Giáo viên phải chọn độ dài các đoạn thẳng một cách thích hợp để học sinh dễ dàng thấy được mối liên hệ phụ thuộc giữa các đại lượng tạo ra hình ảnh cụ thể để giúp học sinh suy nghĩ tìm t
Trang 11 MỞ ĐẦU
1.1 Lí do chọn đề tài
- Trong môn Toán ở bậc Tiểu học, các bài toán có lời văn chiếm một vị trí rất quan trọng Kết quả học toán của học sinh cũng được đánh giá trước hết qua khả năng giải toán Bởi vì:
+ Việc giải toán giúp học sinh củng cố, vận dụng và hiểu sâu sắc thêm tất
cả các kiến thức về Số học, về Đo lường, về các yếu tố Đại số, về các yếu tố Hình học đã được học trong môn toán ở Tiểu học
+ Thông qua nội dung thực tế nhiều hình nhiều vẻ của các đề toán, học sinh sẽ tiếp nhận được những kiến thức phong phú về cuộc sống và có điều kiện
để rèn luyện khả năng áp dụng những kiến thức toán học vào cuộc sống
- Mỗi đề toán là một bức tranh thu nhỏ của cuộc sống Khi giải mỗi bài toán, học sinh biết rút ra từ bức tranh ấy bản chất toán học của nó, phải biết lựa chọn những phép tính thích hợp, biết làm đúng các phép tính đó, biết đặt lời giải chính xác Vì thế quá trình giải toán sẽ giúp học sinh rèn luyện khả năng quan sát và giải quyết các hiện tượng của cuộc sống qua con mắt toán học của mình
+ Việc giải các bài toán có lời văn sẽ giúp phát triển trí thông minh, óc sáng tạo và thói quen làm việc một cách khoa học cho học sinh Bởi vì khi giải toán học sinh phải biết tập trung vào bản chất của đề toán, phải biết gạt bỏ những cái thứ yếu, phải biết phân biệt cái đã cho và cái phải tìm, phải biết phân tích đề để tìm ra đường dây liên hệ giữa các số liệu Nhờ đó mà đầu óc các em
sẽ sáng suốt hơn, tinh tế hơn, tư duy của các em sẽ linh hoạt, chính xác hơn, cách suy nghĩ và làm việc của các em sẽ khoa học hơn
+ Việc giải các bài toán còn đòi hỏi học sinh phải biết tự mình xem xét vấn
đề, tự mình tìm tòi cách giải quyết vấn đề, tự mình thực hiện các phép tính, tự mình kiểm tra lại kết quả Do đó giải toán là một cách rất tốt để rèn luyện đức tính kiên trì, tự lực vượt khó, cẩn thận, chu đáo, yêu thích sự chặt chẽ, chính xác
- Trong chương trình toán lớp 3, học sinh phải biết giải các bài toán có đến hai bước tính với các mối quan hệ trực tiếp và đơn giản; giải các bài toán liên quan đến rút về đơn vị và bài toán có nội dung hình học
- Nhận thức được tầm quan trọng của việc dạy - học giải toán có lời văn
Tôi mạnh dạn đưa ra một số kinh nghiệm: “Một số biện pháp rèn kĩ năng giải Toán có lời văn cho học sinh lớp 3”.
1.2 Mục đích nghiên cứu
- Góp phần đổi mới phương pháp dạy học môn Toán ở Tiểu học theo phương hướng phát huy tính tích cực, chủ động và sáng tạo của học sinh đồng thời rèn luyện kỹ năng giải toán có lời văn tốt hơn
- Giúp học sinh luyện tập, củng cố kiến thức và thao tác thực hành đã học như: + Rèn kĩ năng tính toán
+ Tập vận dụng kiến thức vào thực tiễn
+ Qua giải toán giáo viên nắm được sự nhận thức của học sinh
- Giúp học sinh phát triển năng lực tư duy, rèn luyện phương pháp suy luận
- Qua giải toán giúp học sinh trình bày ngôn ngữ nói và viết tạo ra tính tự
Trang 2tin dám nghĩ dám làm.
- Giúp học sinh hình thành nhân cách, phẩm chất cần thiết của người lao động trong thời đại công nghiệp phát triển
1.3 Đối tượng nghiên cứu
- Đối tượng: Học sinh lớp 3A, năm học 2018 - 2019
- Tài liệu: Sách giáo khoa và sách giáo viên toán lớp 3 và một số tài liệu liên quan đến môn Toán ở bậc Tiểu học
1.4 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp trực quan: Nhận thức của trẻ từ 6 đến 11 tuổi còn mang tính cụ thể, gắn với các hình ảnh và hiện tượng cụ thể, trong khi đó kiến thức của môn toán lại có tính trìu tượng và khái quát cao Sử dụng phương pháp này giúp học sinh có chỗ dựa cho hoạt động tư duy, bổ sung vốn hiểu biết, phát triển
tư duy trìu tượng và vốn hiểu biết
Ví dụ: khi dạy giải toán ở lớp ba, giáo viên có thể cho học sinh quan sát mô hình hoặc hình vẽ, sau đó lập tóm tắt đề bài, rồi mới đến bước chọn phép tính
- Phương pháp thực hành luyện tập: Sử dụng phương pháp này để thực hành luyện tập kiến thức, kỹ năng giải toán từ đơn giản đến phức tạp (Chủ yếu ở các tiết luyện tập) Trong quá trình học sinh luyện tập, giáo viên có thể phối hợp các phương pháp như: gợi mở - vấn đáp và cả giảng giải - minh hoạ
- Phương pháp gợi mở - vấn đáp: Đây là phương pháp rất cần thiết và thích hợp với học sinh tiểu học, rèn cho học sinh cách suy nghĩ, cách diễn đạt bằng lời, tạo niềm tin và khả năng học tập của từng học sinh
- Phương pháp giảng giải - minh hoạ: Giáo viên hạn chế dùng phương pháp này Khi cần giảng giải - minh hoạ thì giáo viên nói gọn, từ và kết hợp với gợi mở - vấn đáp Giáo viên nên phối hợp giảng giải với hoạt động thực hành của học sinh
Ví dụ: Bằng hình vẽ, mô hình, vật thật ) để học sinh phối hợp nghe, nhìn
và làm
- Phương pháp sơ đồ đoạn thẳng: Giáo viên sử dụng sơ đồ đoạn thẳng để biểu diễn các đại lượng đã cho ở trong bài và mối liên hệ phụ thuộc giữa các đại lượng đó Giáo viên phải chọn độ dài các đoạn thẳng một cách thích hợp để học sinh dễ dàng thấy được mối liên hệ phụ thuộc giữa các đại lượng tạo ra hình ảnh
cụ thể để giúp học sinh suy nghĩ tìm tòi giải toán
2 NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM.
2.1 Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm
2.1.1 Cơ sở khoa học
Giải Toán là một phần quan trọng trong chương trình giảng dạy môn Toán
ở bậc Tiểu học Nội dung của việc giải toán gắn chặt một cách hữu cơ với nội dung của số học các đại lượng cơ bản và các yếu tố đại số, hình học có trong chương trình
Vì vậy việc giải toán có lời văn có một vị trí quan trọng thể hiện ở các điểm sau:
a) Các khái niệm và quy tắc về toán trong sách giáo khoa nói chung đều
Trang 3được giảng dạy thông qua việc giải toán Việc giải toán giúp học sinh củng cố, vận dụng các kiến thức, rèn luyện kĩ năng tính toán Đồng thời qua việc giải toán của học sinh mà giáo viên có thể dễ dàng phát hiện những ưu điểm hoặc thiếu sót của các em về kiến thức, kĩ năng và tư duy để giúp các em hoặc khắc phục
b) Việc kết hợp học và hành, kết hợp kiến thức học ở trường với đời sống được thực hiện thông qua việc cho học sinh giải toán Các bài toán liên hệ với cuộc sống một cách thích hợp giúp học sinh hình thành và rèn luyện những kĩ năng thực hành cần thiết trong đời sống hằng ngày, giúp các em biết vận dụng những kĩ năng đó trong cuộc sống
c) Việc giải toán có thể giúp các em thấy được nhiều khái niệm toán học, ví dụ: các số, các phép tính, các đại lượng vv đều có nguồn gốc trong cuộc sống hiện thực, trong thực tiễn hoạt động của con người, thấy được các mối quan hệ biện chứng giữa các dữ kiện, giữa cái đã cho và cái phải tìm…
d) Việc giải toán góp phần quan trọng vào việc rèn luyện cho học sinh năng lực tư duy và những đức tính tốt của con người lao động mới Khi giải một bài toán, tư duy của học sinh phải hoạt động một cách tích cực và các em cần phân biệt cái gì đã cho và cái gì cần tìm; suy luận nêu lên những phán đoán rút
ra những kết luận, thực hiện những phép tính cần thiết để giải quyết vấn đề đặt ra…Hoạt động trí tuệ có trong việc giải toán giúp phần giáo dục cho các em ý trí vượt khó khăn, đức tính cẩn thận, chu đáo làm việc có kế hoạch, thói quen xem xét có căn cứ, thói quen tự kiểm tra kết quả công việc mình làm, óc độc lập suy nghĩ, óc sáng tạo
2.1.2 Nội dung chương trình Toán lớp 3
a) Số học (Phép nhân và phép chia)
b) Đại lượng và đo đại lượng (Bảng đơn vị đo độ dài – Diện tích của một hình và đơn vị đo diện tích …)
c) Yếu tố hình học (Giới thiệu các góc của hình học)
d) Yếu tố thống kê (Giới thiệu bảng số liệu …)
e) Giải toán có lời văn (Các bài toán có đến 2 bước tín – Giải bài toán có liên quan đến rút về đơn vị và bài toán có nội dung hình học)
2.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm
2.2.1 Về tình hình học sinh lớp 3A
Năm học 2018 - 2019 tôi được phân công dạy lớp 3A Lớp tôi chủ nhiệm có
32 em, trong đó có15 em là học sinh nữ Phần lớn học sinh lớp tôi đều là con gia đình buôn bán nhỏ hoặc bố mẹ làm nghề công nhân Điều kiện kinh tế gia đình còn gặp nhiều khó khăn nên các em chưa thực sự được bố mẹ quan tâm đúng mức Một
số phụ huynh không quan tâm đến con cái, tất cả mọi việc học của con đều phó mặc cho nhà trường Điều đó ảnh hưởng rất lớn đến việc học tập của các em Nhất
là với môn toán số lượng học sinh yếu còn nhiều, chất lượng học tập chưa cao, có những học sinh không hiểu được đề bài toán nên làm cho có, dẫn đến kết quả của bài toán sai khá nhiều
Để thực hiện được vấn đề này, tôi đã tìm hiểu và nắm rõ tình hình học
Trang 4sinh lớp tôi ngay khi được phân công Trước tiên tôi xem sổ chủ nhiệm năm học trước đồng thời tôi trao đổi với giáo viên chủ nhiệm năm học trước để năm rõ hơn Sau đó tôi cho học sinh kiểm tra lại để phân loại từng đối tượng học sinh Đây là kết quả khảo sát chất lượng đầu năm môn Toán năm học 2018 - 2019
2.2.2 Kết quả đánh giá đầu năm
Sau khi nhận lớp qua mấy tuần đầu tôi đã tiến hành khảo sát chất lượng về cách giải bài toán có lời văn với đề bài như sau:
TSHS
32
*Qua kết quả thống kê bài khảo sát chất lượng của học sinh đầu năm tôi
đã thống kê được thì chất lượng làm bài của các em không tốt
+ Trong đó có 10 em là làm bài đạt mức “Hoàn thành tốt”
+ 12 em làm bài đạt mức “Hoàn thành” vì các các em tính toán chưa cẩn thận dẫn đến kết quả chưa chính xác
+ Còn 10 em còn lại thì rơi vào trường hợp “ Chưa hoàn thành” Các em không giải được bài toán có lời văn
- Nguyên nhân:
+ Do các em chưa đọc kĩ đề bài, chưa biết tập trung vào những dữ kiện trọng tâm của đề toán không chịu phân tích đề toán khi đọc đề
+ Đa số học sinh bỏ qua một bước cơ bản trong giải toán là tóm tắt đề toán Học sinh chưa xác định các kiểu tóm tắt đề toán khác nhau phụ thuộc vào từng dạng bài cụ thể
+ Một số em biết tìm ra phép tính đúng nhưng khi đặt lời giải cho bài toán chưa hợp lý
2.2.3 Thực trạng về giải toán có lời văn hiện nay đối với học sinh lớp 3A:
- Qua quá trình dạy học một số năm ở tiểu học, được trực tiếp thâm nhập vào quá trình học toán của học sinh nhất là học sinh lớp 3, tôi nhận thấy đa phần những hạn chế trong kĩ năng giải toán của học sinh bắt nguồn từ những nguyên nhân sau:
+ Kĩ năng đọc đề toán của học sinh chưa tốt Học sinh đọc đề vội vàng, chưa biết tập trung vào những dữ kiện trọng tâm của đề toán, chưa biết cách phân tích đề toán sau khi đọc đề
+ Việc tóm tắt, tìm hiểu đề toán, đang còn gặp nhiều khó khăn đối với học sinh chưa hoàn thành của lớp 3 Vì kĩ năng đọc hiểu của các em chưa cao, nên các em đọc được đề toán và hiểu đề còn thụ động, chậm chạp
+ Đa số học sinh bỏ qua một bước cơ bản trong giải toán là tóm tắt đề toán Học sinh chưa xác định các kiểu tóm tắt đề toán khác nhau phụ thuộc vào từng dạng bài cụ thể
+ Học sinh chưa có kĩ năng phân tích và tư duy khi gặp những bài toán phức tạp Hầu hết các em làm theo khuôn mẫu của những dạng bài cụ thể mà các em thường gặp trong sách giáo khoa, khi gặp bài toán đòi hỏi tư duy, suy luận một chút các em không biết cách phân tích dẫn đến lười suy nghĩ Một số
Trang 5em biết tìm ra phép tính đúng nhưng khi đặt lời giải thì còn lúng túng và có khi đặt lời giải cho bài toán chưa hợp lý
+ Khi giải xong bài toán, đa số học sinh bỏ qua bước kiểm tra lại bài, dẫn đến nhiều trường hợp sai sót đáng tiếc do tính nhầm, do chủ quan Ngoài ra, còn
có những trường hợp học sinh hiểu bài nhưng còn lúng túng trong cách trình bày nhất là với các bài toán giải có lời văn phức tạp
+ Thực tế trong một tiết dạy 35 phút, vừa dạy bài mới, vừa làm bài tập và các bài toán có lời văn thường ở phần cuối tiết học nên thời gian để luyện cách phân tích đề, nêu câu trả lời không được nhiều nên học sinh chưa khắc sâu kiến thức, kĩ năng giải toán cũng như mẹo để giải bài toán
2.3 Một số biện pháp rèn kĩ năng cụ thể cho từng bài toán có lời văn lớp 3
2.3.1 Tìm hiểu các dạng bài toán có lời văn ở lớp 3
- Trong trương trình lớp 3, học sinh chỉ nhận biết bước đầu về bài toán có hai phép tính dưới các mối quan hệ đơn giản như:
+ Bài toán liên quan đến rút về đơn vị, so sánh số bé bằng một phần mấy
số lớn, gấp một số lên nhiều lần, giảm đi một số lần, số lớn gấp mấy lần số bé
+ Bài toán có nội dung hình học: tính chu vi và diện tích của hình chữ nhật và hình vuông
Quy trình giải một bài toán:
Để giúp học sinh có một kĩ năng giải các bài toán có lời văn thì giáo viên phải định hướng được cho học sinh đường lối chung để giải một bài toán
Bước 1: Tìm hiểu vấn đề:
- Chính là làm rõ phần đã cho và phần cần tìm của đề bài, nếu trong các phần đó có những cái khó hiểu thì có thể làm rõ chúng nhờ diễn đạt lại bằng cách khác để làm rõ mối liên hệ phần đã cho và phần cần tìm, có thể tóm tắt bằng kí hiệu, công thức, sơ đồ đoạn thẳng
- Để học sinh có kĩ năng tìm hiểu đề bài chính xác thì giáo viên phải dùng phương pháp hỏi đáp trong quá trình dạy học Ví dụ như:
+ Bài toán cho biết gì?
+ Bài toán hỏi gì? (Hay bài toán yêu cầu chúng ta làm gì?)
Bước 2: Xác định phương hướng giải bài toán:
Giáo viên phải rèn luyện cho học sinh kĩ năng tìm hướng để giải bài toán Con đường định hướng cho học sinh để giải bài toán đó là:
+ Đầu tiên, xem xét bài toán có thuộc dạng điển hình hay không?
+ Nếu bài toán thuộc dạng toán điển hình thì học sinh dựa theo bài tập có lời giải mẫu
+ Nếu bài toán thuộc dạng toán không điển hình thì định hướng cho học sinh xem xét bài toán có tương tự với bài toán nào mà người làm toán đã biết cách giải Nếu không thì phải định hướng cho học sinh tìm cách phân tích bài toán thành những bài toán đơn giản mà học sinh đã biết cách giải
Ví dụ: Bài tập 2 (Trang 154 – sách giáo khoa Toán 3)
Để ốp thêm một mảng tường, người ta dùng hết 9 viên gạch men, mỗi viên gạch hình vuông cạnh 10cm Hỏi diện tích mảng tường được ốp thêm là
Trang 6bao nhiêu xăng-ti-mét vuông?
- Đây không phải là dạng toán điển hình, giáo viên phải có kĩ năng giúp học sinh phân tích thành hai bài toán đơn giản hơn mà học sinh đã biết cách giải thông qua bước phân tích bài toán:
Bài toán 1:
Một viên gạch hình vuông canh 10cm Tính diện tích của viên gạch đó Bài toán 2:
Để ốp thêm một mảng tường người ta dùng hết 9 viên gạch men hình vuông, mỗi viên gạch có diện tích 100cm2 Hỏi diện tích mảng tường ốp thêm là bao nhiêu?
Bước 3: Thực hiện kế hoạch giải toán:
Giáo viên rèn cho học sinh kĩ năng thực hiện các phép tính theo trình tự
mà bước lập kế hoạch giải đã xác định sau đó viết lời giải
Bước 4: Kiểm tra lại bài toán:
Hầu hết học sinh khi giải toán xong không nhìn lại bài làm của mình Đây
là bước không bắt buộc nhưng lại là bước không thể thiếu trong dạy học giải toán có lời văn Vì bước này rèn cho học sinh tính cẩn thận và rèn cho học sinh các kĩ năng:
Kiểm tra, rà soát lại công việc giải toán
Tìm cách giải khác và so sánh các cách giải
Suy nghĩ, khai thác thêm bài toán
Phát hiện sai sót trong quá trình giải toán
2.3.2 Rèn kĩ năng cụ thể cho từng bài toán có lời văn lớp 3:
Mặc dù những bài toán có lời văn trong trương trình lớp 3 đều được định hướng theo quy trình chung như ở trên, nhưng mỗi bài, mỗi dạng lại có kĩ năng riêng
a Dạng toán về “nhiều hơn, ít hơn”
Ví dụ : Bài 3 (Trang 4 - sách giáo khoa Toán 3)
Khối lớp Một có 245 học sinh, khối lớp Hai ít hơn khối lớp Một 32 học sinh Hỏi khối lớp Hai có bao nhiêu học sinh ?
- Hướng dẫn giải :
- Trước hết yêu cầu học sinh đọc kỹ và hiểu đầu bài toán (Nắm ý nghĩa chung đầu bài, hiểu được điều kiện của bài toán là gì ? yêu cầu ta phải làm gì ?
Tóm tắt đề toán:
Khối Một:
32 học sinh
Khối Hai:
? học sinh
Bài giải
Số học sinh khối lớp Hai là :
245 - 32 = 213 (học sinh)
245 học sinh
Trang 7Đáp số : 213 học sinh
b Các bài toán tìm một trong các phần bằng nhau của một số.
- Lên lớp 3 đây là dạng toán đầu tiên mà học sinh tóm tắt bài toán dùng sơ
đồ đoạn thẳng Vậy thì giáo viên phải rèn cho học sinh kĩ năng vẽ sơ đồ đoạn thẳng để biểu diễn số liệu trên đó
- Đôi khi học sinh làm phép tính đúng còn vẽ sơ đồ sai là học sinh chưa hiểu ý nghĩa của sơ đồ Khi dạy, có nhiều giáo viên chỉ máy móc dựa theo một sơ
đồ trong sách giáo khoa nên học sinh chưa hiểu hết nội dung bài Vì vậy khi dạy, giáo viên rèn cho học sinh kĩ năng vẽ sơ đồ đoạn thẳng, đoạn thẳng đó phải được chia thành các đoạn bằng nhau và mỗi đoạn được coi là một phần tương ứng
Ví dụ: Bài toán ( Trang 27 – sách giáo khoa Toán 3)
Có 28 học sinh đang tập bơi, 41 số học sinh đó là học sinh lớp 3A Hỏi lớp 3A có bao nhiêu học sinh đang tập bơi ?
Học sinh vẽ sơ đồ:
Bài giải
Lớp 3A có số học sinh đang tập bơi là:
28 : 4 = 7 (học sinh) Đáp số: 7 học sinh
Ví dụ: Bài toán ( Trang 27 – sách giáo khoa Toán 3)
Vân làm được 30 bông hoa bằng giấy, Vân tặng bạn
6
1
số bông hoa đó Hỏi Vân tặng bạn bao nhiêu bong hoa ?
Học sinh vẽ sơ đồ:
? bông hoa
30 bông hoa Giáo viên đưa ra trường hợp nếu vẽ sơ đồ như sau cũng không sai:
? bông hoa
30 bông hoa
?HS
28 học sinh
Trang 8Giáo viên phải đưa ra trường hợp đó thì mới khai thác hết bài.
c Các bài toán có lời văn ở những tiết hình thành bảng nhân từ bảng nhân 6 đến bảng nhân 9.
- Những bài tập trong những tiết đó đều có mục đích là củng cố việc hình thành bảng nhân Đó là những bài tập đơn giản nhưng học sinh lại dễ bị sai khi viết phép tính Vậy khi dạy những bài tập này giáo viên phải rèn cho học sinh hiểu ý nghĩa phép tính, mặc dù hai bài toán có cùng kết quả nhưng ý nghĩa lại khác nhau
Ví dụ: Khi dạy bài bảng nhân 6
Bài tập 2: (Trang 19 – sách giáo khoa Toán 3)
Mỗi thùng có 6l dầu Hỏi 5 thùng như thế có tất cả bao nhiêu lít dầu?
- Học sinh tóm tắt và giải bài toán
Tóm tắt:
Bài giải
Số lít dầu của 5 thùng là:
6 x 5 = 30( lít) (1) Đáp số: 30 lít Giáo viên phải đưa ra trường hợp sai để học sinh so sánh và hiểu ý nghĩa của bài toán:
Bài giải
Số lít dầu của 5 thùng là:
5 x 6 = 30 ( lít) (2) Đáp số: 30 lít + Trong (1) thì 6 lít dầu được lấy 5 lần
+ Trong ( 2) thì 5 lít dầu được lấy 6 lần
* Ý nghĩa phép tính khác nhau nên học sinh biết và sẽ không bị mắc phải trong những bài sau
d Gấp một số lên nhiều lần:
- Đối với dạng bài toán này, giáo viên rèn cho học sinh kĩ năng để tìm ra phép tính trong bài giải là đơn giản Giáo viên định hướng cho học sinh nếu
trong bài có từ gấp lần thì sẽ làm phép tính nhân Nhưng nếu chỉ dừng đó thì
học sinh chưa hiểu bài mà sự hiểu bài của học sinh phải được thông qua bước vẽ
sơ đồ đoạn thẳng để tóm tắt bài toán
Ví dụ: Bài toán ( Trang 33 – SGK Toán 3)
Đoạn thẳng AB dài 2cm, đoạn thẳng CD dài gấp 3 lần đoạn thẳng AB
6l
?l
Trang 9Hỏi đoạn thẳng CD dài mấy xăng-ti-mét?
- Tóm tắt đúng:
A B
Bài giải
Đoạn thẳng CD dài số xăng-ti-mét là:
2 x 3 = 6 (cm) Đáp số: 6 cm
- Tóm tắt sai:
(2)
- Giáo viên định hướng cho học sinh biết được vì sao cách tóm tắt (2) lại sai ? Tại vì ta coi độ dài AB là một phần thì độ dài đoạn CD là 3 phần như thế Tức là lấy độ dài đoạn AB làm tiêu chí để vẽ độ dài đoạn CD (lấy cái đã biết để
vẽ cái chưa biết) chứ không phải lấy cái chưa biết là độ dài đoạn CD để vẽ cái
đã biết là đoạn AB
Khi hiểu được thì học sinh sẽ có kĩ năng làm bài
e Giảm đi một số lần:
- Khi dạy dạng toán này, giáo viên dạy không nên máy móc dùng hình ảnh con gà trong sách giáo khoa mà nên thay bằng một bài toán có hình ảnh thực tế khác như bông hoa, que tính để học sinh cũng có thể làm được thao tác
từ mô hình trực quan như của giáo viên mà cuối cùng vẫn rút ra được kết luận chung Có như vậy mới gây được hứng thú của học sinh tiết học đó
- Đây cũng là dạng toán tóm tắt bằng sơ đồ đoạn thẳng và học sinh rất dễ bị nhầm lẫn cách tóm tắt bài toán của dạng bài “ gấp một số lên nhiều lần” Vì vậy giáo viên phải rèn cho học sinh kĩ năng tóm tắt bài toán để hiểu được ý nghĩa của dạng toán này Khi hiểu được bản chất thì học sinh mới có kĩ năng làm toán
Ví dụ: Độ dài đoạn thăng AB là 8cm Độ dài đoạn thẳng AB giảm 4 lần thì
được độ dài đoạn CD Tính độ dài đoạn thẳng CD
Để hình thành cho học sinh kĩ năng xác định được phép tính trong bài giải của dạng toán này cũng đơn giản Giáo viên chỉ cần định hướng cho học sinh
khi gặp dạng toán nào mà trong bài có chữ “giảm lần” thì sẽ làm phép tính
2cm
?cm
2cm
?cm
Trang 10Đôi khi học sinh máy móc làm phép tính đúng nhưng câu trả lời bị sai thì giáo viên phải rèn kĩ năng thành thói quen cho học sinh để có câu trả lời đúng dựa vào tóm tắt bài toán
Giáo viên rèn kĩ năng tóm tắt bài toán của dạng toán này như sau: Cái đầu bài cho là cái đã biết được biểu diễn thành một đoạn thẳng, cái đã biết đó được giảm đi mấy lần thì đoạn thẳng đó được chia thành bấy nhiêu phần bằng nhau tương ứng
+ Tóm tắt bài toán trên:
Nhìn vào cách tóm tắt, học sinh cũng có thể hiểu được rằng: Tìm dữ liệu đầu bài yêu cầu chính là đi tìm một phần mấy của một số (Bài tập 2b trang 38 – sách giáo khoa Toán 3)
f So sánh số lớn gấp mấy lần số bé và so sánh số bé bằng một phần mấy số lớn
- Hai dạng toán này học sinh rất dễ nhầm lẫn vì vậy giáo viên phải có kĩ năng định hướng cho học sinh tóm tắt, phân biệt hai dạng toán
Dạng 1: So sánh số lớn gấp mấy lần số bé.
- Để học sinh có kĩ năng giải toán thì giáo viên tự rút ra một kết luận để học sinh dựa vào đó để làm mà trong sách giáo khoa không đưa ra
Muốn tìm số lớn gấp mấy lần số bé, ta lấy số lớn chia cho số bé
- Đôi khi học sinh còn lúng túng về câu trả lời vậy thì giáo viên định hướng cho học sinh bằng cách: Lấy câu hỏi trong bài toán, bỏ từ “ hỏi” đi, thay chữ “ mấy” bằng chữ “ số”
Như vậy học sinh sẽ không bị sai câu trả lời
Dạng 2: So sánh số bé bằng một phần mấy số lớn.
Khi nắm được kĩ năng giải của dạng 1 thì học sinh giải dạng 2 một cách
dễ dàng
Bước 1: Tìm số lớn gấp mấy lần số bé
Bước 2: Trả lời số bé bằng một phần mấy số lớn
Giáo viên lưu ý dạy cho học sinh cách ghi đơn vị và đáp số của hai dạng toán
g Bài toán giải bằng hai phép tính:
- Đây là bài toán hợp, giáo viên phải rèn cho học sinh kĩ năng phân tích bài toán Để giúp cho học sinh có kĩ năng giải dạng toán này thì giáo viên phải dùng cả 4 phương pháp dạy học như đã nêu ban đầu
8cm
?cm