1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

SKKN VOCABULARY IN ACTION học từ vựng qua hành động

25 37 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 25
Dung lượng 749,29 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục đích nghiên cứu của đề tài là nhằm tìm hiểu những khó khăn, trở ngại trongviệc học từ vựng tiếng Anh của học sinh lớp 10, tìm hiểu những phương pháp dạy họcmới để từ đó xác định các

Trang 1

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Trang 2

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Trang 3

VOCABULARY IN ACTION

(Học từ vựng qua hành động)

1 PHẦN MỞ ĐẦU

1.1 Lý do chọn đề tài:

Ngày nay để đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế xã hội và hội nhập toàn cầu thì việc

sử dụng tiếng Anh trong giao tiếp đóng một vai trò hết sức quan trọng Hiện nay tiếngAnh là ngôn ngữ quốc tế và là công cụ giao tiếp, trao đổi, giao lưu văn hóa, thươngmại

Biết và sử dụng thành thạo tiếng Anh đã trở thành một yêu cầu về chất lượng nguồnnhân lực của thời đại mới Tiếng Anh cũng đã trở thành một trong các môn học cơ bản

mà học sinh cần phải học trong chương trình phổ thông

Việc dạy học tiếng Anh trong trường phổ thông đã có những thay đổi lớn về nộidung cũng như phương pháp giảng dạy để phù hợp với mục tiêu và yêu cầu đặt ra cho

bộ môn này trong chương trình cải cách Quan điểm cơ bản nhất về phương pháp mới

là làm sao phát huy được tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học và tạo điềukiện tối ưu cho người học rèn luyện phát triển khả năng ngôn ngữ vào mục đích giaotiếp chứ không phải chỉ cung cấp kiến thức một cách thuần túy

Mục đích nghiên cứu của đề tài là nhằm tìm hiểu những khó khăn, trở ngại trongviệc học từ vựng tiếng Anh của học sinh lớp 10, tìm hiểu những phương pháp dạy họcmới để từ đó xác định các cách để nâng cao việc hình thành và phát triển kỹ năng giaotiếp bằng tiếng Anh cho học sinh, cụ thể là giúp học sinh lớp 10 có thể học từ vựngtiếng Anh một cách hiệu quả nhất Làm sao để học sinh không chỉ nhớ từ vựng mà cònbiết cách sử dụng từ vựng đó trong các hoàn cảnh khác nhau, biết cách tạo ra nhữngcuộc giao tiếp bằng tiếng Anh trong những môi trường khác nhau Làm sao để các em

có thể giao tiếp được như người bản xứ với vốn từ phong phú… đó là câu hỏi mà tôi

Trang 4

hành động ( Vocabulary in action).

1.2 Điểm mới của đề tài nghiên cứu :

Đề tài nghiên cứu giúp giáo viên cập nhật xu hướng đào tạo hiện đại, dạy học bằngtrải nghiệm, thông qua các hoạt động, trò chơi để học từ vựng có trong bài khoá giúphọc sinh không chỉ nhớ từ nhanh hơn, lâu hơn mà còn hiểu rộng hơn chủ đề văn hoá, xãhội mà bài học đề cập tới Cao hơn thế, thông qua các hoạt động mới mẻ này, học sinhđược rèn luyện thêm nhiều kỹ năng sống khác như kỹ năng tự tìm kiếm thông tin, kỹnăng tự học, kỹ năng làm việc nhóm, kỹ năng thuyết trình, khả năng phản xạ nhanhtrong các tình huống…

1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: học sinh lớp 10 Trường THPT Lê Hồng Phong xã Quảng Hòa,Thị xã Ba Đồn

- Phạm vi nghiên cứu : Đề tài tập trung nghiên cứu và ứng dụng các phương pháp dạyhọc tích cực và hướng tới rèn luyện năng lực trong việc dạy học từ vựng môn tiếng Anhlớp10

Phương pháp nghiên cứu: chọn một phương pháp dạy từ vựng mới (áp dụng ngữ cảnh

thực trong giờ học từ vựng tiếng Anh), nghiên cứu, phân tích, áp dụng phương pháp đó

và sau đó quan sát sự tiến bộ của học sinh, đánh giá sự thay đổi chất lượng học tậpthông qua các bài kiểm tra để kiểm tra mức độ nhớ từ mới của học sinh, từ đó rút ra đềxuất kiến nghị

2 NỘI DUNG

2.1 Thực trạng vấn đề

Việc học môn tiếng Anh hiện nay tại trường phổ thông trung học đang được thựchiện chủ yếu theo phương pháp truyền thống, học sinh ít hào hứng học tập dẫn đến kếtquả học tập chưa cao, học sinh mới chỉ dừng lại ở mức độ học thuộc từ mới và mẫucâu, sử dụng lặp lại không có sáng tạo và lúng túng khi phải áp dụng vào tình huống cụthể giống như trong đời thực Các phương pháp sư phạm đã có cải tiến hơn so với trướcđây, tuy nhiên nó được đưa ra giống nhau cho hầu như tất cả các bài học: phương pháplàm việc cặp đôi, điền từ vào chỗ trống, quyết định câu đúng, câu sai, … khiến cho việc

Trang 5

học trở nên nhàm chán, học từ vựng thì lâu nhớ nhưng quên thì rất nhanh Bài họcthường có khối lượng từ mới nhiều khiến cho việc học trở nên nặng nề, học sinh ngạihọc Việc tìm hiểu văn hoá của đất nước nói tiếng Anh gần như không được khai tháctriệt để khiến cho học sinh không được mở rộng hiểu biết về văn hoá xã hội và hội nhậptoàn cầu, không rèn luyện được các năng lực cần thiết cho công dân thế kỷ 21.

Vì thế, việc học từ vựng tiếng Anh thông qua hành động (Vocabulary in action) nhưcác trò chơi mô phỏng, các câu đố, đóng kịch, quay phim…sẽ là một giải pháp hữu íchgiúp cho học sinh không chỉ học từ vựng tốt hơn mà còn phát triển được nhiều năng lựccần thiết, đáp ứng yêu cầu đổi mới trong nhà trường, phát huy tính tích cực chủ độngcủa học sinh và tạo hứng thú cho học sinh trong quá trình học tập môn tiếng Anh

2.2 Nội dung và giải pháp thực hiện

2.2.1 Cơ sở lí luận của vấn đề

Mục đích của việc học một ngoại ngữ là gì:

Theo PGS.TS Bùi Hiền, sử dụng ngoại ngữ có hai mục đích chính Thứ nhất, đểnắm bắt thông tin về mọi mặt của đời sống xã hội từ phía nước ngoài có lợi cho cộngđồng dân tộc mình Đây được xem là mục đích hướng nội Thứ hai, ngoại ngữ dùng đểchuyển tải thông tin về mọi mặt đời sống xã hội từ trong nước đến với các đối tác nướcngoài Đây là mục đích hướng ngoại Từ mục đích thực dụng ngoại ngữ nêu trên giữ vaitrò chính trong việc lựa chọn các nội dung và phương pháp để xây dựng những chươngtrình dạy – học ngoại ngữ phù hợp cho từng mục đích để nhanh chóng đạt được chấtlượng và hiệu quả dạy – học tối đa

( Trích bài phát biểu của PGS.TS Bùi Hiền tại hội thảo chuyên đề với chủ đề “Giáo học pháp ngoại ngữ” Khoa Quốc tế - Đại học Quốc gia Hà Nội (ĐHQGHN).

Như vậy, học một ngoại ngữ là phải sử dụng được ngôn ngữ đó một cách phù hợptrong từng hoàn cảnh khác nhau Học một ngoại ngữ được hiểu là không chỉ học chữviết của ngôn ngữ đó, mà còn học cách biểu đạt ngôn ngữ đó qua giọng nói và qua hành

vi (phi ngôn từ) bao gồm học cả văn hoá của quốc gia đó Đó chính là học cách giaotiếp bằng ngôn ngữ đó như một công dân của quốc gia đó Như vậy chúng ta thấy họctiếng Anh mà chỉ học từ ngữ thôi là chưa đủ Học sinh cần được học cả bối cảnh sử

Trang 6

dụng từng câu chữ, học cả nền văn hoá của nước Anh và những quốc gia sử dụng tiếngAnh, học cách giao tiếp bằng tiếng Anh Và phương pháp dạy học nào là phù hợp ở giaiđoạn này là một câu hỏi lớn dành cho các giáo viên dạy tiếng Anh nói riêng và các giáoviên dạy ngoại ngữ nói chung ở các trường phổ thông tại Việt nam.

Vai trò của Giao tiếp trong cuộc sống, vai trò của giao tiếp trong việc học ngoại ngữ Tầm quan trọng của các yếu tố trong giao tiếp:

Theo như nghiên cứu của cựu giáo sư tâm lý học của trường đại học UCLA tên làAlbert Mehrabian, người tìm ra quy luật 7-38-55, mối tương quan giữa các yếu tố tronggiao tiếp được thể hiện như sau:

Các yếu tố trong giao tiếp

Từ ngữ Giọng nói Phi ngôn từ

Quy luật này nói rằng 55% quá trình giao tiếp không liên quan đến việc sử dụng từngữ, mà liên quan đến ngôn ngữ cơ thể, vẻ mặt khi nói chuyện; 38% liên quan đến ngữđiệu, chẳng hạn âm lượng, giọng nói, sự diễn cảm trong cách diễn đạt… và chỉ có 7% liênquan đến ngôn từ

Điều này cho thấy cách học và dạy học truyền thống là sử dụng từ ngữ như mộtphương tiện chủ yếu (học qua sách giáo khoa, sử dụng bảng , phấn) là không đầy đủ, nhất

là với bộ ngôn ngoại ngữ, một môn học gắn liền với giao tiếp Nó chỉ đảm bảo được 7%của quá trình giao tiếp mà thôi Việc dạy và học ngoại ngữ đã có thay đổi khi đưa việcnghe băng đĩa và thực hành đóng vai vào chương trình học cũng đã cải thiện đáng kể chấtlượng học tập Nhưng dựa vào nội dung của quy luật 7-38-55 thì chúng ta thấy vẫn còn55% quá trình giao tiếp vẫn chưa được khai thác hết nếu chúng ta chỉ dừng lại ở đây Vàtôi đã trăn trở đi tìm kiếm cách thức để có thể tối ưu hoá 55% còn lại này

Tầm quan trọng của yếu tố phi ngôn từ trong giao tiếp:

Giao tiếp phi ngôn từ là giao tiếp bằng các tín hiệu không phải là ngôn ngữ mà bằng

Trang 7

sự chuyển động của thân thể, của cơ mặt, trang phục, điệu bộ, giọng nói (ngôn ngữ cơthể), bài trí không gian, âm nhạc, màu sắc, vật thể, khoảng cách ( ngôn ngữ môi trường)

* Ngôn ngữ cơ thể ( Body language):

Những kí hiệu phi ngôn từ như cử chỉ, nét mặt, tư thế điệu bộ là phương tiện hếtsức quan trọng trong giao tiếp của con người Chúng được gọi chung là ngôn ngữ cơthể

Có các loại ngôn ngữ cơ thể như sau:

- Những biểu tượng: Đó là một hình thức ngôn ngữ dấu hiệu, thay thế hoàn toàn nhữngthông điệp bằng lời nói, hay còn gọi là yếu tố phi ngôn từ Ví dụ : giơ ngón tay trỏ vàngón tay giữa tạo hình chữ V, ngửa lòng bàn tay ra ngoài, các ngón tay còn lại khumvào một cách tự nhiên được hiểu là ký hiểu của “thắng lợi” ( Victory)

- Những minh hoạ: Ví dụ: vẫy tay khi muốn ai đó tới gần chỗ mình, xua tay thể hiện sự

từ chối

- Những biểu cảm: gật đầu kèm theo mỉm cười có thể hiểu là đồng tình với thông điệpphát ra; lắc đầu kèm theo mặt đỏ gay gắt, tay nắm chặt kiểu nắm đấm được hiểu là sựphản đối, không đồng tình hoặc đôi khi là sự phản ứng dữ dội của người nhận thôngđiệp, bĩu môi thể hiện thái độ khinh thường, chê bai, nhướn mắt, há hốc miệng thể hiện

sự ngạc nhiên…

- Những điều chỉnh: là những động tác phi ngôn từ được dùng khi chúng ta muốn điềuchỉnh tác động của lời nói Ví dụ: nghiêng đầu, gật gù, mắt nhìn vào người nói biểuhiện sự khuyến khích “ nói tiếp đi”; động tác phẩy tay được hiểu là “ thôi đừng nóinữa”…

- Sự đi đứng, thế ngồi: Ví dụ: đi nhanh, gần như chạy thể hiện sự vội vàng, gấp gáp; đichậm chạp, vừa đi vừa ngắm nghía xung quanh, vừa hát thể hiện sự bình thản Ngồi bógối, mắt nhìn ưu tư thể hiện sự lo âu, suy nghĩ…

- Hành vi đụng chạm: là hành vi phi ngôn từ khá phổ biến của con người như bắt tay,

vỗ vai, ôm hôn Cách bắt tay cũng thể hiện tính cách của con người hoặc thể hiện mốiquan hệ giữa hai người

Trang 8

- Trang phục, trang điểm, đồ trang sức: người ta cũng đánh giá nhau khi mới tiếp xúcthông qua trang phục, Người ta phán đoán về tâm lý, tính cách con người thông quanhững thông tin này: người cẩn thận hay người tuỳ tiện, người cầu kỳ hay người giảndị,…

* Ngôn ngữ môi trường ( Environmental language):

Môi trường là không gian, địa điểm, thời gian, ánh sáng, nhiệt độ, âm nhạc là bốicảnh trong đó diễn ra quá trình giao tiếp Nó thể hiện đặc điểm phong tục tập quán, vănhoá, xã hội của các dân tộc, các quốc gia và địa phương khác nhau Một lễ hội củangười Pháp được tổ chức trong một không gian khác với người Anh, khác với người

Mỹ Một lễ cưới ở Hà nội được tổ chức khác với Sài gòn hay Quảng Bình…

Như vậy chúng ta hoàn toàn có thể dựa trên những đặc điểm nêu trên về quá trình giao tiếp phi ngôn từ để thiết kế bài học từ vựng thông qua hành động Hay nói một cách khác là áp dụng những đặc điểm của giao tiếp phi ngôn từ vào trong việc dạy từ vựng của môn tiếng Anh thông qua hành động.

Những đặc điểm tâm- sinh lý của học sinh trung học phổ thông

Thời kỳ tuổi học sinh trung học phổ thông là thời kỳ phát triển phức tạp hoá cácchức năng của não (phân tích, tổng hợp), có ý thức về việc học, biết quan sát có mụcđích, có khả năng tư duy trừu tượng và tư duy lý luận, có nhu cầu giao tiếp rất cao,tham gia vào nhiều nhóm giao tiếp khác nhau Tuổi này cũng có nhu cầu tìm tòi khámphá, thích thể hiện “văn hoá nhóm” qua thị hiếu, trang phục, phong cách giao tiếp… Bối cảnh giao lưu quốc tế hiện nay: Lối sống hiện đại khởi sự từ Mỹ thông qua báochí, phim ảnh, thông tin trên mạng… đang ngập tràn khắp nơi trên thế giới và ở ViệtNam các em không hề có khó khăn gì để truy cập các thông tin đó Việc đọc sách giấydần đang được chuyển thành xem video, xem youtube, đọc tin tức trên các trang mạng.Phương pháp tiếp thu các kiến thức cũng đã thay đổi Phương pháp giảng bài truyềnthống bằng bảng và phấn viết dường như không đủ để các em tiếp nhận thông tin Nhịpsống hiện đại khiến các em cần một phương pháp năng động hơn, trực quan hơn vànhiều trải nghiệm hơn để tiếp thu kiến thức được nhanh hơn và nhiều hơn

Ở Việt Nam tại một số thành phố và tỉnh thành, nhà trường đã có trang bị máy chiếu

Trang 9

cho các lớp học, giúp học sinh được tiếp cận với công nghệ mới, học trên các slide bàigiảng được thiết kế với nhiều màu sắc, nhiều minh hoạ hơn Việc đổi mới phương phápdạy học, đổi mới cách sử dụng các giáo cụ trực quan hiện đại và cho phép học sinh trảinghiệm là điều tất yếu, nhất là với bộ môn ngoại ngữ.

Trong bối cảnh như vậy, việc lên lớp dạy học bộ môn ngoại ngữ theo phong cách truyền thống sẽ không theo kịp với suy nghĩ và nhu cầu của học sinh thời nay Việc phải hiện đại hoá và cải tiến phương pháp dạy học môn ngoại ngữ nói chung và môn tiếng Anh nói riêng trở thành một nhu cầu cấp bách.

Dạy học theo định hướng hình thành và phát triển năng lực người học

Theo những nghiên cứu gần đây về phương pháp giáo dục, các nhà nghiên cứu chothấy trong quá khứ, việc dạy học tập trung vào việc người học lĩnh hội nội dung kiếnthức từ hệ thống chương trình, sách giáo khoa, dựa trên kinh nghiệm truyền đạt củagiáo viên Kết quả được thể hiện ở chỗ người học trả lời được câu hỏi đã biết được cái

gì mà ít chú ý tới việc vận dụng kiến thức đó vào thực tiễn Người học tiếp thu đượccàng nhiều kiến thức càng tốt, ít quan tâm tới việc tạo ra các sản phẩm từ những điều đãhọc được Ngày nay, tri thức thay đổi và bị lạc hậu nhanh chóng; do đó việc rèn luyệnphương pháp học tập theo hướng tiếp cận năng lực ngày càng có ý nghĩa quan trọngtrong việc chuẩn bị cho học sinh có khả năng học tập suốt cuộc đời Từ đó, với cácphương pháp dạy học theo định hướng này sẽ giúp học sinh không chỉ có được nhữngkiến thức cần thiết mà quan trọng hơn là có được những năng lực cần thiết: năng lựcchuyên môn, năng lực phương pháp, năng lực xã hội và năng lực cá nhân Những nănglực này không tách rời nhau mà có mối quan hệ chặt chẽ để tạo nên năng lực hành độngcho mỗi học sinh Nội dung học tập cần được xây dựng thành các hoạt động, các chủ

đề, nhiệm vụ đa dạng gắn với thực tiễn Học sinh sẽ được học thông qua các hoạt độngtrải nghiệm, giải quyết những vấn đề thực tiễn Theo phương pháp này, việc đánh giákết quả học tập không chỉ là điểm số qua mỗi bài kiểm tra trên giấy, mà còn là đánh giácác năng lực nêu trên của từng học sinh Việc học tiếng Anh, cụ thể là học từ vựngtiếng Anh sẽ không chỉ dừng lại ở việc thuộc từ vựng, biết cách đặt câu với từ đó, biếtđọc từ đó và nói một câu, mà học sinh sẽ cần phải biết cách sử dụng từ vựng đó trong

Trang 10

từng hoàn cảnh khác nhau, từng thời gian khác nhau, sử dụng từ vựng đó với các biểucảm khác nhau, áp dụng cho từng tính cách người sử dụng khác nhau, mục đích giaotiếp khác nhau Học sinh cần phải biết cách “sống” như người bản xứ khi sử dụng từvựng đó

Theo phương pháp này, phương pháp dạy học của giáo viên cần được đổi mới và thểhiện như sau:

- Dạy học thông qua tổ chức liên tiếp các hoạt động học tập thông qua đó học sinh tựkhám phá những điều chưa biết chứ không phải thụ động tiếp thu những tri thức đượcsắp đặt sẵn Như vậy, giáo viên là người tổ chức và chỉ đạo học sinh tiến hành các hoạtđộng học tập như nhớ lại kiến thức cũ, phát hiện kiến thức mới, vận dụng sáng tạo kiếnthức đã biết vào các tình huống học tập hoăc tình huống thực tiễn

- Giáo viên chú trọng rèn luyện cho học sinh những phương pháp để họ biết cách đọcsách giáo khoa và các tài liệu học tập, biết cách tự tìm lại những kiến thức đã có, biếtcách suy luận để tìm tòi và phát hiện kiến thức mới… Giáo viên cần rèn luyện cho họcsinh các thao tác tư duy như phân tích, tổng hợp, đặc biệt hoá, khái quát hoá…để dầnhình thành và phát triển tiềm năng sáng tạo của học sinh

- Tăng cường học tập theo nhóm để phát triển kỹ năng thảo luận theo đó học sinh vừaphát huy khả năng tự lực một cách độc lập vừa biết cách hợp tác chặt chẽ với nhautrong quá trình phát hiện và tìm tòi cái mới

- Giáo viên nên chú trọng đánh giá kết quả học tập theo mục tiêu bài học trong suốt tiếntrình dạy học thông qua hệ thống câu hỏi, bài tập Chú trọng phát triển kỹ năng tự đánhgiá và đánh giá lẫn nhau của học sinh với nhiều hình thức theo đáp án mẫu, theo hướngdẫn hoặc tự xác định tiêu chí để có thể phê phán, tìm được nguyên nhân và nêu cáchsửa chữa các sai sót

Như vậy, các hoạt động học tập của học sinh bao gồm hoạt động khám phá vấn đề,hoạt động luyện tập và hoạt động ứng dụng thực hành (ứng dụng những điều đã học đểphát hiện và giải quyết những vấn đề có thực trong đời sống) sẽ được thực hiện với sự

hỗ trợ của thiết bị dạy học có sẵn tại nhà trường, đồ dùng học tập và công cụ khác,trong thời đại công nghệ hiện đại, việc áp dụng công nghệ tin học và hệ thống tự động

Trang 11

hoá của kĩ thuật số sẽ làm phong phú thêm việc dạy và học.

- Trên thế giới, đã có nhiều quốc gia áp dụng khung năng lực chung cho việc dạy vàhọc tại trường phổ thông

- Ở Việt Nam, vấn đề dạy học theo tiếp cận năng lực sớm được đưa vào nguyên lý giáodục trong nhà trường Bộ Giáo dục và đào tạo đã xác định các năng lực chung được tất

cả các môn học và hoạt động giáo dục góp phần hình thành, phát triển là: năng lực tựchủ học tập, năng lực giao tiếp và hợp tác, năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo,những năng chuyên môn được hình thành và phát triển thông qua các môn học nhưngôn ngữ, toán, năng lực tìm hiểu tự nhiên và xã hội, năng lực công nghệ, tin học, thẩm

mĩ, năng lực thể chất

- Ở Quảng Bình và ở trường PTTH Lê Hồng Phong, cụ thể với môn học tiếng Anh cholớp 10, chúng tôi ngoài việc dạy học theo đúng nội dung yêu cầu của bộ Giáo dục vàđào tạo, luôn tìm kiếm những nội dung và phương pháp mới để có thể nâng cao cácnăng lực nêu trên cho học sinh của trường

Với những lý thuyết trên, tôi xin vận dụng vào việc dạy từ vựng thông qua hoạtđộng cho một số bài học tiếng Anh dành cho học sinh lớp 10

2.2.2 Nội dung, giải pháp và cách thức thực hiện

Nội dung nghiên cứu và giải pháp

Chuyển ngôn ngữ âm thanh thành ngôn ngữ cơ thể trong các tình huống thực

Trang 12

The students get on the bus (học sinh lên xe buýt)

Miệng sẽ nói câu nói trên và kèm với hành động chân bước lên và tưởng tượngphía trước là xe buýt Và xung quanh học sinh là bus stop (trạm xe buýt), streets(đường)

Khi học sinh làm hành động bước lên xe buýt và mọi quan cảnh học sinh đangđứng là đang ở trên xe buýt Miệng học sinh sẽ nói: passengers (hành khách), driver (tàixế), seats (ghế)…

Trong tình huống này học sinh có thể thu được một lượng từ vựng liên quan đếncùng 1 chủ đề và đúng trong ngữ cảnh đó

Học sinh có thể tiếp tục tình huống thực tế khác như sau:

I get off the bus (xuống xe buýt) Now I am at a hotel (Tôi đang ở một khách sạn)

I can see a security, a doorman Học sinh có thể làm hành động của một người đàn ôngđứng tại cửa của khách sạn, đóng và mở cửa và nói: doorman

Sau đó học sinh đang ở trong không gian của một sảnh của khách sạn Mọi thứxung quanh trước mắt và học sinh có thể nói cái vật thể mình có thể thấy được và gọitên tiếng Anh

Qua các hành động trên học sinh có thể ghi nhớ từ vựng qua hình ảnh thực tế hoặctrong trí tưởng tượng của mình Điều quan trọng là học sinh phải luôn nói tiếng Anh vàliên tưởng đến vật thể mình đang muốn nói tới và không chuyển sang ngôn ngữ mẹ đẻ

TÌNH HUỐNG 2:

Ngày đăng: 11/11/2019, 12:18

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w