Ở bậc Tiểu học thì lớp Một là lớp được đổi mới nâng cao rõ nhất là môn Toán, trong chương trình trước đây các em chỉ học cộng trừ các số trong phạm vi 10, hiện nay các em được học cộng t
Trang 1I PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài:
Trong các môn học, môn toán là một trong những môn có vị trí rất quan trọng Các kiến thức, kỹ năng của môn toán có nhiều ứng dụng trong đời sống, giúp học sinh nhận biết mối quan hệ về số lượng và hình dạng không gian của thế giới hiện thực Một trong những nội dung toán đáp ứng được mục đích trên
đó là đơn vị đo lường Ngày nay, sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật
và công nghệ thông tin đã làm cho khả năng nhận thức của trẻ cũng vượt trội Điều đó đã đòi hỏi những nhà nghiên cứu giáo dục luôn luôn phải điều chỉnh nội dung, phương pháp giảng dạy phù hợp với nhận thức của từng đối tượng học sinh nhằm không ngừng nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện góp phần đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài cho quê hương, đất nước
Những năm gần đây ngành giáo dục luôn được đổi mới về mục tiêu, nội dung và phương pháp cũng như hình thức tổ chức dạy học tich cực góp phần nâng cao chất lượng giáo dục Ở bậc Tiểu học thì lớp Một là lớp được đổi mới nâng cao rõ nhất là môn Toán, trong chương trình trước đây các em chỉ học cộng trừ các số trong phạm vi 10, hiện nay các em được học cộng trừ trong phạm vi
100, đặc biệt là các em còn được làm quen và học dạng giải bài toán có lời văn
Khả năng giải toán có lời văn chính là phản ánh năng lực vận dụng kiến thức của học sinh Học sinh hiểu về mặt nội dung kiến thức toán học vận dụng vào giải toán kết hợp với kíên thức Tiếng Việt để giải quyết vấn đề trong toán học Thông qua giải toán có lời văn các em được phát triển trí tuệ, được rèn luyện kĩ năng tổng hợp: đọc, viết, diễn đạt, trình bày, tính toán Giải toán có lời văn góp phần củng cố kiến thức toán, rèn luyện kỹ năng diễn đạt, tích cực góp phần phát triển tư duy cho học sinh tiểu học Toán có lời văn là chiếc cầu nối giữa toán học và thực tế đời sống, giữa toán học với các môn học khác
Trong chương trình toán Tiểu học thì “Giải toán có lời văn” là kiến thức khó khăn nhất đối với học sinh, và càng khó khăn hơn đối với học sinh lớp Một Bởi vì đối với học sinh lớp một vốn từ, vốn hiểu biết, khả năng đọc hiểu, khả năng tư duy lô gic của các em còn rất hạn chế Đối với trẻ là học sinh lớp 1, môn toán tuy có dễ nhưng để học sinh đọc - hiểu bài toán có lời văn quả không
dễ dàng, vả lại việc viết lên một câu lời giải phù hợp với câu hỏi của bài toán cũng là vấn đề không đơn giản Nhiều khi với một bài toán có lời văn các em có thể làm đúng phép tính nhưng không thể trả lời hoặc lý giải tại sao các em lại có được phép tính như vậy Thực tế tôi thấy một số em chưa biết tóm tắt bài toán, chưa biết phân tích đề toán để tìm ra lối giải, chưa biết cách trình bày bài giải, diễn đạt vụng về thiếu lôgic Vậy làm thế nào để giúp học sinh lớp 1 giải tốt toán
có lời văn ? Đó cũng là lí do mà tôi chọn sáng kiến kinh nghiệm: “Một số kinh nghiệm giúp học sinh lớp 1 giải toán có lời văn”
2 Mục đích nghiên cứu:
Việc nghiên cứu để tìm ra biện pháp “Hướng dẫn học sinh lớp Một học tốt giải toán có lời văn” nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy, góp phần giải quyết những khó khăn mà giáo viên và học sinh mắc phải trong quá trình giải toán đối
Trang 2với học sinh Giải toán có lời văn là một kĩ năng cần có của học sinh lớp 1 Để giúp cho quá trình xuyên suốt Tiểu học, học sinh có thể giải được các bài toán nhằm giảm bớt sự nhàm chán chỉ bởi những con số và số…Giải toán có lời văn làm khơi dậy lòng say mê sáng tạo, năng lực tự vân động trong mỗi học sinh Vì vậy việc hướng dẫn giải toán có lời văn cho học sinh lớp Một có ý nghĩa to lớn trong quá trình giảng dạy của người giáo viên
Việc nghiên cứu giúp giáo viên có sự nhìn nhận đúng hơn, sâu hơn về tầm quan trọng của việc hướng dẫn học sinh giải toán có lời văn, từ đó giáo viên lựa chọn tìm ra những biện pháp tốt hơn, phù hợp hơn đối với dặc trưng môn học để
có hiệu quả trong giảng dạy toán
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
Nội dung môn toán ở Tiểu học bao gồm 4 chủ đề kiến thức lớn Tôi đi sâu vào trình bày phần: “ Giải toán có lời văn” Thời gian nghiên cứu: 1 năm ( Từ giữa học kì 2 năm học 2017 - 2018 đến giữa học kì 2 năm học 2018 - 2019 ) Đối tượng: Học sinh lớp 1C
4 Phương pháp nghiên cứu:
* Nghiên cứu lí luận:
- Đọc các tài liệu có liên quan đến đề tài
- Các tài liệu dạy học
- Thế giới trong ta
* Nghiên cứu thực tế:
- Phương pháp điều tra khảo sát thực tế
- Trao đổi tọa đàm với đồng nghiệp
- Phương pháp thống kê phân loại
- Phương pháp quan sát hướng dẫn học sinh
- Phương pháp độc lập lấy học sinh làm trung tâm
II PHẦN NỘI DUNG
1 Cơ sở lí luận:
Giải toán có lời văn là một trong 4 mạch kiến thức cơ bản của môn Toán 1( số và ghép – Đo đại lượng – yếu tố hình học – Giải toán có lời văn)
Mục tiêu của dạy học giải toán có lời văn ở lớp 1 nhằm giúp học sinh
- Nhận biết được thế nào là bài toán có lời văn (Cấu trúc các phần của bài toán)
- Biết giải và trình bày bài giải các bài toán đơn bằng 1 phép tính cộng hoặc 1 phép tính trừ Trong đó có bài toán về “ thêm”; “ bớt” một số đơn vị (Viết được bài toán bao gồm: Câu lời giải, phép tính có kèm tên đơn vị và đáp số)
- Bước đầu phát triển tư duy, rèn luyện phương pháp giải toán có khả năng diễn đạt ( phân tích vấn đề, giải quyết vấn đề, trình bày vấn đề bằng ngôn ngữ nói và viết…) Bám sát mục tiêu của dạy học giải toán có lời văn, nội dung dạy học giải toán có lời văn ở lớp 1 đã bám sát trình độ chuẩn và quán triệt
Trang 3những định hướng đổi mới mục tiêu dạy học giải toán ở Tiểu học Đó là tăng cường dạy học phương pháp giải toán nhằm giúp học sinh biết nêu bài toán từ một tình huống cụ thể ( nêu vấn đề) biết trình bày bài giải ( trình bày vấn đề) không sa vào những bài toán đánh đố với lời giải quá phức tạp vượt quá độ chuẩn Đó là tích cực rèn luyện khả năng diễn đạt cho học sinh ngay từ lớp 1 Tăng cường kỹ năng giải toán thực hành luyện tập với những bài toán có tính cập nhật gắn liền với thực tiễn sinh động liên quan đến môi trường sống xung quanh các em
Nội dung dạy học giải toán có lời văn ở lớp 1 được sắp xếp thành 2 giai đoạn
* Giai đoạn 1: Giai đoạn này “Chuẩn bị học giải toán có lời văn” giai
đoạn này nằm trong học kỳ 1 của lớp 1 HS được làm quen với các tình huống của bài toán được diễn đạt qua các hình ảnh, tranh vẽ Yêu cầu của giai đoạn này
HS chỉ cần quan sát tranh Phân tích nội dung của tranh, rồi viết được phép tính phù hợp ( chưa phải đòi hỏi trình bày lời giải hoàn chỉnh) Hình thức của loại bài tập này là “ Viết phép tính thích hợp”( viết số và phép tính vào 5 ô)
* Giai đoạn 2: Giai đoạn “ Chính thức học giải toán có lời văn” giai đoạn
này học chính thức trong học kì II của lớp 1 HS được bết thế nào là một bài toán có lời văn ( Cấu tạo bài toán gồm 2 phần: Giả thiết ( bài toán cho biết gì?)
và kết luận ( bài toán hỏi gì?) Từ đó HS biết cách giải và trình bày các bài toán
về “ Thêm” “ bớt” một số đơn vị
Giải toán là quá trình giúp học sinh củng cố và nắm chắc khái niệm về phép cộng, phép trừ Mặt khác bài toán có nội dug liên quan đến đơn vị Đo đại lượng Xăng ti mét, giờ… cũng giúp HS thấy được các ứng dụng thực tế của đại lượng đó
Với tầm quan trọng như vậy Việc dạy học giải toán có lời văn ở lớp 1 đòi hỏi người giáo viên phải quan tâm giúp đỡ học sinh rất nhiều Dạy học cần phải theo định hướng đổi mới phương pháp dạy học ở Tiểu học Cần tổ chức giờ học dưới dạng các hoạt động học tập, học sinh được phát huy tích cực, chủ động, tự chiếm lĩnh kiến thức dưới sự hướng dẫn của giáo viên Có như vậy kết quả học tập mới được nâng cao
2 Thực trạng của vấn đề trước khi được áp dụng sáng kiến kinh nghiệm:
Qua thực tế giảng dạy lớp 1 nhiều năm tôi thấy:
- Phần lớn học sinh biết làm bài toán có lời văn
- Học sinh ham học, có hứng thú học tập môn toán nói chung và “Giải bài
toán có lời văn” nói riêng
- Học sinh bước đầu biết vận dụng bài toán có lời văn vào thực tế
Song bên cạnh đó, qua quá trình giảng dạy tôi thấy còn không ít học sinh còn lúng túng khi giải bài toán có lời văn Đó là:
+ Đọc được đề bài nhưng chưa hiểu đề bài, chưa biết thế nào là tìm hiểu bài toán có lời văn như: Bài toán cho biết gì? Bài toán hỏi gì ?
+ Không hiểu các thuật ngữ toán học như: thêm, bớt, cho đi, mua về, bay
đi, chạy đến, và câu hỏi: Có tất cả bao nhiêu? Còn lại bao nhiêu?
Trang 4+ Không biết tóm tắt bài toán, lúng túng khi nêu câu lời giải, có khi học sinh nêu lại hỏi của bài toán Không hiểu thuật ngữ toán học nên không biết nên cộng hay trừ dẫn đến nói sai, viết sai phép tính, sai đơn vị, viết sai đáp số
Ví dụ: Khi dạy bài tập 2 trang 118
“Lúc đầu tổ em có 6 bạn, sau đó có thêm 3 bạn nữa Hỏi tổ em có tất cả mấy bạn?”
- Một số học sinh chỉ biết làm đúng phép tính và đáp số nhưng chưa biết viết câu lời giải :
- Có học sinh chỉ biết viết câu lời giải, làm đúng phép tính và đáp số nhưng chưa viết đúng tên đơn vị (danh số):
- Khi làm bài học sinh chỉ ghi câu lời giải và phép tính còn không ghi đáp số:
- Có bài thì nhìn qua tưởng đúng hết nhưng phần viết kết quả của phép tính
có ghi tên đơn vị trong dấu ngoặc, còn ở đáp số thì ghi kết quả với tên đơn vị cũng có trong dấu ngoặc
+ Một số ít học sinh không hiểu nội dung bài toán có lời văn dẫn đến không làm được bài
+ Trình bày bài làm còn chưa sạch đẹp.
+ Một số em làm đúng nhưng khi cô hỏi lại không biết trả lời Chứng tỏ các em chưa nắm được một cách chắc chắn cách giải bài toán có lời văn
+ Khi về nhà học sinh lại chưa được bố mẹ quan tâm đến bài vở của con
do đi làm vất vả hoặc muốn quan tâm nhưng không biết dạy con sao cho đúng phương pháp dẫn đến giáo viên rất vất vả khi dạy đến dạng bài toán có lời văn
Kết quả điều tra tại lớp 1C- năm học 20117- 2018:
Bài tập số 2 (Trang 118) - Tiết 1 của bài: Giải toán có lời văn
Lúc đầu tổ em có 6 bạn, sau đó có thêm 3 bạn nữa Hỏi tổ em có tất
cả mấy bạn?
Tổng
số
HS
Về cách trình bày:
Tổng
số HS
HS viết đúng
câu lời giải
HS viết đúng phép tính
HS viết đúng đáp số
HS giải đúng cả
3 bước
* Nguyên nhân của thực trạng :
+ Về phía học sinh:
Do học sinh mới bắt đầu làm quen với dạng toán này nên tư duy của các
em còn mang tính trực quan làchủ yếu Mặt khác ở giai đoạn này các em chưa đọc thông viết thạo, các em đọc còn đánh vần nên khi đọc xong bài toán rồi nhưng các em không hiểu bài toán nói gì, thậm chí có những em đọc đi đọc
Trang 5lại nhiều lần nhưng vẫn chưa hiểu bài toán Vì vậy học sinh không làm đúng dạng toán có lời văn cũng là điều dễ hiểu
+ Về phía giáo viên:
Giáo viên chưa chuẩn bị tốt cho các em khi dạy những bài trước Những bài nhìn hình vẽ viết phép tính thích hợp, đối với những bài này hầu như học sinh đều làm được nên giáo viên tỏ ra chủ quan, ít nhấn mạnh hoặc không chú ý lắm mà chỉ tập trung vào dạy kĩ năng đặt tính, tính toán của học sinh mà quên mất rằng đó là những bài toán làm bước đệm, bước khởi đầu của dạng toán có lời văn sau này Đối với giáo viên dạy lớp 1 khi dạy dạng bài nhìn hình vẽ viết phép tính thích hợp, cần cho học sinh quan sát tranh tập nêu bài toán và thường xuyên rèn cho học sinh thói quen nhìn hình vẽ nêu bài toán Có thể tập cho những em học sinh giỏi tập nêu câu trả lời cứ như vậy trong một khoảng thời gian chuẩn bị như thế thì đến lúc học đến phần bài toán có lời văn học sinh sẽ không ngỡ ngàng và các em sẽ dễ dàng tiếp thu, hiểu và giải đúng
+ Về phía phụ huynh học sinh:
Một nguyên nhân không nhỏ có ảnh hưởng đến việc giải toán có lời văn của học sinh là do phụ huynh thiếu quan tâm đến việc học của con em mình ở nhà
Trên đây là những nguyên nhân chính dẫn đến thực trạng chất lượng môn toán nói chung và giải toán có lời văn nói riêng ở lớp 1 Trước thực trạng như vậy tôi suy nghĩ : “Phải làm gì để thay đổi thực trạng này? Và hướng dẫn các
em giải
toán có lời văn bằng cách nào?”
Qua nhiều năm dạy lớp 1, tôi đã tìm hiểu, suy nghĩ kết hợp với sự tiếp thu
những đóng góp của tổ chuyên môn, của đồng nghiệp, tôi xin đưa ra: “Một số kinh nghiệm giúp học sinh lớp 1 giải toán có lời văn.” mà tôi đã thực hiện và
thấy có hiệu quả đối với lớp tôi và với khối 1 của trường
3 Các giải pháp
3.1 Nắm chắc nội dung chương trình giải toán có lời văn:
Để dạy tốt môn Toán lớp 1 nói chung, “Giải toán có lời văn ” nói riêng, điều đầu tiên là mỗi giáo viên phải nắm chắc nội dung chương trình, sách giáo khoa
a)Trong chương trình toán lớp 1 giai đoạn đầu học sinh còn đang học chữ nên chưa thể đưa ngay “Bài toán có lời văn” Mặc dù đến tuần 23, học sinh mới được chính thức học cách giải “Bài toán có lời văn” song chúng ta đã ngầm chuẩn bị từ xa cho việc làm bài này ngay từ bài: “Phép cộng trong phạm vi 3” (Luyện tập) ở tuần 7
*Bắt đầu từ tuần 7 cho đến tuần 16 trong hầu hết các tiết dạy về phép cộng trong phạm vi (không quá) 10 đều có các bài tập thuộc dạng “Nhìn tranh nêu phép tính” ở đây học sinh được làm quen với việc:
- Xem tranh vẽ
- Nêu bài toán bằng lời
- Nêu câu trả lời
Trang 6- Điền phép tính thích hợp (với tình huống trong tranh).
* Tiếp theo đó, kể từ tuần 17, học sinh được làm quen với việc đọc tóm tắt rồi nêu đề toán bằng lời, sau đó nêu cách giải và tự điền số và phép tính thích hợp vào dãy năm ô trống Ở đây không còn tranh vẽ nữa
* Việc ngầm chuẩn bị cho học sinh các tiền đền để giải toán có lời văn là chuẩn bị cho học sinh cả về viết câu lời giải và phép tính Chính vì vậy ngay sau các bài tập “Nhìn tranh điền phép tính thích hợp vào dãy 5 ô trống” chúng ta chịu khó đặt thêm cho các em những câu hỏi để các em trả lời miệng
* Tiếp theo, trước khi chính thức học “Giải toán có lời văn” học sinh được học bài nói về cấu tạo của một bài toán có lời văn (gồm hai thành phần chính là những cái đã cho (đã biết) và những cái phải tìm (chưa biết) Vì vậy có thể giải thích cho học sinh “Bài toán là gì?” nêu mục tiêu của tiết này là chỉ giới thiệu cho các em hai bộ phận của một bài toán:
+ Những cái đã cho (dữ kiện)
+ Và cái phải tìm (câu hỏi)
Bài này giúp các em hiểu sâu hơn về cấu tạo của “Bài toán có lời văn”
b) Các loại toán có lời văn trong chương trình chủ yếu là hai loại toán
“Thêm- Bớt” thỉnh thoảng có biến tấu một chút:
- Bài toán “Thêm” thành bài toán gộp, chẳng hạn: “An có 4 quả bóng, Bình có 3 quả bóng Hỏi cả hai bạn có mấy quả bóng? dạng này khá phổ biến
- Bài toán “Bớt” thành bài toán tìm số hạng, chẳng hạn: “Lớp 1A có 35
bạn, trong đó có 20 bạn nữ Hỏi lớp 1A có bao nhiêu bạn nam?”, dạng này ít gặp
vì hơi khó (trước đây dạy ở lớp 2)
3.2 Dạy “Giải toán có lời văn” ở lớp 1:
3.2.1 Một số dạng toán có lời văn ở lớp 1:
a) Điền phép tính thích hợp: Học sinh chỉ việc nhìn tranh và trả lời câu hỏi rồi điền phép tính
Ví dụ như tranh minh họa bài tập 4/b (sách giáo khoa trang 69):
b) Viết số thích hợp vào chỗ chấm để có bài toán:
Bài toán: Có … bạn, có thêm … bạn đang đi tới Hỏi tất cả có bao nhiêu bạn?
Với bài này, học sinh chỉ việc nhìn tranh trả lời câu hỏi của giáo viên rồi điền vào số vào đề bài thành bài toán có lời văn
c) Yêu cầu học sinh điền số vào tóm tắt và tìm lời giải, phép tính rồi điền vào đáp số
Ví dụ: Lúc đầu tổ em có 6 bạn, sau đó có thêm 3 bạn nữa Hỏi tổ em có tất cả
mấy bạn?
Tóm tắt Bài giải
Có :…… bạn ……… Thêm :…… bạn ………
Có tất cả :…… bạn? Đáp số:… bạn
d) Điền số vào tóm tắt rồi tự tìm lời giải và giải:
Ví dụ (bài 1 trang 121/ Toán 1):
Trong vườn có 12 cây chuối, bố trồng thêm 3 cây chuối Hỏi có tất cả bao
Trang 7nhiêu cây chuối ?
Tóm tắt
Có :…… cây
Thêm :…… cây
Có tất cả :…… cây ?
e) Yêu cầu học sinh tự tóm tắt và tìm cách giải:
Ví dụ như bài số 4 (trang 135):
Lớp 1A vẽ được 20 bức tranh, lớp 1B vẽ được 30 bức tranh Hỏi cả hai lớp
vẽ được bao nhiêu bức tranh?
Nhìn chung những dạng toán trên cũng phù hợp với học sinh những cũng
có phần
gây khó khăn cho một số học sinh trung bình, học sinh yếu Đây cũng là yêu cầu đối với giáo viên làm sao cho học sinh hiểu được bài toán và giải được thông qua bước phân tích đề bài sau đây
3.2.2 Nhận biết cấu tạo bài toán có lời văn:
Tiết 84: Bài toán có lời văn Học sinh được học với đề toán chưa hoàn thiện.
Tiếp tục sử dụng kĩ năng quan sát tranh, học sinh đã rất thành thạo ở giai đoạn 2 vậy nên hoàn thiện nốt đề bài toán là điều không khó đối với học sinh lớp tôi Tiếp tục tôi giảng để học sinh nắm chắc một bài toán có lời văn ở lớp 1 gồm 2 phần: phần cho biết, phần hỏi
Gồm 4 bài toán có yêu cầu khác nhau:
* Viết số thích hợp vào chỗ chấm để có bài toán:
Bài toán 1: Có …bạn, có thêm… bạn đang đi tới Hỏi có tất cả bao nhiêu bạn ? Bài toán 2: Có … con, có thêm … con thỏ đang chạy tới Hỏi có tất cả bao
nhiêu con thỏ ?
* Bài toán còn thiếu câu hỏi (cái cần tìm):
Bài toán 3: Viết tiếp câu hỏi để có bài toán
Có 1 gà mẹ và có 7 gà con
Hỏi ……….?
* Bài toán còn thiếu cả số cả câu hỏi (cái đã cho và cái cần tìm)
Bài toán 4: Có … con chim đậu trên cành, có thêm….con chim bay đến
Hỏi ……….?
- Dạy dạng toán này tôi phải xác định làm thế nào giúp các em điền đủ được các dữ kiện (cái đã cho và cái cần tìm) còn thiếu của bài toán và bước đầu các
em hiểu được bài toán có lời văn là phải đủ các dữ kiện; đâu là cái đã cho và đâu
là cái cần tìm
Bước 1: GV đặt câu hỏi - HS trả lời và điền số còn thiếu vào chỗ chấm để có
bài toán Giáo viên kết hợp dùng phấn màu ghi số còn thiếu vào bài toán mẫu trên bảng lớp
Bước 2: Hướng dẫn các em xác định cái đã cho và cái cần tìm (dữ kiện và yêu
cầu bài toán) Dùng phấn màu gạch chân dữ kiện và từ quan trọng (tất cả) của bài toán
Sau khi hoàn thành 4 bài toán giáo viên nên cho các em đọc lại và xác
Trang 8định bài 1 và bài 2 thiếu cái đã cho; bài 3 thiếu cái cần tìm; bài 4 thiếu cả cái đã cho và cái cần tìm Qua đó giúp các em hiều được đây là dạng toán có lời văn phải có đủ dữ kiện
3.2.3 Quy trình giải toán có lời văn:
Gồm các bước:
- Tìm hiểu bài toán
- Tóm tắt bài toán
- Tìm đường lối (cách) giải bài toán
- Trình bày bài giải (gồm 3 phần: câu lời giải, phép tính, đáp số)
- Kiểm tra lại bài giải
Ví dụ 1: Dạy bài: Giải bài toán có lời văn
Bài 1 trang 117: An có 4 quả bóng, Bình có 3 quả bóng Hỏi cả hai bạn có mấy quả bóng ?
Bước 1: Tìm hiểu bài
Tôi yêu cầu học sinh:
- Quan sát tranh minh hoạ trong SGK
- Đọc bài toán
- Đặt câu hỏi tìm hiểu bài:
+ Bài toán cho biết gì? (An có 4 quả bóng)
+ Bài toán còn cho biết gì nữa? (Bình có 3 quả bóng)
+ Bài toán yêu cầu tìm gì? (Cả hai bạn có mấy quả bóng?)
Tôi gạch chân dữ kiện, yêu cầu của bài toán
Bước 2: Tóm tắt bài toán.
Tôi hướng dẫn để học sinh hoàn thiện tóm tắt của bài toán Lúc này học sinh chỉ cần dựa vào bài toán cho biết gì và bài toán hỏi gì là đã hoàn thiện tóm tắt
An có : 4 quả bóng
Bình có : 3 quả bóng
Cả hai bạn có: quả bóng ?
- Yêu cầu học sinh đọc lại tóm tắt
Bước 3: Tìm đường lối (cách) giải bài toán
a) Hướng dẫn học sinh viết lời giải:
Tôi hỏi học sinh: Dựa vào đâu ta viết được lời giải của bài toán ?
Học sinh: Dựa vào câu hỏi của bài toán
Tôi nhấn mạnh cho học sinh: Bài toán hỏi cái gì thì trả lời ngay các đó Tôi có thể hướng dẫn các em viết câu lời giải theo một số cách sau:
Cách 1: Hướng dẫn cho HS chọn cách viết câu lời giải gần với câu hỏi nhất đó là:
- Đọc kĩ câu hỏi.
- Bỏ chữ Hỏi đầu câu hỏi.
- Thay chữ mấy bằng chữ số.
- Thêm vào cuối câu chữ là và dấu hai chấm
Để có câu lời giải: “Cả hai bạn có số quả bóng là:”
Cách 2: Đưa từ “quả bóng” ở cuối câu hỏi lên đầu thay thế cho từ “Hỏi” và
Trang 9thêm từ Số (ở đầu câu), là ở cuối câu để có “Số quả bóng hai bạn có tất cả là”
Cách 3: Dựa vào dòng cuối cùng của câu tóm tắt coi đó là “từ khoá” của câu lời
giải rồi thêm thắt chút ít Ví dụ: Từ dòng cuối của tóm tắt “ Cả hai bạn có :
….quả bóng ?” Học sinh viết câu lời giải: “Cả hai bạn có là:”
Cách 4: Sau khi học sinh tính xong: 4 + 3 = 7 (quả bóng) Giáo viên chỉ vào 7
rồi hỏi: “ 7 quả bóng này là của ai? ” (số bóng của hai bạn có tất cả) Từ câu trả lời của học sinh ta giúp các em chỉnh sửa thành câu lời giải: “Số bóng của hai bạn có tất cả là”…
Vậy là có rất nhiều câu lời giải khác nhau, yêu cầu học sinh chọn câu lời giải thích hợp nhất, không nên bắt học sinh nhất nhất phải viết theo lời giải theo một kiểu
b) Hướng dẫn học sinh viết phép tính:
Tôi nêu tiếp: “Muốn biết cả hai bạn có mấy quả bóng ta làm phép tính gì? (tính cộng); Mấy cộng với mấy? (4 + 3 = 7) hoặc 4 cộng 3 bằng mấy? (4 + 3 = 7); Tiếp tục tôi gợi ý để học sinh nêu tiếp “ 7 này là 7 quả bóng” nên ta viết “quả bóng” vào dấu ngoặc đơn: 4 + 3 = 7 (quả bóng)
Lưu ý bài toán hỏi cái gì thì ghi tên đơn vị cái đó (Ví dụ: hỏi cả hai bạn có mấy quả bóng ? Tên đơn vị (quả bóng) hoặc hỏi có tất cả bao nhiêu con vịt ? Tên đơn vị (con vịt)…
c) Hướng dẫn học sinh viết đáp số:
Tôi cho học sinh biết: đáp số viết kết quả của phép tính, danh số không cần viết trong ngoặc đơn
Bước 4: Trình bày bài giải: Bài giải
Cả hai bạn có số quả bóng là:
4 + 3 = 7 (quả bóng)
Đáp số: 7 quả bóng
Bước 5: Kiểm tra lại bài giải
Sau khi học sinh làm bài xong yêu cầu các em kiểm tra lại bài xem đã
đúng chưa (có thể quan sát tranh lại để kiểm tra)
Ví dụ 2: Bài tập 2 (trang 169- Toán 1)
Bài toán : Một thanh gỗ dài 97 cm, bố em cưa bớt đi 2 cm Hỏi thanh gỗ còn lại dài bao nhiêu xăng-ti- mét?
* Thực hiện theo 4 bước hướng dẫn giải bài toán có lời văn trên như sau:
Bước 1: Tìm hiểu đề bài
- Cho học sinh đọc đề nhiều lần để xác định dạng bài tập
* Đối với học sinh khá, giỏi có thể hỏi:
Bài toán cho biết gì? (Một thanh gỗ dài 97 cm, bố em cưa bớt 2 cm)
Bài toán hỏi gì? Hay bài toán yêu cầu gì? (Thanh gỗ còn lại dài bao nhiêu xăng-ti-mét ?)
* Đối với học sinh yếu có thể hỏi:
+ Thanh gỗ dài bao nhiêu xăng-ti-mét? (97cm)
+ Bố em cưa bớt bao nhiêu xăng-ti-mét? (2cm)
+ Bài toán hỏi gì? (Thanh gỗ còn lại dài bao nhiêu xăng- ti- mét?)
Trang 10Bước 2: Tóm tắt bài toán
(Có thể hướng dẫn học sinh tóm tắt bằng lời, bằng sơ đồ đoạn thẳng hoặc bằng hình vẽ)
Tóm tắt
Thanh gỗ : 97 cm
Cưa bớt : 2 cm
Còn lại : … cm?
Bước 3: Hướng dẫn cách giải và tìm lời giải:
- Đối với học sinh khá giỏi:
+ Bài toán hỏi gì? (Thanh gỗ còn lại dài bao nhiêu xăng- ti- mét?)
+ Muốn biết thanh gỗ còn lại dài bao nhiêu ta làm thế nào? (lấy: 97 - 2 = 95 (cm)
- Đối với học sinh yếu cần hỏi :
+ Bài toán cho ta biết những gì? (Một thanh gỗ dài 97 cm, bố em cưa bớt 2 cm) + Bài toán hỏi gì? (Thanh gỗ còn lại dài bao nhiêu xăng- ti- mét?)
+ Muốn biết thanh gỗ còn lại dài bao nhiêu ta làm phép tính gì ? (phép tính trừ) + Vì sao? (vì có từ “còn lại”)
+ Gọi học sinh nêu phép tính trừ? (97 - 2 = 95 (cm)
- Tìm lời giải cho bài toán là dựa vào câu hỏi: Hỏi thanh gỗ còn lại dài bao
nhiêu xăng- ti- mét? Chúng sẽ bỏ đi tiếng “hỏi” và “bao nhiêu xăng –ti- mét” thêm từ “là” thì ta được lời giải như sau: “Thanh gỗ còn lại dài số xăng ti mét là:”
Bước 4: Trình bày bài giải
Bài giải
Thanh gỗ còn lại dài số xăng ti mét là:
97 - 2 = 95 (cm)
Đáp số: 95 cm
Bước 5: Kiểm tra lại bài giải
*Đối với giải bài toán theo tóm tắt:
Tôi cho học sinh đọc tóm tắt đề toán, nhìn tóm tắt nêu đề toán, phân tích
đề và giải bài toán như trên
3.3 Sử dụng tốt các phương pháp dạy học trong dạy giải toán có lời văn:
a Phương pháp trực quan: Giáo viên tổ chức, hướng dẫn học sinh hoạt
động trực tiếp trên các hiện tượng, sự vật cụ thể để dựa vào đó nắm bắt được kiến thức, kĩ năng của môn Toán
b Phương pháp thực hành luyện tập: là phương pháp dạy học liên quan
đến hoạt động thực hành luyện tập các kiến thức, kĩ năng của môn học, chiếm 50% tổng thời gian dạy học Toán Vì vậy phương pháp này được thường xuyên
sử dụng trong dạy học Toán nói chung và dạy giải toán có lời văn nói riêng Cụ thể cho học sinh luyện tập ở: + Làm trên bảng lớp
+ Làm trên bảng con của học sinh
+ Luyện tập Toán trong vở
+ Làm trong phiếu học tập