Theo số liệu của Ngân hàng nhà nước NHNN, tính đến cuối năm 2017 tại Bắc Ninh có 36 ngân hàng, trong đó có 1 Chi nhánh NHNN, 10NHTM Nhà nước, 21 NHTM cổ phần, 1 ngân hàng chính sách xã h
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Ngân hàng thương mại (NHTM) là tổ chức tài chính trung gian đặcbiệt trong nền kinh tế, hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng Hệthống NHTM với mạng lưới chi nhánh rộng khắp có khả năng tác động tới sựphát triển của tất cả mọi lĩnh vực và toàn bộ nền kinh tế Hoạt động của NHTMluôn tiềm ẩn những rủi ro có khả năng ảnh hưởng dây chuyền tới nhiều đốitượng trong nền kinh tế Để tồn tại và phát triển ổn định thì bản thân cácNHTM nói chung và tại các NHTM trên các địa bàn nói riêng cần phải nângcao hiệu quả hoạt động, cải thiện tình hình tài chính Chính vì vậy, phân tíchtài chính (PTTC) với hệ thống các chỉ tiêu phân tích là công cụ quản lý khôngthể thiếu đối với công tác quản trị tài chính NHTM
Theo số liệu của Ngân hàng nhà nước (NHNN), tính đến cuối năm
2017 tại Bắc Ninh có 36 ngân hàng, trong đó có 1 Chi nhánh NHNN, 10NHTM Nhà nước, 21 NHTM cổ phần, 1 ngân hàng chính sách xã hội, 1 ngânhàng hợp tác xã, 1 ngân hàng 100% vốn nước ngoài, 1 Ngân hàng phát triển,với hơn 1.000 điểm giao dịch, gồm cả các điểm giao dịch tự động ATM, POS.Trong những năm gần đây nhiều ngân hàng trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh quy
mô hoạt động nhìn chung vẫn còn nhỏ bé, hiệu quả hoạt động của ngân hàngchưa cao, hình thức khai thác sản phẩm vẫn còn đơn điệu, trình độ thẩm địnhkinh tế - kỹ thuật đối với từng dự án và từng doanh nghiệp còn thấp, đáng chú
ý hơn còn có một số tổ chức tín dụng ngoài quốc doanh chạy theo thành tích,chạy theo lợi nhuận đơn thuần nên thường va vấp trong hoạt động kinh doanh,
đã hoặc đang rơi vào nguy cơ mất vốn, phá sản mất khả năng thanh toán.Hoạt động kinh doanh của ngân hàng chứa đựng nhiều rủi ro, cần thiết phải sửdụng công cụ phân tích để đánh giá tài chính của NHTM tại các chi nhánh nóiriêng, tại các NHTM nói chung trong quá khứ, hiện tại, từ đó dự báo được tài
Trang 2chính của NHTM trong tương lai để giúp cho chủ thể quản lý nâng cao hiệu quảhoạt động của NHTM
Mặc dù công tác PTTC của NHTM nói chung và tại các chi nhánhhiện nay đã và đang được rất nhiều đối tượng quan tâm tuy nhiên tai các chinhánh NHTM hiện nay việc sử dụng công cụ PTTC phục vụ quản trị tài chínhcủa các NHTM vẫn còn đơn giản, chưa thường xuyên, đặc biệt hệ thống chỉtiêu phân tích chưa xây dựng và sử dụng một cách phù hợp Xuất phát từ lý
do đó, tác giả lựa chọn đề tài: "Hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu phân tích tài
chính của các ngân hàng thương mại trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh" làm luận
án tiến sĩ kinh tế
2 Tổng quan về các công trình nghiên cứu
Hệ thống chỉ tiêu PTTC là công cụ quan trọng để thực hiện phân tích
và quản trị tài chính trong các đơn vị Hiện nay đã có rất nhiều công trìnhnghiên cứu về PTTC công ty cổ phần và hệ thống chỉ tiêu PTTC trong cácđơn vị Luận án tiến hành khái quát một số công trình nghiên cứu ở trong vàngoài nước liên quan đến đề tài nghiên cứu theo các khía cạnh: Các công trìnhnghiên cứu về hệ thống chỉ tiêu PTTC và các công trình nghiên cứu khác liênquan đến ngân hàng thương mại
Thứ nhất, các công trình nghiên cứu liên quan đến hệ thống chỉ tiêu phân tích tài chính
- Trong cuốn Giáo trình Phân tích tài chính doanh nghiệp của Học
viện Tài chính do GS,TS Ngô Thế Chi và PGS,TS Nguyễn Trọng Cơ làm chủ
biên (tái bản năm 2015) [1]; trong cuốn "Đọc và phân tích báo cáo tài chính"
do PGS,TS Nguyễn Trọng Cơ và PGS,TS Nghiêm Thị Thà làm chủ biên (táibản năm 2017) [5] cho thấy để diễn đạt được nội dung PTTC doanh nghiệp,theo quan điểm của tập thể tác giả đến từ Học viện Tài chính đã sử dụng hệthống các chỉ tiêu như: Hệ thống chỉ tiêu phân tích khái quát tình hình tàichính doanh nghiệp thông qua các chỉ tiêu về quy mô tài chính, cấu trúc tài
Trang 3chính và chỉ tiêu phân tích khái quát khả năng sinh lời; Hệ thống chỉ tiêu phântích chính sách tài chính bao gồm: Các chỉ tiêu về chính sách huy động vốn,các chỉ tiêu phân tích chính sách đầu tư; các chỉ tiêu phân tích chính sáchphân phối lợi nhuận; Hệ thống chỉ tiêu phân tích tiềm lực tài chính của doanhnghiệp bao gồm: Các chỉ tiêu phân tích tình hình và kết quả kinh doanh, cácchỉ tiêu về dòng tiền, các chỉ tiêu về tình hình công nợ, khả năng thanh toán
và các chỉ tiêu phân tích hiệu suất sử dụng vốn; Hệ thống chỉ tiêu phân tíchtình hình tăng trưởng và giá trị doanh nghiệp; Hệ thống chỉ tiêu phân tích và
dự báo rủi ro; Hệ thống chỉ tiêu dự báo báo cáo tài chính doanh nghiệp
Trong cuốn "Phân tích báo cáo tài chính" của PGS,TS Nguyễn Năng Phúc (tái bản 2011) [35] và cuốn "Phân tích báo cáo tài chính" của PGS,TS Nguyễn
Ngọc Quang (tái bản 2013) của Trường Đại học Kinh tế Quốc dân cho thấy, đểdiễn đạt được nội dung phân tích báo cáo tài chính doanh nghiệp thì cần sử dụng
hệ thống các chỉ tiêu phân tích như: Hệ thống chỉ tiêu đánh giá khái quát tình hìnhtài chính của doanh nghiệp bao gồm: các chỉ tiêu đánh giá khái quát tình hìnhhuy động vốn, mức độ độc lập tài chính của doanh nghiệp, các chỉ tiêu đánh giákhả năng thanh toán và khả năng sinh lời của doanh nghiệp; Hệ thống chỉ tiêuphân tích cấu trúc tài chính và cân bằng tài chính bao gồm: các chỉ tiêu phân tích
cơ cấu tài sản và nguồn vốn; các chỉ tiêu phân tích luân chuyển vốn và ổn địnhnguồn tài trợ; Hệ thống chỉ tiêu phân tích tình hình công nợ và khả năng thanhtoán; hệ thống chỉ tiêu phân tích hiệu quả kinh doanh; Hệ thống chỉ tiêu phân tíchdấu hiệu khủng hoảng và rủi ro tài chính; Dự báo chỉ tiêu trên báo cáo tài chính
-Luận án tiến sĩ của Nguyễn Trọng Cơ (1999) với đề tài "Hoàn thiện
hệ thống chỉ tiêu phân tích tài chính trong doanh nghiệp cổ phần phi tài chính ở Việt Nam" [3], luận án đã đi vào xây dựng và hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu PTTC
cho các công ty cổ phần phi tài chính tại Việt Nam Luận án đã đưa ra các giảipháp hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu PTTC, tuy nhiên hệ thống chỉ tiêu này đượctác giả xây dựng cho các công ty cổ phần phi tài chính nói chung ở Việt Nam
Trang 4-Luận án tiến sĩ của Nguyễn Ngọc Quang (năm 2002) với đề tài
"Hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu phân tích tài chính trong các doanh nghiệp xây
dựng ở Việt Nam" [36], luận án đã chú trọng vào hoàn thiện và xây dựng hệ
thống chỉ tiêu PTTC trong các doanh nghiệp xây dựng ở Việt Nam Trongcông trình này, tác giả đã nghiên cứu thực trạng hệ thống chỉ tiêu PTTC trongdoanh nghiệp xây dựng nói chung và đề xuất hoàn thiện hệ thống chỉ tiêuPTTC cho các doanh nghiệp này Tuy nhiên, khía cạnh nghiên cứu của luận
án tập trung vào PTTC và hệ thống chỉ tiêu PTTC không đặc thù riêng chocác doanh nghiệp xây dựng đã niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam
- Luận án tiến sĩ của Nguyễn Thị Xuân (năm 2002) với đề tài "Hoàn
thiện hệ thống chỉ tiêu đánh giá hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại Việt Nam" [44], luận án đã hệ thống hóa lý luận cơ bản về phân tích hoạt
động kinh doanh của các NHTM ở Việt Nam giai đoạn 1996 - 2000, từ đó đềxuất giải pháp hoàn thiện chỉ tiêu đánh giá hoạt động kinh doanh của NHTM
ở Việt Nam hiện nay Luận án đưa ra hệ thống chỉ tiêu phân tích hoạt độngkinh doanh của NHTM theo các khía cạnh như đánh giá khái quát tình hình tàisản - nguồn vốn; Đánh giá tình hình vốn tự có; đánh giá tình hình huy độngvốn; Đánh giá tình hình dự trữ và khả năng thanh toán; đánh giá tình hìnhhoạt động tín dụng; Đánh giá tình hình thu nhập và chi phí; đánh giá tình hìnhthực hiện chỉ tiêu lợi nhuận và khả năng sinh lời Tuy nhiên, tác giả chưa đisâu đến khía cạnh quan trọng của hoạt động NHTM là rủi ro trong kinh doanhcủa NHTM, chưa quan tâm đến phân tích dòng tiền, mà trọng tâm viết về hệthống chỉ tiêu PTTC trong các doanh nghiệp thương mại và nhằm mục đíchphục vụ quản trị trong nội bộ doanh nghiệp
- Luận án tiến sĩ của Nguyễn Thị Quyên (2010) với đề tài "Hoàn thiện
hệ thống chỉ tiêu phân tích tài chính cho các công ty cổ phần niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam" [38], luận án đã đề cập đến hệ thống chỉ tiêu
PTTC chung cho các công ty cổ phần niêm yết trên thị trường chứng khoán
Trang 5Việt Nam Đây cũng là công trình nghiên cứu có nội dung gần với đề tài củaluận án Tuy nhiên, trong công trình nghiên cứu của mình, tác giả Nguyễn ThịQuyên đã đi vào hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu PTTC chung cho tất cả cácdoanh nghiệp niêm yết thuộc nhiều ngành nghề khác nhau như bất động sản,dược phẩm, chế biến thực phẩm,… mà không xây dựng hệ thống chỉ tiêu theođặc thù riêng của từng ngành.
- Luận án tiến sĩ của Hồ Thị Thu Hương (2012) với đề tài "Hoàn thiện hệ
thống chỉ tiêu phân tích tài chính trong các công ty tài chính ở Việt Nam" [11],
Trên cơ sở mô hình tổ chức quản lý và đặc thù hoạt động kinh doanh củacông ty tài chính, tác giả luận án đã hệ thống hóa các chỉ tiêu PTTC trongcông ty tài chính theo 8 nhóm chỉ tiêu như: Các chỉ tiêu phản ánh quy mô tàichính; các chỉ tiêu phản ánh chính sách huy động vốn; các chỉ tiêu đánh giá
độ an toàn vốn; các chỉ tiêu phản ánh chính sách tín dụng; các chỉ tiêu phảnánh chất lượng tài sản; các chỉ tiêu phản ánh khả năng thanh toán; các chỉ tiêuphản ánh khả năng sinh lời và các chỉ tiêu phản ánh rủi ro tài chính Công tytài chính có hoạt động tương tự như ngân hàng nên nghiên cứu sinh (NCS) kếthừa một số nghiên cứu của đề tài và đi sâu vào hệ thống chỉ tiêu phân tích tàichính của các NHTM nói chung và của chi nhánh NHTM nói riêng
- Luận án tiến sĩ của Nguyễn Thị Minh Hải (2013) về đề tài "Hoàn
thiện hệ thống chỉ tiêu phân tích hiệu quả kinh doanh trong các doanh nghiệp xây dựng công trình giao thông thuộc Bộ Giao thông Vận tải" [8], đề tài đề
cập đến các chỉ tiêu PTTC nhưng trên góc độ là nhóm các chỉ tiêu phân tíchhiệu quả kinh doanh Phạm vi nghiên cứu của đề tài là những công ty xây dựngnhưng lĩnh vực xây dựng chính là xây dựng các công trình giao thông và thuộc
Bộ Giao thông Vận tải Hơn nữa, hệ thống chỉ tiêu mà luận án trọng tâm hoànthiện chỉ là một phần trong toàn bộ hệ thống chỉ tiêu PTTC của doanh nghiệp
- Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Học viện năm 2014 của PGS.TS Nghiêm
Thị Thà và tập thể tác giả về: "Hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu phân tích tài chính
Trang 6cho các ngân hàng thương mại" [39], đề tài đã đề cập đến hệ thống chỉ tiêu
PTTC cho riêng ngành ngân hàng, mà cụ thể là các NHTM cổ phần ở Việt Nam
- Bài báo "Hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu phân tích tài chính nhằm tăng
cường công tác kiểm toán" của TS Trần Quý Liên, đăng trên Tạp chí Nghiên
cứu khoa học kiểm toán (số 43, năm 2011) [14], Bài báo đề cập đến việc hoànthiện hệ thống chỉ tiêu PTTC trong các doanh nghiệp để phục vụ công táckiểm toán mà chưa đề cập đến các chỉ tiêu tài chính của NHTM
- Năm 2006: Cuốn sách "Key Management Ratios: The clearest guide
to the critical numbers that drive your business", của tác giả Ciaran Walsh
viết về các chỉ tiêu quan trọng sử dụng cho quản trị tài chính doanh nghiệp.Trong cuốn sách này, tác giả nhấn mạnh đến các chỉ tiêu đánh giá hiệu quảkinh doanh như: Tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu, tỷ suất lợi nhuận tổng tàisản, tỷ suất lợi nhuận trên vốn đầu tư Tác giả cũng đưa ra tiêu chuẩn để đánhgiá hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp trên các chỉ tiêu trên
- Năm 2007: Tại Thái Lan, các nhà nghiên cứu của Trường Đại họcChulalongkorn (J.Thomas Connelly và Piman Limpaphayom) đã đưa ra môhình nghiên cứu về hệ thống chỉ tiêu phân tích trong các doanh nghiệp tại TháiLan Hệ thống này gồm 9 chỉ tiêu PTTC và phi tài chính: 5 chỉ tiêu phản ánhtình hình tài chính và 4 chỉ tiêu phản ánh tình hình quản trị doanh nghiệp Các chỉ
tiêu này được trình bày cụ thể trong cuốn sách "Determinants of Corporate
Disclosure and Transparency: Evidence from Hong Kong and Thailand".
- Cuốn sách "Performance measurement and management control:
superior organizational performance", do NXB Elsevier Ltd phát hành năm
2004 tập hợp một số bài viết của các tác giả liên quan đến vai trò của hệ thốngchỉ tiêu PTTC, ảnh hưởng của hệ thống chỉ tiêu PTTC và mô hình xây dựng
hệ thống chỉ tiêu PTTC trong doanh nghiệp
- Bài báo "Performance efficiency evaluation of the Taiwan’s
shipping industry: an application of data envelopment analysis", của các tác
Trang 7giả Wen - Cheng Lin, Chin - Feng Liu (Prof.), Ching - Wu Chu (Prof.) đăngtrên tạp chí Proceedings of the Eastern Asia Society for TransportationStudies, số 5 năm 2005 (các trang 467-476) [52] Bài báo giới thiệu về hệthống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả gồm các chỉ tiêu tài chính và chỉ tiêu phi tàichính áp dụng trong ngành công nghiệp vận tải biển của Đài Loan
- Bài báo "Performance Measurement: Questions for Tomorrow", của
các tác giả Umit Bititci, Viktor Dörfler, Sai Nudurupati1 (Đại học Tổng hợpStrathclyde, Glasgow, UK), Patrizia Garengo (Đại học Tổng hợp Padova,Italy) đăng trên tạp chí Nghiên cứu SIOM Research Paper Series số 05 tháng10/2009 của Đại học Glasgow [51], bài báo giới thiệu về xu hướng phát triển
hệ thống chỉ tiêu PTTC trên thế giới trong điều kiện toàn cầu hóa
Thứ hai, các công trình nghiên cứu liên quan đến ngân hàng thương mại
- Luận án tiến sĩ của Lê Thị Thanh Mỹ (năm 2017) về đề tài: "Hoàn
thiện phân tích chất lượng tín dụng tại các ngân hàng thương mại trên địa bàn tỉnh Bình Định" [15] Luận án đã nghiên cứu những vấn đề lý luận về tín
dụng và chất lượng tín dụng trong NHTM, đặc biệt luận án đã làm rõ nộidung phân tích chất lượng tín dụng NHTM theo các vấn đề như các nhân tốảnh hưởng; tổ chức phân tích; công cụ và kỹ thuật phân tích; nội dung phântích Trên cơ sở khảo sát việc phân tích chất lượng tín dụng tại các NHTMtrên địa bàn tỉnh Bình Định tác giả luận án đã đưa ra các giải pháp hoàn thiệnphân tích chất lượng tín dụng tại các NHTM trên địa bàn tỉnh Bình Định Nhưvậy tác giả luận án đã đi sâu vào hệ thống chỉ tiêu phân tích chất lượng tín dụngcủa NHTM, mà chưa nghiên cứu tất cả các khía cạnh về tài chính của NHTM
Luận án tiến sĩ kinh tế của tác giả Lã Thị Lâm (năm 2015) về đề tài:
"Một số các giải pháp nâng cao năng lực tài chính của các ngân hàng thương
mại cổ phần Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế" [13] Luận án
đã đưa ra những vấn đề lý luận về năng lực tài chính của các NHTM và đánh
Trang 8giá thực trạng năng lực tài chính của các NHTM cổ phần Việt Nam trong điềukiện hội nhập quốc tế Qua đó đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao năng lựctài chính của các NHTM cổ phần trong điều kiện hội nhập.
-Luận án tiến sĩ của Trần Trung Dũng (năm 2018) về đề tài: "Quản lý
rủi ro đạo đức trong hoạt động kinh doanh của Ngân hàng thương mại Việt Nam" [6] Luận án đã đi sâu nghiên cứu về NHTM, hoạt động kinh doanh của
NHTM, rủi ro trong hoạt động kinh doanh của NHTM và đặc biệt luận án đãlàm rõ hơn rủi ro đạo đức trong hoạt động kinh doanh của NHTM
Tóm lại, qua nghiên cứu các công trình của các tác giả trong và ngoài
nước, cho thấy các công trình nghiên cứu liên quan đến hệ thống chỉ tiêu PTTCNHTM chủ yếu tập trung trên các khía cạnh sau:
-Các công trình nghiên cứu liên quan đến hệ thống chỉ tiêu PTTC: Chủyếu tiếp cận đến hệ thống chỉ tiêu PTTC của các doanh nghiệp, tuy nhiên có một
số công trình cách tiếp cận và công thức xác định khác nhau, như vậy luận án sẽ
kế thừa cách tiếp cận về khái niệm hệ thống chỉ tiêu PTTC; phân loại hệ thốngchỉ tiêu PTTC Bên cạnh đó có một số luận án, công trình nghiên cứu khoa họcliên quan đến hệ thống chỉ tiêu PTTC của công ty tài chính hoặc của NHTMtrong những giai đoạn lịch sử nhất định, như vậy tác giả luận án sẽ kế thừa một
số chỉ tiêu tài chính đặc thù của công ty tài chính và NHTM, bên cạnh đó luận ánlàm rõ hơn những chỉ tiêu PTTC mà các chi nhánh NHTM cần thiết phải sửdụng làm cơ sở cho nghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp trong điều kiệnNHNN Việt Nam đang thực thi lộ trình quản trị rủi ro theo Hiệp ước Basel II
-Các công trình nghiên cứu liên quan đến NHTM: Có nhiều công trìnhnghiên cứu về chất lượng tín dụng, rủi ro đạo đức, năng lực cạnh tranh củaNHTM Tác giả luận án sẽ kế thừa những nội dung mà những công trình trước
đó đã nghiên cứu như khái niệm NHTM, hoạt động kinh doanh của NHTM, đặcbiệt tác giả luận án sẽ nghiên cứu chuyên sâu về từng lĩnh vực hoạt động kinhdoanh của các NHTM để làm cơ sở cho việc nghiên cứu những vấn đề lý luận về
Trang 9chỉ tiêu PTTC các NHTM trong giai đoạn hiện nay khi mà NHNN Việt Namđang thực thi lộ trình quản trị rủi ro theo Hiệp ước Basel II.
Vì vậy, đề tài "Hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu phân tích tài chính của
các ngân hàng thương mại trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh" được phát triển nhằm
bổ sung phần nghiên cứu về cơ sở lý luận và vận dụng thực tiễn trong quản trịngân hàng thương mại tại các chi nhánh giai đoạn 2015-2017 và khuyến nghịgiải pháp đến năm 2020 theo lộ trình quản trị rủi ro theo Hiệp ước Basel IIcủa NHNN Việt Nam
3 Mục đích nghiên cứu của luận án
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là hệ thống chỉ tiêu PTTC củacác NHTM
4.2 Phạm vi nghiên cứu của luận án
- Về nội dung: Hệ thống chỉ tiêu PTTC phục vụ quản trị trong ngân hàng
- Về không gian: Nghiên cứu tại 28 NHTM trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh
(phụ lục 2.1)
Trang 10- Về thời gian: Số liệu khảo sát tại các NHTM trên địa bàn tỉnh Bắc Ninhgiai đoạn từ năm 2015 đến 2017 Các đề xuất và khuyến nghị tầm nhìn đếnnăm 2025.
5 Phương pháp nghiên cứu của đề tài
5.1 Phương pháp luận được sử dụng trong nghiên cứu
Trên nền tảng phương pháp luận duy vật biện chứng, duy vật lịch sử,luận án sử dụng các phương pháp tư duy khoa học như quy nạp, diễn dịch,phân tích, tổng hợp, đối chiếu, so sánh, hệ thống hóa, khái quát hóa các dữliệu NCS đã thu thập được để làm sáng tỏ những vấn đề lý luận cơ bản về hệthống chỉ tiêu PTTC của các NHTM và thực trạng hệ thống chỉ tiêu PTTC củacác NHTM trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh
5.2 Phương thức nghiên cứu
5.2.1 Quá trình thu thập số liệu
Tác giả tiến hành thu thập các dữ liệu sơ cấp và thứ cấp
Dữ liệu sơ cấp là những dữ liệu mà tác giả tự thu thập được, chưa qua
xử lý Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua Phiếu khảo sát dành cho cácnhà quản lý hoặc chuyên viên phụ trách tài chính tại các NHTM trên địa bàntỉnh Bắc Ninh
Theo NHNN Việt Nam, tính đến cuối năm 2017 tại Bắc Ninh có 36ngân hàng, trong đó có Chi nhánh NHNN, 10 NHTM Nhà nước, 21 NHTM
cổ phần, 1 ngân hàng chính sách xã hội, 1 ngân hàng hợp tác xã, 1 ngân hàng100% vốn nước ngoài, 1 Ngân hàng phát triển Trong đó 31 NHTM là các chinhánh trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh Do trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh có nhiềuNHTM nhưng NCS chỉ lựa chọn 28 NHTM được đặt trên các địa bàn thànhphố Bắc Ninh và huyện Từ Sơn và huyện Tiên Sơn là nơi tập trung cơ quanđầu não của tỉnh, tập trung nhiều doanh nghiệp, nhiều khu công nghiệp, nhiều
làng nghề (Phụ lục 2.1) làm mẫu đại diện để khảo sát.
Cách thức khảo sát là gửi phiếu khảo sát qua Email hoặc gửi trực tiếp.Phiếu khảo sát được chia thành hai phần Phần 1 là thông tin chung về ngân
Trang 11hàng khảo sát và Phần 2 là nội dung khảo sát Phiếu khảo sát được NCS tậphợp và kết quả cả 28 ngân hàng thương mại trên địa bàn đã trả lời phiếu khảo
sát và được thể hiện ở phụ lục 2.3 Bảng tổng hợp kết quả phiếu khảo sát
Dữ liệu thứ cấp: là các dữ liệu đã được xử lý như báo cáo tài chính,
báo cáo thường niên, báo cáo tổng kết, báo cáo quản trị và một số tài liệukhác liên quan đến ngành Ngân hàng các website của các NHTM, Bộ, của cáckết quả nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước Các trang web đượctác giả tìm kiếm đọc các bài báo, luận văn, luận án gồm trang web của cácngân hàng và các trang web chuyên cung cấp các bài báo nghiên cứu liênquan đến luận án Các dữ liệu thứ cấp được sử dụng trong luận án còn bao gồmcác báo cáo (số liệu được lấy từ các phòng ban, các bộ phận: Phòng kinh doanh,phòng kế toán, phòng tổ chức, bộ phận bán hàng ) Các dữ liệu này do cácNHTM cung cấp hoặc khai thác được từ các công trình nghiên cứu trước đó nhưcác bài báo, luận án có liên quan đến luận án; các văn bản của Bộ Tài chính,Tổng cục Thống kê, Từ các cơ sở dữ liệu sẵn có này, tác giả trình bày tổngquan nghiên cứu và tạo ra hệ thống lý thuyết góp phần đi sâu vào phát triểnnghiên cứu những nội dung hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu PTTC tại cácNHTM
5.2.2 Quá trình xử lý dữ liệu
Trên cơ sở số liệu thu thập được, tác giả đã tiến hành tổng hợp, phânloại, lựa chọn và tóm lược để có thể sử dụng được Tác giả đã kiểm tra dữ liệu,nhập dữ liệu vào máy tính và sử dụng các phần mềm như Excel để tính toán, xử
lý và phân tích số liệu nhằm đáp ứng được mục tiêu nghiên cứu Tác giả sử dụngcác phương pháp phân tích nghiệp vụ như so sánh, đối chiếu, tổng hợp, phân tíchđánh giá Các dữ liệu thứ cấp được tác giả sử dụng trực tiếp trong chương 2(minh họa thực trạng) và chương 3 (minh chứng cho giải pháp) của luận án
6 Câu hỏi nghiên cứu của luận án
Trên cơ sở xác định được mục đích nghiên cứu, đối tượng và phạm vinghiên cứu, luận án đưa ra các câu hỏi nghiên cứu hướng vào mục đích
Trang 12nghiên cứu, dựa trên các câu hỏi nghiên cứu với nội dung chủ yếu như sau:
- Nhu cầu sử dụng thông tin của các chủ thể khác nhau liên quan đếncác NHTM từ hệ thống chỉ tiêu PTTC của các NHTM?
- Thực trạng việc vận dụng hệ thống chỉ tiêu PTTC trong các NHTMtrên địa bàn tỉnh Bắc Ninh trong thực tiễn quản lý của nhà quản trị? Hệ thốngchỉ tiêu PTTC đã đáp ứng yêu cầu cung cấp thông tin để các chủ thể quản lý
ra quyết định như thế nào?
- Hệ thống chỉ tiêu PTTC của các NHTM trên địa bàn tỉnh Bắc Ninhcần được hoàn thiện như thế nào để đáp ứng yêu cầu cung cấp thông tin đểcác chủ thể quản lý ra quyết định?
7 Các kết quả nghiên cứu dự kiến của luận án
Kết quả nghiên cứu của luận án sẽ có những đóng góp sau:
- Về lý luận: Hệ thống hóa và làm sáng tỏ quan điểm về hệ thống chỉ
tiêu PTTC của các NHTM Những đánh giá này sẽ giúp các nhà quản trị ngânhàng, nhà nghiên cứu, các cơ quan hoạch định chính sách, giảng viên, sinhviên kinh tế có nguồn tài liệu tham khảo hữu ích cho công việc của mình
- Về phương diện thực tiễn: Luận án đã khái quát về các NHTM trên
địa bàn tỉnh Bắc Ninh và làm rõ kết quả hoạt động, đặc điểm tổ chức quản lý.Trên cơ sở điều tra chọn mẫu, luận án đã thấy được thực trạng hệ thống chỉtiêu PTTC của các NHTM trên địa bàn tình Bắc Ninh phục vụ cho quản trịngân hàng Qua đó, luận án sẽ đánh giá những kết quả đã đạt được và nhữnghạn chế về hệ thống chỉ tiêu PTTC của các NHTM trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh
Trên cơ sở định hướng phát triển ngành Ngân hàng trong thời gian tới,căn cứ vào yêu cầu hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu PTTC của các NHTM trênđịa bàn tỉnh Bắc Ninh, luận án đã đưa ra các giải pháp hoàn thiện hệ thống chỉtiêu PTTC của các NHTM trên địa bàn Bắc Ninh
Luận án đề xuất một số kiến nghị đối với các cơ quan quản lý nhànước, đối với các NHTM trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh để thực hiện các giải
Trang 13pháp hoàn thiện trên.
8 Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,nội dung của luận án gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về hệ thống chỉ tiêu phân tích tài chính ngân
hàng thương mại
Chương 2: Thực trạng hệ thống chỉ tiêu phân tích tài chính của các
ngân hàng thương mại trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu phân tích tài chính
của các ngân hàng thương mại trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh
Trang 14Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HỆ THỐNG CHỈ TIÊU PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1 Lý luận cơ bản về ngân hàng thương mại
1.1.1 Khái niệm ngân hàng thương mại
Ngân hàng là một loại hình tổ chức có vai trò quan trọng đối với nềnkinh tế nói chung và đối với từng cộng đồng địa phương, chủ thể tham gia nóiriêng Với vai trò quan trọng như vậy, nhưng quan niệm như thế nào về mộtngân hàng, và sự phân biệt nó với các tổ chức phi ngân hàng không phải làđiều đơn giản Rõ ràng, có thể định nghĩa ngân hàng thông qua chức năng màchúng thực hiện trong nền kinh tế Tuy nhiên, vấn đề ở chỗ không chỉ chứcnăng của các ngân hàng thay đổi, mà có sự "thâm nhập" vào chức năng hoạtđộng ngân hàng của các đối thủ cạnh tranh Do đó, tuỳ theo điều kiện của mỗinước và sự phát triển của hệ thống tài chính nước đó mà có những định nghĩakhác nhau về ngân hàng
Theo Luật Ngân hàng của Pháp thì NHTM được định nghĩa: "Ngân
hàng thương mại là những xí nghiệp hay cơ sở nào đó thường xuyên nhận của công chúng dưới hình thức ký thác, hay hình thức khác số tiền mà họ dùng cho chính họ vào nghiệp vụ chiết khấu, tín dụng hay dịch vụ tài chính"
[44]
Ở Việt Nam, theo quy định tại Luật các tổ chức tín dụng (TCTD) thì
ngân hàng được định nghĩa như sau: "Ngân hàng thương mại là tổ chức kinh
doanh tiền tệ mà hoạt động chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền gửi của khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện nghiệp vụ chiết khấu và làm phương tiện thanh toán " [37].
Đó là các quan niệm về NHTM đứng trên giác độ luật pháp Còn đứngtrên giác độ tài chính ngân hàng thì sao? Một định nghĩa khác về ngân hàng
Trang 15được Giáo sư Peter Rose đưa ra như sau: "Ngân hàng là loại hình tổ chức
tàt chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất - đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm và dịch vụ thanh toán - và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế"
[50]
Theo tác giả Trần Trung Dũng thì: "Ngân hàng thương mại là một
doanh nghiệp kinh doanh tiền tệ mà hoạt động chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền gửi của khách hàng; sử dụng số tiền đó để cho vay, chiết khấu và thực hiện các dịch vụ cho khách hàng trong nền kinh tế quốc dân" [6].
Như vậy, dù theo định nghĩa nào thì NHTM là một doanh nghiệp đặc
biệt Như vậy, có thể hiểu NHTM là một loại hình doanh nghiệp đặc biệt, có
đối tượng kinh doanh là tiền tệ, sản phẩm của NHTM có tính đặc thù cao, cả đầu ra và đầu vào đều là tài sản tài chính.
Ngân hàng thương mại có những đặc trưng sau:
- Ngân hàng thương mại là một tổ chức được phép nhận ký thác củacông chúng với trách nhiệm hoàn trả
- Ngân hàng thương mại là một tổ chức được phép sử dụng ký tháccủa công chúng để cho vay, chiết khấu và thực hiện các dịch vụ tài chính khác
1.1.2 Hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại
Hoạt động của NHTM bao gồm: Hoạt động kinh doanh và hoạt độngkhác Trong đó, hoạt động kinh doanh của NHTM được hiểu là các hoạt độngchủ yếu đem lại lãi và phí cho NHTM (tạo ra doanh thu cho NHTM); hoạtđộng khác là các hoạt động xảy ra không thường xuyên, không dự tính trước
và ngoài các hoạt động kinh doanh
Hoạt động kinh doanh của NHTM bao gồm các hoạt động chủ yếusau đây
1.1.2.1 Hoạt động huy động vốn
Huy động vốn là một trong những nghiệp vụ quan trọng của NHTM
Trang 16nhằm giải quyết đầu vào tức là giải quyết vấn đề chi phí hoạt động của ngânhàng Công tác huy động vốn bao gồm: huy động vốn tiền gửi và huy độngvốn phi tiền gửi Ngân hàng có thể huy động vốn từ nhiều nguồn khác nhaunhư huy động dân cư, huy động của tổ chức kinh tế thông qua các công cụ nợ(trái phiếu, kỳ phiếu, thương phiếu, tín phiếu), thông qua hoạt động liên ngânhàng, giữa NHTM với NHNN, giữa NHTM với các định chế tài chính… Mụcđích gửi tiền có thể là khác nhau nhưng tựu trung lại là để an toàn tránh tráchnhiệm phải bảo quản tài sản, hưởng lãi cho các khoản tiền gửi và sử dụng cácdịch vụ thanh toán của ngân hàng.
1.1.2.2 Hoạt động tín dụng
Hoạt động tín dụng là hoạt động kinh doanh mang lại lợi nhuận choNHTM Nhờ thế mạnh huy động được một lượng vốn nhàn rỗi khổng lồ từ các
cá nhân, các tổ chức kinh tế qua việc nhận tiền gửi hay đi vay, các ngân hàng
sử dụng số tiền ấy để cho vay các cá nhân, các tổ chức kinh tế cần vốn để đầu
tư các nhu cầu như: mở rộng sản xuất kinh doanh, mua sắm tài sản cố định(TSCĐ), đầu tư nhu cầu vốn lưu động, nhu cầu tiêu dùng… và đa dạng cácnhu cầu khác Nghiệp vụ này luôn chiếm từ 60% đến 80% tổng tài sản có củaNHTM và được coi là một hoạt động quan trọng bậc nhất đối với sự tồn tại vàphát triển của mỗi ngân hàng, cũng như đem lại hiệu quả to lớn cho xã hội
1.1.2.3 Hoạt động thanh toán
Nghiệp vụ này xuất phát từ chính chức năng đầu tiên của ngân hàng lànhận tiền gửi Các cá nhân, tổ chức kinh tế trên cơ sở mở các tài khoản tiềngửi thanh toán hay các tài khoản tiền gửi phục vụ giao dịch khi có nhu cầuthanh toán có thể ủy quyền cho ngân hàng thực hiện thay mình: thu hộ, chihộ… Theo các quan điểm luật pháp ở hầu hết các nước, thì chỉ có các ngânhàng mới được phép mở tài khoản thanh toán hay các tài khoản giao dịch chokhách hàng mà không một định chế nào được phép làm điều này
1.1.2.4 Hoạt động đầu tư
Trang 17Ngoài nghiệp vụ tín dụng là chủ yếu, ngân hàng còn thực hiện đầu tưvào các loại cổ phiếu, trái phiếu… nhằm mục tiêu thanh khoản, phân tán rủi ro
và đa dạng hóa tài sản có sinh lời Ngân hàng thường giữ nhiều loại chứng khoánnhưng chủ yếu chia thành hai loại cơ bản là chứng khoán thanh khoản và chứngkhoán đầu tư Hiện nay, thị trường chứng khoán Việt Nam đang phát triển rấtmạnh, các doanh nghiệp trong nền kinh tế tham gia vào thị trường chứngkhoán dưới nhiều hình thức khác nhau tạo nên một thị trường khá sôi động
1.1.2.5 Hoạt động cung cấp dịch vụ khác
Mặc dù mục tiêu đầu tiên và quan trọng nhất của ngân hàng là lợinhuận nhưng NHTM vẫn cần có sự an toàn, tránh được các rủi ro trong hoạtđộng kinh doanh của mình Do vậy, ngoài các nghiệp vụ chính là tín dụng,ngân quỹ, đầu tư tài chính, các NHTM hiện đại ngày nay ngày càng quan tâmđến việc phát triển các dịch vụ mới, đáp ứng tối đa nhu cầu của khách hàngqua đó ngân hàng tìm kiếm lợi nhuận với mức rủi ro thấp nhất Các dịch vụkhác mà ngân hàng cung cấp vô cùng phong phú, gồm có:
- Dịch vụ thanh toán: Đây là nghiệp vụ mang tính dịch vụ đơn thuần
mà không cần sử dụng đến nguồn vốn của ngân hàng, thêm vào đó nó còn tạo
ra một nguồn vốn tương đối lớn cho ngân hàng thông qua quá trình thanh toán
Ngân hàng thương mại có thể thực hiện dịch vụ thanh toán trong nướcthông qua các phương tiện thanh toán như: séc, uỷ nhiệm thu, uỷ nhiệm chi,thẻ …hoặc thanh toán quốc tế dưới các hình thức như: chuyển tiền, nhờ thu,L/C…Thông qua các dịch vụ thanh toán, NHTM không những thu được cáckhoản phí mà còn tăng sức cạnh tranh của mình đối với các đối thủ
- Dịch vụ bảo hiểm: Bao gồm trong đây có các loại hình như: Bảohiểm kinh doanh, bảo hiểm nhà ở và đồ dùng… Khi xác định cung cấp loạihình dịch vụ này, NHTM cũng xác định sẽ phải cạnh tranh gay gắt với các đốithủ chuyên doanh về bảo hiểm Tuy nhiên, các NHTM vẫn cung cấp dịch vụnày vì mục đích đa dạng hoá danh mục sản phẩm cũng như tăng thêm thunhập cho bản thân mình
Trang 18- Dịch vụ bảo lãnh: Cũng như bảo hiểm, bảo lãnh là một nghiệp vụngoại bảng của NHTM Bảo lãnh ngân hàng là cam kết bằng văn bản củangân hàng (bên bảo lãnh) với bên có quyền (bên nhận bảo lãnh) về việc thựchiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng (bên được bảo lãnh) khi kháchhàng không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ đã cam kết với bênnhận bảo lãnh Khách hàng phải nhận nợ và hoàn trả cho ngân hàng số tiền đãđược trẩ nợ thay Qua dịch vụ này, ngân hàng có thể khẳng định uy tín củamình với các khách hàng và đồng thời ngân hàng cũng thu được phí bảo lãnh,góp một phần vào thu nhập cho ngân hàng
- Nghiệp vụ kinh doanh ngoại hối và kinh doanh vàng trên thị trườngtrong nước và thị trường quốc tế khi NHNN cho phép
Ngân hàng thương mại có thể kinh doanh giao ngay (spots), giao dịchngoại hối kỳ hạn (forwards), hoặc giao dịch hoán đổi (swaps), giao dịchquyền chọn (options)
Trong xu thế mở cửa giao lưu với quốc tế, để trở thành các NHTMphát triển đa năng thì nghiệp vụ kinh doanh ngoại hối ngày càng trở nên quantrọng đối với các NHTM Bởi nó không chỉ đem lại lợi nhuận trực tiếp do tỷgiá thay đổi theo chiều hướng có lợi cho NHTM mà còn hỗ trợ để mở rộngcác nghiệp vụ khác
- Dịch vụ uỷ thác: Nghiệp vụ này đã được các NHTM trên thế giới quantâm từ rất sớm, bao gồm: uỷ thác cho cá nhân và uỷ thác cho doanh nghiệp
Ủy thác cho cá nhân gồm: quản lý thanh lý tài sản theo di chúc, giám
hộ và bảo quản tài sản, quản lý điều hành tài sản theo hợp đồng với nội dung
là chuyển nhượng tài sản từ người uỷ thác sang cho người chịu thác để ngưòinày nắm giữ và điều hành tài sản vì lợi ích của người uỷ thác
Ủy thác cho doanh nghiệp gồm: quản lý quỹ hưu trí, uỷ thác làm đại
lý cho các tổ chức…
Trang 19Nhìn chung nghiệp vụ uỷ thác mang lại cho ngân hàng những khoảnthu nhập đáng kể và quan hệ tốt đẹp với những khách hàng có doanh số hoạtđộng lớn.
- Dịch vụ tư vấn: Là loại dịch vụ được thực hiện trên cơ sở hợp đồng
ký kết và cung cấp cho bên được tư vấn những trợ giúp của những nhân viênđược đào tạo về chuyên môn một cách khách quan độc lập
Hơn bất cứ một doanh nghiệp nào, NHTM là một doanh nghiệp màhoạt động kinh doanh luôn chứa đựng rủi ro tiềm ẩn cao bởi đối tượng kinhdoanh của NHTM là tiền tệ và nguồn vốn chủ yếu của ngân hàng là do đi vaydưới nhiều hình thức Chính vì vậy trong hoạt động của mình, ngân hàng làmột doanh nghiệp có quan hệ với rất nhiều khách hàng, lưu giữ nhiều thôngtin của các tổ chức kinh tế, hơn nữa ngân hàng còn có các nhân viên đầy kinhnghiệm trong lĩnh vực tài chính tiền tệ Điều này giúp cho các chuyên gia củangân hàng có thể đưa ra các lời khuyên tối ưu cho các khách hàng, giúp cho
họ giải quyết các vấn dề trong kinh doanh của mình một cách có hiệu quả nhất
Dịch vụ tư vấn không chỉ giúp cho ngân hàng thu được các khoản phí
mà còn nâng cao hình ảnh của ngân hnàg trong mắt khách hàng
Ngoài các dịch vụ trên, NHTM còn cung cấp các sản phẩm dịch vụkhác như: quản lý ngân quỹ, cho thuê két…
Tóm lại, các NHTM hiện nay, ngoài việc thực hiện các nghiệp vụtruyền thống còn thực hiện đa dạng hoá các nghiệp vụ khác bằng cách đầu tưvào các thiết bị kỹ thuật, ứng dụng công nghệ thông tin vào việc cung ứngcác sản phẩm dịch vụ cho khách hàng sao cho có thể trở thành ngân hàng đanăng hiện đại, đáp ứng tối đa nhu cầu của khách hàng để từ đó thu về cáckhoản lợi nhuận
1.1.3 Quản trị tài chính các ngân hàng thương mại
Quản trị tài chính doanh nghiệp là việc lựa chọn, đưa ra các quyếtđịnh và tổ chức thực hiện các quyết định tài chính nhằm đạt được các mục
Trang 20tiêu hoạt động của doanh nghiệp NHTM là một loại hình doanh nghiệp đặcbiệt - hoạt động và kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ và tín dụng Vì vậy, quảntrị tài chính của NHTM là việc lựa chọn, đưa ra các quyết định và tổ chứcthực hiện các quyết định tài chính nhằm đạt được các mục tiêu hoạt động củangân hàng thương mại Mục tiêu hoạt động của NHTM đó là cung cấp dịch
vụ tài chính cho khách hàng cá nhân và doanh nghiệp; thu phí và tính lãi từcác sản phẩm và dịch vụ đã cung cấp cho khách hàng với mục đích tạo ra lợinhuận cho ngân hàng
Xuất phát từ đặc thù của lĩnh vực kinh doanh của NHTM thì trongmọi trường hợp các nhà quản trị NHTM đều phải đồng thời quan tâm đến tất
cả các mục tiêu vĩ mô và vi mô
Trên phương diện vĩ mô, mỗi ngân hàng là một yếu tố cấu thành của
hệ thống Tài chính - Ngân hàng của nền kinh tế, cho nên những nhà quản trịcủa các ngân hàng luôn phải quan tâm đến các mục tiêu chung của cả hệthống mà những mục tiêu này được đảm trách trước hết bởi các cơ quan điềuhành hệ thống Tài chính - Ngân hàng Đó là mục tiêu tăng trưởng về kinh tế,
ổn định tiền tệ, ổn định giá cả và tạo công ăn việc làm cho người lao động
Trên phương diện vi mô, các nhà quản trị NHTM luôn phải quan tâmđến các mục tiêu cơ bản như: Tối đa hóa lợi nhuận ngân hàng; giảm thiểu rủi
ro trong quá trình hoạt động kinh doanh của ngân hàng; Đảm bảo được khảnăng thanh toán của Ngân hàng trong cả ngắn hạn và dài hạn
Những mục tiêu này trực tiếp chi phối đến hầu hết mọi quá trình ra quyếtđịnh của các nhà quản trị của NHTM Như vậy, có thể nói mục tiêu cơ bảntổng quát của nhà quản trị NHTM là duy trì và tăng tài sản ròng của ngân hàng
Chính vì vậy, quản trị tài chính NHTM bao gồm các nội dung như:Quản trị nguồn vốn huy động; quản trị tình hình đầu tư, sử dụng vốn (tài sản);quản trị thanh khoản, quản trị dòng tiền, quản trị rủi ro của NHTM
Trang 21Thứ nhất, về quản trị nguồn vốn huy động Bao gồm quản trị nợ phải
trả và quản trị vốn chủ sở hữu
- Quản trị nợ phải trả là một bộ phận trong quản trị hoạt động kinhdoanh của NHTM nói chung và của quản trị tài chính nói riêng, nó tạo ra nềntảng huy động vốn vững chắc đảm bảo cho hoạt động kinh doanh của NHTM.Mục tiêu cụ thể của quản trị nguồn vốn huy động là đảm bảo đủ số vốn đểđáp ứng yêu cầu sử dụng vốn với chi phí và rủi ro thấp nhất Nhu cầu sử dụngvốn bao gồm các nhu cầu đảm bảo khả năng thanh toán, cho vay và đầu tư.Như vậy nhà quản trị cần phải xây dựng các chính sách, biện pháp huy độngvốn như lãi suất và chi phí huy động vốn; kiểm soát rủi ro trong huy độngvốn; kiểm soát khả năng thanh khoản và rủi ro thanh toán; xác định rủi ro lãisuất và rủi ro tỷ giá
- Quản trị vốn chủ sở hữu thực chất là xác định quy mô, cấu trúc vốnchủ sở hữu sao cho phù hợp với yêu cầu kinh doanh của NHTM, đồng thời tìm
ra các giải pháp tăng vốn chủ sở hữu một cách có hiệu quả Nội dung quản trịvốn chủ sở hữu bao gồm: Xây dựng quy mô vốn chủ sở hữu cho phù hợp vớiyêu cầu an toàn kinh doanh của NHTM (như vậy cần xem xét tình hình đảmbảo an toàn vốn của NHTM) đồng thời phải quản lý có hiệu quả vốn chủ sởhữu bằng cách nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của các NHTM
Thứ hai, về quản trị tình hình sử đầu tư, sử dụng vốn (tài sản) Các
NHTM kinh doanh nhằm thu được lợi nhuận bằng cách bán những tài sản nợ
và dùng tiền thu được để mua được tài sản có Tài sản của NHTM bao gồm:Tiền mặt, vàng bạc, đá quý; tiền gửi tại NHNN; tiền gửi và cho vay ở cácNHTM và TCTD khác; Chứng khoán đầu tư; Các khoản cho vay; Góp vốn đầu
tư dài han, Các tài sản khác Chiến lược cơ bản của quản trị tài sản các NHTM
đó là tìm kiếm lãi suất sinh lời cao nhất có thể trên các khoản cho vay và chứngkhoán, tạo tính thanh khoản bằng cách giữ các tài sản thanh khoản cao; giảm
Trang 22rủi ro Đồng thời để quản trị tốt tài sản thì các NHTM phải quản trị từng loạitài sản, quản trị tín dụng và đầu tư, nâng cao hiệu suất, hiệu quả sử dụng tài sản.
Thứ ba, quản trị thanh khoản Một trong những nhiệm vụ hàng đầu
của NHTM là đảm bảo khả năng thanh toán đầy đủ Một NHTM được xem là
có khả năng thanh khoản nếu nó tiếp cận dễ dàng các nguồn vốn khả dụng vớichi phí hợp lý Để quản trị thanh khoản có hiệu quả tốt, các nhà quản trị cầnthường xuyên bám sát hoạt động chịu trách nhiệm huy động vốn và sử dụngvốn trong phạm vi ngân hàng và điều phối hoạt động của các bộ phận trongNHTM, đồng thời các nhà quản trị cần nâng cao hiệu quả hoạt động củaNHTM, từ đó có khả năng thanh toán những khoản nợ
Thứ tư, quản trị dòng tiền Quản trị dòng tiền là hoạt động hoạch định và
tổ chức điều khiển để cân đối dòng tiền ra, vào theo yêu cầu của hoạt động củaNgân hàng nhằm tối đa hóa giá trị của ngân hàng Xét theo thời hạn phát sinhdòng tiền có thể chia dòng tiền của NHTM thành hai loại là dòng tiền dài hạn vàdòng tiền ngắn hạn Chính vì vậy, công việc quản trị dòng tiền cũng được chiathành quản trị dòng tiền ngắn hạn và quản trị dòng tiền dài hạn Việc quản trịdòng tiền của các NHTM được thể hiện rõ nét trong lập kế hoạch dòng tiền(dòng tiền vào và dòng tiền ra) và xác định dòng tiền thuần của ngân hàng
Thứ năm, quản trị rủi ro Rủi ro ngân hàng có thể xuất hiện tại tất cả
các nghiệp vụ của ngân hàng như: thanh toán, tín dụng, tiền gửi, ngoại tệ, đầutư Vì vậy, vấn đề quản trị rủi ro ngân hàng luôn được các ngân hàng đặcbiệt chú trọng nghiên cứu, phân tích Để quản trị rủi ro ngân hàng cần phảiquan tâm đến các vấn đề như:
- Nhận diện các loại rủi ro ngân hàng Hiệu quả của việc quản trị rủi
ro phụ thuộc rất nhiều vào việc phân loại rủi ro Phân loại rủi ro được hiểu làviệc phân rủi ro thành từng nhóm riêng biệt theo dấu hiệu của chúng Cơ sởkhoa học về việc phân loại rủi ro đã tạo điều kiện cho các nhà quản trị ngânhàng có thể xác định rõ ràng vị trí của từng loại rủi ro trong hệ thống rủi ro
Trang 23Việc phân loại rủi ro hợp lý sẽ giúp nâng cao khả năng và hiệu quả áp dụngnhững phương pháp phù hợp trong việc quản trị rủi ro Thông thường rủi rođược phân theo những loại sau: rủi ro tín dụng, rủi ro thị trường, rủi ro lãisuất, rủi ro thanh khoản, rủi ro hoạt động, rủi ro luật pháp… Nhưng bởi vì cónhiều loại rủi ro khác nhau, không có cùng mức độ ảnh hưởng đến sự vững chắccủa ngân hàng và hình thành từ nhiều yếu tố khác nhau, có mức độ khác nhaunên không thể cùng áp dụng một loại phương pháp đánh giá và quản trị chung
- Phân tích rủi ro Tức là phải xác định chính xác nguồn gốc của rủi
ro, khả năng thiệt hại cũng như lợi nhuận từ những nghiệp vụ ngân hàng cótiềm ẩn rủi ro Việc phân tích sẽ giúp ngân hàng lựa chọn kịp thời những giảipháp tối ưu trong nhiều giải pháp khác nhau
- Đánh giá rủi ro Đánh giá rủi ro tạo điều kiện cho các nhà quản trịngân hàng xác định đại lượng của rủi ro ngân hàng Hiện nay trên thực tế có
ba phương pháp đánh giá rủi ro như: Phương pháp thống kê, Phương phápkinh nghiệm, Phương pháp tính toán - phân tích
- Cảnh báo và giảm thiểu rủi ro Để cảnh báo và giảm thiểu rủi ro cầnxây dựng những phương pháp phòng chống rủi ro từ xa đối với từng loạinghiệp vụ cụ thể; xây dựng cơ chế giới hạn rủi ro thông qua các qui định giớihạn mức độ rủi ro cho phép cũng như đối với các nghiệp vụ ngân hàng; Đadạng hoá các hình thức kinh doanh; Phân bố rủi ro cho các đối tác thông quacác nghiệp vụ ngân hàng; Tự bảo hiểm bằng việc trích lập dự phòng rủi ro
- Giám sát và kiểm tra Để phối hợp giữa việc thực hiện những mụctiêu của ngân hàng và việc kiểm tra mức độ rủi ro của ngân hàng cần phải xâydựng một hội đồng kiểm tra và quy chế về chính sách kiểm tra rủi ro Việcthực hiện giám sát các chương trình kiểm tra rủi ro cho thấy: để nâng cao tínhhiệu quả của các chương trình kiểm tra rủi ro đòi hỏi việc xây dựng nhữngtiêu chuẩn đối với các chương trình này, trong đó bao gồm việc lựa chọn vàphân tích thông tin
Trang 241.2 Lý luận về hệ thống chỉ tiêu phân tích tài chính của ngân hàng thương mại
1.2.1 Khái niệm về hệ thống chỉ tiêu phân tích tài chính của các ngân hàng thương mại
Trong phân tích tài chính thì chỉ tiêu chính là đối tượng mà phân tíchhướng vào, thông qua việc vận dụng các phương pháp và kỹ thuật để tínhtoán, phân tích các chỉ tiêu, từ đó làm căn cứ cho việc ra các quyết định khácnhau Có một số quan điểm khác nhau về chỉ tiêu tài chính như:
Quan điểm của TS Trần Quý Liên - Trường Đại học Kinh tế quốc dân
thì "Chỉ tiêu tài chính là một phạm trù kinh tế có nội dung tương đối ổn định,
thể hiện kết quả, hiệu quả kinh doanh, cấu trúc tài chính của một doanh nghiệp tại một thời điểm hay trong một thời kỳ" [14].
Quan điểm của TS Hồ Thị Thu Hương - Học viện Tài chính: "Chỉ
tiêu tài chính có nội dung tương đối ổn định, phản ánh quá trình và kết quả của quá trình hoạt động kinh doanh theo thời gian và không gian xác định và
có đơn vị đo lường" [11].
Tuy nhiên, theo quan điểm của tác giả thì mỗi một chỉ tiêu tài chínhcủa đơn vị đều mang một nội dung kinh tế và phản ánh một khía cạnh nhấtđịnh về tình hình tài chính của đơn vị Một chỉ tiêu tài chính có nội dungtương đối ổn định, phản ánh quá trình, kết quả, và hiệu quả hoạt động kinhdoanh của đơn vị theo thời gian, không gian xác định và có đơn vị đo lườngnhất định
Tập hợp các chỉ tiêu tài chính hình thành hệ thống chỉ tiêu tài chính
Hệ thống này có thể được sắp xếp theo một trình tự nhất định, phản ánh tìnhhình và các quan hệ tài chính trong đơn vị Hệ thống chỉ tiêu tài chính là công
cụ đắc lực giúp các chủ thể quản lý ra các quyết định
Hệ thống chỉ tiêu phân tích là nội dung cơ bản của hoạt động PTTC,
nó quyết định tới chất lượng của thông tin khi phân tích và ảnh hưởng tới kết
Trang 25quả hoạt động của doanh nghiệp Hệ thống chỉ tiêu PTTC không những thểhiện tình trạng tài chính, sức mạnh tài chính, an ninh tài chính, mà còn thểhiện hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp Do vậy, PTTC của đơn vị thôngqua phân tích hệ thống chỉ tiêu tài chính là cách tiếp cận khoa học, chính xác.Các nhà khoa học có nhiều quan điểm khác nhau về bản chất hệ thống chỉ tiêuPTTC, cụ thể:
Theo PGS,TS Nguyễn Ngọc Quang - Trường Đại học Kinh tế quốcdân, trong luận án tiến sĩ của mình có đưa ra quan điểm về bản chất hệ thống
chỉ tiêu PTTC: "Hệ thống chỉ tiêu phân tích tài chính là tổng thể các chỉ tiêu
tài chính sắp xếp theo một trình tự nhất định nhằm đánh giá họat động tài chính của doanh nghiệp theo yêu cầu của cấp quản lý" [36].
Cũng theo một nhà khoa học khác thuộc Trường Đại học Kinh tế
Quốc dân là TS Trần Quý Liên thì "Hệ thống chỉ tiêu tài chính là một bảng
tổng hợp các chỉ tiêu tài chính nhằm phản ánh tình hình tài chính của doanh nghiệp phục vụ cho các đối tượng có nhu cầu" [14].
Hai nhà khoa học trên đều thống nhất ở quan điểm hệ thống chỉ tiêu làbảng tổng hợp các chỉ tiêu và bảng tổng hợp này được sắp xếp, phản ánh tìnhhình tài chính doanh nghiệp nhằm phục vụ các mục đích khác nhau của cácchủ thể sử dụng thông tin
Tuy nhiên, Theo PGS,TS Nghiêm Thị Thà thì "Hệ thống chỉ tiêu phân
tích tài chính là toàn bộ các chỉ tiêu tài chính có thể tính toán được ở một doanh nghiệp trong kỳ phân tích mà thông qua hệ thống chỉ tiêu đó có thể tiến hành phân tích, đánh giá cũng như dự đoán tình hình tài chính của doanh nghiệp một cách toàn diện đầy đủ, chính xác làm cơ sở cho việc đưa
ra quyết định của các chủ thể quản lý khác nhau" [39].
Theo quan điểm này thì hệ thống chỉ tiêu PTTC bao gồm các chỉ tiêutài chính có thể tính toán được trong từng kỳ phân tích, và phục vụ mục đíchđưa ra các quyết định của chủ thể sử dụng
Trang 26TS Hồ Thị Thu Hương trong luận án tiến sĩ của mình lại cho rằng: "Hệ
thống chỉ tiêu phân tích tài chính là toàn bộ các chỉ tiêu tài chính có thể tính toán được trong kỳ phân tích mà thông qua hệ thống chỉ tiêu đó có thể tiến hành phân tích đánh giá cũng như dự đoán tình hình tài chính một cách đầy
đủ chính xác, làm cơ sở cho việc đưa ra quyết định của các chủ thể quản lý khác nhau" [11].
Sau khi nghiên cứu quan điểm khác nhau của các nhà khoa học, tác
giả luận án cho rằng: Hệ thống chỉ tiêu phân tích tài chính là tổng thể các chỉ
tiêu tài chính mà thông qua hệ thống chỉ tiêu đó có thể tiến hành phân tích, đánh giá cũng như dự đoán tình hình tài chính của đơn vị một cách toàn diện đầy đủ, chính xác làm cơ sở cho việc đưa ra quyết định của các chủ thể sử dụng.
Do ngân hàng thương mại là môt doanh nghiệp đặc biệt kinh doanh
tiền tệ cho nên, theo quan điểm của NCS thì: Hệ thống chỉ tiêu phân tích tài
chính của NHTM là một bộ phận cấu thành của hệ thống chỉ tiêu kinh tế của NHTM, phản ánh toàn bộ tình hình tài chính của ngân hàng nhằm giúp cho các chủ thể quản lý đưa ra các quyết định phù hợp.
1.2.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến hệ thống chỉ tiêu phân tích tài chính của ngân hàng thương mại
Hệ thống chỉ tiêu PTTC của NHTM có ý nghĩa quan trọng với nhiềuđối tượng sử dụng thông tin khác nhau, ảnh hưởng đến các quyết định đầu tư,quyết định quản trị, quyết định cấp tín dụng Tuy nhiên, hệ thống chỉ tiêuPTTC của NHTM chỉ thực sự phát huy tác dụng khi nó phản ánh được một cáchtoàn diện, đầy đủ và chi tiết tình hình tài chính của NHTM Muốn vậy, hệ thốngchỉ tiêu PTTC của NHTM cần phải toàn diện, đầy đủ, có độ tin cậy cao, cán bộphân tích phải có trình độ chuyên môn giỏi Ngoài ra, sự tồn tại của hệ thốngchỉ tiêu trung bình ngành cũng là một trong những nhân tố ảnh hưởng đếnchất lượng cũng như độ tin cậy của hệ thống chỉ tiêu PTTC của các NHTM
Trang 27Có nhiều nhân tố ảnh hưởng đến hệ thống chỉ tiêu PTTC của NHTMnhư các nhân tố mô hình tổ chức bộ máy quản lý của các NHTM; đặc điểmhoạt động kinh doanh của NHTM; về nguồn tài liệu phục vụ phân tích, quanđiểm chỉ đạo của nhà quản lý NHTM; Các nhân tố này không tác động độclập mà có tác động qua lại, tương tác lẫn nhau, do đó cần xem xét đồng thời
cả hai nhóm nhân tố này khi tiến hành xây dựng hệ thống chỉ tiêu PTTC choNHTM cổ phần niêm yết
1.2.2.1 Mô hình tổ chức quản lý của các ngân hàng thương mại
Cho đến nay ở Việt Nam, các NHTM bao gồm NHTM nhà nước;NHTM cổ phần; NHTM liên doanh; NHTM nước ngoài NHTM nhà nước làngân hàng thuộc sở hữu của nhà nước, được thành lập bởi 100% vốn của ngânsách nhà nước; NHTM cổ phần là ngân hàng được thành lập dưới hình thức làcông ty cổ phần; NHTM liên doanh là ngân hàng được thành lập dưới hìnhthức góp vốn liên doanh giữa các đối tác sở hữu vốn khác nhau và NHTMnước ngoài là NHTM được thành lập theo pháp luật và thuộc sở hữu ở nướcngoài được chính phủ nước sở tại cấp giấy phép hoạt động và tuân thủ theopháp luật của nước đó Do cơ cấu tổ chức quản lý của các NHTM khác nhaunên sẽ ảnh hưởng đến hệ thống chỉ tiêu PTTC của NHTM và bên cạnh đó sẽ
có những chỉ tiêu đặc thù của NHTM nhà nước, của NHTM cổ phần; củaNHTM liên doanh và của NHTM nước ngoài
1.2.2.2 Đặc thù về kinh doanh của ngân hàng thương mại và phân cấp quản lý giữa chi nhánh cấp 1 với hội sở của các ngân hàng thương mại
Hoạt động kinh doanh đặc thù của NHTM bao gồm hoạt động huy độngvốn; hoạt động tín dụng; hoạt động đầu tư, hoạt động thanh toán, hoạt động dịch
vụ khác Như vậy các NHTM cần phải PTTC để nhìn thấy bức tranh toàn cảnh
về tình hình tài chính của ngân hàng mình, từ đó có biện pháp quản lý Tuynhiên, để có những cách nhìn xác đáng về tình hình tài chính của NHTM thì cầnphải để ý các chỉ tiêu đặc thù như các chỉ tiêu phản ánh tình hình huy động vốn
Trang 28theo nhiều tiêu chí nhằm cân đối được khả năng thanh toán; các chỉ tiêu phảnánh hoạt động tín dụng, khả năng thanh toán, phản ánh hiệu suất và hiệu quảhoạt động của NHTM và đặc biệt hoạt động kinh doanh của NHTM chứa đựngnhiều rủi ro như rủi ro liên quan đến toàn bộ nền kinh tế như chính phủ, doanhnghiệp, hộ gia đình, hoạt động đầu tư của các đối tượng khách hàng , thể chếchính trị Chính vì vậy, các ngân hàng cần quan tâm đến các chỉ tiêu liên quanđến rủi ro tín dụng; rủi ro thanh khoản, rủi ro lãi suất, rủi ro hối đoái Mặt khác,NHTM là doanh nghiệp đặc biệt kinh doanh tiền cho nên để đảm bảo ổn địnhtrong kinh doanh thì các NHTM cần phải có một lượng tiền mặt rất lớn để phục
vụ các nghiệp vụ liên quan đến tiền mặt được liên tục Như vậy cần thiết phảiquan tâm đến hệ thống các chỉ tiêu đánh giá khả năng huy động, khả năng thanhtoán bằng tiền mặt và các chỉ tiêu phản ánh tình hình lưu chuyển tiền của NHTM.Bên cạnh đó do phân cấp quản lý giữa hội sở và các chi nhánh tại các tỉnh, thànhphố nên hệ thống chỉ tiêu phân tích tại các địa bàn tỉnh, thành phố không đầy đủnhư hệ thống chỉ tiêu phân tích trên hội sở của các NHTM do ở chi nhánh một
số tài liệu tài chính không phải lập Chính vì vậy, phân cấp quản lý đối với từngkhu vực, địa bàn sẽ ảnh hưởng đến hệ thống chỉ tiêu PTTC của các NHTM
1.2.2.3 Đặc trưng của ngành tài chính ngân hàng
Ngân hàng thương mại là một loại hình doanh nghiệp cung cấp cácdịch vụ: dịch vụ tiền gửi, đầu tư, tư vấn và các dịch vụ tài chính khác Các đặctrưng cụ thể là:
Một là, hoạt động mang tính chất ngành dịch vụ: sản phẩm mà NHTM
cung cấp là sản phẩm vô hình NHTM cung cấp dịch vụ về tài chính, ngânhàng như: dịch vụ gửi tiền tiết kiệm, dịch vụ uỷ thác đầu tư, dịch vụ cho vay.Như vậy những sản phẩm này không mang hình thái vật chất cụ thể
Hai là, những đặc điểm về tài sản của NHTM: Tài sản mà NHTM
đang quản lý và sử dụng cũng được phản ánh trên bảng cân đối kế toán Đónhững tài sản thực sự đem lại lợi ích kinh tế, đem lại thu nhập cho NHTM
Trang 29Trong đó tài sản ngắn hạn lại là bộ phận chủ yếu, tài sản dài hạn và TSCĐchiếm tỷ trọng nhỏ Căn cứ vào TSCĐ trong NHTM không thể đánh giá đượcnăng lực "sản xuất" (khả năng cung cấp dịch vụ) của NHTM Phần lớn tài sảncủa NHTM nằm ở vốn cho vay
Ba là, đặc trưng của nguồn vốn của NHTM.
Nguồn vốn cho hoạt động kinh doanh của NHTM cũng gồm nợ phảitrả và nguồn vốn chủ sở hữu Tuy nhiên, do hoạt động nghiệp vụ chủ yếu củaNHTM mà cơ cấu hai bộ phận này khác nhau và đôi khi nó không phản ánhđược hết khả năng tự chủ của NHTM
Bốn là, đặc trưng về doanh thu, chi phí và lợi nhuận.
Doanh thu của các NHTM chính là thu nhập từ các dịch vụ mà NHTMcung cấp cho các khách hàng Nó bao gồm: thu nhập lãi, thu từ các hoạt độngdịch vụ, thu nhập từ hoạt động khác Như vậy cần phải có các chỉ tiêu chi phítrong các CTTC bao gồm: chi phí lãi, chi phí hoạt động dịch vụ, chi phí khác
và các chi phí hoạt động; các chỉ tiêu lợi nhuận cũng được tính trên cơ sở thunhập - chi phí Đặc biệt đối với các NHTM cổ phần cần quan tâm đến chỉtiêu: Lãi trên một cổ phần
Năm là, đặc trưng về lưu chuyển tiền: các nghiệp vụ kinh tế phát sinh
liên quan khá nhiều đến tiền mặt, vì vậy lưu lượng tiền mặt: tiền thu và tiềnchi trong kỳ ở các công ty tài chính là rất lớn Chính vì vậy sẽ ảnh hưởng đếncác chỉ tiêu phản ánh tình hình lưu chuyển tiền tệ
1.2.2.4 Các quy định của cơ quan quản lý nhà nước
Ngân hàng thương mại hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực trung giantài chính, lĩnh vực này mang tính hệ thống rất cao và chịu sự quản lý nghiêmngặt của nhà nước nhằm thực thi chính sách tiền tệ quốc gia, đảm bảo sự an toàntrong hệ thống tài chính ngân hàng, bảo vệ lợi ích của các bên có liên quan Tuynhiên, trong quá trình hội nhâp và mở cửa, các NHTM cần tuân thủ những thông
lệ chung của quốc tế Vì vậy, hệ thống chỉ tiêu PTTC của các NHTM cần tuân
Trang 30thủ các chính sách, chế độ, quy định hiện hành và phải cung cấp các thông tintài chính đảm bảo các yêu cầu về chỉ số an toàn hoạt động Mặt khác, cácNHTM hoạt động chịu sự giám sát của các cơ quan Nhà nước như các NHTMđược yêu cầu giữ một tỷ lệ cố định vốn để đảm bảo các NHTM không mởrộng nguồn vốn đầu tư quá mức và đảm bảo khả năng thanh toán khi cần thiết
và các NHTM bị giới hạn nơi mà họ đươc phép đầu tư vốn Chính vì vậy, cầnquan tâm đến các chỉ tiêu hệ số an toàn vốn, hệ số khả năng thanh toán
1.2.2.5 Quan điểm chỉ đạo của nhà quản trị ngân hàng
Hệ thống chỉ tiêu PTTC của NHTM sẽ chịu ảnh hưởng bởi quan điểm
và cách thức chỉ đạo của nhà quản trị ngân hàng thương mại Quan điểm chỉđạo của nhà quản trị sẽ ảnh hưởng đến hệ thống chỉ tiêu PTTC của NHTM.Nếu cơ quan quản lý coi nhẹ công tác PTTC trong NHTM thì số lượng hệthống chỉ tiêu PTTC sẽ đơn giản, thậm chí không phân tích đánh giá tình hìnhtài chính của NHTM Nhưng nếu nhà quản lý quan tâm đến công tác PTTCtrong NHTM thì hệ thống chỉ tiêu PTTC của NHTM sẽ nhiều và phản ánh hếtthực tế tình hình tài chính của NHTM cũng như phán ánh được quá trình hoạtđộng của NHTM Đồng thời khi PTTC tại các chi nhánh cấp 1 của cácNHTM thì quan điểm chỉ đạo của nhà quản trị sẽ rất quan trọng bởi vì nó sẽchi phối đến thông tin tài chính cần lập tại chi nhánh và từ đó chi phối đến hệthống chỉ tiêu PTTC tại các chi nhánh của NHTM
1.2.2.6 Ảnh hưởng của các nhân tố khác
Cũng như các doanh nghiệp khác, trong quá trình hoạt động kinhdoanh các NHTM chịu tác động mạnh mẽ bởi môi trường kinh doanh Trong
đó các yếu tố như: bối cảnh kinh tế, quốc tế khu vực và trên thế giới, tình hìnhtăng trưởng hay suy thoái của nền kinh tế trong nước; môi trường chính trị ổnđịnh hay bất an, môi trường tự nhiên thuận lợi hay khó khăn; những phát triển
và ứng dụng của khoa học công nghệ v.v Đó là những nhân tố tác độngmang tính khách quan đối với hoạt động sản xuất kinh doanh và tình hình tài
Trang 31chính của các NHTM mà nhà quản trị cần thiết phải xem xét đánh giá tácđộng các nhân tố này để có nhận định, đánh giá chính xác nhưng khách quan
về tài chính của NHTM nhằm ra quyết định hữu hiệu
1.2.3 Hệ thống chỉ tiêu phân tích tài chính của ngân hàng thương mại
Căn cứ vào đặc điểm hoạt động kinh doanh và chu trình tài chính củaNHTM, căn cứ vào mục tiêu và nội dung quản trị tài chính NHTM thì hệthống chỉ tiêu PTTC ngân hàng bao gồm các nhóm chỉ tiêu như các chỉ tiêuphân tích tình hình huy động nguồn vốn (nhằm phục vụ mục tiêu quản trịnguồn vốn); các chỉ tiêu phân tích tình hình tài sản (phục vụ mục tiêu quản trịtài sản); các chỉ tiêu phân tích tình hình đảm bảo an toàn vốn (phục vụ mụctiêu quản trị nguồn vốn); các chỉ tiêu phân tích tình hình dự trữ và khả năngthanh toán (phục vụ mục tiêu quản trị tính thanh khoản); các chỉ tiêu phân tíchtình hình tín dụng và đầu tư (phục vụ mục tiêu quản trị tài sản); các chỉ tiêuphân tích kết quả kinh doanh (phục vụ mục tiêu quản trị tài sản); các chỉ tiêuphân tích tình hình lưu chuyển tiền tệ (phục vụ mục tiêu quản trị dòng tiền);các chỉ tiêu phân tích hiệu suất sử dụng tài sản; các chỉ tiêu phân tích khảnăng sinh lời (phục vụ mục tiêu quản trị tài sản và quản trị nguồn vốn); cácchỉ tiêu phân tích rủi ro tài chính của NHTM (phục vụ mục tiêu quản trị rủi rocủa NHTM)
1.2.3.1 Các chỉ tiêu phân tích tình hình nguồn vốn huy động
(1) Nguồn vốn huy động của NHTM (Tổng nguồn vốn; từng loạinguồn vốn): Chỉ tiêu này cho biết tình hình huy động vốn của NHTM
(2) Tỷ trọng từng loại nguồn vốn [11, tr 43]
Tỷ trọng của nguồn vốn loại i = Nguồn vốn loại i x 100%
Tổng nguồn vốnPhản ánh cơ cấu nguồn vốn huy động, trong đó số dư từng loại nguồnvốn được tính phụ thuộc vào cách phân loại nguồn vốn của từng ngân hàng
Trang 32Mỗi loại nguồn vốn huy động có những ưu điểm cũng như rủi ro và chi phíkhác nhau Thông qua mức độ biến động của từng loại nguồn vốn huy động,nhà phân tích có thể thấy được mặt mạnh, mặt yếu trong công tác huy độngvốn của ngân hàng, từ đó có thể đưa ra một cơ cấu vốn huy động hợp lý: cácmức rủi ro thích hợp và chi phí huy động vốn chấp nhận được.
(3) Hệ số biến động của nguồn vốn huy động so với tín dụng và đầu tư
Hệ số biến động của nguồn vốn
huy động so với tín dụng và đầu tư = Mức tăng trưởng của nguồn vốn huy động trong kỳ
Mức tăng trưởng của tín dụng và đầu tư trong kỳChỉ tiêu này thể hiện mối quan hệ giữa huy động vốn với sử dụng vốn,đặc biệt là cho hoạt động tín dụng và đầu tư
(4) Tỷ lệ biến động của nguồn tiền gửi [12, tr 43]
Tỷ lệ biến động
của nguồn tiền gửi =
Độ lệch tiêu chuẩn của nguồn tiền gửi (Đ L )
x 100%
Số dư tiền gửi bình quân trong kỳ (D)Trong đó: Gọi Dt là số dư tiền gửi tại thời điểm t, độ lệch tiêu chuẩncủa nguồn tiền gửi (ĐL) được tính theo công thức sau:
ĐL =
Chỉ tiêu này phản ánh sự biến động của số dư tiền gửi tại các thờiđiểm so với số dư tiền gửi bình quân trong kỳ Chỉ tiêu này có ý nghĩa rất lớntrong việc xác định lượng tiền dự trữ để đảm bảo khả năng thanh toán cholượng tiền gửi rút ra khỏi ngân hàng trong kỳ
(5) Chi phí phải trả bình quân cho nguồn vốn huy động
Chi phí phải trả bình quân
cho nguồn vốn huy động =
Tổng chi phí trả lãi cho nguồn vốn huy động Nguồn vốn huy động bình quânCho biết chi phí huy động vốn, để huy động được một đồng vốn ngânhàng phải trả bao nhiêu đồng tiền lãi
(6) Lãi suất bình quân của nguồn vốn huy động (lãi suất bình quân đầu vào) Lãi suất bình quân của
nguồn vốn huy động =
Tổng chi phí trả lãi thực tế trong kỳ
x 100% Tổng nguồn vốn huy động bình quân
n t
(D - D)2
Trang 33Chỉ tiêu trên phản ánh chi phí phải trả bình quân cho nguồn vốn huyđộng Khoản chi này càng thấp, tạo cơ hội tăng mức chênh lệch lãi suất chongân hàng
1.2.3.2 Các chỉ tiêu phân tích tình hình tài sản của ngân hàng thương mại
Để phản ánh tình hình tài sản của NHTM, sử dụng các chỉ tiêu sau đây: (1) Tài sản của NHTM (tổng số và chi tiết từng loại tài sản) [4], [5]Tài sản của NHTM bao gồm: Tiền mặt, vàng bạc, đá quý; Tiền gửicác NHNN; Tiền gửi và cho vay các TCTD khác; Chứng khoán kinh doanh;các công cụ tài chính phái sinh và tài sản tài chính khác; Cho vay kháchhàng; Chứng khoán đầu tư; góp vốn đầu tư, TSCĐ; Bất động sản đầu tư vàtài sản khác
Chỉ tiêu này cho biết quy mô hoạt động, tình hình sử dụng vốn của NHTM(2) Tỷ trọng từng loại tài sản [4], [5], [12]
Tỷ trọng của tài sản loại i trong tổng tài sản =
Tài sản loại i
x 100%
Tổng tài sảnChỉ tiêu này phản ánh cơ cấu tài sản của ngân hàng Mỗi khoản mụctài sản đều có khả năng sinh lời và độ an toàn khác nhau Qua chỉ tiêu tỷ trọngcủa từng loại tài sản trong tổng tài sản giúp nhà phân tích nhận định đượcđiểm mạnh, điểm yếu trong cơ cấu tài sản của ngân hàng, từ đó có được quyếtđịnh đầu tư đúng đắn Bên cạnh đó, đề đánh giá tình hình tín dụng và đầu tư
sử dụng thêm chỉ tiêu tín dụng và đầu tư dài hạn trên nguồn vốn dài hạn
Tín dụng và đầu tư dài
hạn trên nguồn vốn dài hạn
=
Tín dụng và đầu tư dài
hạn Nguồn vốn dài hạnChỉ tiêu này được sử dụng để đánh giá sự cân đối giữa nguồn vốn dàihạn với việc sử dụng vốn dài hạn
(3) Chỉ tiêu tỷ lệ đầu tư vào TSCĐ bằng vốn tự có
Tỷ lệ đầu tư vào TSCĐ = TSCĐ x 100%
Vốn tự có
Trang 34Chỉ tiêu này đánh giá mức độ đầu tư TSCĐ bằng vốn tự có Nó cho biết
có bao nhiêu đồng giá trị TSCĐ được đầu tư bằng 1 đồng vốn tự có Theo quyđịnh hiện hành của Luật Các TCTD và Quyết định số 457/2005/QĐ-NHNN,
tỷ lệ đầu tư vào TSCĐ của ngân hàng không được vượt quá 50% vốn tự có(vốn cấp I)
1.2.3.3 Các chỉ tiêu đánh giá tình hình đảm bảo an toàn vốn
Ngân hàng thương mại huy động tiền gửi của khách hàng nên phảithanh toán cả gốc và lãi Do đó, NHTM phải đảm bảo an toàn vốn tức là đảmbảo vốn cho người gửi tiền và vốn góp của chủ sở hữu (nếu là NHTM cổphần) Như vậy, để phân tích tình hình đảm bảo an toàn vốn, NHTM sử dụngcác chỉ tiêu sau:
(1) Tỷ lệ vốn tự có trên tổng tiền gửi của khách hàng
Tỷ lệ vốn tự có trên tổng tiền gửi
Tổng tài sản theo mức độ rủi ro
Trang 35Chỉ tiêu này cho biết vốn tự có đảm bảo được bao nhiêu phần tài sản
đã điều chỉnh theo mức độ rủi ro của NHTM Tỷ lệ an toàn vốn phản ánh mốiquan hệ giữa vốn tự có với khối lượng rủi ro của NHTM Đây là chỉ tiêu quantrọng để đánh giá mức độ an toàn vốn của NHTM
Trong đó, về cơ bản, vốn tự có và tổng tài sản theo mức độ rủi ro đượcxác định theo quy định của Ủy ban thanh tra ngân hàng (Ủy ban Basle)
Theo hiệp ước Basel II "Tổng tài sản theo mức độ rủi ro" được tính như sau:
Tổng tài sản theo mức
độ rủi ro (RWA) = ro tín dụngRWA_ rủi + RWA hoạt động_ rủi ro + RWAthị trường_ rủi roTài sản rủi ro tín dụng được tính theo một trong ba phương pháp nhưphương pháp chuẩn hóa, phương pháp tiếp cận nội bộ cơ bản và phương phápnâng cao
Tỷ lệ an toàn vốn chi tiết theo hai nhóm:
Tỷ lệ an toàn vốn riêng lẻ = Vốn tự có
Tổng tài sản "có" rủi ro
Tỷ lệ an toàn vốn hợp nhất = Vốn tự có hợp nhất
Tổng tài sản "có" rủi ro hợp nhấtTrong đó:
Vốn tự có bao gồm vốn cấp 1 và vốn cấp 2
Tài sản "Có" rủi ro là tổng giá trị tài sản "Có" xác định theo mức độrủi ro và giá trị tài sản "Có" tương ứng của cam kết ngoài bảng theo hệ sốchuyển đổi
(4) Tỷ lệ vốn tự có trên tổng nguồn vốn huy động [12, tr 52], [33]
Trang 361.2.3.4 Các chỉ tiêu phân tích tình hình dự trữ và khả năng thanh khoản
(1) Mức dự trữ thừa hoặc thiếu
Mức dự trữ thừa
hoặc thiếu = Tiền dự trữ thực tế
-Tiền dự trữ bắt buộc theo quy địnhChỉ tiêu này cho biết tình hình dự trữ của các NHTM để đáp ứng cácyêu cầu về dự trữ của ngân hàng nhà nước
(2) Tỷ lệ dư nợ cho vay so với số dư tiền gửi
Tỷ lệ dư nợ cho vay so với số dư tiền gửi =
Tổng dư nợ cho vay
x 100%
Tổng số dư tiền gửiChỉ tiêu này đo lường khả năng cho vay từ một đồng tiền gửi và kiểmtra độ an toàn trong kinh doanh của ngân hàng
(3) Hệ số đảm bảo tiền gửi [12]
Hệ số đảm bảo tiền gửi =
Tài sản Có động bình quân Tổng tiền gửi của khách hàng bình quânChỉ tiêu này phản ánh khả năng của ngân hàng đáp ứng các khoản rúttiền không được dự báo trước của khách hàng bằng khả năng thanh khoản củangân hàng
(4) Hệ số khả năng chi trả [34]
Hệ số khả năng chi trả = Tài sản "Có" có thể thanh toán ngay
Tài sản "Nợ" phải thanh toánChỉ tiêu trên giúp nhà phân tích đánh giá, xem xét liệu NHTM cóthường xuyên duy trì nguồn tiền mặt, tiền gửi không kỳ hạn tại các TCTDkhác và các tài sản có thể chuyển hoá ngay thành tiền để đáp ứng mọi nhu cầu
về tiền ở mọi thời điểm hay không
Theo quy định hiện hành của Việt Nam, cách xác định hệ số khả năng chitrả và độ lớn tối thiểu được quy định tại Quyết định số 457/2005/QĐ-NHNNngày 19/4/2005 của Thống đốc NHNN về việc ban hành Quy định về các tỷ lệbảo đảm an toàn trong hoạt động của TCTD
(5) Tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn
Trang 37Tỷ lệ vốn ngắn hạn
cho vay trung, dài hạn =
Dư nợ cho vay trung dài hạn từ nguồn vốn ngắn hạn
x 100% Nguồn vốn ngắn hạn
Chỉ tiêu trên sử dụng để đánh giá việc dùng vốn ngắn hạn cho vaytrung và dài hạn
Theo Điều 15 của Quyết định số 457/2005/QĐ-NHNN, tỷ lệ tối đacủa nguồn vốn ngắn hạn TCTD được sử dụng để cho vay trung và dài hạn đốivới NHTM là 40%, đối với các TCTD khác là 30%
1.2.3.5 Các chỉ tiêu phân tích tình hình tín dụng và đầu tư
(2) Tốc độ tăng dư nợ tín dụng
Các chỉ tiêu (1), (2) giúp nhà phân tích xác định quy mô, sự tăngtrưởng của hoạt động tín dụng giữa kỳ này so với kỳ trước hoặc so với mụctiêu dự kiến
(3) Tổng dư nợ tín dụng trên tổng nguồn vốn huy động
(4) Tỷ trọng dư nợ tín dụng trên tổng tài sản [12, tr 48]
Tỷ trọng dư nợ tín dụng trên tổng tài sản =
Tổng dư nợ tín dụng
x 100%
Tổng tài sản
Trang 38Chỉ tiêu này cho biết vốn tín dụng chiếm bao nhiêu phần so với tổngvốn của NHTM Qua đó đánh giá mức độ tập trung vốn của ngân hàng Chỉtiêu này càng cao thì mức độ hoạt động và khả năng sử dụng vốn cho vay củangân hàng càng cao và ngược lại chỉ tiêu này càng thấp thì ngân hàng sẽ bị trìtrệ vốn có thể ảnh hưởng đến doanh thu cũng như tỷ lệ thu lãi của ngân hàng
Căn cứ vào tỷ trọng của từng loại dư nợ tín dụng và sự biến động của
tỷ trọng đó, nhà quản trị ngân hàng xác định được cơ cấu tín dụng hợp lý phùhợp với định hướng của ngân hàng và chính sách phát triển kinh tế nói chungcủa Nhà nước, đồng thời có những biện pháp phòng ngừa rủi ro và nhữngbiện pháp hỗ trợ khác nhằm góp phần nâng cao chất lượng tín dụng của NHTM
(6) Tỷ lệ cho vay đối với một khách hàng lớn nhất
Tỷ lệ cho vay đối với
1 khách hàng lớn nhất =
Mức dư nợ cho vay khách hàng lớn nhất
x 100% Vốn tự có của ngân hàng
(7) Tỷ lệ bảo lãnh đối với một khách hàng lớn nhất
Tỷ lệ bảo lãnh đối với
1 khách hàng lớn nhất =
Tổng số dư bảo lãnh cho khách hàng lớn nhất
x 100% Vốn tự có của ngân hàng
Việc tập trung quá mức tín dụng cho một khách hàng, một ngành, mộtlĩnh vực kinh tế, thường là nguyên nhân chủ yếu dẫn tới thất bại trong hoạtđộng ngân hàng Chỉ tiêu (6), (7) thể hiện giới hạn cho vay và giới hạn bảolãnh đối với một khách hàng hoặc một nhóm khách hàng có liên quan Giớihạn này thường được cụ thể hóa trong Luật hoặc các quy định của NHNN chomỗi thời kỳ
Trang 39Nhóm 2: Chỉ tiêu phân tích chất lượng tín dụng
Ba tiêu chuẩn thường được dùng để phân loại nợ là: khả năng trả nợcủa người vay, tình trạng tài sản thế chấp của người vay và thời gian quá hạncủa khoản nợ Theo các tiêu chuẩn trên, các khoản nợ của các NHTM thườngđược phân loại thành 5 loại chủ yếu sau:
Nợ đủ tiêu chuẩn: là những khoản nợ trong hạn mà TCTD đánh giá là
có khả năng thu hồi cả gốc và lãi đúng hạn hoặc được đảm bảo an toàn cả gốc vàlãi bằng các công cụ thay thế tiền như: chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu chính phủ
Những khoản nợ cần chú ý: các khoản nợ này nói chung là có đảm
bảo nhưng có một số nhược điểm, tuy chưa đến mức xếp loại kém tiêu chuẩnnhưng nếu không được quan tâm, điều chỉnh có thể ảnh hưởng xấu đến việcthanh toán đúng hạn của các khoản gốc và lãi theo những điều kiện và điềukhoản của món vay
Nợ kém/dưới tiêu chuẩn: là những khoản nợ không đảm bảo đủ giá
trị hiện hành và người vay không đủ khả năng trả những món nợ đến hạn.Trong trường hợp này buộc ngân hàng phải trông chờ nguồn trả nợ thứ hai làtài sản thế chấp Các khoản nợ bị xếp loại này phải quá hạn trên 90 ngày
Nợ có nghi ngờ: loại nợ này có đầy đủ nhược điểm của nợ kém tiêu
chuẩn nhưng còn thêm một đặc trưng là không có đủ tài sản thế chấp, do đólàm cho việc thu hồi nợ trở nên khó thực hiện, khả năng bị tổn thất tài sản ởmức cao hơn, tuy nhiên nó vẫn còn có khả năng khắc phục nên chưa bị xếpvào loại nợ có khả năng mất vốn Thông thường những khoản nợ bị xếp loạinày khi nó quá hạn hơn 180 ngày và phải được xử lý bằng pháp luật hoặcbằng tài sản thế chấp hoặc bằng cam kết nào đó
Nợ có khả năng mất vốn: là những khoản nợ được xem là không có
khả năng thu hồi, không còn giá trị và không có lý do biện luận tiếp tục là tàisản của ngân hàng mặc dầu xếp loại này không có nghĩa là tài sản đã tuyệt đốikhông thu hồi được hoặc không cứu vãn được Những khoản nợ bị xếp loại
Trang 40này nếu ít nhất đã quá hạn trên một năm, loại trừ những khoản nợ có đủ thếchấp và đang xử lý theo pháp luật hoặc cưỡng chế theo các cam kết
Ba loại nợ sau được xem là nợ xấu, trong đó nợ kém tiêu chuẩn và nợ
có nghi ngờ là nợ có khả năng thu hồi, còn nợ có khả năng mất vốn là nợkhông có khả năng thu hồi
Để đánh giá khái quát về tình hình chất lượng tín dụng, nhà phân tíchthường xem xét qua các chỉ tiêu chủ yếu sau:
(1) Tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ [11, tr 46]
Tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư
Nợ xấu
x 100%
Tổng dư nợ tín dụngCho biết tình hình nợ xấu của ngân hàng Tỷ lệ nợ xấu cao không chỉbáo động sự phát sinh khoản phải thanh lý lớn trong tương lai mà còn thể hiện
sự giảm sút thu nhập ở hiện tại do các khoản dư nợ này không còn mang lạilợi nhuận hoặc lợi nhuận ít, không đáng kể Vì vậy, các nhà quản trị ngânhàng thường mong muốn tỷ lệ nợ xấu dưới 3% tổng dư nợ
(2) Tỷ lệ nợ có khả năng mất vốn trên tổng dư nợ
cả thiệt hại mà ngân hàng phải gánh chịu Trong thực tế, một số khoản nợ xấu(nợ kém tiêu chuẩn, nợ có nghi ngờ) vẫn có khả năng thu hồi Bởi vậy để đánhgiá tính chất nghiêm trọng của các khoản nợ quá hạn hiện có và mức độ thiệthại mà ngân hàng phải gánh chịu, nhà phân tích đặc biệt quan tâm tới phần nợxấu khó có khả năng thu hồi (nợ bị mất vốn) và tỷ trọng của nó trong tổng số
nợ quá hạn hoặc trong tổng dư nợ ngân hàng Mức mong muốn của các nhàquản trị ngân hàng đối với nợ có khả năng mất vốn là dưới 1% tổng dư nợ
(3) Tỷ lệ thu hồi nợ xấu
Tỷ lệ thu hồi = Doanh số thu hồi nợ xấu trong kỳ x 100