1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khởi tố vụ án hình sự trong Luật tố tụng hình sự Việt Nam (trên cơ sở số liệu thực tiễn tại địa bàn thành phố Hải Phòng)

117 99 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 117
Dung lượng 639,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luận văn đã làm sáng tỏ về mặt lý luận các trường hợp khởi tố vụ án hình sự theo Luật tố tụng hình sự Việt Nam và việc áp dụng vào thực tiễn trên địa bàn thành phố Hải Phòng, từ đó đưa ra kiến nghị hoàn thiện Bộ luật tố tụng hình sự của nước ta, cũng như kiến nghị giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng, qua đó, góp phần đấu tranh phòng, chống tội phạm.Luận văn đã làm sáng tỏ về mặt lý luận các trường hợp khởi tố vụ án hình sự theo Luật tố tụng hình sự Việt Nam và việc áp dụng vào thực tiễn trên địa bàn thành phố Hải Phòng, từ đó đưa ra kiến nghị hoàn thiện Bộ luật tố tụng hình sự của nước ta, cũng như kiến nghị giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng, qua đó, góp phần đấu tranh phòng, chống tội phạm.

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

HỒ VĨNH NAM

KhởI Tố Vụ áN HìNH Sự TRONG LUậT Tố TụNG HìNH Sự VIệT NAM

(Trên cơ sở số liệu thực tiễn tại địa bàn thành phố Hải Phòng)

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2018

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

HỒ VĨNH NAM

KhởI Tố Vụ áN HìNH Sự TRONG LUậT Tố TụNG HìNH Sự VIệT NAM

(Trên cơ sở số liệu thực tiễn tại địa bàn thành phố Hải Phòng)

Chuyờn ngành: Luật hỡnh sự và tố tụng hỡnh sự

Mó số: 8380101.03

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: GS.TS ĐỖ NGỌC QUANG

HÀ NỘI - 2018

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứukhoa học của riêng tôi Các số liệu, ví dụ và trích dẫntrong luận văn đảm bảo độ tin cậy, chính xác và trungthực Những kết luận khoa học của luận văn chưa từngđược ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Hồ Vĩnh Nam

Trang 4

1.1 Khái niệm khởi tố vụ án hình sự và phân biệt khởi tố vụ án

hình sự với khởi tố bị can 8

1.1.1 Khái niệm khởi tố vụ án hình sự 81.1.2 Phân biệt khởi tố vụ án hình sự với khởi tố bị can 11

1.2 Vị trí, nội dung hoạt động tố tụng trong khởi tố vụ án hình sự

và thời điểm bắt đầu, thời điểm kết thúc của việc khởi tố vụ

án hình sự 14

1.2.1 Vị trí của khởi tố vụ án hình sự trong các giai đoạn tố tụng

hình sự 141.2.2 Nội dung hoạt động tố tụng trong khởi tố vụ án hình sự 151.2.3 Thời điểm bắt đầu, thời điểm kết thúc của việc khởi tố vụ án

hình sự 21

1.3 Quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam về khởi tố

vụ án hình sự trước khi ban hành Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 22

1.3.1 Quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố vụ án hình sự

từ năm 1945 đến trước khi ban hành Bộ luật tố tụng hình sự 1988 221.3.2 Quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố vụ án hình sự

Trang 5

từ khi ban hành Bộ luật tố tụng hình sự 1988 đến trước khi banhành Bộ luật tố tụng hình sự 2003 25

1.4 Khởi tố vụ án hình sự các mô hình tố tụng điểm hình của một số

quốc gia trên thế giới 28

1.4.1 Khởi tố vụ án hình sự trong mô hình tố tụng thẩm vấn 281.4.2 Khởi tố vụ án hình sự trong mô hình tố tụng tranh tụng (Anh, Mỹ) 311.4.3 Khởi tố vụ án hình sự trong mô hình tố tụng các nước xã hội chủ

nghĩa trước đây (Nga, Trung Quốc) 33

Chương 2: QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VỀ

KHỞI TỐ VỤ ÁN HÌNH SỰ VÀ THỰC TIỄN THI HÀNH TẠI ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG 40 2.1 Quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam về khởi tố

vụ án hình sự theo Bộ luật tố tụng hình sự 2003 40

2.1.1 Căn cứ khởi tố vụ án hình sự và căn cứ không khởi tố vụ án

hình sự 402.1.2 Thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự 542.1.3 Quyết định khởi tố vụ án hình sự và quyết định không khởi tố vụ

án hình sự 592.1.4 Khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của người bị hại 662.1.5 Quyền hạn, trách nhiệm của Viện Kiểm sát trong khởi tố vụ án

hình sự 75

2.2 Thực tiễn thi hành pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố vụ án

hình sự tại địa bàn thành phố Hải Phòng từ năm 2010 đến 2016

772.2.1 Tình hình chung về địa chính trị, kinh tế thành phố Hải Phòng 772.2.2 Tình hình khởi tố vụ án hình sự, không khởi tố vụ án hình sự trên

địa bàn thành phố Hải Phòng 782.2.3 Những vướng mắc trong thực thi pháp luật tố tụng hình sự về

khởi tố vụ án hình sự trên địa bàn thành phố Hải Phòng 83

Trang 6

2.2.4 Những nguyên nhân gây nên những vướng mắc trong thực thi

pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố vụ án hình sự trên địa bànthành phố Hải Phòng 89

Chương 3: CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC THI

PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VỀ KHỞI TỐ VỤ ÁN HÌNH SỰ 91 3.1 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 quy định về khởi tố vụ án hình sự

913.1.1 Những nội dung mới của Bộ luật tố tụng hình sự 2015 quy định

về khởi tố vụ án hình sự so với Bộ luật tố tụng hình sự 2003 913.1.2 Những vướng mắc trong thực thi pháp luật tố tụng hình sự về

khởi tố vụ án hình sự trong Bộ luật tố tụng hình sự 2003 chưađược hoàn thiện trong Bộ luật tố tụng hình sự 2015 963.1.3 Một số vướng mắc khác trong quá trình thực hiện Bộ luật tố tụng

3.3.1 Mở các lớp bồi dưỡng chuyên đề về khởi tố vụ án hình sự cho

Điều tra viên, kiểm sát viên 1023.3.2 Tăng cường thanh tra, kiểm tra hoạt động khởi tố vụ án hình sự 103

3.4 Các giải pháp khác 104

3.4.1 Tăng cường công tác quản lý, chỉ đạo điều hành của lãnh đạo đáp

ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới 1043.4.2 Nâng cao hiểu biết và thực thi pháp luật của người dân 105

Trang 7

KẾT LUẬN 106 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 107

Trang 8

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ CÁI VIẾT TẮT

Ký hiệu Nội dung

XHCN: Xã hội chủ nghĩa

TTHS: Tố tụng hình sự

BLTTHS: Bộ luật tố tụng hình sự

BLHS: Bộ luật hình sự

CHLB: Cộng hòa liên bang

CQCSĐT: Cơ quan Cảnh sát điều tra

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1 Số liệu về quyết định khởi tố, quyết định không khởi

tố vụ án hình sự trên địa bàn thành phố Hải Phòng từ

Bảng 2.2 Số liệu về quyết định khởi tố, quyết định không khởi tố

vụ án hình sự của Các cơ quan điều tra trên địa bànthành phố Hải Phòng từ năm 2010 đến tháng 6 năm

Bảng 2.3 Thống kê số liệu án đình chỉ điều tra trên địa bàn thành

phố Hải Phòng từ năm 2010 đến tháng 6 năm 2018 82

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong giai đoạn hiện nay, Đảng và Nhà nước ta xác định một trongnhững phương hướng trọng tâm của công cuộc cải cách tư pháp, xây dựngnhà nước pháp quyền XHCN là: … Hoàn thiện chính sách, pháp luật hình

sự và dân sự phù hợp với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủnghĩa, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam củanhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; hoàn thiện các thủ tục tố tụng tư pháp,bảo đảm tính đồng bộ, dân chủ, công khai, minh bạch, tôn trọng và bảo vệquyền con người…

Do vậy, nhiệm vụ của các ngành, các cấp trong giai đoạn hiện nay tiếptục hoàn thiện hệ thống pháp luật phục vụ cho công cuộc đổi mới trên tất cảcác lĩnh vực của đời sống xã hội được coi là một trong những nhiệm vụ cấpbách của Nhà nước ta, tiến tới xây dựng một Nhà nước pháp quyền xã hội chủnghĩa thực sự là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân

Trong Nhà nước pháp quyền, pháp luật luôn luôn là một công cụ quantrọng để Nhà nước thực hiện sự quản lý đối với toàn xã hội, đồng thời phápluật cũng là một công cụ để củng cố và bảo vệ sự tồn tại của Nhà nước Điềuđặc biệt hơn chính là quyền con người, quyền công dân được coi trọng và bảođảm và đã được đề cập trong một Chương II của Hiến pháp mới năm 2013.Mọi hoạt động của Nhà nước, của cá nhân nào đó đi ngược lại với lợi ích hợppháp của con người, xâm phạm tới quyền công dân đã được Hiến pháp vàpháp luật quy định đều phải bị lên án và bị xử lý nghiêm khắc Ngoài ra,Đảng ta đã khẳng định:

Đẩy mạnh việc thực hiện Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020,xây dựng hệ thống tư pháp trong sạch, vững mạnh, bảo vệ công lý, tôn trọng

Trang 11

và bảo vệ quyền con người Hoàn thiện chính sách, pháp luật về hình sự, dân

sự, thủ tục tố tụng tư pháp và về tổ chức bộ máy các cơ quan tư pháp, bảođảm tính khoa học, đồng bộ, đề cao tính độc lập, khách quan, tuân thủ phápluật của từng cơ quan và chức danh tư pháp

Khởi tố vụ án hình sự là giai đoạn đầu tiên của hoạt động tố tụng hình

sự, có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định có hay không dấu hiệu tội phạm

để quyết định đưa vụ việc giải quyết theo thủ tục tố tụng hình sự với nguyêntắc "Mọi hình vi phạm tội phải được phát hiện kịp thời, xử lí nhanh chóng,công minh, theo đúng pháp luật" Trên tinh thần đó, Bộ luật tố tụng hình sựnăm 2003 tại Điều 1 quy định: Bộ luật tố tụng hình sự quy định trình tự, thủtục khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự nhằm chủ độngphòng ngừa, ngăn chặn tội phạm, phát hiện chính xác, nhanh chóng và xử lýcông minh, kịp thời mọi hành vi phạm tội, không để lọt tội phạm, không làmoan người vô tội

Bộ luật tố tụng hình sự góp phần bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa bảo vệlợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức, bảo vệtrật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa, đồng thời giáo dục mọi người ý thức tuânthủ pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm

Khởi tố vụ án hình sự là một giai đoạn của quá trình tố tụng hình sự,đây là giai đoạn đầu tiên, mở đầu cho các giai đoạn tiếp theo của tố tụng hình

sự trong vụ án hình sự Giai đoạn này bắt đầu từ việc tiếp nhận và phát hiệncác nguồn thông tin về tội phạm và kết thúc bằng việc cơ quan có thẩm quyền

ra quyết định khởi tố hay không khởi tố vụ án hình sự Khởi tố vụ án hình sự

có căn cứ đúng pháp luật là cơ sở cho các hoạt động tiếp theo, ngược lại khởi

tố không có căn cứ pháp luật sẽ dẫn đến tình trạng làm oan người vô tội hoặc

bỏ lọt tội phạm Các qui định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 về khởi tố

vụ án hình sự nói chung và căn cứ, cơ sở khởi tố vụ án hình sự nói riêng là cơ

Trang 12

sở pháp lý để các cơ quan có thẩm quyền thực thi có hiệu quả quyết định đưa

sự việc giải quyết bằng thủ tục tố tụng hình sự Đồng thời nó cũng là nhữngcông cụ để bảo vệ quyền con người trong tố tụng hình sự góp phần thực hiệnđấu tranh phòng ngừa tội phạm có hiệu quả

Tuy nhiên, thực tiễn thi hành Bộ luật tố tụng hình sự đã bộc lộ nhữnghạn chế trong các qui định của pháp luật, như: các quy định về trách nhiệmtiếp nhận thông tin về tội phạm, kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết thông tin

về tội phạm; các quy định về trách nhiệm xác định dấu hiệu tội phạm, tráchnhiệm quyết định khởi tố vụ án hình sự, quyết định không khởi tố vụ án hình

sự, công tác kiểm tra, giám sát, thanh tra hoạt động khởi tố vụ án hình sự vàchế độ bảo mật và bảo vệ người cung cấp thông tin về tội phạm còn hạn chế.Ngoài ra, trong hoạt động tố tụng hình sự vẫn còn tình trạng các cơ quan có thẩmquyền xác định không đúng căn cứ và cơ sở khởi tố vụ án hình sự nên dẫn đếntình trạng bỏ lọt tội phạm, bắt, giữ, giam, truy tố oan sai người vô tội Thựctrạng đó làm ảnh hưởng đến uy tín của Nhà nước mà trước hết là uy tín củacác cơ quan bảo vệ pháp luật, xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp củacông dân, làm giảm lòng tin của nhân dân đối với nền tư pháp xã hội chủnghĩa

Thành phố Hải Phòng là thành phố trực thuộc trung ương, có kinh tế xãhội phát triển, dân số đông đúc, với địa bàn rộng lớn và nhiều phức tạp Tuynhiên, trong thời gian vừa qua, tình hình tội phạm và các vi phạm pháp luậtkhác trên địa bàn Hải Phòng có nhiều diễn biến phức tạp Số lượng các vụ ánnghiêm trọng, rất nghiệm trọng, đặc biệt nghiêm trọng diễn ra ngày càng nhiều.Trước tình hình đó, các cơ quan tiến hành tố tụng đặc biệt là cơ quan điều tra,Viện kiểm sát đã tích cực khởi tố các vụ án hình sự để thực hiện việc điều tra,truy tố, xét xử Tuy nhiên, chất lượng khởi tố trên địa bàn còn nhiều hạn chế, sốlượng các vụ án khởi tố sai thẩm quyền, sai thời hạn, sai trình tự, thủ tục, sai về

Trang 13

tội danh vẫn còn xảy ra và cần được khắc phục trong thời gian tới.

Từ những lý do nêu trên, nên tôi quyết định chọn đề tài Khởi tố vụ án

hình sự trong Luật tố tụng hình sự Việt Nam (Trên cơ sở số liệu thực tiễn tại địa bàn thành phố Hải Phòng) làm luận văn thạc sĩ luật học của mình.

2 Tình hình nghiên cứu

Về quy định Những căn cứ khởi tố vụ án hình sự trong Luật tố tụng

hình sự đã có một số công trình nghiên cứu nhưng chưa nhiều, nội dungnghiên cứu mới chỉ tập trung vào một vài khía cạnh của quy định về: nhữngcăn cứ khởi tố vụ án hình sự Các công trình nghiên cứu có một phần nộidung trực tiếp đề cập đến quy định về những căn cứ khởi tố vụ án hình sự chủ

yếu là các cuốn: Bình luận khoa học Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 do

GS.TS Võ Khánh Vinh chủ biên, Nxb Công an nhân dân, năm 2004; cuốn

Bình luận khoa học Bộ luật tố tụng hình sự (Học viện Khoa học xã hội, Nxb.

Tư pháp, Hà Nội, năm 2013) và một số giáo trình Luật tố tụng hình sự Việt

Nam của các cơ sở đào tạo luật như: Giáo trình Luật tố tụng hình sự Việt Nam (Khoa Luật- Đại học Quốc gia Hà Nội, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội,

Hà Nội, năm 2014 do PGS.TS Nguyễn Ngọc Chí chủ biên); Giáo trình Luật

tố tụng hình sự Việt Nam (Trường Đại học Luật Hà Nội Nxb Công an nhân

dân, Hà Nội, năm 2011 do PGS.TS Hoàng Thị Minh Sơn chủ biên); v.v Bên cạnh đó, quy định về những căn cứ không khởi tố vụ án hình sự còn được

đề cập một cách trực tiếp trong một số bài viết được đăng trên các tạp chí

pháp luật: Căn cứ không khởi tố vụ án hình sự và một số quy định liên quan (TS Phan Thị Thanh Mai, Tạp chí Luật học số 7/2010); Hoàn thiện quy định của Bộ luật tố tụng hình sự về không khởi tố vụ án hình sự (Ths Hoàng Duy

Hiệp, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, số tháng 8(269)/2014)

Tuy nhiên, đến thời điểm hiện nay, vẫn chưa có tác giả nào trực tiếpnghiên cứu về vấn đề khởi tố vụ án hình sự trong Bộ luật tố tụng hình sự Việt

Trang 14

Nam năm 2015 và so sánh sự khác nhau về vấn đề khởi tố vụ án hình sự giữa

Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 và Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 dướigóc độ một luận văn thạc sĩ luật học, cũng như đánh giá thực tiễn áp dụng trênđịa bàn một địa phương cụ thể là thành phố Hải Phòng

3.1 Mục đích nghiên cứu

Luận văn có mục đích làm sáng tỏ về mặt lý luận các trường hợp khởi

tố vụ án hình sự theo Luật tố tụng hình sự Việt Nam và việc áp dụng vào thựctiễn trên địa bàn Hải Phòng, từ đó đưa ra kiến nghị hoàn thiện Bộ luật tố tụnghình sự của nước ta, cũng như kiến nghị giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng,qua đó, góp phần đấu tranh phòng, chống tội phạm

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Trên cơ sở mục đích nghiên cứu đã nêu, luận văn có phạm vi nghiên cứu

là các vấn đề lý luận và thực tiễn về những thủ tục, căn cứ khởi tố vụ án hình

sự trong Luật tố tụng hình sự Việt Nam, đồng thời đánh giá thực tiễn áp dụngviệc khởi tố vụ án hình sự trên địa bàn Hải Phòng, từ đó chỉ ra một số tồn tại,hạn chế và các nguyên nhân cơ bản để đề xuất kiến nghị hoàn thiện Bộ luật tốtụng hình sự, đồng thời có những kiến nghị khác nâng cao hiệu quả áp dụng,góp phần nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm

4 Đối tượng và nhiệm vụ nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những quy định về khởi tố vụ ánhình sự trong Luật tố tụng hình sự Việt Nam trên cơ sở thực tiễn tại địa bànthành phố Hải Phòng

4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Luận văn có nhiệm vụ nghiên cứu sau đây:

1) Làm rõ khái niệm khởi tố vụ án hình sự, bản chất pháp lý và phân tíchcác đặc điểm cơ bản, các mối liên hệ của nó với các quy định có liên quan

Trang 15

trong Luật hình sự và Luật tố tụng hình sự Việt Nam;

2) Khái quát lịch sử hình thành và phát triển của các quy định về khởi

tố vụ án hình sự theo Luật tố tụng hình sự Việt Nam từ sau Cách mạng thángTám năm 1945 đến nay;

3) Nghiên cứu quy định này trong Bộ luật tố tụng hình sự một số nướctrên thế giới để rút ra nhận xét;

4) Phân tích quy định về khởi tố vụ án hình sự trong Bộ luật tố tụnghình sự Việt Nam và đánh giá thực tiễn áp dụng trên địa bàn thành phố HảiPhòng của các cơ quan tiến hành tố tụng, từ đó chỉ ra các tồn tại, hạn chế vànhững nguyên nhân cơ bản;

5) Luận chứng và đề xuất giải pháp hoàn thiện quy định về khởi tố vụ

án hình sự theo Bộ luật tố tụng hình sự Việt Nam;

6) Kiến nghị giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng quy định về khởi tố

vụ án hình sự theo Luật tố tụng hình sự Việt Nam

5 Cơ sở lý luận và các phương pháp nghiên cứu

5.1 Cơ sở lý luận

Luận văn dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lê Nin, tư tưởng HồChí Minh về nhà nước và pháp luật, đường lối, chính sách của Đảng và Nhànước ta trong đấu tranh phòng và chống tội phạm,… Đồng thời dựa trênnhững thành tựu của khoa học như: Triết học, Luật hình sự, Luật tố tụng hình

sự, Tội phạm học

5.2 Các phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu như: phương pháp phântích, tổng hợp, so sánh, thống kê, hệ thống… để tổng hợp các tri thức khoahọc Luật hình sự, Luật tố tụng hình sự và luận chứng các vấn đề tương ứngđược nghiên cứu Ngoài ra, việc nghiên cứu đề tài còn dựa vào thực tiễn điềutra, truy tố các vụ án hình sự của các cơ quan tiến hành tố tụng trong những

Trang 16

năm gần đây trên địa bàn thành phố Hải Phòng

6 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dungcủa luận văn gồm 3 chương:

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ KHỞI TỐ VỤ ÁN HÌNH SỰ

1.1 Khái niệm khởi tố vụ án hình sự và phân biệt khởi tố vụ án hình sựvới khởi tố bị can

1.2 Vị trí, nội dung hoạt động tố tụng trong khởi tố vụ án hình sự vàthời điểm bắt đầu, thời điểm kết thúc của việc khởi tố vụ án hình sự

1.3 Quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam về khởi tố vụ ánhình sự trước khi ban hành Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003

1.4 Khởi tố vụ án hình sự các mô hình tố tụng điển hình của một số quốcgia trên thế giới

Chương 2 QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VỀ KHỞI TỐ VỤ ÁN HÌNH SỰ VÀ THỰC TIỄN THI HÀNH TẠI ĐỊA BÀN

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

2.1 Quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam về khởi tố vụ ánhình sự theo Bộ luật tố tụng hình sự 2003

2.2 Thực tiễn thi hành pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố vụ án hình

sự tại địa bàn thành phố Hải Phòng từ năm 2010 đến 2016

Chương 3 CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC THI

PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VỀ KHỞI TỐ VỤ ÁN HÌNH SỰ

3.1 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 quy định về khởi tố vụ án hình sự3.2 Giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố vụ ánhình sự

3.3 Các giải pháp đối với những người tiến hành tố tụng có liên quanđến khởi tố vụ án hình sự

3.4 Các giải pháp khác

Trang 17

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Chương 1

NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ KHỞI TỐ VỤ ÁN HÌNH SỰ

1.1 Khái niệm khởi tố vụ án hình sự và phân biệt khởi tố vụ án hình sự với khởi tố bị can

1.1.1 Khái niệm khởi tố vụ án hình sự

Theo pháp luật tố tụng của hầu hết các quốc gia cũng như ở Việt Namthì, mỗi giai đoạn tố tụng có những nhiệm vụ tố tụng nhất định Trong đó,nhiệm vụ chung cơ bản của toàn bộ hoạt động tố tụng hình sự là phát hiện, xử

lý kịp thời, đúng đắn, khách quan, công minh tội phạm Để hoàn thành đượcnhiệm vụ chung này, quá trình tố tụng được thực hiện qua các giai đoạn khácnhau với mỗi nhiệm vụ cụ thể riêng của mình: nhiệm vụ giai đoạn khởi tố vụ

án là xác định dấu hiệu tội phạm để ra quyết định khởi tố hay không khởi tố

vụ án; nhiệm vụ giai đoạn điều tra là xác định các tình tiết của tội phạm vàngười phạm tội để ra quyết định khởi tố bị can, kết thúc điều tra đề nghị truy

tố hoặc đình chỉ điều tra… Trong đó, khởi tố vụ án hình sự là giai đoạn đầutiên trong chuỗi các hoạt động để giải quyết vụ án hình sự nên việc xác địnhthẩm quyền trong hoạt động có ý nghĩa rất quan trọng Mặc dù pháp luật đã

có quy định rất cụ thể và chi tiết, tuy nhiên trên thực tế, việc áp dụng thựchiện thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự vẫn còn tồn tại nhiều bất cập

Hiện nay, trong khoa học luật tố tụng hình sự, thuật ngữ “khởi tố vụ án hình sự” có thể được hiểu ở nhiều góc độ khác nhau Tuy nhiên, thông thường thì thuật ngữ “khởi tố vụ án hình sự” được hiểu dưới góc độ là một

giai đoạn độc lập của quá trình tố tụng hình sự

Theo Từ điển Luật học của Viện Khoa học pháp lý (Bộ Tư pháp) thì:

“Khởi tố vụ án hình sự là hoạt động của cơ quan tiến hành tố tụng xác định

Trang 18

có sự việc phạm tội để tiến hành điều tra phát hiện tội phạm” [18, tr.429] Với

khái niệm này đã nêu được bản chất cũng như căn cứ của việc khởi tố đó làkhi “có sự việc phạm tội” ban đầu, hay có những nghi vấn của tội phạm xảy

ra thì mới tiến hành khởi tố vụ án để làm cơ sở cho việc tiến hành điều tra.Tuy nhiên, khái niệm đưa ra lại hoàn toàn chưa chính xác khi đề cập đến chủ

thể tiến hành các hoạt động để xác minh sự việc phạm tội Theo đó, bên cạnh

các cơ quan tiến hành tố tụng thì hoạt động khởi tố vụ án hình sự còn đượcthực hiện bởi một số các cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một sốhoạt động điều tra nếu phát hiện về sự việc có dấu hiệu tội phạm xảy ra như:

Bộ đội biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm, lực lượng Cảnh sát biển

Theo, giáo trình Luật Tố tụng hình sự Việt Nam của Trường Đại học LuậtThành phố Hồ Chí Minh đưa ra định nghĩa khởi tố vụ án hình sự như sau:

Khởi tố vụ án hình sự là một giai đoạn độc lập của quátrình chứng minh vụ án hình sự, trong đó cơ quan có thẩm quyềnxác định có hay không dấu hiệu tội phạm để quyết định khởi tốhoặc quyết định không khởi tố vụ án Giai đoạn khởi tố bắt đầu từviệc tiếp nhận thông tin về tội phạm hoặc phát hiện dấu hiệu tộiphạm và kết thúc bằng một quyết định khởi tố hoặc không khởi tố

vụ án hình sự [17, tr 330]

Với định nghĩa này có ưu điểm là không giới hạn phạm vi chủ thể thamgia vào hoạt động xác minh sự việc phạm tội, và chỉ rõ thời điểm bắt đầu cũngnhư thời điểm kết thúc của nó, cũng như việc chỉ rõ được cơ sở để khởi tố vụ

án hình sự là khi có dấu hiệu của tội phạm Tuy vậy, việc cho rằng khởi tố vụ

án hình sự là một giai đoạn trong quá trình chứng minh là chưa chính xác

Tại giáo trình Luật Tố tụng hình sự Việt Nam của Trường Đại học Luật

Hà Nội tuy đưa ra ngắn gọn hơn nhưng lại khá đầy đủ về bản chất và nội dungcủa giai đoạn khỏi tố vụ án hình sự, theo đó Giáo trình định nghĩa như sau:

Trang 19

“Khởi tố vụ án hình sự là giai đoạn mở đầu của trình tự tố tụng, trong đó cơ quan có thẩm quyền xác định sự việc xảy ra có dấu hiệu của tội phạm hay không

để quyết định khởi tố hay quyết định không khởi tố vụ án hình sự” [16, tr 233].

Như vậy, theo định nghĩa trên thì khởi tố vụ án hình sự được xem là giai đoạnđầu tiên, mở đầu cho quá trình tố tụng hình sự Giai đoạn điều tra tiếp theo cóđược tiếp tục nếu trong giai đoạn khởi tố vụ án đã xác minh được dấu hiệu tộiphạm thể hiện bằng Quyết định khởi tố vụ án Ngược lại nếu Quyết địnhkhông khởi tố vụ án được đưa ra thì chứng tỏ rằng không có dấu hiệu tộiphạm và như vậy cũng không bước sang giai đoạn điều tra tiếp theo

Ngoài các định nghĩa trong các giáo trình nói trên thì cũng có nhiều cácchuyên gia luật học đã đưa ra quan điểm của mình về khái niệm khởi tố vụ án.Tiêu biểu cho rất nhiều các học giả đó, có GS.TSKH Lê Cảm, theo đó:

Khởi tố vụ án hình sự là giai đoạn tố tụng hình sự đầu tiên

mà trong đó cơ quan tư pháp hình sự có thẩm quyền căn cứ vàocác quy định của pháp luật tố tụng hình sự tiến hành việc xácđịnh có (hay không) các dấu hiệu của tội phạm trong hành vinguy hiểm cho xã hội đã được thực hiện, đồng thời ban hànhquyết định về việc khởi tố (hoặc không khởi tố) vụ án hình sựliên quan đến hành vi đó [1, tr.21]

Trong định nghĩa này, có một điểm chưa hoàn toàn chính xác đó làGiáo sư đã khẳng định chủ thể tiến hành hoạt động là cơ quan tư pháp, do đólại vẫn bỏ sót các chủ thể có thể tiến hành hoạt động xác minh các dấu hiệuphạm tội khác như Bộ đội biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm, lực lượng Cảnhsát biển như đã nói đến trong phân tích định nghĩa về khởi tố vụ án hình sựtrong từ điển Luật học Tuy nhiên, trong định nghĩa này Tiến sĩ đã đưa vào

một yếu tố rất quan trọng, đó là các cơ quan tư pháp hình sự phải “căn cứ vào các quy định của pháp luật tố tụng hình sự” khi tiến hành việc xác định có

Trang 20

hay không các dấu hiệu của tội phạm Bởi lẽ, hoạt động xác minh chỉ có giátrị chứng minh và được sử dụng làm chứng cứ khi hoạt động đó tuân thủ cácquy định của pháp luật tố tụng hình sự.

Như vậy, trong các định nghĩa về khởi tố vụ án hình sự nêu trên có một

số điểm chung thống nhất mà tác giả luận văn này cũng hoàn toàn nhất trí như sau:

Thứ nhất, khởi tố vụ án hình sự là giai đoạn tố tụng hình sự đầu tiên,

mở đầu cho quá trình tố tụng hình sự

Thứ hai, trong giai đoạn khởi tố vụ án hình sự, nhiệm vụ của các cơ

quan có thẩm quyền là tiếp nhận các nguồn tin về các vụ án có dấu hiệu tộiphạm Sau đó, tiến hành xác minh, thẩm tra các nguồn tin này để từ đó banhành mộ trong hai quyết định: Quyết định khởi tố vụ án hình sự sau khi xácđịnh hành vi có dấu hiệu của tội phạm hoặc Quyết định không khởi tố vụ ánhình sự sau khi xác định hành vi không có dấu hiệu của tội phạm

Trên cơ sở tiếp thu các khái niệm về khởi tố vụ án nêu trên, cùng với

những điểm chung thống nhất đó, tác giả đưa ra khái niệm như sau: Khởi tố

vụ án hình sự là giai đoạn tố tụng hình sự đầu tiên, được bắt đầu từ khi tiếp nhận thông tin về tội phạm, để cơ quan hoặc người có thẩm quyền căn cứ vào các quy định của pháp luật hình sự và tố tụng hình sự xác định có hay không dấu hiệu tội phạm từ đó ban hành quyết định khởi tố hoặc quyết định không khởi tố vụ án.

1.1.2 Phân biệt khởi tố vụ án hình sự với khởi tố bị can

Khởi tố vụ án và khởi tố bị can có điểm giống nhau đó là cơ sở bắt đầucho việc điều tra công khai theo trình tự thủ tục mà Luật TTHS quy định,nhưng khác nhau về thời điểm và căn cứ khởi tố Đối với Quyết định khởi tố

vụ án không đặt nhiệm vụ yêu cầu xác định ai là nghi phạm cần chứng minhhành vi phạm tội Trong khi đó, quyết định khởi tố bị can là phải xác địnhchính xác một người hoặc pháp nhân cụ thể bị tình nghi thực hiện hành vi

Trang 21

phạm tội Khởi tố bị can không chỉ được tiến hành ở giai đoạn khởi tố vụ án

mà còn được thực hiện trong giai đoạn điều tra hay trong giai đoạn truy tố nếuphát hiện có người thực hiện tội phạm Việc khởi tố vụ án, khởi tố bị can lànhững hành vi đầu tiên của quá trình tố tụng mà thẩm quyền ban hành cácquyết định này chỉ được giao cho các cơ quan có khả năng điều tra thu thậpchứng cứ chứng minh tội phạm và người phạm tội

Để phân biệt khởi tố vụ án và khởi tố bị can trong TTHS, cần dựa vào

ba tiêu chí sau đây:

Thứ nhất, về căn cứ khởi tố, nếu khởi tố vụ án hình sự muốn đưa ra

quyết định khởi tố được thì phải căn cứ vào ít nhất một trong năm căn cứđược quy định tại Điều 100 Bộ luật tố tụng hình sự 2003, đó là dựa vào tốgiác của công dân hoặc tin báo của cơ quan, tổ chức, hay tin báo trên phươngtiện thông tin đại chúng Ngoài ra, kiến nghị khởi tố của cơ quan nhà nướchay việc Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trực tiếp phát hiện dấu hiệutội phạm cũng là những căn cứ quan trọng để khởi tố vụ án Một căn cứ nữa

để thực hiện việc khởi tố vụ án đó là việc người phạm tội tự thú Đối với khởi

tố bị can thì phải dựa vào việc sau khi đã có quyết định khởi tố vụ án, cơ quanđiều tra sẽ tiến hành điều tra vụ án Nếu quá trình điều tra này mà thu thậpđược những chứng cứ để xác định một người đã thực hiện hành vi mà Bộ luậthình sự quy định là tội phạm thì Cơ quan điều tra ra quyết định khởi tố bị can.Quyết định khởi tố bị can này phải được sự phê chuẩn của Viện kiểm sát nhândân cùng cấp với cơ quan điều tra

Việc cơ quan có thẩm quyền ban hành các quyết định khởi tố vụ án,khởi tố bị can còn giúp cho cơ quan có chức năng kiểm sát, giám sát hoạtđộng điều tra nắm được diễn biến tình hình tội phạm và công tác điều tra tộiphạm để có thể đặt ra các yêu cầu trong công tác phòng ngừa, đấu tranh, truy

tố, buộc tội người phạm tội, góp phần quan trọng trong công tác giữ gìn an

Trang 22

ninh trật tự đất nước.

Thứ hai, về thời điểm kết thúc việc khởi tố, theo Luật tố tụng hình

sự Việt Nam coi khởi tố vụ án là giai đoạn tố tụng, được bắt đầu kể từ khi cơquan có thẩm quyền nhận được những thông tin tội phạm từ các nguồn khácnhau về một sự việc, sự kiện có dấu hiệu phạm tội Sau khi tiếp nhận các nguồntin về dấu hiệu tội phạm từ các kênh thông tin khác nhau này, các cơ quan cóthẩm quyền sẽ tiếp tục thẩm tra, xác minh nội dung của nó Theo đó, thời điểmkết thúc của giai đoạn khởi tố vụ án được tính từ khi ra quyết định khởi tố vụ

án hình sự (trong trường hợp xác định có dấu hiệu tội phạm), hoặc quyết địnhkhông khởi tố vụ án hình sự (khi xác định không có dấu hiệu tội phạm)

Đối với khởi tố bị can, khởi tố bị can không phải là giai đoạn tố tụngnhư khởi tố vụ án, mà nó chỉ là hành vi tố tụng của người có thẩm quyền Cụthể, tại giai đoạn điều tra người có thẩm quyền sẽ ra quyết định khởi tố bị cansau khi đã xác định được một người cụ thể bị tình nghi về việc thực hiện hành

vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự, để có căn cứtiến hành các hoạt động điều tra đối với họ theo quy định của pháp luật tốtụng hình sự Và như vậy, thông thường quyết định khởi tố bị can sẽ thực hiệnsau thời điểm khởi tố vụ án Tuy nhiên, trong thực tế giải quyết vụ án hình sự,những cơ quan có thẩm quyền có thể ban hành hai quyết định này cùng mộtthời điểm, nếu tại sự việc, sự kiện phạm tội có dấu hiệu tội phạm và cũngđồng thời xác định được ngay người thực hiện hành vi phạm tội Chẳng hạn,trong các vụ án liên quan đến các tội về tham nhũng hay các tội về đánh bạc,hoặc các vụ án mà được khởi tố theo yêu cầu của người bị hại như tội hiếpdâm, tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác thì thường xác định được ngay dấu hiệu tội phạm và người thực hiện hành viphạm tội do đó, việc tiến hành hai quyết định khởi tố cùng một lúc là có cơ

sở Khi ra quyết định khởi tố bị can đối với một con người bị tình nghi thực

Trang 23

hiện một tội phạm thì sẽ ảnh hưởng trực tiếp quyền và lợi ích hợp pháp của

họ Người bị khởi tố đó có thể bị bắt để tạm giam hoặc áp dụng biện phápngăn chặn khác để bảo đảm cho hoạt động điều tra như khám xét nơi ở, nơilàm việc; hoặc có thể bị tạm đình chỉ chức vụ mà họ đang đảm nhiệm; bị triệutập để hỏi cung và các biện pháp điều tra khác Cho nên, việc khởi tố nóichung và khởi tố bị can nói riêng phải hết sức thận trọng làm sao để khởi tốđúng người đúng tội là điều quan trọng nhất

1.2 Vị trí, nội dung hoạt động tố tụng trong khởi tố vụ án hình sự

và thời điểm bắt đầu, thời điểm kết thúc của việc khởi tố vụ án hình sự

1.2.1 Vị trí của khởi tố vụ án hình sự trong các giai đoạn tố tụng hình sự

Xuất phát từ các khái niệm khoa học đã được đưa ra trong phần trên vềkhởi tố vụ án hình sự, chúng ta có thể nhận thức về bản chất pháp lý của nó.Với tính chất là một giai đoạn độc lập và đầu tiên của tố tụng hình sự, giaiđoạn khởi tố vụ án hình sự có chức năng thực hiện các nhiệm vụ cụ thể Khởi

tố vụ án hình sự là hoạt động đầu tiên của Nhà nước đối với hành vi phạm tội,

để thực hiện một trong những nhiệm vụ quan trọng của Luật tố tụng hình sự

là phát hiện, điều tra và xử lý kịp thời và có căn cứ, đảm bảo xử lý đúngngười, đúng hành vi phạm tội

Để minh chứng cho vấn đề xác định vị trí của hoạt động khởi tố vụ

án hình sự trong các giai đoạn tố tụng, có thể dẫn chứng một phát ngôn giátrị của một chuyên gia gạo cội, đáng tin cậy trong Khoa học luật tố tụnghình sự như sau:

Tố tụng hình sự Việt Nam được xác định như một hệ thốngcác giai đoạn thực hiện các hoạt động của các cơ quan tiến hành tốtụng mà giai đoạn trước là tiền đề của giai đoạn kế sau và giai đoạn

kế đó là hệ quả của giai đoạn trước nó Theo sơ đồ này, ở Việt Nam

Trang 24

đã hình thành một quan điểm chung về các giai đoạn tố tụng gồm:Giai đoạn khởi tố, điều tra vụ án hình sự; giai đoạn truy tố; giaiđoạn xét xử sơ thẩm; giai đoạn xét xử phúc thẩm, giai đoạn thi hànhbản án và quyết định của Tòa án [24].

Như vậy, khởi tố vụ án hình sự là một giai đoạn tố tụng hình sự đầu

tiên, cơ bản và quan trọng, để tăng cường pháp chế, bảo vệ các quyền và tự docủa công dân trước khi khởi tố bị can và áp dụng các biện pháp nghiệp vụ củagiai đoạn điều tra, cùng với các giai đoạn tố tụng hình sự khác góp phần có

hiệu quả vào cuộc đấu tranh phòng và chống tội phạm trong toàn xã hội Khởi

tố vụ án hình sự là giai đoạn mở đầu quá trình tố tụng và là giai đoạn tố tụngđộc lập bởi giai đoạn này có nhiệm vụ riêng mang đặc thù về chủ thể tố tụng,hành vi tố tụng và văn bản tố tụng Chủ thể có quyền khởi tố vụ án hình sự lànhững cơ quan có thẩm quyền theo quy định của BLTTHS Trong đó, nhiệm

vụ riêng của giai đoạn khởi tố vụ án hình sự là xác định có hay không có dấuhiệu tội phạm để từ đó ra quyết định khởi tố hay không khởi tố vụ án hình sự.Bên cạnh đó, hoạt động khởi tố vụ án hình sự còn tạo cơ sở pháp lý cho nhữnghoạt động tiếp theo.Trong đó, trước hết góp phần ngăn chặn kịp thời những saisót trong truy cứu hình sự ở giai đoạn điều tra tiếp theo, như điều tra không cócăn cứ đối với những hành vi không chứa đựng dấu hiệu của tội phạm hoặcthực hiện không khách quan các biện pháp, điều tra hay ngăn chặn như khámxét, bắt, giam giữ,… gây ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của cá nhân

1.2.2 Nội dung hoạt động tố tụng trong khởi tố vụ án hình sự

Việc khởi tố vụ án hình sự kịp thời, đúng pháp luật sẽ tạo bước đi đúnghướng cho toàn bộ quá trình tố tụng hình sự, đảm bảo mọi hành vi phạm tộiđều được phát hiện nhanh chóng Do đó, việc nắm vững các quy định củapháp luật về hoạt động tố tụng trong khởi tố vụ án hình sự có ý nghĩa và liênquan chặt chẽ đến việc đảm bảo pháp chế và bảo đảm một số quyền cơ bản

Trang 25

của công dân mà Hiến pháp đã quy định.

Về Trách nhiệm khởi tố và xử lý vụ án hình sự được Bộ luật tố tụnghình sự quy định như sau:

Khi phát hiện hành vi có dấu hiệu tội phạm, trong phạm vinhiệm vụ, quyền hạn của mình, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tốtụng có trách nhiệm khởi tố vụ án, áp dụng các biện pháp do Bộluật này quy định để xác định tội phạm và xử lý người phạm tội,pháp nhân phạm tội Không được khởi tố vụ án ngoài những căn cứ

và trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định

Các nội dung của hoạt động khởi tố vụ án hình sự đó lần lượt được quyđịnh một cách cụ thể, đầy đủ như sau:

Về Căn cứ khởi tố vụ án hình sự, theo quy định tại Điều 100 Bộ luật tốtụng hình sự năm 2003, thì chỉ được khởi tố vụ án khi đã xác định có dấu hiệutội phạm Việc xác định dấu hiệu tội phạm dựa trên 5 căn cứ, bao gồm:

Thứ nhất là dựa vào tố giác của công dân, đó là việc công dân tố cáohành vi vi phạm pháp luật của một người nào đó mà họ cho rằng là tộiphạm Việc tố giác của công dân này có thể thực hiện bằng bất cứ phươngtiện thông tin nào (có thể bằng miệng, bằng văn bản hoặc bằng các hìnhthức khác), và cũng không nhất thiết phải tố giác trực tiếp đến cơ quan điềutra, viện kiểm sát hay tòa án mà có thể tố giác đến bất cứ cơ quan, tổ chứcnào thuận tiện nhất Tuy nhiên, dù việc tố giác thực hiện bằng hình thứcnào, thì khi tiếp nhận các thông tin này, các cơ quan chức năng không chỉlập biên bản hoặc vào sổ ghi nhận về sự việc được tố giác, mà còn yêu cầungười tố giác ký xác nhận hoặc được ghi lại họ, tên, địa chỉ và số điện thoạicủa người tố giác Với quy định như vậy, có thể thấy ưu điểm của nó là làmcho cá nhân ý thức hơn về trách nhiệm đảm bảo sự thật của mình đối vớinội dung tố giác, mặt khác giúp các cơ quan chức năng dễ dàng liên hệ để

Trang 26

thu thập thông tin và xác minh thêm thông tin khi cần thiết Nhưng mộtthực tế đáng ngại diễn ra hiện nay là, tình trạng người tố giác bị trù dập, trảthù sau khi thực hiện hành vi tố giác đang diễn ra nhức nhối ở nhiều địaphương, do sự cấu kết của tội phạm với các cơ quan nhà nước Vì vậy, vớiquy định trên đã làm giảm đi “năng lượng” và nhiệt huyết của cá nhântrong phong trào toàn dân cùng đấu tranh chống tội phạm Thiết nghĩ, nênchăng ngoài việc quy định về thông tin cá nhân của người tố giác thì cần cóthêm quy định về trách nhiệm và chế tài của người có thẩm quyền và cơquan nhà nước khi làm lộ thông tin cá nhân của người tố giác.

Căn cứ thứ hai, là dựa vào tin báo của cơ quan, tổ chức Tin báo của cơquan, tổ chức là những thông tin về tội phạm do các cơ quan, tổ chức pháthiện hoặc nhận được tố giác của cá nhân và báo cáo bằng văn bản đối với cơquan điều tra Nếu như tố giác của cá nhân chỉ là việc báo tin của họ về tộiphạm với bất cứ cá nhân nào và bằng bất cứ hình thức nào thì tin báo đòi hỏithêm những điều kiện chặt chẽ hơn, thể hiện ở chỗ tin báo là việc báo tin vềtội phạm của cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân chỉ với cơ quan điều tra và phảibằng văn bản.Theo quy định của BLTTHS năm 2003 tại Điều 101 thì tin báocủa cơ quan, tổ chức gồm hai loại:

Một là, cơ quan, tổ chức phát hiện ra các thông tin về tội phạm và báo

tin cho cơ quan có thẩm quyền để nhanh chóng kiểm tra, xác minh phát hiệntội phạm

Hai là, cơ quan, tổ chức tiếp nhận tố giác tội phạm của công dân và báo

tin bằng văn bản cho cơ quan điều tra có thẩm quyền

BLTTHS chưa đưa ra khái niệm để phân biệt tố giác với tin báo về tộiphạm Thông qua quy định của BLTTHS thì tố giác và tin báo về tội phạmkhác nhau ở yếu tố chủ thể (chủ thể của tố giác là công dân, chủ thể của tinbáo là cơ quan, tổ chức) và hình thức báo tin (công dân có thể tố giác dướinhiều hình thức khác nhau nhưng cơ quan, tổ chức thì phải báo tin cho cơ

Trang 27

quan điều tra có thẩm quyền bằng văn bản).

Căn cứ thứ ba, là dựa vào tin báo trên phương tiện thông tin đại chúng.Trong thời đại hiện nay, phương tiện thông tin đại chúng đóng một vai trò rấtlớn trong rất nhiều hoạt động của chúng ta Chính vì vậy, việc tận dụng cũngnhư phát huy vai trò to lớn đó trong việc đấu tranh phòng, chống tội phạm làmột việc làm đúng đắn và sẽ nhận được những kết quả tích cực

Căn cứ thứ tư, là dựa vào việc cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụngtrực tiếp phát hiện dấu hiệu tội phạm Trong quá trình thực hiện nhiệm vụphòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm, các cơ quan điều tra, viện kiểm sát,tòa án, bộ đội biên phòng, hải quân, kiểm lân, lực lượng cảnh sát biển và các

cơ quan khác có nhiều điều kiện để phát hiện hành vi phạm pháp luật tronglĩnh vực công tác của mình Nên chính là những căn cứ đáng tin cậy và có cơ

sở hơn, để từ đó việc xác minh, kiểm tra các dấu hiệu về tội phạm đó đượcthực hiện nhanh chóng hơn

Căn cứ thứ năm là dựa vào người phạm tội tự thú Tự thú là việc người

đã thực hiện hành vi phạm tội tự nhận và khai rõ hành vi phạm tội của mìnhtrước cơ quan, tổ chức Đây là căn cứ thuận lợi cho cơ quan điều tra nhanhchóng phát hiện ra tội phạm và ngăn ngừa kịp thời những hành vi có thể tiếptục được thực hiện

Sau khi nhận được tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố, trongthời hạn 20 ngày (có nhiều tình tiết phức tạp hoặc phải kiểm tra, xác minh tạinhiều địa điểm thì thời hạn giải quyết tố giác, tin báo, kiến nghị khởi tố có thểkéo dài nhưng không quá 02 tháng), Cơ quan điều tra, cơ quan được giaonhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra phải kiểm tra, xác minh Theoquy định tại Điều 103 BLTTHS năm 2003, thì để xác minh các nguồn tin vềtội phạm đó, các cơ quan có thẩm quyền có thể tiến hành một số hoạt độngnhư thu thập thông tin, tài liệu, đồ vật từ cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên

Trang 28

quan để kiểm tra, xác minh nguồn tin; khám nghiệm hiện trường; khámnghiệm tử thi; trưng cầu giám định, yêu cầu định giá tài sản Trong trườnghợp xác minh được có dấu hiệu tội phạm thì cơ quan có thẩm quyền sẽ raquyết định khởi tố vụ án hình sự.

Quyết định không khởi tố vụ án hình sự, sẽ được ban hành trong trườnghợp, sau quá trình xác minh, kiểm tra các tin tức về tội phạm mà không códấu hiệu tội phạm, thì sẽ dựa vào một trong những Căn cứ không khởi tố vụ

án, được quy định tại Điều 107 BLTTS, bao gồm các căn cứ sau:

1 Không có sự việc phạm tội; 2 Hành vi không cấu thành tộiphạm; 3 Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội chưa đếntuổi chịu trách nhiệm hình sự; 4 Người mà hành vi phạm tội của họ

đã có bản án hoặc quyết định đình chỉ vụ án có hiệu lực pháp luật;

5 Đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự; 6 Tội phạm đãđược đại xá; 7 Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội đãchết, trừ trường hợp cần tái thẩm đối với người khác;

Trường hợp đã hết thời hạn giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm vàkiến nghị khởi tố quy định tại Điều 103 BLTTHS mà cơ quan có thẩmquyền giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố chưa đủcăn cứ để ra quyết định khởi tố hoặc không khởi tố vụ án hình sự thì thôngbáo ngay bằng văn bản cho Viện kiểm sát cùng cấp biết để thống nhất quanđiểm giải quyết (Điều 13 Thông tư liên tịch số 06/2013/TTLT-BCA-BQP-BTC-BNN&PTNT-VKSNDTC)

Về Thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự, được BLTTHS quy định nhưsau: Thứ nhất, Cơ quan điều tra trong công an nhân dân khởi tố các vụ ánhình sự về các tội phạm quy định tại Chương XII đến Chương XXII của Bộluật hình sự năm 1999, trừ các tội phạm thuộc thẩm quyền khởi tố của cơquan điều tra viện kiểm sát nhân dân tối cao và cơ quan an ninh điều tra trong

Trang 29

công an nhân dân Thứ hai, Cơ quan điều tra trong Quân đội nhân dân cóthẩm quyền ra quyết định khởi tố vụ án hình sự đối với các tội phạm quy định

từ Chương 11 đến Chương 24 BLHS nếu các tội phạm đó thuộc thẩm quyềnxét xử của Tòa án quân sự

+ Cơ quan điều tra của Viện kiểm sát nhân dân tối cao khởi tố vụ án vềmột số loại tội xâm phạm hoạt động tư pháp mà người phạm tội là cán bộthuộc các cơ quan tư pháp khi các tội phạm đó thuộc thẩm quyền xét xử củaTòa án nhân dân, Viện kiểm sát Quân sự trung ương có thẩm quyền ra quyếtđịnh khởi tố vụ án đối với một số loại tội xâm phạm hoạt động tư pháp màngười phạm tội là cán bộ thuộc các cơ quan tư pháp khi các tội phạm đó thuộcthẩm quyền xét xử của tòa án quân sự

Thứ ba, Theo quy định tại Điều 104 BLTTHS năm 2003 thì Viện kiểmsát khởi tố vụ án hình sự trong hai trường hợp sau đây:

- Viện kiểm sát ra quyết định khởi tố vụ án khi hủy bỏ quyết địnhkhông khởi tố vụ án của Cơ quan điều tra, Bộ đội Biên phòng, Hải quan vàKiểm lâm, lực lượng Cảnh sát biển và các cơ quan khác của Công an nhândân, Quân đội nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành hoạt động điều tra.Trong trường hợp này khi thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt độngkhởi tố để đảm bảo mọi tội phạm đều phải được phát hiện và xử lý, không bỏlọt tội phạm Khi Viện kiểm sát phát hiện sự việc xảy ra có dấu hiệu tội phạmnhưng Cơ quan điều tra và các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một sốhoạt động điều tra lại ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự, như vậy sẽ

bỏ lọt tội phạm Chính vì vậy, Viện kiểm sát được quyền hủy bỏ quyết địnhkhông khởi tố không có căn cứ của các cơ quan này đồng thời ra quyết địnhkhởi tố vụ án hình sự và gửi quyết định khởi tố này cho cơ quan điều tra đểtiến hành điều tra

- Khởi tố vụ án theo yêu cầu của Hội đồng xét xử, trong trường hợpqua hoạt động xét xử tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phát hiện tội phạm mới

Trang 30

hoặc người phạm tội mới cần phải điều tra.

Thứ tư, Tòa án ra quyết định khởi tố vụ án hoặc yêu cầu Viện kiểm sátkhởi tố nếu qua việc xét xử tại phiên tòa mà phát hiện được tội phạm hoặcngười phạm tội mới cần phải điều tra Thẩm quyền ra quyết định khởi tố vụ

án qua việc xét xử tại phiên tòa thuộc về Hội đồng xét xử

Như vậy, theo Điều 104 BLTTHS năm 2003 cho phép Hội đồng xét xửlựa chọn ra quyết định khởi tố hoặc yêu cầu viện kiểm sát khởi tố vụ án hình

sự nếu qua việc xét xử tại phiên tòa mà phát hiện được tội phạm hoặc ngườiphạm tội mới cần phải điều tra

Trong trường hợp Tòa án phát hiện tội phạm mới hoặc người phạm tộimới trước khi vụ án được đưa ra xét xử thì Tòa án không khởi tố vụ án mà sẽ

ra quyết định trả hồ sơ cho Viện kiểm sát để điều tra bổ sung

Ngoài ra, Theo quy định tại Điều 111 BLTTHS năm 2003, khi pháthiện những hành vi phạm tội đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự tronglĩnh vực quản lý của mình thì Bộ đội Biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm, lựclượng Cảnh sát biển có thẩm quyền: ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bịcan, tiến hành điều tra và chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát có thẩm quyền đốivới tội phạm ít nghiêm trọng trong những trường hợp phạm tội quả tang,chứng cứ và lai lịch người phạm tội rõ ràng, trong thời hạn hai mươi ngày, kể

từ ngày ra quyết định khởi tố vụ án Đối với tội phạm nghiêm trọng, rấtnghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng hoặc tội phạm ít nghiêm trọng nhưngphức tạp thì ra quyết định khởi tố vụ án, tiến hành những hoạt động điều traban đầu và chuyển hồ sơ cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền trong thời hạnbảy ngày, kể từ ngày ra quyết định khởi tố vụ án

1.2.3 Thời điểm bắt đầu, thời điểm kết thúc của việc khởi tố vụ án hình sự

Khởi tố vụ án là giai đoạn đầu tiên của hoạt động tố tụng hình sự, được

Trang 31

tiến hành bởi nhiều biện pháp không mang tính cưỡng chế nhằm xác định dấuhiệu của tội phạm Nếu chưa khởi tố thì không tiến hành được các hoạt độngđiều tra Do đó, hoạt động tố tụng trong giai đoạn khởi tố vụ án thường đượctiến hành khẩn trương, đầy đủ để phát hiện ra dấu hiệu tội phạm, nhằm đưa ranhững quyết định đúng đắn, hợp lý.

Như vậy, theo Luật tố tụng hình sự Việt Nam coi khởi tố vụ án là giaiđoạn tố tụng Thời điểm bắt đầu của giai đoạn này là kể từ khi cơ quan cóthẩm quyền nhận được những tin tức về tội phạm từ các nguồn khác nhau.Sau thời điểm nhận được tin tức về tội phạm đó, cơ quan có thẩm quyền sẽtiến hành một cách khẩn trương về hoạt động xác minh các dấu hiệu tội phạm

đó trong thời gian không quá 2 tháng Do đó, nhiệm vụ xuyên suốt của giaiđoạn này là việc xác định có hay không có dấu hiệu tội phạm để đưa ra mộttrong hai quyết định: Quyết định khởi tố vụ án hoặc quyết định không khởi tố

vụ án Sau khi một trong hai quyết định này được ban hành dựa trên sự kiểmtra, xác minh kỹ càng, chặt chẽ, khách quan và tuân thủ đúng quy định củapháp luật thì sẽ kết thúc giai đoạn khởi tố

Tóm lại, khởi tố vụ án hình sự được bắt đầu kể từ khi tiếp nhận đượctin tức về tội phạm và kết thúc khi các cơ quan chức năng ban hành quyếtđịnh khởi tố vụ án hoặc không khởi tố vụ án

1.3 Quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam về khởi tố vụ

án hình sự trước khi ban hành Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003

1.3.1 Quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố vụ án hình

sự từ năm 1945 đến trước khi ban hành Bộ luật tố tụng hình sự 1988

Sau khi cách mạng tháng Tám thành công, Nhà nước Việt Nam Dânchủ Cộng hòa ra đời Chính quyền nhân dân non trẻ phải đối mặt với nhiềukhó khăn, không chỉ về kinh tế, và nghiêm trọng và cấp bách hơn cả là nạnngoại xâm Khó khăn là chồng chất như vậy, nhưng hoạt động lập pháp tố

Trang 32

tụng hình sự vẫn được Nhà nước ta quan tâm Vào ngày 21/2/1946, Nhà nướcban hành Sắc lệnh số 23 quy định thành lập Tổ chức Việt Nam Công an vụvới chức năng tìm kiếm, thu thập các tin tức liên quan đến an ninh chính trị,bảo vệ trật tự trị an và tiến hành các hoạt động điều tra tội phạm Tiếp đó,ngày 20/7/1946, Nhà nước ban hành Sắc lệnh số 131 về tổ chức Tư pháp

Công an, trong đó quy định: “Tư pháp Công an có nhiệm vụ truy tầm tất cả các sự phạm pháp, sưu tầm các tang chứng, bắt người phạm pháp giao cho các tòa án xét xử trong phạm vi pháp luật ấn định” Đến ngày 16/02/1953,

Nhà nước ban hành Sắc lệnh số 141 quy định về Vụ chấp pháp trong Thứ bộ

Công an, trong đó nêu rõ: “Vụ chấp pháp có nhiệm vụ điều tra, lập hồ sơ đề nghị truy tố các vụ phạm tội phản cách mạng và hình sự khác” Như vậy,

thẩm quyền phát hiện và xác minh sự việc xảy ra có dấu hiệu của tội phạmhay không sẽ do Tổ chức Việt Nam Công an vụ hoặc Tư pháp Công an đảmnhận Tuy nhiên, có thể nhận thấy rằng trong các quy định trong các Sắc lệnhnêu trên đã không quy định hoặc quy định không rõ ràng về Căn cứ để xácđịnh dấu hiệu tội phạm, cũng như các thủ tục tiến hành khởi tố vụ án, thời hạnkhởi tố Mặt khác, với những gì thể hiện, cho phép chúng ta khẳng định, hoạtđộng khởi tố vụ án hình sự trong giai đoạn này được coi là một trong nhữnghoạt động của quá trình điều tra vụ án hình sự chứ không phải là một giaiđoạn tố tụng độc lập như trong Luật tố tụng hình sự của nước ta hiện nay

Từ năm 1960, hệ thống Viện kiểm sát nhân dân các cấp đã được hìnhthành với hai chức năng chính là chức năng công tố và kiểm sát việc tuân theopháp luật trong hoạt động tố tụng Sự ra đời của hệ thống Viện kiểm sát nhândân là điều kiện đảm bảo cho hoạt động tố tụng hình sự đạt hiệu quả và đúngpháp luật Nối tiếp tinh thần của Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm

1960, Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân mới ban hành năm 1981 đã quyđịnh cụ thể chức năng kiểm sát khởi tố - điều tra tại Điều 10, Chương II, như

Trang 33

sau: “Kiểm sát việc khởi tố hình sự của cơ quan điều tra, khởi tố hình sự và chuyển vụ án đến cơ quan điều tra để yêu cầu tiến hành điều tra Trong trường hợp do pháp luật quy định thì Viện kiểm sát nhân dân trực tiếp điều tra” Như vậy, theo quy định của Luật tố tụng hình sự thời bấy giờ thì, vai trò và

trách nhiệm chính trong hoạt động khởi tố vụ án sẽ do hai cơ quan đảm nhiệm là

Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát Trong đó hoạt động khởi tố vụ án của Cơquan điều tra sẽ được thực hiện dưới sự kiểm sát, chỉ đạo của Viện kiểm sát Tuynhiên giai đoạn này chưa có quy định cụ thể về trình tự thủ tục hoạt động khởi

tố, cũng như hoạt động kiểm sát việc xử lý tin báo, tố giác về tội phạm trong quátrình giải quyết vụ án hình sự, nên thực tế công tác kiểm sát hoạt động khởi tốgặp nhiều khó khăn

Hoạt động khởi tố, điều tra vụ án hình sự được coi là một loại hoạtđộng đặc thù của Nhà nước, nó động chạm nhiều tới các quyền cơ bản củacông dân Xuất phát từ nhiệm vụ của tố tụng hình sự là vừa trấn áp tội phạmvừa bảo vệ có hiệu quả các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, Nhànước đã ban hành hai văn bản pháp luật nổi bật, gồm Luật số 103, ngày20/5/1957 về bảo đảm quyền tự do thân thể và quyền bất khả xâm phạm đốivới nhà ở, đồ vật, thư tín của công dân và Sắc luật số 02 – SLT, ngày18/6/1957 quy định về thủ tục bắt người trong trường hợp khẩn cấp và cáctrường hợp phạm tội quả tang Do đó, đã hạn chế và loại trừ bớt những hiệntượng tiêu cực có thể xảy ra trong quá trình khởi tố, điều tra vụ án hình sự

Sau đại thắng mùa xuân năm 1975, miền Nam được hoàn toàn giảiphóng, cách mạng Việt Nam bước sang một trang mới của sự độc lập vàthống nhất Trong khi chờ đợi thống nhất nước nhà về mặt nhà nước, trênthực tế về hình thức, tạm thời tồn tại hai Nhà nước: Nhà nước Việt Nam Dânchủ Cộng hòa và Nhà nước Cộng hòa miền Nam Việt Nam; mỗi Nhà nước cópháp luật riêng [4, tr 35] Sau cuộc Tổng tuyển cử, bầu đại biểu Quốc hội

Trang 34

chung của cả nước, với Nghị quyết 02/7/1976 của Quốc hội, đã chính thức đổitên nước là Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Từ đó, cùng với những hệthống các văn bản quy phạm pháp luật tố tụng hình sự được ban hành trướcđây, và sự nỗ lực soạn thảo của các chuyên gia pháp lý trong nước và sự giúp

đỡ của các nhà khoa học nước ngoài, ngày 28/6/1988, BLTTHS đầu tiên củanước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã được Quốc hội khóa VIII kìhọp thứ 3 thông qua và bắt đầu có hiệu lực pháp luật từ ngày 01/01/1989

Như vậy, hệ thống văn bản pháp luật tố tụng của Nhà nước ta giai đoạntrước 1988 thể hiện rằng, đối với các văn bản có tính pháp lý cao như luật,pháp lệnh được sử dụng để quy định tổ chức bộ máy của các cơ quan tiếnhành tố tụng Đối với trình tự, thủ tục tố tụng giải quyết vụ án hình sự chủ yếuđược ghi nhận trong các văn bản dưới luật Tuy nhiên, đối với hoạt động khởi

tố vụ án thì hầu như chưa được chú trọng, thể hiện ở việc luật không quy địnhhoặc có quy định nhưng lại không rõ ràng Do đó, hoạt động khởi tố vụ ántrong thời điểm này, được thực hiện khá tùy tiện Dẫn tới tình trạng khôngthống nhất trong thực tiễn khởi tố vụ án hình sự Vì vậy, đã gây ra những sailầm lớn như bỏ lọt tội phạm, làm oan người vô tội, xâm phạm tới các quyền

và lợi ích hợp pháp của cá nhân

1.3.2 Quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố vụ án hình

sự từ khi ban hành Bộ luật tố tụng hình sự 1988 đến trước khi ban hành

Trang 35

Các quy định về khởi tố vụ án hình sự, được BLTTHS 1988 quy địnhtại Phần thứ hai, chương 7, bao gồm 9 điều, quy định về căn cứ khởi tố vụ án,quyết định khởi tố vụ án, những căn cứ không được khởi tố, quyết định khôngkhởi tố vụ án và kiểm sát việc khởi tố vụ án hình sự.

Về căn cứ khởi tố vụ án hình sự, là sự việc có dấu hiệu của tội phạm.Việc xác định có dấu hiệu tội phạm dựa trên các cơ sở sau: sự tố giác của côngdân; tin báo của cơ quan Nhà nước hoặc tổ chức xã hội; Tin báo trên cácphương tiện thông tin đại chúng; cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án, đơn

vị Bộ đội biên phòng, cơ quan Hải quan và cơ quan Kiểm lâm trực tiếp pháthiện dấu hiệu của tội phạm; người phạm tội tự thú [10, Điều 83] Sau khi tiếpnhận thông tin về tội phạm, cơ quan có thẩm quyền tiến hành kiểm tra, xácminh nguồn tin; qua đó ra quyết định khởi tố hoặc không khởi tố vụ án hình sự

Các quyết định tố tụng trong giai đoạn khởi tố vụ án hình sự mà cácchủ thể tố tụng có thể đưa ra là Quyết định khởi tố vụ án hình sự và Quyếtđịnh không khởi tố vụ án hình sự Quyết định khởi tố vụ án hình sự được các

cơ quan có thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự đưa ra khi xác định sự việc códấu hiệu của tội phạm

Quyết định không khởi tố vụ án hình sự được các cơ quan có thẩmquyền đưa ra khi xác định được một trong những căn cứ không được khởi tố

vụ án hình sự quy định tại Điều 89 BLTTHS 1988, gồm: Không có sự việcphạm tội; Hành vi không cấu thành tội phạm; Người thực hiện hành vi nguyhiểm cho xã hội chưa đến tuổi chịu trách nhiệm hình sự; Người mà hành viphạm tội của họ đã có bản án hoặc quyết định đình chỉ vụ án có hiệu lực phápluật; Đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự; Tội phạm đã được đại xá;Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội đã chết, trừ trường hợp cần táithẩm đối với người khác

Bên cạnh đó, BLTTHS 1988, còn phân định rõ chức năng, nhiệm vụ

Trang 36

của mỗi cơ quan có thẩm quyền trong từng hoạt động và hoàn cảnh cụ thể.Theo đó, “Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát: là hai cơ quan trực tiếp thực hiệncác hoạt động tố tụng trong giai đoạn khởi tố vụ án hình sự; Đơn vị Bộ độibiên phòng, cơ quan Hải quan, cơ quan Kiểm lâm ra quyết định khởi tố vụ ántrong những trường hợp quy định tại Điều 93 BLTTHS năm 1988; Toà án raquyết định khởi tố vụ án nếu qua việc xét xử tại phiên toà mà phát hiện đượctội phạm hoặc người phạm tội mới cần phải điều tra” [10, Điều 87].

Ngoài ra, BLTTHS 1988 cũng đặc biệt nhấn mạnh, vai trò và vị trícủa Viện kiểm sát, bằng quy định về kiểm sát hoạt động khởi tố vụ án hình

sự: “Viện kiểm sát kiểm sát việc tuân theo pháp luật, bảo đảm việc khởi tố

vụ án hình sự có căn cứ và hợp pháp” [10, Điều 91] Đồng thời, nếu quyết

định khởi tố của Cơ quan điều tra, đơn vị Bộ đội biên phòng, cơ quan Hảiquan và cơ quan Kiểm lâm không có căn cứ thì Viện kiểm sát có quyền raquyết định huỷ bỏ quyết định khởi tố đó Bên cạnh đó, nếu quyết địnhkhông khởi tố vụ án hình sự của các cơ quan này không có căn cứ thì Việnkiểm sát huỷ bỏ quyết định đó và ra quyết định khởi tố vụ án Đối vớiquyết định khởi tố của Toà án không có căn cứ thì Viện kiểm sát chỉ cóquyền kháng nghị lên Toà án cấp trên

Có thể nói, sự ra đời của BLTTHS 1988 đã đánh dấu sự trưởng thành

về kỹ thuật lập pháp của nước ta Bởi lẽ, nó chứa đựng nhiều điểm mới cả về

kỹ thuật lập pháp và nội dung của các chế định, và đặc biệt trong quy định vềtrình tự, thủ tục khởi tố vụ án hình sự Theo đó, BLTTHS đã quy định cụ thểcác căn cứ khởi tố, không khởi tố vụ án hình sự, thời hạn khởi tố, chủ thể cóthẩm quyền thực hiện hoạt động khởi tố cũng như hoạt động kiểm sát khởi tốcủa Viện kiểm sát Tuy vậy, trong quá trình áp dụng vào thực tiễn thì nhữngquy định này cũng đã bộc lộ một số hạn chế, bất cập, nên đã được sửa đổi, bổsung vào năm 1990, 1992 và năm 2000

Trang 37

Mặc dù qua ba lần sửa đổi, nhưng do chỉ hạn chế trong phạm vi, khuônkhổ của BLTTHS 1988, trong khi đó tình hình tội phạm có những diễn biếnphức tạp Do đó, yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm cũng được đặt ratheo tinh thần mới Vì vậy, Bộ luật tố tụng hình sự 2003 được Quốc hội nướcCộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XI, kỳ họp thứ 4 thông qua ngày

26 tháng 11 năm 2003 được thực hiện một cách nghiêm túc trên thực tiễn Bộluật tố tụng hình sự 2003 đã đánh dấu một bước quan trọng trong kỹ thuật lậppháp của Việt Nam thể hiện sự tiến bộ vượt bậc của Nhà nước ta Bởi lẽ, Bộluật đã tổng kết được thực tiễn, khắc phục những hạn chế của BLTTHS 1988

và kế thừa, phát triển ưu điểm của nó đồng thời pháp điển hóa những văn bảnhướng dẫn để quy định vào BLTTHS năm 2003

1.4 Khởi tố vụ án hình sự các mô hình tố tụng điểm hình của một số quốc gia trên thế giới

1.4.1 Khởi tố vụ án hình sự trong mô hình tố tụng thẩm vấn

Pháp luật của Đức thuộc truyền thống pháp luật Châu Âu lục địa, do đó

mô hình tố tụng hình sự Đức về cơ bản là mô hình tố tụng thẩm vấn, xét hỏinhưng có pha trộn với một số đặc điểm tranh tụng trong mô hình tranh tụng.Cũng giống như Hoa Kỳ, Cộng hòa Liên bang Đức là Nhà nước liên bang, với

sự tồn tại của hai hệ thống pháp luật Liên bang và pháp luật của các bang.Tuy vậy, đối với lĩnh vực hình sự và tố tụng hình sự thì lại được quy địnhthống nhất trên phạm vi toàn Liên bang và các bang

Pháp luật tố tụng hình sự Đức chia tiến trình tố tụng thành ba giai đoạnchính: giai đoạn tiền xét xử là giai đoạn đầu tiên, tiếp theo là giai đoạn Tòa ántiến hành tố tụng và cuối cùng là giai đoạn thi hành án Ở giai đoạn tiền xét xửthì bao gồm hai giai đoạn là giai đoạn điều tra và giai đoạn truy tố, trong đó cơquan có thẩm quyền điều tra gồm Cảnh sát và Viện công tố Ngoài ra, Tòa áncũng tiến hành một số hoạt động tố tụng trong giai đoạn này [20, tr 21] Trong

Trang 38

giai đoạn điều tra thì Cảnh sát và Viện công tố cùng có thẩm quyền tiến hànhhoạt động điều tra, tuy nhiên hoạt động điều tra của Cảnh sát chịu sự chỉ đạo,kiểm soát của Cơ quan công tố.

Thời điểm bắt đầu tiến hành Thủ tục tố tụng hình sự ở Đức thì tùy vàotừng loại tội phạm Đối với tội phạm ít nghiêm trọng, Cảnh sát có quyền pháthiện và thẩm quyền xử lí tương đối độc lập Đối với tội phạm nghiêm trọng,cho dù Cảnh sát phát hiện sớm thì cũng phải báo ngay cho Cơ quan công tố,

để cơ quan này theo dõi và kiểm soát và cùng tiến hành hoạt động điều tra vớiCảnh sát [22]

Cũng tương tự như Pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam, để bắt đầu việckhởi tố vụ án, thì Cơ quan công tố cũng phải dựa trên những căn cứ nhất địnhnhư tin báo, tố giác tội phạm của quần chúng hay từ yêu cầu của người bị hại.Sau đó, Cơ quan công tố đương nhiên cần xác minh các tình tiết, dấu hiệu vềtội phạm đó để quyết định có khởi tố vụ án hay không [3, Điều 169] NếuQuyết định khởi tố vụ án được đưa ra thì mới là căn cứ để bước sang giaiđoạn điều tra Trong giai đoạn điều tra, Cơ quan công tố phải xác định thuthập cả những tình tiết buộc tội, tình tiết gỡ tội, những tình tiết quan trọng choviệc xác định hậu quả pháp lý và phải bảo đảm rằng những chứng cứ đó đượcthu thập một cách toàn diện, đúng luật Trên thực tế hầu hết quá trình điều tra

do Cảnh sát thực hiện một cách độc lập và đảm bảo độ tin cậy của chứng cứtrước Công tố viên Ngay sau khi kết thúc điều tra, nhân viên Cảnh sát phảingay lập tức chuyển giao hồ sơ tới cho Cơ quan công tố [3, Điều 163]

Pháp luật tố tụng hình sự Đức chia các vụ án hình sự thành hai loại là:

vụ án công tố và vụ án tư tố Đối với những vụ án tư tố, thì chỉ được khởi tốtheo yêu cầu của người bị hại Tuy nhiên, vai trò của người bị hại không chỉthể hiện tầm quan trọng ở quyết định yêu cầu khởi tố hay không khởi tố, màcòn thể hiện ở việc, họ sẽ là người cùng với công tố viên và tư tố viên thực

Trang 39

hiện chức năng buộc tội.

Vấn đề thủ tục giải quyết các vụ án mà người bị hại yêu cầu, thì tươngứng với mỗi hình thức yêu cầu của người bị hại sẽ có mỗi thủ tục khác nhau,

đó là thủ tục truy tố công và thủ tục tư tố Trong đó, thủ tục truy tố công đượcquy định tại Điều 158 BLTTHS CHLB Đức như sau: khi người bị hại đưa rayêu cầu truy tố thì yêu cầu này phải được làm bằng văn bản gửi đến Tòa ánhoặc Cơ quan công tố, nếu người bị hại đưa ra yêu cầu bằng lời nói thì phải

có biên bản ghi lại lời nói Sau đó Cơ quan công tố sẽ tiến hành điều tra, xácminh các tình tiết và ra quyết định khởi tố, nếu có đủ căn cứ để tiến hành truy

tố thì cơ quan này sẽ lập bản cáo trạng gửi tới Tòa án có thẩm quyền, tạiphiên tòa xét xử, công tố viên thay mặt người bị hại thức hiện chức năng buộctội Trường hợp đã tiến hành xác minh nhưng không có căn cứ thì Cơ quancông tố sẽ quyết định đình chỉ vụ án và kết thúc thủ tục tố tụng

Đối với thủ tục tư tố cũng được quy định tại Điều 158 BLTTHS CHLBĐức, tuy nhiên cũng cần lưu ý rằng theo Điều 374 BLTTHS Đức thì chỉ cómột số tội phạm như Tội xâm phạm gia cư bất hợp pháp; Tội xúc phạm danh

dự nhân phẩm; Tội vi phạm quyền tự do báo chí; Tội gây thương tích mớiđược thực hiện theo thủ tục này Khi tiến hành yêu cầu khởi tố đối với nhữngtội phạm này, người bị hại được phép yêu cầu thẳng ra Tòa án để Tòa án thụ

lý Nhiệm vụ của Tư tố viên là thực hiện việc bảo vệ yêu cầu tư tố Địa vịpháp lý của Tư tố viên về bản chất giống như Công tố viên trong các vụ áncông tố Tư tố viên tham gia phiên tòa khi có hoạt động tư tố, mọi quyết địnhcủa Công tố viên ở các vụ án công tố sẽ được Tư tố viên tham khảo ở vụ án tư

tố Sau khi Tư tố viên đưa ra quyết định truy tố và Tòa án xác định quyết địnhtruy tố là đúng đắn, thì phải thông báo những cáo buộc đó cho bị cáo biếtcùng với thời hạn để bị cáo đưa ra trả lời Tòa án sẽ quyết định có mở phiêntòa chính thức hay huỷ bỏ lời buộc tội khi nhận được phản hồi từ phía bị cáo,

Trang 40

hoặc sau khi hết thời hạn nói trên, trong thời hạn một tuần phải hoàn tất việctriệu tập của Tư tố viên về việc tham gia phiên tòa chính thức và ngày mởphiên tòa chính thức Tư tố viên có thể rút đơn tư tố tại bất cứ giai đoạn nàocủa quá trình tố tụng, khi rút đơn tư tố thì phải có sự đồng ý của bị cáo sau khi

đã bắt đầu thẩm vấn bị cáo tại phiên tòa sơ thẩm chính thức, thủ tục tố tụngchấm dứt trong trường hợp Tư tố viên chết Tuy nhiên, hoạt động tư tố vẫn cóthể được tiếp tục thực hiện nếu có người được uỷ quyền đưa vụ án ra tư tố

1.4.2 Khởi tố vụ án hình sự trong mô hình tố tụng tranh tụng (Anh, Mỹ)

Vấn đề khởi tố vụ án hình sự được các quốc gia quy định rất khác nhau,xuất phát từ hệ thống pháp luật và truyền thống chính trị - pháp lý của quốcgia đó Đối với các quốc gia thuộc hệ thống Common Law như Anh, Mỹ,Canada, Australia, New Zealand với mô hình tố tụng tranh tụng thì trình tự

tố tụng hình sự thường được chia làm hai giai đoạn chính: giai đoạn tiền xét

xử và giai đoạn xét xử Giai đoạn tiền xét xử bao gồm tất cả hoạt động tố tụnghình sự mang bản chất của khởi tố, điều tra và truy tố với vai trò rất lớn của

cơ quan công tố

Mô hình TTHS ở Liên bang Hoa Kỳ khác nhiều so với Mô hình TTHScủa Việt Nam Hoa Kỳ không có Bộ luật tố tụng hình sự với mức độ toàn diệnnhư Bộ luật Tố tụng Hình sự của Việt Nam Ở Hoa Kỳ, các Quy tắc Tố tụngHình sự Liên Bang, bao gồm 61 quy tắc thủ tục, quy định về các thủ tục giảiquyết một vụ án chủ yếu từ thời điểm nộp đơn Tòa án hạt liên bang (tòa án sơthẩm) cho đến khi đóng vụ án tại tòa án hạt [23] Cách thức ban hành các quytắc tố tụng cũng là một điểm khác biệt lớn giữa Mô hình TTHS của Hoa Kỳ

và Mô hình TTHS của Việt Nam Trong khi, ở Việt Nam, Quốc hội thông qua

Bộ luật TTHSVN, thì ở Hoa Kỳ tất cả các quy tắc nêu trên và bất kỳ nội dungsửa đổi nào sau này lại được Tòa tối cao của Hoa Kỳ, chứ không phải cơ quanlập pháp của chính quyền liên bang ban hành Quy trình ban hành các quy tắcnày được ủy quyền bằng văn bản luật do Quốc hội ban hành, nhưng đó là một

Ngày đăng: 11/11/2019, 20:33

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lê Cảm (2004), “Một số vấn đề lý luận chung về các giai đoạn tố tụng hình sự”, Tạp chí Kiểm sát, (02), tr.21 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề lý luận chung về các giai đoạn tố tụnghình sự”, "Tạp chí Kiểm sát
Tác giả: Lê Cảm
Năm: 2004
2. Cơ quan điều tra, Công an thành phố Hải Phòng (2018), Số liệu thống kê án hình sự từ năm 2010 đến tháng 6 năm 2018, Hải Phòng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Số liệu thốngkê án hình sự từ năm 2010 đến tháng 6 năm 2018
Tác giả: Cơ quan điều tra, Công an thành phố Hải Phòng
Năm: 2018
4. Phan Hiển (1987), Một số vấn đề chủ yếu trong Bộ luật hình sự, Nxb Sự Thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề chủ yếu trong Bộ luật hình sự
Tác giả: Phan Hiển
Nhà XB: NxbSự Thật
Năm: 1987
5. Nguyễn Ngọc Hoà (2010), Tội phạm và cấu thành tội phạm, Nxb Công an nhân dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tội phạm và cấu thành tội phạm
Tác giả: Nguyễn Ngọc Hoà
Nhà XB: Nxb Côngan nhân dân
Năm: 2010
6. Phạm Văn Huân (2013), Những cơ sở và căn cứ khởi tố vụ án hình sự, Luận văn thạc sỹ luật học, Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những cơ sở và căn cứ khởi tố vụ án hình sự
Tác giả: Phạm Văn Huân
Năm: 2013
8. Nguyễn Hải Long (1996), “Trao đổi về Điều 88 BLTTHS 2003”, Tạp chí Toà án nhân dân, (3) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trao đổi về Điều 88 BLTTHS 2003”, "Tạpchí Toà án nhân dân
Tác giả: Nguyễn Hải Long
Năm: 1996
9. Hoàng Lan Phương (2009), Khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của người bị hại theo luật tố tụng hình sự Việt Nam, Luận văn thạc sỹ Luật học, Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu củangười bị hại theo luật tố tụng hình sự Việt Nam
Tác giả: Hoàng Lan Phương
Năm: 2009
10. Quốc hội (1988), Bộ luật tố tụng hình sự Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ luật tố tụng hình sự Việt Nam
Tác giả: Quốc hội
Năm: 1988
11. Quốc hội (2013), Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa ViệtNam
Tác giả: Quốc hội
Năm: 2013
12. Quốc hội (2015), Bộ luật tố tụng hình sự Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ luật tố tụng hình sự Việt Nam
Tác giả: Quốc hội
Năm: 2015
13. Quốc hội Hoa Kỳ, ban hành Bộ Pháp điển Hoa Kỳ các Điều 2071-2074.Bộ pháp điển Hoa Kỳ có 50 Đề Mục và là các công báo được chính thức ban hành trong đó có chứa đựng các luật Sách, tạp chí
Tiêu đề: ban hành Bộ Pháp điển Hoa Kỳ các Điều 2071-2074
15. Trường Đại học Luật Hà Nội (2011), Bộ luật hình sự Liên Bang Nga, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ luật hình sự Liên Bang Nga
Tác giả: Trường Đại học Luật Hà Nội
Nhà XB: Nxb Công an nhân dân
Năm: 2011
16. Trường Đại học Luật Hà Nội (2015), Giáo trình Luật tố tụng hình sự Việt Nam, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật tố tụng hình sựViệt Nam
Tác giả: Trường Đại học Luật Hà Nội
Nhà XB: Nxb Công an nhân dân
Năm: 2015
17. Trường Đại học Luật TPHCM (2015), Giáo trình Luật tố tụng hình sự Việt Nam, Nxb Hồng Đức, TPHCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật tố tụng hình sựViệt Nam
Tác giả: Trường Đại học Luật TPHCM
Nhà XB: Nxb Hồng Đức
Năm: 2015
18. Viện Khoa học pháp lý (2006), Từ điển luật học, Nxb Từ điển Bách khoa, Nxb Tư pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển luật học
Tác giả: Viện Khoa học pháp lý
Nhà XB: Nxb Từ điển Báchkhoa
Năm: 2006
19. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng (2018), Số liệu thống kê án hình sự từ năm 2010 đến tháng 6 năm 2018, Hải Phòng.II. Tài liệu tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Số liệu thống kêán hình sự từ năm 2010 đến tháng 6 năm 2018
Tác giả: Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng
Năm: 2018
20. Boyne, Shawn Marie (2013), The German prosecution service: Guardians of the Law, Springer Sách, tạp chí
Tiêu đề: The German prosecution service: Guardiansof the Law
Tác giả: Boyne, Shawn Marie
Năm: 2013
24. Đào Trí Úc, “Tổng quan về mô hình Tố tụng hình sự Việt Nam thực trạng và phương hướng hoàn thiện”, Thông tin khoa học, Trường Đại học Kiểm sát Hà Nội, nguồn http://tks.edu.vn/thong-tin-khoa-hoc/chi-tiet/79/32 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng quan về mô hình Tố tụng hình sự Việt Nam thực trạngvà phương hướng hoàn thiện
23. Quy tắc tố tụng hình sự Liên Bang hiện hành, nguồn: https://www.uscourts.gov/UScourts/QuytacAndPolicies/quy%20t%E1%BA%AFcs/2010%20Quy%20t%E1%BA%AFcs/Criminal%20Procedure.pdf, truy cập ngày 25.8.2017 Link
3. Cộng hòa liên bang Đức (2013), Bộ luật Tố tụng Hình sự Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w