Chính vì vậy, việc thực hành dân chủ ở nông thôn Ứng Hòa – Hà Nội hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh đã đạt được những kết quả rõ rệt.” “Tư tưởng dân chủ của chủ tịch Hồ Chí Minh vừa thấ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ
======
NGUYỄN THỊ KIM TUYẾN
THỰC HÀNH DÂN CHỦ CỦA NHÂN DÂN
Ở NÔNG THÔN ỨNG HÕA - HÀ NỘI
HIỆN NAY THEO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Tư tưởng Hồ Chí Minh
HÀ NỘI - 2019
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ
======
NGUYỄN THỊ KIM TUYẾN
THỰC HÀNH DÂN CHỦ CỦA NHÂN DÂN
Ở NÔNG THÔN ỨNG HÕA - HÀ NỘI
HIỆN NAY THEO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Tư tưởng Hồ Chí Minh
Người hướng dẫn khoa học
TS PHẠM THỊ THÖY VÂN
HÀ NỘI - 2019
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Với sự biết ơn sâu sắc, em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới cô giáo
TS Phạm Thị Thúy Vân đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ em trong suốt quá trình thực hiện khóa luận này
Em cũng xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo trong khoa Giáo dục Chính trị đã tạo mọi điều kiện thuận lợi, giúp đỡ cho em trong quá trình nghiên cứu để em hoàn thành khóa luận Cuối cùng, xin gửi lời cảm ơn tới gia đình, bạn bè luôn ở bên động viên, giúp đỡ em trong suốt quá trình học tập và hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này
Đây là lần đầu em tham gia nghiên cứu khoa học, kiến thức và kĩ năng còn hạn chế nên không tránh khỏi những thiếu sót Vì vậy, em rất mong nhận được sự góp ý của thầy cô, các bạn để khóa luận tốt nghiệp của em được hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 05 năm 2019
Sinh viên
Nguyễn Thị Kim Tuyến
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là đề tài do chính tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn của TS Phạm Thị Thúy Vân Những trích dẫn trong khóa luận lấy từ các công bố chính thức và có ghi chú rõ ràng Các số liệu và kết quả nghiên cứu trong khóa luận này là trung thực và không trùng lặp với những kết quả đã công bố
Nếu sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
Hà Nội, tháng 05 năm 2019
Sinh viên
Nguyễn Thị Kim Tuyến
Trang 5MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU……… 1
CHƯƠNG 1 TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ THỰC HÀNH DÂN CHỦ 6
1.1 Một số khái niệm cơ bản 6
1.2 Nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về thực hành dân chủ của nhân dân 8
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 15
CHƯƠNG 2 VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ THỰC HÀNH DÂN CHỦ VÀO VIỆC NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HÀNH DÂN CHỦ CỦA NHÂN DÂN Ở NÔNG THÔN ỨNG HÒA – HÀ NỘI HIỆN NAY 19
2.1 Những yếu tố tác động đến thực hành dân chủ của nhân dân ở nông thôn Ứng Hòa – Hà Nội hiện nay 19
2.2 Thực trạng thực hành dân chủ của nhân dân ở nông thôn Ứng Hòa – Hà Nội hiện nay và nguyên nhân 21
2.3 Giải pháp nâng cao hiệu quả thực hành dân chủ của nhân dân ở nông thôn Ứng Hòa – Hà Nội hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh 32
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 43
KẾT LUẬN 44
TÀI LIỆU THAM KHẢO 46
Trang 6DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.1 Hiểu biết về đường lối, chính sách, pháp luật của người dân 22Biểu đồ 2.2 Đánh giá mức độ quan trọng của các văn bản 23Biểu đồ 2.3 Tình hình tuyên truyền, phổ biến các nội dung về dân chủ 24Biểu đồ 2.4 Tỷ lệ người dân tham gia bàn và quyết định trực tiếp về chủ trương xây dựng cơ sở hạ tầng, công trình phúc lợi công cộng 25Biểu đồ 2.5 Mức độ bàn bạc và quyết định về mức đóng góp xây dựng cơ sở
hạ tầng, công trình phúc lợi công cộng 26Biểu đồ 2.6 Mức độ người dân tham gia bàn bạc và quyết định các công việc khác trong dân cư 27Biểu đồ 2.7 Những nội dung nhân dân được bàn và biểu quyết để cấp có thẩm quyền quyết định 27Biểu đồ 2.8 Các nội dung nhân dân tham gia giám sát 30Biểu đồ 2.9 Mức độ nhân dân giám sát chính quyền địa phương 30
Trang 7vì sự tiến bộ xã hội đang trở thành một xu thế không thể nào tách rời của thời đại
Đối với Việt Nam, trong quá trình Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo cách mạng đã luôn nhận thức rõ tầm quan trọng của dân chủ Trong giai đoạn đổi mới và hội nhập quốc tế hiện nay, vấn đề dân chủ lại càng được coi trọng hơn bao giờ hết, dân chủ được khẳng định là bản chất của chế độ, là mục tiêu, động lực thúc đẩy của sự phát triển
“Trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế và đổi mới đất nước ngày nay, đất nước ta đang ngày một khẳng định vị thế của mình về một nền độc lập, tự
do, dân chủ, tiến lên sánh vai cùng các cường quốc năm châu trên thế giới Để đạt được thành quả này là cả một quá trình đấu tranh khó khăn với những hy sinh, mất mát không thể bù đắp được của bao thế hệ cha ông chúng ta.“Và cũng để có và giữ được nền độc lập dân chủ của nước nhà thì ngoài sự cống hiến, hy sinh của cả một dân tộc, trong đó có những người con kiệt xuất với phẩm chất anh dũng, kiên cường, không sợ khó, sợ khổ, sẵn sàng hy sinh cho
Tổ quốc Người thanh niên tên Nguyễn Tất Thành đã một mình bôn ba khắp năm châu bốn bể để tìm ra con đường mang lại độc lập tự do cho Tổ quốc mình Nhắc tới chủ tịch Hồ Chí Minh là nhắc tới một vị anh hùng dân tộc, một danh nhân văn hoá của nhân loại, một vị lãnh tụ tài ba và đặc biệt là người cha già kính yêu của dân tộc Học tập tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh
là học tập cả một kho tàng kiến thức quý giá mà không một sách vở nào có thể dạy nổi Trong đề tài này em nghiên cứu vấn đề tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ đồng thời áp dụng vào thực tế thực hành dân chủ nhân dân ở địa phương Ứng Hòa – Hà Nội hiện nay.””
“Vấn đề dân chủ và thực hành dân chủ ở nông thôn Ứng Hòa – Hà Nội hiện nay đã và đang được thực hiện theo đúng chủ trương, đường lối của
Trang 82
Đảng và Nhà nước đề ra Việc thực hành dân chủ của nhân dân ở huyện Ứng Hòa là một chủ trương đúng đắn nhằm tiếp tục cụ thể hóa phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” Trong quá trình triển khai, thực hành dân chủ nhân dân ở nông thôn Ứng Hòa – Hà Nội hiện nay đã được sự quan tâm, giám sát của các cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương và sự tham gia nhiệt tình, có trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể quần chúng Cùng với đó, trình độ học vấn của cán bộ, Đảng viên các cấp của huyện Ứng Hòa được nâng cao, cơ sở vật chất, kỹ thuật để tuyên truyền ngày càng được đầu tư, phát triển Chính vì vậy, việc thực hành dân chủ ở nông thôn Ứng Hòa – Hà Nội hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh đã đạt được những kết quả rõ rệt.”
“Tư tưởng dân chủ của chủ tịch Hồ Chí Minh vừa thấm nhuần sâu sắc bản chất của giai cấp công nhân và tinh thần thời đại, vừa thể hiện đặc sắc những giá trị truyền thống của dân tộc, đông thời tiếp thu một cách sáng tạo những tinh hoa của giá trị nhân loại”góp phần vô cùng to lớn vào sự hoàn thiện đường lối đại đoàn kết dân tộc của Đảng Cộng sản Việt Nam Vì vậy,
em quyết định chọn đề tài “Thực hành dân chủ của nhân dân ở nông thôn Ứng Hòa - Hà Nội hiên nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh” làm khóa luận
tốt nghiệp của mình
2 Lịch sử nghiên cứu đề tài
Bàn về vấn đề dân chủ, đến nay đã có rất nhiều công trình khoa học nghiên cứu ở nhiều phạm vi khác nhau; được đề cập trong nhiều đề tài, bài viết, một số luận án tiến sỹ, luận văn thạc sỹ Trong đó, có thể khái quát thành các nhóm công trình sau:
* Các công trình đề cập tới tư tưởng dân chủ Hồ Chí Minh nói chung
- “Cuốn sách: Phương pháp dân chủ Hồ Chí Minh (2009) của
Phạm Văn Bính (chủ biên), Nxb Chính trị quốc gia, nêu những vấn đề lý luận, thực tiễn của phương pháp dân chủ Hồ Chí Minh, những yêu cầu đặt ra trong việc vận dụng phương pháp dân chủ Hồ Chí Minh để hoàn thiện phương pháp lãnh đạo dân chủ của Đảng về chính trị, cải cách bộ máy, hoàn
Trang 93
thiện chức năng quản lý nhà nước trong phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, phát triển ý thức công dân và năng lực thực hiện dân chủ xã hội chủ nghĩa của đội ngũ cán bộ…củng cố khối liên minh công - nông
- trí thức, tăng cường pháp chế, chống khuynh hướng dân chủ cực đoan.”
trình đổi mới (2010) của Giáo sư - Tiến sỹ Hoàng Chí Bảo, Nxb Chính trị
Quốc gia, nêu rõ tầm quan trọng của dân chủ đặc biệt là dân chủ cơ sở ở nông thôn từ khi triển khai công cuộc đổi mới đất nước đến nay; đề xuất các giải pháp góp phần thực hiện hiệu quả việc phát huy dân chủ trong đời sống xã hội, tạo động lực, mục tiêu cho việc xây dựng thành công mô hình chủ nghĩa
xã hội ở Việt Nam.”
- “Cuốn sách: Xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa (1992) của
Đỗ Nguyên Phương và Trần Ngọc Đường (chủ biên), Nhà xuất bản sự thật Hà Nội, phân tích những nội dung cơ bản về vấn đề hệ thống chính trị và dân chủ XHCN nêu trong văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng; những nội dung cơ bản về Nhà nước pháp quyền với cải cách bộ máy Nhà nước và hoàn thiện hệ thống chính trị.”
* Các công trình liên quan trực tiếp đến chủ trương và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở trên địa bàn huyện Ứng Hòa – Hà Nội
- “Lịch sử Đảng bộ huyện Ứng Hòa (2010), Nxb Lao động.”
- “Ứng Hòa trong hành trình phát triển, Nxb Văn hóa thông tin.”
- “Ủy ban nhân dân huyện Ứng Hòa, Báo cáo quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội huyện Ứng Hòa đến năm 2020, tầm nhìn đến năm
2030.”
Các công trình nêu trên nhìn chung tập trung đề cập đến đặc điểm, tình hình, quá trình lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy đảng, chính quyền, ban, ngành, đoàn thể trên lĩnh vực kinh tế - xã hội, quốc phòng an ninh, xây dựng đảng và các tổ chức trong hệ thống chính trị qua các thời kỳ
Như vậy, qua việc nghiên cứu các công trình, đề tài đề cập đến vấn đề dân chủ nói chung cũng như vấn đề dân chủ trong các lĩnh vực, địa bàn, chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu chuyên sâu, hệ thống đầy đủ, toàn diện về
Trang 103.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hóa những nội dung cơ bản trong tư tưởng Hồ Chí Minh về
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
“Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là nghiên cứu về những vấn đề, những yếu tố của quá trình thực hành dân chủ của nhân dân ở nông thôn Ứng Hòa – Hà Nội hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh.”
Trang 115
“Khóa luận dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng
Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về dân chủ, các văn kiện của Đảng và Nhà nước, có tham khảo, sử dụng kết quả nghiên cứu khoa học hiện đại về dân chủ.”
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Khóa luận vận dụng các nguyên tắc phương pháp luận của chủ nghĩa Mác-Lênin; các phương pháp logic, lịch sử, phân tích, tổng hợp
6 Ý nghĩa của đề tài
“Phân tích làm rõ hệ thống các quan điểm về dân chủ và phương pháp thực hành dân chủ của Hồ Chí Minh sẽ là một đóng góp nhỏ và việc nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh – một bộ phận cấu thành nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam hành động của toàn Đảng, toàn dân ta Đây cũng là một đóng góp vào việc tìm tòi cơ sở lý luận và phương pháp luận cho việc hoàn thiện dân chủ xã hội chủ nghĩa ở nước ta và đặc biệt là ở nông thôn huyện Ứng Hòa – Hà Nội.”
“Kết quả đạt được trong khóa luận sẽ góp phần nâng cao nhận thức của người dân huyện Ứng Hòa – Hà Nội về tư tưởng dân chủ của Hồ Chí Minh,
về quyền làm chủ của nhân dân, góp phần củng cố niềm tin của nhân dân huyện Ứng Hòa – Hà Nội vào sự lãnh đạo của Đảng, vào thắng lợi của sự nghiệp đổi mới ở nước ta hiện nay.”
7 Kết cấu của đề tài
“Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và mục lục, khóa luận gồm 2 chương và 4 tiết.”
Trang 126
CHƯƠNG 1 TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ THỰC HÀNH DÂN CHỦ
1.1 Một số khái niệm cơ bản
1.1.1 Khái niệm “Dân chủ”
“Dân chủ là hiện tượng lịch sử - xã hội, gắn liền với sự tồn tại và phát triển của đời sống con người và xã hội loài người Theo nguồn gốc của tiếng
Hy Lạp, dân chủ gồm 2 từ “demos” có nghĩa là nhân dân, “kratos” có nghĩa là quyền uy, sự cai trị Như vậy theo nghĩa gốc, dân chủ là quyền làm chủ của nhân dân, là trạng thái tổ chức xã hội trong đó quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân.”
“Trong tiếng Việt, thuật ngữ dân chủ có ba hàm nghĩa: chỉ chế độ xã hội; chỉ quyền của người dân và chỉ một phương thức công tác, phong cách quản
lý, lãnh đạo”[44, tr.137]
“Lý luận về dân chủ chiếm một phần rất trọng yếu trong lý luận của chủ nghĩa Mác - Lê-nin Theo C Mác và Ph Ăng-ghen, từ dân chủ chủ nô đến dân chủ tư sản rồi đến dân chủ vô sản (dân chủ xã hội chủ nghĩa) đều là những bước tiến của lịch sử Các ông đã đánh giá cũng như xem xét một cách khách quan nhất nền dân chủ tư sản, mặc dù nó còn rất nhiều hạn chế, khuyết điểm, song là bước tiến bộ hơn cả so với chế độ chuyên chế phong kiến Cùng với đó, các ông đã vạch ra bản chất giai cấp của dân chủ tư sản, đó chính là dân chủ đối với thiểu số bóc lột và chuyên chính đối với đa số nhân dân lao động.”Theo C Mác và Ph Ăng-ghen, trong giai đoạn đầu tiên của cách mạng
xã hội chủ nghĩa, giai cấp vô sản bắt buộc phải trở thành giai cấp thống trị, phải “giành lấy dân chủ”.“Chỉ có giành được chính quyền nhà nước, giai cấp
vô sản mới xây dựng và phát huy được nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, mới hoàn thành được sứ mệnh lịch sử của mình là đưa nhân dân, trước hết là nhân
dân lao động trở thành người chủ của xã hội, là chủ thể tối cao và duy nhất
của mọi quyền lực Tư tưởng đó của C Mác và Ph Ăng-ghen nói lên bản chất
dân chủ của xã hội mới của giai cấp công nhân và nhân dân lao động.”
Kế thừa và phát triển những tư tưởng đúng đắn của C Mác và Ph ghen về dân chủ, V.I.Lê-nin cũng đi đến nhấn mạnh: “Dân chủ trở thành giá
Trang 13Ăng-7
trị phổ biến của xã hội, thâm nhập vào mọi lĩnh vực, mọi quan hệ của đời sống xã hội, bao quát mọi góc độ trong sự tồn tại của con người, tạo ra ngày càng đầy đủ những điều kiện cho sự giải phóng mọi năng lực sáng tạo của con
người” Vì vậy V.I.Lê-nin cho rằng: “dân chủ vô sản là dân chủ gấp triệu lần
dân chủ tư sản”.
“Dân chủ xã hội chủ nghĩa là dân chủ đối với quảng đại quần chúng nhân dân lao động, là chế độ dân chủ vì lợi ích của đa số Dân chủ xã hội chủ nghĩa không loại trừ đấu tranh giai cấp, nó kiên quyết đấu tranh chống lại mọi hành vi đi ngược lại những chuẩn mực dân chủ, vi phạm những giá trị dân chủ chân chính của nhân dân Do vậy, trong nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, dân chủ và chuyên chính không tách rời nhau, dân chủ gắn liền với pháp luật, kỷ cương, kỷ luật.”
“Mục đích cao nhất của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa là giải phóng con người và xã hội loài người, xây dựng một xã hội không có giai cấp, mọi người đều bình đẳng, tự do; đây là nền dân chủ tiến bộ nhất Nền dân chủ xã hội chủ nghĩa có cơ sở kinh tế là chế độ công hữu về tư liệu sản xuất; tác động mạnh
mẽ đến các quyền tự do về chính trị, tư tưởng, văn hóa và các lĩnh vực khác.”
Kế thừa những yếu tố tốt đẹp và phát triển hơn nữa những tư tưởng về dân chủ của chủ nghĩa Mác - Lênin, Hồ Chí Minh đã đưa ra quan điểm đặc sắc về dân chủ bằng những diễn đạt rất súc tích, ngắn gọn: “Dân là chủ”,
“Dân làm chủ”, “Dân là gốc”, “Nước ta là nước dân chủ”, “Dân chủ là cái chìa khóa vạn năng” Theo Người, ở nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, những giá trị dân chủ được thể chế hoá thành pháp luật, thành hệ thống chính trị, trong
đó Nhà nước là trụ cột Dân chủ là mục tiêu, động lực của phát triển Các giá trị dân chủ trở thành phổ biến, chi phối mọi hoạt động của đời sống xã hội, mọi công dân và tổ chức xã hội đều có khả năng nhận thức, vận dụng làm chủ bản thân và làm chủ xã hội Theo C.Mác một nền dân chủ thật sự phải gắn liền với sự nghiệp của nhân dân “Chế độ dân chủ là câu đố đã được giải đáp của mọi hình thức chế độ nhà nước…ngày càng hướng tới cơ sở hiện thực của nó, tới con người hiện thực, nhân dân hiện thực và được xác định là sự nghiệp của bản thân nhân dân” [33, tr.349]
Trang 148
“Trong nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, nhà nước là công cụ quyền lực để thực hiện ý chí, nguyện vọng của nhân dân, luôn chịu sự giám sát của nhân dân Nhà nước và nhân dân có mối liên hệ chặt chẽ, thường xuyên Cán bộ, công chức Nhà nước là người đại diện cho pháp luật để bảo vệ nhân dân Để tồn tại và khẳng định rõ vị thế, Nhà nước phải đề ra những cơ chế, biện pháp kiểm soát, ngăn ngừa, xử lý tệ quan liêu, tham nhũng, vô trách nhiệm trong cán bộ; giữ vững kỷ luật, kỷ cương, tuyên truyền, giáo dục toàn dân nâng cao
ý thức pháp luật.”
1.1.2 Khái niệm “Thực hành dân chủ”
Thực hành dân chủ là sự thể chế hóa, pháp luật hóa phương châm: “dân
biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” thành những quy phạm và hành động cụ thể trong đời sống cộng đồng dân cư cấp xã
“Để các quyền dân chủ được thực hiện trong cuộc sống, các quyền đó
phải được thể chế hóa thành Hiến pháp, pháp luật và được thực hiện bằng
những thiết chế tương ứng của Nhà nước Ở đây, dân chủ và pháp luật, dân chủ và kỷ cương không bài trừ, phủ định nhau, trái lại, chúng nằm trong sự thống nhất biện chứng, là điều kiện, tiền đề phát triển của nhau Thực tế cho thấy, cả vô chính phủ lẫn độc đoán chuyên quyền đều trái với bản chất của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa Không thể có dân chủ mà thiếu pháp luật, kỷ luật, kỷ cương.”
1.1.3 Khái niệm “thực hành dân chủ nhân dân ở nông thôn”
Trong cuốn Từ điển Tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học (1994), nông
thôn được định nghĩa là khu vực dân cư tập trung chủ yếu làm nghề nông
Nhân dân được hiểu là đông đảo những người dân, thuộc mọi tầng lớp,
đang sống ở một khu vực địa lý nào đó Nhân dân ở nông thôn Việt Nam bao gồm nhiều đối tượng khác nhau, tuy nhiên, lực lượng chiếm số lượng đông đảo là nông dân, những người gắn bó trực tiếp với sản xuất, lao động trong lĩnh vực nông nghiệp Bên cạnh người nông dân, khu vực nông thôn còn có những người làm nghề trong lĩnh vực tiểu thủ công nghiệp, thương mại, dịch
vụ, cán bộ hưu trí, cựu chiến binh… tuy không gắn bó trực tiếp với lao động sản xuất song luôn gắn bó về lối sống, sinh hoạt ở khu vực nông thôn
Trang 159
“Nông thôn với tính chất là cấp cơ sở trong hệ thống quản lý hành chính
nhà nước, là đơn vị hành chính thấp nhất - xét về mặt không gian quản lý; là cấp gần dân nhất, tiếp nhận, triển khai thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; theo dõi, giám sát, kiểm tra công dân thực hiện các nghĩa vụ, pháp luật Nông thôn chính là hình ảnh thu nhỏ của nhà nước; là nơi thể hiện trực tiếp, cụ thể bản chất của chế độ nhà nước, của chế độ xã hội; thể hiện trực tiếp sự hoàn thiện hay hạn chế, yếu kém của thể chế, của cơ chế và mô hình tổ chức quyền lực; thể hiện cụ thể thái độ của người dân, là nơi mà việc làm, đời sống, tâm tư, nguyện vọng của người dân được bộc lộ đầy đủ, rõ rệt; nơi thể hiện và đánh giá trực tiếp hiệu lực, hiệu quả của hệ thống chính trị cơ sở.”
“Từ khái niệm về Dân chủ, Thực hành dân chủ và khái niệm Nông thôn,
có thể hiểu thực hành dân chủ ở nông thôn là quá trình nhân dân cùng các
chủ thể khác thực hiện thể chế về dân chủ ở cơ sở, cụ thể là quy định pháp luật về các quyền biết, bàn, làm, kiểm tra trực tiếp và đầy đủ nhất ở chính nông thôn - địa bàn mà nhân dân đang sinh sống và lao động hàng ngày.”
1.2 Nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về thực hành dân chủ của nhân dân
1.2.1 Nội dung thực hành dân chủ
“Kế thừa và phát triển các quan điểm tiến bộ về dân chủ của nhân loại,
Hồ Chí Minh lí giải khái niệm dân chủ một cách ngắn gọn, đơn giản, cô đọng,
dễ hiểu, dễ thực hiện và dễ kiểm soát.”Việc lí giải này thường được Hồ Chí Minh gắn với vấn đề nhà nước Người nói: “Chế độ ta là chế độ dân chủ, tức
là dân làm chủ”; “Nước ta là nước dân chủ, có địa vị cao nhất là dân, vì dân là chủ”
“Có thể coi quan niệm trên đây là quan niệm chính thức về dân chủ và đó
là quan niệm ngắn gọn nhất phản ánh đúng bản chất và nội dung quan niệm của Hồ Chí Minh về dân chủ.”
« Nước ta là nước dân chủ
Bao nhiêu lợi ích đều vì dân
Bao nhiêu quyền hạn đều vì dân
Trang 1610
Công việc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân
Sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc là công việc của dân
Chính quyền từ xã đến Chính phủ Trung ương do dân cử ra
Đoàn thể từ Trung ương đến xã do dân tổ chức nên
Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân» [36, tr.698]
Để thực hiện các quyền làm chủ, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh: Nhân dân không chỉ có mỗi quyền mà điều quan trọng là phải có năng lực làm chủ “Mọi người Việt Nam phải hiểu biết quyền lợi của mình, bổn phận của mình, phải có
kiến thức mới để có thể tham gia vào công cuộc xây dựng nước nhà” [35, tr.40]
“Hồ Chí Minh luôn chú trọng việc thực hành dân chủ để nước ta trở
thành một nước dân chủ thực sự Quan niệm của Hồ Chí Minh về thực hành
dân chủ được thể hiện ở các tác phẩm, bài nói, bài viết, ứng xử và tác phong làm việc với nhiều góc tiếp cận khác nhau.”Dựa trên quan điểm về dân chủ là
dân “là chủ” và dân“làm chủ”, Hồ Chí Minh xác định, quần chúng nhân dân
vừa là mục tiêu, vừa là chủ thể của quá trình thực hành dân chủ
“Theo Hồ Chí Minh, phải làm sao cho người dân có quyền làm chủ, có điều kiện làm chủ, biết hưởng quyền làm chủ, đồng thời biết dùng quyền làm chủ.”Trong tác phẩm Sửa đổi lối làm việc (1947), Hồ Chí Minh khẳng định:
“Việc gì cũng hỏi ý kiến quần chúng, cùng dân chúng bàn bạc Giải thích cho dân chúng hiểu rõ Được dân chúng đồng ý Do dân chúng vui lòng ra sức làm” Hồ Chí Minh đã chỉ ra quy trình của thực hành dân chủ đối với nhân
dân: (1) Cán bộ lãnh đạo cần phải biết “hỏi”, biết “bàn bạc” để thực hiện vai trò “là chủ” của nhân dân trong xã hội (2) Khi thảo luận cần biết “giải
thích” để nhân dân cùng hiểu nội dung của vấn đề cần tạo sự đồng tình, ủng
hộ (3) Cần “làm” theo sự thống nhất để phát huy cao độ tinh thần và hành động“làm chủ”của nhân dân trong xã hội Có như vậy, việc thực hành dân
chủ mới công khai, hiệu quả, tạo được niềm tin nơi dân
“Có thể thấy, Hồ Chí Minh đã thực hiện một cuộc cách mạng trong nhận thức về dân chủ, so với tư tưởng dân chủ thời phong kiến và cả dân chủ tư sản Các nhà tư tưởng với ý thức hệ phong kiến quan niệm dân chủ là chủ của
Trang 1711
dân Dưới chế độ phong kiến, quyền lực và quyền uy đều tập trung trong tay nhà vua Dân chỉ là thần dân, thảo dân, là bề tôi tự nhiên chịu ơn huệ và bị trói buộc bởi luật lệ và những quy định của triều đình Dân chủ tư sản chỉ đem lại lợi ích và quyền lực cho một thiểu số người giàu có.”
Thứ nhất, để nhân dân được làm chủ, nhân dân phải được quyền biết mọi
việc
Hồ Chí Minh cho rằng, phải tìm mọi cách giải thích cho mỗi một người dân hiểu rõ rằng: “Việc đó là lợi ích cho họ và nhiệm vụ của họ, họ phải hăng hái làm cho kỳ được” Nhất là, đối với người dân làm nghề nông, những người có trình độ học vấn không cao nhưng lại chiếm đa số trong xã hội, thì cán bộ phải tuyên truyền, giải thích “làm sao cho bà con hiểu mình là người chủ tập thể, làm chủ hợp tác xã, làm chủ Nhà nước”
Phạm vi dân biết ở đây là: Tình hình phát triển kinh tế, chính trị, văn
hoá, xã hội nói chung của đất nước, của địa phương; nhân dân cần biết những vấn đề cụ thể, rõ ràng liên quan trực tiếp đến quyền lợi và nghĩa vụ của mình, của mỗi gia đình, cơ quan, tổ chức chính trị - xã hội và được quyền "biết" đến những vấn đề, như: Chủ trương, chính sách, pháp luật của Nhà nước liên quan trực tiếp đến quyền và lợi ích của nhân dân; Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của cả nước nói chung và của địa phương – nơi mà mình sinh sống nói riêng; Kết quả thanh tra, kiểm tra và giải quyết các vụ việc tiêu cực, tham nhũng của cán bộ, đảng viên; Về việc triển khai thực hiện chính sách đối với gia đình có công với cách mạng, gia đình thương binh liệt sĩ, bệnh binh, vấn
đề an sinh xã hội, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế…
Thứ hai, những nội dung nhân dân “bàn bạc” và “thi hành”
Khi dân đã được biết, được hiểu thì cần phải tạo điều kiện để mọi người được bàn bạc thật sự: “Bất cứ việc gì đều phải bàn bạc với dân, hỏi ý kiến và kinh nghiệm của dân, cùng với dân đặt ra kế hoạch cho thiết thực với hoàn cảnh địa phương” Sau khi dân đã biết, đã hiểu, đã bàn bạc và xây dựng
kế hoạch của địa phương mình, cơ sở mình, thì nhiệm vụ của cán bộ lãnh đạo
là “động viên và tổ chức cho toàn dân ra thi hành” Trong triển khai thực hiện, phải theo dõi, gúp đỡ, đôn đốc, khuyến khích dân nhân dân tự giác tham gia,
Trang 1812
“đem tài dân, sức dân, của dân làm lợi cho dân” Trong chế độ dân chủ, nhân dân có quyền tự do phát biểu ý kiến, góp phần xây dựng nhà nước Dân có thể bàn để hiểu sâu sắc, để nâng cao kiến thức, bàn để thống nhất xây dựng, bàn
để làm Dân có thể bàn ở nhiều nơi, trên các phương tiện thông tin đại chúng
Để nâng cao nhận thức và phát huy trí tuệ, dân có quyền được cung cấp thông tin, có định hướng để mỗi người dân tự hình thành quan điểm, làm cơ sở cho việc bàn bạc, thảo luận, xây dựng các chủ trương, chính sách của Đảng phù
hợp Theo đó, vấn đề dân biết, để bàn, để làm là nhu cầu hết sức cấp bách và
khách quan Hồ Chí Minh cũng nhấn mạnh: “Mỗi công dân đều có quyền bầu
cử, ứng cử để cùng lo việc nước Quyền ấy phải được tôn trọng và bảo vệ Người công dân là con người chính trị, có quyền tham gia chính sự Người kêu gọi các tầng lớp nhân dân ta, công nhân, nông dân, lao động trí óc, các nhà công thương, đồng bào thiểu số, ai nấy hãy làm tròn nghĩa vụ của người công dân, người chủ nước nhà.Và Hồ Chí Minh tha thiết mong muốn, làm cho các dân tộc anh em dần dần tự quản lấy mọi công việc của mình, để mau chóng phát triển kinh tế và văn hóa của mình, để thực hiện các dân tộc bình đẳng về mọi mặt”
Thứ ba, nhân dân cùng tham gia giám sát, kiểm tra các công việc của
Đảng và Nhà nước
Dân kiểm tra là một trong những nội dung cơ bản trong thực hiện quyền làm chủ của nhân dân nhằm xây dựng Đảng, xây dựng Nhà nước, xây dựng các đoàn thể vững mạnh, trong sạch và bảo vệ lợi ích chính đáng, hợp pháp của nhân dân Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ mục đích của kiểm tra, giám sát là “để giúp
họ rút kinh nghiệm, sửa chữa khuyết điểm, phát triển ưu điểm” Do đó, sau
khi dân biết, dân bàn, dân thực thi, thì công đoạn cuối cùng là mỗi tổ chức,
đơn vị, địa phương, cơ sở khi thi hành xong “phải cùng với nhân dân kiểm thảo lại công việc, rút kinh nghiệm, phê bình, khen thưởng”, để giúp tiếp tục thực hiện tốt hơn nữa những nhiệm vụ khác
“Theo Hồ Chí Minh, nhân dân cần được kiểm tra, giám sát những gì có liên quan tới nghĩa vụ và quyền lợi của mình Giám sát việc thực thi nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan hành chính nhà nước, quản lý sản xuất kinh doanh
và hoạt động của cán bộ, công chức ở nông thôn; kiểm tra từng con người cụ
Trang 1913
thể gắn với chức trách cụ thể, trọng tâm và việc thực hiện những quy định về tiền bạc, tài chính, kinh tế, quản lý và sử dụng đất đai, chính sách xã hội và việc giải quyết những đơn thư khiếu nại, tố cáo của công dân; giám sát việc đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực ở địa phương đơn vị cơ sở; giám sát, phát hiện những vi phạm của công dân, giúp chính quyền địa phương và thủ trưởng đơn vị xem xét, xử lý kịp thời, đúng mức.”
“Cũng theo Hồ Chí Minh, để thực hiện được những nội dung nói trên,”cần truyên truyền, vận động để người dân thấy rõ được trách nhiệm, quyền lợi của bản thân mình, và có cơ chế, tạo điều kiện thuận lợi để quần chúng nhân dân có thể đóng góp ý kiến, giám sát, phản biện trong công tác xây dựng Đảng Bởi vì, cùng sống trong cộng đồng nên nhân dân cũng là những người am hiểu các vấn đề của tổ chức Đảng và gần gũi với đảng viên
Ở mỗi địa phương, mỗi cơ sở, nếu tổ chức đảng làm tốt việc phát huy quyền dân chủ của nhân dân thì nhân dân sẽ tích cực tham gia đóng góp xây dựng Đảng Điều quan trọng là trong mỗi tổ chức, mỗi đảng viên phải thật sự cầu thị, chính trực, thật thà, khiêm tốn lắng nghe, có phương pháp, có hình thức thích hợp để nhân dân dám nói và nói thật, nói đúng với tinh thần xây dựng.”Người yêu cầu: “Tổ chức đảng phải tạo điều kiện thuận lợi, hướng dẫn
cụ thể về nội dung, cách thức để người dân tham gia góp ý xây dựng Đảng, có phương pháp, kế hoạch ghi nhận, tiếp thu có chọn lọc những ý kiến sát đáng của quần chúng nhân dân Đối với những ý kiến phê bình đúng của quần chúng thì phải tiếp thu nghiêm túc và có biện pháp sửa chữa.”Còn với các ý kiến không đúng hoặc chưa đúng thì cần phải phân tích, giải thích đầy đủ với thái độ thực sự “trọng dân”
“Hồ Chí Minh là một tấm gương của tinh thần dân chủ, phát huy dân chủ và luôn mong muốn đồng bào luôn giúp đỡ, đôn đốc, kiểm soát và phê bình để cán bộ làm tròn nhiệm vụ người lãnh đạo, người đày tớ trung thành của nhân dân Vì thế, Hồ Chí Minh kêu gọi nhân dân thường xuyên giám sát các hoạt động, công việc của Chính phủ từ Trung ương đến cơ sở.”Bằng tình cảm của mình, Hồ Chí Minh đã nói: “Từ ngày thành lập Chính phủ, trong nhân viên có nhiều khuyết điểm Có người làm quan cách mạng, chợ đỏ, chợ đen, khinh dân, mưu vinh thân, phì gia Xin đồng bào hãy phê bình giúp đỡ
Trang 2014
giám sát công việc Chính phủ Còn những việc làm, mà chưa làm được thì xin đồng bào nguyên lượng”
“Tóm lại, thực hành dân chủ của nhân dân ở nông thôn là một trong
những nội dung quan trọng của dân chủ xã hội chủ nghĩa Đó là quá trình nhân dân thực hiện các quy định của pháp luật về quyền dân chủ của nhân
dân Về bản chất, dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra là những nội dung
liên hoàn của trình tự công khai hóa và dân chủ hóa Thực hiện đầy đủ các khâu này nhằm đảm bảo các quyền cơ bản của công dân đã được Hiến pháp
và pháp luật quy định Nhà nước không thể có dân chủ khi nhân dân không được biết, được bàn, được làm, được kiểm tra những nội dung thiết thực, ảnh hưởng trực tiếp tới quyền, lợi ích của họ.”
1.2.2 Hình thức thực hành dân chủ của nhân dân ở nông thôn
Từ “dân là chủ” tiến lên thành “dân làm chủ” là”một bước tiến quan trọng về chất của vấn đề dân chủ Theo Hồ Chí Minh, chúng ta phải làm như thế nào cho người dân có được quyền làm chủ, có điều kiện làm chủ, biết hưởng thụ quyền làm chủ, đồng thời biết dùng quyền làm chủ Muốn vậy nhân dân cần phải có năng lực làm chủ Năng lực làm chủ đó không phải bỗng dưng mà có, không phải từ trên trời rơi xuống, không phải do “ban
phát” mà một mặt, Đảng và Nhà nước phải tạo ra những cơ chế, chính sách và pháp luật phù hợp; mặt khác, người dân phải ra sức phấn đấu, rèn luyện, phải
học về dân chủ, phải nâng cao trình độ hiểu biết về dân chủ của bản thân, phương pháp thực hành dân chủ và bản lĩnh thực hành dân chủ Chỉ có như vậy, nhân dân mới có quyền dân chủ thực sự, tránh triệt để tình trạng dân chủ chung chung và tình trạng dân chủ hình thức.”
“Luôn thấm nhuần quan điểm toàn diện và thực tiễn, Hồ Chí Minh đã chỉ ra sự cần thiết phải quan tâm đến mọi mặt của đời sống và chú ý hài hòa các mối quan hệ Trọng tâm có bốn vấn đề phải coi là quan trọng ngang nhau: chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa Không được xem nhẹ một mặt nào Nội dung toàn diện của dân chủ thể hiện ở các mặt ấy Người nêu trước hết là dân chủ trong chính trị Hồ Chí Minh khẳng định, nước ta là nước dân chủ, địa vị cao nhất là dân, vì dân là chủ Bởi thế, thực hiện dân chủ chính trị thì phải bảo
Trang 2115
đảm phát huy quyền làm chủ của dân Đây là bản chất của dân chủ mà cũng là bản chất của chủ nghĩa xã hội Phải thể chế hóa quyền dân chủ chính trị, quyền làm chủ của dân qua Hiến pháp và các đạo luật, qua thể chế bầu cử để dân được tự do lựa chọn người xứng đáng làm đại diện cho mình Ủy quyền kèm theo kiểm tra, giám sát thực hiện quyền Dân là chủ thì từ Chủ tịch nước, các bộ trưởng cho đến tất cả các công chức, viên chức phải là người phục vụ dân, chịu sự kiểm tra, giám sát, đánh giá, bãi miễn của dân theo luật định.”
“Hồ Chí Minh yêu cầu, cần lựa chọn nội dung và phương thức truyền tải phù hợp với từng đối tượng người dân ở từng địa bàn dân cư để nhân dân phát huy quyền là chủ và làm chủ Bên cạnh đó, cần làm cho người dân hiểu rằng, cán bộ được trả lương là để phục vụ người dân, phụng sự đất nước, đó là quyền được hưởng, đồng thời cũng là nghĩa vụ của cán bộ, đảng viên Vì vậy, khi phát hiện thấy cán bộ, đảng viên vi phạm đạo đức, lối sống cần báo ngay cho các cơ quan, cá nhân có thẩm quyền Nếu mỗi người dân không nhận thức được điều này thì chẳng những họ không thực hiện được quyền giám sát của mình mà còn góp phần làm hư hỏng cán bộ Cũng theo Người, cần phải có cơ chế khen thưởng, động viên kịp thời để khuyến khích người dân giám sát những việc làm sai trái trong đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên, cũng là
để nhân lên những hành động đẹp, những tấm gương đẹp.”
1.2.3 Phương pháp thực hành dân chủ
“Thứ nhất, xây dựng và hoàn thiện chế độ dân chủ rộng rãi.”
“Ngay từ năm 1941, trong Chương trình của tổ chức Mặt trận Việt Nam độc lập đồng minh (Việt Minh), Hồ Chí Minh đã “thiết kế” một chế độ dân chủ cộng hòa cho nước ta sau khi cuộc cách mạng do nhân dân thực hiện giành được thắng lợi.“Đó là chương trình thực hiện các mục tiêu dân chủ, xác định
rõ quyền và trách nhiệm của nhân dân Việt Nam trước vận mệnh của nước nhà; gắn độc lập, tự do của Tổ quốc với quyền lợi của từng người dân.””
“Ngay sau khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, Hồ Chí Minh đã chủ trương thiết kế, xây dựng và ban hành bản Hiến pháp mới Hiến pháp năm
1946 đặt cơ sở pháp lý đầu tiên cho việc thực hiện quyền lực của nhân dân Điều đó thể hiện rõ ở Chương II Hiến pháp năm 1946 gồm 18 điều quy định
Trang 2216
về nghĩa vụ và quyền lợi công dân.”Điều 6 ghi rõ: "Tất cả các cơ quan nhà nước đều phải dựa vào nhân dân, liên hệ chặt chẽ với nhân dân, lắng nghe ý kiến và chịu sự kiểm soát của nhân dân Tất cả các nhân viên cơ quan nhà nước đều phải trung thành với chế độ dân chủ nhân dân, tuân theo Hiến pháp
và pháp luật, hết lòng hết sức phục vụ nhân dân”
“Thứ hai, xây dựng các tổ chức Đảng, Nhà nước, Mặt trận và các đoàn thể
chính trị - xã hội vững mạnh để đảm bảo dân chủ trong xã hội.”
“Trong việc xây dựng nền dân chủ ở Việt Nam, Hồ Chí Minh chú trọng tới việc xây dựng Đảng với tư cách là Đảng cầm quyền, Đảng lãnh đạo Nhà nước, lãnh đạo toàn xã hội Xây dựng Nhà nước của dân, do dân, vì dân Xây dựng mặt trận với vai trò là liên minh chính trị tự nguyện của tất cả các tổ chức chính trị - xã hội vì mục tiêu chung của sự phát triển đất nước; xây dựng các tổ chức chính trị - xã hội rộng rãi khác của nhân dân.”
“Quan điểm nhất quán của Hồ Chí Minh là có bảo đảm và phát huy dân chủ ở trong Đảng thì mới bảo đảm được dân chủ của toàn xã hội Quyền lãnh đạo của Đảng được xuất phát từ sự ủy quyền của giai cấp công nhân, của dân tộc
và của nhân dân Đảng trở thành hạt nhân chính trị của toàn xã hội là nhân tố tiên quyết để bảo đảm tính chất dân chủ của xã hội Dân chủ trong Đảng trở thành yếu tố quyết định tới trình độ dân chủ của toàn xã hội.”
Thứ ba, vận động, tuyên truyền quần chúng thực hành dân chủ
Người đi vận động, tuyên truyền phải“xác định rõ mục đích và đối tượng tuyên truyền, giáo dục; mục đích của công tác vận động, tuyên truyền là nhằm biến những chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, những tri thức khoa học thành niềm tin, thành hành động cụ thể, xây dựng, bảo vệ quê hương đất nước, làm cho cuộc sống mỗi người dân ngày càng tiến bộ, ấm no, hạnh phúc.”
Hồ Chí Minh nói rằng: “Tuyên truyền cũng thế, huấn luyện cũng thế, phải làm sao cho dễ hiểu, nói sao để người ta hiểu được, hiểu để làm” Để đạt được mục tiêu đó theo Hồ Chí Minh thì trong tuyên truyền phải “nói thiết thực, nói đúng lúc”
Trang 2317
“Vì điều kiện dân tộc, vùng miền mỗi nơi mỗi khác nên Hồ Chí Minh đòi hỏi việc vận động tuyên truyền, giáo dục và tổ chức thực hiện đường lối, chính sách cũng phải có những nội dung, hình thức và bước đi phù hợp.”
Trang 2418
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Tư tưởng Hồ Chí Minh về thực hành dân chủ của nhân dân ở nông thôn
là một nội dung có ý nghĩa quan trọng về lí luận và thực tiễn Đó là hệ thống
tư tưởng về nội dung thực hành dân chủ, hình thức thực hành dân chủ và biện pháp nâng cao hơn nữa hiệu quả thực hành dân chủ Cho đến nay, hệ thống tư tưởng ấy vẫn còn nguyên giá trị
Trang 25
19
CHƯƠNG 2 VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ THỰC HÀNH DÂN CHỦ VÀO VIỆC NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HÀNH DÂN CHỦ CỦA NHÂN DÂN Ở NÔNG THÔN ỨNG HÕA – HÀ NỘI
HIỆN NAY 2.1 Những yếu tố tác động đến thực hành dân chủ của nhân dân ở nông thôn Ứng Hòa – Hà Nội hiện nay
2.1.1 Điều kiện tự nhiên, dân cư
- Điều kiện tự nhiên:
“Ứng Hòa là huyện đồng bằng nằm ở đông nam tỉnh Hà Tây cũ (nay thuộc Hà Nội) có diện tích tự nhiên là 183,72 km2
.”
“Địa giới hành chính huyện Ứng Hòa gồm 29 đơn vị hành chính: 1 thị trấn và 28 xã.”Dân số năm 2005 là 195.941 người, trong đó: Đô thị là 13.568 người (chiếm 6,92%), nông thôn: 182.373 người (chiếm 93,08%) Mật độ dân
số trung bình là 1.066 người/km2
“ Ứng Hòa là huyện đồng bằng nằm trong vùng thuộc miền văn minh lúa nước sông Hồng Huyện nằm trong vùng đồng bằng sông Hồng, có điều kiện khí hậu đất đai đa dạng, phù hợp với khả năng phát triển một nền nông nghiệp sinh thái toàn diện, mang đặc trưng của nền sản xuất nông nghiệp truyền thống Nhân dân có truyền thống lao động cần cù, sáng tạo, đoàn kết, yêu quê hương xóm làng.”
“Hệ thống kết cấu hạ tầng từng bước được xây dựng và cải thiện là một khâu đột phá tạo tiền đề cho phát triển kinh tế - xã hội của huyện Các tuyến trục giao thông quan trọng kết nối huyện Ứng Hòa với thành phố Hà Đông; các trung tâm kinh tế của thành phố Hà Nội; vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ
và các tỉnh đồng bằng sông Hồng đã và đang hình thành mở rộng.”
- Điều kiện dân cư:
Từ năm 1986 đến nay, cùng với công cuộc đổi mới đất ước, tình hình kinh tế - xã hội của Ứng Hòa có nhiều biến chuyển, đạt được nhiều thành tựu Bối cảnh này tạo ra môi trường sống ổn định, phát triển cho cư dân trên địa bàn Dân số Ứng Hòa tăng thêm khoảng 30.000 người Đặc biệt, trong khoảng
Trang 2620
10 năm trở lại đây, quy mô dân số ở một số xã có sự biến động rất mạnh mẽ Thị trấn Vân Đình, các xã phía Bắc huyện, các tuyến dân cư ven trục đường 21B, 248 vẫn tiếp tục là nơi thu hút đông dân cư Điều đáng chú ý là trong những năm gần đây, dân số Ứng Hòa tăng chậm, thậm chí giảm ở một số năm Nguyên nhân chủ yếu là tỉ lệ sinh giảm xuống và ngày càng nhiều người
đi lao động, sinh sống ở các địa phương khác, tập trung ở nội thành Hà Nội
Những năm gần đây, số lao động phi nông nghiệp ở Ứng Hòa có chiều hướng tăng lên nhanh chóng Năm 2000, Ứng Hòa đầu tư 130 triệu đồng cho chương trình khuyến công, toàn huyện có 6 làng nghề, 8 làng có nghề, thu hút 16.820 lao động, trong đó, lao động chuyên là 9.000 người Năm 2005, toàn huyện có 15 doanh nghiệp, 16 làng nghề, 10.543 hộ sản xuất kinh doanh với 21.970 lao động, trong đó có 4.350 hộ chuyên và 10.500 lao động chuyên Năm 2010, tỉ trọng lao động khu vực công nghiệp – xây dựng tăng 25%, tỉ trọng lao động khu vực dịch vụ tăng 26,5%, tỉ trọng lao động trong khu vực nông nghiệp giảm xống còn 52% Năm 2012, số lao động phi nông nghiệp ở Ứng Hòa có 18.875 người Lao động tiểu thủ công nghiệp đạt cao nhất vào năm 2003 là 16.246 người, sau đó giảm còn 9.282 người năm 2012 Số người lao động công nghiệp tăng tương đối ổn định, năm 2011 có 13.351 người
2.1.2 Điều kiện kinh tế - văn hóa - xã hội
Về kinh tế,
“Nhìn chung, nền kinh tế của huyện Ứng Hòa có tốc độ tăng trưởng nhanh, khá ổn định, ngày càng bền vững Tăng trưởng kinh tế đi liền với chuyển dịch cơ cấu kinh tế.”
“Trong thời kỳ đổi mới, cơ cấu kinh tế huyện Ứng Hòa chuyển dịch dần theo cơ chế thị trường với sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế, có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa Xét về tổng thể, tỉ trọng công nghiệp, dịch vụ, thương mại tăng lên Để thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng nhanh và bền vững, Ứng Hòa lấy nông nghiệp làm cơ sở cho sự ổn định, phát triển; công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ, thương mại làm mũi nhọn.”
Trang 2721
Về văn hóa,
Ứng Hòa là một vùng đất có nền văn hóa lâu đời, gìn giữ được những nét đẹp văn hóa của ông cha ta từ thế hệ này qua thế hệ khác
Một trong những nét văn hóa đặc sắc ở Ứng Hòa là các di tích lịch sử
và lễ hội truyền thống, hệ thống đình – chùa – miếu mạo ở Ứng Hòa cũng là nơi lưu giữ nhiều nét kiến trúc nghệ thuật độc đáo, các lễ hội dân gian truyền thống cũng được lưu giữ qua từng thế hệ
Trong tương lai, để tiếp tục xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc cũng như xây dựng “đời sống văn hóa xóm làng”, huyện Ứng Hòa đã thực hiện nâng cao mức sáng tạo và đa dạng về văn hóa – nghệ thuật, nâng cao hơn nữa đời sống văn hóa cho nhân dân, đẩy mạnh hơn nữa phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”
Về giáo dục,
Ứng Hòa là vùng đất có truyền thống hiếu học lâu đời hình thành từ yếu tố nội lực của con người nơi đây Yếu tố đầu tiên tạo nên truyền thống hiếu học của các làng trước hết là từ trong gia đình, tiếp theo là tố chất thông minh, nghị lực phấn đấu và ý chí vươn lên là yếu tố vô cùng quan trọng; hơn hết các cấp Ủy Đảng, chính quyền, các đoàn thể đã có nhiều quan tâm, chăm
lo, tạo điều kiện thuận lợi cho ngành giáo dục phát triển
Về y tế,
“Hệ thống cơ sở y tế không ngừng hoàn thiện Mạng lưới y tế từ huyện tới cơ sở tiếp tục được củng cố Bệnh viện đa khoa Vân Đình là bệnh viện khu vực của thành phố Hà Nội.”
2.2 Thực trạng thực hành dân chủ của nhân dân ở nông thôn Ứng Hòa –
Hà Nội hiện nay và nguyên nhân
2.2.1 Thực trạng thực hành dân chủ của nhân dân ở nông thôn Ứng Hòa – Hà Nội hiện nay
Thứ nhất, về việc thực hành "dân biết"
“Nhận thức đường lối, chính sách và pháp luật về thực hành dân chủ là cơ