CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ DOANH NGHIỆP VÀ NHỮNG VẪN ĐỀ PHÁP LÝ CƠ BẢN VỀ QUẢN LÝ NỘI BỘ DOANH THU, CHI PHÍ , LỢI NHUẬN TRONG DOANH NGHIỆP VIỆT NAM 1.1.Tổng quan về doanh nghiệp 1.1.1.Khái
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Cán bộ hướng dẫn khoa học: TS Trương Thị Kim Dung
Hà Nội – 2017
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các
số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo
vệ Luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới các thầy, các cô giáo Khoa Luật, Bộ môn Pháp luật Kinh tế Trường Đại học Quốc gia Hà Nội đã tận tình giảng dạy tôi suốt thời gian qua Đặc biệt, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới TS Trương Thị Kim Dung – cô đã trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và thực hiện luận văn
Tôi cũng xin cảm ơn gia đình và bạn bè đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng năm 2017
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ DOANH NGHIỆP VÀ NHỮNG VẪN ĐỀ PHÁP LÝ CƠ BẢN VỀ QUẢN LÝ NỘI BỘ DOANH THU, CHI PHÍ , LỢI NHUẬN TRONG DOANH NGHIỆP VIỆT NAM 5
1.1.Tổng quan về doanh nghiệp 5
1.1.1.Khái niệm và đặc điểm của doanh nghiệp 5
1.1.2.Các loại hình doanh nghiệp ở Việt Nam 7
1.1.3.Khái quát chung về quản trị doanh nghiệp và quản lý nội bộ doanh nghiệp 9
1.2.Những vấn đề pháp lý cơ bản về doanh thu, chi phí, lợi nhuận 12
1.2.1.Khái niệm, phân loại doanh thu 12
1.2.2.Khái niệm và phân loại chi phí 14
1.2.3 Khái niệm và phân loại lợi nhuận 17
1.3.Nguồn luật điều chỉnh hoạt động quản lý doanh thu, chi phí, lợi nhuận trong doanh nghiệp Việt Nam Khái niệm, đặc điểm pháp luật quản lý nội bộ doanh thu, chi phí, lợi nhuận trong doanh nghiệp ở Việt Nam 19
1.3.1 Nguồn luật điều chỉnh hoạt động quản lý doanh thu, chi phí, lợi nhuận trong doanh nghiệp Việt Nam 19
1.3.2 Khái niệm, đặc điểm pháp luật quản lý nội bộ doanh thu, chi phí, lợi nhuận trong doanh nghiệp ở Việt Nam 22
1.4.Vai trò ( ý nghĩa ) của quản lý nội bộ về doanh thu, chi phí, lợi nhuận trong doanh nghiệp 23
1.4.1 Với bản thân doanh nghiệp 23
1.4.2 Với các cơ quan thuế 25
1.4.3 Với người lao động: 25
1.4.4 Với nhà đầu tư, ngân hàng hay các chủ nợ: 25
CHƯƠNG 2: NỘI DUNG PHÁP LUẬT QUẢN LÝ NỘI BỘ DOANH THU, CHI PHÍ, LỢI NHUẬN TRONG DOANH NGHIỆP Ở VIỆT NAM 27
Trang 62.1.Chế định về quản lý nội bộ doanh thu 27
2.1.1.Quy định về nguyên tắc nhận biết giao dịch – Thời điểm doanh thu được ghi nhận 27 2.1.2 Xác định doanh thu trong một số trường hợp 31
2.1.3 Các khoản giảm trừ doanh thu 36
2.2.Chế định về quản lý chi phí 38
2.2.1 Chi phí thuế, lệ phí 39
2.2.2 Chi phí cho tài sản cố định 44
2.2.3 Chi phí tài chính 47
2.2.4 Chi phí của doanh nghiệp cho người lao động 47
2.2.5 Một số các loại chi phí còn lại của doanh nghiệp như nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ, dịch vụ mua ngoài, chi phí khác … 49
2.3 Chế định về quản lí lợi nhuận 51
2.3.1.Căn cứ xác định lợi nhuận 51
2.3.2.Quy định về cách thức sử dụng – phân chia lợi nhuận doanh nghiệp 53
CHƯƠNG 3: ĐỊNH HƯỚNG HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT QUẢN LÝ NỘI BỘ DOANH THU – CHI PHÍ – LỢI NHUẬN TRONG DOANH NGHIỆP VIỆT NAM 60
3.1.Sự cần thiết phải hoàn thiện pháp luật về quản lý nội bộ doanh thu – chi phí – lợi nhuận trong doanh nghiệp Việt Nam 60
3.1.1.Quá trình đổi mới doanh nghiệp tại Việt Nam: Thành tựu và thực trạng 60
3.1.2 Sự cần thiết hoàn thiện pháp luật quản lý nội bộ về doanh thu – chi phí – lợi nhuận trong doanh nghiệp Việt Nam 61
3.2.Thực tiễn áp dụng pháp luật quản lý nội bộ doanh thu – chi phí – lợi nhuận trong doanh nghiệp Việt Nam 68
3.2.1 Sơ lược quá trình xây dựng và áp dụng pháp luật quản lý nội bộ doanh thu – chi phí – lợi nhuận trong doanh nghiệp Việt Nam 68
3.2.2 Những thành tựu và tồn tại xét từ thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật quản lý nội bộ doanh thu – chi phí – lợi nhuận trong doanh nghiệp Việt Nam 71
3.3.Một số kiến nghị sửa đổi bổ sung pháp luật về quản lý nội bộ doanh thu – chi phí – lợi nhuận trong doanh nghiệp Việt Nam 74
3.3.1.Kiến nghị những định hướng hoàn thiện pháp luật quản lý nội bộ về doanh thu – chi phí – lợi nhuận trong doanh nghiệp Việt Nam 74
Trang 73.3.2.Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật quản lý nội bộ về doanh thu – chi phí – lợi nhuận trong doanh nghiệp Việt Nam 75KẾT LUẬN 80DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 82
Trang 8LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Từ tháng 12/1986, Việt Nam bước vào thời kỳ Đổi Mới Nền kinh tế chuyển
từ tập trung bao cấp sang thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Việt Nam thu được những thành tựu to lớn Quy mô và chất lượng nền kinh tế đã tăng trưởng vượt bậc Từ năm 2007, khi Việt Nam là thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới ( WTO ), Việt Nam bắt đầu quá trình hội nhập sâu vào nền kinh tế thế giới
Quá trình mở cửa đón các nguồn vốn đầu tư từ nước ngoài và sau đó là trở thành một bộ phận trong chuỗi cung ứng toàn cầu cũng là quá trình pháp luật Việt Nam thay đổi triệt để Những đạo luật mới được ban hành thể hiện sự ghi nhận và vận dụng những nguyên tắc, nội dung tiến bộ của pháp luật thế giới Các quy định pháp luật về quản lý nội bộ doanh thu, chi phí, lợi nhuận trong doanh nghiệp là một trong số đó Từ chỗ là công cụ được dùng để kiểm soát một quá trình được gọi là hạch toán kinh tế trong các xí nghiệp, mà thực chất là kiểm soát quá trình thực hiện chỉ tiêu pháp lệnh được áp đặt từ cấp trên, không tính tới lợi ích kinh tế mà các doanh nghiệp đạt được, pháp luật về quản lý nội bộ doanh thu, chi phí, lợi nhuận dần trở thành công cụ cần thiết cho nhà đầu tư, nhà quản lý đánh giá đúng sức khỏe doanh nghiệp trong quá trình doanh nghiệp tìm kiếm lợi nhuận
Cơ quan nhà nước cũng có thể sử dụng các quy định về quản lý nội bộ doanh thu, chi phí, lợi nhuận để xem xét, đánh giá, tác động để một doanh nghiệp có thể hoàn thành các nghĩa vụ về thuế với nhà nước, hoặc các nghĩa vụ với người lao động
Quản lý tốt doanh thu, chi phí, lợi nhuận vừa giúp doanh nghiệp tìm kiếm được lợi nhuận, vừa đảm bảo doanh nghiệp không vi phạm pháp luật Như vậy, việc
có hiểu biết về pháp luật quản lý nội bộ doanh thu, chi phí, lợi nhuận là rất quan trọng để đảm bảo sự tồn tại, phát triển của một doanh nghiệp
Trong thời kỳ Việt Nam hội nhập sâu vào nền kinh tế thế giới, nhà đầu tư nước ngoài tìm đến Việt Nam như là một nơi có nguồn nhân lực rẻ, môi trường chính trị ổn định Các doanh nghiệp Việt Nam sẽ tiếp tục nhận được các nguồn vốn
từ nước ngoài Vì vậy, việc đáp ứng các chuẩn mực kế toán góp phần làm minh
Trang 9bạch quá trình quản lý nội bộ doanh thu, chi phí, lợi nhuận trong doanh nghiệp Việt Nam Điều này mở ra cơ hội liên thông với thị trường vốn toàn cầu Mặt khác, với
cơ quan quản lý nhà nước, việc xây dựng và áp dụng các quy định quản lý nội bộ doanh thu, chi phí, lợi nhuận phù hợp với các tiêu chuẩn quốc tế cho phép chống các hành vi chuyển giá, thực chất là trốn thuế, của một số tập đoàn và công ty nước ngoài như đã thấy ở các Bến Đỗ Thuế trên thế giới
Từ các đánh giá trên, có thể thấy: Cần có những kiến thức tổng hợp, đánh giá khách quan, nhìn nhận đúng đắn nhằm hoàn thiện hơn nữa pháp luật quản lý nội bộ doanh thu, chi phí, lợi nhuận trong doanh nghiệp Việt Nam Nhận thức được điều
đó, tác giả đã lựa chọn đề tài: “ Pháp luật quản lý nội bộ về doanh thu, chi phí, lợi nhuận trong doanh nghiệp Việt Nam “ làm đề tài luận văn
2 Tình hình nghiên cứu
Quản trị tài chính doanh nghiệp là một trong những hoạt động quan trọng
hàng đầu của doanh nghiệp Trong đó, quản lý nội bộ doanh thu, chi phí, lợi nhuận
là phần chủ yếu nhất Quản lý tốt doanh thu, chi phí, lợi nhuận cho phép doanh nghiệp tồn tại, phát triển trên thị trường Ngân sách nhà nước cũng được bổ sung do các doanh nghiệp hoạt động tốt Như vậy có thể thấy: Làm tốt việc quản lý nội bộ doanh thu, chi phí, lợi nhuận có thể tạo ra sự cân bằng lợi ích giữa cơ quan quản lý nhà nước và chính doanh nghiệp Điều này dẫn đến việc có nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến quản lý nội bộ doanh thu – chi phí – lợi nhuận Qua sưu tầm của
tác giả thì có thể thấy một số công trình: Nguyễn Tiến Dũng ( 2015 ), Ổn định tài
chính doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam, Luận án Tiến sỹ Tài chính – Ngân
hàng, Học viện Ngân hàng; Lê Hoàng Phúc ( 2014 ), Vận dụng chuẩn mực kế toán
quốc tế để hoàn thiện hệ thống báo cáo tài chính doanh nghiệp trong điều kiện ở Việt Nam, Luận án Tiến sỹ Kinh tế, Trường Đại học Kinh tế thành phố Hồ Chí
Minh; Bùi Thị Thủy ( 2013 ), Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng
kiểm toán báo cáo tài chính doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán,
Trường Đại học Kinh tế Quốc dân; Nguyễn Thị Thiên Nhẫn ( 2014 ), Pháp luật về
Trang 10quản lý doanh thu – chi phí – lợi nhuận trong Công ty Cổ phần ở Việt Nam, Luận
văn Thạc sỹ Luật học, Khoa Luật, Đại học Quốc gia
Các công trình trên hoặc là đề cập tới một vài khía cạnh về tài chính, kế toán, hoặc là đề cập tới khía cạnh pháp lý về quản lý doanh thu, chi phí , lợi nhuận nhưng chưa hẳn đầy đủ chi tiết các nghiệp vụ kinh tế Vì vậy, tác giả mong muốn bằng công trình của mình, cung cấp một nghiên cứu theo hướng hệ thống quy định pháp luật, gắn với các nghiệp vụ kinh tế của doanh nghiệp
3 Mục đích nghiên cứu
Những mục đích nghiên cứu đề tài đặt ra là:
Thứ nhất: Nêu lên một khái niệm chung về doanh thu, chi phí, lợi nhuận trong
doanh nghiệp dựa trên quy định pháp luật hiện hành
Thứ hai: Nêu khái niệm chung về pháp luật quản lý nội bộ doanh thu, chi phí,
lợi nhuận trong doanh nghiệp Việt Nam Nêu các chế định pháp luật về quản lý nội
bộ doanh thu, chi phí, lợi nhuận Việc này thực hiện bằng cách hệ thống, tổng hợp các nội dung chính các quy định quản lý doanh thu, chi phí, lợi nhuận
Thứ ba: Nêu lên quá trình xây dựng và áp dụng pháp luật quản lý nội bộ doanh
thu, chi phí, lợi nhuận từ trước tới nay Sau đó chỉ ra những tồn tại, những định hướng hiện tại đã được xác định để hoàn thiện pháp luật quản lý nội bộ doanh thu, chi phí, lợi nhuận đồng thời đề xuất một số định hướng theo quan điểm của tác giá cũng như những kiến nghị giải pháp hoàn thiện pháp luật quản lý nội bộ doanh thu, chi phí, lợi nhuận
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Những quy định pháp luật hiện hành về quản
lý nội bộ doanh thu, chi phí, lợi nhuận trong doanh nghiệp ở Việt Nam có tính đến một số chuẩn mực kế toán trên thế giới
Phạm vi nghiên cứu: Phạm vi nghiên cứu đóng khung trong việc tìm hiểu thực trạng pháp luật về quản lý doanh thu, chi phí, lợi nhuận cũng như quá trình áp dụng các chuẩn mực kế toán trên thế giới khi tiến hành đổi mới các quy định pháp luật quản lý nội bộ doanh thu, chi phí, lợi nhuận trong doanh nghiệp ở Việt Nam
Trang 115 Phương pháp nghiên cứu
Tác giả sử dụng các phương pháp nghiên cứu như tổng hợp, phân tích để
đánh giá thông tin thu thập được liên quan đến các vấn đề pháp lý về quản lý nội bộ doanh thu – chi phí – lợi nhuận trong doanh nghiệp Việt Nam Các thông tin mà tác giả sử dụng từ các nguồn công khai trên báo chí, internet, cũng như của chính tác giả sưu tầm
6 Kết cấu luận văn
Kết cấu chính của luận văn gồm 03 chương:
- Chương 1: Tổng quan về doanh nghiệp và những vấn đề pháp lý cơ
bản về quản lý nội bộ doanh thu, chi phí, lợi nhuận trong doanh nghiệp Việt Nam
- Chương I: Nội dung pháp luật quản lý nội bộ doanh thu, chi phí, lợi
nhuận trong nội bộ doanh nghiệp ở Việt Nam
- Chương III: Định hướng hoàn thiện pháp luật quản lý nội bộ doanh
thu, chi phí, lợi nhuận trong doanh nghiệp Việt Nam
Trang 12CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ DOANH NGHIỆP VÀ NHỮNG VẪN ĐỀ PHÁP LÝ CƠ BẢN VỀ QUẢN LÝ NỘI BỘ DOANH THU, CHI PHÍ , LỢI NHUẬN TRONG
DOANH NGHIỆP VIỆT NAM
1.1.Tổng quan về doanh nghiệp
1.1.1.Khái niệm và đặc điểm doanh nghiệp
Ở Việt Nam, tùy vào điều kiện xã hội từng thời kỳ, pháp luật quy định một
mô hình tổ chức sản xuất – kinh doanh Thông qua pháp luật, mô hình tổ chức kinh doanh, hành vi kinh doanh, địa vị pháp lý các chủ thể kinh doanh… được xác định
Rõ ràng, pháp luật là yếu tố quyết định tạo ra môi trường kinh doanh như nhà nước mong muốn
Trước Đổi Mới ( tháng 12/1986 ), pháp luật Việt Nam lúc đó quy định nền kinh tế vận hành thông qua hai hình thức sở hữu chủ yếu: Sở hữu nhà nước và sở hữu tập thể Sở hữu nhà nước thể hiện qua sự tồn tại của các xí nghiệp quốc doanh trong tất cả các lĩnh vực công nghiệp, thương nghiệp, dịch vụ Sở hữu tập thể thể hiện qua sự tồn tại của các hợp tác xã công nghiệp, nông nghiệp, thủ công nghiệp, thương nghiệp… Hệ thống chỉ tiêu pháp lệnh được áp dụng Việc sản xuất cái gì, chất lượng ra sao, giá cả bao nhiêu … do nhà nước, thông qua các bộ và sở quản lý trong từng lĩnh vực giao xuống các đơn vị sản xuất Phương pháp mệnh lệnh hành chính được áp dụng trong việc ký kết hợp đồng kinh tế Nhà nước nắm chủ yếu về nội thương và độc quyền về ngoại thương
Sau Đổi Mới, sự phát triển bình đẳng các thành phần kinh tế được khẳng định Hiến pháp năm 1992, Hiến pháp của thời kỳ Đổi Mới lần đầu tiên ghi nhận: “ Mục đích chính sách kinh tế của Nhà nước là làm cho dân giàu nước mạnh, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu vật chất và tinh thần của nhân dân trên cơ sở giải phóng mọi năng lực sản xuất, phát huy mọi tiềm năng của các thành phần kinh tế: kinh tế quốc doanh, kinh tế tập thể, kinh tế cá thể, kinh tế tư bản tư nhân và kinh tế tư bản Nhà nước dưới nhiều hình thức, thúc đẩy xây dựng cơ sở vật chất , kỹ thuật, mở
Trang 13rộng hợp tác kinh tế, khoa học, kỹ thuật và giao lưu với thị trường thế giới “ 1và “ các cơ sở sản xuất, kinh doanh thuộc mọi thành phần kinh tế phải thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ đối với Nhà nước, đều bình đẳng trước pháp luật, vốn và tài sản hợp pháp được Nhà nước bảo hộ “2
Với chính sách này, các luật ra đời và đã xác định nhiều chủ thể kinh doanh khác nhau Ví dụ: Luật doanh nghiệp tư nhân ra đời năm 1990, Luật doanh nghiệp nhà nước ra đời năm 1995, Luật hợp tác xã ra đời năm 1996 Doanh nghiệp đã dần trở thành chủ thể kinh doanh chính, chiếm ưu thế so với các chủ thể kinh doanh khác như hợp tác xã, hộ kinh doanh cá thể, tổ hợp tác
Với khái niệm “ doanh nghiệp “, Bách khoa Toàn thư Việt Nam đưa ra cách hiểu: Doanh nghiệp là đơn vị kinh doanh được thành lập nhằm mục đích chủ yếu là thực hiện các hoạt động kinh doanh của những chủ sở hữu (nhà nước, tập thể, tư nhân) về một hay nhiều ngành Các hãng buôn, các công ti, các xí nghiệp sản xuất và dịch vụ được thành lập chính thức trên cơ sở hợp pháp Những DN có tư cách pháp nhân được thành lập trên cơ sở: có mục tiêu, ngành nghề kinh doanh rõ ràng; có vốn pháp định, vốn điều lệ phù hợp với quy mô và ngành nghề kinh doanh; người quản lí, điều hành hoạt động kinh doanh phải có trình độ chuyên môn tương ứng mà pháp luật đòi hỏi với một số ngành nghề.3
Một khái niệm khác được thừa nhận rộng rãi về pháp lý và nêu trong luật:
Doanh nghiệp là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được đăng ký
này, có thể thấy: Doanh nghiệp được hiểu là một chủ thể kinh doanh độc lập, được thành lập và hoạt động dưới nhiều mô hình với tên gọi khác nhau Những chủ thể này có đặc trưng pháp lý nhất định Trong việc thành lập và hoạt động, chúng phải thỏa mãn những điều kiện do pháp luật quy định
1 Điều 16 Hiến pháp Công hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam năm 1992
2 Điều 22, Hiến pháp Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam năm 1992
3 www.bachkhoatoanthu.vass.gov – “ Doanh nghiệp “ – Viện Từ điển học và Bách khoa Toàn thư Việt Nam
4 Điều 4 Luật Doanh nghiệp năm 2014
Trang 14* Đặc điểm doanh nghiệp
Từ khái niệm nêu trên, có thể thấy một số đặc điểm của doanh nghiệp
Thứ nhất: Doanh nghiệp phải có tên riêng Đây là dấu hiệu đầu tiên xác định
tư cách chủ thể độc lập của doanh nghiệp trên thương trường Tên doanh nghiệp được ghi trong con dấu doanh nghiệp và mỗi chủ thể kinh doanh độc lập đều được cấp một con dấu riêng hoạt động
Thứ hai: Doanh nghiệp phải có tài sản Doanh nghiệp hoạt động kinh doanh
với mục đích thu lợi Bởi vậy, điều kiện tiên quyết và cũng là đặc trưng lớn của doanh nghiệp là phải có một mức tài sản nhất định
Thứ ba: Doanh nghiệp phải có trụ sở chính ( trụ sở giao dịch ổn định ) Bất
cứ một nhà đầu tư nào cũng phải đăng ký ít nhất một địa chỉ giao dịch trong phạm
vi một lãnh thổ Trụ sở là căn cứ để xác định quốc tịch doanh nghiệp, đồng thời xác định luật áp dụng trong trường hợp tranh chấp
Thứ tư: Doanh nghiệp phải thực hiện thủ tục thành lập theo quy định pháp
luật Mọi doanh nghiệp, dù kinh doanh bất cứ lĩnh vực nào cũng đều phải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp một văn bản có giá trị pháp lý là giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh Nội dung đăng ký kinh doanh được ghi trên giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh dựa vào thông tin do người thành lập doanh nghiệp khai và tự chịu trách nhiệm trước pháp luật Đăng ký kinh doanh là cơ sở cho hoạt động của mỗi doanh nghiệp đồng thời là cơ sở cho việc thực hiện sự kiểm soát, quản lý nhà nước với doanh nghiệp
Thứ năm: Mục tiêu thành lập doanh nghiệp là để trực tiếp và chủ yếu thực
hiện các hoạt động kinh doanh Nói một cách khác, doanh nghiệp luôn là tổ chức kinh tế hoạt động vì lợi nhuận Đây là mục tiêu bản chất của doanh nghiệp
1.1.2.Các loại hình doanh nghiệp ở Việt Nam
Trước khi có Luật Doanh nghiệp năm 2005, pháp luật Việt Nam phân loại doanh nghiệp theo nguồn gốc tài sản đầu tư vào doanh nghiệp Theo tiêu chí này, doanh nghiệp Việt Nam từng được xác định với các loại hình:
, Công ty: Luật Doanh nghiệp năm 1999 chia các loại hình công ty:
Trang 15+ Công ty cổ phần
+ Công ty Trách nhiệm Hữu hạn hai thành viên trở lên
+ Công ty Trách nhiệm Hữu hạn một thành viên
++ Công ty TNHH nhà nước hai thành viên trở lên ( 100% vốn nhà nước )
++ Doanh nghiệp có vốn góp chi phối của nhà nước ( trên 50% vốn điều lệ ) , Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài: Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1996 quy định hai loại hình doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài:
+ Doanh nghiệp liên doanh
+ Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài
Hiện tại Luật Doanh nghiệp năm 2014 phân chia doanh nghiệp ở Việt Nam theo tiêu chí cơ cấu tổ chức Theo đó các loại hình doanh nghiệp ở Việt Nam gồm: , Công ty Trách nhiệm Hữu hạn: Loại hình này chia thành:
Trang 16+ Công ty Trách nhiệm Hữu hạn hai thành viên trở lên: Công ty Trách nhiệm Hữu hạn hai thành viên trở lên là doanh nghiệp mà trong đó, thành viên có thể là tổ chức,
cá nhân với số lượng không vượt quá 50
+ Công ty Trách nhiệm Hữu hạn một thành viên: Công ty Trách nhiệm Hữu hạn một thành viên là doanh nghiệp do một tổ chức hoặc một cá nhân làm chủ sở hữu , Công ty cổ phần là doanh nghiệp, trong đó: a) Vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần; b) Cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng cổ đông tối thiểu là 03 và không hạn chế số lượng tối đa
, Doanh nghiệp tư nhân: Công ty là loại hình kinh doanh chịu trách nhiệm hữu hạn trong phần vốn góp Trong khi đó, doanh nghiệp tư nhân là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động doanh nghiệp
, Công ty Hợp danh là doanh nghiệp, trong đó: a) Phải có ít nhất 02 thành viên là chủ sở hữu chung của công ty, cùng nhau kinh doanh dưới một tên chung Ngoài thành viên hợp danh, công ty có thể có thêm thành viên góp vốn; b) Thành viên hợp danh phải là cá nhân, chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về các nghĩa
vụ của công ty; c) Thành viên góp vốn chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm vi số vốn đã góp vào công ty
1.1.3.Khái quát chung về quản trị doanh nghiệp và quản lý nội bộ doanh nghiệp
* Quản trị doanh nghiệp
Việc quản trị đã ra đời cùng với sự ra đời, phát triển xã hội Tuy nhiên, khoa học quản lý – với tư cách là một ngành khoa học độc lập – chỉ ra đời khi chủ nghĩa
tư bản chủ nghĩa phát triển đến một giai đoạn nhất định Một bộ phận quan trọng của khoa học quản lý là quản trị nội bộ doanh nghiệp Năm 1911, tác phẩm quản trị doanh nghiệp có giá trị đầu tiên mới ra đời Đó là cuốn “ Những nguyên tắc và phương pháp quản trị khoa học “ Cuốn sách được viết bởi Federick W Taylor Nội dung cuốn sách cơ bản đề cập việc quản trị nhân sự với một số nội dụng cơ bản: Làm thế nào để người lao động hoàn thiện và sử dụng tốt công cụ lao động, thời gian làm việc để nâng cao năng suất lao động
Trang 17Năm 1922, Henry Fayol cho ra đời một cuốn sách quản trị doanh nghiệp được đánh giá cao Cuốn sách có tựa “ Quản trị công nghiệp và quản trị chung “ Cuốn sách nêu lên những nguyên tắc quản trị chung áp dụng cho các cấp tổ chức doanh nghiệp cao hơn cấp độ phân xưởng Định nghĩa quản trị được nêu ra là: Quản trị là dự đoán, lập kế hoạch, thiết lập hệ thống, chỉ huy, phối hợp, điều khiển Ông cũng nêu ra các nguyên tắc trong quản trị như phân công lao động, xác định rõ quyền – trách nhiệm, quyền quyết định trong doanh nghiệp nằm ở một đầu mối…
Trên nền tảng những nghiên cứu ban đầu của Henry Fayol, một số học giả sau này tiếp tục đưa ra các định nghĩa và phạm vi quản lý doanh nghiệp khác nhau Năm 1937, Luther Gutlick và Lyndal Urwich viết cuốn “ Luận cứ về khoa học quản trị “ Phân loại chức năng của Fayol thành 7 chức năng quản trị thể hiện trong các từ POSDCORB: Planning: Dự kiến – Oganizing: Tổ chức – Staffing: Nhân sự , Directing: Chỉ huy – Coordinating: Phối hợp – Reporting: Báo cáo – Budgeting: Ngân sách
Tiếp theo chứng kiến sự ra đời trường phái tâm lý xã hội trong quản trị doanh nghiệp Lý thuyết cho rằng hiệu quả quản trị do năng suất lao động quyết định Năng suất lao động không chỉ do các yếu tố vật chất quyết định, mà còn do sự thỏa mãn các nhu cầu tâm lý xã hội của con người Các học giả nổi tiếng làm nên trường phái này gồm Elton Mayo ( 1880 – 1949 ), Dounglas Gregor ( 1909 – 1964 ), Abraham Maslow ( 1908 – 1970 ) Abraham Maslow nổi tiếng bởi “ Tháp nhu cầu “, theo đó nhu cầu con người chia 5 loại từ thấp đến cao gồm: 1 Nhu cầu vật chất; 2 An toàn; 3 Xã hội; 4 Kính trọng; 5 Tự hoàn thiện Trên cơ sở tháp nhu cầu, nhà quản trị cố gắng tối đa thỏa mãn nhu cầu người lao động Một khi sự thỏa mãn tăng, năng suất lao động cũng tăng gần như tỷ lệ thuận với sự thỏa mãn đó
Người ta cũng chứng kiến đóng góp của trường phái quản trị Nhật Bản vào
lý thuyết quản trị doanh nghiệp Các lý thuyết quản trị nổi tiếng của người Nhật như thuyết Z, cho rằng ra quyết định tập thể hiệu quả hơn ra quyết định cá nhân, hay thuyết Kaizen, cho rằng các cải tiến chỉ cần từng bước nhỏ nhưng phải tiến hành từng ngày, tận dụng nguồn lực sẵn có mà không cần nhiều tiền của
Trang 18Tổng hợp các lý thuyết trên, quản trị doanh nghiệp được hiểu: Là một chức
năng phối hợp hoạt động của con người nhằm hoàn thành các nhiệm vụ và mục tiêu thông qua việc sử dụng các nguồn lực một cách hiệu quả
* Quản lý nội bộ doanh nghiệp
Thực tế thì khái niệm “ quản lý “ không chỉ được dùng trong phạm vi doanh nghiệp Khái niệm này được dùng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực Người ta thường nghe nói “ quản lý nhà nước “, “ quản lý xã hội “… Tùy từng lĩnh vực, nội dung quản lý, phạm vi tác động của quản lý là khác nhau Trong lĩnh vực doanh nghiệp,
có thể nói: Các khái niệm “ quản lý “, “ quản lý doanh nghiệp “, “ quản lý nội bộ doanh nghiệp “ là tương đương Điều này là do nội dung quản lý là giống nhau và phạm vi tác động của việc quản lý nằm đều là các hoạt động bên trong của một doanh nghiệp Vì vậy, chỉ cần phân tích nội dung một khái niệm “ quản lý “
“ Quản lý “ ( thuật ngữ tiếng Anh là “ Management “ xuất phát từ tiếng latinh là “ Manum agere “ – điều khiển bằng tay ) đặc trưng cho quá trình điều khiển tất cả các bộ phận của tổ chức kinh tế, thông qua việc thiết lập, sắp xếp các nguồn tài nguyên của tổ chức: nhân lực, tài chính, vật tư, tri thức, các giá trị vô hình
… Đầu thế kỷ XX, nhà khoa học quản lý là Mary Parker Follet nêu khái niệm quản lý: Quản lý là nghệ thuật khiến công việc được làm bởi người khác
Nhiệm vụ cơ bản của quản lý có thể kể ra: Hoạch định: Xác định việc cần làm trong một khoảng thời gian – Tổ chức: Sử dụng tối ưu nguồn lực thực hiện kế hoạch – Bố trí nhân lực: Phân công, tuyển mộ nhân viên cho từng công việc – Lãnh đạo/Động viên: Giúp các nhân viên làm việc hiệu quả , Kiểm soát: Giám sát, kiểm tra tình hình
Vậy, “ quản trị “ và “ quản lý “ khác nhau ở điểm gì? Một số quan điểm đưa
ra sự phân biệt giữa hai khái niệm này là5:
Trang 19được xác lập sẵn thông qua người khác
Chức năng Quản lý có chức năng thi hành
vì người quản lý hoàn thành công việc của mình dưới sự giám sát nhất định
Quản trị có chức năng tư duy vì các kế hoạch và chính sách được quyết định dựa theo tư duy này
Kỹ năng Kỹ thuật và con người Nhận thức và con người
Cấp độ Thường gắn với cấp thấp và trung Thường gắn với cấp cao
Từ đó, có thể hiểu quản lý nội bộ doanh nghiệp: Là một trong những hoạt
động nhằm phối hợp các thành tố bên trong của doanh nghiệp, từ đó hoàn thành các nhiệm vụ và mục tiêu sẵn có
1.2.Những vấn đề pháp lý cơ bản về doanh thu, chi phí, lợi nhuận
1.2.1.Khái niệm, phân loại doanh thu
Hiện tại, khái niệm “ doanh thu “ có nhiều khái niệm Ví dụ: Chuẩn mực kế toán số 01 ( VAS 01 ) đưa ra khái niệm: Doanh thu là giá trị các lợi ích kinh tế doanh nghiệp trong kỳ kế toán, phát sinh từ các hoạt động sản xuất kinh doanh thông thường, góp phần làm tăng vốn chủ sở hữu, không bao gồm khoản góp vốn của cổ đông hoặc chủ sở hữu “
Chuẩn mực kế toán quốc tế số 18 ( IAS 18 ) đưa ra khái niệm: Doanh thu là luồng thu gộp các lợi ích kinh tế trong kỳ, phát sinh trong quá trình hoạt động thông thường, làm nguồn vốn chủ sở hữu, chứ không phải phần đóng góp của những người tham gia góp vốn cổ phần Doanh thu không bao gồm những khoản thu cho bên thứ ba “
Phó Giáo sư Tiến sỹ Nguyễn Đình Kiệm, nguyên Trưởng Khoa Tài chính Doanh nghiệp Học viện Tài chính nêu khái niệm doanh thu: Doanh thu là biểu hiện
Trang 20của tổng giá trị các loại sản phẩm hàng hóa, dịch vụ mà doanh nghiệp đã bán ra trong một thời kỳ nhất định6
Từ những khái niệm trên, có thể thấy: Việt Nam cũng như thế giới, khái niệm doanh thu có thể khác nhau về câu chữ, nhưng bản chất doanh thu vẫn cứ là khoản thu từ hoạt động sản xuất – kinh doanh của doanh nghiệp Doanh thu là cơ sở tạo nên kết quả kinh doanh của doanh nghiệp Không phải mọi nghiệp vụ kinh tế làm tăng tài sản đều phát sinh doanh thu Không chỉ có phát sinh doanh thu mới làm thay đổi nguồn vốn chủ sở hữu Doanh thu chỉ là một trong số những nghiệp vụ kinh tế làm thay đổi vốn chủ sở hữu Doanh thu cũng cần được xác định trong một khoảng thời gian, ví dụ theo tuần, theo tháng, theo 03 tháng – 06 tháng, theo năm… Doanh thu có thể được tạo ra từ hoạt động bán hàng ( hay còn gọi là hoạt động tiêu thụ sản phẩm hàng hóa, dịch vụ ) Doanh thu cũng có thể được tạo ra từ hoạt động tài chính của doanh nghiệp, ví dụ: Doanh nghiệp cho vay vốn và thu lãi, hoặc thu lãi
do bán ngoại tệ, do đầu tư… Doanh thu cũng có thể được tạo ra từ hoạt động không thường xuyên như thu tiền phạt, thu tiền do bán tài sản…
Tóm lại, từ nội dung trên, có thể nêu một khái niệm pháp lý doanh thu:
Doanh thu là biểu hiện dưới dạng tổng giá trị các loại sản phẩm hàng hóa, dịch vụ
mà một doanh nghiệp cung cấp hoặc thu được khi tiến hành các hoạt động bán hàng, hoạt động tài chính, hoạt động không thường xuyên khác, được tính trong một thời kỳ nhất định
Dựa vào khái niệm này, có thể phân loại doanh thu như sau:
- Doanh thu có được do bán hàng hóa hay cung cấp dịch vụ: Doanh thu bán hàng hay cung cấp dịch vụ được xác định căn cứ vào số lượng sản phẩm bán hàng, cung cấp dịch vụ trong kỳ và giá bán đơn vị của một sản phẩm hay một dịch vụ
Với một doanh nghiệp, vấn đề không chỉ là việc xác định doanh thu bán hàng
mà còn là xác định doanh thu thuần về bán hàng Doanh thu thuần về bán hàng được xác định thông qua việc lấy doanh thu bán hàng trừ đi các khoản được gọi là giảm trừ, như chiết khấu thương mại, giảm giá hàng bán, hàng bán bị trả lại, các
6 Tr.31 Giáo trình Tài chính Doanh nghiệp, NXB Tài chính 2010
Trang 21loại thuế trực thu được tính vào giá thành như thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế nhập khẩu
+ Thu lãi do bán ngoại tệ, chênh lệch tỷ giá…
+ Phân bổ dần lãi về chênh lệch tỷ giá của giai đoạn xây dựng cơ bản trước hoạt động khi doanh nghiệp đi vào hoạt động
+ Hỗ trợ lãi suất tiền vay của nhà nước
+ Lãi chuyển nhượng vốn, thu hồi vốn
+ Thu tiền chiết khấu thanh toán
+ Thu tiền thuê bằng sang chế, thương hiệu…
- Doanh thu có được từ thu nhập khác ( nhượng bán, thanh lý tài sản;
thu tiền phạt hợp đồng; thu từ khoản nợ không xác định được chủ nợ v.v… )
1.2.2.Khái niệm, phân loại chi phí
Chuẩn mực kế toán Việt Nam số 01 ( VAS 01 ) nêu khái niệm: Chi phí là tổng giá trị các khoản làm giảm lợi ích kinh tế trong kỳ kế toán dưới hình thức các khoản tiền chi ra, các khoản khấu trừ tài sản hoặc phát sinh các khoản nợ dẫn đến làm giảm vốn chủ
sở hữu, không bao gồm khoản phân phối cho cổ đông hoặc chủ sở hữu
Giáo trình Hạch toán Kế toán trong các doanh nghiệp, trường Đại học Kinh
tế Quốc dân, nêu một khái niệm khác về chi phí: Chi phí sản xuất kinh doanh là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ các hao phí về lao động sống và lao động vật hóa mà doanh nghiệp đã bỏ ra có liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh trong một thời kỳ nhất định ( tháng, quý, năm )7 Theo đó, quá trình sản xuất – kinh doanh là quá trình kết hợp của ba yếu tố: Tư liệu lao động, đối tượng lao động và lao động sống Đồng thời, quá trình sản xuất – kinh doanh cũng chính là quá trình tiêu hao của
7 Tr 148 Hạch toán Kế toán trong các doanh nghiệp, trường Đại học Kinh tế Quốc dân, NXB Tài chính năm
2008
Trang 22các yếu tố trên Sản xuất – kinh doanh chỉ có thể tiến hành nếu người sản xuất – kinh doanh bỏ các chi phí về thù lao lao động, về tư liệu lao động và đối tượng lao động
Sự hình thành chi phí là một tất yếu khách quan Hoạt động của một doanh nghiệp thường tập trung trong các hoạt động: Hoạt động sản xuất – kinh doanh, hoạt động tài chính, hoạt động không thường xuyên
Từ nội dung nêu trên, có thể nêu một khái niệm chung về chi phí như sau:
Chi phí là biểu hiện bằng tiền làm giảm lợi ích kinh tế phát sinh trong quá trình doanh nghiệp tiến hành các hoạt động sản xuất , kinh doanh, hoạt động tài chính hoặc hoạt động không thường xuyên khác, được tính trong một thời kỳ nhất định
Chi phí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp có thể được phân chia theo một số tiêu chí Cụ thể:
- Xét theo nội dung kinh tế của chi phí: Có thể phân chia thành:
+ Chi phí nguyên vật liệu: Gồm toàn bộ giá trị nguyên vật liệu chính, nguyên vật liệu phụ, nhiên liệu, phụ tùng thay thế, công cụ, dụng cụ … mà doanh nghiệp đã
sử dụng cho hoạt động sản xuất – kinh doanh trong kỳ
+ Chi phí nhân công: Gồm toàn bộ số tiền lương, phụ cấp và các khoản trích trên tiền lương theo quy định của công nhân, viên chức trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Loại này có thể chia thành: Chi phí tiền lương và chi phí bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, kinh phí công đoàn, bảo hiểm thất nghiệp
+ Chi phí khẩu hao tài sản cố định: Phản ánh tổng số khấu hao tài sản cố định phải trích trong kỳ của tất cả tài sản cố định sử dụng cho sản xuất kinh doanh trong kỳ
+ Chi phí dịch vụ mua ngoài: Phản ánh toàn bộ chi phí dịch vụ mua ngoài dùng vào sản xuất kinh doanh
+ Chi phí khác bằng tiền: Phản ánh toàn bộ chi phí khác bằng tiền chưa phản ánh ở các yếu tố trên dùng vào hoạt động sản xuất kinh doanh trong kỳ
Ưu điểm cách phân loại này là giúp doanh nghiệp biết được những chi phí đã dùng vào sản xuất và tỷ trọng từng loại chi phí đó là bao nhiêu Từ đó, doanh nghiệp có thể đánh giá được tình kình thực hiện chi phí sản xuất, làm cơ sở cho việc
Trang 23xây dựng kế hoạch cung ứng vật tư, tiền vốn, sử dụng lao động, tính toán khấu hao tài sản cố định
- Xét theo khoản mục chi phí trong giá thành sản phẩm: Chi phí có thể
+ Chi phí sản xuất chung: Phản ánh chi phí phát sinh trong phạm vi một xưởng sản xuất ( trừ chi phí đã liệt kê ở trên là chi phí vật liệu và nhân công trực tiếp ) Ví du: Chi phí nhân viên phân xưởng, chi phí nguyên vật liệu, công cụ dụng
cụ, khấu hao tài sản cố định, chi phí dich vụ mua ngoài … dùng cho phân xưởng
Ưu điểm cách phân loại này giúp doanh nghiệp biết được giá thành sản phẩm theo khoản mục chi phí, từ đó có thể thực hiện mục tiêu giảm chi phí cho một sản phẩm
Chi phí hoạt động tài chính gồm:
- Chi phí liên doanh, liên kết không tính vào giá trị vốn góp;
- Chi phí mua bán chứng khoán kể cả tổn thất trong đầu tư ( nếu có );
- Lỗ do nhượng bán ngoại tệ, chênh lệch tỷ giá hối đoái phát sinh trong kỳ và chênh lệch tỷ giá hối đoái do đánh giá lại ngoại tệ cuối kỳ;
- Phân bổ dần lỗ về chênh lệch tỷ giá hối đoái của giai đoạn xây dựng cơ bản trước hoạt động khi doanh nghiệp đi vào hoạt động;
- Lỗ liên doanh, lỗ chuyển nhượng vốn, lỗ thu hồi vốn;
- Chi phí về lãi tiền vay phải trả ( không bao gồm lãi tiền vay dài hạn để xây dựng
cơ bản khi công trình chưa đưa vào sử dụng );
- Chi phí về lãi trái phiếu phát hành và phân bổ dần chiết khấu trái phiếu ( không bao gồm trái phiếu phát hành để xây dựng cơ bản khi công trình chưa đưa vào sử dụng );
Trang 24- Phân bổ dần tiền lãi khi mua tài sản cố định trả chậm, trả góp;
- Chi phí tiền lãi khi thuê tài sản cổ định thuê tài chính;
- Chi phí cho thuê cơ sở hạ tầng;
- Chi phí chiết khấu thanh toán cho người mua hàng;
- Lập dự phòng giảm giá đầu tư chứng khoán;
- Chi phí khác liên quan đến hoạt động đầu tư ra ngoài doanh nghiệp
1.2.3 Khái niệm, phân loại lợi nhuận
Lợi nhuận của doanh nghiệp là thước đo cuối cùng về hiệu quả sản xuất – kinh doanh của doanh nghiệp Lợi nhuận được xác định là chênh lệch giữa doanh thu và chi phí mà doanh nghiệp bỏ ra trong hoạt động sản xuất – kinh doanh Lợi nhuận được xác định trong một thời gian nhất định ( tháng, quý, năm … )
Giáo trình Hạch toán Kế toán trong các doanh nghiệp của trường Đại học Kinh tế Quốc dân đưa ra khái niệm lợi nhuận: Lợi nhuận của hoạt động kinh doanh là số chênh lệch giữa lợi nhuận gộp về bán hàng, cung cấp dịch vụ và doanh thu hoạt động tài chính với chi phí tài chính, chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp8
Từ năm 1990, khái niệm tương đương với khái niệm lợi nhuận đã được đề cập Luật Thuế lợi tức năm 1990 đã đề cập tới khái niệm lợi tức Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp năm 1997 đã thay thế thuật ngữ “ lợi tức “ bằng thuật ngữ “ thu nhập chịu thuế “ Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp năm 2003 kế thừa và hoàn thiện khái niệm “ thu nhập chịu thuế “ Thuật ngữ này được tiếp tục làm rõ hơn tại Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp năm 2008, theo đó: “ Thu nhập chịu thuế bao gồm thu nhập từ hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ và thu nhập khác…” và “ thu nhập khác bao gồm thu nhập từ chuyển nhượng vốn, chuyển nhượng bất động sản; thu nhập từ quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản; thu nhập từ chuyển nhượng, cho thuê, thanh lý tài sản; thu nhập từ lãi tiền gửi, cho vay vốn, bán ngoại tệ; hoàn nhập các khoản dự phòng; thu khoản nợ khó đòi đã xóa nay đòi được; thu khoản nợ phải trả không xác định được chủ; khoản thu nhập từ kinh doanh của những năm
8 Tr 226 Hạch toán Kế toán trong các doanh nghiệp, trường Đại học Kinh tế Quốc dân, NXB Tài chính năm
2008
Trang 25trước bị bỏ sót và các khoản thu nhập khác, kể cả thu nhập nhận được từ hoạt động sản xuất, kinh doanh ở ngoài Việt Nam “9
Từ những nội dung trên, có thể đưa ra khái niệm chung về lợi nhuận như sau:
Lợi nhuận của một doanh nghiệp là chênh lệch giữa tổng doanh thu và tổng chi phí liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh và hoạt động khác của doanh nghiệp, thể hiện thông qua thu nhập chịu thuế của doanh nghiệp, được tính trong một thời
bán hàng
và cung cấp dịch
vụ
+
Doanh thu hoạt động tài chính
,
Chi phí hoạt động tài chính
,
Chi phí bán
doanh nghiệp
- Lợi nhuận khác được xác định bằng công thức:
Lợi nhuận khác = Thu nhập khác – Chi phí khác
Việc xác định lợi nhuận của hoạt động kinh doanh và lợi nhuận khác cho phép tính tổng lợi nhuận trước thuế:
Trang 26Từ đó, doanh nghiệp tính được lợi nhuận sau thuế:
Lợi nhuận sau
thuế thu nhập
doanh nghiệp
=
Tổng lợi nhuận
1.3.Nguồn luật điều chỉnh hoạt động quản lý doanh thu, chi phí, lợi nhuận trong doanh nghiệp Việt Nam Khái niệm, đặc điểm pháp luật quản lý nội bộ doanh thu, chi phí, lợi nhuận trong doanh nghiệp ở Việt Nam
1.3.1 Nguồn luật điều chỉnh hoạt động quản lý doanh thu, chi phí, lợi nhuận trong doanh nghiệp Việt Nam
Nguồn pháp luật là những hình thức chính thức thể hiện các quy tắc bắt buộc chung được nhà nước thừa nhận có giá trị pháp lý để áp dụng vào việc giải quyết các sự việc trong thực tiễn pháp lý và là phương thức tồn tại trên thực tế của các quy phạm pháp luật
Các loại nguồn pháp luật là:
- Tập quán pháp ( pháp luật tập quán ): Tập quán pháp là những tập quán lưu truyền trong xã hộ, phù hợp cơ bản với lợi ích nhà nước và với thực tiễn cuộc sống, được nhà nước thừa nhận có giá trị pháp lý, trở thành quy tắc sử xự chung và được nhà nước đảm bảo thực hiện
- Tiền lệ pháp: Tiền lệ pháp là các quyết định của cơ quan hành chính hoặc tòa án được nhà nước thừa nhận như là khuôn mẫu có giá trị pháp lý để giải quyết những trường hợp tương tự Hai loại tiền lệ là tiền lệ hành chính và tiền lệ tư pháp
- Văn bản quy phạm pháp luật: Văn bản quy phạm pháp luật là hình thức thể hiện các quyết định của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ( thậm chí cá nhân, tổ chức
xã hội được nhà nước trao quyền ) ban hành theo những trình tự, thủ tục pháp lý nhất định, trong đó quy định những quy tắc xử sự có tính bắt buộc chung đối với tất
cả các chủ thể pháp luật, được áp dụng nhiều lần trong đời sống Đây là loại nguồn
do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền trực tiếp xây dựng, ban hành
Trang 27Văn bản quy phạm pháp luật phân hai loại chính: Văn bản luật và văn bản dưới luật
Pháp luật quản lý nội bộ doanh thu, chi phí, lợi nhuận có nguồn là văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực có liên quan Điều này giống với tất cả các lĩnh vực pháp luật khác ở Việt Nam Một thực tế nữa là trong lĩnh vực quản lý nội bộ doanh thu, chi phí, lợi nhuận, văn bản quy phạm pháp luật rất đa dạng Trong lĩnh vực này, văn bản quy phạm pháp luật gồm hầu khắp các loại hiện có như bộ luật, luật, nghị định, quyết định, thông tư
- Nguồn là các bộ luật, luật: Quy định quản lý nội bộ doanh thu, chi phí,
lợi nhuận có thể tìm thấy trong nhiều văn bản dạng bộ luật hay luật Nội dung quy định trong các luật có thể chỉ dừng lại ở mức nguyên tắc, cũng có thể chi tiết Ví dụ,
Bộ luật Lao động quy định nhiều vấn đề Ngoài các vấn đề như hợp đồng lao động, thời giờ làm việc – nghỉ ngơi, thỏa ước lao động tập thể, tổ chức người lao động v.v…, người ta có thể tìm thấy các quy định liên quan về bảo hiểm xã hội hay bảo hiểm y tế Các quy định này xác định một tỷ lệ bắt buộc mức đóng bảo hiểm của doanh nghiệp cho người lao động Khi doanh nghiệp đóng bảo hiểm cho người lao động theo quy định Bộ luật Lao động, đây là chi phí doanh nghiệp bỏ ra và được hạch toán vào kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Một số luật quy định chi tiết các chi phí doanh nghiệp phải bỏ ra Ví dụ: Luật Thuế Thu nhập Doanh nghiệp Một số luật thì quy định chi tiết các khoản thu như Luật Thuế Giá trị Gia tăng ( giá trị gia tăng là khoản thu mà khách hàng của doanh nghiệp phải trả, doanh nghiệp “ thu hộ “ nhà nước và phải “ nộp lại “ )
- Nguồn là các nghị định: Hai dạng nghị định liên quan đến quản lí nội bộ doanh thu, chi phí, lợi nhuận là: 1.Dạng nghị định giải thích luật; và 2.Dạng nghị định đặt
ra các quy định liên quan đến quản lý nội bộ doanh thu, chi phí, lợi nhuận
Dạng nghị định giải thích luật, ví dụ: Nghị định của Chính phủ số 83/2013/NĐ,CP ngày 22/07/2013 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Quản lý Thuế và Luật Sửa đổi Bổ xung một số điều của Luật Quản lý Thuế, Nghị định của Chính phủ số 218/2013/NĐ,CP ngày 26/12/2013 quy định chi tiết và
Trang 28hướng dẫn thi hành Luật Thuế Thu nhập Doanh nghiệp v.v… Dạng này giải thích chi tiết hơn các quy định của luật
Dạng nghị định đặt ra các quy định liên quan đến quản lý nội bộ doanh thu, chi phí, lợi nhuận, ví dụ: Nghị định của Chính phủ số 09/2009/NĐ,CP ngày ngày 05 tháng 02 năm 2009 ban hành Quy chế Quản lý Tài chính của Công ty Nhà nước và Quản lý vốn nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp khác v.v… Đây là lĩnh vực chưa được điều chỉnh bởi một quy phạm pháp luật nào, hoặc giả nếu có thì khá chung chung Dạng này minh họa vai trò lập quy của Chính phủ
- Nguồn là các quyết định: Quyết định là dạng truyền tải những nội dung chi tiết nhất của pháp luật quản lý nội bộ doanh thu, chi phí, lợi nhuận Các tiêu chuẩn kỹ thuật của việc quản lý nội bộ doanh thu, chi phí, lợi nhuận được thể hiện trong các quyết định Một số quyết định truyền tải tiêu chuẩn kỹ thuật này có thể kể: Quyết định số: 234/2003/QĐ,BTC ngày 30/12/2003 của Bộ trưởng Bộ Tài chính về việc Ban hành và Công bố sáu chuẩn mực kế toán Việt Nam ( đợt ba ), Quyết định số 48/2006/QĐ,BTC ngày 14/9/2006 của Bộ trưởng Bộ Tài chính về việc Ban hành Chế độ Kế toán Doanh nghiệp nhỏ và vừa v.v Quyết định có thể do Thủ tướng Chính phủ hay Bộ trưởng Bộ Tài chính ký ban hành
- Nguồn là các thông tư: Thông tư trong việc quản lý nội bộ doanh thu, chi phí, lợi nhuận thường là những văn bản đưa ra các cách hiểu chung khi áp dụng các tiêu chuẩn kỹ thuật Quá trình áp dụng pháp luật dẫn đến những khúc mắc, mà những khúc mắc này được tổng hợp lại và báo cáo lên Bộ Tài chính Là bộ chuyên ngành,
Bộ Tài chính ra các thông tư giải quyết những khúc mắc này Một số thông tư có thể kể ra như: Thông tư số 161/2007/TT,BTC ngày 31/12/2007 của Bộ Tài chính Hướng dẫn thực hiện mười sáu chuẩn mực kế toán ban hành theo Quyết định số 149/2001/QĐ,BTC ngày 31/12/2001, Quyết định số 165/2002/QĐ,BTC ngày 31/12/2002 và Quyết định số 234/2003/QĐ,BTC ngày 30/12/2003 của Bộ trưởng
Bộ Tài chính, Thông tư số 202/2011/TT,BTC ngày 30/12/2011 của Bộ Tài chính Hướng dẫn về Đăng ký thuế v.v…
Trang 291.3.2 Khái niệm, đặc điểm pháp luật quản lý nội bộ doanh thu, chi phí, lợi nhuận trong doanh nghiệp ở Việt Nam
Các quy định pháp luật về tổ chức, hoạt động trong doanh nghiệp ở Việt Nam rất đa dạng Có thể thấy các quy định này liên quan tới nhiều lĩnh vực quản trị doanh nghiệp như quản trị lao động, quản lý chất lượng, marketing… Trong số này
có các quy định về quản lý nội bộ doanh thu, chi phí, lợi nhuận trong doanh nghiệp
Trên cơ sở tổng hợp các quy định về quản lý nội bộ doanh thu, chi phí, lợi nhuận trong doanh nghiệp ở Việt Nam, có thể đưa ra khái niệm về pháp luật quản lý
nội bộ doanh thu chi phí, lợi nhuận trong doanh nghiệp ở Việt Nam như sau: Pháp
luật quản lý nội bộ doanh thu, chi phí, lợi nhuận trong doanh nghiệp ở Việt Nam là tổng hợp các quy phạm, chế định của pháp luật do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành, các văn bản nội bộ hoặc các thói quen ứng xử được doanh nghiệp ban hành hoặc thừa nhận, dùng để điều chỉnh quan hệ phát sinh trong quá trình quản lý doanh thu chi phí, lợi nhuận trong doanh nghiệp ở Việt Nam
Từ khái niệm trên, có thể thấy một số đặc điểm của pháp luật quản lý nội bộ doanh thu, chi phí, lợi nhuận trong doanh nghiệp ở Việt Nam như sau:
Thứ nhất: Pháp luật quản lý nội bộ doanh thu, chi phí, lợi nhuận trong doanh
nghiệp ở Việt Nam là tổng hợp các quy phạm, chế định của pháp luật do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành, các văn bản nội bộ hoặc các thói quen ứng xử được doanh nghiệp ban hành hoặc thừa nhận
Các quy phạm, chế định của pháp luật đa dạng, nằm trong nhiều loại văn bản pháp luật khác nhau, gồm các bộ luật, luật, văn bản hướng dẫn luật do các cơ quan nhà nước như quốc hội, chính phủ, bộ … ban hành
Các văn bản nội bộ được doanh nghiệp ban hành, gồm các văn bản như quy chế nội bộ do doanh nghiệp xây dựng được dùng để điều chỉnh hoạt động sản xuất kinh doanh, trong đó có các hoạt động liên quan đến quản lý nội bộ doanh thu, chi phí, lợi nhuận Một trong những ví dụ tiêu biểu về văn bản dạng này là Điều lệ công
ty Có thể thấy, trong Điều lệ công ty, các vấn đề như góp vốn, trích lập quỹ, quyền
Trang 30ký các hợp đồng, nguyên tắc và cách thức chia lợi nhuận… được quy định và là cơ
sở cho việc vận hành bình thường của công ty
Các thói quen ứng xử được doanh nghiệp chấp nhận được hiểu là những hành vi phổ biến, được thừa nhận và áp dụng để điều chỉnh hoạt động sản xuất kinh doanh, trong đó có việc quản lý doanh thu, chi phí, lợi nhuận Có thể thấy các ví dụ về thói quen ứng xử của doanh nghiệp như trong một số lĩnh vực kinh doanh, chẳng hạn hàng hải hay kho bãi, người ta vẫn áp dụng việc phạt lưu kho Việc phạt này có thể không được ghi nhận dưới dạng văn bản nhưng vẫn được doanh nghiệp thừa nhận
Thứ hai: Pháp luật quản lý nội bộ doanh thu, chi phí, lợi nhuận trong doanh
nghiệp ở Việt Nam dùng để điều chỉnh quan hệ phát sinh trong quá trình quản lý doanh thu, chi phí, lợi nhuận trong doanh nghiệp ở Việt Nam Đây là đặc trưng phân biệt pháp luật quản lý nội bộ doanh thu, chi phí, lợi nhuận với các lĩnh vực pháp luật khác Đồng thời, đặc điểm này cho phép quy định nội dung chế định pháp luật quản lý nội bộ doanh thu, chi phí, lợi nhuận Các chế định này gồm:
- Chế định về quản lý nội bộ doanh thu
- Chế định về quản lý nội bộ chi phí
- Chế định về quản lý lợi nhuận doanh nghiệp
1.4.Vai trò của quản lý nội bộ về doanh thu, chi phí, lợi nhuận trong doanh nghiệp
Quản lý nội bộ về doanh thu, chi phí, lợi nhuận có vai trò quan trọng, với trước tiên là doanh nghiệp Sau nữa, nó đóng vai trò quan trọng đảm bảo các nghĩa vụ thuế được hoàn thành Thêm vào đó, với nhà đầu tư hay với người lao động, một doanh nghiệp quản lý tốt về doanh thu, chi phí, lợi nhuận luôn đem lại lợi ích cho họ Dưới đây là một số nội dung liên quan tới vai trò ( ý nghĩa ) của quản lý nội bộ về doanh thu, chi phí, lợi nhuận được trình bày theo trong tương quan với từng đối tượng:
1.4.1 Với bản thân doanh nghiệp
Mục tiêu sau cùng của các doanh nghiệp khi tiến hành các hoạt động sản
xuất kinh doanh là lợi nhuận Rõ ràng, lợi nhuận kỳ vọng của doanh nghiệp chỉ có thể đạt được khi hai biến số doanh thu và chi phí được kiểm soát tốt Quá trình quản
Trang 31lý nội bộ doanh thu, chi phí, lợi nhuận, nếu được thực thi tốt, sẽ khiến doanh nghiệp
có được:
- …một sự đảm bảo về vốn: Lợi nhuận của doanh nghiệp được xác định theo công thức lấy doanh thu trừ ( , ) chi phí Nếu doanh nghiệp đạt lợi nhuận dương, vốn của doanh nghiệp sẽ tăng Sự bổ sung vốn từ chính các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp mang lại sự bền vững của chính doanh nghiệp
Mặt khác, trong trường hợp doanh nghiệp có khả năng tăng vốn từ chính hoạt động sản xuất kinh doanh mang lại lợi nhuận của mình, khả năng thu hút vốn của doanh nghiệp tăng đáng kể Các ngân hàng thường dựa các chỉ số an toàn vốn của doanh nghiệp để quyết định cho vay Trong thị trường tài chính, việc phát hành trái phiếu của một doanh nghiệp có số vốn chủ sở hữu đảm bảo luôn diễn ra thuận lợi Nếu doanh nghiệp là công ty cổ phần niêm yết trên thị trường chứng khoán, các chỉ số tài chính tốt , vốn dĩ là kết quả của quá trình quản lý tốt về doanh thu, chi phí, lợi nhuận – luôn khiến cổ phiếu doanh nghiệp hấp dẫn với các nhà đầu tư
Khi doanh nghiệp trở nên hấp dẫn hơn trong mắt ngân hàng, chủ nợ hay nhà đầu tư, doanh nghiệp có thêm sự tự chủ trong việc lựa chọn hình thức, phương pháp huy động vốn thích hợp Từ đó, doanh nghiệp có thể giảm bớt chi phí sử dụng vốn, góp phần tăng lợi nhuận doanh nghiệp
- … khả năng lớn hơn trong việc nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp: Hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp luôn là quá trình vận động, chuyển hóa hình thái vốn tiền tệ Việc quản lý tốt về doanh thu, chi phí, lợi nhuận trong một doanh nghiệp là kết quả của việc vận dụng đúng đắn các kiến thức quản trị tài chính doanh nghiệp một cách phù hợp với quy định pháp luật hiện có Việc quản trị tài chính tốt sẽ cho phép doanh nghiệp đưa ra các quyết định đầu tư đúng đắn Các doanh nghiệp sẽ chớp được cơ hội tốt hơn trong hoạt động sản xuất kinh doanh
Biểu hiện khác của việc nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh thông qua việc quản lý tốt về doanh thu, chi phí, lợi nhuận đó là việc doanh nghiệp có cơ hội tăng nhanh vòng quay tài sản Vòng quay tài sản được coi là
Trang 32tiêu chí quan trọng đánh giá kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh Vòng quay tài sản nhanh có nghĩa là doanh nghiệp khai thác tài sản hiệu quả Sử dụng tốt kiến thức quản trị tài chính sẽ cho phép doanh nghiệp biết được loại sản phẩm hay dịch vụ nào của mình mang lại lợi nhuận, thời điểm kinh doanh tốt nhất, chi phí nào là lãng phí, chi phí nào trực tiếp mang lại doanh thu v.v… Điều này tạo điều kiện để điều hành sản xuất kinh doanh hiệu quả hơn, được biểu hiện qua việc vòng quay tài sản tăng
1.4.2 Với các cơ quan thuế
Kết quả của việc quản lý tốt doanh thu, chi phí, lợi nhuận của một doanh nghiệp luôn tạo ra nguồn thu thuế Các khoản thuế trực thu như thuế nhập khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế thu nhập doanh nghiệp, hoặc các khoản lệ phí doanh nghiệp phải chịu luôn được doanh nghiệp tính vào chi phí Vì vậy, nếu doanh thu và chi phí của doanh nghiệp được quản lý tốt thì cơ quan thuế sẽ nắm chắc được nguồn thu từ các loại thuế trực thu mà doanh nghiệp phải chịu
1.4.3 Với người lao động:
Quá trình quản lý tốt doanh thu, chi phí, lợi nhuận của doanh nghiệp luôn mang lại hiệu quả kinh doanh tốt cho doanh nghiệp Hiệu quả kinh doanh tốt lại mang lại khả năng sản xuất kinh doanh được mở rộng từ đó tạo thêm công ăn việc làm cho người lao động Mặt khác, người lao động cũng được đảm bảo thu nhập đủ
để tái sản xuất sức lao động và khuyến khích họ gia tăng hiệu quả làm việc
1.4.4 Với nhà đầu tư, ngân hàng hay các chủ nợ:
Quan tâm đầu tiên của các nhà đầu tư, ngân hàng hay chủ nợ đối với doanh
nghiệp đó là hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Hiệu quả này chỉ có thể đạt được nếu doanh nghiệp có một quá trình quản trị tài chính , thực chất là quản lý doanh thu, chi phí, lợi nhuận – ở chất lượng tốt Quá trình quản lý doanh thu, chi phí, lợi nhuận tốt luôn đem lại tính minh bạch cao, điểm hấp dẫn đối với bất
cứ nhà đầu tư, ngân hàng hay các chủ nợ mỗi khi tính đến việc đầu tư hay cho doanh nghiệp vay
Trang 33Tóm lại, Chương I: “ Tổng quan về doanh nghiệp và những vấn đề pháp lý
cơ bản về quản lý nội bộ doanh thu, chi phí, lợi nhuận trong doanh nghiệp Việt Nam “ đề cập tới nội dung tổng quan về doanh nghiệp Nội dung này gồm khái niệm và đặc điểm doanh nghiệp Từ nội dung này, có thể thấy đặc thù của doanh nghiệp là tìm kiếm lợi nhuận Do doanh nghiệp có tính tổ chức cao, nên trong Chương I cũng có nội dung về quản lý nội bộ doanh nghiệp đề cập tới sự phát triển của khoa học quản lý ( hay quản trị ) doanh nghiệp từ khi khoa học này ra đời ( khoảng đầu thế kỷ XX ) Chương I cũng đề cập tới khái niệm, sự phân loại doanh thu, chi phí, lợi nhuận Nguồn luật điều chỉnh hoạt động quản lý nội bộ doanh thu, chi phí, lợi nhuận trong doanh nghiệp được Chương I xác định là đa dạng, từ các bộ luật có tính tổng thể đến các thông tư chi tiết Những quy định nội bộ hoặc các thói quen ứng xử cũng có thể áp dụng để quản lý nội bộ doanh thu, chi phí, lợi nhuận trong doanh nghiệp Việc xác định vai trò của quản lý nội bộ doanh thu, chi phí, lợi nhuận cho thấy sự quan trọng của nó đối với bản thân doanh nghiệp, với cơ quan thuế, với người lao động, với nhà đầu tư hay ngân hàng…
Trang 34CHƯƠNG 2 NỘI DUNG PHÁP LUẬT QUẢN LÝ NỘI BỘ DOANH THU, CHI PHÍ, LỢI
NHUẬN TRONG DOANH NGHIỆP Ở VIỆT NAM
Trong chương I đã xác định, nguồn của pháp luật quản lý nội bộ doanh thu, chi phí, lợi nhuận rất đa dạng, có thể là các văn bản pháp luật do cơ quan nhà nước
có thẩm quyền ban hành, hoặc các văn bản do chính doanh nghiệp ban hành dùng
để điều chỉnh quan hệ phát sinh trong lĩnh vực quản lý nội bộ doanh thu, chi phí, lợi nhuận Bên cạnh đó, các thói quen ứng xử được doanh nghiệp thừa nhận cũng cần được tính đến Tuy nhiên, nội dung có tính tập trung, hệ thống và quan trọng nhất của pháp luật quản lý nội bộ doanh thu, chi phí, lợi nhuận trong doanh nghiệp ở Việt Nam nằm trong các văn bản pháp luật do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành Nội dung này được đề cập tới bằng cách tóm tắt các chế định dưới đây
2.1.Chế định về quản lý nội bộ doanh thu
2.1.1.Quy định về nguyên tắc nhận biết giao dịch – Thời điểm doanh thu được ghi nhận
* Nguyên tắc nhận biết giao dịch
Trong hoạt động sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp có thể có nhiều giao dịch Cần xác định giao dịch nào thực tế mang lại doanh thu Vì vậy, nhà lập quy đề
ra nguyên tắc nhận biết giao dịch Nguyên tắc này khi đem áp dụng sẽ giúp ngăn chặn việc đẩy doanh thu trên giấy vì mục đích nào đó ( làm đẹp Báo cáo Tài chính trước các nhà đầu tư, làm đẹp hồ sơ vay vốn ngân hàng v.v )
Phần 09 “ Nhận biết giao dịch “ của Quyết định 149/2001/QĐ,BTC của Bộ trưởng Bộ Tài chính ngày 31/12/2001 về việc ban hành và công bố bốn chuẩn mực
kế toán Việt Nam đợt một quy định nguyên tắc nhận biết giao dịch như sau: “ Tiêu chuẩn nhận biết giao dịch trong chuẩn mực này được áp dụng riêng biệt cho từng giao dịch Trong một số trường hợp, các tiêu chuẩn nhận biết giao dịch cần áp dụng tách biệt cho từng bộ phận của một giao dịch đơn lẻ để phản ánh bản chất của giao dịch đó Ví dụ, khi trong giá bán một sản phẩm có một khoản đã định trước cho việc cung cấp dịch vụ sau bán hàng thì khoản doanh thu từ việc cung cấp dịch vụ sau
Trang 35bán hàng sẽ được dời lại cho đến khi doanh nghiệp thực hiện dịch vụ đó Tiêu chuẩn nhận biết giao dịch còn được áp dụng cho hai hay nhiều giao dịch đồng thời có quan
hệ với nhau về mặt thương mại Trường hợp này phải xem xét chúng trong mối quan hệ tổng thể Ví dụ, doanh nghiệp thực hiện việc bán hàng và đồng thời ký một hợp đồng khác để mua lại chính các hàng hóa đó sau một thời gian thì phải đồng thời xem xét cả hai hợp đồng và doanh thu không được ghi nhận “
Từ quy định trên, có thể tóm tắt một số nội dung liên quan tới việc nhận biết giao dịch nào mang lại doanh thu cho doanh nghiệp như sau:
- Việc xác định thời điểm nào doanh thu được ghi nhận là rất cần thiết Ví dụ đầu tiên trong quy định trên cho thấy trong một gói cung cấp hàng hóa, việc tách biệt thời điểm phát sinh doanh thu giữa quá trình chuyển quyền sở hữu với hàng hóa và quá trình cung cấp dịch vụ sẽ ảnh hưởng thế nào đến việc xác định doanh thu trong một thời điểm ( ví dụ một kỳ kế toán )
- Tiêu chí doanh thu phải làm tăng vốn chủ sở hữu cần được tuân thủ Ví dụ thứ hai cho thấy một doanh nghiệp bán hàng cho khách hàng sau đó bỏ tiền ra mua lại chính món hàng sẽ không được ghi tăng doanh thu Vì thực chất không phải là hoạt động bán hàng, nên trong trường hợp này, vốn chủ sở hữu không tăng, doanh thu không được ghi nhận
* Thời điểm doanh thu được ghi nhận
Như trên đề cập, thời điểm doanh thu được ghi nhận khá quan trọng K.2.Đ.8 Nghị định 218/2013/NĐ,CP của Chính phủ ngày 26/12/2013 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Thuế Thu nhập Doanh nghiệp quy định: “ Thời điểm xác định doanh thu để tính thu nhập chịu thuế đối với hàng hóa bán ra là thời điểm chuyển giao quyền sở hữu, quyền sử dụng hàng hóa cho người mua
Thời điểm xác định doanh thu để tính thu nhập chịu thuế đối với dịch vụ là thời điểm hoàn thành việc cung ứng dịch vụ cho người mua hoặc thời điểm lập hóa đơn cung ứng dịch vụ “
Quyết định 149/2001/QĐ,BTC ngày 31/12/2001 của Bộ trưởng Bộ Tài chính
về việc ban hành và công bố 04 ( bốn ) chuẩn mực kế toán hướng dẫn về thời điểm xác định doanh thu như sau:
Trang 36- Với doanh thu bán hàng: Phần 10, mục hướng dẫn Chuẩn mực Kế toán số 14: Doanh thu và thu nhập khác xác định: “ Doanh thu bán hàng được ghi nhận khi đồng thời thỏa mãn tất cả năm (5) điều kiện sau:
(a) Doanh nghiệp đã chuyển giao phần lớn rủi ro và lợi ích gắn liền với quyền sở hữu sản phẩm hoặc hàng hóa cho người mua;
(b) Doanh nghiệp không còn nắm giữ quyền quản lý hàng hóa như người sở hữu hàng hóa hoặc quyền kiểm soát hàng hóa;
(c) Doanh thu được xác định tương đối chắc chắn;
(d) Doanh nghiệp đã thu được hoặc sẽ thu được lợi ích kinh tế từ giao dịch bán hàng; (e) Xác định được chi phí liên quan đến giao dịch bán hàng…”
Nội dung “ chuyển giao phần lớn rủi ro “ có thể hiểu tương đồng với việc ghi nhận doanh thu Thế nào là “ chuyển giao phần lớn rủi ro “ lại được minh họa bằng quy định về việc doanh nghiệp “ còn phải chịu nhiều rủi ro “, tại phần 11 mục này như sau: “ …Doanh nghiệp còn phải chịu rủi ro gắn liền với quyền sở hữu hàng hóa dưới nhiều hình thức khác nhau, như:
(a) Doanh nghiệp còn phải chịu trách nhiệm để đảm bảo cho tài sản được hoạt động bình thường mà việc này không nằm trong các điều khoản bảo hành thông thường; (b) Khi việc thanh toán tiền bán hàng còn chưa chắc chắn vì phụ thuộc vào người mua hàng hóa đó;
(c) Khi hàng hóa được giao còn chờ lắp đặt và việc lắp đặt đó là một phần quan trọng của hợp đồng mà doanh nghiệp chưa hoàn thành;
(d) Khi người mua có quyền huỷ bỏ việc mua hàng vì một lý do nào đó được nêu trong hợp đồng mua bán và doanh nghiệp chưa chắc chắn về khả năng hàng bán có
bị trả lại hay không… “
Nội dung “ doanh thu được xác định tương đối chắc chắn “ được giải thích là: “…Doanh thu bán hàng được ghi nhận chỉ khi đảm bảo là doanh nghiệp nhận được lợi ích kinh tế từ giao dịch Trường hợp lợi ích kinh tế từ giao dịch bán hàng còn phụ thuộc yếu tố không chắc chắn thì chỉ ghi nhận doanh thu khi yếu tố không chắc chắn này đã xử lý xong (ví dụ, khi doanh nghiệp không chắc chắn là Chính phủ nước sở tại có chấp nhận chuyển tiền bán hàng ở nước ngoài về hay không)…”
Trang 37Nội dung “ xác định được chi phí liên quan đến giao dịch bán hàng “ được giải thích là: “…Doanh thu và chi phí liên quan tới cùng một giao dịch phải được ghi nhận đồng thời theo nguyên tắc phù hợp Các chi phí, bao gồm cả chi phí phát sinh sau ngày giao hàng (như chi phí bảo hành và chi phí khác), thường được xác định chắc chắn khi các điều kiện ghi nhận doanh thu được thỏa mãn Các khoản tiền nhận trước của khách hàng không được ghi nhận là doanh thu mà được ghi nhận là một khoản nợ phải trả tại thời điểm nhận tiền trước của khách hàng Khoản nợ phải trả về số tiền nhận trước của khách hàng chỉ được ghi nhận là doanh thu khi đồng thời thỏa mãn năm (5) điều kiện ( nói ở trên )…”
- Với doanh thu cung cấp dịch vụ: Phần 16, mục hướng dẫn Chuẩn mực Kế toán số 14: Doanh thu và thu nhập khác xác định: “ Kết quả của giao dịch cung cấp dịch
vụ được xác định khi thỏa mãn tất cả bốn (4) điều kiện sau:
(a) Doanh thu được xác định tương đối chắc chắn;
(b) Có khả năng thu được lợi ích kinh tế từ giao dịch cung cấp dịch vụ đó;
(c) Xác định được phần công việc đã hoàn thành vào ngày lập Bảng Cân đối kế toán;
(d) Xác định được chi phí phát sinh cho giao dịch và chi phí để hoàn thành giao dịch cung cấp dịch vụ đó … “
Nội dung “ xác định tương đối chắc chắn “ có lẽ được hiểu như trường hợp doanh thu cung cấp hàng hóa
Nội dung “ có khả năng thu được lợi ích kinh tế từ giao dịch cung cấp dịch
vụ đó “ được giải thích là: “…Doanh thu cung cấp dịch vụ chỉ được ghi nhận khi đảm bảo là doanh nghiệp nhận được lợi ích kinh tế từ giao dịch Khi không thể thu hồi được khoản doanh thu đã ghi nhận thì phải hạch toán vào chi phí mà không được ghi giảm doanh thu …“ Điều này nghĩa là doanh thu cung cấp dịch vụ chỉ được doanh nghiệp xác định khi doanh nghiệp chắc chắn rằng có thể thu được tiền
từ khách hàng là người thụ hưởng dịch vụ
Trang 38Nội dung “ xác định được phần công việc đã hoàn thành vào ngày lập Bảng Cân đối kế toán “ được hướng dẫn là : “…Phần công việc đã hoàn thành được xác định theo một trong ba phương pháp sau, tuỳ thuộc vào bản chất của dịch vụ:
(a) Đánh giá phần công việc đã hoàn thành;
(b) So sánh tỷ lệ (%) giữa khối lượng công việc đã hoàn thành với tổng khối lượng công việc phải hoàn thành;
(c) Tỷ lệ (%) chi phí đã phát sinh so với tổng chi phí ước tính để hoàn thành toàn bộ giao dịch cung cấp dịch vụ
Phần công việc đã hoàn thành không phụ thuộc vào các khoản thanh toán định kỳ hay các khoản ứng trước của khách hàng….”
- Với doanh thu khác: Thực sự “ doanh thu khác “ là gì chưa có xác định đầy đủ Quyết định 149/2001/QĐ,BTC có nói đến doanh thu từ tiền lãi, tiền bản quyền, cổ tức và lợi nhuận được chia Thời điểm loại doanh thu này được ghi nhận được quyết định này hướng dẫn như sau: “…Doanh thu phát sinh từ tiền lãi, tiền bản quyền, cổ tức và lợi nhuận được chia của doanh nghiệp được ghi nhận khi thỏa mãn đồng thời hai (2) điều kiện sau:
(a) Có khả năng thu được lợi ích kinh tế từ giao dịch đó;
(b) Doanh thu được xác định tương đối chắc chắn….”
2.1.2 Xác định doanh thu trong một số trường hợp
Sự đa dạng của hoạt động sản xuất kinh doanh khiến cho việc xác định doanh thu, gắn với từng trường hợp đặc thù, trở nên không dễ dàng Pháp luật đã đưa ra một số trường hợp xác định doanh thu Cụ thể, Thông tư số 78/2014/TT,BTC của Bộ Tài chính ngày 18/ 06/2014 hướng dẫn thi hành Nghị định
số 218,2013/NĐ,CP ngày 26/12/2013 của Chính phủ quy định và hướng dẫn thi hành Luật Thuế Thu nhập doanh nghiệp, tại k.3 Đ.5 có hướng dẫn là:
“…a) Đối với hàng hóa, dịch vụ bán theo phương thức trả góp, trả chậm là tiền bán hàng hóa, dịch vụ trả tiền một lần, không bao gồm tiền lãi trả góp, tiền lãi trả chậm b) Đối với hàng hóa, dịch vụ dùng để trao đổi; tiêu dùng nội bộ (không bao gồm hàng hóa, dịch vụ sử dụng để tiếp tục quá trình sản xuất, kinh doanh của doanh
Trang 39nghiệp) được xác định theo giá bán của sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ cùng loại hoặc tương đương trên thị trường tại thời điểm trao đổi; tiêu dùng nội bộ
c) Đối với hoạt động gia công hàng hóa là tiền thu về hoạt động gia công bao gồm
cả tiền công, chi phí về nhiên liệu, động lực, vật liệu phụ và chi phí khác phục vụ cho việc gia công hàng hóa
d) Đối với hàng hóa của các đơn vị giao đại lý, ký gửi và nhận đại lý, ký gửi theo hợp đồng đại lý, ký gửi bán đúng giá hưởng hoa hồng được xác định như sau: , Doanh nghiệp giao hàng hóa cho các đại lý (kể cả đại lý bán hàng đa cấp), ký gửi
là tổng số tiền bán hàng hóa
, Doanh nghiệp nhận làm đại lý, ký gửi bán hàng đúng giá quy định của doanh nghiệp giao đại lý, ký gửi là tiền hoa hồng được hưởng theo hợp đồng đại lý, ký gửi hàng hóa
e) Đối với hoạt động cho thuê tài sản là số tiền bên thuê trả từng kỳ theo hợp đồng thuê Trường hợp bên thuê trả tiền trước cho nhiều năm thì doanh thu để tính thu nhập chịu thuế được phân bổ cho số năm trả tiền trước hoặc được xác định theo doanh thu trả tiền một lần
Doanh nghiệp căn cứ điều kiện thực hiện chế độ kế toán, hóa đơn chứng từ thực tế và việc xác định chi phí, có thể lựa chọn một trong hai phương pháp xác định doanh thu để tính thu nhập chịu thuế như sau:
, Là số tiền cho thuê tài sản của từng năm được xác định bằng (=) số tiền trả trước chia (:) số năm trả tiền trước
, Là toàn bộ số tiền cho thuê tài sản của số năm trả tiền trước
Trường hợp doanh nghiệp đang trong thời gian hưởng ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp lựa chọn phương pháp xác định doanh thu để tính thu nhập chịu thuế là toàn
bộ số tiền thuê bên thuê trả trước cho nhiều năm thì việc xác định số thuế thu nhập doanh nghiệp từng ưu đãi thuế căn cứ vào tổng số thuế thu nhập doanh nghiệp của
số năm trả tiền trước chia (:) số năm bên thuê trả tiền trước
g) Đối với hoạt động kinh doanh sân gôn là tiền bán thẻ hội viên, bán vé chơi gôn
và các khoản thu khác trong kỳ tính thuế được xác định như sau:
Trang 40, Đối với hình thức bán vé, bán thẻ chơi gôn theo ngày, doanh thu kinh doanh sân gôn làm căn cứ xác định thu nhập tính thuế thu nhập doanh nghiệp là số tiền thu được từ bán vé, bán thẻ và các khoản thu khác phát sinh trong kỳ tính thuế
, Đối với hình thức bán vé, bán thẻ hội viên loại thẻ trả trước cho nhiều năm, doanh thu làm căn cứ xác định thu nhập tính thuế thu nhập doanh nghiệp của từng năm là
số tiền bán thẻ và các khoản thu khác thực thu được chia cho số năm sử dụng thẻ hoặc xác định theo doanh thu trả tiền một lần
h) Đối với hoạt động tín dụng của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài là thu từ lãi tiền gửi, thu từ lãi tiền cho vay, doanh thu về cho thuê tài chính phải thu phát sinh trong kỳ tính thuế được hạch toán vào doanh thu theo quy định hiện hành về cơ chế tài chính của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài
i) Đối với hoạt động vận tải là toàn bộ doanh thu vận chuyển hành khách, hàng hóa, hành lý phát sinh trong kỳ tính thuế
k) Đối với hoạt động cung cấp điện, nước sạch là số tiền cung cấp điện, nước sạch ghi trên hóa đơn giá trị gia tăng Thời điểm xác định doanh thu để tính thu nhập chịu thuế là ngày xác nhận chỉ số công tơ điện và được ghi trên hóa đơn tính tiền điện, tiền nước sạch
Ví dụ 6: Hóa đơn tiền điện ghi chỉ số công tơ từ ngày 5/12 đến ngày 5/1 Doanh thu của hóa đơn này được tính vào tháng 1
l) Đối với lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm, doanh thu để tính thu nhập chịu thuế là toàn bộ số tiền thu được do cung ứng dịch vụ bảo hiểm và hàng hóa, dịch vụ khác,
kể cả phụ thu và phí thu thêm mà doanh nghiệp bảo hiểm được hưởng chưa có thuế giá trị gia tăng, bao gồm:
, Doanh thu từ hoạt động kinh doanh bảo hiểm:
Đối với hoạt động kinh doanh bảo hiểm và tái bảo hiểm là số tiền phải thu về thu phí bảo hiểm gốc; thu phí nhận tái bảo hiểm; thu hoa hồng nhượng tái bảo hiểm; thu phí quản lý đơn bảo hiểm; thu phí về dịch vụ đại lý bao gồm giám định tổn thất, xét giải quyết bồi thường, yêu cầu người thứ ba bồi hoàn, xử lý hàng bồi thường