1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

CTXH với sinh viên mắc rối loạn lo âu tại trường đh lao động xã hội hiện nay

25 82 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 25
Dung lượng 62,85 KB
File đính kèm 45.rar (59 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong cuộc sống hiện nay, con người không chỉ quan tâm đến việc chăm lo cho sức khỏe thể chất mà còn quan tâm đến chăm sóc sức khỏe tâm thần. Sức khỏe tâm thần là một trạng thái không chỉ không có rối loạn hay dị tật tâm thần mà còn là một trạng thái tâm thần hoàn toàn thoải mái, cần phải có chất lượng nuôi sống tốt, có được sự cân bằng và hòa hợp giữa cá nhân, người xung quanh và môi trường xã hội. Hiện nay tăng các vấn đề về sức khỏe tâm thần ở lứa tuổi từ 1825 tuổi đang có xu hướng gia tăng. Đây là lứa tuổi có sự phát triển, tăng trưởng mạnh mẽ về thể chất, tâm thần và xã hội. Chính những sự thay đổi này dễ làm xuất hiện các vấn đề về sức khoẻ tâm thần. Vị thành niên có sự khủng hoảng lớn về tâm lý trong quá trình phát triển, cảm xúc giao động dễ bị tổn thương, là giai đoạn sự phát triển mang tính kịch tính cao, được thể hiện qua những biểu hiện mới về hành vi và tự ý thức về bản thân. Các vấn đề liên quan đến sức khoẻ tâm thần chiếm tỷ lệ khá cao từ 8 21%, bao gồm rối loạn hành vi chống đối, trầm cảm, tự sát, nghiện ma tuý, hành vi tình dục lệch lạc, tâm thần phân liệt...

Trang 1

MỤC LỤC

Trang 2

Lời mở đầu

Xã hội càng phát triển thì nhiều vấn đề xã hội nổi lên đòi hỏi những giảikiến khoa học Trong xã hội hiện đại, một trong những vấn đề ngày càng trở nênnghiêm trọng không chỉ ở Việt Nam mà còn ở nhiều nước trên thế giới đó là sứckhỏe tâm thần Ở Việt Nam chưa có tổng điều tra nào về sức khỏe tâm thần songnhững số liệu từ những cuộc khảo sát lớn của các cơ quan chức năng cho thấy,

số lượng người mắc bệnh liên quan đế sức khỏe tâm thần ngày một gia tăng

“90% số người tâm thần có hành vi nguy hiểm tới gia đình, cộng đồng và

số người tâm thần lang thang được phục hòi chức năng lang thang được phục hồi chức năng luân phiên tại các cơ sở bảo trợ xã hội; 90% số người rối nhiễu tâm trí có nguy cơ cao bị tâm thần, người tâm thần được tư vấn, trị liệu tâm lý

và sử dụng các dịch vụ Công tác xã hội khác” – Mục tiêu Đề án trợ giúp xã hội

và phục hồi chức năng cho người tâm thần, người rối nhiễu tâm trí dựa vào cộngđồng giai đoạn 2011-2020

Như vậy, rõ ràng xã hội càng phát triển thì càng có nhiều người mắc cácchứng bệnh liên quan đến sức khỏe tâm thần cần được điều trị Điều này chothấy, nhu cầu được chăm sóc sức khỏe tâm thần của người dân Việt Nam ngàycàng gia tăng, dù người bệnh được điều trị ở cộng đồng hay các cơ sở y tế thì họcũng luôn cần sự chăm sóc giúp đỡ của nhân viên Công tác xã hội

Trang 3

I Lý do chọn đề tài

Trong cuộc sống hiện nay, con người không chỉ quan tâm đến việc chăm locho sức khỏe thể chất mà còn quan tâm đến chăm sóc sức khỏe tâm thần Sứckhỏe tâm thần là một trạng thái không chỉ không có rối loạn hay dị tật tâm thần

mà còn là một trạng thái tâm thần hoàn toàn thoải mái, cần phải có chất lượngnuôi sống tốt, có được sự cân bằng và hòa hợp giữa cá nhân, người xung quanh

và môi trường xã hội

Hiện nay tăng các vấn đề về sức khỏe tâm thần ở lứa tuổi từ 18-25 tuổiđang có xu hướng gia tăng Đây là lứa tuổi có sự phát triển, tăng trưởng mạnh

mẽ về thể chất, tâm thần và xã hội Chính những sự thay đổi này dễ làm xuấthiện các vấn đề về sức khoẻ tâm thần Vị thành niên có sự khủng hoảng lớn vềtâm lý trong quá trình phát triển, cảm xúc giao động dễ bị tổn thương, là giaiđoạn sự phát triển mang tính kịch tính cao, được thể hiện qua những biểu hiệnmới về hành vi và tự ý thức về bản thân Các vấn đề liên quan đến sức khoẻ tâmthần chiếm tỷ lệ khá cao từ 8 -21%, bao gồm rối loạn hành vi chống đối, trầmcảm, tự sát, nghiện ma tuý, hành vi tình dục lệch lạc, tâm thần phân liệt

Đặc biệt, ở môi trường học đường , đặc biệt là môi trường Đại học, khôngkhó để thu thập những dấu hiệu lâm sàng của các vấn đề liên quan đến sức khỏetâm thần ở sinh viên – trong đó phải kể đến vấn đề sức khỏe tâm thần phổ biếnnhất : chứng rối loạn lo âu Một số hiện tượng bất ổn về tâm lí, việc thườngxuyên căng thẳng, lo lắng và sợ hãi quá mức… ở lứa tuổi sinh viên mà khôngtìm được người chia sẻ có thể dẫn đến việc các em không tự kiểm soát được cảmxúc và hành vi của mình Điều này đặt ra cảnh báo về các vấn đề rối loạn âu lođang hiện hữu trong gia đình và toàn xã hội Vì vậy, việc chăm sóc rối loạn âu lonói chung và cho sinh viên nói riêng là một vấn đề cần được quan tâm, nhất làtrong bối cảnh xã hội hiện nay, khi mà cuộc sống công nghiệp hoá đang ngàycàng tạo ra những khoảng cách về tình cảm giữa những người thân, sự quan tâm,chăm sóc lẫn nhau giữa các thành viên trong mỗi gia đình đang dần mai một đi

và thay vào đó là lối sống độc lập, tự chịu trách nhiệm về nhận thức, hành vi củamình khi trải nghiệm cuộc sống trong xã hội

Để có cái nhìn tổng quát về hiện trạng chứng rối loạn lo âu mà sinh viên

đang gặp phải, trong khuôn khổ bài tiểu luận này em xin chọn đề tài “ CTXH với sinh viên mắc rối loạn lo âu tại trường ĐH lao động - xã hội hiện nay "

Trang 4

để đánh giá mức độ âu lo của các sinh viên trong trường, đồng thời làm rõ cácnguyên nhân, các yếu tố tác động đến tình trạng bệnh lý, đánh giá những hoạtđộng hỗ trợ mang tính định hướng để thấy rõ vai trò của CTXH trong việc chămsóc sức khỏe tâm thần cho sinh viên các trường đại học nói chung và sinh viênĐại học Lao động – Xã hội nói riêng một cách phù hợp và hiệu quả.

II Cơ sở lí luận

1 Sơ lược về nghiên cứu

Nhiều nghiên cứu và các bài viêt về rối loạn lo âu cũng chỉ ra rằng, khi conngười bị rối loạn lo âu thì điều này cũng ảnh hưởng lớn đến đời sống kinh tế xãhội Người bệnh bị suy giảm khả năng lao động, tăng nguy cơ mất việc làm,giảm chất lượng cuộc sống Đặc biệt đối với sinh viên nói chung khi chuyển đổi

từ môi trường cấp 3 sang một môi trường học tập mới – đầy xa lạ và mới mẻ đãkhiến các bạn rơi vào trạng thái lúng túng, bối rối và chưa biết cách tập quen vớinhịp sống mới này Môi trường sinh sống đối với các bạn sinh viên tỉnh lẻ cũngđem lại những trải nghiệm “để đời”, đôi khi là bài học, đôi khi lại là những kí ứcđáng buồn Mỗi sinh viên đều có một sức khỏe tâm thần riêng biệt cũng như khảnăng vượt qua các sang chấn tâm lý là khác nhau Vì vậy, việc nắm rõ thực trạngbệnh lý của sinh viên sẽ giúp nhà trường và chính các bạn nhìn nhận rõ hơn vềchứng rối loạn âu lo, từ đó có cách tuyên truyền, nâng cao đề phòng ngừa vàđiều trị

Mẫu nghiên cứu:

200 Sinh viên trường Đại học Lao động - Xã hội

Việc tiến hành đề tài nghiên cứu: “Tìm hiểu thực trạng rối loạn lo âu ở sinhviên trường Đại học Lao động- Xã hội” hướng tới việc:

- Tìm ra những biểu hiện lo âu mà sinh viên trường gặp phải

- Tỷ lệ sinh viên có biểu hiện rối loạn âu lo, đánh giá sơ lược mức độ rốiloạn của sinh viên trường

- Đánh giá hiệu quả khả năng vượt qua các chứng lo âu thông thường củasinh viên

2 Một số khái niệm liên quan

2.1 Khái niệm sức khỏe tâm thần

Theo Hội tâm thần học ,Sức khoẻ tâm thần không chỉ là một trạng tháikhông có rối loạn hay dị tật về tâm thần, mà còn là một trạng thái tâm thần hoàn

Trang 5

toàn thoải mái, muốn có một trạng thái tâm thần hoàn toàn thoải mái thì cần phải

có chất lượng nuôi sống tốt, có được sự cân bằng và hoà hợp giữa các cá nhân,môi trường xung quanh và môi trường xã hội

Như vậy, thực chất sức khoẻ tâm thần là:

o Một cuộc sống thật sự thoải mái

o Đạt được niềm tin vào giá trị bản thân, vào phẩm chất và giá trị của người khác

o Có khả năng ứng xử bằng cảm xúc, hành vi hợp lý trước mọi tình huống

o Có khả năng tạo dựng, duy trì và phát triển thoả đáng các mối quan hệ

o Có khả năng tự hàn gắn để duy trì cân bằng khi có các sự cố gây mất thăngbằng, căng thẳng (stress) (R.Jenkins; A.Culloch & C Parker - Tổ chức y tế thếgiới Geneva - 1998)

2.2 Khái niệm các bệnh liên quan đến sức khỏe tâm thần

Là những bệnh do hoạt động của não bộ bị rối loạn bởi nhiều nguyên nhânkhác nhau gây ra (nhiễm khuẩn, nhiễm độc, sang chấn tâm thần, bệnh cơ thể…),làm rối loạn chức năng phản ánh thực tại Các quá trình cảm giác, tri giác, tưduy, ý thức, … bị sai lệch cho nên bệnh nhân tâm thần có những ý nghĩa, , cảmxúc, hành vi, tác phong không phù hợp với thực tại, với môi trường xung quanh.Phạm vi các bệnh tâm thần rất rộng Có những bệnh tâm thần nặng (cácbệnh loạn thần), quá trình phản ánh thực tại sai lệch trầm trọng, hành vi tạcphong bị rối loạn nhiều Có những bệnh tâm thần nhẹ (các bệnh tâm căn, nhâncách bệnh), quá trình phản ánh thực tại cũng như hành vi tác phong rối loạn ít,bệnh nhân vẫn có thể sinh hoạt, lao động, học tập được, tuy có giảm sút

Trong các bệnh về tâm lý, tâm thần; có một số bệnh nghiêng về yếu tố tâm

lý (psychology) nhiều hơn, một số bệnh thì lại nghiêng về yếu tố tâm thần(psychotic) nhiều hơn

Các rối loạn hơi nghiêng về yếu tố tâm lý bao gồm: rối loạn lo âu, rối loạnhoảng sợ, trầm cảm, rối loạn lưỡng cực (Bipolar disorders) và một vài chứngkinh hãi (phobias) cụ thể Những người mắc các rối loạn này chủ yếu có sự thayđổi về mặt cảm xúc và tinh thần

Trong khi đó, các rối loạn có nhiều yếu tố tâm thần thường sẽ làm cho cácchức năng về nhận thức và suy nghĩ của người bệnh bị sai lệch, méo mó (theonghĩa y khoa, không phải theo ý nghĩa xã hội hay nhân cách), ví dụ như trảinghiệm những âm thanh hoặc hình ảnh không có thật, như nghe thấy “tiếng

Trang 6

nói”, hoặc ảo giác, hoang tưởng – mà người bệnh khăng khăng tin là có thật, cho

dù trên thực tế không có Tâm thần phân liệt là một điển hình của bệnh lý mangyếu tố tâm thần

Ngoài ra còn một số rối loạn tâm lý và tâm thần khác tự chia ra thành cácthể loại riêng như rối loạn ăn uống (ăn quá nhiều, không kiểm soát hoặc bỏ ăncho đến khi sức khỏe bị ảnh hưởng nghiêm trọng), rối loạn nhân cách(personality disorders), rối loạn căng thẳng hậu sang chấn (Posttraumatic StressDisorders – PTSD) v.v…

2.3 Khái niệm Rối loạn âu lo

“Lo âu” là từ được dùng để mô tả trạng thái đáp ứng của tâm thần và cơ thểđối với các tình huống gây sợ hãi và đe dọa Phản ứng này bao gồm run, khóthở, tim đập nhanh, vã mồ hôi, cảm giác không thực…Lo âu là phản ứng bìnhthường của con người khi họ gặp phải các tình huống gây stress Các ví dụ vềcác tình huống có thể làm con người lo âu là: suýt nữa bị tại nạn xe cộ, ngồitrong phòng thi, nói trước đám đông

Ý nghĩa của trạng thái lo âu là cảnh báo để bản thân có những giải phápthích hợp đối phó với những tình huống căng thẳng Trạng thái lo âu liên quanđến sự rối loạn của hệ thống thần kinh tạo nên 2 triệu chứng cơ bản về: tinh thần(Ví dụ: lo lắng, sợ hãi, khó tập trung…) và thể chất (Ví dụ: tăng nhịp tim, thởgấp, run rẩy…)

Có những căn bệnh nội khoa (như u tủy tuyến thượng thận, cường giáp…)

và một số nhóm thuốc (thuốc giống giao cảm…) cũng có thể kích hoạt những hệthống thần kinh theo cách tương tự, dẫn đến sự biểu hiện về cả thể chất lẫn tinhthần của trạng thái lo âu Đối với những dạng này, một khi nguyên nhân sinh lýđược loại bỏ thì tình trạng lo âu sẽ dịu đi

Khi trạng thái lo âu không gây ra bởi yếu tố bên ngoài hoặc vượt trội hơn

so với mối đe dọa thực tế hoặc kéo dài ngay cả khi mối de dọa không còn, trạngthái lo âu có thể ảnh hưởng xấu đến hoạt động thường ngày thì đó sẽ làchứng rối loạn lo âu – Anxiety disorder (viết tắt: AD) Những người mắc AD(rối loạn lo âu) cho thấy sự lo âu quá mức so với hoàn cảnh thực tế (về cả cường

độ và cả thời gian) hoặc rất đau buồn đến mức gây trở ngại cho các hoạt độnghằng ngày

2.4 Phân loại một số dạng Rối loạn lo âu

Trang 7

Sinh lý bệnh AD có thể khác nhau dựa vào việc liệu nó là

AD nguyên phát

AD thứ phát (do thuốc, do bệnh nội khoa…)

Đáp ứng của stress cấp tính (mất đi người mình yêu quý, vấn đề hônnhân/tài chính…)

Là một triệu chứng liên quan đến rối loạn tâm thần (Psychiatric disoders)

Sự khác biệt này rất khó để định liệu, tuy nhiên lại rất quan trọng trong việctối ưu hóa điều trị

Hiện nay có 2 guidelines chính trong việc phân loại AD nguyên phát(primary axiety disorders) là ICD (thuộc WHO) và DSM (thuộc APA – Hiệp hộitâm thần học Hoa Kỳ) Trong nội dung bài viết sẽ chia sẻ về cách phân loại củaDSM (Diagnostic and Statistical Manual of Mental Disorders)

AD nguyên phát gồm 6 nhóm chính:

• Generalized anxiety disorder (GAD) – Rối loạn lo âu toàn thể

• Panic disorder – Rối loạn hoảng sợ

• Phobic disorders (including social anxiety disorder) – Rối loạn ám ảnh sợ

• Obsessive–compulsive disorder (OCD) – Rối loạn ám ảnh cưỡng chế

• Posttraumatic – stress disorder (PTSD) – Rối loạn căng thẳng hậu chấn thươngtâm lý

• Acute stress disorder – Rối loạn căng thẳng cấp tính

Mỗi loại rối loạn liên quan đến trạng thái lo âu không lành mạnh nhưng đặctrưng và mức độ trầm trọng của các triệu chứng là khác nhau Sự hiệu quả củaliệu pháp dùng thuốc và không dùng thuốc cũng khác nhau giữa các kiểu rốiloạn, điều này phần nào chỉ ra sự khác biệt về sinh lý học

2.5 Các biểu hiện của rối loạn âu lo

Với người này, bệnh có thể biểu hiện dưới dạng một cơn lo âu kịch phát màkhông có dấu hiệu báo trước, nhưng với người khác bệnh lại có thể xuất hiện từ

từ, có người lại có những sự căng thẳng, lo lắng về mọi thứ trong cuộc sốngnhưng tất cả những rối loạn này tập trung vào việc lo lắng hoặc sợ hãi một cáchnghiêm trọng về một tình huống mà hầu hết người bình thường không có ai cho

là nghiêm trọng với biểu hiện ở những nhóm rối loạn sau:

- Lo lắng lan tỏa: Những lo lắng, sợ hãi luôn luôn thường trực làm ảnh

Trang 8

hưởng đến công việc hàng ngày của bạn hoặc bạn có những lo lắng là có mộtđiều gì không tốt với bạn đang chuẩn bị xảy đến Những bệnh nhân lo âu lan tỏathường cảm thấy lúc nào cũng lo lắng, mặc dầu họ không biết tại sao và thường

có biểu hiện kèm theo như mất ngủ, nóng rát dạ dày, bồn chồn bất an, mệt mỏi

- Gặp vấn đề về giấc ngủ: Nhiều người hay bị lo lắng một vài chuyện trướckhi ngủ, nên não của họ giống như bị "tắc đường", không cảm thấy thư thái để

có giấc ngủ ngon Thậm chí sau khi tỉnh giấc, họ cũng khó bình tĩnh trở lại.Bệnh có các biểu hiện về tâm trạng như luôn bất an, hồi hộp, còn thể chất thìhay run rẩy, căng cứng bắp thịt, vã mồ hôi, thắt ngực, nóng lưng, đau bụng, khóngủ

- Những nỗi sợ vô lý: Được đặc trưng bởi những cơn hoảng hốt sợ hãi, timđập nhanh, thở nhanh, nông, run rẩy chân tay, cảm giác buồn nôn, cảm thấy nhưmất sự kiểm soát hoặc cảm giác như mình bị điên Bệnh nhân thường kèm theotình trạng sợ đám đông hoặc sợ khoảng trống, tránh đến những nơi công cộngnhư siêu thị, đi máy bay…

- Sợ đặc hiệu: Là một sự sợ hãi không có thật hoặc một sự sợ hãi quá mứcmột đồ vật, một hành động hoặc một tình huống thực sự không nguy hiểm Sợđặc hiệu phổ biến là sợ động vật Ví dụ như sợ rắn hoặc nhện, sợ độ cao hoặc sợ

đi máy bay Trong những trường hợp nặng, bệnh có thể kéo dài và người bệnhthường tránh những tình huống gây sợ này Điều này làm cho bệnh nặng thêm

- Rối loạn stress sau khi chấn thương: Stress có từ mức độ nhẹ đến nặng,kéo dài sau sau khi bị chấn thương thể chất và tinh thần Các biến cố có thể làchiến tranh, khủng bố, tù đầy, bắt cóc, hiếp dâm, mất việc, mất người thân yêu Bệnh nhân trở nên lạnh nhạt với mọi người, tránh không muốn nghe những hoàncảnh có thể gợi lại biến cố cũ, nhưng ban đêm lại hay có ác mộng về biến cố.Tính tình của họ thay đổi, trở nên nóng nẩy, khó tính, hay gây sự đôi khi hunggiữ.Khi bị stress nhẹ, kể cả nặng, mà chúng ta vượt qua được, thì chúng ta đãđược “trui rèn” trở nên cứng cáp, can đảm trong cuộc sống Trường hợp này,stress có lợi Khi stress nặng hoặc xảy ra nhiều lần mà chúng ta không vượt quađược thì rất dễ dẫn đến các phản ứng trầm cảm trong thời gian ngắn, phản ứngtrầm cảm kéo dài hay vừa lo âu vừa trầm cảm…

- Nói những câu lặp đi lặp lại: Những người hễ gặp chút việc nhỏ, thay vìngồi suy nghĩ, họ liên tục hỏi đi hỏi lại ai đó bên cạnh, có thể họ đang mắc

Trang 9

chứng lo âu.

- Sự hoảng loạn tấn công: Biểu hiện của nó là bỗng nhiên cảm thấy sợ hãi

và bất lực, thường duy trì trong vài phút, kèm theo dấu hiệu khó thở, chân tay têliệt, đổ mồ hôi, đau đầu thiếu sức lực

- Nghi ngờ chính mình: Nhiều người có thói quen tập trung vào một số vấn

đề cụ thể rồi liên tục tự đặt câu hỏi nghi ngờ chính mình, như mình có yêuchồng không, mình có năng lực không… Để rồi chính họ cũng không có mộtcâu trả lời rõ ràng, nên luôn bị rơi vào trạng thái mệt mỏi, lo âu

- Rối loạn ám ảnh cưỡng bức: được đặc trưng bởi những ý nghĩ hoặc nhữnghành vi không mong muốn nhưng không thể kiểm soát hoặc không thể khôngthực hiện được, ví dụ như bạn rất sợ tay bẩn và có thể mất hàng tiếng đồng hồ đểrửa tay, bạn luôn sợ rằng mình quên không khóa cửa và phải kiểm tra nhiềulần…

- Ám ảnh sợ khoảng trống: Nếu cho rằng đây là một sự sợ hãi khoảngkhông gian rộng sẽ không chính xác Ám ảnh sợ khoảng trống là sự sợ hãi hơnkhi ở những nơi hoặc những tình huống mà có thể khó hoặc lúng túng để thoátkhỏi, hoặc ở đó không có sự giúp đỡ Người bị ám ảnh sợ khoảng trống có thểthấy dễ chịu khi ở nơi được an toàn, ở đó có vợ, chồng, con cái, bạn bè và thậmchí chỉ có một con chó cảnh hoặc có thuốc mang theo mình Bệnh thường khởiphát giữa tuổi 15-20 hoặc giữa 30-40 tuổi, nữ nhiều hơn nam Nếu không đượcđiều trị, ám ảnh sợ khoảng trống có thể trở nên dai dẳng và là trạng thái mất khảnăng làm việc nhất, gây nhiều đau khổ, buồn rầu

3 Công tác xã hội trong chăm sóc sức khỏe tâm thần

3.1 Khái niệm Công tác xã hội

Theo hiệp hội nhân viên công tác xã hội quốc tế (IFSW), Công tác xã hộithúc đẩy sự thay đổi trong xã hội, các phương pháp giải quyết vấn đề trong mốiquan hệ của con người và nâng cao năng lực, giải phóng cho con người nhằmthúc đẩy sức khỏe, hạnh phúc của mọi người, Bằng việc sử dụng các lý thuyết

về hành vi của con người và các hệ thống xã hội, công tác xã hội can thiệp vàonhững thời điểm con người tương tác với môi trường của họ Các tiêu chí vềnhân quyền và công bằng xã hội là nền tảng của công tác xã hội

3.2 Công tác xã hội trong chăm sóc sức khỏe tâm thần

Trang 10

Theo TS Nguyễn Văn Hồi, qua công tác xã hội lâm sàng người ta có thểphát hiện được, chuẩn đoán được vấn đề sức khỏe tâm thần của người bệnh và

có thể có những tư vấn, những liệu pháp về mặt tâm lý, về mặt xã hội hết sứcphù hợp mà không cần dùng đến thuốc để chữa trị Sự kết hợp giữa can thiệpbằng thuốc với trị liệu tâm lý và tiếp cận các dịch vụ xã hội là rất hiệu quả Dựavào kết quả sàng lọc, phân loại bệnh nhân, xác định đối tượng, nhân viên côngtác xã hội tiến hành các hoạt động trợ giúp phù hợp Để hoạt động rèn luyện thểlực thành hoạt động thường xuyên, nhân viên công tác xã hội lựa chọn bài tậpthể dục phù hợp với sức khỏe bệnh nhân Bên cạnh đó nhân viên công tác xãhội xây dựng kế hoạch duy trì thường xuyên hoạt động sinh hoạt nhóm khuyếnkhích bệnh nhân chia sẻ thông tin, sở thích cá nhân từ đó lựa chọn tổ chức cáctrò chơi trị liệu tâm lý, hoạt động giao lưu văn hóa, thể thao; tổ chức hội thi vănnghệ, thi tìm hiểu kiến thức xã hội

3.3 Vai trò của nhân viên xã hội trong chăm chóc sức khỏe tâm thần

* Nhân viên CTXH (công tác xã hội) có những vai trò sau đây:

a. Người giáo dục: NVXH (nhân viên xã hội) tìm cách chuyển thông tin đến thânchủ một cách tốt nhất, giúp thân chủ nhận thức về hành vi

b. Người môi giới: NVXH hiểu rõ nhu cầu của thân chủ và các nguồn tài nguyên,

vì vậy, NVXH phải tích cực kết nối thân chủ với các nguồn tài nguyên

c. Người tạo điều kiện: NVXH tạo điều kiện cho thân chủ tăng khả năng bàn bạc,lựa chọn, lấy quyết định hành động để giải quyết vấn đề theo sự hiểu biết vàquyết định của chính thân chủ

d. Người biện hộ: Đây là một trong những vai trò quan trọng của NVXH Lúc này,NVXH là người đại diện cho tiếng nói của thân chủ, đề đạt đến các cơ quan cóthẩm quyền, tổ chức xã hội về những vấn đề bức xúc của thân chủ, yêu cầu các

cơ quan trên hợp tác với thân chủ NVXH thực hiện vai trò này với quyền đượcthân chủ giao

e. Tham vấn: Cung cấp các kiến thức và thông tin cho thân chủ để đạt được mụctiêu, mục đích của hành động

f. Nhà nghiên cứu: Thu thập các thông tin, phân tích tình huống và vấn đề, từ đóchuyển những phân tích trên thành chương trình hành động

g. Người lập kế hoạch: Là người lập các kế hoạch hành động dựa trên các thông tin

đã được đánh giá, cùng với thân chủ có các bước hành động phù hợp trong tiếntrình giải quyết vấn đề của thân chủ

Trang 11

h. Người điều phối: Đảm bảo cho thân chủ có quyền đến với các dịch vụ cần thiết

và các dịch vụ này được thực hiện có hiệu quả Vai trò này thể hiện khi thân chủ

vì thiếu hiểu biết, quá nhỏ hay thiếu năng lực…trong việc tiếp cận các dịch vụ

xã hội

Ngoài ra, NVXH còn đóng vai trò điều phối các dịch vụ hỗ trợ cho thânchủ được hợp lý trong trường hợp một thân chủ cần nhiều dịch vụ hỗ trợ

III Cơ sở thực tiễn

1 Sơ lược về trường Đại học Lao động – Xã hội

Địa chỉ : 43 Trần Duy Hưng – Trung Hòa – Cầu Giấy – Hà Nội

Trường ĐH LĐ-XH với tiền thân từ trường Trung học Lao động Tiền lươngthuộc Bộ Lao động thành lập năm 1961 có nhiệm vụ đào tạo cán bộ lao độngtiền lương cho toàn miền bắc

- Tháng 1/1997 trường được nâng cấp lên thành trường Cao đẳng Lao động

Xã hội

- Tháng 1/ 2005 trường trở thành trường Đại học Lao động – Xã hội

Trường Đại học Lao động - Xã hội chịu sự lãnh đạo và quản lý trực tiếpcủa Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội; chịu sự quản lý nhà nước về giáodục của Bộ Giáo dục - Đào tạo; chịu sự quản lý hành chính theo lãnh thổ của Uỷban nhân dân Thành phố Hà Nội

Hệ thống cơ cấu tổ chức trường Đại học Lao động - Xã hội bao gồm

Trang 12

- Trung tâm đào tạo bồi dưỡng cán bộ công chức, trung tâm thông tin- Thưviện và các tổ chức sự nghiệp phục vụ đào tạo và nghiên cứu khoa học.

- Các tổ chức đoàn thể

Trường có biên chế 350 người, trong đó 72 % là giảng viên, 60% giảngviên là phó giáo sư, tiến sỹ và thạc sỹ, 30% đang học nghiên cứu sinh và cao họctrong và ngoài nước

45 năm qua trường đã đào tạo và bồi dưỡng được trên 30.000 cán bộ Laođộng – Xã hội phục vụ cho ngành Lao động – Thương binh và Xã hội và cácngành kinh tế quốc dân cho cả nước

2 Sơ lược về sinh viên trường Đại học Lao động – Xã hội

Sinh viên là người học tập tại các trường đại học, cao đẳng Ở đó họ đượctruyền đạt kiến thức bài bản về một ngành nghề, chuẩn bị cho công việc sau nàycủa họ Họ được xã hội công nhận qua những bằng cấp đạt được trong quá trìnhhọc Quá trình học của họ theo phương pháp chính quy, tức là họ đã phải trải quabậc tiểu học và trung học

Hiện tại, Trường Đại học Lao động – Xã hội đang đào tạo các sinh viên 5chuyên ngành chính gồm CTXH ,QLNNL, QTKD, BH, KT , các sinh viên thuộc

du học sinh, ngành kỹ thuật chỉnh học, sinh viên cao học ,…

Có thể thấy, giữa sinh viên và học sinh THPT có những đặc điểm rất khác,

cụ thể :

1. Tự do và Không bị sự kìm kẹp của phụ huynh;

2. Tự chọn chuyên ngành, hướng đi cho bản thân;

3. Phải biết tích lũy kiến thức;

4. Nhiều môn học mới;

5. Tự lập kế hoạch học tập cho bản thân;

Ngày đăng: 11/11/2019, 15:44

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w