Thứ nhất, việc nghiên cứu Đề tài góp phần cụ thể hóa quan điểm, định hướng của Đảng và Nhà nước ta về vấn đề nêu trên. Trên cơ sở đó xây dựng các luận cứ khoa học về thu hồi đất để phát triển kinh tế xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng. Thứ hai, việc nghiên cứu Đề tài góp phần xác định cụ thể những rào cản và nguyên nhân dẫn đến rào cản trong các quy định của pháp luật, cũng như trong tổ chức thực thi các quy định của pháp luật hiện đang tồn tại trong thực tiễn áp dụng chính sách và pháp luật về thu hồi đất để phát triển kinh tế xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng trên địa bàn huyện Thường Tín, Thành phố Hà Nội. Thứ ba, việc nghiên cứu Đề tài giúp xác định các giải pháp tổng thể, căn bản nhằm tiếp tục hoàn thiện các quy định của pháp luật, cũng như nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành các quy định của pháp luật điều chỉnh về thu hồi đất để phát triển kinh tế xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng nói chung, trên địa bàn huyện Thường Tín nói riêng. Thứ tư, Đề tài mang tính liên lĩnh vực, bởi lẽ trong đề tài này, người viết sẽ phải đưa ra các quan điểm, nhận định chuyên sâu cả về lĩnh vực khoa học kinh tế, chính sách công và lĩnh vực khoa học pháp lý (bao gồm pháp luật về đất đai và dân sự). Do đó, đề tài sẽ đem lại những lý luận khoa học và quan điểm, nhận định mới, có thể là cơ sở cho những nghiên cứu sau này được là công cụ giảng dạy, học tập và nghiên cứu. Thứ nhất, việc nghiên cứu Đề tài góp phần cụ thể hóa quan điểm, định hướng của Đảng và Nhà nước ta về vấn đề nêu trên. Trên cơ sở đó xây dựng các luận cứ khoa học về thu hồi đất để phát triển kinh tế xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng. Thứ hai, việc nghiên cứu Đề tài góp phần xác định cụ thể những rào cản và nguyên nhân dẫn đến rào cản trong các quy định của pháp luật, cũng như trong tổ chức thực thi các quy định của pháp luật hiện đang tồn tại trong thực tiễn áp dụng chính sách và pháp luật về thu hồi đất để phát triển kinh tế xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng trên địa bàn huyện Thường Tín, Thành phố Hà Nội. Thứ ba, việc nghiên cứu Đề tài giúp xác định các giải pháp tổng thể, căn bản nhằm tiếp tục hoàn thiện các quy định của pháp luật, cũng như nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành các quy định của pháp luật điều chỉnh về thu hồi đất để phát triển kinh tế xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng nói chung, trên địa bàn huyện Thường Tín nói riêng. Thứ tư, Đề tài mang tính liên lĩnh vực, bởi lẽ trong đề tài này, người viết sẽ phải đưa ra các quan điểm, nhận định chuyên sâu cả về lĩnh vực khoa học kinh tế, chính sách công và lĩnh vực khoa học pháp lý (bao gồm pháp luật về đất đai và dân sự). Do đó, đề tài sẽ đem lại những lý luận khoa học và quan điểm, nhận định mới, có thể là cơ sở cho những nghiên cứu sau này được là công cụ giảng dạy, học tập và nghiên cứu. Thứ nhất, việc nghiên cứu Đề tài góp phần cụ thể hóa quan điểm, định hướng của Đảng và Nhà nước ta về vấn đề nêu trên. Trên cơ sở đó xây dựng các luận cứ khoa học về thu hồi đất để phát triển kinh tế xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng. Thứ hai, việc nghiên cứu Đề tài góp phần xác định cụ thể những rào cản và nguyên nhân dẫn đến rào cản trong các quy định của pháp luật, cũng như trong tổ chức thực thi các quy định của pháp luật hiện đang tồn tại trong thực tiễn áp dụng chính sách và pháp luật về thu hồi đất để phát triển kinh tế xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng trên địa bàn huyện Thường Tín, Thành phố Hà Nội. Thứ ba, việc nghiên cứu Đề tài giúp xác định các giải pháp tổng thể, căn bản nhằm tiếp tục hoàn thiện các quy định của pháp luật, cũng như nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành các quy định của pháp luật điều chỉnh về thu hồi đất để phát triển kinh tế xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng nói chung, trên địa bàn huyện Thường Tín nói riêng. Thứ tư, Đề tài mang tính liên lĩnh vực, bởi lẽ trong đề tài này, người viết sẽ phải đưa ra các quan điểm, nhận định chuyên sâu cả về lĩnh vực khoa học kinh tế, chính sách công và lĩnh vực khoa học pháp lý (bao gồm pháp luật về đất đai và dân sự). Do đó, đề tài sẽ đem lại những lý luận khoa học và quan điểm, nhận định mới, có thể là cơ sở cho những nghiên cứu sau này được là công cụ giảng dạy, học tập và nghiên cứu. Thứ nhất, việc nghiên cứu Đề tài góp phần cụ thể hóa quan điểm, định hướng của Đảng và Nhà nước ta về vấn đề nêu trên. Trên cơ sở đó xây dựng các luận cứ khoa học về thu hồi đất để phát triển kinh tế xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng. Thứ hai, việc nghiên cứu Đề tài góp phần xác định cụ thể những rào cản và nguyên nhân dẫn đến rào cản trong các quy định của pháp luật, cũng như trong tổ chức thực thi các quy định của pháp luật hiện đang tồn tại trong thực tiễn áp dụng chính sách và pháp luật về thu hồi đất để phát triển kinh tế xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng trên địa bàn huyện Thường Tín, Thành phố Hà Nội. Thứ ba, việc nghiên cứu Đề tài giúp xác định các giải pháp tổng thể, căn bản nhằm tiếp tục hoàn thiện các quy định của pháp luật, cũng như nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành các quy định của pháp luật điều chỉnh về thu hồi đất để phát triển kinh tế xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng nói chung, trên địa bàn huyện Thường Tín nói riêng. Thứ tư, Đề tài mang tính liên lĩnh vực, bởi lẽ trong đề tài này, người viết sẽ phải đưa ra các quan điểm, nhận định chuyên sâu cả về lĩnh vực khoa học kinh tế, chính sách công và lĩnh vực khoa học pháp lý (bao gồm pháp luật về đất đai và dân sự). Do đó, đề tài sẽ đem lại những lý luận khoa học và quan điểm, nhận định mới, có thể là cơ sở cho những nghiên cứu sau này được là công cụ giảng dạy, học tập và nghiên cứu. Thứ nhất, việc nghiên cứu Đề tài góp phần cụ thể hóa quan điểm, định hướng của Đảng và Nhà nước ta về vấn đề nêu trên. Trên cơ sở đó xây dựng các luận cứ khoa học về thu hồi đất để phát triển kinh tế xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng. Thứ hai, việc nghiên cứu Đề tài góp phần xác định cụ thể những rào cản và nguyên nhân dẫn đến rào cản trong các quy định của pháp luật, cũng như trong tổ chức thực thi các quy định của pháp luật hiện đang tồn tại trong thực tiễn áp dụng chính sách và pháp luật về thu hồi đất để phát triển kinh tế xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng trên địa bàn huyện Thường Tín, Thành phố Hà Nội. Thứ ba, việc nghiên cứu Đề tài giúp xác định các giải pháp tổng thể, căn bản nhằm tiếp tục hoàn thiện các quy định của pháp luật, cũng như nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành các quy định của pháp luật điều chỉnh về thu hồi đất để phát triển kinh tế xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng nói chung, trên địa bàn huyện Thường Tín nói riêng. Thứ tư, Đề tài mang tính liên lĩnh vực, bởi lẽ trong đề tài này, người viết sẽ phải đưa ra các quan điểm, nhận định chuyên sâu cả về lĩnh vực khoa học kinh tế, chính sách công và lĩnh vực khoa học pháp lý (bao gồm pháp luật về đất đai và dân sự). Do đó, đề tài sẽ đem lại những lý luận khoa học và quan điểm, nhận định mới, có thể là cơ sở cho những nghiên cứu sau này được là công cụ giảng dạy, học tập và nghiên cứu. Thứ nhất, việc nghiên cứu Đề tài góp phần cụ thể hóa quan điểm, định hướng của Đảng và Nhà nước ta về vấn đề nêu trên. Trên cơ sở đó xây dựng các luận cứ khoa học về thu hồi đất để phát triển kinh tế xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng. Thứ hai, việc nghiên cứu Đề tài góp phần xác định cụ thể những rào cản và nguyên nhân dẫn đến rào cản trong các quy định của pháp luật, cũng như trong tổ chức thực thi các quy định của pháp luật hiện đang tồn tại trong thực tiễn áp dụng chính sách và pháp luật về thu hồi đất để phát triển kinh tế xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng trên địa bàn huyện Thường Tín, Thành phố Hà Nội. Thứ ba, việc nghiên cứu Đề tài giúp xác định các giải pháp tổng thể, căn bản nhằm tiếp tục hoàn thiện các quy định của pháp luật, cũng như nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành các quy định của pháp luật điều chỉnh về thu hồi đất để phát triển kinh tế xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng nói chung, trên địa bàn huyện Thường Tín nói riêng. Thứ tư, Đề tài mang tính liên lĩnh vực, bởi lẽ trong đề tài này, người viết sẽ phải đưa ra các quan điểm, nhận định chuyên sâu cả về lĩnh vực khoa học kinh tế, chính sách công và lĩnh vực khoa học pháp lý (bao gồm pháp luật về đất đai và dân sự). Do đó, đề tài sẽ đem lại những lý luận khoa học và quan điểm, nhận định mới, có thể là cơ sở cho những nghiên cứu sau này được là công cụ giảng dạy, học tập và nghiên cứu.
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
ĐỖ TRỌNG ĐOÀN
PH¸P LUËT VÒ THU HåI §ÊT §Ó PH¸T TRIÓN KINH TÕ - X· HéI V× LîI ÝCH CñA NHµ N¦íC Vµ CéNG §åNG QUA THùC TIÔN
T¹I HUYÖN TH¦êNG TÝN THµNH PHè Hµ NéI
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2018
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
ĐỖ TRỌNG ĐOÀN
PH¸P LUËT VÒ THU HåI §ÊT §Ó PH¸T TRIÓN KINH TÕ - X· HéI V× LîI ÝCH CñA NHµ N¦íC Vµ CéNG §åNG QUA THùC TIÔN
T¹I HUYÖN TH¦êNG TÝN THµNH PHè Hµ NéI
Chuyên ngành: Luật Kinh tế
Mã số: 8380101.05
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Cán bộ hướng dẫn khoa học: TS LÊ KIM NGUYỆT
HÀ NỘI - 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội.
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN
Đỗ Trọng Đoàn
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện đề tài: “Pháp luật về thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích của nhà nước và cộng đồng qua thực tiễn tại huyện Thường Tín thành phố Hà Nội”, tôi đã nhận được nhiều sự giúp đỡ để hoàn
thành luận văn
Trước tiên, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến giảng viên hướng dẫnluận văn của tôi TS Lê Kim Nguyệt Cô đã tận tình hướng dẫn thực hiện đềtài, giúp đỡ tiếp cận nguồn tài liệu và đưa ra nhiều lời góp ý bổ ích giúp tôihoàn thiện luận văn
Bên cạnh đó, tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến thầy, cô giảng dạy tạiKhoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội đã nhiệt tình chỉ bảo bồi đắp kiến thứctrong nhiều lĩnh vực cho tôi trong quá trình học tập nghiên cứu tại khoa Đồngthời, xin gửi lời cảm ơn đến Bộ môn Luật kinh doanh (Khoa Luật – Đại họcQuốc gia Hà Nội) đã tạo điều kiện thuận lợi, hướng dẫn và giúp đỡ học viênnhững vấn đề về thủ tục để hoàn thành luận văn
Cuối cùng, tôi xin gửi lời tri ân tới gia đình và bạn bè đã luôn ở bênđộng viên, khích lệ tinh thần trong suốt thời gian thực hiện luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Trang 5HỒI ĐẤT ĐỂ PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI VÌ LỢI ÍCH QUỐC GIA, CÔNG CỘNG 13 1.1 Lý luận về thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích
quốc gia, công cộng 13
1.1.1 Khái niệm, đặc điểm của thu hồi đất 131.1.2 Khái niệm, đặc điểm của thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội
vì lợi ích quốc gia, công cộng 201.1.3 Mục đích của thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích
quốc gia, công cộng 221.1.4 Nguyên tắc thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích
quốc gia, công cộng 221.1.5 Các trường hợp thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích
quốc gia, công cộng 23
1.2 Lý luận pháp luật về thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội
vì lợi ích quốc gia, công cộng 24
1.2.1 Cơ sở ra đời pháp luật về thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội
vì lợi ích quốc gia, công cộng 241.2.2 Khái niệm, đặc điểm của pháp luật về thu hồi đất để phát triển
kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng 271.2.3 Cấu trúc pháp luật về thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội vì
Trang 61.2.4 Các điều kiện đảm bảo thực hiện pháp luật về thu hồi đất để phát
triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng 291.2.5 Lịch sử hình thành và phát triển pháp luật về thu hồi đất để phát
triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng 301.2.6 Pháp luật về thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích
quốc gia, công cộng của một số nước và bài học kinh nghiệmđối với Việt Nam 33
Kết luận chương 1 37 Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ THU HỒI ĐẤT ĐỂ PHÁT
TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI VÌ LỢI ÍCH QUỐC GIA, CÔNG CỘNG VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN TẠI HUYỆN THƯỜNG TÍN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI 38 2.1 Thực trạng pháp luật về thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã
hội vì lợi ích quốc gia, công cộng 38
2.1.1 Về chủ thể và thẩm quyền trong quan hệ thu hồi đất để phát triển
kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng 382.1.2 Về thông báo thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích
quốc gia, công cộng 442.1.3 Về trình tự, thủ tục thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội vì lợi
ích quốc gia, công cộng 462.1.4 Về xử lý vi phạm pháp luật và giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai
55
2.2 Thực tiễn thực hiện pháp luật về thu hồi đất để
phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng tại huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội 59
2.2.1 Khái quát chung về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và sự tác
động đến việc thực hiện pháp luật về thu hồi đất để phát triển kinh
Trang 7thành phố Hà Nội 59
2.2.2 Đánh giá thực tiễn thực hiện quy định pháp luật về thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích của quốc gia, công cộng trên địa bàn huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội 61
Kết luận chương 2 78
Chương 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT THU HỒI ĐẤT ĐỂ PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI VÌ LỢI ÍCH QUỐC GIA, CÔNG CỘNG Ở VIỆT NAM VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN TẠI HUYỆN THƯỜNG TÍN THÀNH PHỐ HÀ NỘI 80
3.1 Định hướng hoàn thiện pháp luật thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng và nâng cao hiệu quả thực hiện tại huyện Thường Tín, Thành phố Hà Nội 80
3.2 Giải pháp hoàn thiện pháp luật về thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng và nâng cao hiệu quả thực hiện tại huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội 83
3.2.1 Nhóm giải pháp hoàn thiện pháp luật về thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng 83
3.2.2 Một số kiến nghị nâng cao hiệu quả thực thi trên địa bàn huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội 86
Kết luận chương 3 91
KẾT LUẬN 93
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 95
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Quyền sử dụng đất là một loại hàng hóa đặc biệt trong nền kinh tế thịtrường Tính đặc biệt này do ba đặc điểm của đất quy định: đất là tặng vật củatự nhiên; đất không mất đi khi được con người sử dụng như các loại hàng hóakhác; số lượng đất là cố định, mọi nỗ lực của con người có thể làm tăng hiệuquả sử dụng đất Do tính chất đặc biệt của quyền sử dụng đất như vậy, nên khitác động đến đất đai thì Nhà nước luôn cẩn trọng và điều chỉnh bởi các vănbản từ văn bản chính sách đến các văn bản pháp luật Trong đó, vấn đề thuhồi đất để phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích của quốc gia, công cộng đượcnhắc tới trong Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 31/10/2012 của Hội nghịTrung ương 6 khóa XI về tiếp tục đổi mới chính sách, pháp luật về đất đaitrong thời kỳ đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, tạo nền tảng đến năm
2020, Nghị quyết khẳng định:
Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sởhữu và thống nhất quản lý Quyền sử dụng đất là một loại tài sản vàhàng hoá đặc biệt, nhưng không phải là quyền sở hữu, được xácđịnh cụ thể phù hợp với từng loại đất, từng đối tượng và hình thứcgiao đất, cho thuê đất Nhà nước thực hiện quyền của chủ sở hữuthông qua việc quyết định quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; chophép chuyển mục đích sử dụng và quy định thời hạn sử dụng đất;quyết định giá đất; quyết định chính sách điều tiết phần giá trị tăngthêm từ đất không phải do người sử dụng đất tạo ra; trao quyền sửdụng đất và thu hồi đất để sử dụng vào các mục đích quốc phòng,
an ninh, phục vụ lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng và các dự án
Trang 10phát triển kinh tế, xã hội theo quy định của pháp luật [11]
Để thực thi chính sách, đường lối của Đảng, với vai trò là văn bản pháp
lý có hiệu lực tối cao, Điều 54 Hiến pháp năm 2013 ghi nhận quyền thu hồi
đất đai để phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích Nhà nước, công cộng trở thànhmột quyền hiến định:
Nhà nước thu hồi đất do tổ chức cán nhân đang sử dụng trongtrường hợp thật cần thiết do luật định vì mục đích quốc phòng, anninh; phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng Việcthu hồi đất phải công khai, minh bạch và được bồi thường theo quyđịnh của pháp luật
Trên cơ sở đó Luật Đất đai năm 2013 tại Điều 63 quy định chi tiết vềthu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng
Căn cứ vào những đổi mới về chính sách đất đai để phát triển kinh tế xã hội phục vụ mục đích công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển kinh tế - xãhội, thời gian qua, Nhà nước ta đã tiến hành thu hồi có đền bù một số tài sảncủa cá nhân, tổ chức, trong đó có đất đai Tuy nhiên, trên thực tế thì việc thuhồi đất để phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng là một vấnđề hết sức nhạy cảm và phức tạp, ảnh hưởng đến mọi mặt của đời sống kinhtế - chính trị - xã hội Do đó, việc nghiên cứu một cách hệ thống, bài bản vềvấn đề này sẽ là nguồn tài liệu quý góp phần cung cấp hệ thống lý luận khoahọc chính thống phục vụ cho quá trình công tác đối với các cán bộ hành chính
địa chính tại địa phương Đồng thời, có ý nghĩa về tuyên truyền, phổ biến,giáo dục pháp luật đối với người dân trên cả nước về lĩnh vực này
Huyện Thường Tín cùng toàn bộ tỉnh Hà Tây được nhập vào thành phố
Hà Nội vào năm 2008 Cả huyện có 1 thị trấn và 28 xã, tổng diện tích tự nhiên
là 127,59km, dân số của huyện là 230.000 người (UBND huyện Thường Tín,
Trang 112014) Được sự quan tâm của Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh, nền kinh tế củahuyện đã từng bước phát triển và tương đối ổn định, văn hóa, xã hội có nhiềutiến bộ, an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được đảm bảo Trong nhữngnăm qua, huyện Thường Tín đã triển khai thực hiện nhiều chương trình, dự ánxây dựng cơ sở hạ tầng, phát triển kinh tế xã hội Căn cứ vào các quy định củachính sách thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích của Nhà nước,công cộng Tính đến năm 2016, huyện Thường Tín đã thực hiện xong cơ bảncông tác thu hồi đất của 2.589 hộ dân, với diện tích 29,6 ha, tại 16 xã để thựchiện các dự án trọng điểm, quan trọng như dự án xây dựng mở rộng đườngcao tốc Pháp Vân - Cầu Giẽ và các dự án khác.
Tuy nhiên, bên cạnh kết quả đạt được việc tiến hành thu hồi đất giảiphóng mặt bằng ở đây đang gặp rất nhiều khó khăn do nhiều nguyên nhân vàmột trong những nguyên nhân chủ yếu nhất đó là giá đất bồi thường chưa phùhợp và sát với giá thị trường, chính sách dồn điền đổi thửa trong thời gian qua
và việc xác định chủ sở hữu từng lô đất do chính quyền xã, huyện triển khaidiễn ra chậm, khiến cho việc chi trả đền bù và bàn giao mặt bằng, công tácgiải phóng mặt bằng thường tiến hành chậm hơn so với tiến độ đề ra Nhữngvướng mắc, bất cập về chính sách thu hồi đất nông nghiệp, bồi thường giảiphóng mặt bằng, những yếu tố ảnh hưởng đến việc thu hồi đất nông nghiệp vàđời sống của người dân, các vấn đề xã hội, môi trường trước và sau thu hồi…
là những vấn đề nổi cộm cần phải được giải đáp qua thực tiễn để đề xuất giảipháp nhằm góp phần thực hiện tốt chính sách thu hồi đất nông nghiệp, bồithường giải phóng mặt bằng trên địa bàn huyện trong thời gian tới Do đó,việc lựa chọn đối tượng nghiên cứu trên địa bàn huyện Thường Tín, thànhphố Hà Nội là đáp ứng nhu cầu nghiên cứu và tìm ra giải pháp tháo gỡ nhữngkhó khăn, vướng mắc về thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích
Trang 12Nhà nước, công cộng tại huyện Thường Tín nói riêng và cả nước nói chung.Bên cạnh đó, địa danh này là nơi làm việc của học viên đang làm đề tài này,
do đó sẽ có sự thuận lợi trong việc tổng hợp số liệu, khảo sát thực tiễn mộtcách chính xác và đầy đủ Xuất phát từ lý luận và thực tế nêu trên, việc
nghiên cứu đề tài: “Pháp luật về thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích của nhà nước và cộng đồng qua thực tiễn tại huyện Thường Tín thành phố Hà Nội” là cần thiết.
2 Tình hình nghiên cứu của đề tài
2.1 Các công trình nghiên cứu trong nước
Ở Việt Nam, hiện đã có các công trình nghiên cứu khoa học về vấn đềnày, tuy nhiên mỗi công trình nghiên cứu có những cách nhìn nhận khácnhau, khai thác các khía cạnh khác nhau về thu hồi đất để phát triển kinh tế -xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng Hơn nữa, những yêu cầu, đòi hỏi củaĐảng, Nhà nước và thực tiễn về thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội vì lợiích quốc gia, công cộng ngày càng trở nên cấp thiết qua từng năm
Cho đến nay, nghiên cứu về vấn đề này đã được đề cập đến nhiều trongcác giáo trình của các trường đại học, cao đẳng phục vụ cho công tác giảngdạy và trong các công trình nghiên cứu khoa học, luận án tiến sĩ, luận vănthạc sĩ và các bài viết đăng trên các tạp chí chuyên ngành
Trong quá trình thực hiện luận văn, người viết cũng nghiên cứu các vănbản pháp luật có liên quan trực tiếp tới vấn đề thu hồi đất để phát triển kinh tế
- xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng như:
- Hiến pháp năm 2013
- Luật Đất đai số 45/2013/QH13 có hiệu lực ngày 01/7/2014
- Bộ luật Dân sự số 91/2015/QH13 có hiệu lực ngày 01/01/2017
- Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/05/2014 của Chính Phủ hướng
Trang 13dẫn thi hành Luật Đất đai;
- Nghị định số 102/2014/NĐ-CP ngày 10/11/2014 của Chính Phủ về xửphạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai;
- Thông tư số 02/2015/TT-BTNMT ngày 27/01/2015 của Bộ Tàinguyên và Môi trường hướng dẫn Nghị định số 43/2014/NĐ-CP và Nghị địnhsố 44/2014/NĐ-CP;
Bên cạnh đó, người viết còn tìm hiểu, nghiên cứu các tài liệu thamkhảo như: giáo trình, các công trình nghiên cứu, các bài viết, tạp chí và nộidung giảng dạy liên quan làm cơ sở cho việc nhận định, phân tích và đánhgiá một cách đầy đủ, toàn diện hơn Cụ thể như:
- Giáo trình Luật Đất đai của Trường Đại học Luật Hà Nội;
- Giáo trình Luật Đất đai của tác giả Lưu Quốc thái, Nxb Hồng Đức,Hội Luật gia Việt Nam;
- Giáo trình Luật Dân sự Việt Nam của Trường Đại học Luật Hà Nội,
do PGS.TS Đinh Văn Thanh và ThS Nguyễn Minh Tuấn chủ biên, Nxb Công
an nhân dân xuất bản năm 2007;
- Giáo trình Lý luận về Nhà nước và pháp luật của Trường Đại học Luật
Hà Nội, do GS.TS Lê Minh Tâm chủ biên, NXB Công an nhân dân xuất bảnnăm 2008;
- Trần Thị Cúc (2007), Quản lý và sử dụng đất trong nền kinh tế thịtrường ở nước ta hiện nay, NXB Tư pháp;
- Gordon, MacAulay, Sally P Marsh, Nguyễn Phượng Lê, Phạm MạnhHùng – dịch (2007), Phát triển nông nghiệp và chính sách đất đai Việt Nam,NXB Trung tâm nghiên cứu nông nghiệp Quốc tế ở Australia; Đại học Nôngnghiệp I – Hà Nội;
-Bài đăng Tạp chí khoa học “Bảo đảm quyền của người sử dụng đất
Trang 14trong các chính sách hỗ trợ khi nhà nước thu hồi đất”, Trần Đức Vinh, Tạp
chí Dân chủ và Pháp luật số 3/2013;
- Bài đăng Tạp chí khoa học “Bất cập trong các quy định về đất nôngnghiệp ở Việt Nam hiện nay”, Bùi Đức Hiển, Tạp chí Nhà nước và Pháp luậtsố 2/2017;
-Bài đăng Tạp chí khoa học “Giao dịch chuyển quyền sử dụng đấttrong mối quan hệ giữa bộ luật dân sự với luật đất đai”, Vũ Thị Hồng Yến,Tạp chí Luật học, số 10/2016;
- Cuốn “Hoàn thiện cơ chế điều chỉnh pháp luật đất đai ở Việt Nam”,của TS Nguyễn Cảnh Quý do Nxb Tư pháp xuất bản năm 2010;
- Đề tài khoa học cấp Bộ “Hoàn thiện pháp luật về bán đấu giá tài sảnnhằm thúc đẩy thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”;
Ngoài ra, Luận văn còn tham khảo một số luận văn cao học và khóaluận tốt nghiệp như:
- Lê Quỳnh Nga, 2009, “Tìm hiểu quy định của pháp luật về thu hồi đấtcho mục tiêu phát triển kinh tế”, Đại học Luật Hà Nội (Khóa luận tốt nghiệp)
- Nguyễn Văn Chung, 2014, “Đánh giá công tác giao đất, cho thuê đất
và thu hồi đất trên địa bàn huyện Thường Tín, Thành phố Hồ Nội giai đoạn2011- 2013”, Đại học Nông Lâm Thái Nguyên (Khóa luận tốt nghiệp)
- Nguyễn Phúc Thiện, 2014, “Thực hiện pháp luật về thu hồi đất đối vớicác dự án phát triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam hiện nay”, Học viện khoa học– xã hội và nhân văn (Luận văn thạc sĩ)
2.2 Các công trình nghiên cứu nước ngoài
Ở nước ngoài việc nghiên cứu các đề tài liên quan đến thu hồi đất đểphát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng cũng được nhiều họcgiả nghiên cứu, tiếp cận dưới nhiều gốc độ khác nhau
Trang 152.3 Một số nhận xét, đánh giá về các công trình đã nghiên cứu
Nghiên cứu các công trình nói trên cho thấy, các cuốn sách, bài viết, đềtài, luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ cơ bản tập trung nghiên cứu các vấn đề:
Thứ nhất, về phương pháp nghiên cứu các tác giả đã sử dụng chủ yếu
một số phương pháp sau đây trong quá trình nghiên cứu:
- Phương pháp luận khoa học duy biện chứng và duy vật lịch sử nhằmnghiên cứu vấn đề trong trạng thái vận động, biến đổi không ngừng và đặttrong mối quan hệ tổng thể, tác động qua lại giữa hiện tượng cần nghiên cứuvới các hiện tượng khác Hơn nữa, đối tượng nghiên cứu được xem xét, đánhgiá trong trạng thái “động”, làm cho vấn đề nghiên cứu phong phú, đadạng, vừa truyền thống, vừa hiện đại
- Phương pháp thu thập, xử lý thông tin Thông tin khoa học trong cáccông trình nghiên cứu được các tác giả thu thập, phân tích, xử lý từ nhiềunguồn khác nhau: (i) Các quy định trong văn bản pháp luật của Nhà nước; (ii)Các Nghị quyết văn kiện của Đảng; (iii) Từ kết quả khảo sát, điều tra xã hộihọc; (iv) Từ các trang Website; (vii) Từ các công trình, bài viết của các tác giả
Trang 16trong nước; (viii) Từ các tài liệu nước ngoài, cho thấy những công trìnhnghiên cứu của các tác giả đi trước cũng đã đề cập bức tranh khá toàn diện và
đa màu sắc về vấn đề “thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốcgia, công cộng”
- Phương pháp phân tích, tổng hợp cũng được sử dụng hầu hết các côngtrình nghiên cứu làm cơ sở cho các tác giả nhận định, đánh giá vấn đề nghiêncứu dưới góc độ pháp luật thực định và thực tế thực thi pháp luật về bồithường, hỗ trợ khi nhà nước thu hồi đất
- Ngoài ra, một số phương pháp khác cũng được sử dụng bổ sung nhưphương pháp diễn dịch, quy nạp, so sánh, để nghiên cứu làm sáng tỏ nộidung nghiên cứu
Thứ hai, về nội dung nghiên cứu Nhìn chung, các bài viết, công trình
nghiên cứu nêu trên đã góp phần tạo ra cơ sở lý luận và những vấn đề thựctiễn cho việc quản lý đất đai Tuy nhiên, nhìn một cách có hệ thống thì có thểthấy các công trình ở trên chỉ mới nghiên cứu ở góc độ quản lý hành chínhquản lý đất đai, mà chưa nghiên cứu sâu ở góc độ khoa học pháp lý Đồngthời, các công trình trên cũng chỉ mới dừng lại ở việc nghiên cứu những lýluận chung nhất mà chưa đề cập nhiều đến thu hồi đất để phát triển kinh tế -xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng đặc biệt là trong giai đoạn hiện nay.Cũng chưa gắn với một đối tượng, một chủ thể cụ thể do đó chưa đưa ra đượcnhững giải pháp có tính khả thi
2.4 Những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu
Trên cơ sở kế thừa có chọn lọc kết quả nghiên cứu của các công trìnhkhoa học đã khảo sát, tác giả tiếp tục đi sâu nghiên cứu các quy định của phápluật về thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộngtrong giai đoạn hiện nay và thực tiễn thi hành ở huyện Thường Tín thành phố
Trang 17Hà Nội với các vấn đề:
- Nghiên cứu lý luận chung về quy định thu hồi đất để phát triển kinh tế
- xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng
- Tìm hiểu một cách có hệ thống về lịch sử phát triển của quy định thuhồi đất để phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng trong Luậtđất đai và pháp luật liên quan để so sánh đối chiếu và tìm ra những bất cậptrong vấn đề áp dụng pháp luật
- Nghiên cứu những quy định của pháp luật hiện hành về thu hồi đất nóichung, cũng như quy định về thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội vì lợiích quốc gia, công cộng nói riêng
- Sau khi nghiên cứu phần lý luận chung, tác giả phân tích thực tiễn ápdụng các quy định về thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích củaNhà nước theo Luật đất đai 2013 trên địa bàn huyện Thường Tín, từ đó chỉ ranhững khó khăn, vướng mắc trong quá trình áp dụng pháp luật vào thực tiễn
- Tổng quát những vấn đề lý luận và thực tiễn thực hiện, tác giả đềxuất những giải pháp, cũng như kiến nghị để hoàn thiện pháp luật về thuhồi đất để phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng để phùhợp với thực tế
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Người viết chọn đề tài: “Pháp luật về thu hồi đất để phát triển kinh tế
-xã hội vì lợi ích của Nhà nước và cộng đồng qua thực tiễn tại huyện Thường Tín Thành phố Hà Nội” gắn với mục đích và nhiệm vụ là:
Trang 18quả pháp luật về thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia,công cộng.
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Làm rõ quy định pháp luật về thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hộivì lợi ích quốc gia, công cộng
- Khảo sát, điều tra và tổng hợp thực tiễn trong việc triển khai thực hiệnquy định thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, côngcộng theo Luật đất đai 2013 trên địa bàn huyện Thường Tín
- Tìm ra những khó khăn, vướng mắc thường gặp trong quá trình thuhồi đất để phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng;
- Đưa ra yêu cầu, đòi hỏi của Đảng, Nhà nước và thực tiễn về thu hồiđất để phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng; Từ đó rút ranhững kinh nghiệm và đề xuất hoàn thiện pháp luật về thu hồi đất để pháttriển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng theo pháp luật Việt Nam
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
-Đối tượng nghiên cứu: Pháp luật và thực thi pháp luật về thu hồi đất
để phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng theo pháp luật ViệtNam (trong lịch sử pháp luật, so sánh và đối chiếu với pháp luật hiện hành) vàthực tiễn thực thi tại huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội
- Phạm vi nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu quy định của Luật đất đai
2013 và pháp luật có liên quan về thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội vìlợi ích quốc gia, công cộng trong lịch sử pháp luật, so sánh và đối chiếu vớipháp luật hiện hành), từ đó đưa ra kiến nghị và giải pháp hoàn thiện pháp luậtđất đai nói chung, cũng như giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện quy địnhnày trên địa bàn huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội (các số liệu phục vụnghiên cứu được sử dụng trong thời gian 05 năm trở lại đây)
Trang 195 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu và hoàn thiện dựa trên cơ sở lý luận của chủnghĩa Mác – Lê Nin, quan điểm chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩaduy vật lịch sử; quan điểm, tư tưởng Hồ Chí Minh; chủ trương, đường lối củaĐảng, chính sách Pháp luật của Nhà nước Việt Nam về đất đai kết hợp vớicác phương pháp phân tích, tổng hợp, luận giải, đánh giá, cụ thể là tổng hợp
và hệ thống hóa các văn bản pháp luật, những thông tin thu được trong quátrình nghiên cứu đề tài Sau đó phân tích và đưa ra đánh giá về từng vấn đề.Cuối cùng rút ra kết luận chung về vấn đề đã nghiên cứu
Ngoài ra, luận văn còn sử dụng phương pháp so sánh, đối chiếu vớipháp luật cũ, một số các quy định liên quan trong pháp luật chuyên ngành vàcác nước trên thế giới nhằm làm rõ hơn cho đề tài, cũng như đề xuất đượcbiện pháp hoàn thiện pháp luật cụ thể và hiệu quả nhất
6 Những đóng góp về khoa học của luận văn
Nội dung có liên quan đến đề tài pháp luật về thu hồi đất để phát triểnkinh tế - xã hội vì lợi ích của quốc gia và cộng đồng cũng đã được một sốbài viết, đề tài khoa học và luận văn đề cập đến Tuy nhiên chỉ mới đề cậpđến vấn đề lý luận và thực trạng thu hồi đất nói chung, hay lý luận chung vềthu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng bêncạnh những vấn đề về giải phóng mặt bằng và bồi thường sau khi thu hồi đấtchứ chưa nghiên cứu sâu vào nội dung thu hồi đất để phát triển kinh tế - xãhội vì lợi ích quốc gia, công cộng gắn với một địa phương cụ thể Trongluận văn này sẽ nghiên cứu một cách toàn diện, khoa học và hệ thống cácquy định pháp luật về thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích củaquốc gia, công cộng ở cả khía cạnh pháp luật và cả thực tiễn thực hiện trênđịa bàn huyện Thường Tín, từ đó tìm ra những kiến nghị đối với vấn đề này
Trang 20trên quy mô cả nước.
7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Đề tài nghiên cứu có ý nghĩa lý luận và thực tiễn trong mối quan hệ thuhồi đất giữa người quản lý, sử dụng đất với Nhà nước, từ đó giải quyết mâuthuẫn đất đai về quyền và nghĩa vụ, đảm bảo ổn định trật tự xã hội và tăngcường phát triển nền kinh tế lâu dài Những đề xuất và giải pháp trong luậnvăn sẽ cung cấp tài liệu phục vụ công tác nghiên cứu khoa học, xây dựngpháp luật, và có thể sử dụng làm tài liệu học tập, giảng dạy
Ở mức độ nhất định, kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần nângcao nhận thức của người dân và cán bộ; nâng cao hiệu lực, hiệu quả trongthực hiện pháp luật về thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích củaquốc gia, công cộng
8 Kết cấu của luận văn
Luận văn ngoài Lời cam đoan, Mục lục, Lời mở đầu, Kết luận, Danh mụctài liệu tham khảo, bố cục của Luận văn được chia thành 3 chương như sau:
Chương 1 Những vấn đề lý luận về pháp luật thu hồi đất để phát triển
kinh tế - xã hội vì lợi quốc gia, công cộng
Chương 2 Thực trạng pháp luật về thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã
hội vì lợi ích quốc gia, công cộng và thực tiễn áp dụng trên địa bàn huyệnThường Tín, Thành phố Hà Nội
Chương 3 Giải pháp hoàn thiện pháp luật thu hồi đất để phát triển kinh
tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, cộng cộng ở Việt Nam Và kiến nghị nâng caohiệu quả thực thi trên địa bàn huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội
Trang 22Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN PHÁP LUẬT VỀ THU HỒI ĐẤT
ĐỂ PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI VÌ LỢI ÍCH QUỐC GIA,
CÔNG CỘNG
1.1 Lý luận về thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng
1.1.1 Khái niệm, đặc điểm của thu hồi đất
Nếu như giao đất, cho thuê đất là cơ sở để làm phát sinh quan hệ phápluật đất đai, phát sinh quyền sử dụng đất của người được Nhà nước trao quyềnsử dụng thì thu hồi đất là một biện pháp làm chấm dứt quan hệ pháp luật đấtđai bằng một quyết định hành chính của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.Thông qua những hoạt động này, Nhà nước thể hiện rất rõ quyền định đoạtđất đai với tư cách là đại diện chủ sở hữu đối với đất đai
Theo Giáo trình Luật đất đai của Trường Đại học Luật Hà Nội, kháiniệm thu hồi đất cần phải được hiểu dưới các khía cạnh sau đây:
- Là một quyết định hành chính của người có thẩm quyền nhằm chấmdứt quan hệ sử dụng đất của người sử dụng
- Quyết định hành chính thể hiện quyền lực nhà nước nhằm thực thimột trong những nội dung của quản lý Nhà nước về đất đai
- Việc thu hồi đất xuất phát từ nhu cầu của Nhà nước và xã hội hoặc làbiện pháp chế tài được áp dụng nhằm xử lý các hành vi vi phạm pháp luật đất
đai của người sử dụng đất [28, tr.141] Theo đó thu hồi đất “Là văn bản hành chính của cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhằm chấm dứt một quan hệ pháp luật đất đai để phục vụ lợi ích của Nhà nước, của xã hội hoặc xử lý hành chính hành vi vi phạm pháp luật đất đai của người sử dụng đất” [28, tr.140-141] Đây
Trang 23là một khái niệm chưa thật toàn diện bởi nó giới hạn hoạt động thu hồi đất lạichỉ “là văn bản hành chính” mà chưa thể hiện được nội hàm đây là cả một quátrình gồm nhiều giai đoạn và hoạt động với nhiều chủ thể tham gia.
Theo Từ điển giải thích thuật ngữ Luật học, thu hồi đất được hiểu là
Cơ quan nhà nước có thẩm quyền thu hồi quyền sử dụng đấtcủa người vi phạm quy định về sử dụng đất để Nhà nước giao chongười khác sử dụng hoặc trả lại cho chủ sử dụng đất hợp pháp bịlấn chiếm Trường hợp thật cần thiết, Nhà nước thu hồi đất đang sửdụng của người sử dụng đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng,
an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng [27, tr.98]
Khái niệm này thực ra cũng chưa hẳn là một định nghĩa rõ ràng về thuhồi đất mặc dù có đề cập các trường hợp thu hồi đất nhưng nội hàm của kháiniệm này chưa bao quát hết các trường hợp thu hồi đất của Nhà nước
Ngoài ra, có nhà khoa học cho rằng thu hồi đất là việc Nhà nước raquyết định hành chính để thu lại đất và quyền sử dụng đất đã giao cho các chủthể sử dụng đất theo quy định của pháp luật đất đai [25, tr.24]
Bên cạnh đó, trong điều kiện kinh tế thị trường, nếu việc chuyển giao đất
từ Nhà nước đến người sử dụng đất là một giao dịch thì việc thu hồi đất để phục
vụ nhu cầu của Nhà nước (loại trừ trường hợp Nhà nước thu hồi đất do người sửdụng đất vi phạm pháp luật) có thể được coi là “giao dịch tương tự” [23]
Theo tiến trình phát triển của pháp luật, khái niệm về thu hồi đất cũngcó sự khác nhau Theo đó, thu hồi đất được quy định ngày từ trước khi chế độsở hữu toàn dân đối với toàn bộ đất đai được xác lập [14, mục 1] Trong LuậtĐất đai năm 1987 và Luật Đất đai năm 1993, đã đề cập đến vấn đề thu hồiđất, nhưng chưa định nghĩa rõ thế nào là thu hồi đất mà chỉ liệt kê các trườnghợp bị thu hồi đất (Điều 14 Luật Đất đai năm 1987 và Điều 26 Luật Đất đai
Trang 24năm 1993) Khi Luật Đất đai năm 2003 ra đời, thuật ngữ thu hồi đất đã được
giải thích tại khoản 5, Điều 4: “Thu hồi đất là việc Nhà nước ra quyết định hành chính để thu lại quyền sử dụng đất hoặc thu lại đất đã giao cho tổ chức,
Ủy ban nhân dân xã,phường, thị trấn quản lý theo quy định của Luật này”.
Dù đã có sự điều chỉnh và mở rộng nội hàm của vấn đề thu hồi đất, song cáchgiải thích này chưa thật sự chính xác, bởi nó dẫn đến cách hiểu rằng người sửdụng đất bị thu hồi đất chỉ là tổ chức hay Ủy ban nhân dân xã, phường, thịtrấn, trong khi theo quy định pháp luật, người sử dụng đất bị thu hồi có thể làhộ gia đình, cá nhân sử dụng đất, hơn nữa đây mới chỉ là chủ thể phổ biến bị
thu hồi đất Cho đến nay, Luật Đất đai năm 2013 quy định: “Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước quyết định thu lại quyền sử dụng đất của người được Nhà nước trao quyền sử dụng đất hoặc thu lại đất của người sử dụng đất vi phạm pháp luật về đất đai” Như vậy, mặc dù có những khác biệt nhất
định trong những quan điểm về thu hồi đất nhưng các khái niệm trên có mộtđiểm chung là dẫn đến hậu quả pháp lý chấm dứt quyền sử dụng đất đai củangười sử dụng đất hoặc quyền quản lý đất đai của các chủ thể được Nhà nướcgiao đất để quản lý (không phải người sử dụng đất)
Từ những nghiên cứu trên, theo tôi có thể hiểu một cách khái quát vềthu hồi đất như sau: Thu hồi đất là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền raquyết định hành chính để thu lại quyền sử dụng đất hoặc thu lại đất đã giaocho các chủ thể đã được trao quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luậtđất đai và pháp luật khác có liên quan
Qua cách hiểu trên, thấy được thu hồi đất có những đặc trưng cơ bản sau:
Thứ nhất, thu hồi đất được thực hiện thông qua quyết định thu hồi đất
của cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhằm chấm dứt quan hệ đất đai giữangười chiếm hữu, sử dụng đất đai với Nhà nước Được thể hiện dưới hình
Trang 25thức một quyết định hành chính trong đó xác định rõ chủ thể bị thu hồi, lý dothu hồi, diện tích thu hồi, mục đích thu hồi làm căn cứ cho việc chấm dứtquan hệ pháp luật đất đai giữa Nhà nước và người sử dụng đất.
Thứ hai, thu hồi đất do cơ quan hành chính nhà nước tiến hành theo
trình tự, thủ tục nhất định Hoạt động thu hồi đất luôn thể hiện quyền lực nhànước nhằm thực thi nội dung quản lý nhà nước về đất đai Thẩm quyền thuhồi đất được xác định theo thẩm quyền giao đất, cơ quan có thẩm quyền giaođất thì có quyền thu hồi đối với loại đất đó
Thứ ba, có trình tự thủ tục phức tạp và kéo dài.
Thứ tư, thu hồi đất đảm bảo các mục đích sau:
- Tạo quỹ đất để phục vụ cho các dự án kinh tế - xã hội và các dự ánkhác Thu hồi đất góp phần vào việc giải phóng mặt bằng, phân phối lại quỹđất để sử dụng cho mục đích an ninh quốc phòng, lợi ích quốc gia, lợi íchcông cộng, mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội
- Thu hồi đất là một trong những biện pháp quan trọng nhằm tăngcường sự quản lý nhà nước đối với đất đai, đảm bảo cho việc sử dụng đất đaimột cách hợp lý và tiết kiệm, đặc biệt trong một số trường hợp, thu hồi đấtgiúp cho việc ngăn chặn và xử lý kịp thời các vi phạm về đất đai như: đấtkhông sử dụng đúng mục đích, người sử dụng đất không thực hiện đúng nghĩa
vụ đối với Nhà nước, lấn, chiếm đất, đất được giao không đúng thẩm quyền
- Nhà nước thu hồi đất trong các trường hợp khác như tổ chức kinh tếđược nhà nước giao đất không thu tiền mà giải thể, phá sản, người sử dụngđất tự nguyện trả lại đất khi không có nhu cầu sử dụng… Nhà nước là đạidiện quyền sở hữu toàn dân đối với đất đai, chính vì vậy Nhà nước thu hồiđất vì mục đích của quốc gia, vì cộng đồng xã hội Thu hồi đất là một trongnhững hoạt động thể hiện quyền định đoạt đất đai của Nhà nước Do đó, thu
Trang 26hồi đất là một biện pháp bảo vệ quyền sở hữu đất đai mà Nhà nước là đạidiện chủ sở hữu.
Thứ năm, theo quy định của Luật đất đai có các trường hợp thu hồi đất sau:
Điều 61, Thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh: Hiến pháp 2013quy định Nhà nước thu hồi đất do tổ chức, cá nhân đang sử dụng trong trườnghợp thật cần thiết do luật định vì mục đích quốc phòng, an ninh; phát triểnkinh tế – xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng Các trường hợp thu hồi đất vìmục đích quốc phòng, an ninh:
- Làm nơi đóng quân, trụ sở làm việc;
- Xây dựng căn cứ quân sự; xây dựng công trình phòng thủquốc gia, trận địa và công trình đặc biệt về quốc phòng, an ninh;
- Xây dựng ga, cảng quân sự;
- Xây dựng công trình công nghiệp, khoa học và công nghệ,văn hóa, thể thao phục vụ trực tiếp cho quốc phòng, an ninh;
- Xây dựng kho tàng của lực lượng vũ trang nhân dân;
- Làm trường bắn, thao trường, bãi thử vũ khí, bãi hủy vũ khí;
- Xây dựng cơ sở đào tạo, trung tâm huấn luyện, bệnh viện,nhà an dưỡng của lực lượng vũ trang nhân dân;
- Xây dựng nhà công vụ của lực lượng vũ trang nhân dân;
- Xây dựng cơ sở giam giữ, cơ sở giáo dục do Bộ Quốc phòng,Bộ Công an quản lý
Điều 62, Thu hồi đất để phát triển kinh tế – xã hội vì lợi ích quốc gia,công cộng: Phát triển kinh tế vì lợi ích chung của đất nước là một trong vấnđề được coi trọng Với quỹ đất có hạn thì việc đưa quỹ đất này vào pháttriển kinh tế thì được cân nhắc một cách kỹ lưỡng nhất, nên các trường hợp
Trang 27thu hồi đất để phát triển kinh tế xã hôi vì lợi ích quốc gia, công cộng đượcquy định rất nghiêm ngặt Căn cứ Điều 62 – Luật đất đai 2013 nêu trườnghợp cụ thể sau:
- Thực hiện các dự án quan trọng quốc gia do Quốc hội quyếtđịnh chủ trương đầu tư mà phải thu hồi đất;
- Thực hiện các dự án do Thủ tướng Chính phủ chấp thuận,quyết định đầu tư mà phải thu hồi đất;
- Thực hiện các dự án do Hội đồng nhân dân cấp tỉnh chấpthuận mà phải thu hồi đất;
Điều 64, Thu hồi đất do vi phạm pháp luật về đất đai: Hiện nay, trongquá trình sử dụng đất người sử dụng có hành vi vi phạm pháp luật đất đainhư: sử dụng đất không đúng mục đích, khai thác sử dụng chưa hợp lý Nhằmphòng chống và khắc phục vấn đề này thì căn cứ Điều 64 – Luật đất đai 2013đưa ra những trường hợp vi vi phạm pháp luật về đất đai sẽ bị thu hồi, đảmbảo nguồn đất được sử dụng hiệu quả:
- Sử dụng đất không đúng mục đích đã được Nhà nước giao,cho thuê, công nhận quyền sử dụng đất và đã bị xử phạt vi phạmhành chính về hành vi sử dụng đất không đúng mục đích mà tiếptục vi phạm;
- Người sử dụng đất cố ý hủy hoại đất;
- Đất được giao, cho thuê không đúng đối tượng hoặc khôngđúng thẩm quyền;
- Đất không được chuyển nhượng, tặng cho theo quy địnhcủa Luật này mà nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho;
- Đất được Nhà nước giao để quản lý mà để bị lấn, chiếm;
- Đất không được chuyển quyền sử dụng đất theo quy định
Trang 28của Luật này mà người sử dụng đất do thiếu trách nhiệm để bịlấn, chiếm;
- Người sử dụng đất không thực hiện nghĩa vụ đối với Nhànước và đã bị xử phạt vi phạm hành chính mà không chấp hành;
- Đất trồng cây hàng năm không được sử dụng trong thời hạn
12 tháng liên tục; đất trồng cây lâu năm không được sử dụng trongthời hạn 18 tháng liên tục; đất trồng rừng không được sử dụng trongthời hạn 24 tháng liên tục;
- Đất được Nhà nước giao, cho thuê để thực hiện dự án đầu
tư mà không được sử dụng trong thời hạn 12 tháng liên tục hoặctiến độ sử dụng đất chậm 24 tháng so với tiến độ ghi trong dự ánđầu tư kể từ khi nhận bàn giao đất trên thực địa phải đưa đất vào sửdụng; trường hợp không đưa đất vào sử dụng thì chủ đầu tư đượcgia hạn sử dụng 24 tháng và phải nộp cho Nhà nước khoản tiềntương ứng với mức tiền sử dụng đất, tiền thuê đất đối với thời gianchậm tiến độ thực hiện dự án trong thời gian này; hết thời hạn đượcgia hạn mà chủ đầu tư vẫn chưa đưa đất vào sử dụng thì Nhà nướcthu hồi đất mà không bồi thường về đất và tài sản gắn liền với đất,trừ trường hợp do bất khả kháng
Việc thu hồi đất do vi phạm pháp luật về đất đai phải căn cứ vào vănbản, quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định hành vi viphạm pháp luật về đất đai.Và tại Điều 66 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP củaChính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai năm 2013quy định về trình tự, thủ tục thu hồi đất do vi phạm pháp luật
Điều 65, Thu hồi đất do chấm dứt việc sử dụng đất theo pháp luật, tựnguyện trả lại đất, có nguy cơ đe dọa tính mạng con người: Căn cứ theo Điều
Trang 2965 – Luật đất đai 2013 thì đối với quỹ đất được trả do chấm dứt hợp đồng,hoặc người sử dụng tự nguyện trả lại được nhà nước thu lại, cân bằng lại quỹđất để đảm bảo đất được sử dụng hiểu quả:
- Tổ chức được Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụngđất, được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất mà tiền sửdụng đất có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước bị giải thể, phá sản,chuyển đi nơi khác, giảm hoặc không còn nhu cầu sử dụng đất;người sử dụng đất thuê của Nhà nước trả tiền thuê đất hàng năm bịgiải thể, phá sản, chuyển đi nơi khác, giảm hoặc không còn nhu cầusử dụng đất;
– Cá nhân sử dụng đất chết mà không có người thừa kế;– Người sử dụng đất tự nguyện trả lại đất;
– Đất được Nhà nước giao, cho thuê có thời hạn nhưngkhông được gia hạn;
– Đất ở trong khu vực bị ô nhiễm môi trường có nguy cơ đedọa tính mạng con người;
– Đất ở có nguy cơ sạt lở, sụt lún, bị ảnh hưởng bởi hiệntượng thiên tai khác đe dọa tính mạng con người
1.1.2 Khái niệm, đặc điểm của thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng
So với khái niệm thu hồi đất, khái niệm thu hồi đất để phát triển kinhtế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng có điểm khác nhau ở mục đích thuhồi đất, nhưng về bản chất vẫn bắt nguồn từ hành vi thu hồi đất của cơquan nhà nước có thẩm quyền theo quy định của pháp luật Theo đó, việcthu hồi đất trong trường hợp này chỉ được thực hiện để phục vụ hai mụcđích chính là: phát triển kinh tế - xã hội và vì lợi ích quốc gia, công cộng
Trang 30Do đó, thông qua việc nghiên cứu hai mục đích này để tìm ra đặc điểm cănbản, bản chất của khái niệm thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội vì lợiích quốc gia, công cộng.
Theo đó, phát triển kinh tế là quá trình lớn lên, tăng tiến mọi mặt củanền kinh tế Nó bao gồm sự tăng trưởng kinh tế và đồng thời có sự hoàn chỉnhvề mặt cơ cấu, thể chế kinh tế, chất lượng cuộc sống [44] Phát triển xã hội làthúc đẩy một cách bền vững xã hội xứng đáng với phẩm giá con người bằngcách trao quyền cho các nhóm yếu thế, phụ nữ và nam giới, để họ có thể tìmđược cách thức riêng cải thiện cộng đồng của họ về địa vị kinh tế và để họ cóđược vị trí xứng đáng trong xã hội [39]
Đánh giá chung về thu hồi đất vì mục đích phát triển kinh tế, ThS
Nguyễn Minh Tuấn định nghĩa: “Thu hồi đất vì mục đích kinh tế là hành vi của Nhà nước dùng quyền lực của mình thông qua các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để thu hồi đất nhằm sử dụng vào mục đích phát triển kinh tế Việc thu hồi đất được thực hiện bằng biện pháp mệnh lệnh hành chính” [19,
xã hội, vì lợi ích quốc gia, công cộng”.
Ngoài các đặc điểm chung của hoạt động thu hồi đất, pháp luật thu hồiđất để phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng còn có nhữngđặc trưng riêng biệt như:
Trang 31Thứ nhất, chỉ thu hồi đất để tiến hành các dự án phát triển – kinh tế xã
hội do Chính phủ, UBND cấp tỉnh phê duyệt với điều kiện:
- Thực hiện các dự án quan trọng quốc gia do Quốc hội quyết định chủtrương đầu tư mà phải thu hồi đất
- Thực hiện các dự án do Thủ tướng chính phủ chấp thuận, quyết địnhđầu tư mà phải thu hồi đất, bao gồm:
-Thực hiện các dự án do Hội đồng nhân dân cấp tỉnh chấp thuận màphải thu hồi đất [17, Điều 69]
Thứ hai, mục đích thu hồi đất phải là để thực hiện các dự án kinh tế
-xã hội vì lợi ích nhà nước, công cộng Trường hợp thực hiện Dự án phát triểnkinh tế - xã hội song vì lợi ích của chủ đầu tư thì không thuộc trường hợptrên Tuy nhiên trên thực tế quy định này rất khó phân định, bởi ngay bản chấthoạt động của thương nhân là thu lợi nhuận, vì vậy ngay cả khi thực hiện cácdự án phát triển – kinh tế - xã hội của đất nước vì lợi ích quốc gia, công cộngvẫn tồn tại trong đó lợi ích của chủ thể tổ chức thực hiện Đây được xem là vấnđề lớn và là bài toán vĩ mô cần giải quyết mấu chốt trong chính sách thu hồi đấtphải là để thực hiện các dự án kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng
Thứ ba, chỉ được tiến hành thu hồi đất khi thỏa mãn các điều kiện pháp
định cụ thể được quy định tại Điều 63 Luật đất đai 2013
Thứ tư, đảm bảo điều kiện về dự án, theo đó Luật Đất đai năm 2013 đã
thu hẹp số lượng dự án được thu hồi đất vì lý do phát triển kinh tế - xã hội vìlợi ích nhà nước, công cộng hơn so với quy định của Luật Đất đai năm 2003cho phép nhưng không hạn định loại dự án dẫn đến sự tùy tiện trong côngtác thu hồi
1.1.3 Mục đích của thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng
Trang 32Pháp luật thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia,công cộng đáp ứng các mục đích sau:
Thứ nhất, tạo quỹ đất để phục vụ cho các dự án kinh tế - xã hội và các
dự án khác
Thứ hai, thu hồi đất để lập lại kỷ cương quản lý của Nhà nước trong
quan hệ sử dụng đất đai đối với các trường hợp vi phạm pháp luật về đất đai
Thứ ba, nhằm mục đích khai thác, sử dụng hiệu quả đất đai, tránh tình
trạng đất bỏ hoang, đất không được khai thác hiệu quả
1.1.4 Nguyên tắc thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng
Thứ nhất, chỉ thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc
gia, công cộng khi thuộc các trường hợp pháp luật quy định
Thứ hai, chỉ được sử dụng đất thu hồi để sử dụng cho các dự án, công
trình phát triển kinh tế - xã hội, vì lợi ích quốc gia, công cộng
Thứ ba, người bị thu hồi đất thỏa mãn các điều kiện theo quy định pháp
luật thì được bồi thường; trường hợp không được bồi thường thì cơ quan nhànước có thẩm quyền xem xét hỗ trợ
1.1.5 Các trường hợp thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng
Theo quy định tại Điều 62 Luật Đất đai 2013, chủ thể có thẩm quyềnchỉ được thực hiện thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia,công cộng trong các trường hợp sau:
Một là, để thực hiện các dự án quan trọng quốc gia do Quốc hội quyếtđịnh chủ trương đầu tư mà phải thu hồi đất;
Hai là, thực hiện các dự án do Thủ tướng Chính phủ chấp thuận, quyếtđịnh đầu tư mà phải thu hồi đất, bao gồm:
Trang 33- Dự án xây dựng khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao,khu kinh tế; khu đô thị mới, dự án đầu tư bằng nguồn vốn hỗ trợ phát triểnchính thức (ODA);
- Dự án xây dựng trụ sở cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chứcchính trị - xã hội ở trung ương; trụ sở của tổ chức nước ngoài có chức năngngoại giao; công trình di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh được xếphạng, công viên, quảng trường, tượng đài, bia tưởng niệm, công trình sựnghiệp công cấp quốc gia;
- Dự án xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ thuật cấp quốc gia gồm giao thông,thủy lợi, cấp nước, thoát nước, điện lực, thông tin liên lạc; hệ thống dẫn, chứaxăng dầu, khí đốt; kho dự trữ quốc gia; công trình thu gom, xử lý chất thải;
Ba là, để thực hiện các dự án do Hội đồng nhân dân cấp tỉnh chấp thuận
mà phải thu hồi đất bao gồm:
- Dự án xây dựng trụ sở cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chứcchính trị - xã hội; công trình di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnhđược xếp hạng, công viên, quảng trường, tượng đài, bia tưởng niệm, côngtrình sự nghiệp công cấp địa phương;
- Dự án xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ thuật của địa phương gồm giaothông, thủy lợi, cấp nước, thoát nước, điện lực, thông tin liên lạc, chiếu sáng
đô thị; công trình thu gom, xử lý chất thải;
- Dự án xây dựng công trình phục vụ sinh hoạt chung của cộng đồngdân cư; dự án tái định cư, nhà ở cho sinh viên, nhà ở xã hội, nhà ở công vụ;xây dựng công trình của cơ sở tôn giáo; khu văn hóa, thể thao, vui chơi giải tríphục vụ công cộng; chợ; nghĩa trang, nghĩa địa, nhà tang lễ, nhà hỏa táng;
- Dự án xây dựng khu đô thị mới, khu dân cư nông thôn mới; chỉnhtrang đô thị, khu dân cư nông thôn; cụm công nghiệp; khu sản xuất, chế biến
Trang 34nông sản, lâm sản, thủy sản, hải sản tập trung; dự án phát triển rừng phòng hộ,rừng đặc dụng;
- Dự án khai thác khoáng sản được cơ quan có thẩm quyền cấp phép,trừ trường hợp khai thác khoáng sản làm vật liệu xây dựng thông thường, thanbùn, khoáng sản tại các khu vực có khoáng sản phân tán, nhỏ lẻ và khai tháctận thu khoáng sản
Như vậy, chủ thể có thẩm quyền chỉ được phép thu hồi đất để phát triểnkinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng khi và chỉ khi thuộc các trườnghợp được liệt kê trên đây
1.2 Lý luận pháp luật về thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội
vì lợi ích quốc gia, công cộng
1.2.1 Cơ sở ra đời pháp luật về thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng
Bất cứ một quan hệ xã hội nào phát sinh trong đời sống xã hội cũng cầnđến sự điều chỉnh của pháp luật, nhằm định hướng các quan hệ này đi theomột trật tự chung thống nhất, phù hợp với lợi ích nhà nước, của các bên thamgia quan hệ và vì lợi ích chung của toàn xã hội
Pháp luật được hiểu là: “Hệ thống những quy tắc xử sự do Nhà nướcđặt ra hoặc thừa nhận và bảo đảm thực hiện, thể hiện ý chí của giai cấp thốngtrị nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội phát triển phù hợp với lợi ích của giaicấp thống trị” [29, tr.87]
Trong lĩnh vực đất đai, cùng với các quy định pháp luật liên quan, hàngloạt các quy phạm pháp luật được ban hành quy định về nguyên tắc, điềukiện, nội dung và phương thức thu hồi, bồi thường, trình tự, thủ tục cũng nhưviệc giải quyết khiếu nại, tố cáo về thu hồi đất
Trong đó, quan hệ thu hồi đất được đánh giá là một quan hệ phức tạp
Trang 35và nhạy cảm Do đó, sự tham gia điều chỉnh của pháp luật là điều tất yếu vàthực sự cần thiết.
Đất đai là tài sản đặc biệt, theo đó Hiến pháp 2013 đã quy định, đất đaithuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu Các tổ chức, cá nhâncó quyền sử dụng đất và quyền này là một loại tài sản và hàng hóa đặc biệt,nhưng không phải là quyền sở hữu, mặc dù người sử dụng đất được chuyểnđổi, chuyển nhượng, cho thuê, thừa kế, thế chấp, góp vốn bằng quyền sử dụngđất theo quy định của pháp luật
Với quy định trên, Nhà nước thay mặt toàn dân quản lý, định đoạt sốphận pháp lý của đất đai Thu hồi đất là một trong các hành vi thể hiện quyềnđịnh đoạt đó Chính chế độ sở hữu về đất đai là cơ sở cho việc quản lý, sửdụng đất, trong đó thu hồi đất cũng là một trong những nội dung về quản lýđất đai của nhà nước Vấn đề thu hồi đất chỉ đặt ra khi có quyền sở hữu hợppháp về đất đai, và quyền này thuộc về nhà nước
Để thực hiện chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, quy hoạch, kế hoạchsử dụng đất, các cấp đã dự kiến quỹ đất sử dụng cho các mục đích, trong đócó mục đích phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng Vớichức năng quản lý xã hội, Nhà nước tham gia vào việc quản lý quan hệ phátsinh trong lĩnh vực đất đai nói chung, quan hệ thu hồi đất để phát triển kinh tếxã hội nói riêng Trong đó, nhà nước giữ vai trò điều tiết, phân phối lại để sửdụng đất đai hợp lý, có hiệu quả
Theo quy định pháp luật đất đai hiện hành thì việc thu hồi đất để phát
triển kinh tế - xã hội phải căn cứ vào:
- Thu hồi để phục vụ mục đích phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốcgia, công cộng
Trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Nhà nước với
Trang 36tư cách là chủ đầu tư lớn nhất có nhiệm vụ xây dựng các cơ sở kinh tế, hạtầng xã hội, sử dụng đất vào mục đích quốc phòng, an ninh, phát triển kinh tế
- xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng cùng với các chủ đầu tư khác có nhucầu sử dụng đất rất lớn Trong khi đó những diện tích đất nhà nước có nhucầu sử dụng lại do được giao đất, thuê đất, do nhận chuyển quyền sử dụng đấthoặc được công nhận quyền sử dụng đất Do vậy, vì lợi ích của xã hội nhữngngười đang sử dụng đất phải chấp hành quyết định thu hồi đất của Nhà nướcđể phục vụ cho mục đích quốc phòng, an ninh, phát triển kinh tế - xã hội vìlợi ích quốc gia, công cộng
- Việc thu hồi đất chỉ được phê duyệt cho các dự án thuộc các trườnghợp thu hồi đất quy định của pháp luật Theo đó, pháp luật hiện hành định ra
cụ thể các trường hợp được thu hồi, chủ thể cũng như trình tự thu hồi đất đểhạn chế, phòng ngừa sự tùy tiện trong quá trình thu hồi đất đai, ảnh hưởngnghiêm trọng đến quyền, lợi ích của người sử dụng đất, các chủ thể liên quan,gây lãng phí tài nguyên
- Kế hoạch sử dụng đất hàng năm của cấp huyện đã được cơ quan nhànước có thẩm quyền phê duyệt
- Tiến độ sử dụng đất thực hiện dự án [17, Điều 62]
Như vậy, căn cứ vào chế độ sở hữu toàn dân, nhà nước với vai trò quảnlý Nhà nước về đất đai, thực hiện việc thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hộivì lợi ích quốc gia, công cộng khi và chỉ khi việc thu hồi đất xuất phát vì mụctiêu phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng và đảm bảo cácđiều kiện về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
1.2.2 Khái niệm, đặc điểm của pháp luật về thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng
Nghiên cứu, tìm hiểu nội dung các quy định pháp luật, có thể thấy pháp
Trang 37luật về thu hồi đất là một chế định quan trọng của pháp luật đất đai Việt Nam,trên cơ sở đó pháp luật về thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội, vì lợi ích
quốc gia, công cộng có thể được hiểu về mặt lý luận như sau: “Pháp luật về thu hồi đất là tổng hợp các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành để điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình thu hồi khi Nhà nước thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội, vì lợi ích Nhà nước, công cộng, nhằm giải quyết hài hòa lợi ích của Nhà nước, lợi ích của chủ đầu tư, người
bị thu hồi đất”.
Có thể nói pháp luật về thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội, vì lợiích quốc gia, công cộng là một lĩnh vực pháp luật nhạy cảm Nó thu hút sựquan tâm của mọi người trong xã hội Các quy định về thu hồi đất được banhành phù hợp với thực tiễn, bảo hộ quyền và lợi ích hợp pháp của người dânđược họ đồng tình ủng hộ, đảm bảo việc thu hồi đất được thực hiện nhanhchóng, dứt điểm Ngược lại quy định về thu hồi đất không phù hợp với thựctế, tác động tiêu cực đến tâm lý suy nghĩ của người dân thì sẽ không nhậnđược sự đồng thuận, phát sinh các tranh chấp, khiếu kiện kéo dài tiềm ẩnnguy cơ mất ổn định chính trị - xã hội; hậu quả là việc thu hồi đất gặp nhiềukhó khăn, phức tạp và thậm chí là không thực hiện được
Ngoài các đặc điểm chung của hoạt động thu hồi đất, hoạt động thu hồiđất để phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích Nhà nước, công cộng còn có nhữngđặc trưng riêng biệt như:
Thứ nhất, chỉ thu hồi đất để tiến hành các dự án phát triển – kinh tế xã
hội do Chính phủ, UBND cấp tỉnh phê duyệt
Thứ hai, mục đích thu hồi đất phải là để thực hiện các dự án kinh tế
-xã hội vì lợi ích Nhà nước, công cộng Trường hợp thực hiện Dự án pháttriển kinh tế - xã hội song vì lợi ích của chủ đầu tư thì không thuộc trường
Trang 38hợp trên Tuy nhiên trên thực tế quy định này rất khó phân định, bởi ngaybản chất hoạt động của thương nhân là thu lợi nhuận, vì vậy ngay cả khithực hiện các dự án phát triển – kinh tế - xã hội của đất nước vì lợi ích Nhànước, công cộng vẫn tồn tại trong đó lợi ích của chủ thể tổ chức thực hiện.Đây được xem là vấn đề lớn và là bài toán vĩ mô cần giải quyết mấu chốttrong chính sách thu hồi đất phải là để thực hiện các dự án kinh tế - xã hội vìlợi ích Nhà nước, công cộng.
Thứ ba, chỉ được tiến hành thu hồi đất khi thỏa mãn các điều kiện pháp
định (cụ thể được quy định tại Điều 63 Luật đất đai 2013)
1.2.3 Cấu trúc pháp luật về thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng
Cấu trúc pháp luật về thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội vì lợi íchquốc gia, công cộng bao gồm các quy định pháp luật:
- Về chủ thể và thẩm quyền trong quan hệ thu hồi đất để phát triển kinhtế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng bao gồm: Các cơ quan quản lý nhànước về đất đai và Chủ thể có quyền sử dụng đất;
- Về thông báo thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốcgia, công cộng;
- Về trình tự, thủ tục thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội vì lợi íchquốc gia, công cộng bao gồm: Xây dựng và thực hiện kế hoạch thu hồi đất đểphát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng; Lập, thẩm địnhphương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư; Quyết định thu hồi đất, phê duyệt
và tổ chức thực hiện phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư; Về xử lý viphạm pháp luật và giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai
1.2.4 Các điều kiện đảm bảo thực hiện pháp luật về thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng
Trang 39- Điều kiện đảm bảo về chính trị, tư tưởng:
Đường lối chủ trương của Đảng là cơ sở chính trị quan trọng cho các cơquan Nhà nước thể chế hóa thành hệ thống văn bản quy phạm pháp luật liênquan đến chính sách thu hồi đất, tạo cơ sở pháp lý cho việc đưa những chủtrương, chính sách của Đảng vào cuộc sống
- Điều kiện đảm bảo về pháp lý
Các quy định pháp lý điều chỉnh quan hệ thu hồi đất nói chung, thu hồiđất để phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng nói riêng đượcchú trọng ban hành, sửa đổi, bổ sung theo hướng ngày càng hoàn thiện, đápứng yêu cầu của thực tiễn Đây là những cơ sở pháp lý quan trọng để tổ chứcthực hiện việc thu hồi đất
- Điều kiện đảm bảo về kinh tế và việc làm cho người bị thu hồi đấtThực hiện pháp luật về thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội vì lợiích quốc gia, công cộng phải có nguồn kinh phí, vật chất khá lớn Những chiphí này bao gồm chi phí cho công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật; chiphí cho cơ quan nhà nước tổ chức thực hiện và xử lý vi phạm pháp luật, đặcbiệt là các chi phí cho bồi thường, hỗ trợ và xây dựng các khu vực tái định cưcho người bị thu hồi đất
- Điều kiện đảm bảo về cơ chế chính sách và trình độ, năng lực phẩmchất của cán bộ, công chức
Để thực hiện tốt pháp luật trong lĩnh vực thu hồi đất để phát triển kinhtế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng, đòi hỏi đội ngũ cán bộ, công chứcphải trung thực, tận tâm trong công việc Đồng thời phải có trình độ chuyênmôn, nghiệp vụ, có phẩm chất chính trị, đạo đức tốt và cần có chế độ tiềnlương phù hợp
1.2.5 Lịch sử hình thành và phát triển pháp luật về thu hồi đất để
Trang 40phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng
Pháp luật đất đai qua các thời kỳ, kể từ khi Hiến pháp 1980 được banhành đến nay, đều quy định về hoạt động thu hồi đất như là một công cụ quảnlý nhà nước và cũng nhằm để thực hiện quyền đại diện chủ sở hữu của nhànước đối với đất đai Trong điều kiện kinh tế thị trường, thu hồi đất còn đượcxem như là một “khâu” của quá trình “điều phối” đất đai Cùng với quá trìnhphát triển của pháp luật đất đai, chế định thu hồi đất cũng dần được hoànthiện Qua đó, quyền và lợi ích của cá nhân, cộng đồng trong các dự án có thuhồi đất nông nghiệp ngày càng được bảo đảm hơn
Đáp ứng yêu cầu thực tiễn, các quy định pháp luật về thu hồi đất ngàycàng được hoàn thiện và phát triển:
- Qua 05 bản Hiến pháp 1945, 1959, 1980, 1992, 2013 đặc biệt, là quyđịnh của Hiến pháp 2013 quy định rõ trường hợp cho phép thu hồi đất để pháttriển kinh tế - xã hội vì lợi ích Nhà nước, công cộng
- Hệ thống văn bản pháp luật đất đai: Luật đất đai năm 1987, Luật đấtđai năm 1993 (sửa đổi bổ sung năm 1998, 2001), Luật đất đai 2003 và LuậtĐất đai 2013 Cụ thể là hệ thống các quy định tại Điều 62, Điều 63, Điều 69
và hàng loạt các quy định về bồi thường, hỗ trợ tái định cư trong Luật đất đai
2013 Bên cạnh luật đất đai là hệ thống các văn bản pháp luật thi hành, hiệnnay được điều chỉnh chủ yếu tại Nghị định 43/2015/NĐ –CP
- Hệ thống văn bản dưới luật: các Thông tư, Quyết định, kế hoạch,Công văn của các Bộ tài nguyên môi trường, UBND tại địa phương
Hiến pháp năm 1992 [15] khẳng định chế độ sở hữu toàn dân về đất đai(Điều 17) và vai trò quản lý của nhà nước đối với đất đai (Nhà nước đại diệnchủ sở hữu và thống nhất quản lý (Điều 53); Nhà nước giao đất cho các tổ