1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Hướng dẫn học sinh cách làm bài văn nghị luận về tác phẩm văn học lớp 9

23 204 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 23
Dung lượng 207 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

về các vấn đề, khía cạnh đặt ra trong tácphẩm, từ đó hình thành các kĩ năng, để có thêm kinh nghiệm về cách làm, viết hay bài văn nghị luận về tác phẩm văn học.. Vì vậy, trongquá trình g

Trang 1

học Văn, khi tiếp xúc với các tác phẩm văn chương, học sinh cảm thụ những

vẻ đẹp muôn màu của cuộc sống, hướng các em tới đỉnh cao của chân, thiện,

mỹ Văn chương "chắp đôi cánh" để các em đến với mọi thời đại văn minh,với mọi nền văn hoá, xây dựng trong các em những tư tưởng tình cảm sâu sắc,tinh tế, niềm tin vào cuộc sống, con người

Trong những năm gần đây, việc dạy văn đã và đang trở thành một “điểmnóng” ngày càng thu hút sự quan tâm của toàn xã hội Dư luận cho rằng, họcsinh hiện nay không thích học văn, thậm chí các em không thích đọc truyện,đặc biệt là các tác phẩm văn học Nhiều ông bố, bà mẹ đã than phiền rằng con

họ không thích đọc sách văn học Phần lớn các em chỉ thích đọc truyện tranh,lướt web hay xem facebook Có thầy giáo đã nhận xét: “Đối với môn Văn, đã

từ lâu vẫn tồn tại tình trạng nhiều học sinh học theo kiểu đối phó, các em lườiđọc, lười suy nghĩ về tác phẩm, không chú trọng kĩ năng diễn đạt” (NguyễnQuỳnh Hoa: Vài suy nghĩ về bài thi môn Văn tốt nghiệp THPT Tạp chí Vănhọc và Tuổi trẻ Số 9 2007.Tr18) Vì vậy, nhiệm vụ của người giáo viên dạyvăn là phải làm cho học sinh hiểu được cái hay, cái đẹp của tác phẩm văn học,kích thích sự hứng thú học văn cho học sinh Một giờ dạy văn là phải tạo rađược những rung động thẩm mĩ sâu sắc khiến người học say mê; có khả năngcảm nhận, phân tích, đánh giá về các vấn đề, khía cạnh đặt ra trong tácphẩm, từ đó hình thành các kĩ năng, để có thêm kinh nghiệm về cách làm, viết

hay bài văn nghị luận về tác phẩm văn học

Để viết được bài văn hay đạt điểm cao là ước muốn và cũng là sự bănkhoăn của rất nhiều học sinh Thực tế, nhiều em chăm chỉ học tập, chịu khóđọc sách và kiên trì rèn luyện nhưng kết quả bài làm vẫn không như mongmuốn Vậy, làm thế nào để giúp học sinh viết được bài văn đạt điểm cao? Đây

là cả một vấn đề lớn mà những giáo viên dạy văn luôn suy nghĩ, trăn trở trongquá trình dạy học

Bản thân được nhà trường phân công giảng dạy khối lớp 9, tôi khôngngừng tìm tòi, nghiên cứu để tìm ra các phương pháp hay giúp học sinh tiếpcận kiến thức hình thành các ý tưởng để sáng tạo trong làm bài Vì vậy, trongquá trình giảng dạy, tôi luôn trân trọng, đánh giá cao những bài làm có nétriêng, thể hiện được những cảm xúc chân thật, những nhận xét, phân tích tinh

tế, sáng tạo của các em đối với một tác phẩm (đoạn trích), một hình ảnh, mộtchi tiết truyện, một nhân vật (một vấn đề hay một khía cạnh của vấn đề thểhiện trong tác phẩm…) Đó chính là nguồn động viên giúp tôi đầu tư và quyết

định tổng hợp các kinh nghiệm về những phương pháp “Hướng dẫn học sinh

Trang 2

cách làm bài văn nghị luận về tác phẩm văn học lớp 9”, hi vọng rằng những

kinh nghiệm này phần nào giúp học sinh tháo gỡ những vướng mắc khi viếtbài văn nghị luận về tác phẩm văn học ở trường THCS

1.2 Điểm mới trong sáng kiến.

Nghị luận về tác phẩm văn học là một kiểu bài nghị luận có vị trí quantrọng trong chương trình Tập làm văn lớp 9 Thông qua việc đọc và tìm hiểutác phẩm văn học, học sinh chẳng những có vốn kiến thức khá phong phú về

văn học (tác phẩm, thể loại …) mà còn được nâng cao dần về năng lực cảm thụ, phân tích, bình giảng tác phẩm nhằm phát triển năng lực và phẩm chất

của học sinh, giúp học sinh nắm vững yêu cầu và mức độ cần đạt của kiểu bài

nghị luận về tác phẩm văn học trong chương trình Đó là cơ sở để người giáo viên dạy học sinh cách viết bài bởi dạy viết là dạy cách nghĩ và phát triển tư duy; cách thức tạo lập một văn bản cách sáng tạo và giáo dục nhân cách

1.3 Phạm vi nghiên cứu:

Với sáng kiến kinh nghiệm này tôi chỉ nghiên cứu trong phạm vi hẹp Đó

là chỉ ra mục đích của dạy viết văn cũng như đưa ra một số phương pháphướng dẫn học sinh viết bài nghị luận về tác phẩm văn học ở trường THCS,đặc biệt là khối lớp 9

Đối tượng hướng dẫn ở đây không chỉ là học sinh học khá, giỏi bộ mônNgữ văn mà là học sinh đại trà ở các lớp

1.4 Phương pháp nghiên cứu:

Phương pháp miêu tả, so sánh đối chiếu, thống kê, phân tích, tổng hợp Phương pháp chủ yếu khảo sát, nắm bắt tình hình thực tiễn và đúc rútkinh nghiệm trong quá trình giảng dạy hàng năm để tìm ra phương pháp haynhất

2 PHẦN NỘI DUNG.

2.1 Thực trạng việc dạy và học viết bài văn nghị luận về tác phẩm

văn học ở trường THCS

Trong những năm gần đây, học sinh khối THCS nói chung và lớp 9 nóiriêng viết Tập làm văn kiểu bài Nghị luận về tác phẩm văn học thường khôcứng, sáo rỗng, lúng túng và máy móc; không biết cách hình thành và triểnkhai luận điểm bằng một đoạn văn hay khi sử dụng dẫn chứng các em thườngmắc những lỗi như bài viết thiếu dẫn chứng khiến ý kiến trở thành suy diễn,đưa dẫn chứng mà không phân tích nên ý nghĩa thiếu rõ ràng, dẫn chứng lạcnội dung vấn đề ; lập luận thiếu chặt chẽ, diễn đạt vụng về, lủng củng….Các em thường dựa vào văn mẫu hoặc dựa vào các ý trong đề cương hay trongdàn ý thầy cô cho sẵn mà viết lại nên rất hạn chế về mạch cảm xúc (khôngchân thật, còn gượng ép …) Rất ít học sinh chịu khó tìm tòi, khám phá ra cácý mới, ý riêng, ý sâu sắc, ý hay do chính bản thân các em cảm nhận, thật sựrung động với tác phẩm

Mặt khác, đa số các em học sinh thường không tìm hiểu kĩ đề bài và tìm ýtrước khi bắt tay vào làm bài viết của mình nên thường lệch lạc kiểu bài, nhầmlẫn các dạng đề Đề bài nghị luận về tác phẩm văn học thường có các dạng đề

Trang 3

mệnh lệnh và “mở” Các mệnh lệnh thường gặp là “suy nghĩ”, “phân tích” (vềnhân vật, tác phẩm…), “cảm nhận của em” (về nhân vật, tác phẩm ) Màtrong chương trình Ngữ văn 9, tập hai có sáu tiết cung cấp kiến thức về nghịluận văn chương (Nghị luận về thơ và nghị luận về truyện) nhưng lại không cómột tiết học nào dạy về cách làm bài cụ thể ở hai dạng phân tích và suy nghĩ,cảm nhận Trong thực tế, đề môn Ngữ văn thi vào THPT hay kì thi học sinhgiỏi các cấp thì ngày càng tăng cường kiểm tra sự vận dụng sáng tạo kiến thức

đã học của học sinh với hai yêu cầu cụ thể là phân tích và cảm nhận

Về phía giáo viên, không ít thầy cô còn e ngại khi dạy phân môn Tập làmvăn Qua nhiều năm theo dõi phong trào thi đua dạy tốt ở trường, tôi nhậnthấy giáo viên thường chỉ đăng kí dạy phân môn Giảng văn và Tiếng Việt Bởidạy phân môn Tập làm văn nhất là kiểu bài Nghị luận về tác phẩm văn học,giáo viên phải tìm tòi nghiên cứu kĩ về tác phẩm Đối với tác phẩm thơ phảihiểu rõ nội dung tư tưởng, nghệ thuật như nhịp điệu, cách gieo vần, cấu trúc,hình ảnh, ngôn từ, giọng điệu , đối với tác phẩm truyện phải thực sự nhậptâm vào cốt truyện, vào nhân vật, phải đặt mình trong hoàn cảnh, suy nghĩ vàhành động của nhân vật; nắm vững đặc trưng thể loại, đòi hỏi giáo viênphải vận dụng, tổng hợp nhiều kiến thức, kĩ năng kể cả vốn sống, tư tưởngtình cảm Vì vậy, giáo viên phải tìm ra phương pháp tích hợp giữa văn và đời,giữa thực tại và hư cấu Nếu thực hiện được như thế, mới có thể đảm bảođược đặc trưng của phân môn: “Dạy văn - dạy người” như nhà văn M.Go-rơ-

ki từng nói: “Văn học là nhân học”

Bản thân tôi đã trực tiếp giảng dạy môn Ngữ văn, tôi nhận thấy mình vàcác đồng nghiệp còn bộc lộ một số hạn chế về phương pháp, chưa vận dụnglinh hoạt các phương pháp dạy học cũng như các biện pháp tổ chức dạy họcnhằm gây hứng thú cho học sinh trong các tiết học Tập làm văn Có nhiều ýkiến cho rằng: “chất văn” trong dạy các tiết Tập làm văn không nhiều, thườngkhô khan, thiếu sinh động nên dễ biến giờ học trở nên nhàm chán, không thực

sự thu hút sự chú ý của học sinh, chưa kích thích hứng thú và sự yêu thích củahọc sinh khi học viết văn

2.2 Các phương pháp hướng dẫn học sinh cách viết bài nghị luận về tác phẩm văn học.

2.2.1 Những yêu cầu có tính nguyên tắc khi dạy viết.

- Dạy viết là dạy cách nghĩ và phát triển tư duy.

Bản chất của dạy viết là rèn luyện tư duy cho học sinh (HS) cả tư duy hình tượng và tư duy lôgic qua đó mà giáo dục phẩm chất và phát triển nhân

cách người học Dạy viết có thể giúp HS phát triển tư duy lôgic qua việc phântích đề văn, hình thành ý tưởng, tìm ý, sắp xếp ý, sử dụng các thao tác lập luậntrong bài viết, rà soát và đánh giá bài viết Sản phẩm bài viết của HS thể hiệntổng hợp vốn sống, nhân cách, năng lực văn học, năng lực tư duy, năng lựcngôn ngữ của các em Qua bài viết, HS bộc lộ con người thực của mình, bởivậy, việc dạy viết còn giúp hình thành các phẩm chất tốt đẹp cho người học

Vì thế, khi dạy viết, giáo viên cần chú trọng yêu cầu tạo ra ý tưởng và biếtcách trình bày ý tưởng một cách sinh động, hấp dẫn, mạch lạc, sáng tạo và có

Trang 4

sức thuyết phục Nhiệm vụ trực tiếp của dạy viết trong nhà trường phổ thông

là hình thành và phát triển cho HS kĩ năng viết

Dạy viết theo yêu cầu phát triển năng lực HS trước hết đòi hỏi các em có

kĩ năng thực hành viết, còn gọi là kĩ năng tạo lập văn bản Kĩ năng tạo lập văn

bản là kết quả của một quá trình rèn luyện thường xuyên Để phát triển kĩnăng này, trong dạy viết giáo viên cần hướng dẫn HS nắm được các bước tạolập văn bản, tổ chức cho các em thực hành viết theo các bước và theo yêu cầucủa các kiểu văn bản

Quy trình tạo lập văn bản gồm các bước cơ bản như:

1) Xác định mục đích và nội dung viết;

2) Thu thập tư liệu, hình thành ý tưởng và lập dàn ý cho bài viết;

3) Viết băn bản;

4) Chỉnh sửa văn bản

Để hướng dẫn thực hiện các bước này, giáo viên cần sử dụng các câu hỏi

giúp HS xác định mục đích và nội dung viết (Viết cho ai? Viết để làm gì? Viết

về cái gì?); giới thiệu các nguồn tư liệu, hướng dẫn tìm ý tưởng, phát triển ý

tưởng và phác thảo dàn ý (ví dụ như bằng cách đặt và trả lời câu hỏi, bằng sơ

đồ tư duy); yêu cầu viết văn bản; hướng dẫn HS tự chỉnh sửa và trao đổi dựatrên tiêu chí đánh giá bài viết Thông qua mỗi bài học viết, với sự hướng dẫncủa GV, HS sẽ có thói quen viết theo quy trình

Cần chú ý tập cho HS hình thành và phát triển ý tưởng bằng những suynghĩ của chính bản thân, không dựa dẫm và nói theo ý người khác Muốn thếmột trong những cách thức là tập cho HS biết đặt và trả lời các câu hỏi xungquanh đề tài/ vấn đề đã được nêu ra Chẳng hạn, đề văn yêu cầu bàn về lòngnhân ái, cần đặt ra và trả lời các câu hỏi: Lòng nhân ái là gì? Những biểu hiện

cụ thể của lòng nhân ái? Ngược lại với lòng nhân ái là gì? Lòng nhân ái có tácdụng gì? Làm thế nào để có lòng nhân ái? Những tác phẩm văn học nào viết

về lòng nhân ái? Những sự việc, hành động cụ thể nào trong cuộc sống mà embiết chứng tỏ được lòng nhân ái? Lòng nhân ái có ý nghĩa gì đối với bản thânem

Cũng có thể dùng bản đồ tư duy để hình thành, phát triển và trình bày hệthống ý cho bài viết? Ban đầu nên hướng dẫn HS phác thảo, nêu tất cả mọi ýnghĩ liên quan đến đề tài/ vấn đề đặt ra, sau đó tiếp tục lựa chọn các ý gắn vớitrọng tâm, bỏ những ý xa vấn đề, gây tản mạn cho bài viết; sau đó sắp xếp cácý theo một bố cục và cấu trúc dàn ý phù hợp theo một hệ thống thứ bậc sau:

- Luận đề (đề tài/ vấn đề trọng tâm cần bàn bạc, làm sáng tỏ);

- Luận điểm: là các ý lớn nhằm triển khai làm sáng tỏ cho luận đề;

- Luận cứ gồm những lí lẽ và dẫn chứng nhằm làm sáng tỏ cho luận điểm;

- Lập luận là cách dẫn dắt, trình bày lí lẽ, dẫn chứng sao cho nổi bật vấn đề,hấp dẫn và tăng sức thuyết phục

Giáo viên sử dụng những phương pháp phân tích mẫu, kĩ thuật đặt câuhỏi để hướng dẫn HS hình thành dàn ý, lựa chọn cách triển khai, diễn đạt; tổchức cho HS thực hành viết văn bản theo cách: viết từng phần của văn bản(mở bài, kết bài, một hoặc một số đoạn trong thân bài) Định hướng chung của

Trang 5

các phương pháp, kĩ thuật dạy viết là HS thực hành trên cơ sở được giáo viên

hỗ trợ trong suốt quá trình học cách tạo lập văn bản, từ quan sát, phân tích vănbản mẫu, tự viết văn bản theo yêu cầu đến chỉnh sửa văn bản Sau khi viếtxong, HS cần có cơ hội nói, trình bày những gì đã viết

- Dạy viết là dạy cách thức tạo lập một văn bản.

Cũng như dạy đọc là dạy cách đọc, dạy viết tập trung dạy cách viết: từviết có hướng dẫn đến biết tự viết, biết tạo lập văn bản một cách độc lập Tíchhợp dạy viết với dạy đọc, văn bản đọc được xem là ngữ liệu mẫu để giáo viênhướng dẫn HS phân tích đặc điểm các kiểu loại văn bản, cách thể hiện ý

tưởng, ngôn ngữ biểu đạt…, từ đó yêu cầu HS tạo lập văn bản của chính mình Giáo viên nên thực hiện các bước hỗ trợ HS học viết: từ phân tích văn

bản mẫu cùng kiểu loại nhưng khác đề tài với văn bản cần viết, đến cùng HSviết một văn bản tương tự cùng kiểu loại khác đề tài, rồi yêu cầu HS tự viếtvăn bản theo yêu cầu Giáo viên cần yêu cầu HS thực hiện những nhiệm vụphức tạp hơn như thu thập thông tin cho bài viết từ nhiều nguồn; thảo luận,phân tích về tiêu chí đánh giá bài viết; biết tự chỉnh sửa, trao đổi trong nhóm

để hoàn thiện bài viết và rút kinh nghiệm sau mỗi lần viết bài Ngoài việc tiếptục phương pháp phân tích mẫu các kiểu văn bản, giáo viên cần chú ý hướngdẫn kĩ thuật viết tích cực nhằm giúp HS vừa thành thạo kĩ năng tạo lập theotừng kiểu văn bản, vừa phát triển tư duy phê phán, năng lực giải quyết vấn đề

và sáng tạo thể hiện qua bài viết

Sau khi có hệ thống ý, giáo viên cần hướng dẫn HS luyện tập diễn đạt cácý thành văn (câu văn, đoạn văn và bài văn) Đầu tiên diễn đạt một luận đề,luận điểm thành một câu văn; tiếp đến diễn đạt một luận điểm thành một đoạnvăn (ba phần) có câu mở đầu, các câu phát triển và câu kết đoạn Tập viếtđoạn văn là hết sức quan trọng, là cơ sở để viết bài văn

Đoạn văn có thể triển khai theo nhiều cách

Cách 1: Theo mô hình tổng - phân - hợp: nêu ý tổng quát (thường gọi câuchủ đề) trước, sau đó phát triển ý tổng quát bằng các chi tiết, ý nhỏ (lí lẽ vàdẫn chứng) rồi kết lại bằng ý tổng quát

Cách 2: Đoạn văn diễn dịch: nêu ý tổng quát trước, sau đó phân tích, pháttriển bằng các lí lẽ, dẫn chứng, chi tiết…làm ý tổng quát

Cách 3: Tập viết đoạn văn quy nạp bắt đầu từ các chi tiết, lí lẽ, dẫn chứng

cụ thể sau đó tổng hợp lại bằng câu khái quát…

Đây là những cách trình bày phổ biến thường dùng khi luyện tập viếtđoạn văn; khi đã thành thạo, HS có thể viết “phá cách”, không cần quá câu nệcấu trúc mà quan trọng là có ý đúng, hay và sáng tạo, biết phát triển ý mộtcách chặt chẽ, rõ ràng, giàu sức thuyết phục…

Việc hướng dẫn HS luyện tập viết bài văn thực chất cũng là cách viếtđoạn văn; trong đó mở bài (nêu vấn đề/đề tài) chính là câu mở đầu đoạn (câuchủ đề); thân bài là nhiều đoạn văn nhỏ, mỗi đoạn tương ứng với một luậnđiểm, nhằm làm sáng tỏ luận đề/ đề tài nêu ở mở bài Kết bài chính là đoạnvăn khái quát lại cho toàn bài Trong quá trình luyện tập, GV nên sử dụng cácbài tập tách ra theo các yêu cầu nhỏ, như bài tập tìm ý lớn (luận đề/ vấn đề

Trang 6

trọng tâm), bài tập phát triển luận đề (xác định các luận điểm), bài tập nêu lí lẽ

và tìm dẫn chứng; bài tập luyện viết đoạn văn quy nạp, đoạn diễn dịch, đoạntổng phân hợp, luyện viết đoạn mở bài, kết bài, luyện viết đoạn văn phát triểnmột luận điểm nào đó trong phần thân bài…

Không chỉ dạy cách viết đoạn văn, bài văn mà còn luyện tập diễn đạt; cầnchú ý hướng dẫn HS cách sử dụng từ ngữ, hình ảnh, các biện pháp tu từ để từ

viết đúng, viết hay đến viết sáng tạo, viết có chất văn Mỗi kiểu loại văn bản

có những yêu cầu về ngôn ngữ riêng Giáo viên cần hướng dẫn để HS luyệntập huy động và sử dụng ngôn ngữ cho phù hợp và có hiệu quả Chẳng hạnvới bài nghị luận ngôn ngữ cần hùng hồn, sự dụng nhiều từ/ câu khẳng định,phủ định để tăng tính thuyết phục

Sau khi viết xong, HS cần có cơ hội nói, trình bày những gì đã viết Giáoviên phải tạo cơ hội để các em được viết nhiều và phải dành thời gian để sửa

kĩ và nhận xét về các bài viết Nhờ đọc các bài viết của HS mà giáo viên biếtđược các em có những hạn chế gì cần khắc phục Những giải thích (bài họcngắn) về tiếng Việt (chính tả, dấu câu, dùng từ, ngữ pháp…) cũng có cơ sở từđấy Sau khi viết, các em có thể trao đổi cho nhau bài viết của mình và nhậnxét về bài viết của bạn

- Dạy viết là dạy cách sáng tạo và giáo dục nhân cách.

Khuyến khích sự sáng tạo, mạnh dạn thể hiện cá tính và sự độc đáo trongkhi viết là một yêu cầu hết sức quan trọng và cần thiết trong dạy học viết theođịnh hướng phát triển năng lực HS Hiện tượng học thuộc dàn ý, chép vănmẫu, lắp ghép bài văn từ Internet; viết theo khuôn mẫu một cách cứng nhắc,

vô cảm…là một thực tế khá phổ biến và cần phải khắc phục Nhất là khi xã

hội ngày càng phát triển thì yêu cầu HS biết suy nghĩ độc lập, có chính kiến,

không dựa dẫm, nói theo … ngày càng được chú trọng Vì vậy, người học cầnđược rèn luyện ở tất cả các kĩ năng trong tiếp nhận cũng như tạo lập văn bản.Theo đó, giáo viên cần có thái độ và tinh thần cởi mở trong dạy học cũng nhưnhận xét, đánh giá bài viết của HS: đề cần theo hướng mở, chấp nhận các ýkiến trái chiều, khuyến khích nhiều cách nghĩ, cách cảm nhận và cách phântích, đánh giá của HS; chấp nhận nhiều cách viết, cách thể hiện miễn là khôngphạm phải những lỗi rõ ràng như nội dung phản nhân văn, phản thẩm mĩ, saitrong dùng từ, ngữ pháp, thiếu lôgic, thiếu thuyết phục trong lập luận… Đặcbiệt cần đề cao những bài viết có ý tưởng mới mẻ, độc đáo, thể hiện rõ cá tínhcủa người viết

Với quan điểm về rèn luyện kĩ năng viết nêu trên, không phải HS nàocũng đáp ứng ngay được các yêu cầu, không thể có ngay được kết quả tốt HS

có thể viết được ít và chưa hay, còn mắc nhiều lỗi nhưng quan trọng đó là suynghĩ, cảm nhận của chính các em Điều đó, còn tốt hơn nhiều so với việc HSchỉ học thuộc lòng văn mẫu, viết lại nguyên xi những điều người khác nói,không hề có suy nghĩ nào là của chính mình Dạy văn là dạy người và gópphần giáo dục nhân cách là thế

2.2.2 Một số biện pháp hướng dẫn học sinh cách viết bài văn nghị luận tác phẩm văn học.

Trang 7

1.Tìm hiểu bài nghị luận về tác phẩm văn học.

Nghị luận văn học là bàn luận về các vấn đề văn học, có thể là tác giả, tácphẩm, ý kiến nhận định về tác phẩm, nhân vật trong tác phẩm

Đối với tác phẩm tự sự (truyện ngắn, tiểu thuyết, thơ tự sự) thì chú ýnhiều đến cốt truyện, nhân vật, tình tiết, sự kiện, tình huống truyện, nghệ thuậtthể hiện Còn với tác phẩm trữ tình cần chú ý cảm xúc của nhà thơ qua hìnhảnh, âm điệu, ngôn ngữ thơ, nhịp thơ, vần thơ, biện pháp nghệ thuật, khônggian và thời gian nghệ thuật…

Dù là tác phẩm trữ tình hay tự sự thì trong quá trình phân tích cũng cần cónhững nhận xét đánh giá của người viết về nội dung và nghệ thuật của tácphẩm

Trong chương trình Ngữ văn 9, Nghị luận về tác phẩm văn học có haidạng: Nghị luận về tác phẩm truyện (hoặc đoạn trích) và nghị luận về mộtđoạn thơ, bài thơ

Nghị luận về tác phẩm truyện (hoặc đoạn trích) là trình bày những nhậnxét, đánh giá của mình về nhân vật, sự kiện, chủ đề hay nghệ thuật của một tácphẩm cụ thể Những nhận xét, đánh giá về truyện phải xuất phát từ ý nghĩacủa cốt truyện, tính cách, số phận của nhân vật và nghệ thuật trong tác phẩmđược người viết phát hiện và khái quát Các nhận xét, đánh giá về tác phẩmtruyện trong bài nghị luận phải rõ ràng, đúng đắn, có luận cứ và lập luậnthuyết phục Bài nghị luận về tác phẩm truyện phải có bố cục chặt chẽ, mạchlạc, có lời văn chuẩn xác, gợi cảm

Nghị luận về một bài thơ, đoạn thơ là trình bày nhận xét, đánh giá củamình về nội dung và nghệ thuật của bài thơ, đoạn thơ ấy Nội dung và nghệthuật của bài thơ, đoạn thơ được thể hiện qua ngôn từ, hình ảnh, giọng điệu, Bài nghị luận cần phân tích các yếu tố ấy để có những nhận xét, đánh giá cụthể, xác đáng

Bài nghị luận về một bài thơ, đoạn thơ cần có bố cục mạch lạc, rõ ràng, cólời văn gợi cảm, thể hiện rung động chân thành của người viết

Như vậy, để đáp ứng yêu cầu làm một bài văn nghị luận về tác phẩm vănhọc, người GV cần cho HS hiểu rõ tính chất tổng hợp của kiểu bài nghị luậnnày

2 Đề bài nghị luận về tác phẩm văn học.

*Thứ nhất là dạng đề kiểm tra tác phẩm thông thường.

Cấu trúc đề về tác phẩm văn học thường gồm hai phần: phần nêu yêu cầu

về nội dung và phần nêu yêu cầu về dạng bài (có thể thêm các yêu cầu khác)

Ví dụ: 1 Nhận xét về truyện ngắn Những ngôi sao xa xôi của Lê Minh Khuê,

có ý kiến cho rằng: Thành công hơn cả của tác phẩm là nghệ thuật miêu tả tâmlý và ngôn ngữ nhân vật Hãy phân tích tác phẩm để làm rõ ý kiến trên

2 Phân tích nhân vật Phương Định trong truyện ngắn Những ngôi sao

xa xôi của Lê Minh Khuê Từ đó, suy nghĩ gì về thế hệ trẻ Việt Nam trong

những năm chống Mỹ cứu nước

3 Viếng lăng Bác là bài ca ân tình, cảm động, đẹp đẽ của Viễn Phương

và đồng bào miền Nam đối với Bác Hồ vô vàn kính yêu Phân tích bài thơ

Trang 8

Viếng lăng Bác của Viễn Phương để làm sáng tỏ nhận xét trên.

Hiện nay, nhiều em học sinh lớp 9 thường hay nhầm lẫn các dạng đề,đang băn khoăn lo lắng: “Nhiều lúc em không biết cái mình đang viết là phântích hay cảm nhận nữa Và nếu thầy cô ra hai đề “Em hãy phân tích đoạn thơtrên” hoặc “Cảm nhận của em về đoạn thơ trên” thì em sẽ làm hoàn toàngiống nhau”

Đó là những lời bộc bạch chân thành dễ hiểu Bởi vì phân tích và cảmnhận là những thao tác cơ bản của kiểu bài nghị luận văn chương Để học sinhviết đúng hai dạng đề này thì cần phải giúp các em phân biệt sự khác nhaugiữa phân tích và cảm nhận Tuy nhiên sự phân biệt này chỉ mang tính chấttương đối

“Phân tích”, theo từ điển đã định nghĩa: “là cơ sở để tổng hợp, tổng hợp làmục tiêu của phân tích” Phân tích và tổng hợp gắn bó chặt chẽ với nhau Vậykhi làm bài phân tích đòi hỏi học sinh phải xem xét tác phẩm một cách toàndiện, khách quan từ hình thức đến nội dung Ngòi bút của các em phải sắc bén

để chia cắt đối tượng Nếu là thơ thì tìm hiểu ngôn từ, hình ảnh, giọng điệu, Nếu là truyện thì tìm hiểu nhân vật, nghệ thuật kể, ý nghĩa cốt truyện Khigặp các dạng đề này nên phân tích dẫn chứng trước để rút ra nhận xét, đánhgiá sau

Còn “cảm nhận” là trình bày những suy nghĩ, cảm xúc, những nhận xét,đánh giá của mình về cái hay, cái đẹp của tác phẩm Cảm nhận xoáy vàonhững ấn tượng chủ quan của người viết về những điểm sáng thẩm mĩ trongvăn bản văn chương Vì vậy, yêu cầu người viết phải biết lắng nghe, chắt lọcnhững cảm xúc, những rung động của chính mình xem yếu tố nào gây ấntượng đậm nhất, nắm lấy nó rồi viết ra Ấn tượng của các em về tác phẩmcàng sâu đậm, ám ảnh bao nhiêu thì bài viết cảm nhận càng xúc động, sâu sắcbấy nhiêu

Có thể nói “cảm nhận” nghiêng về “cảm” còn “phân tích” thì nghiêng vềhiểu Nếu như phân tích tác động vào nhận thức, trí tuệ thì cảm nhận tác độngvào cảm xúc, tâm hồn

Tuy nhiên, nếu phân tích mà không có cảm nhận thì bài viết sẽ rất khôkhan Chúng ta nên lồng cảm nhận vào phần tổng hợp của bài phân tích, tức làphần cuối đoạn hoặc cuối bài

Ngược lại, cảm nhận mà không có phân tích thì cảm nhận ấy thiếu cơ sởthuyết phục Trong cảm nhận phải có phân tích để đào sâu, làm điểm tựa, làmđòn bẩy cho cảm xúc thăng hoa cất cánh Hay nói cách khác, mọi rung động,cảm xúc của người viết phải bắt nguồn từ sự phân tích bình giá ngôn từ, hìnhảnh, giọng điệu nhân vật, cốt truyện hay chủ đề của tác phẩm Sau đây làmột ví dụ cụ thể:

Cho đoạn thơ: Vẫn còn bao nhiêu nắng/ Đã vơi dần cơn mưa/ Sấm cũng bớt bất ngờ/ Trên hàng cây đứng tuổi.

(Sang thu, Hữu Thỉnh, Ngữ văn 9, tập hai).

Đề 1: Phân tích đoạn thơ trên

Bài làm “Sang thu, cảnh vật thời tiết thay đổi Tất cả còn những dấu

Trang 9

hiệu mùa hạ nhưng đang giảm dần mức độ, cường độ, từ gay gắt chuyển hóa

thành dịu êm Phép tiểu đối giữa nắng và mưa, vẫn còn và đã vơi thể hiện sự

phân hóa mong manh giữa hai mùa Bởi vì làm sao có thể đong đếm đầy vơinhững những dấu hiệu của thiên nhiên lúc giao mùa Khi đất trời sang thu,những hàng cây lâu năm không còn bất ngờ trước những tiếng sấm chuyển

mùa nữa “Sấm” và “hàng cây đứng tuổi” là hình ảnh ẩn dụ Sấm chỉ những

vang động, những sóng gió cuộc đời Còn “hàng cây đứng tuổi” chỉ nhữngcon người từng trải, thường điềm tĩnh hơn, chín chắn thêm trước những vangđộng sóng gió của cuộc đời

Từ những thay đổi của mùa thu thiên nhiên, liên tưởng đến những thayđổi của mùa thu đời người, để rồi ta thấu hiểu ra rằng “Hãy biết chấp nhận,bĩnh tĩnh sống với lòng tin Hãy mở rộng lòng mình để yêu thiên nhiên, đấtnước, con người”

Đề 2: Trình bày cảm nhận của em về đoạn thơ trên

Bài làm: “Vẫn là nắng, mưa, sấm chớp, bão giông như mùa hạ, nhưngmức độ đã khác rồi Để ý sẽ thấy cái gì cũng bắt đầu đi vào chừng mực, vàothế ổn định Và cái “đứng tuổi” của cây là một cái chốt cửa để mở sang mộtthế giới khác: thế giới sang thu của hồn người Vẻ chín chắn, điềm tĩnh củacây trước sấm sét bão giông hay đó chính là sự từng trải chín chắn của conngười sau những dâu bể của cuộc đời?

Ở vào cái tuổi ấy, con người một mặt sâu sắc thêm, mặt khác lại khẩntrương gấp gáp hơn vì quỹ thời gian không còn nhiều nữa Thì ra, trước mắtviệc đi mãi, ngoảnh đầu thu đến rồi Bốn mùa luân chuyển vô hình, lặng lẽ:bỗng chợt thu Đời người vất vả, tất bật bận rộn, lo toan bỗng chốc thấy máitóc pha sương: sững sờ mình cũng đã sang thu

Nhan đề Sang thu vừa bao trùm lại vừa thấm vào cảnh vật: hương quả

sang thu, ngọn gió, màn sương sang thu Nhưng trong từng cảnh sang thucủa thiên nhiên đất trời tạo vật là lồng lộng hồn người sang thu ”

Dạng đề cho một nhận định, đánh giá rồi yêu cầu học sinh phân tích tácphẩm để làm sáng tỏ nhận định, đánh giá đó là một dạng đề khó, đòi hỏi họcsinh phải tổng hợp được rất nhiều kĩ năng, kiến thức: giải thích (để hiểu rõnhận định); chọn lọc chi tiết, đặc điểm từ tác phẩm (để chứng minh làm rõnhận định); tổng hợp, khái quát, so sánh

Để làm được dạng đề này cần lưu ý:

Thứ nhất, giáo viên cần hướng dẫn HS đọc kĩ đề: “Làm sáng tỏ nhận

định” có thể hiểu là chứng minh vấn đề mà nhận định đưa ra Nhưng việcchứng minh này phải thông qua tác phẩm Vì thế HS phải phân tích, bình luậntác phẩm để làm bài chứng minh Muốn vậy, học sinh phải hiệu rõ về nhậnđịnh: đó là nhận định về vấn đề gì? Về nội dung hay nghệ thuật của tác phẩm?

Về một nhân vật, một tác phẩm hay nhiều nhân vật, nhiều tác phẩm?

Thứ hai, sau khi giải thích rõ nội dung của nhận định, đánh giá, học sinh

phải nắm rõ kiến thức về tác phẩm, nhân vật để xác định xem vấn đề đưa ratrong nhận định nằm ở khía cạnh nào của tác phẩm? Đối với dạng đề hỏinhiều tác phẩm, nhiều nhân vật cùng lúc thì kĩ năng chọn lọc dẫn chứng, chọn

Trang 10

lọc luận điểm tương đồng là vô cùng quan trọng.

Thứ ba, với dạng đề “làm sáng rõ nhận định” yêu cầu không chỉ đơn giản

là cần phân tích tác phẩm hay nhân vật mà còn những yêu cầu khác như sosánh Vì thế có thể gọi dạng đề “làm sáng tỏ nhận định” là dạng đề bao chứarất nhiều các kĩ năng, yêu cầu, dạng bài khác nhau

Thứ tư, cách trình bày cũng rất quan trọng Với câu hỏi chỉ yêu cầu làm

sáng tỏ nhận định qua một tác phẩm hoặc một nhân vật thì đơn giản hơn cả,học sinh chỉ việc chọn lọc dẫn chứng, tìm ý phủ hợp với nhận định rồi tuần tựphân tích Đối với câu hỏi yêu cầu làm rõ nhận định mà không cho tác phẩm

cụ thể thì học sinh cần chọn tác phẩm để phân tích (đó nên là những tác phẩmhay, đã được học qua, nhiều người biết đến và bản thân yêu thích) rồi tìmnhững ý tương đồng ở các tác phẩm sao cho phù hợp với nhận định đưa ra.Không nên phân tích hết bài này đến bài kia như thế bài văn sẽ rời rạc và lanman Đối với câu hỏi yêu cầu làm sáng rõ nhận định với nhiều tác phẩm,nhiều nhân vật nên tổng hợp ý tương đồng, tổng hợp dẫn chứng tương đồngrồi phân tích theo từng ý lớn, tránh lẫn lộn, lan man và rời rạc

Lưu ý: Dạng đề “làm sáng tỏ nhận” rất quan trọng việc huy động kiến

thức Lượng kiến thức càng dồi dào phong phú bao nhiêu, bài viết sẽ càng cóchất lượng bấy nhiêu Để làm tốt điều đó, các em phải có kiến thức chắc chắn

về tác phẩm, nhân vật Với tác phẩm truyện các em nên tóm tắt cốt truyện, vớitác phẩm thơ nên học thuộc thơ Ngoài ra nên tự thu góp cho mình những câudanh ngôn hay là tư liệu, để khi cần có thể dùng vào bài làm

* Thứ hai là dạng đề kiểm tra tác phẩm văn học theo hướng mở.

Đề kiểm tra tác phẩm văn học theo hướng mở có thể ra theo những cáchsau:

a Đề có thể khuyết phần nêu yêu cầu về dạng bài mà ta thường gọi là lệnh.

Ví dụ 1: Tình cảm của bé Thu - nhân vật trong đoạn trích truyện Chiếc lược ngà của Nguyễn Quang Sáng - đối với cha.

2 Lòng yêu nước của thế hệ trẻ Việt Nam qua các tác phẩm: Đồng chí (Chính Hữu), Bài thơ về tiểu đội xe không kính (Phạm Tiến Duật), Những ngôi sao xa xôi (Lê Minh Khuê).

b Đề chỉ nêu gợi dẫn để người viết tạo văn bản theo cảm nhận, suy nghĩ riêng.

Ví dụ:

1 Về bài thơ Quê hương của Tế Hanh

2 Nhân vật Thúy Kiều qua các trích đoạn đã học

c Đề nêu câu hỏi:

Ví dụ 1: Chao ôi, bắt gặp một con người như anh ta là một cơ hội hạn hữu cho sáng tác Nhưng hoàn thành sáng tác còn là một chặng đường dài.

Theo em, suy nghĩ như vậy của ông họa sĩ trong tác phẩm Lặng lẽ Sa Pa

(Nguyễn Thành Long) khi gặp anh thanh niên làm công tác khí tượng trênđỉnh cao Yên Sơn có đúng không? Trình bày ý kiến bằng một bài văn ngắn

2 Về nhân vật Dế Mèn trong chương 1 của tác phẩm Dế mèn phiêu lưu

Trang 11

ký (Tô Hoài), có bạn học sinh cho rằng Dế Mèn không đáng trách Nhưng lại

có bạn khẳng định Dế Mèn thật đáng trách

Còn ý kiến của em thế nào?

Để giải quyết một đề kiểm tra tác phẩm văn học dạng mở, các em cần lưuý:

Đề ra theo hướng mở có mục đích khuyến khích sự sáng tạo của mỗi cánhân Khi làm bài, học sinh không buộc phải theo hướng tiếp nhận tác phẩm

đã định sẵn Từ đó, học sinh có cơ hội để tự bộc lộ năng lực cảm nhận tácphẩm

Tuy vậy, sáng tạo không đồng nghĩa với sự tùy tiện đưa những nhận xét

vô căn cứ, thiếu trách nhiệm Đề mở vẫn yêu cầu học sinh thực hiện đúngnhững đặc trưng về kiểu bài khi tạo lập văn bản Trong bài viết cần bảo đảmtính chính xác, khoa học về nội dung cũng như tư tưởng, tình cảm tốt đẹp.Muốn vậy, cần nắm vững tác phẩm về nội dung cũng như các giá trị khác.Nên tích cực rèn các kỹ năng: đọc hiểu, tư duy, diễn đạt Hơn thế nữa là sựtrau dồi tình cảm, hướng về những điều tốt đẹp trong cuộc sống

3 Các bước làm bài văn nghị luận về tác phẩm truyện.

Để tạo lập một văn bản nói hay viết, dù là bài hay đoạn thì chúng ta đềuphải thực hiện tuần tự các bước: Phân tích đề, tìm ý và lập dàn ý, viết (nói)thành văn bản Nếu viết thì sau đó đọc và chữa cho hoàn chỉnh Các bước nàyliên quan chặt chẽ đến nhau và cùng góp phần làm nên kết quả

GV phải hướng dẫn HS phải biết phân tích kĩ đề

Thông thường yêu cầu của đề được thể hiện bằng câu hoặc cụm từ hay từngữ trong đề bài Bởi vậy, HS cần đọc kĩ đề để xác định và hiểu nghĩa câuhoặc cụm từ hay từ ngữ thì mới biết đề yêu cầu thực hiện nội dung gì, làm bàibằng cách thức nào ? Làm được việc ấy là bước đầu em đã hiểu đề

Hiểu đề rồi nhưng để giải quyết được yêu cầu của đề, không lạc đề thì

em phải tìm ý Tìm ý là tìm các nội dung sẽ trình bày trong văn bản để thựchiện yêu cầu về nội dung của đề Cách tìm ý thường dùng là đặt câu hỏi chocác từ ngữ quan trọng trong câu nêu nội dung ở đề Những câu hỏi quen thuộclà: tại sao, như thế nào, làm thế nào tùy thuộc vấn đề Hiểu chính xác đề vàtìm ý đúng chính là cơ sở để không lạc đề

Tìm ý phải tìm được những ý cụ thể, càng xác định được rõ những ý cụ thể bao nhiêu thì bài văn càng có sức thuyết phục bấy nhiêu Nhiều khi, có

những bài văn viết rất dài nhưng khi đọc không thấy toát lên những ý cụ thể.Không có ý thì không có căn cứ để cho điểm và kết quả là làm bài dài nhưngđiểm lại thấp

Chất lượng của ý có hai mức độ chủ yếu là: ý trình bày phải cơ bản và sâu sắc, mới mẻ.

Ngày đăng: 11/11/2019, 11:56

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w