Về mặt nghiên cứu, mặc dù là một nội dung quan trọng trong cơ cấu hoạt động của ngân hàng và thị trường tài chính, nhưng hiện nay nội dung pháp luật điều chỉnh hoạt động đầu tư của ngân
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
NGUYỄN THỊ THANH TÚ
ĐỀ TÀI HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
TẠI VIỆT NAM
LUẬN ÁN TIẾN SỸ LUẬT HỌC
Hà Nội – 2019
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
NGUYỄN THỊ THANH TÚ
ĐỀ TÀI HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
TẠI VIỆT NAM
LUẬN ÁN TIẾN SỸ LUẬT HỌC
Chuyên ngành: Luật Kinh tế
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận án chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu trong luận án là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng, được trích dẫn đúng theo quy định
Tôi xin chịu trách nhiệm về tính chính xác và trung thực của Luận án này
Tác giả luận án
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Đầu tiên, tôi xin gửi làm cảm ơn chân thành nhất đến các giảng viên, cán bộ, các đồng nghiệp của tôi tại trường Đại học Luật Hà Nội đã tạo điều kiện tốt nhất để tôi học tập và hoàn thành chương trình đào tạo
Cảm ơn gia đình đã luôn động viên tinh thần cho tôi trong suốt thời gian học tập và nghiên cứu để hoàn thành Luận án này
Cuối cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành sâu sắc nhất đến giảng viên hướng dẫn của tôi, PGS,TS Phạm Thị Giang Thu và TS Đồng Ngọc Ba, người đã giúp đỡ, hướng dẫn tôi từ khi lựa chọn đề tài đến khi hoàn thành Thầy, cô đã luôn đồng hành cùng tôi trong suốt quá trình nghiên cứu bằng tinh thần khoa học nhiệt thành nhất
Trang 5DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
ABBank : Ngân hàng thương mại cổ phần An Bình
ACB : Ngân hàng thương mại cổ phần Á Châu
Agribank : Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam
Bac A Bank : Ngân hàng thương mại cổ phần Bắc Á
Bao Viet Bank : Ngân hàng thương mại cổ phần Bảo Việt
BIDV : Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam
DaiABank : Ngân hàng thương mại cổ phần Đại Á
DongABank : Ngân hàng thương mại cổ phần Đông Á
EximBank : Ngân hàng thương mại cổ phần Xuất Nhập Khẩu Việt Nam
HDBank : Ngân hàng thương mại cổ phần Phát triển thành phố Hồ Chí Minh KienLongBank : Ngân hàng thương mại cổ phần Kiên Long
Maritime Bank : Ngân hàng thương mại cổ phần Hàng Hải
NHTM : Ngân hàng thương mại
NHNN : Ngân hàng Nhà nước
Nam A Bank : Ngân hàng thương mại cổ phần Nam Á
MB : Ngân hàng thương mại cổ phần Quân đội
MHB : Ngân hàng phát triển Nhà Đồng bằng sông Cửu Long
Oceanbank : Ngân hàng thương mại cổ phần Đại dương
Sacombank : Ngân hàng thương mại cổ phần Đại chúng Việt Nam
SeaBank : Ngân hàng thương mại cổ phần Đông Nam Á
SHB : Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn – Hà Nội
Techcombank : Ngân hàng thương mại cổ phần Kỹ thương
TCTD : Tổ chức tín dụng
VIB : Ngân hàng thương mại cổ phần Quốc tế
Vietinbank : Ngân hàng thương mại cổ phần Công thương Việt Nam
VPBank : Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam Thịnh Vượng
Vietcombank : Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam
Trang 6MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 8
PHẦN I TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 14
1 Các công trình nghiên cứu đã công bố liên quan đến đề tài 14
1.1 Các nghiên cứu trên khía cạnh pháp luật điều chỉnh hoạt động đầu tư của NHTM 14
1.2 Các nghiên cứu trên khía cạnh kinh tế 19
2 Đánh giá những kết quả nghiên cứu đã công bố liên quan đến luận án 25
2.1 Những kết quả nghiên cứu về lí luận hoạt động đầu tư của ngân hàng thương mại và hoàn thiện pháp luật điều chỉnh hoạt động đầu tư của ngân hàng thương mại 25
2.2 Những kết quả nghiên cứu về thực trạng pháp luật điều chỉnh hoạt động đầu tư của ngân hàng thương mại ở Việt Nam 29
2.3 Đề xuất và giải pháp trong các công trình nghiên cứu nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về hoạt động đầu tư của ngân hàng thương mại 35
3 Cơ sở lí thuyết, câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu 40
PHẦN 2: NỘI DUNG LUẬN ÁN 43
CHƯƠNG I TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ VẤN ĐỀ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 43
1.1 Khái quát về hoạt động đầu tư của ngân hàng thương mại 43
1.1.1 Quan niệm về hoạt động đầu tư của ngân hàng thương mại 43
1.1.2 Đặc điểm hoạt động đầu tư của ngân hàng thương mại 48
1.1.3 Phân loại hoạt động đầu tư của ngân hàng thương mại 58
1.1.4 Vai trò hoạt động đầu tư của ngân hàng thương mại 63
1.2 Quan niệm và cấu trúc pháp luật điều chỉnh hoạt động đầu tư của ngân hàng thương mại 66
1.2.1 Quan niệm về pháp luật điều chỉnh hoạt động đầu tư của ngân hàng thương mại 66
1.2.1 Cấu trúc pháp luật điều chỉnh hoạt động đầu tư của ngân hàng thương mại 69 1.3 Khái quát về hoàn thiện pháp luật điều chỉnh hoạt động đầu tư của ngân hàng thương mại 74
1.3.1 Quan niệm về hoàn thiện pháp luật điều chỉnh hoạt động đầu tư của ngân hàng thương mại 74
1.3.2 Nguyên tắc cơ bản của việc hoàn thiện pháp luật điều chỉnh hoạt động đầu tư của ngân hàng thương mại 77
1.3.3 Tiêu chí hoàn thiện pháp luật điều chỉnh hoạt động đầu tư của ngân hàng thương mại 80
KẾT LUẬN CHƯƠNG I 85
Trang 7CHƯƠNG II THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH HOẠT ĐỘNG ĐẦU
TƯ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI TẠI VIỆT NAM 87
2.1 Thực trạng pháp luật về phương thức thực hiện hoạt động đầu tư của ngân hàng thương mại 87
2.1.1 Về hoạt động góp vốn, mua cổ phần của ngân hàng thương mại 87
2.1.2 Về hoạt động đầu tư chứng khoán của ngân hàng thương mại 93
2.1.3 Về hoạt động uỷ thác đầu tư của ngân hàng thương mại 100
2.2 Thực trạng pháp luật về điều kiện và trình tự thực hiện hoạt động đầu tư của ngân hàng thương mại 102
2.2.1 Điều kiện và trình tự thực hiện góp vốn, mua cổ phần của ngân hàng thương mại 102
2.2.2 Điều kiện và trình tự thực hiện hoạt động đầu tư chứng khoán của ngân hàng thương mại 108
2.2.3 Điều kiện và trình tự thực hiện hoạt động uỷ thác đầu tư 113
2.3 Thực trạng pháp luật về đảm bảo an toàn cho hoạt động đầu tư của ngân hàng thương mại 114
2.3.1 Pháp luật về giới hạn trong vốn đầu tư đối với hoạt động đầu tư của ngân hàng thương mại 114
2.3.2 Trường hợp không được thực hiện hoạt động đầu tư 121
2.3.3 Qui định khác nhằm đảm bảo an toàn trong hoạt động đầu tư của ngân hàng thương mại 125
2.4 Thực trạng pháp luật về quản lí nhà nước đối với hoạt động đầu tư của ngân hàng thương mại 128
2.4.1 Chủ thể quản lí hoạt động đầu tư của ngân hàng thương mại 129
2.4.2 Biện pháp quản lí nhà nước đối với hoạt động đầu tư của ngân hàng thương mại 131
KẾT LUẬN CHƯƠNG II 139
CHƯƠNG III ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI TẠI VIỆT NAM 141
3.1 Định hướng hoàn thiện pháp luật điều chỉnh hoạt động đầu tư của ngân hàng thương mại tại Việt Nam 141
3.2 Giải pháp hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật điều chỉnh hoạt động đầu tư của ngân hàng thương mại tại Việt Nam 146
3.2.1 Giải pháp hoàn thiện pháp luật điều chỉnh hoạt động đầu tư của ngân hàng thương mại 147
3.2.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật điều chỉnh hoạt động đầu tư của ngân hàng thương mại 168
KẾT LUẬN CỦA LUẬN ÁN 176
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 178
PHỤ LỤC 185
Trang 8PHẦN MỞ ĐẦU
Về mặt thực tiễn, trong bối cảnh toàn cầu hóa và sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế, đa dạng hóa và mở rộng dịch vụ là xu hướng tất yếu tại các ngân hàng nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh Tại Việt Nam hiện nay, các ngân hàng thương mại không chỉ dừng lại ở việc đẩy mạnh các dịch vụ truyền thống mà ngày càng phát triển nhiều loại hình hoạt động, trong đó nhiều ngân hàng phát triển thành mô hình
có tính chất hỗn hợp Các hoạt động đầu tư của ngân hàng thương mại như góp vốn, mua cổ phần, đầu tư chứng khoán theo đó được đẩy mạnh, trở thành hoạt động có vị trí ngày càng quan trọng bởi lợi ích kinh tế và ý nghĩa phân tán rủi ro nhất định đối với các ngân hàng Tuy nhiên, xuất phát từ đặc thù của hoạt động ngân hàng nói chung và rủi ro tiềm ẩn liên quan đến vấn đề xung đột lợi ích hàm chứa trong các hoạt động đầu tư , yêu cầu cần kiểm soát chặt chẽ nhóm hoạt động này đối với ngân hàng thương mại là rất cần thiết Sự kiểm soát này hướng đến mục tiêu không gây ảnh hưởng hoặc hạn chế thấp nhất ảnh hưởng đến hoạt động và chức năng trung gian tiền tệ của ngân hàng thương mại cũng như cả hệ thống, bảo vệ quyền lợi người gửi tiền
Thực tế giai đoạn vừa qua cho thấy, những bất ổn của thị trường tài chính toàn cầu tác động mạnh mẽ đến hoạt động của hệ thống ngân hàng tại Việt Nam, dẫn đến những yếu kém nội tại được thể hiện rõ ràng Yêu cầu tăng cường sự can thiệp và quản
lí của Nhà nước đối với hệ thống ngân hàng càng được đặt ra cấp thiết
Về mặt pháp luật, việc ban hành mới và sửa đổi Luật các tổ chức tín dụng (năm 1997, 2004 và 2010, 2017) cùng văn bản hướng dẫn thi hành đã thiết lập một
cơ sở pháp lí tương đối đầy đủ, chi tiết hơn trong điều chỉnh hoạt động ngân hàng và đảm bảo an toàn hệ thống Tuy nhiên, một số bất cập, hạn chế vẫn còn tồn tại xét từng nhóm nội dung, đặc biệt trong nhóm quy phạm điều chỉnh hoạt động đầu tư của ngân hàng thương mại Những hạn chế này gây ra những hệ quả và rủi ro nhất định trên thực tế thị trường và đặt ra yêu cầu cần thiết phải hoàn thiện nhằm đảm bảo an toàn hệ thống ngân hàng và nền tài chính
Trang 9Về mặt nghiên cứu, mặc dù là một nội dung quan trọng trong cơ cấu hoạt động của ngân hàng và thị trường tài chính, nhưng hiện nay nội dung pháp luật điều chỉnh hoạt động đầu tư của ngân hàng thương mại chưa thực sự được quan tâm nghiên cứu Các công trình đã được công bố tập trung vào hoạt động huy động vốn hoặc cấp tín dụng của ngân hàng thương mại Pháp luật về hoạt động đầu tư của ngân hàng thương mại chỉ được đề cập ở từng nội dung hoạt động và chủ yếu trên giác độ kinh tế, những phân tích chuyên sâu hoặc chuyên ngành, đặc biệt về pháp luật rất hạn chế Điểm qua nội dung các công trình này được mô tả chi tiết tại mục 2 Phần thứ nhất của Luận
án
Từ những lí do trên, việc nghiên cứu thấu đáo những vấn đề lí luận và thực tiễn đối với pháp luật về hoạt động đầu tư của ngân hàng thương mại từ đó xây dựng
và hoàn thiện hệ thống các quy phạm pháp luật điều chỉnh hoạt động này là cấp thiết
và có tính thời sự Chính vì vậy, tác giả đã lựa chọn đề tài “Hoàn thiện pháp luật điều chỉnh hoạt động đầu tư của Ngân hàng thương mại tại Việt Nam” làm đề
tài nghiên cứu luận án tiến sĩ luật học của mình
Mục đích nghiên cứu của luận án là xây dựng cơ sở lí luận về hoạt động đầu
tư và pháp luật đối với hoạt động đầu tư của NHTM, đánh giá thực trạng các quy định pháp luật hiện hành, từ đó đưa ra giải pháp hoàn thiện pháp luật đối với hoạt động đầu tư của NHTM Nghiên cứu, đánh giá của luận án nhằm đến mục tiêu quản
lí hiệu quả, đồng thời có tính định hướng đối với hoạt động đầu tư của các NHTM hiện nay trước yêu cầu hội nhập của nền kinh tế
Với mục đích nghiên cứu trên, nhiệm vụ nghiên cứu của luận án được xác định là:
Thứ nhất, tác giả tập trung nghiên cứu và đưa ra khái niệm về hoạt động đầu
tư của NHTM, chỉ ra đặc điểm đặc thù hoạt động đầu tư của NHTM với các hoạt động ngân hàng truyền thống và các hoạt động đầu tư khác cũng như ý nghĩa hoạt động đầu tư đối với mô hình NHTM
Thứ hai, nghiên cứu và xây dựng khái niệm và xác định cấu trúc pháp luật
điều chỉnh hoạt động đầu tư của NHTM từ đó xác định các yếu tố ảnh hưởng đến pháp luật điều chỉnh hoạt động đầu tư của các NHTM
Trang 10Thứ ba, nghiên cứu lí luận và thực tiễn một số nội dung pháp luật điều chỉnh
hoạt động đầu tư của NHTM tại Việt Nam gồm quy định về phương thức thực hiện hoạt động đầu tư, quy định về các biện pháp bảo đảm an toàn khi NHTM thực hiện các hoạt động đầu tư và quy định về quản lí nhà nước đối với hoạt động đầu tư của NHTM
Thứ tư, từ những vấn đề nghiên cứu và giải quyết, luận án đưa ra giải pháp
hoàn thiện pháp luật điều chỉnh hoạt động đầu tư của NHTM tại Việt Nam, và tăng cường hiệu quả thực thi Giải pháp vừa có tính tổng thể vừa chi tiết để đảm bảo tính khả thi
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án được xác định như sau:
- Các quan điểm khoa học, học thuyết pháp lí của các tác giả cá nhân và
tổ chức đã công bố trong các công trình trong nước và nước ngoài
- Hệ thống các quy định pháp luật điều chỉnh hoạt động đầu tư của NHTM bao gồm: Luật các Tổ chức tín dụng và các văn bản hướng dẫn thi hành, Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư, Luật Thương mại và các quy định quốc tế như Hiệp ước Basel
- Thực tiễn hoạt động đầu tư của một số NHTM tại Việt Nam và thị trường thông qua phân tích số liệu báo cáo, tổng hợp
Về phạm vi nghiên cứu: Nội hàm hoạt động đầu tư của NHTM có phạm vi rộng và hẹp theo quan điểm tiếp cận Tuy nhiên, trong khuôn khổ hạn định của luận
án, tác giả tập trung nghiên cứu các quy định pháp luật điều chỉnh hoạt động đầu tư của NHTM từ khi ban hành Luật các TCTD số 47/2010/QH12 năm 2010 đến nay Bên cạnh đó, tác giả xác định phạm vi nghiên cứu giới hạn trong một số hoạt động bao gồm các hoạt động góp vốn, mua cổ phần, hoạt động kinh doanh chứng khoán
và hoạt động uỷ thác đầu tư Luận án không nghiên cứu các hoạt động tín dụng đầu
tư, đầu tư vào tài sản cố định, và một số hoạt động đầu tư khác như kinh doanh ngoại hối, kinh doanh vàng, đây được xác định là những vấn đề đã được nghiên cứu tại nhiều công trình
4 Phương pháp nghiên cứu
Luận án xác định đối tượng nghiên cứu là pháp luật điều chỉnh đến hoạt động của chủ thể đặc thù của nền kinh tế - NHTM, do đó các yếu tố thị trường, chính trị
Trang 11và yếu tố khác có tác động không nhỏ đến xây dựng và hoàn thiện pháp luật Để giải quyết hiệu quả đề tài, bên cạnh phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, duy vật lịch sử; các quan điểm, chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước về hoạt động tài chính ngân hàng, … các phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp, phỏng đoán khoa học sẽ được tác giả vận dụng một cách linh hoạt nhằm đặt được mục đích nghiên cứu trong từng nội dung
Tại phần I, phương pháp tổng hợp được sử dụng chủ yếu nhằm tạo lập nguồn tài liệu đầy đủ cho nghiên cứu và hoàn thiện Luận án Bên cạnh đó, phương pháp phỏng đoán được kết hợp nhằm đưa ra đánh giá và kết luận về tình hình nghiên cứu của đề tài
Tại phần II, các phương pháp nghiên cứu được sử dụng phù hợp với mục tiêu nghiên cứu của từng phần:
Chương I, xác định nghiên cứu một số vấn đề cơ bản về hoạt động đầu tư của NHTM và pháp luật điều chỉnh hoạt động đầu tư của NHTM, tác giả sử dụng chủ yếu phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp, phương pháp so sánh pháp luật, đồng thời có vận dụng phỏng đoán khoa học Các phương pháp trên giúp cho việc xem xét hoạt động đầu tư của các NHTM, pháp luật điều chỉnh hoạt động đầu tư của NHTM một cách đầy đủ, từ đó đánh giá khách quan, toàn diện và xác định rõ ràng phạm vi vấn đề nghiên cứu cũng như đánh giá bước đầu về yêu cầu, tiêu chí và mức
độ điều chỉnh của pháp luật đối với hoạt động đầu tư của NHTM
Chương II, với mục tiêu nghiên cứu về trực trạng pháp luật điều chỉnh hoạt động đầu tư của NHTM tại Việt Nam, các phương pháp phân tích, so sánh, phỏng đoán khoa học sẽ được tác giả tiếp tục sử dụng là phương pháp nghiên cứu chủ đạo
Sử dụng các phương pháp nghiên cứu trên xuất phát từ việc xác định rõ nội dung và mục tiêu nghiên cứu với đặc thù nhất định Pháp luật về hoạt động đầu tư của NHTM được xem xét như một bộ phận của pháp luật ngân hàng, trong đó mục tiêu điều chỉnh hướng đến hạn chế rủi ro, đảm bảo an toàn hệ thống song vẫn tạo được môi trường để NHTM thực hiện quyền tự do kinh doanh Từ việc nhận diện đặc trưng trên, trong triển khai nghiên cứu, áp dụng tư duy logic khoa học thông qua việc phân tích, đánh giá các qui định pháp luật hiện hành, đồng thời so sánh pháp luật một số quốc gia trên thế giới để phán đoán, xác định các xu hướng, hệ quả có thể xảy ra sẽ
Trang 12có hiệu quả cao, từ đó đưa ra các kiến nghị, giải pháp phù hợp nhằm hoàn thiện quy định của pháp luật Ngoài ra, nhằm đưa ra các đánh giá sắc đáng, thể hiện được thực tiễn thị trường, phương pháp tổng hợp phân tích được sử dụng khá nhiều nhằm tạo lập nguồn số liệu phù hợp, làm cơ sở đánh giá thực tiễn và hiệu quả áp dụng pháp luật trên thị trường
Chương III, dựa trên cơ sở các luận giải tại chương II và vấn đề lí luận tại chương I, tác giả sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp, đặc biệt vận dụng phỏng đoán khoa học nhằm đưa ra các luận điểm, luận cứ và các giải pháp có tính thực tiễn Các kiến nghị được đưa ra là kết quả của đánh giá nội dung pháp luật đặt trong yêu cầu hoàn thiện, có xem xét đến mục tiêu phát triển nền kinh tế, phát triển thị trường tài chính
- Là luận án tiến sĩ luật học đầu tiên nghiên cứu hệ thống và chuyên sâu các vấn đề lí luận và thực tiễn về pháp luật điều chỉnh hoạt động đầu tư của NHTM tại Việt Nam
- Nghiên cứu pháp luật điều chỉnh hoạt động đầu tư của NHTM một số quốc gia trên thế giới như Hoa Kì, Nhật Bản, Đức,…, làm cơ sở vận dụng chọn lọc từ đó
đề xuất hoàn thiện bộ phận pháp luật này tại Việt Nam
- Đánh giá khách quan các quy định pháp luật hiện hành điều chỉnh hoạt động đầu tư của NHTM trong bối cảnh các yêu cầu đặt ra của tình hình mới và xu hướng hội nhập Trên cơ sở đó, Luận án chỉ ra những bất cập còn tồn tại trong qui định hiện hành đặt trong yêu cầu và chức năng của bộ phần pháp luật này, khẳng định tính tất yếu khách quan của việc hoàn thiện pháp luật điều chỉnh hoạt động đầu tư của NHTM
- Nghiên cứu, đề xuất các kiến nghị, giải pháp phù hợp và khả thi, không chỉ trên phương diện hoàn thiện pháp luật điều chỉnh hoạt động đầu tư của NHTM mà còn nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng, phù hợp với đòi hỏi của thực tiễn trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế
Trang 13Thứ nhất: hệ thống hóa vào làm rõ các vấn đề lí luận về hoạt động đầu tư của
NHTM và pháp luật điều chỉnh hoạt động đầu tư của NHTM làm cơ sở xác định yêu cầu trong xây dựng và hoàn thiện pháp luật điều chỉnh
Thứ hai: đánh giá tương đối toàn diện pháp luật điều chỉnh hoạt động đầu tư
của NHTM tại Việt Nam trong bối cảnh tình hình mới, trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn thị trường, khảo sát số liệu và trong sự so sánh với pháp luật một số quốc gia trên thế giới Trên có sở đó, Luận án chỉ ra những bất cập còn tồn tại trong nội dung pháp luật khẳng định yêu cầu của việc hoàn thiện pháp luật điều chỉnh hoạt động đầu
tư của NHTM
Thứ ba: kiến nghị sửa đổi quy định pháp luật, giải pháp phù hợp và khả thi,
không chỉ trên phương diện hoàn thiện pháp luật về hoạt động đầu tư của NHTM mà còn nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng, phù hợp với đòi hỏi của thực tiễn trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế
Bên cạnh ý nghĩa khoa học, kết quả nghiên cứu có tính ứng dụng thực tiễn lớn, thể hiện: (i) đóng góp căn cứ cho việc tiếp tục hoàn thiện pháp luật điều chỉnh hoạt động ngân hàng nói chung và đặc biệt pháp luật về hoạt động đầu tư của các NHTM; (ii) đóng góp vào hệ thống pháp lí để các cơ quan quản lí nhà nước quản lí
và giám sát hoạt động đầu tư của NHTM hiệu quả, đảm bảo hoạt động đầu tư của các NHTM lành mạnh, từ đó bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của khách hàng
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, Luận án triển khai theo kết cấu gồm hai phần như sau:
Phần I: Tổng quan tình hình nghiên cứu
Phần II: Nội dung luận án, gồm ba chương
Chương 1: Tổng quan về hoạt động đầu tư của ngân hàng thương mại và hoàn thiện pháp luật điều chỉnh hoạt động đầu tư của ngân hàng thương mại
Chương 2: Thực trạng pháp luật điều chỉnh hoạt động đầu tư của ngân hàng thương mại tại Việt Nam
Chương 3: Định hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật điều chỉnh hoạt động đầu tư của ngân hàng thương mại tại Việt Nam
Trang 14PHẦN I TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
Với lịch sử phát triển lâu đời, cùng với tính chất rủi ro và biến động của hoạt động ngân hàng, pháp luật điều chỉnh lĩnh vực này luôn được chú trọng Cũng bởi vậy, các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước về lĩnh vực tài chính ngân hàng trên cả phương diện kinh tế và pháp luật tương đối phong phú Tuy nhiên, qua nghiên cứu cho thấy, có sự hạn chế nhất định các công trình đề cập trực tiếp đến hoạt động đầu tư và pháp luật điều chỉnh hoạt động đầu tư của ngân hàng thương mại, đặc biệt
ở Việt Nam
1 Các công trình nghiên cứu đã công bố liên quan đến đề tài
Đánh giá tình hình nghiên cứu đề tài tại Việt Nam và nước ngoài cho thấy, đến nay, có khá nhiều nghiên cứu về hoạt động ngân hàng trên khía cạnh kinh tế, tuy nhiên không nhiều công trình trực tiếp đề cập đến pháp luật về hoạt động đầu tư của NHTM, đặc biệt chưa có công trình nào đánh giá trực tiếp và đầy đủ nội dung pháp luật Việt Nam về vấn đề này Hoạt động đầu tư của và pháp luật điều chỉnh nội dung này chỉ được nghiên cứu trên một hoặc một số khía cạnh phù hợp với nhiệm vụ của mỗi công trình nhưng nhìn chung hạn chế
1.1 Các nghiên cứu trên khía cạnh pháp luật điều chỉnh hoạt động đầu
tư của NHTM
Tính đến hiện nay, các nghiên cứu chuyên sâu về pháp luật điều chỉnh hoạt động đầu tư của NHTM khá hạn chế Trong một số nghiên cứu, nội dung pháp luật điều chỉnh hoạt động ngân hàng nói chung hoặc nội dung có liên quan đến hoạt động đầu tư được đề cập ở khía cạnh hoặc phạm vi nhỏ, chưa thể hiện toàn diện các vấn
đề pháp luật
Đối với các nghiên cứu trong nước, có thể kể đến:
- Nguyễn Kiên Bích Tuyền (2019), “Pháp luật về sử dụng vốn của ngân hàng
thương mại Việt Nam”, Luận án Tiễn sĩ Luật học Luận án nghiên cứu vấn đề thuộc
phạm vi rộng, sử dụng vốn của NHTM, do đó nhiều nội dung pháp luật về hoạt động đầu tư của NHTM được giải quyết trong luận án Cụ thể, tại Chương 3, tác giả đã đánh giá, bình luận và đưa ra một số đề xuất đến việc sử dụng vốn của NHTM thông qua hoạt động đầu tư Các nội dung về nguồn vốn đầu tư, quy định về hạn chế rủi ro trong hoạt động sử dụng vốn đầu tư, lĩnh vực đầu tư, sử dụng vốn để góp vốn, mua
Trang 15cổ phần, xử lý vi phạm trong đầu tư đã được đề cập và đánh giá, đặc biệt có sự liên
hệ nhất định với pháp luật Trung Quốc, Hoa Kì Trong luận án, tác giả đã chỉ ra được
ưu điểm của quy định hiện hành liên quan đến sử dụng vốn của NHTM hiện nay, tuy nhiên, các hạn chế của pháp luật chưa được khai thác thấu đáo
- Ngô Quốc Kỳ (2003), “Hoàn thiện pháp luật điều chỉnh hoạt động của ngân
hàng thương mại trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam”1, Luận án Tiến sĩ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội Luận án đề cập chi tiết các vấn đề lí luận về NHTM, hoạt động của NHTM, trong đó bao gồm hoạt động kinh doanh chứng khoán Tuy nhiên, nội dung pháp luật về hoạt động đầu tư của NHTM ở mức khái quát cao, các nội dung cụ thể về pháp luật liên quan đến hoạt động đầu tư của NHTM không được đề cập
- Bài viết “Xác định giới hạn can thiệp của Nhà nước đối với giao dịch thương
mại của ngân hàng trong điều kiện kinh tế thị trường ở Việt Nam”2 của tác giả Nguyễn Văn Tuyến Mặc dù bài viết đề cập đến nội dung tương đối khái quát – giao dịch thương mại của ngân hàng, song các đánh giá và kiến nghị của tác giả đã đặt ra
cơ sở cho việc đánh giá phạm vi và mức độ điều chỉnh của pháp luật đối với hoạt động đầu tư của NHTM Cụ thể trong bài viết, tác giả làm rõ nội dung về nguyên tắc
cơ bản cần tuân thủ khi xác định giới hạn hợp lý của sự can thiệp từ phía nhà nước đối với giao dịch thương mại của ngân hàng, phương thức và mức độ can thiệp của nhà nước đối với hoạt động giao dịch do ngân hàng thực hiện
- Bài viết “Cơ sở pháp lí của việc ngân hàng tham gia vào thị trường tài chính
luật chưa thực sự tạo điều kiện để ngân hàng tham gia với tư cách nhà đầu tư chứng khoán Đồng thời trên cơ sở đánh giá vị trí, vai trò của NHTM, bài viết khẳng định cần thiết phải tạo điều kiện pháp lí cho ngân hàng tham gia và đa dạng hóa nội dung kinh doanh trên thị trường chứng khoán, thị trường bảo hiểm Tác giả cũng đưa ra
đề xuất thành lập tập đoàn kinh tế đa ngành, tập đoàn ngân hàng Nhìn chung, các
1 Ngô Quốc Kỳ (2003), luận án tiến sĩ luật học: Hoàn thiện pháp luật điều chỉnh hoạt động của ngân hàng thương
mại trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, trường Đại học Luật Hà Nội, người
hướng dẫn: PGS.TS Nguyễn Thị Mơ, TS Dương Đăng Huệ
2 Nguyễn Văn Tuyến (2003), “Xác định giới hạn can thiệp của nhà nước đối với giao dịch thương mại của ngân hàng trong điều kiện kinh tế thị trường ở Việt Nam”, Tạp chí Nhà nước và pháp luật số 11/2003
3 Phạm Thị Giang Thu (2007), “Cơ sở pháp lí của việc ngân hàng tham gia vào thị trường tài chính hiện nay”,
Tạp chí luật học, số 12/2007, tr 57-66
Trang 16lập luận, đánh giá và đề xuất tại bài viết có tính tham khảo và có điểm tương đồng với quan điểm của nghiên cứu sinh, tuy nhiên các nội dung cần tiếp tục được đánh giá trên cơ sở pháp luật hiện hành
- Bài viết “Một vài ý kiến về pháp luật điều chỉnh hoạt động góp vốn, mua cổ
phần của các ngân hàng thương mại”, của tác giả Phạm Thị Giang Thu (2013), Tạp
chí Dân chủ và pháp luật, số 1/2013 đã đưa ra bình luận đánh giá về nội dung pháp luật liên quan đến hoạt động góp vốn, mua cổ phần của NHTM như quyền thực hiện, điều kiện và giới hạn tham gia góp vốn, mua cổ phần, lĩnh vực được phép, trình tự thủ tục góp vốn, mua cổ phần qua đó đề xuất một số giải pháp hoàn thiện
- Bài viết “Những hạn chế của pháp luật điều chỉnh hoạt động đầu tư trái
phiếu doanh nghiệp và hoạt động chiết khấu giấy tờ có giá của ngân hàng thương mại” của hai tác giả là Phạm Thị Giang Thu và Nguyễn Ngọc Lương, tạp chí Nghiên
cứu lập pháp số 14(270) (2014) Liên quan đến đề tài nghiên cứu, bài viết đã phân tích một số hạn chế, vướng mắc trong quy định pháp luật hiện hành điều chỉnh hoạt động đầu tư trái phiếu của doanh nghiệp do NHTM thực hiện Một số hạn chế được phân tích và chỉ ra như thời gian và cách thức mua bán trái phiếu; sự chưa rõ ràng trong giới hạn về tổng mức đầu tư quy định ở thị trường sơ cấp hay thứ cấp,….Tuy nhiên các đánh giá của nhóm tác giả dựa trên nhiều văn bản hiện nay đã được sửa đổi, do đó cần tiếp tục đánh giá các quy định trên cơ sở pháp luật hiện hành
- Bài viết “Một vài đặc điểm của pháp luật ngân hàng Hoa Kì và liên hệ với
pháp luật ngân hàng Việt Nam” của tác giả Nguyễn Đức Ngọc, tạp chí Luật học số
12/2010 Bài viết bên cạnh việc đề cập đến hệ thống giám sát hoạt động ngân hàng tại Hoa Kì còn đưa ra đánh giá về sự thay đổi trong pháp luật Hoa kì qua việc ban hành hai đạo luật ngân hàng năm 1933 (Glass- Steagall) và năm 1999 (Gramm-Leach-Bliley) trong quy định về việc thắt chặt và nới lỏng sự tham gia của NHTM vào hoạt động ngân hàng đầu tư Sự liên hệ của bài viết đối với pháp luật Việt Nam
về hai vấn đề (i) nội dung quản lí nhà nước của NHNN, (ii) phạm vi hoạt động của NHTM theo luật các TCTD năm 2010 có giá trị tham khảo và kế thừa đối với nghiên cứu trong luận án
Đối với nghiên cứu nước ngoài, do những biến động của nền tài chính, đặc biệt tại Hoa Kì với sự ra đời và dần bị thay thế của Đạo luật Glass-Steagal, rất nhiều
Trang 17nghiên cứu chỉ ra xu hướng điều chỉnh pháp luật đối với sự tham gia của NHTM vào hoạt động chứng khoán nói chung, cũng như sự cần thiết hoặc những nguyên tắc ban hành Điển hình cho các nghiên cứu này có thể kể đến Armold W.Sametx, Michael
Keenan (1979), “Securities Activities of Commercial Banks: An Evaluation of
Current Developments and Regulatory Issues”, Journal of International Law; Bài
viết của Sarah A.Wagman (1994), Michigan Journal of International Law, Volume
15, Issue 3, “Laws Separating Commercial Banking and Securities Activities as an
Impediment to Free Trade in Financial Services: A Comparative Study of Competitiveness in the International Market for Financial Services” (tr 999- 1035);
Nghiên cứu của Simon H.Kwan (1997), “Securities Activities by Commercial
Banking Firms’s Section 20 Subsidiaries: Rish, Return and Diversification Benefits”, (Economic Research, Federal Reserve Bank of San Fransico); Báo cáo
“Permissibal Securities Activities of Commercial Banks Under the Glass – Steagall
Act (GSA) and the Gramm-Leach-Bliley Act (GLBA) (2010); …Điểm chung của các
nghiên cứu trên sự đề cập đến việc ngân hàng thương mại tham gia vào hoạt động đầu tư chứng khoán, đưa ra đánh giá nền tảng và cơ sở sự ra đời đạo luật Glass- Steagall1933 tại Hoa kì Nghiên cứu của Armold W.Sametx, Michael Keenan (1979) đưa ra đánh giá, bình luận về tác động giữa pháp luật và thực tiễn thị trường hoạt động trong việc mở rộng hoạt động chứng khoán của NHTM, đặc biệt tại phần 6, các tác giả đã đánh giá và nhận định về sự cần thiết và những vấn đề đặt ra đối với pháp luật và cơ quan quản lí khi ngân hàng tham gia vào hoạt động chứng khoán có giá trị tham khảo lớn đối với nghiên cứu Một số nội dung của đạo luật Glass-Steagall cũng được phân tích nhằm làm rõ mục tiêu của đạo luật khi ban hành tại nghiên cứu của Simon H.Kwan (1997), Sarah A.Wagman (1994);, Các nghiên cứu tập trung vào vấn đề thị trường và quan điểm trong ban hành luật tại Hoa Kì, tuy nhiên có giá trị lớn khi đánh giá tầm quan trọng, mục tiêu và mức độ cần trong điều chỉnh pháp luật đối với hoạt động đầu tư do NHTM thực hiện
Ngoài các nghiên cứu về pháp luật tại Hoa Kì, một số nghiên cứu khác có giá trị tham khảo nhất định đối với tác giả khi nghiên cứu, có thể kể đến:
- Masaki Yagyu (1994), Securities Activities of Japanese Banks under the
1993 Japanese Financial System Reform Northwestern Journal Of International
Trang 18Law and Business (15) Nghiên cứu tập trung làm rõ các hoạt động chứng khoán của ngân hàng Nhật Bản sau cải cách tài chính 1933 Mặc dù không đề cập đến các vấn đề lí luận hay liên hệ với luật Việt Nam, song các đánh giá về pháp luật Nhật Bản dựa trên thực trạng kinh tế và nền tài chính đã đưa ra bài học và mối liên hệ nhất định trong đánh giá và hoàn thiện pháp luật Việt Nam
- Leonador Gambacorta and Adrian van Rixtel, Monetery and Ecomomic
Deparment (BIS Working Papers No 412 ) (2013), “Structural bank regulation
initiatives: approaches and implication” Nghiên cứu so sánh cấu trúc pháp luật liên
quan sự tham gia của NHTM vào hoạt động ngân hàng đầu tư tại Hoa Kì (The Volker rule), Anh (Vickers Commission) và Liên minh châu Âu (The Liikanen Report) Mặc
dù không đề cập đến pháp luật Việt Nam, song trên cơ sở đánh giá quy định trong nền tài chính hiện đại, nghiên cứu có giá trị lớn đối với nghiên cứu của tác giả khi xác định nguyên tắc, mục tiêu điều chỉnh pháp luật đối với hoạt động đầu tư của NHTM
- Henry Laurence (2001), “Money Rules: The new politics of Finance in
Britain and Japan”, phát hành lần đầu đời Cornell University Press Cuốn sách đề
cập đến cái cách tài chính tại Anh và Nhật Tại nghiên cứu, các qui định pháp luật trong lĩnh vực tài chính được đề cập tương đối toàn diện, trong đó nhiều nội dung liên quan đến vấn đề quản lí nhà nước và thay đổi trong điều chỉnh hoạt động của ngân hàng ( phần 2, phần 4, phần 6) có giá trị nhất định trong nghiên cứu và đánh giá pháp luật tại Việt Nam
- Mamiko Tokoi – Arai (2002), “Financial Stability Issue: The Case of East
Asia”, phát hành bởi Kluwer Law International Cuốn sách đề cập đến nội dung liên
quan đến đảm bảo an toàn hệ thống tài chính trước biến động và khủng hoảng, các lập luận, đánh giá và qui định cụ thể tại mô hình Anh, Hoa Kì được phân tích và so sánh Điểm đáng chú ý trong cuốn sách liên quan đến đề tài nghiên cứu của tác giả
là tại phần II và III đề cập đến cơ sở thiết lập và ban hành pháp luật điều chỉnh nhằm đảm bảo an toàn hệ thống Một số nội dung pháp luật về hoạt động đã được tác giả
đề cập và có giá trị tham khảo
- Thomas G.Fischer, William H.Gram, George G.Kaufman and Larry R.Mote (1984), The securities activities of commercial bank: A legal and economic analysis
Trang 19SM-85-2 Nghiên cứu tập trung đánh giá quy định tại đạo luật Glass-Steagall tại Hoa
kì trong qui định hướng đến phân tách hoạt động chứng khoán của NHTM Nghiên cứu phân tích sự điều chỉnh pháp luật theo nhóm hoạt động chứng khoán, theo đó tại mỗi phần đều đề cập nguyên nhân, mục tiêu điều tiết, các rủi ro tiềm ẩn và mức độ tác động pháp luật trong mỗi nhóm hoạt động Mặc dù tập trung vào hoạt động chứng khoán, song nghiên cứu cung cấp những phân tích và lập luận sắc đáng lí giải sự cần thiết và mức độ điều chỉnh pháp luật đối với hoạt động chứng khoán của ngân hàng, những rủi ro tiềm ẩn Kết quả nghiên cứu này có giá trị lớn đối với nghiên cứu sinh khi làm rõ các vấn đề lí luận về hoạt động đầu tư của NHTM, đánh giá bản chất, liên
hệ với yêu cầu điều chỉnh pháp luật
Ngoài các nghiên cứu kể trên, một số công trình khác có đề cập đến nội dung
của đề tài có thể kể đến: “Công ti nắm vốn – hình thức để ngân hàng đầu tư vào lĩnh
vực bảo hiểm theo Luật Hoa Kì”, của tác giả Nguyễn Thị Lan Hương, tạp chí Khoa
học, Đại học Quốc gia Hà Nội, Kinh tế - Luật; Bài viết “Các giải pháp hoàn thiện
pháp luật ngân hàng ở Việt Nam trong điều kiện hội nhập quốc tế” của tác giả
Nguyễn Văn Tuyến, tạp chí Luật học số 12/2007; "Một số quy định pháp lí điều chỉnh
giao dịch giữa các bên có liên quan trong nhóm công ti ở lĩnh vực tài chính – ngân hàng”, Nguyễn Kiên Bích Tuyền, Tạp chí Khoa học pháp lí, trường Đại học Luật
Thành phố Hồ Chí Minh, số 1/2016; “Thực trạng sở hữu chéo trong hệ thống ngân
hàng Việt Nam hiện nay và một số kiến nghị”, Ths Nguyễn Đức Trung, Ths Phạm
Mạnh Hùng (2013), Tạp chí Ngân hàng số 12/2013; “Lựa chọn mô hình giám sát
ngân hàng – Kinh nghiệm các nước và bài học cho Việt Nam”, PGS.TS Đoàn Thanh
Hà, Phan Thị Thúy Diễm, tạp chí Phát triển và Hội nhập, số 10 (05-06/2013); Lê
Ngọc Hân, Bùi Thị Thanh Tình (2013)“Đánh giá hoạt động thanh tra, giám sát của
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam hiện nay”, Tạp chí Khoa học và đào tạo ngân hàng,
số 110 (8/2013),…Các nghiên cứu kể trênnhìn chung đều đề cập đến một số nội dung liên quan đến đề tài luận án như nội dung quản lí Nhà nước, phương thức đầu tư hoặc vấn đề lí luận chung pháp luật ngân hàng …, có giá trị tham khảo nhất định khi nghiên cứu chi tiết từng nội dung
1.2 Các nghiên cứu trên khía cạnh kinh tế
- Cuốn sách “Cẩm nang ngân hàng đầu tư” của tác giả Mạc Quang Huy
Trang 20(2009), Nhà xuất bản Thống kê Cuốn sách đề cập tương đối toàn diện về ngân hàng đầu tư gồm mô hình, tổ chức, hoạt động với các phân tích và dẫn chứng cụ thể tại thị trường tài chính Hoa Kì và liên hệ nhất định với Việt Nam Qua phân tích của tác giả, một số vấn đề về hoạt động đầu tư cũng như khung pháp lí đối với hoạt động đầu tư của NHTM tại Việt Nam được đề cập (chương I, II) Các nội dung này có giá trị nhất định cho nghiên cứu luận án khi đánh giá về vai trò, ý nghĩa của hoạt động đầu tư đối với ngân hàng Tuy nhiên, tại cuốn sách, các các vấn đề về mặt pháp lí chỉ được xem xét như một yếu tố tác động, do đó chưa được phân tích thấu đáo
- Lê Thị Hương (2003), “Nâng cao hiệu quả hoạt động đầu tư của các ngân
hàng thương mại Việt Nam”, Luận án Tiến sĩ Kinh tế , Trường Đại học Kinh tế quốc
dân, Hà Nội Đây được coi là một trong những nghiên cứu đề cập trực tiếp về hoạt động đầu tư của NHTM Công trình có ưu điểm là đã làm rõ được những vấn đề lí luận về hoạt động đầu tư của NHTM, hiệu quả hoạt động đầu tư và đưa ra nhiều giải pháp có giá thị tham khảo cao Tuy nhiên, quan niệm về hoạt động đầu tư của tác giả
Lê Thị Hương xem xét trên phạm vi rộng, tức bao gồm cả hoạt động đầu tư tín dụng, đầu tư phát triển Cách tiếp cận này không đồng nhất với phạm vi tiếp cận của luận
án Bên cạnh đó, bởi đây là luận án tiến sĩ kinh tế nên nội dung pháp lí được đề cập với dung lượng nhỏ, vấn đề chính sách được đề cập như một yếu tố tác động đến hiệu quả đầu tư, chưa kể đến tính đến thời điểm hiện nay, các văn bản điều chỉnh hoạt động này đã được thay thế, do đó giá trị tham khảo bị giới hạn nhất định
- Tạ Hoàng Hà (2015), “Phát triển hoạt động ngân hàng đầu tư tại Việt Nam”,
Luận án Tiến sĩ Kinh tế, Trường đại học Kinh tế quốc dân Mặc dù nghiên cứu trên khía cạnh kinh tế và về mô hình ngân hàng đầu tư, tuy nhiên khi đề cập đến mô hình ngân hàng tổng hợp (NHTM thực hiện đồng thời các hoạt động huy động vốn và tín dụng truyền thống cũng như các hoạt động ngân hàng đầu tư)4 một số nội dung liên quan đến hoạt động đầu tư được đề cập và phân tích Trên quan điểm tiếp cận khi
cho rằng NHTM có thể được coi là mô hình “ngân hàng thương mại đa năng hạn
chế”, các NHTM được thực hiện nghiệp vụ ngân hàng đầu tư một cách trực tiếp hoặc
gián tiếp, Luận án đã chỉ ra một số vấn đề về pháp luật, thực tế tình hình hoạt động
4 Tạ Hoàng Hà (2015), Phát triển hoạt động ngân hàng đầu tư tại Việt Nam, Luận án Tiến sĩ Kinh tế, Trường Đại
học Kinh tế quốc dân, Hà Nội
Trang 21đầu tư và giải pháp về mặt pháp luật liên quan đến NHTM tại Việt Nam Một phần của nghiên cứu có giá trị tham khảo khi xem xét, đánh giá mô hình hoạt động ngân hàng tại Việt Nam
- Nguyễn Anh Tuấn (2012), “Quản trị rủi ro trong kinh doanh của ngân hàng
thương mại Việt Nam theo Hiệp ước Basel”, Luận án Tiến sĩ Kinh tế, Trường Đại
học Ngoại thương, Hà Nội Luận án tập trung nghiên cứu và tìm hiểu các nội dung trong Hiệp ước Basel với tư cách là chuẩn mực về quản trị rủi ro và giám sát an toàn trong hoạt động của NHTM, đồng thời phân tích khả năng và chứng minh sự cần thiết phải áp dụng các chuẩn mực quản trị rủi ro theo Basel, đồng thời đề xuất giải pháp tăng cường công tác quản trị rủi ro cho các NHTM Việt Nam Mặc dù không
đề cập trực tiếp đến nội dung pháp luật và hoạt động đầu tư của NHTM, tuy nhiên thông qua những phân tích và lập luận sâu sắc của công trình về quản trị rủi ro và giám sát ngân hàng đặt trong yêu cầu và tiêu chuẩn quốc tế, công trình đã đề cập đến một trong những vấn đề trọng tâm của luận án nghiên cứu, đó là các biện pháp bảo đảm an toàn khi NHTM thực hiện hoạt động, trong đó có hoạt động đầu tư Cụ thể, ngoài các vấn đề chung về NHTM, Chương II đã phân tích thực trạng quản trị vốn của các NHTM, đặc biệt dành một phần riêng phân tích thực trạng thanh tra, giám sát hoạt động tuân thủ các quy định pháp luật của hệ thống ngân hàng Việt Nam theo Hiệp ước Basel (mục 2.2.2)
- Nghiên cứu của tác giả Trần Dục Thức (chủ nhiệm đề tài), Trường Đại học
Ngân hàng thành phố Hồ Chí Minh, đề tài nghiên cứu khoa học cấp ngành, “Quan
hệ sở hữu giữa tổ chức tín dụng và các công ti con, công ti liên kết – Thực trạng và giải pháp” (2014).Công trình không tiếp cận trực tiếp vấn đề pháp lí, tuy nhiên khi
đề cập về quan hệ sở hữu giữa TCTD và các công ti con, công ti liên kết, các vấn đề
về mặt lí luận cũng như thực trạng về hoạt động góp vốn, mua cổ phần – một trong những phương thức thực hiện đầu tư quan trọng của NHTM được phân tích chi tiết Công trình đã đưa ra một số nội dung lí luận về hoạt động góp vốn mua cổ phần của NHTM đồng thời đánh giá được thực trạng hoạt động góp vốn, mua cổ phần của TCTD, trong đó chủ yếu là các NHTM tại thời điểm nghiên cứu Từ góc độ tham khảo, điểm hạn chế trong nghiên cứu của nhóm tác giả là các vấn đề về mặt pháp
Trang 22luật chỉ được xem xét như một yếu tố tác động và chỉ giới hạn trong hoạt động góp vốn, mua cổ phần, hơn nữa, đến hiện nay nhiều văn bản đã hết hiệu lực, sửa đổi
- Nghiên cứu của Vũ Thành Tự Anh, Trần Thị Quế Giang, Nguyễn Đức Mậu,
Đinh Công Khải, Nguyễn Xuân Thành, Đỗ Thiên Anh Tuấn (2013), Sở hữu chồng
chéo giữa các tổ chức tín dụng và tập đoàn kinh tế tại Việt Nam: Đánh giá và các khuyến nghị thể chế” Tập trung nghiên cứu thực trạng sở hữu chéo giữa các TCTD
Công trình đưa ra nhiều đánh giá có giá trị tham khảo liên quan đến cơ chế giám sát
và đặc biệt khuyến nghị chính sách nhằm quản lí tình trạng sở hữu chéo, một trong những hệ quả của hoạt động đầu tư của các TCTD
- Vũ Hoàng Nam (2015) “Hoạt động đầu tư kinh doanh trái phiếu của ngân
sâu về hoạt động đầu tư kinh doanh trái phiếu của NHTM Việt Nam, có so sánh với
mô hình hoạt động đầu tư kinh doanh trái phiếu của NHTM trên thế giới, từ đó rút
ra bài học và có giá trị thực tiễn cho hệ thống NHTM Việt Nam Tại Luận án, tác giả
đã phân tích các mô hình đầu tư kinh doanh trái phiếu, lựa chọn học hỏi kinh nghiệm của Hoa Kì và Trung Quốc về hoạt động đầu tư kinh doanh trái phiếu Công trình có giá trị tham khảo khi đánh giá hoạt động đầu tư chứng khoán của NHTM
Cùng với các tài liệu trong nước, nhiều nghiên cứu nước ngoài cũng đề cập đến hoạt động đầu tư của NHTM Có thể kể đến một số công trình điển hình như sau:
- Thomas M.Hoenig và Charless S Morris (2012): “Restructuring the banking
system to improve safety and soundness” Thông qua việc nghiên cứu thay đổi trong
phạm vi hoạt động ngân hàng tại Hoa Kì từ đầu thế kỷ 19, từ sự thắt chặt hoạt động ngân hàng đầu tư và NHTM khi Luật Ngân hàng 1933 (còn được biết đến Đạo luật Glass- Steagall) được ban hành cho đến những nới lỏng đi đến bãi bỏ các quy định
đạo luật này cho phép “sự tái hợp chứng khoán, ngân hàng và bảo hiểm” Nghiên
cứu đưa ra đề xuất cụ thể về việc giới hạn trong hoạt động tài chính của ngân hàng nhằm đảm bảo sự an toàn của hệ thống tài chính và nền kinh tế Hai đề nghị được tác giả đưa ra, thứ nhất là giới hạn hoạt động của tổ chức ngân hàng vào các hoạt động
cơ bản; thứ hai, thay đổi hệ thống SBS (shadow baning systems) thông qua đề xuất
5 Vũ Hoàng Nam (2015), luận án tiến sĩ kinh tế, “Hoạt động đầu tư kinh doanh trái phiếu của NHTM Việt Nam”, người hướng dẫn: PGS.TS Kiều Hữu Thiện, TS Đào Minh Phúc
Trang 23một cải cách quỹ thị trường tiền tệ Các kết quả của nghiên cứu có giá trị tham khảo đối với nghiên cứu sinh khi đánh giá tính đặc thù hoạt động đầu tư của NHTM, đặc biệt rủi ro tiềm ẩn, đồng thời đánh gái phản ứng của chủ thể quản lí đối với những biến động của thị trường trong quản lí hoạt động này Tuy nhiên, việc đánh giá cần được cân nhắc trong điều kiện và trình độ phát triển thị trường tài chính Việt Nam
- Borio, C and R Filosa (1994): “The changing borders of banking: Trends and
implications”, BIS Economic Papers, no 43 Báo cáo gồm ba phần lớn đề cập đến xu
hướng và tác động của sự thay đổi trong ranh giới hoạt động của ngân hàng Trong nghiên cứu, những giới hạn trong hoạt động của ngân hàng với kinh doanh bảo hiểm
và hoạt động phi tài chính được đề cập chi tiết tại phần I, tiếp đó, phần II đưa ra những phân tích về lợi ích và hạn chế trong xu hướng kết hợp giữa hoạt động ngân hàng và hoạt động khác Các nội dung nghiên cứu có giá trị tham khảo đối với nghiên cứu sinh khi đưa ra đánh giá về mô hình hoạt động ngân hàng tại Việt nNam và xác định một số vấn đề quan trọng trong quản lí và giám sát nhằm đảm bảo an toàn hệ thống
- Joao A.C Santos (Bank for International Settlements, Basle, Switzeland)
(1998), ‘Commercial Banks in the Securities Business: A Review” Tài liệu đề cập
đến sự mở rộng hoạt động của NHTM sang hoạt động kinh doanh chứng khoán theo
xu hướng của các ngân hàng đa năng Đồng thời đánh giá trên cả hai phương diện lợi ích và rủi ro tiềm ẩn từ sự kết hợp hoạt động ngân hàng truyền thống và các hoạt động đầu tư chứng khoán, từ đó đánh giá và xây dựng cấu trúc ngân hàng phù hợp Tài liệu nhấn mạnh sự kết hợp giữa ngân hàng và chứng khoán đặt ra hai mối quan tâm đó là sự an toàn và lành mạnh của ngân hàng và sự xung đột lợi ích, đồng thời dẫn chiếu quy định và mô hình tại nhiều quốc gia Đây là nội dung có giá trị tham khảo trong nghiên cứu và so sánh quy định và mô hình phát triển tại Việt Nam
- Các nghiên cứu của Tabarrok, A (1998), “The Separation of Commercial and
Investment baning: the Morgans v The Rockefellers”, The Quarterly Jounrnal of
Austraian Economics vol.1; Mike Adu-Gyamafi (2016), Commercial and Investment
Banking: Analysis, Journal of Insurance and Financial Management; Arnoud
W.A.Boot, A and Lev Ratnovski (10/2012): “Banking and trading”, IMF Working
Paper, 12/238 Ba công trình thực hiện ở thời điểm khác nhau song đều đánh giá và
Trang 24bình luận về quan điểm khác nhau liên quan đến sự tách bạch dịch vụ của ngân hàng đầu tư và ngân hàng thương mại Dựa trên vị trí và chức năng của ngân hàng và tính năng riêng của mỗi loại hình ngân hàng (ngân hàng đầu tư, thương mại và ngân hàng
đa năng) Các quan điểm khác nhau được dẫn chiếu và đưa ra về khác biệt giữa ngân hàng thương mại và đầu tư cũng như tách bạch hoạt động đầu tư của ngân hàng thương mại, từ đó đưa đến đánh giá đa chiều về hoạt động của ngân hàng Các quan điểm này có ý nghĩa trong việc đánh giá tầm quan trọng và xác định hướng phát triển
mô hình ngân hàng phù hợp tại Việt Nam
Ngoài các công trình kể trên, một số nghiên cứu khác cũng khai thác nội dung
liên quan đến đề tài như: “Hệ thống giám sát tài chính Việt Nam”, Nxb Tài chính, 2011; “Tái cơ cấu hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam trong bối cảnh tái cơ
cấu nền kinh tế” , Ts Đặng Ngọc Đức, Ts Nguyễn Đức Hiển và nhóm nghiên cứu
Trường Đại học Kinh tế Quốc dân, (2014); một số nghiên cứu khác liên quan đến hoạt động mua bán sáp nhập ngân hàng, tập đoàn tài chính,…Tài liệu nước ngoài có
thể kể đến “Diversification and the cost of debt of bank holding companies”, Journal of
Banking and Finance, 31, pp 2453–73; Manju Puri (Graduate School of Business,
Stanford University, Stanford, CA 94305, USD) (1996), “Commercial banks in
invesment banking – Conflic of interest or certification role?”,Journal of Financial
Economics 40 373-401; Demsetz, R and P Strahan (1997): “Diversification, size and
risk at bank holding companies”, Journal of Money, Credit and Banking, 29, pp 300–
13; Wonsik Sul & Joon Seok Oh (1999), “ Are Germnan-type of universal banks
superior in performance to other typer of universal banks?, Journal of Financial
Management Analysis, vol.12 no.1 18; … Nhìn chung, các nghiên cứu liệt kê đề cập
đến khía cạnh khác nhau về hoạt động ngân hàng, trong đó đề cập đến hoạt động đầu
tư hoặc mô hình ngân hàng đầu tư, phân tích sự xung đột lợi ích trong hai nhóm hoạt động này Do là các nghiên cứu trên lĩnh vực kinh tế, nên nội dung pháp luật chưa thực sự được nghiên cứu sâu, rõ nét trong bất kì nghiên cứu nào Tuy nhiên, các đánh giá và luận điểm của các tác giả có giá trị trong xác định rõ vai trò, tầm quan trọng
và xu hướng phát triển của hoạt động đầu tư đối với sự phát triển của ngành ngân hàng Điều này có ý nghĩa trong đánh giá đa chiều pháp luật Việt Nam và đưa ra định
Trang 25hướng hoàn thiện pháp luật phù hợp với thực tế thị trường và xu hướng phát triển thế giới
2 Đánh giá những kết quả nghiên cứu đã công bố liên quan đến luận án 2.1 Những kết quả nghiên cứu về lí luận hoạt động đầu tư của ngân hàng thương mại và hoàn thiện pháp luật điều chỉnh hoạt động đầu tư của ngân hàng thương mại
- Thứ nhất, lí luận về hoạt động đầu tư của ngân hàng thương mại
Về khái niệm hoạt động đầu tư của NHTM Khái niệm về hoạt động đầu tư của NHTM được đề cập đến khá nhiều trong cả tài liệu trong nước và nước ngoài, tuy nhiên do khía cạnh tiếp cận khác nhau, nội hàm hoạt động đầu tư được xác định không đồng nhất
Tác giả Lê Thị Hương (2003) định nghĩa hoạt động đầu tư của NHTM theo
phương pháp liệt kê với phạm vi tương đối rộng: “hoạt động đầu tư của NHTM bao
gồm: đầu tư phát triển như đầu tư trang thiết bị, cơ sở hạ tầng, mua sắm tài sản đề cho thuê tài chính,…và đầu tư tài chính như cho vay, đầu tư chứng khoán Chính
tư, đồng thời xác định “hoạt động đầu tư của NHTM hầu hết là đầu tư tài chính”, và
liệt kê các hoạt động gồm hai hoạt động chính là hoạt động đầu tư tín dụng và hoạt động đầu tư chứng khoán Điểm đáng lưu ý trong luận án là sự phân loại hoạt động đầu tư của NHTM được tác giả trình bày khá chi tiết trên giác độ kinh tế từ đó làm
rõ hơn hoạt động đầu tư của các NHTM
Tác giả Phạm Thị Giang Thu (2013) trong nghiên cứu của mình về pháp luật điều chỉnh hoạt động đầu tư tài chính của NHTM chủ yếu xác định các vấn đề liên quan đến hoạt động góp vốn, mua cổ phần của NHTM7
Tác giả Trương Quốc Cường (2000) xác định hoạt động đầu tư do ngân hàng thực hiện gồm hoạt động kinh doanh chứng khoán, đầu tư vào các công ti con, công
ti liên kết, hoạt động tín dụng thuê mua và thực hiện tài trợ các dự án đầu tư của
6 Lê Thị Hương (2002), Nâng cao hiệu quả hoạt động đầu tư của các ngân hàng thương mại Việt Nam, Luận án
Tiến sĩ Kinh tế, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân, Hà Nội, tr.16
7 Phạm Thị Giang Thu (2013), “Một vài ý kiến về pháp luật điều chỉnh hoạt động góp vốn, mua cổ phần của các
ngân hàng thương mại”, Tạp chí Dân chủ và pháp luật (1), tr.28-34
Trang 26doanh nghiệp8
Ở một hướng tiếp cận khác, hoạt động đầu tư được xem xét theo hướng là nghiệp vụ của một mô hình kinh doanh ngân hàng độc lập – ngân hàng đầu tư Với cách tiếp cận này, hoạt động đầu tư thường hướng đến các hoạt động đầu tư chứng
khoán Tại Việt Nam, tác giả Mạc Quang Huy (2009) trong “Cẩm nang ngân hàng
đầu tư” khi nghiên cứu mô hình ngân hàng đầu tư trong đó có mô hình ngân hàng
đầu tư tổng hợp có đề cập đến khái niệm “nghiệp vụ đầu tư” trong đó xác định gồm
“môi giới và đầu tư”, môi giới chủ yếu áp dụng cho sản phẩm chứng khoán niêm yết,
đầu tư bao gồm nghiệp vụ đầu tư cho khách hàng và hoạt động đầu tư tự doanh9 Tác
giả Đặng Minh Châu (1995) có đề cập đến “nghiệp vụ đầu tư” bên cạnh các nghiệp
vụ cho vay, huy động vốn của NHTM “Nghiệp vụ đầu tư (hay còn gọi là nghiệp vụ
chứng khoán) là nghiệp vụ sinh lời của của NHTM Trong nghiệp vụ này, ngân hàng tham gia vốn vào hai loại chứng khoán, thứ nhất là đầu tư vào các chứng khoán nhà
Charless S Morris xác định nhóm hoạt động đầu tư ngân hàng gồm bảo lãnh phát hành chứng khoán (cổ phiếu và trái phiếu) nhà cung cấp dịch vụ tư vấn11
Về đặc điểm và vai trò hoạt động đầu tư của NHTM Các nghiên cứu trong và ngoài nước cùng với việc đề cập đến các khía cạnh khác nhau của hoạt động đầu tư, một số đặc điểm và vai trò của hoạt động này cũng được xác định Đặc điểm điển hình mà nhiều tài liệu đề cập khi nhắc đến hoạt động đầu tư của NHTM, đặc biệt là hoạt động chứng khoán là tính chất rủi ro Bên cạnh đó, vai trò hoạt động đầu tư cũng được chỉ ra như đa dạng hoá hoạt động của ngân hàng, góp phần cân bằng rủi ro tín dụng,…
Tóm lại, từ những quan điểm trên đây về hoạt động đầu tư, có thể nhận thấy một số vấn đề như sau: (i) khái niệm về hoạt động đầu tư của NHTM đã được đề cập đến trong một số công trình nghiên cứu song còn chưa toàn diện Các hoạt động được nghiên cứu nhiều gồm hoạt động góp vốn, mua cổ phần và hoạt động đầu tư chứng
8 Trương Quốc Cường (2000), “Giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả đầu tư theo dự án ở Ngân hàng Công
thương Việt Nam”, NHD PGS Phan Quang Tuệ, Ts Trần Thị Hà, tr 40-45
9 Mạc Quang Huy (2009), Cẩm nang ngân hàng đầu tư, Nxb Thống kê, tr.25
10 Đặng Minh Châu (1995), Đa năng hóa hoạt động ngân hàng thương mại theo cơ chế thị trường ở Việt Nam,
Luận án tiến sĩ Kinh tế, Hà Nội, tr.53
11 Thomas M.Hoeing, Charless S Morris (2012), Restructuring the banking system to improve safety and
soundness, tr 23
Trang 27khoán; (ii) Đặc điểm hoạt động đầu tư được chỉ ra trong nhiều nghiên cứu trong đó nhấn mạnh đến tính chất rủi ro Đặc trưng này đặt ra yêu cầu cần sự điều chỉnh chặt chẽ bằng pháp luật đối với nhóm hoạt động này
Trên cơ sở đánh giá kết quả nghiên cứu của các tác giả, luận án sẽ tiếp tục làm sáng tỏ phạm vi bản chất, đặc điểm của hoạt động đầu tư của NHTM, chỉ ra mối quan
hệ biện chứng giữa tính chất rủi ro và vai trò cũng như xu hướng phát triển hoạt động đầu tư tại các NHTM
- Thứ hai, nội dung lí luận về pháp luật điều chỉnh hoạt động đầu tư của
ngân hàng thương mại
Tính đến hiện nay, chưa có công trình nghiên cứu chuyên sâu nào về pháp luật điều chỉnh hoạt động đầu tư của NHTM, do đó các nội dung lí luận pháp luật về hoạt đồng này cũng được xác định hạn chế ở các nghiên cứu Tác giả Ngô Quốc Kỳ (2003) chỉ ra cách xác định pháp luật điều chỉnh đối với hoạt động của NHTM12, đồng thời chỉ ra các yếu tố cơ bản ảnh hướng đến pháp luật điều chỉnh hoạt động của NHTM
“tính đặc thù về hoạt động của ngân hàng, cơ chế quản lí kinh tế và trình độ phát triển kinh tế - xã hội”13
Về nguồn của pháp luật điều chỉnh hoạt động đầu tư của NHTM, cùng với tác giả Ngô Quốc Kỳ (2003), tác giả Phạm Thị Giang Thu (2013), Trần Dục Thức (2014) cũng chỉ ra nguồn cơ bản của pháp luật điều chỉnh hoạt động đầu tư tài chính của NHTM, tuy nhiên tại đây tác giả chủ yếu dẫn chiếu quy định liên quan đến hoạt động góp vốn, mua cổ phần của NHTM Các phương thức đầu tư khác trong phạm vi nội dung nghiên cứu gồm kinh doanh chứng khoán chưa được xem xét và hoạt động ủy thác đầu tư được đề cập rất hạn chế
Trần Dục Thức và nhóm tác giả (2014) khi tiến hành nghiên cứu về quan hệ
sở hữu giữa TCTD và các công ti con, công ti liên kết cũng xác định hành lang pháp
lí về hoạt động góp vốn, mua cổ phần đối với các TCTD, chỉ ra một số bất cập trong pháp luật điểu chỉnh hoạt động góp vốn, mua cổ phần14 Tiếp đó, trong nghiên cứu
12 Ngô Quốc Kỳ (2003), Hoàn thiện pháp luật điều chỉnh hoạt động của ngân hàng thương mại trong nền kinh tế
thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, Luận án Tiến sĩ Luật Học, Đại học Luật Hà Nội, tr.36 -37.
13 Ngô Quốc Kỳ, tlđd, tr.43
14 Trần Dục Thức và nhóm tác giả (2014), Quan hệ sở hữu giữa tổ chức tín dụng và các công ti con, công ti liên
kết – Thực trạng và giải pháp, Trường Đại học Ngân hàng thành phố Hồ Chí Minh, đề tài nghiên cứu khoa học
cấp ngành, tr 31-39
Trang 28về “Sở hữu chồng chéo giữa các TCTD và tập đoàn kinh tế tại Việt Nam”, nhóm tác
giả chương trình giảng dạy kinh tế Fullbright chỉ ra nguồn luật điều chỉnh và một số bất cập của khuôn khổ pháp lí giám sát sở hữu chồng chéo15 Phải nói thêm rằng, sở hữu chồng chéo giữa các TCTD (trong đó chủ yếu là các NHTM), giữa TCTD với doanh nghiệp là một trong những hệ quả của hoạt động đầu tư do các TCTD thực hiện Cả hai nghiên cứu này đều chú trọng khía cạnh kinh tế, do đó, nội dung pháp luật được đề cập ở mức hạn chế, các vấn đề về mặt lí luận pháp luật như đặc điểm, cấu trúc, các yếu tố ảnh hưởng pháp luật không được đề cập
Các công trình nước ngoài, theo nghiên cứu cũng không đưa ra định nghĩa hay cấu trúc pháp luật về hoạt động đầu tư, tuy nhiên nhiều tài liệu có giá trị tham khảo, đặc biệt xác định các yếu tố tác động đến pháp luật điều chỉnh thông qua các nội dung liên quan đến đánh giá hệ thống quy định pháp luật của các nước hay mô hình
trên thế giới Điển hình, có thể kể đến “The Changing Borders of Banking: trends
and implications” của Claudito E.V.Borio và Renato Filosa (1994); “Restructuring the banking system to improve safety and soundness” của Thomas M.Hoenig and
Charless S Morris (2012); … Claudito E.V.Borio và Renato Filosa (1994) và Thomas M.Hoenig (2012) trong nghiên cứu của mình chỉ ra, thực trạng nền tài chính tác động rất lớn đến xu hướng điều chỉnh của pháp luật đối với hoạt động ngân hàng, việc nới lỏng, thặt chặt ranh giới giữa hoạt động ngân hàng truyền thống với hoạt động chứng khoán, bảo hiểm, hay giữa NHTM với các hoạt động ngân hàng đầu tư
và ngược lại, ban hành các giới hạn,… đều có sự thay đổi qua các giai đoạn ở các quốc gia16
Như vậy có thể kết luận, những vấn đề lí luận về pháp luật điều chỉnh hoạt động đầu tư của NHTM cho đến thời điểm hiện nay chưa được nghiên cứu đầy đủ Một số nghiên cứu chỉ ra nguồn luật và các yếu tố tác động đến pháp luật điều chỉnh nhưng còn hạn chế hoặc ở phạm vi nghiên cứu của công trình Các nội dung liên quan đến đặc điểm, cấu trúc pháp luật về hoạt động đầu tư gần như chưa được làm
15 Vũ Thành Tự An, Trần Thị Quế Giang, Nguyễn Đức Mậu, Đinh Công Khải, Nguyễn Xuân Thành, Đỗ Thiên
Anh Tuấn (2013), Sở hữu chồng chéo giữa các tổ chức tín dụng và tập đoàn kinh tế tại Việt Nam: Đánh giá và
các khuyến nghị thể chế, tr 88-90
16 Claudito E.V.Borio, Renato Filosa (1994), The Changing Borders of Banking: trends and implications, tr 6-11; Thomas M.Hoenig, Charless S Morris (2012), Restructuring the banking system to improve safetyi and soundness,
tr 5-7
Trang 29rõ Tuy nhiên, các vấn đề lí luận chung về pháp luật ngân hàng là cơ sở để nghiên cứu sinh vận dụng và tiến hànhnghiên cứu chuyên sâu và đầy đủ hơn các nội dung pháp luật điều chỉnh hoạt động đầu tư của NHTM bao gồm khái niệm, cấu trúc pháp luật, các yếu tố ảnh hưởng và tiêu chí hoàn thiện pháp luật hoạt động đầu tư của NHTM
2.2 Những kết quả nghiên cứu về thực trạng pháp luật điều chỉnh hoạt động đầu tư của ngân hàng thương mại ở Việt Nam
- Thứ nhất, kết quả nghiên cứu về thực trạng pháp luật về phương thức thực hiện hoạt động đầu tư của NHTM
Các nghiên cứu nước ngoài thường tập trung vào mô hình tổ chức quản lí của ngân hàng, qua đó đề cập và phân tích đến việc mở rộng hoạt động kinh doanh của ngân hàng sang các hoạt động chứng khoán, bảo hiểm, do đó định nghĩa cụ thể về phương thức thực hiện hoạt động đầu tư của NHTM không được đề cập trực tiếp Tuy nhiên, quan điểm chung đều cho rằng, bên cạnh các hoạt động truyền thống, các NHTM phát triển sang đầu tư chứng khoán, bảo hiểm và các hoạt động thương mại khác Điểm đáng chú ý là hoạt động đầu tư chứng khoán của NHTM được tiếp cận tương đối rộng gồm bảo lãnh, môi giới, phát hành và hoạt động kinh doanh chứng khoán (Armold W.Sametx, Michael Keenan,197917, Joao A.C Santos, 1998)18
Trong khi đó, nghiên cứu trong nước thường đề cập đến nội dung pháp lí của từng phương thức thực hiện hoạt động đầu tư của NHTM, cụ thể:
Về hoạt động góp vốn, mua cổ phần Đây là hoạt động được ghi nhận trong pháp luật và các NHTM triển khai từ khá sớm, đồng thời thực tế cũng phát sinh nhiều vấn đề liên quan đến quản trị, do đó, các nghiên cứu đề cập đến vấn đề này đa dạng hơn so với các phương thức đầu tư khác Có thể kể đến một số công trình tiêu biểu như sau:
Trần Dục Thức và nhóm tác giả (2014) chỉ ra hành lang pháp lí về hoạt động đầu tư góp vốn, mua cổ phần đối với các TCTD nói chung gồm: Một là, các quy định trực tiếp về đầu tư góp vốn, mua cổ phần, với sáu nội dung: (i) Quyền được góp vốn,
17Arnold W.Sametx, Michael Keenan (1979), Securities Activities of Commercial Banks: An Evaluation of Current
Developments and Regulatory Issues, Journal of International Law, tr 9 – 22
18João A.C Santos (1998), Commercial Banks in the Securities Business: A Review (Bank for International
Settlements, Basle, Switzeland)
Trang 30mua cổ phần; (ii) Trường hợp bị cấm thực hiện; (iii) Các giới hạn về góp vốn, mua
cổ phần; (iv) Quy định về các giới hạn này riêng đối với TCTD có yếu tố nước ngoài; (v) Điều kiện cần phải đảm bảo để được thực hiện hoạt động này; (vi) Quy định liên quan đến hoạt động; Hai là các quy định pháp lí liên quan khác gồm quy định về vốn, quy định về hạn chế và giới hạn cấp tín dụng Một số nội dung chính các quy định pháp lí được nhóm tác giả tổng hợp và lập bảng so sánh khá chi tiết19 Những nghiên cứu và đánh giá của nhóm tác giả có giá trị tham khảo cao, tuy nhiên do chủ yếu tập trung khía cạnh kinh tế, nên các đánh giá về mặt pháp lí kể trên chưa được phân tích sâu
Tác giả Phạm Thị Giang Thu (2013) khẳng định quy định pháp luật hiện hành
đã đưa ra hành lang pháp lí tương đối toàn diện, tạo điều kiện cho ngân hàng phát huy sở trường của nhà đầu tư có tổ chức, của chủ thể có năng lực tài chính và định hướng đầu tư tài chính Tác giả khẳng định các quy định về điều kiện, nội dung hoạt động góp vốn, mua cổ phần, trình tự, thủ tục góp vốn mua cổ phần đều được quy định trong các văn bản luật và văn bản dưới luật nhằm mục tiêu kiểm soát chặt chẽ, đảm bảo tính an toàn đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho các TCTD thực hiện hoạt động đầu tư tài chính Bên cạnh đó tác giả cũng chỉ ra nhiều quy định trong Luật các
Tổ chức tín dụng năm 2010 và văn bản hướng dẫn chưa rõ ràng cần được hướng dẫn chi tiết như: thủ tục xin phép NHNN, điều kiện thực hiện, góp vốn, mua cổ phần,…20
Trong khi các nghiên cứu về hoạt động góp vốn, mua cổ phần tương đối đa dạng thì hoạt động đầu tư chứng khoán và ủy thác đầu tư, đến hiện nay còn khá hạn chế Đối với hoạt động đầu tư chứng khoán, mặc dù nghiên cứu về mô hình hoạt động của NHTM trên thị trường chứng khoán được trình bày tại nhiều tài liệu như Mạc Quang Huy (2009), Tạ Hoàng Hà (2015),…, tuy nhiên những đánh giá, phân tích cụ thể nội dung pháp luật này không nhiều Tạ Hoàng Hà (2015) khẳng định, pháp luật hiện hành về ngân hàng, chứng khoán và pháp luật liên quan khác như dân
sự, doanh nghiệp, đầu tư, cạnh tranh,… đã ghi nhận và tạo cơ sở cho hoạt động đầu
tư chứng khoán với hình thức đầu tư trực tiếp hoặc gián tiếp21, tuy nhiên tác giả
19 Trần Dục Thức và nhóm tác giả, tlđd, tr 31-39
20 Phạm Thị Giang Thu (2013), Một vài ý kiến về pháp luật điều chỉnh hoạt động góp vốn, mua cổ phần của các
ngân hàng thương mại, Tạp chí Dân chủ và pháp luật (1), tr.28-34
21 Tạ Hoàng Hà, tlđd, tr.63-65
Trang 31không nhận định sâu hơn các quy định này Đối với pháp luật về hoạt động ủy thác đầu tư, Trần Minh Hải (2012) đánh giá, quy định tại Thông tư 04/2012/TT-NHNN còn chung chung chưa đầy đủ, quy định mới tại Thông tư 30/2014/TT-NHNN đã có
nhiều điểm tích cực, siết chặt hoạt động ủy thác như “khoanh vùng đối tượng tham
gia ủy thác”, quy định rõ yêu cầu đối khi tiến hành hoạt động ủy thác đầu tư, khắc
phục được quy định “chung chung”, thiếu rõ ràng trong quy định trước đây
Như vậy, tình hình nghiên cứu vấn đề thực trạng pháp luật về phương thức thực hiện hoạt động đầu tư của NHTM có thể tóm lược như sau:
(i) Tính đến nay, chưa có một đánh giá toàn diện về các phương thức thực hiện hoạt động đầu tư của NHTM tại Việt Nam theo pháp luật Việt Nam hiện hành
mà chủ yếu đề cập nội dung pháp lí của từng phương thức đầu tư ở phạm vi hẹp
(ii) Trong từng phương thức đầu tư, thiếu vắng đánh giá chuyên sâu, đặc biệt đối với nội dung pháp luật về hoạt động đầu tư chứng khoán và ủy thác đầu tư của NHTM Sự hạn chế này do nhiều nguyên nhân như yếu tố lịch sử (hoạt động ủy thác đầu tư và cơ chế pháp lí cho hoạt động này mới được pháp luật ghi nhận gần đây),
vị trí, vai trò của phương thức đầu tư này trong hoạt động của ngân hàng
Trên cơ sở nhận định các kết quả nghiên cứu như trên, luận án sẽ tiếp tục làm
rõ, đồng thời đánh giá các quy định về từng phương thức thực hiện hoạt động đầu tư của NHTM, có liên hệ thực tiễn nhằm xác định đầy đủ vị trí và tầm quan trọng của từng hoạt động đầu tư đối với NHTM
- Thứ hai, kết quả nghiên cứu thực trạng pháp luật về điều kiện và trình tự
thực hiện hoạt động đầu tư của NHTM
Nhìn chung, các nghiên cứu trong nước và nước ngoài liên quan đến điều kiện
và trình tự thực hiện hoạt động đầu tư của NHTM khá hạn chế Một số đánh giá pháp luật đã được đưa ra, tuy nhiên không còn tính thời sự hoặc pháp luật hiện nay đã hoàn thiện
Về quy định liên quan đến trình tự thực hiện hoạt động đầu tư Nhóm tác giả chương trình giảng dạy Kinh tế Fullbright (2013) chỉ ra mặc dù có quy định phải được sự chấp thuận trước bằng văn bản của NHNN, tuy nhiên hiện vẫn chưa có quy
Trang 32định chi tiết về điều kiện, hồ sơ, trình tự, thủ tục chấp thuận22 Hạn chế này của pháp luật cũng được chỉ ra tại nghiên cứu của tác giả Phạm Thị Giang Thu (2013) Trong trường hợp đã góp vốn, mua cổ phần vượt mức quy định phải có giải pháp xử lí, không được tiếp tục thực hiện hoạt động này Giải pháp này phải được Hội đồng quản trị ngân hàng thông qua và chỉ cần gửi báo cáo NHNN Tuy nhiên, thực tế pháp luật chưa có quy định về lộ trình tuân thủ và đặc biệt là các hình thức xử lí vi phạm
Tác giả Nguyễn Kiên Bích Tuyền (2019) cho rằng quy định về “lĩnh vực khác” tại điều 103 Luật các TCTD chưa rõ ràng, mơ hồ, gây khó khăn, tạo ra “chốt chặn” cho
ngân hàng khi thực hiện hoạt động góp vốn, mua cổ phần
Về quy định liên quan đến điều kiện thực hiện hoạt động đầu tư Tác giả Tạ Hoàng Hà (2015) chỉ ra rằng với điều kiện thị trường hiện tại, các quy định về hoạt động góp vốn, mua cổ phần chưa cụ thể, cần đặt ra các điều kiện khác nhau theo quy
mô từng ngân hàng Một số tài liệu nước ngoài trong nghiên cứu có đưa ra quy định
về điều kiện thực hiện hoạt động đầu tư theo pháp luật của quốc gia mình như Masaki Yagyu (1994), Yuwa Wei (2005),… các nội dung này có giá trị so sánh khi đánh giá pháp luật Việt Nam
Tóm lại, nội dung về điều kiện trình tự thực hiện hoạt động đầu tư của NHTM
đã được đánh giá song chưa toàn diện Trên cơ sở kế thừa các kết quả nghiên cứu trên, nghiên cứu sinh sẽ đánh giá toàn diện điều kiện thực hiện trong từng nhóm hoạt động đầu tư, làm rõ trình tự thực hiện hoạt động trong đó làm sáng tỏ phạm vi sự can thiệp của cơ quan quản lí đặt trong yêu cầu về đảm bảo quyền tự do kinh doanh của NHTM
- Thứ ba, kết quả nghiên cứu thực trạng pháp luật về các biện pháp nhằm
đảm bảo an toàn khi NHTM thực hiện hoạt động đầu tư
Khi đề cập đến hoạt động đầu tư của NHTM, đặc biệt sự tham gia của NHTM vào hoạt động chứng khoán, vấn đề quan ngại được đặt ra đó là an toàn hệ thống và xung đột lợi ích trong hoạt động Bởi vậy, các biện pháp bảo đảm an toàn trong hoạt động của NHTM khi thực hiện các hoạt động đầu tư rất được quan tâm Tuy nhiên thực tế nghiên cứu cho thấy, các quy định về tỉ lệ an toàn vốn tối thiểu, giới hạn về
22 Vũ Thành Tự Anh, Trần Thị Quế Giang, Nguyễn Đức Mậu, Đinh Công Khải, Nguyễn Xuân Thành, Đỗ Thiên Anh Tuấn, tlđd, tr 71
Trang 33vốn đầu tư, giới hạn về lĩnh vực đầu tư,… hầu hết có tính chất công bố thông tin, hoặc bình luận đánh giá trong phạm vi và mục đích của từng nghiên cứu, không đặt trong tổng thể và yêu cầu đảm bảo an toàn khi NHTM thực hiện hoạt động đầu tư
Cụ thể, một số công bố như sau:
Tác giả Nguyễn Kiên Bích Tuyền (2019) lập luận cho thấy quy định hạn chế
về nguồn vốn đầu tư, giới hạn tỉ lệ góp vốn, mua cổ phần đem lại ý nghĩa trong quản
lí nguồn vốn Đồng thời, tác giả cũng chỉ ra một số hạn chế trong quy định pháp luật
Ví dụ, tác giả cho rằng quy định nội dung này tại khoản 3 Điều 9 Thông tư số 30/2014/TT-NHNN quy định về uỷ thác và nhận uỷ thác của TCTD là không cần thiết bởi đã có nguyên tắc chung liên quan về các hoạt động TCTD không được phép thực hiện
Nhóm tác giả Chương trình giảng dạy Kinh tế Fullbright nhận định đối với quy định về tỉ lệ an toàn vốn tối thiểu như sau: tăng tỉ lệ an toàn vốn tối thiểu (hệ số CAR) 9% quy định tại Thông tư số 13/2012/TT-NHNN tiếp tục được duy trì tại Thông tư 36/2013/TT-NHNN, sửa đổi bổ sung tại Thông tư 06/2016/TT-NHNN là cần thiết, phù hợp với thông lệ quốc tế (thậm chí vượt chuẩn 8% tối thiểu của Basel) nhằm khuyến khích các ngân hàng cái cơ cấu và nâng cao tiềm lực tài chính Tuy nhiên, trong nhiều nghiên cứu đều cho rằng, quy định về hệ số CAR của Việt Nam
và quy định về tỉ lệ đảm bảo an toàn khác chưa tiếp cận đầy đủ so với Basel II và III (Nguyễn Anh Tuấn, 2012; Trần Dục Thức, 2014, …) Về vốn đầu tư, có quan điểm cho rằng chỉ cho phép sử dụng vốn điều lệ và quỹ dự trữ như quy định hiện nay nên
được xem xét lại theo hướng mở rộng “vốn tự có” (Phạm Thị Giang Thu, 2013)
Đồng thời tác giả cũng chỉ ra các lĩnh vực được phép góp vốn, mua cổ phần của NHTM được pháp luật ghi nhận là lĩnh vực liên quan đến hoạt động ngân hàng, tuy
nhiên khoản 4 Điều 103 Luật các TCTD năm 2010 lại quy định “Ngân hàng thương
mại được góp vốn, mua cổ phần của doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực khác…”,
quy định này chưa được làm rõ
Một số ý kiến khác, tác giả Trần Dục Thức và nhóm nghiên cứu (2014) khi đánh giá hoạt động góp vốn mua cổ phần của NHTM đưa ra quan điểm cụ thể cần
chỉ rõ khía cạnh pháp lí của một số khái niệm như: “cổ đông lớn” với quy định nắm
giữ tỉ lệ 5% như hiện nay khá cao gây khó khăn cho kiểm soát thông tin; khái niệm
Trang 34“nhóm liên quan” ở 3 khía cạnh quan hệ sở hữu, quan hệ gia đình hay quan hệ chủ
sở hữu và người lao động; xác định “nguồn gốc tiền đầu tư/góp vốn” chưa rõ gây hệ
quả sử dụng tiền vay/hoạt động trá hình của tiền vay để tăng vốn ảo, khó khăn cho quản lí
Nhìn chung, qua đánh giá các nghiên cứu cho thấy, bởi tính chất rủi ro của hoạt động đầu tư nói chung, các tác giả đều cho thấy quan điểm thống nhất cần thiết phải đặt ra các giới hạn và biện pháp đảm bảo an toàn khi NHTM thực hiện hoạt động đầu tư Các nghiên cứu mặc dù còn thiếu hệ thống và tính toàn diện song có thể thấy pháp luật đã thiết lập được các giới hạn và biện pháp nhằm đảm bảo an toàn nguồn vốn cho hoạt động đầu tư, tuy nhiên thực tiễn triển khai còn phát sinh bất cập Trước đánh giá về kết quả nghiên cứu như trên, luận án sẽ tiếp tục làm rõ và đánh giá đầy đủ, toàn diện các quy định về bảo đảm an toàn trong hoạt động đầu tư của NHTM, đặc biệt đánh giá thực tiễn áp dụng các quy định hiện hành và liên hệ so sánh với pháp luật các quốc gia có tính tương đồng
- Thứ tư, kết quả nghiên cứu thực trạng pháp luật về quản lí nhà nước đối
với hoạt động đầu tư của NHTM
Về chủ thể, nhiều tác giả như Lê Thị Thu Thủy (2013), Lê Ngọc Lân, Bùi Thị Thanh Tình (2013)23, Trần Vũ Hải (2014) 24, Nguyễn Đức Ngọc (2010) 25 đều chỉ rõ vấn đề bấp cập của mô hình giám sát thị trường tài chính phân tán đang áp dụng tại Việt Nam Mỗi ngành được giám sát bởi cơ quan giám sát riêng biệt Cụ thể, liên quan đến hoạt động đầu tư của NHTM trên thị trường tài chính có: Cơ quan Thanh tra Giám sát ngân hàng thuộc NHNN Việt Nam, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước trực thuộc Bộ Tài Chính, Ủy ban Giám sát Tài chính Quốc gia giám sát chung và điều phối hoạt động giám sát chuyên ngành26 Cũng đề cập đến mô hình giám sát này, nhóm tác giả nghiên cứu của chương trình giảng dạy kinh tế Fullbright (2013) chỉ rõ
23 Lê Ngọc Lân, Bùi Thị Thanh Tình (2013), Đánh giá hoạt động thanh tra, giám sát của Ngân hàng Nhà nước
Việt Nam hiện nay, Tạp chí Ngân hàng (110)
24 Trần Vũ Hải (2014), Pháp luật về kinh doanh bảo hiểm nhân thọ ở Việt Nam – Những vấn đề lí luận và thực
tiễn, Luận án Tiến sĩ Luật học, trường Đại học Luật Hà Nội, tr.150-155
25 Nguyễn Đức Ngọc (2010), “Một vài đặc điểm của pháp luật Hoa Kì và liên hệ với pháp luật ngân hàng Việt
Trang 35mặc dù hoạt động giám sát của NHNN thông qua Cơ quan Thanh tra Giám sát đã tăng cường hoạt động trong thời gian qua, nhưng vẫn thiên về giám sát hoạt động của NHTM, trong khi các lĩnh vực giám sát thường bị giới hạn Nhóm tác giả cho rằng sự phân tán và thiếu kết hợp dẫn đến hiệu quả giám sát bị hạn chế27
Thực trạng hoạt động giám sát cũng được tác giả Nguyễn Thị Minh Huệ (2010) chỉ ra Tác giả khẳng định bên cạnh các kết quả như thực hiện theo dõi đối với hầu hết các NHTM, hoạt động giám sát có sự điều chỉnh theo yêu cầu của sự phát triển của hoạt động ngân hàng và theo thông lệ quốc tế, trong hoạt động giám sát của NHNN đối với NHTM vẫn tồn tại hạn chế như phương pháp giám sát chưa rõ ràng, phù hợp, nội dung giám sát chưa đầy đủ và thiếu toàn diện, quy trình giám sát chưa chặt chẽ và thiếu trọng tâm, hoạt động giám sát chưa chú trọng vào hoạt động cảnh báo rủi ro cho các NHTM28,…; Tiếp đó, sự phân tán thẩm quyền giám sát ảnh hưởng lớn điến hiệu quả giám sát
Về vấn đề xử lí vi phạm, có quan điểm cho rằng các chế tài hiện nay áp dụng hoặc chưa đủ hiệu lực hoặc đang đi theo hướng hình sự hóa các quan hệ dân sự Cụ thể là các chế tài của NHNN đối với các vi phạm của TCTD nói chung hiện nay theo
ba hướng: (i) Phạt tiền, (ii) Hạn chế mở rộng hoạt động và (iii) Chuyển hồ sơ sang
cơ quan điều tra29
Tóm lại, đánh giá kết quả nghiên cứu về nội dung quản lí nhà nước đối với hoạt động đầu tư của NHTM cho thấy, mặc dù có nhiều tác giả đề cập song chưa có công trình nghiên cứu nào đi sâu phân tích toàn diện và chuyên sâu về nội dung này Các nghiên cứu đã chỉ ra vai trò và tầm quan trọng của cũng như một số hạn chế bất cập trong hoạt động quản lí đối với hoạt động đầu tư, song chưa đánh giá sâu sắc, toàn diện, đặc biệt khai thác được tính đặc thù trong quản lí giám sát đối với hoạt động đầu tư của NHTM Bởi vậy, trên cơ sở các kết quả hiện nay, luận án sẽ làm rõ tính chất và yêu cầu đặc thù đối với quy định về quản lí nhà nước trong hoạt động đầu tư của NHTM, từ đó đánh giá hiệu quả các quy định pháp luật hiện hành
2.3 Đề xuất và giải pháp trong các công trình nghiên cứu nhằm hoàn
27 Vũ Thành Tự Anh, Trần Thị Quế Giang, Nguyễn Đức Mậu, Đinh Công Khải, Nguyễn Xuân Thành, Đỗ Thiên Anh Tuấn, tlđd, tr 89
28Nguyễn Thị Minh Huệ (2010), Hoạt động giám sát của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đối với Ngân hàng
thương mại, Luận án tiến sĩ Kinh tế, Đại học Kinh tế quốc dân, Hà Nội
29 Tài liệu giảng dạy Kinh tế Fullbright, 2013, tlđd trang 90.
Trang 36thiện và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về hoạt động đầu tư của ngân hàng thương mại
Từ thực tế thiếu vắng các nghiên cứu trong nước và nước ngoài đề cập trực tiếp đến nội dung pháp luật điều chỉnh hoạt động đầu tư của NHTM, các đề xuất và giải pháp hoàn hiện pháp luật không được ghi nhận nhiều Tuy nhiên, từ kết quả nghiên cứu các công trình liên quan, có một số điểm đáng lưu ý như sau:
Thứ nhất, khi xem xét và đưa ra kiến nghị hoàn thiện pháp luật về hoạt động
đầu tư của NHTM cần đánh giá xu hướng và quan điểm thế giới cũng như Việt Nam trong quy định về hoạt động này Nghiên cứu cho thấy quy định về mở rộng hoạt động của NHTM sang các hoạt động đầu tư vẫn còn nhiều quan điểm khác nhau
Quan điểm cần tách bạch hoạt động của NHTM với các hoạt động mang tính chất đầu tư hoặc hoạt động ngân hàng đầu tư bắt đầu tư sau khủng hoảng kinh tế
1929 – 1933, khi Quốc hội Hoa Kỳ thông qua Đạo luật Glass – Steagall Các nghiên cứu của Tabarrok (1998)30, Lia K.Thomas (2005)31, Bierman Harold (2003) 32 cho rằng các NHTM và công ti chứng khoán là nguyên nhân cuộc khủng hoảng kinh tế
do xung đột lợi ích phát sinh khi một tổ chức đồng thời kinh doanh ngân hàng truyền thống và kinh doanh chứng khoán Sheng (2009)33 ủng hộ sự tách biệt giữa hoạt động NHTM và hoạt động đầu tư, ông cho rằng rất khó để có thể kết hợp văn hoá của ngân hàng đầu tư (dựa trên việc chấp nhận rủi ro) và NHTM (hoạt động kinh doanh mà sự
“thận trọng” rất được coi trọng) dưới cùng một mái nhà
Tại Việt Nam, Trần Dục Thức và nhóm tác giả (2014)34 cũng cho rằng, nhằm giảm thiểu rủi ro trong hoạt động ngân hàng cần tách bạch hoạt động ngân hàng đầu
tư và hoạt động NHTM, nghĩa là NHTM không nên thực hiện chức năng kinh doanh
đa ngành như hiện nay, mà thay vào đó NHTM chỉ có dịch vụ thanh toán- tài chính, huy động và cấp tín dụng Các hoạt động đầu tư, góp vốn nên hình thành nên định chế ngân hàng đầu tư để tách bạch quản lí
30 Tabarrok, A (1998), The Separation of Commercial and Investment baning: the Morgans v The Rockefellers,
The Quarterly Jounrnal of Austraian Economics vol.1 (1988), tr 1-18
31 Lia K.Thomas (2005), “The Bussiness of Investment Banking”, John Wiley & Son, Inc
32 Bierman Harold (2003), Investment banking: Valuation, Leveraged Buyouts, and Mergers and Acquisitions,
tr.25
33 Sheng (2009) From Asian to Global Crisis NY, Cambridge University Press, tr 326
34 Trần Dục Thức và nhóm tác giả, tlđd, tr 75-76
Trang 37Bên cạnh đó, một số nghiên cứu cho thấy quan điểm ngược lại Tabarrok (1998)35 cho rằng mặc dù đạo luật Glass – Steagall nhằm gia tăng mức độ an toàn của hệ thống ngân hàng và giảm xung đột lợi ích, tuy nhiên xung đột lợi ích trên không đáng kể Nguyên nhân thực sự thông qua đạo luật trên xuất phát từ lợi ích chính trị của một số cá nhân Macey (1991)36 cho rằng việc ngăn cấm thực hiện hoạt động ngân hàng đầu tư sẽ gia tăng rủi ro tại các NHTM Ông chỉ ra chứng khoán nói chung (bao gồm cổ phiếu và trái phiếu) có ít rủi ro hơn tín dụng và đầu tư vào chứng khoán, được coi là khoản đầu tư có tính thanh khoản và đại chúng cao Tính thanh khoản này giúp cho các ngân hàng dễ cân bằng trạng thái, đồng thời tính đại chúng của hoạt động chứng khoán làm tăng hiệu quả hoạt động của các NHTM Tại Việt Nam, tác giả Mạc Quang Huy (2009), Tạ Hoàng Hà (2015) cho rằng Việt Nam có thể phát triển đồng thời hai mô hình ngân hàng tổng hợp và ngân hàng đầu tư chuyên biệt”37
Thứ hai, một số đề xuất giải pháp cụ thể trong một số nội dung nghiên cứu được
đưa ra mang tính riêng lẻ nhưng vẫn có giá trị tham khảo trong nghiên cứu
Về phương thức thực hiện hoạt động đầu tư: Tác giả Phạm Thị Giang Thu
(2013) cho rằng pháp luật cần quy định cụ thể hơn về hình thức thực hiện hoạt động góp vốn, mua cổ phần đặc biệt hướng dẫn về trình tự, thủ tục thực hiện trong từng hình thức, trường hợp nào phải thông báo và chấp thuận hoặc thông báo về thông tin phải thay đổi đến NHNN, trường hợp nào không cần thực hiện thủ tục này Tác giả Nguyễn Thị Lan Hương (2007) đưa ra đề xuất cần luật hoá quyền tham gia các lĩnh vực tài chính đa dạng của NHTM trong luật các TCTD Việc xác định rõ lĩnh vực hoạt động và những hạn chế trong quá trình tham gia vốn vốn thành lập công ti bảo hiểm là cơ sở pháp lí để kiểm tra hoạt động góp vốn của ngân hàng đồng thời tạo quyền chủ động lựa chọn hoạt động kinh doanh của NHTM38 Trong khi đó đối với hoạt động ủy thác đầu tư, ý kiến chung trong các nghiên cứu đưa ra là cần hoàn thiện
cơ sở pháp lí theo hướng thắt chặt quản lí đối với hoạt động này trong giai đoạn hiện
35 Tabarrok, A., tlđd tr 1-18
36Macey, J.R., M.W Marr, and S.D Young (1991), The Glass – Steagall Act and the Riskiness of Financial
Intermediaties, Research in Law and Economics (14), tr.19-30
37 Tạ Hoàng Hà, tlđd, tr.118-122
38 Nguyễn Thị Lan Hương, “Công ti nắm vốn – hình thức để ngân hàng đầu tư vào lĩnh vực bảo hiểm theo Luật
Hoa Kì”, Tạp chí Khoa học Đại học Quốc gia Hà Nội, Kinh tế - Luật số 23/2007, tr.86
Trang 38nay, thậm chí theo Luật sư Trần Minh Hải thì “không tồn tại nữa thì sẽ tốt hơn cho
Hiên (2014) cho rằng nên “tách bạch chức năng ngân hàng đầu tư và NHTM” bởi
quy định về đầu tư của NHTM đã xóa đi ranh giới giữa chức năng ngân hàng đầu tư
và NHTM tại Việt Nam, một trong những nguyên nhân tạo ra “lỗ hổng” tạo điều kiện cho sở hữu chéo
Đứng trên phương diện đảm bảo an toàn cho hoạt động của toàn hệ thống, quan điểm về phạm vi thực hiện hoạt động đầu tư của NHTM được Thomas M.Hoenig và Charless S Morris (2012) khuyến nghị cần phải giới hạn hoạt động của các tổ chức ngân hàng Theo đó, các tổ chức ngân hàng bao gồm cả NHTM không nên thực hiện ba trong số sáu nhóm hoạt động tài chính gồm: Kinh doanh và kiến tạo thị trường (chứng khoán, repos, hợp đồng phái sinh); dịch vụ môi giới và tự doanh40 Lập luận được đưa ra là, ba hoạt động này có ít mối tương quan với dịch vụ ngân hàng cơ bản và nó tạo rủi ro rất khó đánh giá, giám sát và kiểm soát41 Quan điểm về giới hạn hoạt động của tổ chức tài chính cũng được đưa ra bởi Claudio E.V.Borio and Renato Finosa (1994)42 Armold W.Sametx, Michael Keenan (1979) 43 cho rằng nếu như NHTM tham gia vào hoạt động chứng khoán cần thiết yêu cầu bổ sung vốn, bảo hiểm hoặc gia tăng thuế và biện pháp giám sát
Về các biện pháp bảo đảm an toàn Nhóm tác giả chương trình giảng dạy kinh
tế Fullbright (2013) nhấn mạnh cần hoàn thiện các quy định đảm bảo an toàn hoạt động của ngân hàng Việt Nam thông qua một loạt các biện pháp: giám sát vốn ngân hàng, nhanh chóng hoàn thiện các tỉ lệ đảm bảo an toàn mới theo quy định của Luật các TCTD 2010, tinh thần của Basel II, hướng đến Basel III, quy định về công bố thông tin, đảm bảo tuân thủ triệt để các quy định và nâng cao hiệu lực của chế tài,…
39 Xem “Dự thảo Thông tư mới về ủy thác đầu tư khác gì so với Thông tư hiện hành?”, truy cập ngày 15/10/2012, theo Tri thức trẻ, http://cafef.vn/tai-chinh-ngan-hang/du-thao-thong-tu-moi-ve-hoat-dong-uy-thac-khac-gi-so-voi- thong-tu-hien-hanh-2012101408294478.chn
40 Theo Richardson, Smith và Walter, các hoạt động tài chính của NHTM, đầu tư và các SBS có thể được phân loại trong 6 nhóm hoạt động như sau: hoạt động NHTM (huy động và cho tổ chức, cá nhân vay), hoạt động ngân hàng đầu tư – bảo lãnh chứng khoán và cung cấp dịch vụ tư vấn; quản lí tài sản; kinh doanh và kiến tạo thị trường; dịch vụ môi giới và tự doanh
41 Thomas M.Hoenig và Charless S Morris (2012), Restructuring the banking system to improve safety and
Trang 39Đặc biệt, nhóm tác giả đưa ra đề xuất cần mở rộng quyền giám sát các cổ đông sở hữu ngân hàng44
Bên cạnh đó, một số đề xuất cụ thể cũng được đưa ra như: điều kiện về vốn
sử dụng để thực hiện hoạt động góp vốn, mua cổ phần nên được xem xét là vốn tự
có thay vì vốn điều lệ như quy định hiện nay (Phạm Thị Giang Thu, 2013) nhằm nới rộng cơ hội thực hiện đầu tư kinh doanh của TCTD nhưng không mất đi tính an toàn của tổ chức này; cần định nghĩa lại người có liên quan, cụ thể quy định hạ thấp tỉ lệ
sở hữu ngân hàng phải công bố thông tin (từ mức hiện hành 5% xuống còn 1%) nhằm giúp cơ quan giám sát ngân hàng có thông tin đầy đủ hơn về cấu trúc sở hữu của mỗi ngân hàng (Đặng Ngọc Đức, Nguyễn Đức Hiển – 2014; Trần Dục Thức và nhóm tác giả - 2014)
Về nội dung liên quan đến quản lí nhà nước Trong hầu hết các nghiên cứu
trực tiếp và có liên quan hoặc đề cập về hoạt động đầu tư của NHTM, các tác giả đều đưa ra quan điểm cần tăng cường giám sát từ phía cơ quan quản lí và đặt ra các giới hạn đối với các hoạt động đầu tư Trần Dục Thức và nhóm nghiên cứu (2014) khi
nghiên cứu về hoạt động góp vốn mua cổ phần của NHTM đã chỉ rõ “tăng cường
công tác giám sát và quản lí của Nhà nước, đặc biệt là vai trò của NHNN” là một
trong những giải pháp quan trọng nhằm tăng cường khả năng giám sát một trong những phương thức thực hiện đầu tư quan trọng của NHTM – hoạt động góp vốn, mua cổ phần Bên cạnh đó, nghiên cứu giải pháp cần xây dựng mô hình giảm sát hợp nhất và đưa ra lộ trình và biện pháp thanh tra giám sát cụ thể45
Tạ Hoàng Hà (2015) cho rằng để phát triển hoạt động đầu tư của ngân hàng
dù theo mô hình chuyên biệt hay đa năng thì cần hoàn thiện cơ sở pháp lí đối với hoạt động quản lí, giám sát thị trường Pháp luật cần trao cho cơ quan quản lí các công cụ quản lí hiệu quả và đặc thù46 Tác giả Trần Dục Thức và nhóm tác giả (2014) cũng như tài liệu Chương trình giảng dạy kinh tế Fullbright (2013) chung quan ý kiến về hoàn thiện hành lang pháp lí cho hoạt động góp vốn mua cổ phần cần đảm bảo mục tiêu quan trọng là phải xây dựng hệ thống chế tài đủ mạnh cho các vi phạm
Trang 40trên thị trường tài chính Hoàn thiện pháp luật, đồng thời, cần nhấn mạnh vai trò cung cấp thông tin minh bạch, đúng đủ, kịp thời trên thị trường để toàn bộ cổ đông lớn, nhỏ không trực tiếp nắm quyền điều hành, quyền kiểm soát có thể thực hiện quyền chủ sở hữu hợp pháp của mình Các quy định điều tiết, giám sát thị trường cần tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh, không thiên vị, không tạo rào cản đố với năng lực sáng tạo tích cực của các tác nhân tham gia thị trường hay công cụ kiểm soát doanh nghiệp47
Qua nghiên cứu các công trình đã công bố về giải pháp hoàn thiện và nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật đối với pháp luật về hoạt động đầu tư tài chính của NHTM, có thể kết luận như sau:
(i) Khi xây dựng và hoàn thiện pháp luật điều chỉnh hoạt động đầu tư của NHTM phải cân nhắc tổng hòa các yếu tố ảnh hưởng và đảm bảo sự phát triển bền vững của hệ thống ngân hàng và thị trường tiền tệ, qua đúc rút kinh nghiệm các quốc qua trên thế giới và thực trạng thị trường Việt Nam
(ii) Tại Việt Nam, do sự hạn chế trong các nghiên cứu trực tiếp nội dung pháp luật điều chỉnh hoạt động đầu tư của NHTM, do đó đề xuất liên quan không mang tính toàn diện, chủ yếu là đề xuất riêng lẻ trong phạm vi nghiên cứu của mỗi công trình Tuy nhiên một số đề xuất vẫn còn giá trị tham khảo như yêu cầu hoàn thiện pháp luật, đề xuất liên quan đến giám sát thị trường Bên cạnh đó, nhiều vấn đề pháp lí liên quan đến quy định về ủy thác đầu tư, quy định về hoạt động đầu tư chứng khoán, về giải pháp cụ thể trong quản lí nhà nước liên quan đến hoạt động đầu tư của NHTM… chưa được nghiên cứu và đề xuất hoàn thiện Rõ ràng, pháp luật hiện hành liên quan đến hoạt động đầu tư của NHTM cần có đánh giá đầy đủ từ đó đưa ra kiến nghị, giải pháp cụ vừa mang tính toàn diện vừa cụ thể nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả áp dụng, thắt chặt, đảm bảo hoạt động của thị trường Đây là nội dung Luận án sẽ tiếp tục nghiên cứu và làm rõ
3 Cơ sở lí thuyết, câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu