;kết hợp với tham vẫn ý kiến chuyên gia, ý kiến người dân và cán bộ địaphương làm căn cứ đưa ra các đề xuất giải pháp hợp lý bảo tồn và phát triểnloài Sến mật