1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tội in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước (trên cơ sở thực tiễn địa bàn tỉnh phú thọ)

100 161 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 100
Dung lượng 1,47 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với mong muốn tìm ra giải pháp nhằm đấu tranh có hiệu quả, tăng cường năng lực áp dụng pháp luật trong giải quyết loại án về tội phạm xâm phạm trật tự quản lý kinh tế trong lĩnh vực in,

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

CHU KHÁNH PHƯƠNG

TộI IN, PHáT HàNH, MUA BáN TRáI PHéP HóA ĐƠN, CHứNG Từ THU NộP NGÂN SáCH NHà NƯớC (Trên cơ sở thực tiễn địa bàn tỉnh Phú Thọ)

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

CHU KHÁNH PHƯƠNG

TộI IN, PHáT HàNH, MUA BáN TRáI PHéP HóA ĐƠN, CHứNG Từ THU NộP NGÂN SáCH NHà NƯớC (Trên cơ sở thực tiễn địa bàn tỉnh Phú Thọ)

Chuyờn ngành: Luật hỡnh sự và tố tụng hỡnh sự

Mó số: 60 38 01 04

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Cỏn bộ hướng dẫn khoa học: GS.TS ĐỖ NGỌC QUANG

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các kết quả trong luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong khóa luận tốt nghiệp đảm bảo độ tin cậy, chính xác và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật- Đại học Quốc gia Hà Nội

Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

NGƯỜI CAM ĐOAN

Chu Khánh Phương

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Mục lục

Danh mục các từ viết tắt

Danh mục các bảng

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: NHẬN THỨC CHUNG VỀ TỘI IN, PHÁT HÀNH, MUA BÁN TRÁI PHÉP HÓA ĐƠN, CHỨNG TỪ THU NỘP NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC 8

1.1 Các khái niệm có liên quan 8

1.1.1 Khái niệm hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước 8

1.1.2 Khái niệm in trái phép hóa đơn, chứng từ 16

1.1.3 Khái niệm phát hành trái phép hóa đơn, chứng từ 20

1.1.4 Khái niệm mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ 21

1.1.5 Khái niệm về tội in, phát hành, mua bán trái phép hoá đơn chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước 23

1.2 Quá trình phát triển của Luật Hình sự Việt Nam về tội in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước 24

1.2.1 Giai đoạn từ năm 1945 đến năm 2009 24

1.2.2 Giai đoạn từ năm 2009 đến năm 2015 29

1.3 Quy định của luật hình sự Việt Nam về tội in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước 31

1.3.1 Khách thể của tội phạm 32

Trang 5

1.3.2 Mặt khách quan của tội phạm 33

1.3.3 Mặt chủ quan của tội phạm 36

1.3.4 Chủ thể của tội phạm 37

1.3.5 Hình phạt 37

1.4 Phân biệt tội in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước với tội vi phạm quy định về bảo quản, quản lý hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước 43

Chương 2: TÌNH HÌNH ÁP DỤNG LUẬT HÌNH SỰ ĐỐI VỚI TỘI IN, PHÁT HÀNH, MUA BÁN TRÁI PHÉP HÓA ĐƠN, CHỨNG TỪ THU NỘP NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH PHÚ THỌ VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP, KIẾN NGHỊ 47

2.1 Tình hình áp dụng Luật hình sự đối với tội in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh Phú Thọ 47

2.1.1 Những kết quả đạt được trong áp dụng luật hình sự đối với với tội in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh Phú Thọ 47

2.1.2 Những tồn tại, vướng mắc trong áp dụng luật hình sự đối với với tội in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh Phú Thọ 58

2.1.3 Nguyên nhân gây nên những tồn tại, vướng mắc trong áp dụng luật hình sự đối với tội in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh Phú Thọ 64

2.2 Một số giải pháp kiến nghị nâng cao hiệu quả áp dụng luật hình sự về tội in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước 67

2.2.1 Tiếp tục hoàn thiện quy định của Bộ luật Hình sự 2015 về tội in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước 67

Trang 6

2.2.2 Ban hành các văn bản dưới luật hướng dẫn thi hành quy định

của Bộ luật Hình sự 2015 về tội in, phát hành, mua bán trái

phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước 74

2.2.3 Hoàn thiện các quy định pháp luật khác có liên quan đến hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước 80

2.2.4 Nâng cao hiệu quả hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng trong công tác điều tra, truy tố, xét xử đối với tội phạm về in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước 83

2.2.5 Các giải pháp khác 85

KẾT LUẬN 86

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 88

Trang 7

6 TTLT Thông tư liên tịch

7 VKSNDTC Viện kiểm sát nhân dân tối cao

8 XPTTQLKT Xâm phạm trật tự quản lý kinh tế

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1 So sánh số vụ án trong nhóm tội xâm phạm trật tự

quản lý kinh tế đã được xét xử sơ thẩm trong tổng số

vụ án hình sự giai đoạn từ năm 2012 đến năm 2016 48 Bảng 2.2 So sánh số vụ án đã được xét xử sơ thẩm về tội in,

phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp NSNN so với số vụ án trong trong nhóm tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế trong giai đoạn từ năm

Bảng 2.3 So sánh số vụ án đã được xét xử sơ thẩm về tội in,

phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp NSNN so với số vụ án trong trong nhóm tội về thuế, tài chính, ngân hàng, chứng khoán, bảo hiểm trong giai đoạn từ năm 2012 đến năm 2016 49

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu

Quản lý hoạt động kinh tế nhằm mục đích sản xuất nhiều hàng hóa, tạo điều kiện phát triển xã hội, đồng thời điều chỉnh các hoạt động kinh tế theo trật tự của giai cấp thống trị là đòi hỏi khách quan của bất kỳ nhà nước nào Luật Hình sự với vai trò bảo vệ trật tự quản lý kinh tế của nhà nước bằng cách quy định tội phạm và hình phạt áp dụng đối với người có hành vi xâm hại trật

tự quản lý kinh tế

Trong những năm gần đây, tội phạm trong lĩnh vực kinh tế nói chung

và tội phạm trong lĩnh vực quản lý trật tự kinh tế nói riêng đã và đang diễn biến hết sức phức tạp ở nước ta Báo cáo tổng kết hàng năm của cơ quan Công an, Viện kiểm sát, Tòa án đều nhận định số lượng các vụ án cũng như bị can, bị cáo về các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế không tăng đột biến nhưng phương thức, thủ đoạn ngày càng tinh vi Thực tế đó đã ảnh hưởng không nhỏ đến trật tự quản lý kinh tế của đất nước, là rào cản tới sự ổn định, phát triển của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

Bộ luật Hình sự hiện hành nhìn chung vẫn là sản phẩm mang đậm dấu

ấn của thời kỳ đầu của quá trình chuyển đổi từ nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa do vậy chưa thực sự phát huy tác dụng trong việc bảo vệ và thúc đẩy các nhân tố tích cực của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa phát triển một cách lành mạnh Một số quy định của Bộ luật tỏ ra không còn phù hợp với điều kiện phát triển của nền kinh tế thị trường Mặt khác, nhiều tội phạm mới phát sinh trong quá trình vận hành nền kinh tế chưa được kịp thời bổ sung hoặc tuy

đã được bổ sung nhưng chưa đầy đủ, toàn diện nhất là các tội phạm trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh, thương mại, tài chính, ngân hàng, thuế, bảo hiểm…

Trang 10

Mặc dù BLHS năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009 đã có những thay đổi quan trọng khi tội phạm hóa đối với các tội liên quan trực tiếp đến lĩnh vực thuế đã bổ sung hai điều luật quy định tại Điều 164a (Tội in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước) và Điều 164b (Tội vi phạm quy định về bảo quản, quản lý hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước) Đồng thời, việc ban hành Thông tư liên tịch số 10/2013/TTLT-BTP-BCA-TANDTC-VKSNDTC về hướng dẫn áp dụng một số điều của BLHS về các tội phạm trong lĩnh vực thuế, tài chính - kế toán và chứng khoán Tuy nhiên, với tính chất phức tạp của các loại tội phạm liên quan đến thuế, tài chính đồng thời các đối tượng phạm tội luôn có những thủ đoạn tinh

vi nhằm chiếm đoạt tiền thuế của nhà nước nên việc đấu tranh phòng chống các tội phạm xâm phạm trật tự quản lý kinh tế nói chung và tội phạm liên quan đến in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước nói riêng còn chưa đạt kết quả cao Nhiều vụ án được phát hiện nhưng việc điều tra, truy tố còn chậm, nhiều vụ án bị đình chỉ điều tra, một số

vụ án đã được khởi tố nhưng còn tranh cãi về tội danh

Do chính những khó khăn, vướng mắc trong việc áp dụng BLHS về các tội phạm xâm phạm trật tự quản lý kinh tế trong lĩnh vực in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước và đấu tranh với loại tội phạm này Với mong muốn tìm ra giải pháp nhằm đấu tranh có hiệu quả, tăng cường năng lực áp dụng pháp luật trong giải quyết loại án về tội phạm xâm phạm trật tự quản lý kinh tế trong lĩnh vực in, phát hành, mua bán

trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước nên tôi chọn đề tài:

“Tội in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách

nhà nước (Trên cơ sở thực tiễn địa bàn tỉnh Phú Thọ)” làm đề tài luận văn

thạc sĩ luật học của mình

Trang 11

2 Tình hình nghiên cứu

Tội phạm kinh tế nói chung, tội phạm xâm phạm trật tự quản lý kinh tế nói riêng luôn là vấn đề mang tính thời sự xuất phát từ tính “động” của nền kinh tế Từ ý nghĩa lý luận và thực tiễn cũng như sự phức tạp của vấn đề nghiên cứu, vấn đề tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế trong lĩnh vực in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước đã thu hút được sự quan tâm nghiên cứu của giới khoa học Đã có khá nhiều công trình nghiên cứu về các tội phạm xâm phạm trật tự quản lý kinh tế nói chung

và tội in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước nói riêng Tác giả sắp xếp theo từng nhóm công trình có liên quan đến luận văn như sau:

Thứ nhất: các công trình nghiên cứu dưới dạng tài liệu chuyên khảo,

tham khảo, giáo trình, bình luận khoa học Đây là những tài liệu mang tính chất phổ biến cung cấp tri thức lý luận cơ bản nhất liên quan đến đề tài tác giả nghiên cứu Có thể kể đến một số công trình tiêu biểu như sách chuyên khảo:

“Tội phạm kinh tế thời mở cửa” do PGS.TS Nguyễn Xuân Yêm, PGS.TS

Nguyễn Hòa Bình chủ biên, Nhà xuất bản công an nhân dân 2003; Sách

chuyên khảo sau đại học: “Những vấn đề cơ bản trong khoa học Luật Hình sự” của GS.TSKH Lê Cảm, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội, 2005; GS.TS Nguyễn Ngọc Anh (2009), Tài liệu tập huấn chuyên sâu Luật sửa đổi,

bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia -

Sự thật, Hà Nội; GS.TSKH Lê Cảm (2007), Giáo trình Luật Hình sự Việt Nam - Phần các tội phạm, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia, Hà Nội; Giáo trình

Luật Hình sự Việt Nam năm 2010, Đại học Luật Hà Nội; Sách: “Bình luận khoa học Bộ luật Hình sự Việt Nam năm 1999” của Viện nghiên cứu Khoa

học Pháp lý, Bộ Tư pháp, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia Hà Nội

Trang 12

Thứ hai: các công trình nghiên cứu thể hiện qua các luận án tiến sĩ như luận án tiến sĩ của tác giả Mai Thế Bảy: “Đấu tranh phòng và chống các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế”, năm 2006; Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Văn Nam: “Trách nhiệm hình sự đối với các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế trong Luật Hình sự Việt Nam”, năm 2007; Luận án tiến sĩ của tác giả Bùi Minh Thanh: “Vi phạm pháp luật và đấu tranh chống vi phạm pháp luật trong lĩnh vực kinh tế ở Việt Nam hiện nay”, năm 2003

Thứ ba: các công trình nghiên cứu trên các tạp chí chuyên ngành có thể

kể đến như ThS Nguyễn Văn Trượng (2009), Bàn về các quy định của Bộ luật hình sự về các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế, Tạp chí Tòa án nhân dân, Hà Nội; Vũ Trọng Khương (2006), Những bất cập khi áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự về các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế, Tạp chí Kiểm sát; ThS Huỳnh Quốc Hùng (2010), Cần sớm có các văn bản hướng dẫn áp dụng Điều 164a, 164b Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự 1999, Tạp chí Kiểm sát; Nguyễn Xuân Sơn (2011), Giả mạo tên người mua - vấn nạn của việc triển khai chính sách hóa đơn và giải pháp mã

số thuế, Tạp chí quản lý Nhà nước

Có thể nhận thấy tất cả các đề tài, công trình nghiên cứu trên ở một mức độ nào đó đã nghiên cứu về tội phạm trong lĩnh vực quản lý kinh tế nói chung, tuy nhiên chưa có đề tài, công trình nghiên cứu nào nghiên cứu một cách tổng thể về tội in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước và với tình hình thực tiễn trên địa bàn cụ thể là tỉnh Phú Thọ Để góp phần làm rõ thêm dấu hiệu pháp lý đặc trưng của loại tội phạm này, tạo nên sự thống nhất trong cách hiểu làm tiền đề cho hoạt động nghiên cứu và áp dụng pháp luật Chính vì vậy, tác giả lựa chọn vấn đề nghiên cứu như trên càng có ý nghĩa lý luận và thực tiễn cao

Trang 13

3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Các khái niệm, đặc điểm của tội phạm xâm phạm trật tự quản lý kinh tế trong lĩnh vực in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước; thực tiễn áp dụng các quy định về tội phạm xâm phạm trật tự quản lý kinh tế trong lĩnh vực in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng

từ thu nộp ngân sách nhà nước và một số kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định về tội in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước và giải pháp nâng cao hiệu quả đấu tranh, phòng chống loại tội phạm này trên thực tế Luận văn sẽ tập trung làm sáng tỏ một số vấn đề sau:

Thứ nhất, kiến giải làm rõ nội hàm các khái niệm có liên quan đến tội in,

phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước;

Thứ hai, nghiên cứu lược sử các quy định của pháp luật hình sự Việt

Nam về tội in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước;

Thứ ba, nghiên cứu và đánh giá thực trạng của việc thực thi các quy

định của pháp luật hình sự về tội in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước; phát hiện những vướng mắc và bất cập cần khắc phục trong các quy định của Luật thực định về tội in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước;

Thứ tư, đề xuất những kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định của pháp

luật hình sự về tội in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước;

Thứ năm, đề xuất phương hướng và giải pháp cụ thể nhằm nâng cao

hiệu quả áp dụng các quy định của pháp luật hình sự về tội in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước trong mối tương quan với công tác đấu tranh phòng và chống tội phạm

Trang 14

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi không gian: Luận văn tập trung nghiên cứu một số vấn đề lý

luận về tội in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước trong Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009;

Bộ luật Hình sự 2015 và thực tiễn áp dụng quy định của Bộ luật Hình sự về tội phạm này trên địa bàn tỉnh Phú Thọ từ năm 2012 đến năm 2016

4 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình nghiên cứu, tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu

cụ thể sau đây:

- Phương pháp phân tích tài liệu, sử dụng để hệ thống hóa những vấn

đề lý luận về tội in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước; đánh giá thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử đối với tội in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh Phú Thọ

- Phương pháp tổng kết thực tiễn, sử dụng để nghiên cứu tổng kết đánh

giá những kết quả, tài liệu thu thập được từ thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật hình sự về tội in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng

từ thu nộp ngân sách nhà nước

- Phương pháp chuyên gia, sử dụng để tham khảo ý kiến của cán bộ

thực tiễn, các chuyên gia nghiên cứu về những vấn đề có liên quan đến các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế nói chung và tội in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước nói riêng

5 Những đóng góp của đề tài

Có thể khẳng định, Luận văn là công trình nghiên cứu chuyên khảo dưới góc độ Luật Hình sự và Tố tụng hình sự, có sự tiếp thu tri thức của các công trình khoa học đã được công bố trước đây về tội phạm xâm phạm trật tự quản lý kinh tế trong lĩnh vực in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn,

Trang 15

chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước, đi sâu phân tích, luận giải một cách có

hệ thống và khoa học về những khía cạnh khác nhau có liên quan đến lý luận

và thực tiễn thực thi các quy định của pháp luật hình sự Việt Nam liên quan đến tội phạm xâm phạm trật tự quản lý kinh tế trong lĩnh vực in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước

6 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, Luận văn có 2 chương:

Chương 1 Nhận thức chung về tội in, phát hành, mua bán trái phép hóa

đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước

Chương 2 Tình hình áp dụng Luật hình sự đối với tội in, phát hành,

mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh Phú Thọ và những giải pháp, kiến nghị

Trang 16

Chương 1 NHẬN THỨC CHUNG VỀ TỘI IN, PHÁT HÀNH, MUA BÁN TRÁI PHÉP HÓA ĐƠN, CHỨNG TỪ THU NỘP NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC

1.1 Các khái niệm có liên quan

1.1.1 Khái niệm hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước

Theo nguyên nghĩa, hóa đơn là “giấy người bán đưa cho người mua hàng để là bằng chứng đã trả tiền” [44, tr.472] mà cụ thể hơn đó là “giấy ghi các chỉ số như: tên người mua hàng, loại hàng bán ra, giá tiền để làm chứng từ” [1, tr.818] Với cách hiểu này, hóa đơn luôn tồn tại dưới hình thức giấy và

là phương tiện ghi nhận quan hệ mua bán hàng hóa giữa người bán hàng và người mua hàng trong hoạt động kinh tế nói riêng, trong giao lưu dân sự nói chung Cũng theo cách hiểu này thì hóa đơn chỉ được sử dụng hạn hẹp trong lĩnh vực mua bán hàng hóa, chứ chưa khẳng định vai trò trong các hoạt động cung ứng dịch vụ

Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường và sự phát triển của xã hội, thuật ngữ hóa đơn ngày càng được sử dụng rộng rãi hơn trong lĩnh vực kinh tế, đặc biệt là trong các hoạt động mua bán hàng hóa, hóa đơn đóng vai trò là “bằng chứng” cho hành vi mua bán các loại hàng hóa nhất định cũng như giá trị thành tiền của từng loại hàng hóa đó Nội hàm và ngoại diên của khái niệm hóa đơn được khai thác sâu hơn, vai trò của hóa đơn ngày càng được khẳng định, được mở rộng sang lĩnh vực dịch vụ và được ghi nhận chính thức trong các văn bản pháp lý chuyên ngành, hình thức của hóa đơn cũng có sự thay đổi, các loại hóa đơn cũng đa dạng hơn, theo đó:

Hóa đơn là chứng từ được in sẵn thành mẫu, in từ máy tính tiền, in thành vé có mệnh giá theo quy định của Nhà nước, xác nhận khối lượng, giá trị của hàng hóa, dịch vụ mua, bán, trao đổi quyền

Trang 17

lợi và nghĩa vụ của các bên tham gia giao dịch mua, bán, trao đổi hàng hóa, dịch vụ [9, Điều 3, Khoản 1]

Tuy nhiên, định nghĩa này về hóa đơn đã có sự thay đổi theo hướng phản ánh đúng hơn bản chất của hóa đơn trong nền kinh tế thị trường Theo quy định tại Nghị định số 51/2010/NĐ-CP ngày 14 tháng 5 năm 2010 của Chính phủ về hóa đơn bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ (Nghị định số 51/2010/NĐ-CP) và Nghị định số 04/2014/NĐ-CP ngày 17 tháng 01 năm

2014 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định

51/2010/NĐ-CP ngày 14/5/2010 của Chính phủ (Nghị định số 04/2015/NĐ-51/2010/NĐ-CP) và Thông

tư số 39/2014/TT-BTC ngày 31 tháng 3 năm 2014 hướng dẫn thi hành Nghị định 51/2010/NĐ-CP và Nghị định 04/2014/NĐ-CP (Thông tư số 39/2014/TT-

BTC) thì hóa đơn được hiểu “là chứng từ do người bán lập ghi nhận thông tin bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ theo quy định của pháp luật” Nghị định số

51/2010/NĐ-CP ra đời được đánh giá là có nhiều điểm kế thừa và thay thế Nghị định số 89/2002/NĐ-CP của Chính phủ ngày 07 tháng 11 năm 2002 quy định về việc in, phát hành, sử dụng, quản lý hóa đơn (Nghị định số 89/2002/NĐ-CP) nhằm tạo cơ chế linh hoạt hơn nữa cho các chủ thể trong quá trình sử dụng, quản lý hóa đơn, chứng từ Các thông tin hàng hóa, dịch vụ

ở đây có thể hiểu chính là khối lượng, giá trị của hàng hóa, dịch vụ mua bán trao đổi Đồng thời, hóa đơn cũng phải đảm bảo xác nhận các thông tin về quyền lợi và nghĩa vụ của các bên tham gia giao dịch mua bán, trao đổi hàng hóa, dịch vụ (các quy định tại Điều 3 Khoản 1 Nghị định số 89/2002/NĐ-CP không trái với quy định tại Nghị định số 51/2010/NĐ-CP)

Về các loại hóa đơn, Điều 1 Nghị định số 04/2014/NĐ-CP và Điều 3 Thông tư số 39/2014/TT-BTC quy định bao gồm:

- Hóa đơn giá trị gia tăng là loại hóa đơn dành cho các tổ chức khai,

tính thuế giá trị gia tăng theo phương pháp khấu trừ trong các hoạt động: Bán

Trang 18

hàng hóa, cung ứng dịch vụ trong nội địa; Hoạt động vận tải quốc tế; Xuất vào khu phi thuế quan và các trường hợp được coi như xuất khẩu; Xuất khẩu hàng hóa, cung ứng dịch vụ ra nước ngoài

- Hóa đơn bán hàng dùng cho các: Tổ chức, cá nhân khai, tính thuế giá

trị gia tăng theo phương pháp trực tiếp khi bán hàng hóa, dịch vụ trong nội địa, xuất vào khu phi thuế quan và các trường hợp được coi như xuất khẩu, xuất khẩu hàng hóa, cung ứng dịch vụ ra nước ngoài; Tổ chức, cá nhân trong khu phi thuế quan khi bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ vào nội địa và khi bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ giữa các tổ chức, cá nhân trong khu phi thuế quan với nhau, xuất khẩu hàng hóa, cung ứng dịch vụ ra nước ngoài, trên hóa đơn ghi rõ “Dành cho tổ chức, cá nhân trong khu phi thuế quan”

- Hóa đơn khác gồm: tem; vé; thẻ; phiếu thu tiền bảo hiểm …; Phiếu

thu tiền cước vận chuyển hàng không; chứng từ thu cước phí vận tải quốc tế; chứng từ thu phí dịch vụ ngân hàng…, hình thức và nội dung được lập theo thông lệ quốc tế và các quy định của pháp luật có liên quan

Đồng thời xác định ba hình thức hóa đơn bao gồm: Hóa đơn tự in, hóa đơn điện tử và hóa đơn đặt in Hóa đơn tự in là hóa đơn do các tổ chức kinh doanh tự in ra trên các thiết bị tin học, máy tính tiền hoặc các loại máy khác khi bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ; Hóa đơn điện tử là tập hợp các thông điệp dữ liệu điện tử về bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, được khởi tạo, lập, gửi, nhận, lưu trữ và quản lý theo quy định tại Luật Giao dịch điện tử và các văn bản hướng dẫn thi hành; Hóa đơn đặt in là hóa đơn do các tổ chức đặt in theo mẫu để sử dụng cho hoạt động bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, hoặc do

cơ quan thuế đặt in theo mẫu để cấp, bán cho các tổ chức, hộ, cá nhân

So với Nghị định số 89/2002/NĐ-CP thì các loại và hình thức hóa đơn

đã có nhiều điểm khác biệt trong Nghị định số 51/2010/NĐ-CP Theo đó, nghị định mới đã bổ sung thêm loại hóa đơn xuất khẩu vào diện điều chỉnh

Trang 19

“nhằm hạn chế thủ tục hành chính khi phải lập hóa đơn giá trị gia tăng cho hàng hóa xuất khẩu” [36, tr.50] Đồng thời quy định hình thức hóa đơn tự in

và hóa đơn điện tử “để các doanh nghiệp có thể áp dụng công nghệ thông tin trong việc tạo, lập, quản lý và lưu trữ hóa đơn với chi phí thấp” [36, tr.51]

Như vậy, theo quy định của pháp luật thì hóa đơn luôn là chứng từ chứa đựng những thông tin về hàng hóa, dịch vụ, về các bên chủ thể trong quan hệ mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ Các quy định trên cũng được áp dụng với chứng từ ở những khía cạnh nhất định trong một số trường hợp cụ thể bởi

vì giữa hóa đơn và chứng từ không có sự khác biệt về vai trò và ý nghĩa, nhưng sự khác biệt nhất định về phạm vi nội hàm khái niệm giữa chúng là nội dung cần được làm rõ bởi hóa đơn là chứng từ nhưng chứng từ không có nghĩa là hóa đơn trong mọi trường hợp

Ở góc độ lý luận, khái niệm chứng từ được đưa ra bởi nhiều nguồn tài

liệu khác nhau: Theo tiếng La tinh chứng từ là “Documentum” có nghĩa là bằng cớ, chứng minh [19] Theo từ điển Tiếng Việt, Chứng từ là “giấy tờ làm bằng chứng thu chi, xuất nhập” [1, tr.415] Một số tài liệu khác cho rằng “bất cứ bằng chứng tài liệu hỗ trợ cho các mục ghi trong sổ sách kế toán, thiết lập chính xác số học của giao dịch cũng có thể được gọi là chứng từ” [5] Như vậy, thuật ngữ chứng từ cũng được nhấn mạnh với vai trò

chứng minh cho hoạt động có liên quan (chủ yếu trong hoạt động kinh tế)

mà với vai trò là “bằng chứng”, chứng từ luôn chứa đựng những thông tin nhất định về một vấn đề hay một hoạt động cụ thể trong thực tiễn đúng nghĩa với vai trò chứng minh của nó Mặc dù cũng có hình thức “giấy”, nhưng khái niệm chứng từ trên phản ánh ý nghĩa của chứng từ nhiều hơn là giấy mang thông tin như hóa đơn (theo nguyên nghĩa) Đây là các khái niệm chung, khái quát về chứng từ phần nào thể hiện bản chất cũng như ý nghĩa của chứng từ trong hoạt động kinh tế Tuy nhiên, với cách hiểu khái quát đó,

Trang 20

những khía cạnh quan trọng có liên quan đến hóa đơn, chứng từ không được

hé mở, không được tiếp cận và khai thác, từ đó khó có thể hình dung ra những vấn đề nóng, nổi cộm hiện nay trong các lĩnh vực có sử dụng hóa đơn chứng từ mà trước tiên là lĩnh vực kinh tế

Dưới góc độ pháp lý, khái niệm chứng từ được đề cập trong các tài liệu

và văn bản quy phạm pháp luật chuyên ngành thuộc một số lĩnh vực có liên quan Theo Từ điển Luật học do Viện khoa học Pháp lý, Bộ Tư pháp phát

hành năm 2006 thì: “Chứng từ là tài liệu phản ánh sự kiện kinh tế được lập theo hình thức và thủ tục Luật định, dùng làm căn cứ để ghi vào sổ sách kế toán và là tài liệu thông tin ban đầu của quản lý” [6, tr.166] Theo một số tài

liệu nghiên cứu khác thì chứng từ bao gồm nhiều loại trong đó có cả chứng từ

có giá có thể chuyển nhượng được và được gọi là giấy tờ có giá được sử dụng trong giao lưu dân sự (như hóa đơn vận chuyển đường biển ) [16, tr.33] Trong lĩnh vực thương mại điện tử thì chứng từ còn là “hợp đồng, đề nghị, thông báo, tuyên bố, hóa đơn hoặc tài liệu khác do các bên đưa ra liên quan tới việc giao kết hay thực hiện hợp đồng”

Như vậy, dưới góc độ pháp lý, chứng từ là tài liệu phản ánh một sự kiện cụ thể chứ không chỉ đơn thuần là “giấy tờ” làm bằng chứng chứng minh cho các hoạt động kinh tế Theo đó, hình thức của chứng từ cũng theo thủ tục luật định (giấy hoặc phương tiện điện tử), các loại chứng từ cũng khá đa dạng

và phụ thuộc vào từng lĩnh vực nhất định, chúng không chỉ phản ánh nghiệp

vụ kế toán, quản lý nói riêng trong lĩnh vực kinh tế mà luôn gắn với nghĩa vụ pháp lý nhất định (nghĩa vụ bảo quản, quản lý theo quy định của pháp luật)

Từ những phân tích trên có thể thấy, về bản chất “chứng từ” là thuật ngữ rộng hơn hóa đơn (thực chất hóa đơn là một dạng chứng từ) Tuy nhiên, trên thực tế, chưa có bất kỳ văn bản pháp luật nào quy định tổng hợp các vấn

đề về chứng từ vì vậy vai trò của chứng từ chỉ có thể được đánh giá là

Trang 21

phương tiện chứng minh trong các hoạt động có liên quan xuất phát từ chính tên gọi của nó

Hiện nay khái niệm hóa đơn, chứng từ thu nộp NSNN chưa được ghi nhận trong bất kỳ một văn bản pháp luật nào và so với các lĩnh vực nghiên cứu khác thì khái niệm này còn khá mới mẻ Vì vậy, để có cách nhìn toàn diện và sâu sắc về hóa đơn, chứng từ thu nộp NSNN, việc chỉ ra những khác biệt căn bản giữa chúng so với hóa đơn, chứng từ thông thường trong hoạt động kinh tế là điều cần thiết

Trên thực tế và về phương diện lý luận khi nhấn mạnh mục đích và vai trò của hóa đơn, chứng từ, có sự khác biệt giữa hóa đơn, chứng từ trong hoạt động kinh tế nói chung với hóa đơn chứng từ thu nộp NSNN Trong hoạt động kinh tế, hóa đơn chứng từ phản ánh hoạt động kinh doanh và cũng là công cụ quản lý hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân tham gia kinh doanh Theo ThS Dương Thị Ninh - Vụ chính sách thuế, Bộ Tài chính, từ các thông tin trên hóa đơn “các doanh nghiệp có thể dễ dàng hạch toán được các luồng hàng hóa, dịch vụ cũng như sự vận động của các luồng tiền, vốn trong kinh doanh, xác định đúng các kết quả kinh doanh, lãi

lỗ của doanh nghiệp” [7] Khoản 1 Điều 20 Nghị định số 51/2010/NĐ-CP cũng quy định “hóa đơn chứa đựng thông tin xác định người mua được dùng

để hạch toán kế toán hoạt động mua bán hàng hóa, dịch vụ theo quy định của pháp luật về kế toán” [2] Như vậy, hóa đơn là chứng từ đóng vai trò quan trọng đối với hoạt động kế toán trong kinh doanh, đảm bảo hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp

Bên cạnh đó, hóa đơn hợp pháp chứa đựng thông tin xác định người mua còn có ý nghĩa chứng minh quyền sử dụng, quyền sở hữu hàng hóa, dịch vụ; hưởng chế độ khuyến mại, chế độ hậu mãi, xổ số hoặc được bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật (Điều 20 Nghị định số 51/2010/NĐ-

Trang 22

CP), điều đó khẳng định thêm một phần vai trò của hóa đơn đối với các chủ thể sử dụng chúng trong hoạt động có liên quan

Đối với hóa đơn, chứng từ thu nộp NSNN việc tiếp cận khái niệm hóa đơn, chứng từ còn phụ thuộc vào lĩnh vực quan trọng khác đó là lĩnh vực thu nộp NSNN, đồng thời phải căn cứ vào các văn bản pháp luật về NSNN nói chung và văn bản pháp luật về thuế nói riêng Theo quy định tại Khoản 1 Điều 5 Luật Ngân sách Nhà nước số 83/2015/QH13 của Quốc hội Khóa XIII

kỳ họp thứ hai ngày 25 tháng 6 năm 2015:

Thu ngân sách nhà nước bao gồm: a) Toàn bộ các khoản thu

từ thuế, lệ phí; b) Toàn bộ các khoản phí thu từ các hoạt động dịch

vụ do cơ quan nhà nước thực hiện, trường hợp được khoán chi phí hoạt động thì được khấu trừ; các khoản phí thu từ các hoạt động dịch vụ do đơn vị sự nghiệp công lập và doanh nghiệp nhà nước thực hiện nộp ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật; c) Các khoản viện trợ không hoàn lại của Chính phủ các nước, các tổ chức, cá nhân ở ngoài nước cho Chính phủ Việt Nam và chính quyền địa phương; d) Các khoản thu khác theo quy định của pháp luật [35, Điều 5]

Trong các khoản thu trên, thuế là khoản thu có tính chất hoa lợi chiếm

tỷ trọng lớn nhất và quan trọng nhất của NSNN Theo quy định tại Điều 31 Luật Quản lý thuế 2006 thì hóa đơn, chứng từ là một trong những nội dung không thể thiếu của Hồ sơ khai thuế Điều 20 Nghị định số 51/2010/NĐ-CP cũng quy định hóa đơn hợp pháp chứa đựng thông tin xác định người mua được dùng để kê khai các loại thuế kê khai thanh toán vốn NSNN theo các quy định của pháp luật Theo quy định tại Điều 14 Luật thuế GTGT năm

2008 thì: Trong hoạt động mua bán hàng hóa, dịch vụ, cơ sở kinh doanh nào nộp thuế giá trị gia tăng theo phương pháp khấu trừ thì bắt buộc phải có hóa

Trang 23

đơn giá trị gia tăng; cơ sở kinh doanh nào nộp thuế giá trị gia tăng theo phương pháp tính trực tiếp trên giá trị gia tăng thì phải có hóa đơn bán hàng Đồng thời, hóa đơn chứng từ cũng là căn cứ để các doanh nghiệp, tổ chức,

cá nhân kinh doanh được khấu trừ thuế, hoàn thuế theo quy định của pháp luật Như vậy hóa đơn chứng từ là một trong những căn cứ quan trọng, làm

cơ sở cho việc xác định trị giá tính thuế và tính thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp

Các văn bản pháp luật chuyên ngành đã thể hiện rõ mối quan hệ của hóa đơn, chứng từ với các khoản thu NSNN Và những căn cứ pháp lý trên chính là cơ sở khẳng định hóa đơn, chứng từ thu nộp NSNN là những hóa đơn chứng từ có liên quan đến các khoản thu được nộp vào NSNN hàng năm theo quy định của Luật Ngân sách Nhà nước 2015 Theo ThS Huỳnh Quốc Hùng, hóa đơn, chứng từ thu nộp NSNN là hóa đơn chứng từ “của các khoản thu từ thuế, phí, lệ phí; các khoản thu từ hoạt động kinh tế của nhà nước; các khoản đóng góp của tổ chức, cá nhân; các khoản viện trợ, các khoản thu khác theo quy định của pháp luật” [21, tr.40]

Như vậy, về bản chất, hóa đơn chứng từ thu nộp NSNN trước tiên cũng phải là hóa đơn chứng từ trong hoạt động kinh tế nói chung, nhưng khi hóa đơn chứng từ đó được sử dụng để thực hiện công tác thu nộp NSNN thì lẽ dĩ nhiên,

nó đã trở thành hóa đơn, chứng từ thu nộp NSNN Và nếu hóa đơn, chứng từ thông thường có vai trò trực tiếp đối với hoạt động kinh tế thì hóa đơn, chứng

từ thu nộp NSNN lại thể hiện vai trò quan trọng trong lĩnh vực thu và nộp NSNN từ các khoản thu khác nhau bao gồm cả các khoản thu mang tính chất nghĩa vụ của các chủ thể pháp luật đối với Nhà nước trong lĩnh vực này, đặc biệt là các chủ thể kinh doanh thông qua khâu nộp thuế Đối với các chủ thể này, hóa đơn, chứng từ vừa là công cụ quản lý kinh doanh lại vừa là phương tiện kê khai thuế cũng như thực hiện nghĩa vụ nộp thuế hàng năm vào NSNN

Trang 24

Về mục đích và tầm quan trọng của các loại hóa đơn này cũng như sự khác biệt của chúng so với hóa đơn, chứng từ thông thường trong hoạt động kinh tế qua những lập luận trên đây, có thể đưa ra khái niệm chung nhất về

hóa đơn chứng từ thu nộp NSNN: Là hóa đơn, chứng từ của các khoản thu từ thuế, lệ phí; các khoản phí thu từ các hoạt động dịch vụ do cơ quan nhà nước thực hiện, trường hợp được khoán chi phí hoạt động thì được khấu trừ; các khoản phí thu từ các hoạt động dịch vụ do đơn vị sự nghiệp công lập và doanh nghiệp nhà nước thực hiện nộp ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật; các khoản viện trợ không hoàn lại của Chính phủ các nước, các tổ chức, cá nhân ở ngoài nước cho Chính phủ Việt Nam và chính quyền địa phương và các khoản thu khác theo quy định của pháp luật

1.1.2 Khái niệm in trái phép hóa đơn, chứng từ

Như đã khẳng định, hóa đơn là một loại chứng từ và giữa chúng không

có sự khác biệt về vai trò cũng như ý nghĩa, xét theo khía cạnh này các nội dung pháp lý chung nhất về việc in, phát hành, mua bán hóa đơn trong văn bản pháp luật chuyên ngành cũng cần được áp dụng đối với chứng từ Các nội dung pháp lý này được quy định khá cụ thể tại Nghị định số 51/2010/NĐ-CP; Nghị định số 04/2014/NĐ-CP; Thông tư số 39/2014/TT-BTC Bên cạnh đó, một số nội dung cũng được quy định tại Luật Kế toán

Khác với quan niệm cũ về việc in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp NSNN, trong điều kiện kinh tế thị trường, việc in, phát hành, mua bán hóa đơn thu nộp NSNN được xác định là một trong những hoạt động thường xuyên của doanh nghiệp, do đó Nhà nước mà cụ thể là cơ quan Thuế, cơ quan tài chính giảm bớt sự can thiệp vào việc in, phát hành và mua bán hóa đơn Doanh nghiệp được giao quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm trong hoạt động này Nhà nước chỉ thực hiện hoạt động kiểm tra, giám sát khi có dấu hiệu nghi ngờ Chính vì vậy, các điều kiện về in, phát hành và

Trang 25

quản lý hóa đơn thu nộp NSNN đã có những thay đổi cơ bản Đồng thời, các văn bản luật lại đưa ra các quy định về in hóa đơn, bởi vậy có thể hiểu là in trái phép hóa đơn là hành vi vi phạm các quy định về điều kiện cho phép của

in hóa đơn hợp pháp Cụ thể:

- Đối với hóa đơn tự in: Theo quy định tại Điều 5, Điều 6, Điều 7 Nghị định số 51/2010/NĐ-CP và Điều 1 Nghị định số 04/2014/NĐ-CP và Điều 6 Thông tư số 39/2014/TT-BTC thì các chủ thể sau có quyền được tạo hóa đơn

tự in: Các doanh nghiệp, đơn vị sự nghiệp được tạo hóa đơn tự in kể từ khi có

mã số thuế gồm: - Doanh nghiệp được thành lập theo quy định của pháp luật trong khu công nghiệp, khu kinh tế, khu chế xuất, khu công nghệ cao - Các đơn vị sự nghiệp công lập có sản xuất, kinh doanh theo quy định của pháp luật - Doanh nghiệp, Ngân hàng có mức vốn điều lệ từ 15 tỷ đồng trở lên tính theo số vốn đã thực góp đến thời điểm thông báo phát hành hóa đơn, bao gồm

cả Chi nhánh, đơn vị trực thuộc khác tỉnh, thành phố với trụ sở chính có thực hiện kê khai, nộp thuế GTGT; Doanh nghiệp mới thành lập từ ngày Thông tư này có hiệu lực thi hành có vốn điều lệ dưới 15 tỷ đồng là doanh nghiệp sản xuất, dịch vụ có thực hiện đầu tư mua sắm tài sản cố định, máy móc, thiết bị

có giá trị từ 1 tỷ đồng trở lên ghi trên hóa đơn mua tài sản cố định, máy móc, thiết bị tại thời điểm thông báo phát hành hóa đơn được tự in hóa đơn để sử dụng cho việc bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ nếu có đủ các điều kiện sau:

Đã được cấp mã số thuế; Có doanh thu bán hàng hóa, dịch vụ; Có hệ thống thiết bị (máy tính, máy in, máy tính tiền) đảm bảo cho việc in và lập hóa đơn khi bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ; Là đơn vị kế toán theo quy định của Luật

Kế toán và có phần mềm tự in hóa đơn đảm bảo định kỳ hàng tháng dữ liệu từ phần mềm tự in hóa đơn phải được chuyển vào sổ kế toán để hạch toán doanh thu và kê khai trên Tờ khai thuế GTGT gửi cơ quan thuế - Không bị xử phạt

vi phạm pháp luật về thuế hoặc đã bị xử phạt và đã chấp hành xử phạt vi

Trang 26

phạm pháp luật về thuế mà tổng số tiền phạt vi phạm pháp luật về thuế dưới năm mươi (50) triệu đồng trong vòng ba trăm sáu mươi lăm (365) ngày tính liên tục từ ngày thông báo phát hành hóa đơn tự in lần đầu trở về trước Có văn bản đề nghị sử dụng hóa đơn tự in (Mẫu số 3.14 Phụ lục 3 ban hành kèm theo Thông tư này) và được cơ quan thuế quản lý trực tiếp xác nhận đủ điều kiện Trong thời hạn 5 ngày làm việc kể từ khi nhận được văn bản đề nghị của doanh nghiệp, cơ quan thuế quản lý trực tiếp phải có ý kiến về điều kiện sử dụng hóa đơn tự in của doanh nghiệp (Mẫu số 3.15 Phụ lục 3 ban hành kèm theo Thông tư này)

- Đối với hóa đơn đặt in: Theo quy định tại Đ5, Đ6, Đ7 Nghị định số 51/2010/NĐ-CP và Điều 1 Nghị định số 04/2014/NĐ-CP và Điều 8 Thông tư

số 39/2014/TT-BTC thì các đối tượng sau được quyền tạo hóa đơn đặt in: Tổ chức kinh doanh mới thành lập thuộc đối tượng được tự in hóa đơn theo hướng dẫn tại Điều 6 Thông tư này nếu không sử dụng hóa đơn tự in thì được tạo hóa đơn đặt in để sử dụng cho các hoạt động bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ; Tổ chức kinh doanh, doanh nghiệp không thuộc đối tượng mua hóa đơn của cơ quan thuế hướng dẫn tại Điều 11 và Điều 12 Thông tư này được tạo hóa đơn đặt in để sử dụng cho các hoạt động bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ Trước khi đặt in hóa đơn lần đầu, tổ chức kinh doanh, doanh nghiệp phải gửi đến cơ quan thuế quản lý trực tiếp đề nghị sử dụng hóa đơn đặt in (Mẫu số 3.14 Phụ lục 3 ban hành kèm theo Thông tư này) Trong thời hạn 5 ngày làm việc kể từ khi nhận được đề nghị của tổ chức, doanh nghiệp, cơ quan thuế quản lý trực tiếp phải có Thông báo về việc sử dụng hóa đơn đặt in (Mẫu số 3.15 Phụ lục 3 ban hành kèm theo Thông tư này); Cục Thuế tạo hóa đơn đặt

in để bán và cấp cho các đối tượng hướng dẫn tại Điều 11, Điều 12 và Điều

13 Thông tư này

- Đối với tổ chức nhận in hóa đơn: Tổ chức nhận in hóa đơn phải là

Trang 27

doanh nghiệp có đăng ký kinh doanh còn hiệu lực và có giấy phép hoạt động ngành in (bao gồm cả in xuất bản phẩm và không phải xuất bản phẩm) Trường hợp đơn vị sự nghiệp công lập có hoạt động sản xuất kinh doanh như doanh nghiệp, có giấy phép hoạt động ngành in, có máy móc thiết bị ngành in thì được nhận in hóa đơn đặt in của các tổ chức

Các nội dung của hóa đơn: Điều 4 Nghị định số 51/2010/NĐ-CP và Điều 4 Thông tư số 39/2014/TT-BTC quy định hóa đơn phải đảm bảo đầy đủ các nội dung được thể hiện trên cùng một mặt giấy gồm: Tên loại hóa đơn; ký hiệu mẫu số hóa đơn và ký hiệu hóa đơn; tên liên hóa đơn; số thứ tự hóa đơn; tên, địa chỉ, mã số thuế của người bán; tên, địa chỉ, mã số thuế của người mua; tên hàng hóa, dịch vụ; đơn vị tính, số lượng, đơn giá hàng hóa, dịch vụ; thành tiền ghi bằng số và bằng chữ Đối với hóa đơn giá trị gia tăng, ngoài dòng đơn giá là giá chưa có thuế giá trị gia tăng, phải có dòng thuế suất thuế giá trị gia tăng, tiền thuế giá trị gia tăng, tổng số tiền phải thanh toán ghi bằng

số và bằng chữ; người mua, người bán ký và ghi rõ họ tên, dấu người bán (nếu có) và ngày, tháng, năm lập hóa đơn; tên tổ chức nhận in hóa đơn; hóa đơn được thể hiện bằng tiếng Việt

Nguyên tắc tạo hóa đơn: Điều 5 Nghị định số 51/2010/NĐ-CP và Thông tư số 39/2014/TT-BTC khẳng định: Tạo hóa đơn là hoạt động làm ra mẫu hóa đơn để sử dụng cho mục đích bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ của tổ chức kinh doanh thể hiện bằng các hình thức hóa đơn hướng dẫn tại Khoản 3 Điều 3 Thông tư này Tổ chức có thể đồng thời tạo nhiều hình thức hóa đơn khác nhau (hóa đơn tự in, hóa đơn đặt in, hóa đơn điện tử) theo quy định tại Nghị định số 51/2010/NĐ-CP, Nghị định số 04/2014/NĐ-CP và Thông tư này Tổ chức khi tạo hóa đơn không được tạo trùng số hóa đơn trong cùng ký hiệu Chất lượng giấy và mực viết hoặc in trên hóa đơn phải đảm bảo thời gian lưu trữ theo quy định của pháp luật về kế toán

Trang 28

Theo quy định tại Thông tư liên tịch số TANDTC-VKSNDTC-BTC ngày 26 tháng 6 năm 2013 hướng dẫn áp dụng một số điều của Bộ luật Hình sự về các tội phạm trong lĩnh vực thuế, tài chính

10/2013/TTLT-BTP-BCA kế toán và chứng khoán thì khái niệm in trái phép hóa đơn được hiểu như

sau: “In trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước là hành vi

tự in hóa đơn hoặc tự khởi tạo hóa đơn điện tử khi không đủ điều kiện hoặc không đúng, không đầy đủ các nội dung theo qui định của pháp luật; In hóa đơn giả hoặc khởi tạo hóa đơn điện tử giả” [7, Điều 2, Khoản 3]

1.1.3 Khái niệm phát hành trái phép hóa đơn, chứng từ

Về nguyên tắc, hóa đơn trước khi được đưa vào sử dụng cần phải được thông báo, phát hành và phải được phát hành theo mẫu kèm theo Thông tư số 39/2014/TT-BTC (Điều 10, Điều 11 Nghị định số 51/2010/NĐ-CP và Điều 1 Nghị định số 04/2014/NĐ-CP và Điều 9 Thông tư 39/2014/TT-BTC) Thông báo phát hành hóa đơn gồm: tên đơn vị phát hành hóa đơn, mã số thuế, địa chỉ, điện thoại, các loại hóa đơn phát hành (tên loại hóa đơn, ký hiệu hóa đơn,

ký hiệu mẫu số hóa đơn, ngày bắt đầu sử dụng, số lượng hóa đơn thông báo phát hành (từ số đến số ), tên và mã số thuế của doanh nghiệp in hóa đơn (đối với hóa đơn đặt in), tên và mã số thuế (nếu có) của tổ chức cung ứng phần mềm tự in hóa đơn (đối với hóa đơn tự in), tên và mã số thuế (nếu có) của tổ chức trung gian cung cấp giải pháp hóa đơn điện tử (đối với hóa đơn điện tử); ngày lập Thông báo phát hành, tên, chữ ký của người đại diện theo pháp luật và dấu của đơn vị

Theo quy định tại Thông tư liên tịch số TANDTC-VKSNDTC-BTC ngày 26 tháng 6 năm 2013 hướng dẫn áp dụng một số điều của Bộ luật Hình sự về các tội phạm trong lĩnh vực thuế, tài chính

10/2013/TTLT-BTP-BCA kế toán và chứng khoán thì khái niệm phát hành trái phép hóa đơn, chứng từ

thu nộp NSNN được hiểu như sau: “Phát hành trái phép hóa đơn, chứng từ

Trang 29

thu nộp ngân sách nhà nước là hành vi lập tờ thông báo phát hành không đầy

đủ nội dung; không gửi hoặc không niêm yết tờ thông báo phát hành hóa đơn theo đúng qui định” [7, Điều 2, Khoản 3]

1.1.4 Khái niệm mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ

Việc mua bán hoá đơn, chứng từ chỉ đặt ra trong trường hợp cơ quan thuế bán hóa đơn, chứng từ cho các đối tượng thuộc Điều 11 Thông tư 39/2014/TT-BTC bao gồm: Tổ chức không phải là doanh nghiệp nhưng có hoạt động kinh doanh (bao gồm cả hợp tác xã, nhà thầu nước ngoài, ban quản

lý dự án) Tổ chức không phải là doanh nghiệp nhưng có hoạt động kinh doanh là các tổ chức có hoạt động kinh doanh nhưng không được thành lập và hoạt động theo Luật Doanh nghiệp và pháp luật kinh doanh chuyên ngành khác; Hộ, cá nhân kinh doanh; Tổ chức kinh doanh, doanh nghiệp nộp thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp theo tỷ lệ % nhân với doanh thu; Doanh nghiệp đang sử dụng hóa đơn tự in, đặt in thuộc loại rủi ro cao về thuế; Doanh nghiệp đang sử dụng hóa đơn tự in, đặt in có hành vi vi phạm về hóa đơn bị

xử lý vi phạm hành chính về hành vi trốn thuế, gian lận thuế

Hóa đơn do Cục Thuế đặt in được bán theo giá bảo đảm bù đắp chi phí gồm: giá đặt in và phí phát hành Cục trưởng Cục Thuế quyết định và niêm yết giá bán hóa đơn theo nguyên tắc trên Cơ quan thuế các cấp không được thu thêm bất kỳ khoản thu nào ngoài giá bán đã niêm yết

Cơ quan thuế bán hóa đơn cho tổ chức, hộ, cá nhân kinh doanh theo tháng Số lượng hóa đơn bán cho tổ chức, hộ, cá nhân kinh doanh lần đầu không quá một quyển năm mươi (50) số cho mỗi loại hóa đơn Trường hợp chưa hết tháng đã sử dụng hết hóa đơn mua lần đầu, cơ quan thuế căn cứ vào thời gian, số lượng hóa đơn đã sử dụng để quyết định số lượng hóa đơn bán lần tiếp theo Đối với các lần mua hóa đơn sau, sau khi kiểm tra tình hình sử

Trang 30

dụng hóa đơn, tình hình kê khai nộp thuế và đề nghị mua hóa đơn trong đơn

đề nghị mua hóa đơn, cơ quan thuế giải quyết bán hóa đơn cho tổ chức, hộ, cá nhân kinh doanh trong ngày Số lượng hóa đơn bán cho tổ chức, hộ, cá nhân kinh doanh không quá số lượng hóa đơn đã sử dụng của tháng mua trước đó Trường hợp hộ, cá nhân kinh doanh không có nhu cầu sử dụng hóa đơn quyển nhưng có nhu cầu sử dụng hóa đơn lẻ thì cơ quan thuế bán cho hộ, cá nhân kinh doanh hóa đơn lẻ (01 số) theo từng lần phát sinh và không thu tiền Tổ chức, doanh nghiệp thuộc đối tượng mua hóa đơn do cơ quan thuế phát hành chuyển sang tự tạo hóa đơn đặt in, hóa đơn tự in hoặc hóa đơn điện tử để sử dụng thì phải dừng sử dụng hóa đơn mua của cơ quan thuế kể từ ngày bắt đầu

sử dụng hóa đơn tự tạo theo hướng dẫn tại Điều 21 Thông tư này

Doanh nghiệp, tổ chức, hộ, cá nhân kinh doanh thuộc đối tượng được mua hóa đơn do cơ quan thuế phát hành khi mua hóa đơn phải có đơn đề nghị mua hóa đơn và kèm theo các giấy tờ sau: Người mua hóa đơn (người

có tên trong đơn hoặc người được doanh nghiệp, tổ chức kinh doanh, chủ hộ kinh doanh ủy quyền bằng giấy ủy quyền theo quy định của pháp luật) phải xuất trình giấy chứng minh nhân dân còn trong thời hạn sử dụng theo quy định của pháp luật về giấy chứng minh nhân dân; Tổ chức, hộ, cá nhân mua hóa đơn lần đầu phải có văn bản cam kết về địa chỉ sản xuất, kinh doanh phù hợp với giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp hoặc giấy phép đầu tư (giấy phép hành nghề) hoặc quyết định thành lập của cơ quan có thẩm quyền Khi đến mua hóa đơn, doanh nghiệp, tổ chức, hộ, cá nhân mua hóa đơn do cơ quan thuế phát hành phải tự chịu trách nhiệm ghi hoặc đóng dấu: tên, địa chỉ, mã số thuế trên liên 2 của mỗi số hóa đơn trước khi mang ra khỏi cơ quan thuế nơi mua hóa đơn

Theo quy định tại Khoản 3, Điều 2 Thông tư liên tịch số

Trang 31

10/2013/TTLT-BTP-BCA-TANDTC-VKSNDTC-BTC ngày 26 tháng 6 năm 2013 hướng dẫn

áp dụng một số điều của Bộ luật Hình sự về các tội phạm trong lĩnh vực thuế, tài chính - kế toán và chứng khoán thì khái niệm mua bán trái phép hóa đơn,

chứng từ thu nộp NSNN được hiểu như sau:

Mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước gồm các hành vi sau đây: Mua, bán hoá đơn chưa ghi nội dung hoặc ghi nội dung không đầy đủ, không chính xác theo qui định; Mua, bán hoá đơn đã ghi nội dung, nhưng không có hàng hoá, dịch vụ kèm theo; Mua, bán hoá đơn giả, hóa đơn chưa có giá trị sử dụng, hóa đơn đã hết giá trị sử dụng, hóa đơn của cơ sở kinh doanh, dịch vụ khác để hợp thức hóa hàng hóa, dịch vụ mua vào hoặc cấp cho khách hàng khi bán hàng hóa dịch vụ; Mua, bán, sử dụng hoá đơn có sự chênh lệch về giá trị hàng hoá, dịch vụ giữa các liên của hoá đơn [7, Điều 2, Khoản 3]

1.1.5 Khái niệm về tội in, phát hành, mua bán trái phép hoá đơn chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước

Như vậy, hoá đơn chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước là các loại hoá đơn, giấy tờ, tài liệu được lập theo hình thức và thủ tục luật định liên quan đến hoạt động thu nộp ngân sách nhà nước phù hợp với các quy định của pháp luật trong lĩnh vực quản lý tài chính kế toán, thu nộp ngân sách nhà nước

Từ những phân tích ở trên có thể đưa ra khái niệm về cơ bản Tội in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước là những hành vi nguy hiểm cho xã hội cố ý làm trái các quy định của pháp luật chuyên ngành về việc in, phát hành, mua bán hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách Nhà nước xâm phạm trật tự quản lý kinh tế trong lĩnh vực tài chính - kế

toán, gây thiệt hại cho NSNN

Trang 32

1.2 Quá trình phát triển của Luật Hình sự Việt Nam về tội in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước

1.2.1 Giai đoạn từ năm 1945 đến năm 2009

Các hành vi phạm tội có liên quan đến hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước chỉ thực sự nguy hiểm trong điều kiện nền kinh tế thị trường, do đó cả một thời gian dài từ khi BLHS 1985 ra đời cho đến những năm 2000, các hành vi này không được đặt ra, thay vào đó BLHS lại quy định khá chi tiết, cụ thể các hành vi phạm tội liên quan đến chế độ tem, phiếu, vốn là những công cụ chủ yếu để thực hiện việc phân phối sản phẩm trong xã hội lúc bấy giờ

Trước khi sửa đổi, bổ sung BLHS 1999 vào tháng 6 năm 2009, các hành vi có tính chất tội phạm liên quan đến hóa đơn, chứng từ thu nộp NSNN chưa được quy định trực tiếp trong BLHS Trước thực trạng một số đối tượng

sử dụng hóa đơn GTGT để lừa đảo, chiếm đoạt tiền hoàn thuế từ NSNN, ngày

13 tháng 11 năm 2004 liên ngành Bộ Công an, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp đã ban hành Thông tư liên tịch số 21/2004/TTLT-BCA-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 13 tháng 11 năm 2004 hướng dẫn truy cứu trách nhiệm hình sự đối với hành vi mua bán, sử dụng trái phép hóa đơn giá trị gia tăng (Thông tư liên tịch số 21/2004) Thông tư này có thể được xác định là văn bản pháp luật hình sự đầu tiên quy định riêng về các tội phạm có liên quan đến hóa đơn, chứng từ

Theo đó, tùy thuộc vào động cơ, mục đích phạm tội mà các chủ thể có thể bị truy cứu TNHS về một trong các tội: Tội lừa đảo, chiếm đoạt tài sản theo Điều 139 BLHS; Tội tham ô tài sản theo Điều 278 BLHS; Tội buôn lậu theo Điều 153 BLHS; Tội trốn thuế theo Điều 161 BLHS; Tội tàng trữ, vận chuyển, lưu hành giấy tờ có giá giả theo Điều 268 BLHS Thông tư cũng quy định rõ các hành vi phạm tội trên thuộc trường hợp mua và sử dụng trái phép

Trang 33

hóa đơn GTGT, còn đối với trường hợp bán trái phép hóa đơn GTGT thì tùy vào ý thức chủ quan của người bán mà họ có thể bị truy cứu TNHS về các tội tương ứng với người mua hóa đơn với vai trò đồng phạm Cụ thể như sau:

a) Đối với hành vi mua và sử dụng trái phép hóa đơn GTGT:

Người nào có hành vi mua hóa đơn GTGT và sử dụng trái phép hóa đơn GTGT đó để lập hồ sơ khống chiếm đoạt tiền hoàn thuế giá trị gia tăng hoặc mua hóa đơn giá trị gia tăng và sử dụng trái phép hóa đơn giá trị gia tăng

đó để lập chứng từ khống về việc mua nguyên liệu, nhiên vật liệu, vật tư, hàng hóa chiếm đoạt tiền của cơ quan, tổ chức hoặc người khác thuộc một trong các trường hợp: Tiền hoàn thuế GTGT từ năm trăm nghìn đồng trở lên hoặc Tiền hoàn thuế GTGT dưới năm trăm nghìn đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc

đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản nhưng chưa được xóa án tích mà còn vi phạm thì bị truy cứu TNHS về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

Người có chức vụ (quy định tại Điều 277 BLHS) mua hóa đơn GTGT

và sử dụng trái phép hóa đơn đó để lập chứng từ khống về việc mua nguyên liệu, nhiên vật liệu, vật tư, hàng hóa chiếm đoạt tiền của cơ quan, tổ chức hoặc của người khác thuộc một trong các trường hợp: Tiền bị chiếm đoạt từ năm trăm nghìn đồng trở lên hoặc tiền bị chiếm đoạt dưới năm trăm nghìn đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử lý kỷ luật về hành vi này

mà còn vi phạm hoặc đã bị kết án về một trong số các tội quy định tại Mục A Chương XXI của BLHS (các tội phạm về tham nhũng) nhưng chưa được xóa

án tích mà còn vi phạm thì bị truy cứu TNHS về tội tham ô tài sản

Nếu là người khác, không phải là người có chức vụ mà chiếm đoạt thuộc một trong các trường hợp sau: Tiền chiếm đoạt từ năm trăm nghìn đồng trở lên hoặc; Tiền chiếm đoạt dưới năm trăm nghìn đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt

Trang 34

hoặc bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản nhưng chưa được xóa án tích mà còn

vi phạm thì bị truy cứu TNHS về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

Người nào có hành vi mua hóa đơn GTGT và sử dụng trái phép hóa đơn đó để hợp thức hóa chứng từ về việc buôn bán trái phép hàng hóa mà chứng minh được là hành vi buôn bán trái phép hàng hóa qua biên giới thuộc một trong các trường hợp: Hàng hóa có giá trị từ một trăm triệu đồng trở lên hoặc Hàng hóa có giá trị dưới một trăm triệu đồng nhưng đã bị xử phạt hành chính về hành vi quy định tại Điều 153 hoặc tại một trong các Điều 154,

155, 156, 157, 158, 159, 160, 161 (các tội phạm về kinh tế) của BLHS hoặc

đã bị kết án về một trong các hành vi này nhưng chưa được xóa án tích mà còn vi phạm nếu không thuộc trường hợp quy định tại các Điều 193, 194,

195, 196 (các tội phạm về ma túy), Điều 230, 236, 238 (các tội phạm xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng) của BLHS thì bị truy cứu TNHS

về tội buôn lậu

Nếu không chứng minh được hành vi buôn bán trái phép hàng hóa qua biên giới (tức là chỉ trong nội địa) mà thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị truy cứu TNHS về tội trốn thuế: Trốn thuế từ năm mươi triệu đồng trở lên hoặc Trốn thuế dưới năm mươi triệu đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trốn thuế hoặc đã bị kết án về tội trốn thuế hoặc về một trong các tội quy định tại Điều 153, 154, 155, 156, 157, 158, 159, 160, 164,

193, 194, 195, 196, 230, 232, 236, 238 của Bộ luật hình sự, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm

Người nào có hành vi mua hóa đơn GTGT mà không thuộc một trong các trường hợp kể trên thì việc truy cứu TNHS như sau: Trường hợp chứng minh được khi mua hóa đơn GTGT mà hóa đơn đó đã được ghi đầy đủ như đã mua bán hàng hóa thì người mua bị truy cứu TNHS về tội tàng trữ, vận chuyển, lưu hành giấy tờ có giá giả theo Điều 181 BLHS; Trường hợp không

Trang 35

chứng minh được hóa đơn GTGT đã được ghi đầy đủ như đã mua hàng hóa (hóa đơn còn nguyên như khi phát hành) thì người mua bị truy cứu TNHS về tội mua bán tài liệu của cơ quan nhà nước theo Điều 268 BLHS, nếu số lượng hóa đơn GTGT từ năm mươi số trở lên (thông thường mỗi số có ba liên) hoặc dưới năm mươi số nhưng đã bị xử phạt hành chính hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt, mua bán, tiêu hủy con dấu, tài liệu của cơ quan nhà nước, tổ chức

xã hội, nhưng chưa được xóa án tích mà còn vi phạm

b) Đối với hành vi bán trái phép hóa đơn GTGT:

Người nào có hành vi bán hóa đơn GTGT cho người khác, mà biết rõ mục đích sử dụng hóa đơn của người mua, nếu người mua bị truy cứu trách nhiệm hình sự về một trong các tội phạm đã kể trên thì người bán bị truy cứu TNHS về tội tương ứng đối với người mua với vai trò đồng phạm

Người nào có hành vi bán hóa đơn GTGT cho người khác mà không biết mục đích sử dụng hóa đơn của người mua nhưng không xác định được người mua thì việc truy cứu TNHS như sau: Trường hợp chứng minh được khi bán hóa đơn GTGT đó mà hóa đơn đã được ghi đầy đủ như đã mua bán hàng hóa thì người bán bị truy cứu TNHS về tội tàng trữ, vận chuyển, lưu hành giấy tờ có giá giả Trường hợp không chứng minh được hóa đơn GTGT

đã được ghi đầy đủ như đã mua hàng hóa (hóa đơn còn nguyên như khi phát hành) thì người bán bị truy cứu TNHS về tội mua bán tài liệu của cơ quan nhà nước theo Điều 268 BLHS nếu số lượng hóa đơn GTGT từ năm mươi số trở lên (thông thường mối số có ba liên) hoặc dưới năm mươi số nhưng đã bị xử phạt hành chính hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt, mua bán, tiêu hủy con dấu, tài liệu của cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội, nhưng chưa được xóa án tích mà còn vi phạm

Như vậy, Thông tư liên tịch đã quy định khá chi tiết cụ thể về các hành

vi khách quan và các thủ đoạn phạm tội khác nhau có thể diễn ra trên thực tế,

Trang 36

quy định về mức thiệt hại mà tội phạm gây ra phù hợp với điều kiện nền kinh

tế giai đoạn này, đồng thời quy định tội danh rõ ràng đối với từng trường hợp phạm tội, tạo thuận lợi cho công tác phòng chống cũng như xử lý tội phạm có liên quan đến hóa đơn GTGT để bòn rút tiền thuế từ NSNN từ lâu đã trở thành mối lo ngại chung cho xã hội, chúng thường lợi dụng những đặc trưng riêng của việc khấu trừ thuế GTGT (số thuế GTGT phải nộp = thuế GTGT đầu ra - thuế GTGT đầu vào, kết quả âm của phép tính chính là cơ sở để được khấu trừ thuế) để thực hiện hành vi phạm tội của mình nhằm lừa đảo, chiếm đoạt tiền thuế từ NSNN Các hành vi phạm tội được thực hiện với nhiều hình thức khác nhau như: Doanh nghiệp và cá nhân hoàn toàn ký hợp đồng và mua bán hóa đơn khống không có hàng hóa gì, làm phiếu thu, chi, giả tạo sau đó thông đồng với hải quan để làm các tờ khai xuất khẩu khống và xin hoàn thuế

để chia lợi nhuận bất chính; doanh nghiệp và cá nhân có hàng hóa xuất khẩu với tổng doanh số xuất khẩu chỉ có thật một phần, sau đó thông đồng với hải quan để xuất khống một lượng hàng hóa nhất định, lượng hàng khống này cũng được đưa vào hồ sơ để xin hoàn thuế; doanh nghiệp và cá nhân kê khai tăng giá mua đầu vào trong hóa đơn hoặc bảng kê GTGT để tăng doanh số nhằm mục đích được hoàn thuế GTGT nhiều hơn [22, tr.20], [7] Bên cạnh đó

là việc thành lập các doanh nghiệp “ma” chuyên mua bán hóa đơn GTGT trái phép nhằm thu lợi bất chính, sau đó các doanh nghiệp này giải thể để tránh sự phát hiện của cơ quan chức năng [24]

Chính vì những vấn nạn nêu trên mà bên cạnh Thông tư liên tịch số 21/2004, Tổng cục thuế đã có Công văn số 3144/TCT-TTr ngày 12/9/2005 về việc phối hợp phát hiện, ngăn ngừa, xử lý các doanh nghiệp thành lập để mua, bán hóa đơn bỏ trốn và Công văn số 4160/TCT-TTr ngày 16/11/2005 về việc chỉ đạo thực hiện Công văn số 3144/TCT-TTr (Công văn số 4160/TCT-TTr) Tại Mục 1 Công văn số 4160/TCT-TTr, Tổng cục thuế tuy không đề cập tới

Trang 37

các tội danh cụ thể có liên quan đến hóa đơn, chứng từ nhưng lại tổng hợp các hành vi, các thủ đoạn tinh vi mà tội phạm thực hiện thông qua việc thành lập các doanh nghiệp để mua bán hóa đơn bất hợp pháp tiếp tay cho một số doanh nghiệp khác thực hiện tội phạm diễn ra khá phổ biến tại một số tỉnh, thành phố như Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Hà Nội, Đà Nẵng, Cần Thơ đồng thời đề

ra các yêu cầu để Cục thuế các tỉnh, thành phố trong cả nước thực hiện tốt công tác phát hiện, ngăn ngừa, xử lý các doanh nghiệp thành lập kinh doanh hóa đơn bất hợp pháp

Tuy đã phần nào đáp ứng được yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm có liên quan đến hóa đơn, chứng từ nhất là hóa đơn GTGT nhưng Thông tư liên tịch số 21/2004 cũng mới chỉ dừng lại ở việc vận dụng những tội danh đã được quy định trong BLHS để áp dụng đối với những hành vi có tính chất “mới” phát sinh trong nền kinh tế thị trường, hoặc do những sai sót, yếu kém trong quản lý kinh tế của Nhà nước, là kẽ hở để tội phạm sử dụng Trong đó nhiều hướng dẫn còn tỏ ra có tính chất khiên cưỡng, không phản ánh chính xác bản chất của hành vi, do đó tội phạm hóa hành vi liên quan đến

in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp NSNN trở thành một yêu cầu cấp thiết được đề cập đến trong lần sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS 1999 vừa qua

1.2.2 Giai đoạn từ năm 2009 đến năm 2015

Trước yêu cầu của thực tiễn công tác phòng, chống và xử lý các tội phạm xâm phạm trật tự quản lý kinh tế nói chung cũng như các tội phạm có liên quan đến hóa đơn, chứng từ thu nộp NSNN nói riêng, BLHS năm 1999 được sửa đổi,

bổ sung năm 2009 tại Kỳ họp thứ 5, Quốc hội khóa XII ngày 19 tháng 6 năm

2009 đã bổ sung thêm hai tội danh mới có liên quan đến hóa đơn, chứng từ thu nộp NSNN quy định tại hai điều luật: Điều 164a (Tội in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp NSNN) và Điều 164b (Tội vi phạm các quy

Trang 38

Tội in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước là hành vi của người nào in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước với số lượng lớn hoặc đã bị

xử phạt hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm thì bị phạt tiền từ năm mươi triệu đồng đến hai trăm triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm

Như vậy, BLHS sửa đổi, bổ sung năm 2009 đã mở rộng phạm vi đối tượng tác động của tội phạm có liên quan đến hóa đơn, chứng từ thu nộp NSNN (đó là các loại hóa đơn, chứng từ thu nộp NSNN chứ không chỉ giới hạn đối với hóa đơn GTGT), các tội danh cụ thể được khái quát dựa trên các loại hành vi phạm tội chứ không có sự chỉ dẫn tới các tội phạm có liên quan, đường lối xử lý tội phạm không còn phụ thuộc vào đường lối xử lý các tội phạm khác theo nội dung của Thông tư liên tịch Nhà làm luật cũng không quy định cụ thể động cơ, mục đích phạm tội có liên quan đến hóa đơn GTGT như Thông tư liên tịch đã đề cập

Việc quy định hai loại tội phạm mới trên cũng phần nào đáp ứng yêu cầu đấu tranh chống loại tội phạm này trong BLHS, đồng thời phản ánh được quan điểm đúng đắn của một số nhà nghiên cứu về các tội phạm này Tác giả Đinh Văn Quế - Nguyên Chánh tòa hình sự Tòa án nhân dân tối cao đã khẳng định

rõ quan điểm cần hình sự hóa hai tội phạm trên trong BLHS 1999 [25, tr.6]; Thạc sĩ Trần Trung Nhân cũng có quan điểm cần quy định các hành vi trái phép liên quan đến hóa đơn, chứng từ thành tội danh cụ thể trong BLHS [24, tr.64]

Dựa trên nhiều nguồn tài liệu nghiên cứu và tình hình thực tiễn từ sau khi BLHS 1999 được sửa đổi, bổ sung năm 2009 nhận thấy, đối với các tội phạm có liên quan đến hóa đơn, chứng từ thu nộp NSNN, các hành vi khách quan bị truy cứu TNHS chủ yếu về tội mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ

Trang 39

thu nộp NSNN, bởi với hành vi mua bán trái phép kẻ phạm tội sẽ nhanh chóng có được những khoản lợi bất chính nhanh nhất và dễ dàng nhất Chúng thường lợi dụng chính sách thông thoáng của Nhà nước về việc thành lập doanh nghiệp từ đó hợp thức hóa các điều kiện được mua bán hóa đơn, chứng

từ (đặc biệt là hóa đơn GTGT) và bán lại các hóa đơn này cho các đối tượng khác Chính vì vậy, hình thức phạm tội của chúng chủ yếu là đồng phạm hoặc phạm tội có tổ chức và sự câu kết chặt chẽ giữa những kẻ phạm tội hoặc hối

lộ, liên hệ với cán bộ thuế nhằm thu lợi bất chính một cách thuận lợi, tránh được sự phát hiện của cơ quan chức năng

Kế thừa quy định của BLHS 1999 sửa đổi, bổ sung 2009, BLHS năm

2015 cũng có quy định tội danh liên quan đến hành vi in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ (Điều 203) Theo đó, Điều 203 BLHS 2015 quy định về tội in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp NSNN

như sau: Tội in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp

NSNN là hành vi của người nào in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước ở dạng phôi từ 50 số đến dưới 100

số hoặc hóa đơn, chứng từ đã ghi nội dung từ 10 số đến dưới 30 số hoặc thu lợi bất chính từ 30.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm

1.3 Quy định của luật hình sự Việt Nam về tội in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước

Cũng như các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế nói chung, khách thể của tội in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn chứng từ thu nộp NSNN là các quan hệ xã hội đảm bảo cho sự ổn định và phát triển của nền kinh tế quốc dân trong từng lĩnh vực nhất định Trong đó, khách thể của tội phạm này là các quan hệ phát sinh trong lĩnh vực thuế, tài chính - kế toán mà hóa

Trang 40

đơn, chứng từ được sử dụng để thực hiện nghĩa vụ thu nộp NSNN Từ các hành vi in, phát hành, mua bán trái phép các loại hóa đơn, chứng từ thu nộp NSNN khi trở thành tội phạm đều có ảnh hưởng lớn tới chính sách kinh tế

mà Đảng và Nhà nước đã đề ra Hành vi khách quan của các tội phạm nói trên khá đa dạng và có những nét đặc trưng riêng, ý thức chủ quan và chủ thể thực hiện tội phạm lại không giống nhau vì vậy nhà làm luật đã dựa trên những nét đặc trưng này để quy định các hành vi khách quan trong hai điều luật khác nhau với tên tội danh cụ thể nhằm tạo thuận lợi cho công tác xử lý các tội phạm này trên thực tế

Thứ nhất: hóa đơn xuất khẩu dùng trong hoạt động kinh doanh xuất

khẩu hàng hóa, dịch vụ ra nước ngoài, xuất khẩu vào khu phi thuế quan; hóa đơn giá trị gia tăng; hóa đơn bán hàng hóa, dịch vụ nội địa dành cho các tổ chức, cá nhân khai thuế giá trị gia tăng; các hóa đơn khác gồm: tem, vé, thẻ, phiếu thu tiền bảo hiểm, và phiếu thu tiền cước vận chuyển hàng không; chứng từ thu cước phí vận tải quốc tế, chứng từ thu phí dịch vụ ngân hàng

Thứ hai: Lệnh thu nộp ngân sách Nhà nước, giấy nộp tiền vào ngân

sách Nhà nước, bảng kê nộp thuế, biên lai thu ngân sách nhà nước và chứng

từ phục hồi trong quản lý thu ngân sách nhà nước

Ngày đăng: 10/11/2019, 23:51

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w