1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Chính sách thúc đẩy sử dụng công nghệ thân thiện môi trường tại các khu công nghiệp ở nước cộng hòa dân chủ nhân dân lào

111 61 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 111
Dung lượng 1,7 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tình hình nghiên cứu đề tài Vấn đề ứng dụng công nghệ thân thiện môi trường trong xử lý ô nhiễm môi trường là một đề tài lớn được sự quan tâm của nhiều học giả, nhà khoa học trên thế gi

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

KHAMPHETH SAENGKHAMPHONG

CHÍNH SÁCH THÚC ĐẨY SỬ DỤNG CÔNG NGHỆ THÂN THIỆN MÔI TRƯỜNG

TẠI CÁC KHU CÔNG NGHIỆP

Ở NƯỚC CỘNG HOÀ DÂN CHỦ NHÂN DÂN LÀO

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH QUẢN LÝ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

HÀ NỘI - 2017

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

KHAMPHETH SAENGKHAMPHONG

CHÍNH SÁCH THÚC ĐẨY SỬ DỤNG CÔNG NGHỆ THÂN THIỆN MÔI TRƯỜNG

TẠI CÁC KHU CÔNG NGHIỆP

Ở NƯỚC CỘNG HOÀ DÂN CHỦ NHÂN DÂN LÀO

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH QUẢN LÝ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

Mã số: 60 34 04 12

Người hướng dẫn khoa học Chủ tịch hội đồng

PGS.TS Vũ Cao Đàm GS.TS Nguyễn Văn Khánh

HÀ NỘI – 2017

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan , đây là công trình nghiên cứu của tôi , có sự hỗ trợ của giáo viên hướng dẫn khoa học và các đồng nghiê ̣p Các số liê ̣u nêu trong luận văn là trung thực Những kết luận khoa học của luận văn chưa được ai công bố trong bất kỳ công trình nào

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

KHAMPHETH SAENGKHAMPHONG

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trong hai năm học cao học tại trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội, tác giả luận văn đã được học và sinh sống trong môi trường giáo dục tốt nhất Việt Nam Với lòng say mê học hỏi và yêu mến đất nước, con người Việt Nam, tác giả luận văn

đã rất vinh dự được học tập ở Trường Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội Tác giả luận văn xin chân thành bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc đến tập thể cán bộ, giảng viên Trường Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội, Khoa Khoa học quản lý và Khoa Sau Đại học Trường Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội Đặc biệt là thầy PGS.TS Vũ Cao Đàm đã hướng dẫn, chỉ bảo tận tình cho tác giả luận văn trong quá trình học tập và làm luận văn tốt nghiệp

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

KHAMPHETH SAENGKHAMPHONG

Trang 5

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU……… 1

1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu 1

2 Tình hình nghiên cứu đề tài 1

3 Mục tiêu nghiên cứu 4

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4

5 Tính mới và những đóng góp của đề tài 5

6 Phương pháp nghiên cứu 5

7 Câu hỏi nghiên cứu 5

8 Giả thuyết nghiên cứu 6

9 Kết cấu luận văn 6

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH CÔNG NGHỆ THÂN THIỆN MÔI TRƯỜNG TRONG CÁC KHU CÔNG NGHIỆP……… 7

1.1 Dẫn nhập 7

1.2 Khái niệm về công nghệ thân thiện môi trường 7

1.3 Khái niệm về khu công nghiệp 15

1.4 Khái niệm ô nhiễm môi trường 21

1.4.1 Khái niệm môi trường 21

1.4.2 Khái niệm ô nhiễm môi trường 23

1.5 Vai trò của công nghệ thân thiện môi trườngđối với bảo vệ môi trường ở các khu công nghiệp 25

1.6 Mối quan hệ giữa chính sách công nghệ thân thiện môi trường và bảo vệ môi trường tại các khu công nghiệp 26

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 …27

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÂN THIỆN MÔI TRƯỜNG TẠI CÁC KHU CÔNG NGHIỆP Ở NƯỚC CHDCND LÀO……… 28

2.1 Dẫn nhập 28

2.2 Sơ lược sự hình thành và phát triển của các quy định về chính sách thúc đẩy ứng dụng công nghệ thân thiện môi trường ở nước CHDCND Lào 28

2.3 Chính sách thúc đẩy ứng dụng công nghệ thân thiện môi trường tại các khu công nghiệp ở nước CHDCND Lào 32

2.3.1 Ưu đãi về thuế đối với doanh nghiệp ứng dụng công nghệ thân thiện với môi trường 33

2.3.2 Chính sách phát triển nguồn nhân lực công nghệ thân thiện với môi trường tại các khu công nghiệp 36

2.3.3 Các chính sách tín dụng, chính sách giá cả và các chính sách tài chính khác tại các khu công nghiệp 39 2.3.4 Chiến lược phát triển công nghiệp công nghệ thân thiện với môi trường 40

Trang 6

2.3.5 Chiến lược phát triển công nghiệp Lào từ năm 2016 đến năm 2025, tầm

nhìn đến năm 2030 43

2.3.6 Chế tài xử lý đối với doanh nghiệp áp dụng công nghệ thiếu thân thiện với môi trường tại các khu công nghiệp ở Lào 44

2.4 Thực trạng về ứng dụng công nghệ thân thiện môi trường tại các khu công nghiệp ở Lào 47

2.4.1 Một số kết quả đã đạt được trong ứng dụng công nghệ thân thiện môi trường tại các khu công nghiệp ở Lào 47

2.4.2 Những khó khăn, hạn chế trong việc ứng dụng công nghệ thân thiện môi trường tại các khu công nghiệp ở Lào 50

2.5 Đánh giá chung chính sách thúc đẩy ứng dụng công nghệ thân thiện môi trường tại các khu công nghiệp ở Lào 55

2.5.1 Ưu điểm 55

2.5.2 Nhược điểm 56

2.6 Nhận xét về chính sách phát triển khu công nghiệp theo cụm công nghiệp (cluster) ở Lào 57

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2……… 58

CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP CHÍNH SÁCH THÚC ĐẨY ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÂN THIỆN MÔI TRƯỜNG TẠI CÁC KHU CÔNG NGHIỆP Ở NƯỚC CHDCN LÀO……… 60

3.1 Dẫn nhập 60

3.2 Một số kinh nghiệm quốc tế về chính sách thúc đẩy ứng dụng công nghệ thân thiện môi trường tại các khu công nghiệp ở Lào 60

3.2.1 Kinh nghiệm của Singapore trong chính sách phát triển công nghiệp công nghệ thân thiện với môi trường 61

3.2.2 Kinh nghiệm của Hàn Quốc trong chính sách phát triển công nghiệp công nghệ thân thiện với môi trường 66

3.2.3 Bài học rút ra cho Lào 69

3.3 Một số giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng chính sách thúc đẩy ứng dụng công nghệ thân thiện môi trường tại các khu công nghiệp ở Lào 70

3.3.1 Nhóm giải pháp chung về chính sách thúc đẩy ứng dụng công nghệ thân thiện môi trường tại các khu công nghiệp ở Lào 70

3.3.2 Nhóm giải pháp cụ thể về chính sách thúc đẩy ứng dụng công nghệ thân thiện môi trường tại các khu công nghiệp ở Lào 72

3.3.3 Nhóm các giải pháp khác 90

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3……… 93

KẾT LUẬN CHUNG………94

KHUYẾN NGHỊ………96 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 7

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

1 CHDCND : Cộng hoà dân chủ nhân dân

3 DNVV&N : Doanh nghiệp vừa và nhỏ

4 KH&CN : Khoa học và Công nghệ

5 R&D : (research & development) Nghiên cứu và phát triển

10 Đảng NDCM Lào : Đảng Nhân dân cách mạng Lào

11 REN : Quỹ phát triển năng lượng tái tạo quốc gia Lào

12 DNNN : Doanh nghiệp nước ngoài

13 WEF : Diễn đàn kinh tế thế giới

14 NUS : Đại học Quốc gia Singapore

15 NTU : Đại học Công nghệ Nanyang Singapore

16 NC&PT : Nghiên cứu và phát triển

17 CNTTMT : Công nghệ thân thiện môi trường

Trang 8

1

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu

Lào đang trong giai đoạn công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước Hàng loạt khu công nghiệp tập trung đã được xây dựng và đi vào hoạt động Sự hình thành và phát triển các khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao ở Lào đã, đang và sẽ tiếp tục mang lại hiệu quả thiết thực cho nền kinh tế quốc dân Tuy nhiên, quá trình phát triển khu công nghiệp đã bộc lộ một số khuyết điểm trong việc xử lý chất thải và đảm bảo chất lượng môi trường

Tình trạng ô nhiễm môi trường (nhất là nguồn nước) tại các khu công nghiệp là do việc quy hoạch phát triển các khu công nghiệp ở Lào chưa hợp lý, cũng như thiếu các nguồn lực cần thiết để đáp ứng nhu cầu phát triển Thêm vào đó, trong quá trình hoạt động, nhiều khu công nghiệp còn thay đổi quy hoạch ngành nghề so với quyết định phê duyệt đầu

tư, sử dụng công nghệ lạc hậu thiếu thân thiện với môi trường không đáp ứng yêu cầu phát triển nền kinh tế bền vững

Từ những lý do trên, tác giả luận văn chọn đề tài: “Chính sách thúc đẩy sử dụng

công nghệ thân thiện môi trường tại các khu công nghiệp ở nước Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào” làm luận văn thạc sĩ tốt nghiệp của mình

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Vấn đề ứng dụng công nghệ thân thiện môi trường trong xử lý ô nhiễm môi trường là một đề tài lớn được sự quan tâm của nhiều học giả, nhà khoa học trên thế giới:

* Ở nước ngoài:

Ở Việt Nam tiêu biểu có một số công trình như: Nguyễn Thị Quang- “Sử dụng công

cụ tài chính thúc đẩy ứng dụng công nghệ xanh trong lĩnh vực xử lý rác thải (nghiên cứu trường hợp một số doanh nghiệp tại Hà Nội), luận văn thạc sĩ Khoa học quản lý, Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2014; Trần Thị Mĩ Hạnh -“Nghiên cứu đặc trưng của dòng thải và

Trang 9

2

đề xuất sơ đồ công nghệ xử lý nước thải tập trung tại khu công nghiệp Nam Cấm, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An”, luận văn thạc sĩ Khoa học quản lý, Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2014; đề án “Phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học trong lĩnh vực bảo vệ môi trường đến năm 2020”được Thủ tướng Chính phủ Việt Nam phê duyệt tại Quyết định số 1660/QĐ-TTg và chương trình KHCN trọng điểm cấp Nhà nước “nghiên cứu KHCN phục

vụ phòng tránh thiên tai, bảo vệ môi trường và sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên”, đề tài “ứng dụng công nghệ enzyme vào xử lý ô nhiễm môi trường” của Nguyễn Thanh Liêm – Nguyễn Minh Hiếu – Nguyễn Văn Luân – Vũ Văn Phương năm 2012; Báo cáo chuyên đề công nghệ sinh học môi trường Đại học Nông lâm TP Hồ Chí Minh về Vai trò của công nghệ sinh học trong xử lý nước thải năm 2009…

Ở Trung Quốc tiêu biểu có một số công trình: Wang Jianlong – “Technologies for water pollution control” – Đại học Thanh Hoa Bắc Kinh năm 2006; W Shen, W Zhao, F

He - TiO2 Photocatalytic Reactions and Its Applications in Wastewater Treatment năm 1998; G Wang, B Zheng-Shanxi Aluminum Plant Environment Safety Countermeasures năm 2001…

Ở Nhật Bản tiêu biểu có một số công trình: A Fujishima, K Honda - Electrochemical Photolysis of Water at a Semiconductor Electrode năm 1972; M.V Sharma, V Kumari, M Subrahmanyam - TiO2 Supported over SBA-15: An Efficient Photocatalyst for the Pesticide Degradation Using Solar Light năm 2008…

Nhìn chung các công trình nghiên cứu của các học giả nước ngoài ở trên đã đề cập đến những vấn đề lý luận và thực tiễn quan trọng của chính sách công nghệ ở Việt Nam, Trung Quốc và Nhật Bản…nhưng về cơ bản, các chính sách công nghệ ở Việt Nam, Trung Quốc và Nhật Bản được nghiên cứu dưới giác độ những công nghệ cụ thể, chuyên biệt như công nghệ kiểm soát ô nhiễm nguồn nước: bùn hoạt tính, xử lý hiếu khí, xử lý kỵ khí, sinh học điều trị, Xử lý sinh học, xử lý hóa chất, keo hạt (Wang Jianlong), công nghệ enzyme đối với xử lý ô nhiễm môi trường (Nguyễn Thanh Liêm – Nguyễn Minh Hiếu – Nguyễn Văn Luân – Vũ Văn Phương) hay nghiên cứu sử dụng công nghệ trong một phạm vi không

Trang 10

Kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học này cho thấy với những mục tiêu và nhiệm vụ khác nhau, những công trình nghiên cứu này chủ yếu nêu các quy định của pháp luật về môi trường nhằm thúc đẩy sử dụng công nghệ trong một lĩnh vực như công nghệ xanh hay sử dụng khoa học công nghệ trong bảo vệ môi trường và bảo tồn đa dạng sinh học

mà chưa đi sâu phân tích một cách đầy đủ và có hệ thống chính sách thúc đẩy sử dụng công nghệ thân thiện môi trường ở các khu công nghiệp của Lào Nhiều vấn đề liên quan đến chính sách thúc đẩy sử dụng công nghệ thân thiện môi trường tại các khu công nghiệp chưa được đề cập nghiên cứu một cách đầy đủ và toàn diện hoặc có đề cập nghiên cứu nhưng mức độ nghiên cứu chưa sâu Tuy vậy, đây vẫn là những tài liệu nghiên cứu quan trọng được tác giả lựa chọn tham khảo khi thực hiện việc nghiên cứu đề tài luận văn của mình

Chính vì vậy, Luận văn với chủ đề nghiên cứu về “Chính sách thúc đẩy sử dụng

công nghệ thân thiện môi trường tại các khu công nghiệp ở nước Lào” là quan trọng và

cần thiết cả về mặt lý luận và thực tiễn

Trang 11

Để đạt được mục tiêu tổng quát đề cập trên, cần thực hiện các mục tiêu cụ thể sau:

- Nghiên cứu những vấn đề lý luận về chính sách thúc đẩy sử dụng công nghệ thân thiện môi trường: chính sách, công nghệ thân thiện môi trường, khu công nghiệp, ô nhiễm môi trường; Mối quan hệ chính sách công nghệ với xử lý ô nhiễm môi trường

- Phân tích thực trạng về sử dụng công nghệ thân thiện môi trường ở các khu công nghiệp tại CHDCND Lào

- Đánh giá chính sách liên quan sử dụng công nghệ/công nghệ thân thiện môi trường tại các khu công nghiệp ở Lào

- Đề xuất giải pháp chính sách thúc đẩy sử dụng công nghệ thân thiện môi trường tại các khu công nghiệp ở Lào

4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu của đề tài là chính sách thúc đẩy sử dụng công nghệ thân thiện môi trường tại các khu công nghiệp ở Lào

Trang 12

5

+ Phạm vi thời gian: Nghiên cứu trong khoảng thời gian từ năm 2009 đến năm 2016; Thực trạng sử dụng công nghệ thân thiện môi trường tại các khu công nghiệp trong 5 năm gần đây

5 Tính mới và những đóng góp của đề tài

Luận văn đã có những đóng góp mới cho khoa học chuyên ngành quản lý khoa học

và công nghệ ở những điểm sau:

* Về mặt lý thuyết:

Đề tài được nghiên cứu sẽ góp phần làm sáng tỏ về phương diện lý luận trong mối quan hệ giữa chính sách công nghệ và bảo vệ môi trường… và tầm quan trọng của công nghệ thân thiện môi trường đối với bảo vệ môi trường

6 Phương pháp nghiên cứu

Khi nghiên cứu đề tài, tác giả luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu tài liệu như tổng hợp, phân tích, thống kê, so sánh nhằm xây dựng cơ sở lý luận để làm sáng tỏ những vấn đề nghiên cứu cũng như đề xuất kiến nghị

7 Câu hỏi nghiên cứu

Cần phải sử dụng chính sách về thúc đẩy sử dụng công nghệ thân thiện môi trường như thế nào để thúc đẩy sử dụng công nghệ thân thiện môi trường tại các khu công nghiệp ở Lào?

Trang 13

6

8 Giả thuyết nghiên cứu

Cần phát triển công nghiệp ở Lào theo hướng các cụm công nghiệpcó mức độ tập trung các doanh nghiệp liên kết với nhau cho phép tận dụng các nguồn phế thải đồng thời tận dụng các công nghệ sạch

Cần nghiên cứu, tham khảo và học hỏi kinh nghiệm chính sách thúc đẩy sử dụng công nghệ thân thiện môi trường của các quốc gia trên thế giới

9 Kết cấu luận văn

Ngoài Phần mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu gồm ba chương là :

- Chương 1 Cơ sở lý luận về chính sách công nghệ thân thiện môi trường trong các

khu công nghiệp

- Chương 2 Thực trạng chính sách ứng dụng công nghệ thân thiện môi trường tại khu công nghiệp ở nước CHDCND Lào

- Chương 3 Giải pháp chính sách thúc đẩy ứng dụng công nghệ thân thiện môi trường tại các khu công nghiệp ở nước CHDCND Lào

Trang 14

7

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH CÔNG NGHỆ THÂN THIỆN MÔI TRƯỜNG

TRONG CÁC KHU CÔNG NGHIỆP 1.1 Dẫn nhập

Chính sách công nghệ thân thiện với môi trường giúp phản ánh rõ nét nhất các mục tiêu của Nhà nước và các giải pháp mà Nhà nước sử dụng để đạt tới các mục tiêu phát triển bền vững và bảo vệ môi trường Việc xây dựng một chính sách bao gồm 3 giai đoạn cơ bản: hoạch định chính sách, thực thi chính sách và đánh giá chính sách Với cách tiếp cận này, tác giả luận văn tập trung phân tích và luận giải một số vấn đề lý luận về chính sách công nghệ thân thiện môi trường trong các khu công nghiệp để làm tiền đề phân tích các vấn đề tiếp theo của đề tài

1.2 Khái niệm về công nghệ thân thiện môi trường

Công nghệ thân thiện môi trường là một trong những giải pháp hàng đầu trong công cuộc chống biến đổi khí hậu, đồng thời cũng là một lĩnh vực tràn đầy triển vọng phát triển trong tương lai.Do đó, để đảm bảo sự phát triển bền vững, thế giới đang hướng tới sử dụng những công nghệ thân thiện môi trường (Environmental Sound Technology-EST) Trong vài thập niên gần đây,vấn đề công nghệ thân thiện môi trường đã được chính phủ cũng như khu vực tư nhân và giới khoa học nhiều nước quan tâm

Tuỳ vào cách tiếp cận mà khái niệm công nghệ thân thiện môi trường có thể được hiểu là : công nghệ sạch (Cleantechnology), công nghệ sạch hơn (cleaner technology), công nghệ ít chất thải (low-waste technology), công nghệ xanh (green technology)…

Công nghệ thân thiện môi trường đã được định nghĩa trong Chương 34, Chương trình nghị sự 21 của Liên hợp quốc về Môi trường và Phát triển (UNCED), hay còn gọi là Hội nghị Thượng đỉnh Trái đất được tổ chức vào năm 1992: “Công nghệ thân thiện môi trường là những công nghệ bảo vệ môi trường, ít gây ô nhiễm hơn, sử dụng mọi nguồn tài nguyên theo hướng bền vững hơn, tái chế được nhiều sản phẩm và phế thải và xử lý rác thải

dư thừa một cách hợp lý hơn so với những công nghệ mà nó thay thế” M.Henzler lại cho

Trang 15

8

rằng “công nghệ thân thiện môi trường là những công nghệ, bao gồm cả những dịch vụ và

hỗ trợ cần thiết, với chức năng cần hoàn thiện nhằm giảm thiểu tác động tới môi trường trong khi vẫn đang hoạt động sản xuất kinh doanh”

Mặt khác, trong bối cảnh ô nhiễm, công nghệ thân thiện môi trường có thể được hiểu

là những quy trình tạo ra ít hoặc thậm chí không tạo ra chất thải để ngăn ngừa ô nhiễm Nó cũng bao gồm cả các công nghệ xanh, công nghệ sạch công nghệ “đầu cuối” để xử lý các vấn đề ô nhiễm mà nó làm phát sinh ra

“Công nghệ xanh” là sự ứng dụng khoa học môi trường, hóa học xanh, quan trắc môi trường và các thiết bị điện tử để theo dõi, mô hình hóa và bảo tồn môi trường tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên nhằm hạn chế những tác động tiêu cực do ảnh hưởng của con người1 Hay “Công nghệ sạch là quy trình công nghệ hoặc giải pháp kỹ thuật không gây ô nhiễm môi trường, thải hoặc phát ra ở mức thấp nhất chất gây ô nhiễm môi trường” (theo Luật bảo

vệ Môi trường Việt Nam, 1994, Điều 2, khoản 8 – Hiện nay Luật Bảo vệ môi trường Việt Nam năm 2014 đã bỏ quy định này) Khoản 11, Điều 4, Luật Bảo vệ Môi trường Lào năm

2013 định nghĩa “công nghệ sạch” là quy trình công nghệ hoặc giải pháp kỹ thuật sử dụng máy móc và thiết bị trong quá trình sản xuất và hoạt động dịch vụ mà không gây ô nhiễm hoặc tạo ra chất thải; Và sử dụng lượng tiêu thụ năng lượng ít nhất để tránh tác động và thiệt hại đối với môi trường”.Trong Giáo trình “Quản lý Khoa học và công nghệ - Khoa

Luật Đại học Quốc gia Lào định nghĩa: “công nghệ thân thiện môi trường là công nghệ

được tạo ra nhằm ứng dụng vào các hoạt động kinh tế và xã hội của con người; bao gồm hai nội dung chính là giảm thiểu lượng phát thải khí nhà kính và giảm thiểu chất gây ô nhiễm môi trường”[31, tr.34-35]

Công nghệ thân thiện môi trường, theo chúng tôi, có thể bao gồm công nghệ xanh, công nghệ sạch và công nghệ sạch hơn

Công nghệ sạch (cleantechnology) là một tập hợp các quy trình, thực tiễn và công cụ, trong bất kỳ ngành công nghiệp nào hỗ trợ cách tiếp cận kinh doanh bền vững, bao gồm nhưng không giới hạn: kiểm soát ô nhiễm, giảm và quản lý tài nguyên, chiến lược cuối cùng của cuộc sống, giảm chất thải, hiệu suất năng lượng, giảm thiểu cácbon và lợi nhuận

1 Wikipedia, https://en.wikipedia.org/wiki/Environmental_technology

Trang 16

9

Con người luôn khám phá thế giới quan với quan điểm phát triển và rằng công nghệ luôn lạc hậu so với sự phát triển của loài người Do đó, khái niệm công nghệ sạch hơn ra đời và tồn tại song song với khái niệm công nghệ sạch

Công nghệ sạch hơn về cơ bản giống với khái niệm công nghệ sạch.Tuy nhiên, công nghệ sạch hơn chỉ tập trung vào nhiệm vụ chính là giảm lượng khí thải ô nhiễm; Và nếu có thể thay đổi bản chất của nguồn phát thải ô nhiễm để giảm áp lực và chi phí xử lý cuối đường ống Hay nói cách khác, công nghệ sạch hơn là công nghệ trong đó có sự áp dụng liên tục một chiến lược phòng ngừa tổng hợp đối với quá trình sản xuất, sản phẩm và dịch

vụ, nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất và giảm thiểu rủi ro cho con người và môi trường: i) Đối với quá trình sản xuất: công nghệ sạch hơn nhằm giảm tiêu thụ nguyên liệu, nước và năng lượng, giảm các nguyên liệu có tính chất độc hại hay nguy hại, giảm độc tính của phát thải và chất thải tại nguồn trong quá trình sản xuất; ii) Đối với sản phẩm: công nghệ sạch hơn nhằm giảm các tác động của sản phẩm đến môi trường, sức khoẻ và an toàn trong suốt đời sản phẩm, từ khâu nhập nguyên liệu, thông qua quá trình sản xuất và sử dụng cho đến khi thải bỏ; iii)Đối với dịch vụ: công nghệ sạch hơn lồng ghép các quan tâm về môi trường vào quá trình thiết kế và cung cấp dịch vụ

Công nghệ ít chất thải là một khái niệm mới ra đời xuất phát từ những khó khăn về công nghệ mà con người gặp phải đó là sự chững lại của các công nghệ sạch và công nghệ sạch hơn với sự cho rằng rất khó để đạt được một công nghệ sạch và công nghệ sạch hơn hay công nghệ không chất thải thuần tuý và rằng bởi chúng chỉ mang tính tương đối và để nhằm xử lý tốt hơn vấn đề xả thải từ hoạt động sản xuất công nghiệp ngày càng nhiều hơn

từ con người Ủy ban Cộng đồng kinh tế châu Âu định nghĩa: "(low-waste technology) là công nghệ sử dụng các kỹ thuật để sản xuất ra một sản phẩm hợp lý nhất với việc sử dụng nguyên liệu và năng lượng, đồng thời làm giảm lượng nước thải gây ô nhiễm môi trường và kiểm soát số lượng chất thải được sinh ra trong quá trình sản xuất" Định nghĩa này cho thấy

sự thay đổi trong quá trình nhận thức của các nhà khoa học đó là phát triển của các kỹ thuật kết hợp một cách hợp lý với việc tiết kiệm sử dụng nguyên vật liệu và năng lượng với việc kiểm soát lượng chất thải ở mức thấp nhất có thể.Như chúng ta sẽ thấy, những kỹ thuật này rất hiếm, tuy nhiên, chúng có vẻ thực tế hơn so với việc phải đi tìm các công nghệ không

Trang 17

Sự thành công trong ứng dụng lý thuyết này vào phát triển cụm công nghiệp ở một

số quốc gia trên thế giới chính là chìa khoá trả lời cho câu hỏi làm thế nào để tạo ra công nghệ không chất thải hoặc ít nhất là công nghệ ít chất thải Có thể kể đến mô hình ứng dụng của Mỹ và Nhật Bản sau đây [13]:

Tại Mỹ, M Porter là người tiên phong trong thiết kế mô hình cụm ngành công nghiệp.M Porter đặc biệt nhấn mạnh tới các địa điểm cụ thể của các doanh nghiệp vì khoảng cách địa lý có ảnh hưởng đến khả năng chia sẻ thông tin, nguồn lực, sự hiểu biết và các công nghệ tiên tiến.Các Bang Arizona, California, Florida, Minoseta, Bắc Carolina, Ohio, Oregon, Washington dẫn đầu về phát triển các cụm ngành Cụm công nghiệp tiêu biểu nhất ở Mỹ là thung lũng Silicon, với hơn 2,5 triệu lao động Tại Bang Arizona với sự tham gia của trung tâm Porter M đã xây dựng chương trình đối tác chiến lược để phát triển kinh tế.Kết quả là 9 mô hình cụm công nghiệp được thành lập.Hoạt động của các cụm ngành này cho thấy chúng hoạt động như mạng lưới sản xuất, với mục tiêu cùng học hỏi, cùng nghiên cứu marketing, mua sắm, sản xuất Ở tất cả các Bang của Mỹ đều thành lập các

Ủy ban về phát triển cụm công nghiệp Các trung tâm nghiên cứu, các trường đại học cũng thực hiện nghiên cứu phát triển các cụm ngành Nguồn vốn ban đầu do chính quyền Liên bang cấp, sau đó có thể huy động nguồn vốn tư nhân Các cụm ngành công nghiệp của Mỹ

có mức độ cạnh tranh toàn cầu rất cao

Nhật Bản là một trong những quốc gia áp dụng chính sách phát triển cụm công nghiệp thành công.Từ đầu những năm 2000, Nhật Bản đã xây dựng và triển khai chính sách cụm ngành công nghiệp một cách hệ thống Để hình thành một cụm ngành công nghiệp, Bộ Công Thương Nhật Bản tiến hành bốn bước: phân tích đặc điểm của địa phương; xác định mạng lưới có thể thiết lập trong phạm vi địa phương; mở rộng phạm vi mạng lưới, và thúc

Trang 18

11

đẩy tập trung công nghiệp và đổi mới Ba nhóm chính sách mà Bộ Công Thương thực hiện

là (i) xây dựng mạng lưới, (ii) hỗ trợ doanh nghiệp về R&D, phát triển thị trường, quản lý, đào tạo và (iii) thúc đẩy liên kết giữa các doanh nghiệp với nhau, giữa các doanh nghiệp với các tổ chức tài chính, các cơ sở đào tạo, viện nghiên cứu Nhật Bản là quốc gia đi đầu trong xây dựng hệ thống liên kết thầu phụ và hợp đồng giữa các doanh nghiệp lớn với các doanh nghiệp vừa và nhỏ

Các nghiên cứu thực tiễn ở nhiều nước trên thế giới và từ thực tiễn hai nước Nhật Bản và Mỹ đã cho thấy các cụm công nghiệp có vai trò rất quan trọng trong sự nghiệp phát triển của mỗi quốc gia xét trên hai phương diện: i) phương diện kinh tế: cụm công nghiệp góp phần tăng cường tính kinh tế địa phương và đô thị hóa, tạo điều kiện cho tái cơ cấu công nghiệp cũng như khuyến khích liên kết giữa các doanh nghiệp,các nguồn lực công đầu

tư tập trung hơn; ii) phương diện môi trường: cụm công nghiệp góp phần giảm chất thải vào môi trường bằng việcliên kết các doanh nghiệp có liên quan đến nhau trong đó chất thải của

cơ sở sản xuất trước được sử dụng làm nguyên liệu đầu vào cho cơ sở sản xuất sau

Do đó, xét về mặt công nghệ môi trường có thể xem cụm công nghiệp được xây dựng theo quan điểm của môi trường là “công nghệ cluster” Theo đó, tác giả xin đưa ra một khái niệm mới: “công nghệ cluster” là công nghệ chỉ cách thức tổ chức các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh trong cùng một lĩnh vực công nghiệp cụ thể có liên quan đến nhau cho phép tận dụng tối đa các chất thải quay trở lại sản xuất để tạo ra sản phẩm mới”

Trong phát triển cụm công nghiệp, theo tác giả có hai mô hình cụm công nghiệp mà các quốc gia tuỳ vào điều kiện cụ thể của mình có thể ứng dụng:

Trang 19

12

* Cụm công nghiệp tương đối: là mô hình trong đó chất thải của doanh nghiệp này

là nguồn nguyên liệu đầu vào để tạo ra sản phẩm của doanh nghiệp kia:

Nguyên liệu

Nguyên liệu

* Cụm Công nghiệp lý tưởng:là mô hình trong đó chất thải của doanh nghiệp này là

nguồn nguyên liệu đầu vào của doanh nghiệpkia tạo ra một chu trình khép kín:

Sản phẩm Doanh Nghiệp A

Chất thải

Doanh Nghiệp B

Sản phẩm Doanh Nghiệp A

Chất thải

Doanh Nghiệp B

Trang 20

13

trường trở thành hàng rào vô hình được dựng lên bởi một loạt các biện pháp: ĐTM, chính sách, pháp luật, kiểm soát ô nhiễm môi trường xuyên biên giới… để ngăn cản các công nghệ thiếu thân thiện với môi trường hoặc “việc xuất khẩu ô nhiễm” vào quốc gia của mình Nhưng các biện pháp này chỉ mới giải quyết được yêu cầu cần hạn chế các công nghệ gây ô nhiễm môi trường mà chưa đưa ra được giải pháp cho việc biến các công nghệ đó thành công nghệ sạch, hoặc công nghệ sạch hơn, hoặc công nghệ ít chất thải, hoặc công nghệ không chất thải.Rõ ràng, so với việc hạn chế các doanh nghiệp trong nước hoặc nước ngoài đầu tư vào quốc gia của mình do lo ngại về công nghệ lạc hậu hay thiếu thân thiện với môi trường, các quốc gia có thể lựa chọn áp dụng công nghệ cluster để vừa giải quyết được yêu cầu về môi trường, một mặt “đón đầu” được dòng vốn cần thiết cho việc phát triển kinh tế -

xã hội đất nước Tuy nhiên, để công nghệ cluster đạt được hiệu quả tối ưu cần tập trung đầu

tư các nhà máy xử lý chất thải, có công nghệ tiên tiến theo phương hướng mỗi doanh nghiệp hay mỗi nguồn gây ô nhiễm cho môi trường có một hệ thống xử lý chất thải riêng biệt kết nối với hệ thống xử lý tập trung và được kiểm soát bởi hệ thống quan trắc đánh giá chất lượng và tiêu chuẩn của chất thải

Tuy vậy, công nghệ cluster cũng có những hạn chế, đó là chúng đòi hỏi các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh: thứ nhất phải có liên quan với nhau trong một lĩnh vực công nghiệp cụ thể để có thể tận dụng chất thải thành nguyên liệu sản xuất ; hai là cùng nằm trong một khu vực địa lý nhằm tiết kiệm chi phí vận chuyển và rủi ro ô nhiễm môi trường từ việc vận chuyển chất thải đến do khoảng cách xa nhau Do vậy, để công nghệ cluster được ứng dụng vào thực tế, các quốc gia phải xây dựng mạng lưới các công nghiệp, nhóm công nghiệp trong đó phải đáp ứng yêu cầu chất thải của doanh nghiệp này là nguyên liệu đầu vào của doanh nghiệp kia thành danh mục Điều này có thể được áp dụng trong phát triển công nghiệp tại Lào, thí dụ như: hiện nay Lào đang triển khai phát triển công nghiệp khai thác than tại huyện Sầm Nưa, tỉnh Hủa Phăn tạo ra các sản phẩm than phục vụ cho nhà máy nhiệt điệt đồng thời tạo ra một lượng lớn chất thảikhi nhiệt điện chạy than thải ra khí sunfurơ sẽ phải khử khí sunfurơ đến khi không độc Khí khi thải ra môi trường nếu qua xử

lý bằng công nghệ sẽ không còn độc, nhưng bã đọng lại có cacbonat canxi và muối sunfat – gọi tắt là thạch cao, nếu Lào bố trí tại đây một trung tâm nghiên cứu khoa học xử lý khí thải

sẽ cung cấp các công nghệ xử lý khí thải và sự trợ giúp khoa học kỹ thuật cho nhà máy

Trang 21

14

nhiệt điện qua đó khống chế được khí thải gây ô nhiễm môi trường, đồng thời bố trí các nhà máy chế biến vật liệu xây dựng tại đây sẽ góp phần tận dụng được tro, xỉ, thạch cao từ các nhà máy nhiệt điện làm nguyên liệu sản xuất vật liệu xây dựng; các chất thải còn lại hoặc được tạo ra từ quá trình tái chế chất thải sẽ được nhà máy xử lý chất thải – công nghệ xử lý chất thải tiên tiến xử lý đạt quy chuẩn kỹ thuật môi trường và tiêu chuẩn môi trường Như vậy, các chất thải từ nhà máy nhiệt điện đã được xử lý tối đa trong một vòng khép kín nếu như Lào phát triển công nghiệp theo cụm Mặt khác, cụm công nghiệp tạo cơ hội cho việc tích tụ thông tin, kiến thức - tiền đề cho việc cải tiến, đổi mới trong sản xuất và giảm chi phí giao dịch

Mặc dù có nhiều quan niệm khác nhau về công nghệ thân thiện môi trường và tồn tại các khái niệm “công nghệ xanh”, “công nghệ sạch” nhưng chúng đều có điểm chung là tất

cả đều hướng tới giải quyết các vấn đề về bảo vệ môi trường và hướng tới nền công nghiệp

ít phát thải, thân thiện môi trường hay nền công nghiệp được vận hành tối ưu nhằm tận dụng

đa nguồn lực để sản sinh ra những sản phẩm có ích cho xã hội, đồng thời qua đó giảm tối đa lượng chất thải phát sinh

Xét về mặt bản chất, khái niệm về công nghệ thân thiện môi trường mang tính tương đối và quy chuẩn Thuật ngữ này hàm ý rằng những công nghệ đã được chọn sẽ hoàn thành các mục tiêu chứ không chỉ là tạo điều kiện cho một quá trình công nghiệp, giám sát, thương mại hay nội địa, đồng thời sẽ mang lại những lợi ích và giá trị sử dụng rộng lớn hơn chứ không chỉ là về năng suất (UNCTAD, 1997a) Đây là một khái niệm luôn tiến hóa: một công nghệ ngày hôm nay có thể làm giảm ô nhiễm và giảm mức sử dụng tài nguyên, vẫn có thể trở thành một công nghệ “bẩn” chỉ sau vài năm, khi có nhiều công nghệ tiên tiến hơn ra đời Vì vậy, duy trì quá lâu những công nghệ được coi là “sạch” của ngày hôm nay (ví dụ như giảm hoặc áp dụng thuế ưu đãi) có thể sẽ trì hoãn những phát minh mới hoặc làm lệch hướng các quyết định đầu tư và thương mại hướng tới những công nghệ ít sạch hơn mà không phải là các loại công nghệ có thể có được nhờ đổi mới và tiến bộ công nghệ (OECD, 2001b) Tuy vậy, Công nghệ thân thiện môi trường phải phù hợp với những ưu tiên về kinh

tế, xã hội, văn hóa và môi trường của một quốc gia

Trang 22

15

Từ những phân tích trên, ta có thể hiểu “công nghệ thân thiện môi trường” là những

công nghệ được tạo ra để hạn chế tối đa những tác động tiêu cực của con người đến môi trường”

1.3 Khái niệm về khu công nghiệp

Vào những năm cuối thế kỉ XIX, KCN đã được hình thành ở một số nước tư bản phát triển.Năm 1896, xuất hiện KCN đầu tiên ở Traffort Park thành phố Manchester nước Anh Sau đó, KCN lần lượt được thành lập ở các nước khác như Mỹ năm 1899, Italia năm 1904; và kể từ những năm 50 thế kỷ XX thì KCN thực sự được bùng nổ, trở thành phổ biến

ở các nước Trong quá trình phát triển đó, KCN đã đem lại nhiều lợi ích thiết thực, nó được coi là một công cụ để phát triển kinh tế

Ngày nay, KCN xuất hiện ở hầu hết các quốc gia trên thế giới.Mặc dù thuật ngữ KCN được sử dụng khá phổ biến nhưng bản thân nó lại bao hàm nhiều hình thức tổ chức và tính chất hoạt động khác nhau

Theo nghĩa thông thường, KCN là khu vực có tính chất độc lập tập trung nhiều doanh nghiệp sản xuất công nghiệp.Các KCN ra đời là kết quả của việc xây dựng các doanh nghiệp công nghiệp riêng rẽ.Xen lẫn với các doanh nghiệp công nghiệp là khu dân cư hoặc các cơ quan hành chính sự nghiệp các doanh nghiệp thuộc ngành khác… nghĩa là KCN chuyên sản xuất hàng dành cho xuất khẩu Ở đó, chính quyền đã áp dụng nhiều chính sách ưu đãi như miễn thuế (thuế xuất - nhập khẩu, thuế thu nhập cá nhân, thuế tài sản…) và tự do mua bán

Tuy nhiên, đến nay ở các nước khác nhau có những quan niệm khác nhau về KCN

Có quan niệm cho rằng, KCN là một vùng đất được phân chia và phát triển có hệ thống theo một kế hoạch tổng thể nhằm cung cấp địa điểm cho các ngành công nghiệp tương hợp với

hạ tầng cơ sở, các tiện ích công cộng, các dịch vụ phục vụ và hỗ trợ [3, tr.15]

Ở Thái Lan và Philippin, KCN được quan niệm như một thành phố công nghiệp và thực

tế nó là một cộng đồng tự túc và độc lập Ngoài việc cung cấp kết cấu hạ tầng, các tiện nghi, tiện ích công cộng hoàn chỉnh và xử lý chất thải, KCN cũng bao gồm khu thương mại, dịch vụ ngân hàng, trường học, bệnh viện, các khu vui chơi giải trí, khu nhà ở cho công nhân… Các KCN ở Thái Lan và Inđônêxia thường có 3 bộ phận chủ yếu: khu sản xuất hàng tiêu thụ nội địa, khu sản xuất hàng xuất khẩu và khu thương mại dịch vụ

Trang 23

Theo quan điểm của Tổ chức phát triển công nghiệp Liên hợp quốc (UNIDO) trong tài liệu KCX ở các nước đang phát triển công bố năm 1990, thì KCN là khu vực tương đối nhỏ, phân cách về mặt địa lý trong một quốc gia nhằm mục tiêu thu hút đầu tư vào các ngành công nghiệp hướng về xuất khẩu bằng cấc cung cấp cho các ngành công nghiệp này những điều kiện về đầu tư mậu dịch thuận lợi đặc biệt so với phần lãnh thổ còn lại của nước chủ nhà

Trong đó đặc biệt là KCX cho phép nhập khẩu hàng hoá dùng cho sản xuất để xuất khẩu miễn thuế [14, tr.18]

Theo quan điểm của Hiệp hội thế giới về KCX (World Expot Processing Zone Association – WEPZA) thì KCX là tất cả các khu vực được chính phủ các nước cho phép thành lập và hoạt động như Cảng tự do, Khu mậu dịch tự do, KCN tự do hay bất kỳ khu vực ngoại thương hoặc khu vục khác được tổ chức này công nhận Từ quan điểm này, do nhu cầu phát triển của mối quan hệ thương mại và đầu tư quốc tế ngày càng được mở rộng xuất phát từ yêu cầu bức thiết của quá trình công nghiệp hoá hướng về xuất khẩu của các nước đang phát triển, khái niệm này đã được bổ sung thành những quan niệm mới như Khu kinh tế

Một là, KCN là nơi hội tụ và thích ứng với nhau về mặt lợi ích và mục tiêu xác định

giũa chủ đầu tư và nước chủ nhà KCN là nơi có môi trường kinh doanh đặc biệt phù hợp được hưởng những quy chế tự do, các chính sách ưu đãi kinh tế (đặc biệt là thuế quan) so với các vùng khác ở nội địa Chúng là nơi có vị trí thuận lợi cho việc phát triển sản xuất,

Trang 24

17

thương mại, dịch vụ đầu tư trên cơ sở chính sách ưu đãi về kêt cấu hạ tầng, cơ chế pháp lý, thủ tục hải quan, thủ tục hành chính, chính sách tài chính tiền tệ, môi trường đầu tư

Hai là, KCN là bộ phận không thể thiếu và không thể tách rời trong sự phát triển

kinh tế của một quốc gia Nó thường là những khu vực có vị trí địa lý riêng biệt thích hợp,

có hàng rào xung quanh, giới hạn với các vùng lãnh thổ còn lại của nước sở tại và được chính phủ nước đó cho phép hoặc rút phép xây dựng và phát triển

Ba là, KCN là nơi thực hiện mục tiêu hàng đầu về ưu tiên chính sách hướng ngoại,

thu hút chủ yếu vốn đầu tư nước ngoài vào phát triển các loại hình sản xuất kinh doanh phục vụ xuất khẩu Đây là mô hình thu nhỏ về chính sách KT - XH mở cửa của một nước

Ở Lào, khái niệm về KCN được quy định tại khoản 15, Điều 3, Luật Khuyến khích

đầu tư Lào năm 2009: “Khu công nghiệp là khu vực mà Chính phủ xác định là khu vực

công nghiệp, sản xuất sản phẩm công nghiệp, dịch vụ cho ngành sản xuất thông qua việc phát triển thích hợp cơ sở hạ tầng phục vụ cho đầu tư…”

Căn cứ vào pháp luật Lào ta có thể hiểu các khái niệm về KCX, KCN, KCN cao, doanh nghiệp chế xuất, doanh nghiệp KCN, doanh nghiệp sản xuất KCN, doanh nghiệp dịch vụ KCN như sau:

KCX là KCN tập trung các doanh nghiệp chế xuất chuyên sản xuất hàng xuất khẩu

và hoạt động xuất khẩu.Những doanh nghiệp này được hưởng những ưu đãi đặc biệt về thuế quan, miễn thuế đối với tất cả các hàng hoá xuất nhập khẩu.Sản phẩm của các doanh nghiệp này chỉ được phép xuất khẩu chứ không được tiêu thụ trên thị trường nội địa.Trong trường hợp bán trên thị trường nội địa thì sẽ phải chịu thuế nhập khẩu như đối với những hàng hoá nhập khẩu thông thường

KCN cao là KCN tập trung những doanh nghiệp công nghiệp kỹ thuật cao và các đơn vị hoạt động phục vụ cho phát triển công nghệ cao, bao gồm nghiên cứu triển khai khoa học và công nghệ, đào tạo và các dịch vụ có liên quan, có ranh giới xác định, do chính phủ hoặc Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập Trong KCN cao có thể có doanh nghiệp chế xuất

Doanh nghiệp chế xuất là doanh nghiệp chuyên sản xuất và chế biến hàng xuất khẩu, được thành lập và hoạt động theo quy chế này

Trang 25

Có thể thấy rằng KCN là những địa bàn sản xuất công nghiệp gồm nhiều doanh nghiệp vừa và nhỏ, không có dân cư sinh sống, có ranh giới pháp lý riêng, có ban quản lý riêng do Chính phủ thành lập Về kết cấu hạ tầng, KCN được cung cấp đầy đủ các yếu tố hạ tầng kỹ thuật hiện đại, đạt các tiêu chuẩn quy định phục vụ trực tiếp cho hoạt động các doanh nghiệp công nghiệp Về cơ cấu ngành, trong KCN có cả các ngành truyền thống mà trong nước có lợi thế so sánh và cả các ngành công nghiệp mới như điện tử, công nghệ thông tin, công nghệ lắp ráp v.v

So với KCX, KCN thường có phạm vi hoạt động rộng hơn Nó không chỉ bao gồm các doanh nghiệp sản xuất hàng hoá và dịch vụ cho xuất khẩu mà còn mở ra cho tất cả các ngành công nghiệp bao gồm cả sản xuất hàng xuất khẩu và tiêu thụ trong nước

Các doanh nghiệp 100% vốn trong nước có thể được vào hoạt động tại KCN, khác với KCX chỉ liên kết với các công ty có vốn nước ngoài Các ưu đãi từ phía Chính phủ cũng được thực hiện đối với doanh nghiệp trong KCN chú trọng tới việc sản xuất hàng xuất khẩu,

do đó những doanh nghiệp này sẽ được hưởng chế độ ưu đãi như trong KCX và cũng sẽ được hưởng ưu đãi như trong KCN KCX là khu vực thu hút các dự án đầu tư nước ngoài

để xuất khẩu Quan hệ giữa các doanh nghiệp chế xuất với thị trường nội địa là quan hệ ngoại thương cũng giống như quan hệ giữa thị trường trong nước và thị trường nước ngoài KCX là khu thương mại tự do, bởi vì hàng hoá từ KCX ra nước ngoài và từ nước ngoài vào KCX không phải chịu thuế xuất nhập khẩu và ít bị ràng buộc bởi hàng rào phi thuế quan Còn quan hệ giữa các doanh nghiệp KCN với thị trường nội địa là quan hệ nội thương (trừ doanh nghiệp chế xuất trong KCN được hưởng ưu đãi như doanh nghiệp trong KCX) KCN không phải là khu thương mại tự do mà là khu sản xuất tập trung

Trang 26

19

Về điều kiện ưu đãi, doanh nghiệp KCX ở Lào đều được hưởng thuế thu nhập 10%, miễn thuế trong 4 năm đầu đối với doanh nghiệp sản xuất, nộp 15% và miễn 2 năm đối với doanh nghiệp dịch vụ; còn doanh nghiệp KCN nộp thuế thu nhập doanh nghiệp 15% đối với doanh nghiệp xuất khẩu dưới 50% sản phẩm trong 2 năm, 10% đối với doanh nghiệp xuất khẩu trên 80% sản phẩm và trong 2 năm

Đối với nước sở tại, thì KCX có nhiều mặt lợi hơn so với KCN Điều này có thể được lý giải bởi các lý do sau đây:

- Doanh nghiệp chế xuất không được trực tiếp sử dụng thị trường nội địa nên nhìn chung là không cạnh tranh với sản xuất trong nước

- Nhà nước không lo cân đối ngoại tệ cho doanh nghiệp mà ngược lại, nguồn ngoại tệ của

xã hội lại được tăng lên nhanh chóng nhờ hoạt động của KCX

- Thúc đẩy việc mở cửa thị trường nội địa nhanh hơn, phù hợp với chủ trương xây dựng nền kinh tế mở hướng mạnh về xuất khẩu

Tuy nhiên, những gì được coi là có lợi cho nước sở tại thì ngược lại là bất lợi đối với nhà đầu tư Để có thể xuất khẩu được 100% sản phẩm, việc tổ chức sản xuất phải đạt chất lượng cao, đồng đều, giá hợp lý, phù hợp với điều kiện cạnh tranh của thị trường quốc tế

Do các bất lợi trên mà các nhà đầu tư nước ngoài thường quan tâm đến hình thức KCN, nhằm tận dụng lợi thế về thị trường nội địa Điều này nghĩa là việc xây dựng thành công các KCX thường gặp khó khăn hơn là KCN Việc các nhà đầu tư nước ngoài coi trọng mô hình KCN là có căn nguyên riêng của nó, nhưng cần phải thấy được một vấn đề là nếu một quốc gia có quá nhiều KCN hoạt động sẽ có hàng nghìn doanh nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng chủ yếu do nước ngoài đầu tư Điều này sẽ tạo ra hiện tượng cạnh tranh gay gắt không cần thiết trên thị trường nội địa

Để khuyến khích đầu tư vào KCX, cần rà soát lại toàn bộ hệ thống chính sách kinh tế

vĩ mô của nhà nước theo tinh thần khuyến khích mạnh hơn, ưu đãi nhiều hơn cho KCX, làm cho nó có đủ sức hấp dẫn mạnh hơn đối với các nhà đầu tư so với KCN Việc xây dựng kết cấu hạ tầng của các KCN và KCX là không ít khó khăn, nhưng việc kêu gọi các doanh nghiệp đầu tư vào địa bàn này là khó khăn hơn nhiều Chất lượng của một KCX hay KCN phụ thuộc nhiều vào chất lượng của các dự án đã thu hút được

Trang 27

20

Như vậy KCN và KCX có những đặc điểm khác nhau xuất phát từ sự khác nhau về mục đích, đối tượng tham gia hay mối liên kết của chúng đối với nền kinh tế.KCN thường được nhận một sự ưu tiên nhất định từ phía chính quyền địa phương và Chính phủ với vai trò thúc đẩy phát triển kinh tế vùng (địa phương), KCN bao gồm những doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp nước ngoài KCX cũng được xác định là KCN nhưng tập trung những doanh nghiệp chuyên sản xuất chế biến các hàng xuất khẩu, được sự ưu tiên đặc biệt của Chính phủ, có vai trò then chốt trong việc chuyển từ nền kinh tế khép kín sang nền kinh

tế mở

Từ những sự phân tích trên, ta có thể thấy KCN là một khái niệm động gắn liền với điều kiện cụ thể nơi nó hình thành Các tiêu chí để hình thành một KCN bao gồm:

Thứ nhất, KCN là nơi tập trung các doanh nghiệp có đủ cơ sở pháp lý, chuyên sản xuất hàng

công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp

Thứ hai, KCN là khu vực có ranh giới địa lý xác định, không có dân cư sinh sống,

xây dựng theo quy hoạch tổng thể đã được chính phủ phê duyệt

Thứ ba, KCN phải do chính phủ hoặc do Thủ tướng chính phủ quyết định thành lập

Khi muốn hình thành KCN đã có trong quy hoạch tổng thể do UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương chỉ đạo việc lập báo cáo nghiên cứu khả thi thành lập KCN và trình Thủ tướng chính phủ xem xét quyết định thành lập

Thứ tư, trong KCN có thể có doanh nghiệp chế xuất.Đó là các doanh nghiệp chuyên

sản xuất hàng xuất khẩu, thực hiện các dịch vụ chuyên cho sản xuất hàng xuất khẩu và hoạt động xuất khẩu

Tuy vậy, có thể coi khái niệm mà chúng ta sử dụng là khái niệm hẹp và chỉ quan tâm chủ yếu đến phần diện tích dành cho việc xây dựng kết cấu hạ tầng để cho thuê, còn việc xây dựng các công trình phúc lợi xã hội không nằm trong phạm vi quy định Quan niệm này dẫn đến một thực tế là khi xây dựng KCN, người ta không quan tâm đến tính đồng bộ của

nó theo nghĩa rộng nên ảnh hưởng lớn đến hiệu quả KT - XH của KCN Cho nên việc quy hoạch phát triển sản xuất nhất thiết phải đi kèm quy hoạch phát triển hạ tầng xã hội

Hiện nay ở Lào đã xuất hiện hàng trăm các KCN vừa và nhỏ do Trung ương thành lập và các cụm CN ở các địa phương của chính quyền địa phương (cấp tỉnh, thành phố)

Trang 28

21

Mặc dù có một số đặc điểm đặc thù như quy mô thường nhỏ hơn, ảnh hưởng thường hẹp hơn nhưng về bản chất không có sự khác biệt so với các KCN của Trung ương Trong luận văn, khái niệm KCN được hiểu bao gồm cả KCN do Trung ương thành lập, quản lý và cả các cụm CN do chính quyền địa phương thành lập

Nói tóm lại, sự ra đời của các KCN nhằm mục đích cung cấp các điều kiện về kết cấu hạ tầng tốt nhất cho việc xây dựng và vận hành của các cơ sở sản xuất công nghiệp đặc biệt là hỗ trợ các nhà đầu tư nước ngoài khi đầu tư vào nước sở tại sẽ có được đầy đủ điều kiện mặt bằng, đường sá, hệ thống cung cấp điện, nước, hệ thống xử lý nước thải… để sản xuất kinh doanh mang lại lợi ích cho cả hai phía

1.4 Khái niệm ô nhiễm môi trường

1.4.1 Khái niệm môi trường

Theo nghĩa chung nhất, môi trường được hiểu là tất cả những gì bao quanh con người, là nơi con người sống và tồn tại trên trái đất này Môi trường là tập hợp những yếu tố

về vật lý, hoá học, sinh học, kinh tế, xã hội tác động lên từng cá nhân hay cả cộng đồng

Nói cách khác, môi trường là một phạm trù rất rộng lớn mà con người ngày nay vẫn chưa hiểu hết Chẳng hạn như: không khí, nước mà chúng ta đang sử dụng, các tài nguyên thiên nhiên mà chúng ta đang khai thác, các loài động thực vật gần gũi với đời sống con người Tất cả những thứ kể trên chỉ là một phần nhỏ của môi trường

Hiện nay môi trường là mối quan tâm lớn không của riêng người nào mà là của mọi người, là vấn đề chung của toàn nhân loại Tuy thuật ngữ môi trường hiện nay được sử dụng rất phổ biến nhưng cách hiểu của mọi người về nó không thống nhất

Một định nghĩa nổi tiếng của S.V.Kalesnik [12, tr.209-212]: “Môi trường (được định

nghĩa với môi trường địa lí) chỉ là một bộ phận của trái đất bao quanh con người, màở một thời điểm nhất định xã hội loài người có quan hệ tương hỗ trực tiếp với nó, nghĩa là môi trường có quan hệ một cách gần gũi nhất với đời sống và hoạt động sản xuất của con người”

Một định nghĩa khác của viện sĩ I.P.Gheraximov (1972) đãđưa ra định nghĩa môi

trường như sau: “Môi trường (bao quanh) là khung cảnh của lao động, của cuộc sống riêng

Trang 29

22

tư và nghỉ ngơi của con người”, trong đó môi trường tự nhiên là cơ sở cần thiết cho sự sinh

tồn của nhân loại

Gần đây trong báo cáo toàn cầu năm 2000, công bố 1982 đã nêu ra định nghĩa môi

trường sau đây: “Theo tự nghĩa, môi trường là những vật thể vật lí và sinh học bao quanh

loài người… Mối quan hệ giữa loài người và môi trường của nó chặt chẽđến mức mà sự phân biệt giữa các cá thể con người với môi trường bị xoá nhoàđi”

Trong quyển “Địa lí hiện tại, tương lai Hiểu biết về quảđất, hành tinh của chúng ta,

Magnard P, 1980”, đã nêu ra khá đầy đủ khái niệm môi trường: “Môi trường là tổng hợp -

ở một thời điểm nhất định - các trạng huống vật lí, hoá học, sinh học và các yếu tố xã hội

có khả năng gây ra một tác động trực tiếp hay gián tiếp, tức thời hay theo kỳ hạn, đối với các sinh vật hay đối với các hoạt động của con người”

Trong Tuyên ngôn của UNESCO năm 1981, môi trường được hiểu là “Toàn bộ các

hệ thống tự nhiên và các hệ thống do con người tạo ra xung quanh mình, trong đó con người sinh sống và bằng lao động của mình đã khai thác các tài nguyên thiên nhiên hoặc nhân tạo nhằm thoả mãn các nhu cầu của con người”

Theo pháp luật Lào, môi trường được hiểu như sau: “Môi trường có nghĩa là bất kỳ

tính năng hữu cơ và vô cơ nào tồn tại tự nhiên hoặc tạo ra bởi con người và tương tác tích cực và tiêu cực và tác động đến sinh kế, sản xuất, sự tồn tại và phát triển của con người và thiên nhiên Môi trường bao gồm môi trường xã hội và tự nhiên” (Điều 2, Luật Bảo vệ môi

trường Lào năm 2013)

Từ những định nghĩa trên có thể thấy tuỳ vào cách tiếp cận khác nhau mà có những quan niệm khác nhau về môi trường Nhưng các định nghĩa trên giống nhau ở chỗ đều coi con người là trung tâm trong mối quan hệ với tự nhiên và sự tác động qua lại giữa con người với con người ảnh hưởng rất nhiều tới môi trường tự nhiên

Môi trường lại được tạo thành từ vô số các yếu tố vật chất Trong đó có yếu tố tự nhiên và yếu tố nhân tạo Yếu tố vật chất tự nhiên bao gồm: đất, nước, ánh sáng, không khí,

âm thanh, các hệ thống thực vật Các yếu tố này được xem là các yếu tố cơ bản của môi trường, nóđược hình thành và phát triển theo những quy luật tự nhiên vốn có của nó vànằm

Trang 30

23

ngoài khả năng của con người, con người chỉ tác động đến nóở một chừng mực nhất định nào đó mà thôi

Còn các yếu tố vật chất nhân tạo là do con người tạo ra nhằm tác động đến các yếu tố

tự nhiên để phục vụ cho nhu cầu của con người như hệ thống đêđiều, các công trình kiến trúc văn hoá, các công trình khoa học

Các thành phần của môi trường này hiện nay không còn nguyên vẹn như lúc mới hình thành mà hiện nay bị biến đổi rất nhiều Sự thay đổi này một phần do sự tác động qua lại giữa các thành phần của môi trường với nhau, một phần do sự tác động của con người đất đai bị thoái hoá, nguồn nước bịô nhiễm, không khí không còn trong lành, nguồn tài nguyên thiên nhiên bị cạn kiệt Nói chung, môi trường đang bị tác động theo chiều hướng xấu và có nguy cơ bị huỷ hoại từng ngày, từng giờđã tạo nên diễn tiến đa dạng phức tạp cho hiện trạng môi trường

1.4.2 Khái niệm ô nhiễm môi trường

Ô nhiễm môi trường là một khái niệm được nhiều ngành khoa học định nghĩa Dưới góc độ sinh học khái niệm này chỉ tình trạng môi trường trong đónhững chỉ số hoá học, lý học của nó bị thay đổi theo chiều hướng xấu đi Dướigóc độ kinh tế học ô nhiễm môi trường

là sự thay đổi không có lợi cho môi trường sống về các tính chất vật lý, hoá học, sinh học,

mà qua đó có thể gây tác hại tức thời hoặc lâu dài đến sức khoẻ con người, các loài động thực vật và các điều kiện đời sống khác Dưới góc độ pháp lý, theo quy định tại Điều 29

Luật Bảo vệ môi trường Lào năm 2013 định nghĩa “ô nhiễm là một chất hoá học, bức xạ,

bụi, khói, bao gồm tiếng ồn, ánh sáng, mùi, độ rung và sự thay đổi của các thành phần môi trường trong không khí, đất, và nước với nồng độ vượt quá tiêu chuẩn chất lượng môi trường quốc gia hoặc tiêu chuẩn kiểm soát ô nhiễm quốc gia, ảnh hưởng đến cuộc sống và

không định nghĩa trực tiếp khái niệm ô nhiễm môi trường Pháp luật bảo vệ môi trường của Lào định nghĩa khái niệm ô nhiễm nói chung Nhưng chúng ta có thể thấy điểm chung nhất giữa định nghĩa nêu trên đều cóđề cập đến sự biến đổi của các thành phần môi trường theo

2 Quốc hội Lào (2013), Luật Bảo vệ môi trường số 29/NA, tại địa chỉ: http: //www.laolandissues.org/wpcontent/uploads/2012/03/Environmental-Protection-Law-2013English.pdf, ngày truy cập

01 tháng 09 năm 2018

Trang 31

24

chiều hướng xấu gđy bất lợi cho con người vă sinh vật Sự biến đổi của câc thănh phần môi trường có thể bắt nguồn từ nhiều nguyín nhđn chủ yếu lă câc chất gđy ô nhiễm Câc chất gđy ô nhiễm được câc nhă môi trường học định nghĩa lă chất hoặc yếu tố vật lý khi xuất hiện trong môi trường lăm cho môi trường bịô nhiễm thông thường câc chất gđy ô nhiễm lă câc chất thải tuy nhiín chúng còn có thể xuất hiện dưới dạng nguyín liệu, thănh phẩm, phế phẩm, chế phẩm văđược phđn thănh câc loại sau đđy: Chất gđy ô nhiễm tích luỹ chất dẻo, chất phóng xạ vă chất ô nhiễm không tích luỹ (tiếng ồn) Chất gđy ô nhiễm trong phạm vi địa phương (tiếng ồn), trong phạm vi vùng (mưa axít) vă trín phạm vi toăn cầu lă (chất CEC) Chất gđy ô nhiễm từ nguồn có thể xâc định (chất thải từ câc cơ sở sản xuất, kinh doanh) vă chất gđy ô nhiễm không xâc định được nguồn (hoâ chất dùng trong nông nghiệp) Chất gđy ô nhiễm do phât thải liín tục (chất thải từ câc cơ sở sản xuất, kinh doanh) vă chất thải do phât thải không liín tục (trăn dầu do sự cố trăn dầu) Môi trường có thể bịô nhiễm với nhiều mức độ khâc nhau như ô nhiễm, ô nhiễm nghiím trọng, vẵ nhiễm đặc biệt nghiím trọng Mức đô ô nhiễm đối với câc thănh phần cụ thể thường được xâc định dựa văo mức vượt tiíu chuẩn chất lượng môi trường của câc chất gđy ô nhiễm có trong thănh phần môi trường

Ô nhiễm môi trường theo tâc giả có thể được hiểu theo nghĩa đơn giản lă sự lăm bẩn, lăm thoâi hoâ môi trường sống Hiện nay câc ngănh công nghiệp trín thế giới thải văo môi trường thiín nhiín khoảng 100.000 hợp chất hoâ học trong đó có khoảng 6.000 chất được coi lăđộc hại Từ số liệu đó ta hiểu môi trường của chúng ta bị lăm bẩn, bị phâ hoại đến

mức độ như thế năo Có thểđịnh nghĩa ô nhiễm môi trường lă“sự lăm biến đổi môi trường

theo chiều hướng tiíu cực toăn thể hay chỉ một phần môi trường bằng những chất gđy tâc hại (gọi lă chất gđy ô nhiễm) Chất gđy ô nhiễm chủ yếu do con người tạo ra một câch trực tiếp hoặc giân tiếp Những sự biến đổi môi trường như vậy có thểảnh hưởng trực tiếp hay giân tiếp đến đời sống con người vă sinh vật, gđy hại cho nông nghiệp, công nghiệp vă lăm giảm chất lượng của môi trường tự nhiín vă môi trường sống của con người” Ô nhiễm hiện nay đê lan trăn văo mọi nơi, từđất, nước, đến khí quyển, từ bề mặt

đến câc lớp sđu của đất vă của đại dương, từ nước năy đến nước khâc Nguyín nhđn của nạn ô nhiễm lă câc sinh hoạt thường nhật vă hoạt động kinh tế của con người, từ trồng trọt,

Trang 32

Trong mối quan hệ giữa công nghệ với chính sách phát triển bền vững, khoa học và công nghệđã thực hiện nhiệm vụ tư vấn cho các nhà hoạch định chính sách nghiên cứu triển khai các mô hình phát triển bền vững trong phát triển kinh tế - xã hội (trong các lĩnh vực công nghiệp, đô thị, giao thông, du lịch ), đảm bảo an toàn sinh thái, nghiên cứu, đánh giá tải lượng tới hạn môi trường, sinh thái vàđề xuất mô hình quản lý tổng hợp những khu vực

đa dạng về sinh thái, có nhiều tiềm năng phát triển nên sẽ phát sinh nhiều xung đột giữa phát triển với BVMT Những nghiên cứu này là cơ sở lý luận quan trọng để xây dựng kế hoạch phát triển theo hướng bền vững

Trang 33

Chính sách công nghệ thân thiện môi trường và bảo vệ môi trường có mối quan hệ chặt chẽ, khăng khít, hỗ trợ cho nhau cùng phát huy tác dụng đối với các hoạt động kinh tế -

xã hội: môi trường là địa bàn và đối tượng của chính sách công nghệ thân thiện với môi trường, còn chính sách công nghệ thân thiện với môi trường có tác động tích cực và tiêu cực tạo nên các biến đổi môi trường Từ những phân tích về công nghệ thân thiện môi trường và môi trường đã nêu ở trên, tác giả đề cập đến mối quan hệ giữa chính sách công nghệ thân thiện với môi trường và bảo vệ môi trường như sau:

- Thứ nhất, Chính sách công nghệ thân thiện với môi trường có vai trò định hướng cho các hoạt động nghiên cứu khoa học, ứng dụng công nghệ, dịch vụ khoa học và công nghệ về môi trường từ đó khuyến khích các cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia nghiên cứu, đưa ra các phát kiến sáng tạo để làm chủ công nghệ tiên tiến, công nghệ thân thiện môi trường, phương pháp quản lý tiên tiến; sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường, bảo vệ sức khỏe con người; kịp thời dự báo, phòng, chống, hạn chế và khắc phục hậu quả thiên tai do môi trường mang lại

- Thứ hai, Các nghiên cứu về bảo vệ môi trường đã cung cấp cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc nghiên cứu các chính sách về công nghệ nói chung và chính sách về công nghệ thân thiện môi trường nói riêng nhằm đảm bảo tính khả thi khi triển khai trên thực tế Từ đó đáp ứng yêu cầu thực tiễn quản lý nhà nước về công tác bảo vệ môi trường: Luật Bảo vệ môi trường, Luật Đa dạng sinh học, Chiến lược BVMT quốc gia, Chiến lược Bảo tồn đa

Trang 34

27

dạng sinh học, Luật Khoa học và công nghệ, Luật Công nghệ cao …đều được xây dựng với sựđóng góp tích cực của các đề tài nghiên cứu về bảo vệ môi trường

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Trong Chương I, tác giả đã tập trung phân tích, luận giải một số vấn đề lý luận về cơ

sở hình thành chính sách thúc đẩy ứng dụng công nghệ thân thiện môi trường trong các khu công nghiệp

1 Các khái niệm cơ bản về chính sách, công nghệ thân thiện môi trường, khu công nghiệp Từ đó giúp cho việc làm rõ cơ sở hình thành chính sách thúc đẩy ứng dụng công nghệ thân thiện môi trường trong xử lý ô nhiễm môi trường, đặt nền móng cho việc nghiên cứu các vấn đề tiếp theo của đề tài

2 Ngoài ra, tác giả cũng đã trình bày được vai trò của công nghệ thân thiện môi trườngđối với bảo vệ môi trường tại các khu công nghiệp Đó chính là công nghệ thân thiện môi trường có vai trò nền tảng cho sự phát triển bền vững và bảo vệ môi trường và là mục tiêu, nhiệm vụ chiến lược lâu dài trong sự phát triển kinh tế thế giới

3 Tác giả đã phân tích và chỉ ra mối quan hệ giữa chính sách công nghệ thân thiện môi trườngđối với môi trường tại các khu công nghiệp.Chính sách công nghệ thân thiện môi trường và bảo vệ môi trường có mối quan hệ chặt chẽ, khăng khít, hỗ trợ cho nhau cùng phát huy tác dụng đối với các hoạt động kinh tế - xã hội

Trang 35

28

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÂN THIỆN MÔI TRƯỜNG TẠI CÁC KHU CÔNG NGHIỆP Ở NƯỚC CHDCND LÀO

2.1 Dẫn nhập

Bước vào thời đại của thiếu hụt tài nguyên và gia tăng ô nhiễm môi trường như đã phân tích ở chương 1, Đại hội toàn quốc lần thứ 10 của Đảng NDCM Lào đã nhận định biến đổi khí hậu và vấn đề năng lượng là những thách thức khốc liệt nhất của đất nước [32, tr.23-26] Đại hội Đảng xác định nhiệm kỳ 2016 – 2021, Đảng, Nhà nước và nhân dân Lào phải tập trung toàn bộ nỗ lực để đẩy mạnh việc sử dụng hiệu quả năng lượng và tài nguyên, đồng thời, giảm thiểu tối đa ô nhiễm môi trường Nhằm thực hiện nhiệm vụ này, Lào đã ban hành nhiều chính sách về ứng dụng công nghệ thân thiện môi trường trong hoạt động tại các khu công nghiệp Trong chương 2 này tác giả sẽ tập trung phân tích thực trạng chính sách ứng dụng công nghệ thân thiên môi trường tại các khu công nghiệp ở nước CHDCND Lào

2.2 Sơ lược sự hình thành và phát triển của các quy định về chính sách thúc đẩy ứng dụng công nghệ thân thiện môi trường ở nước CHDCND Lào

Chính sách thúc đẩy ứng dụng công nghệ thân thiện môi trường ở nước CHDCND Lào có thể chia làm hai giai đoạn:

* Giai đoạn trước đổi mới năm 1986

Vào những năm 80 của thể kỷ XX, đất nước Lào lâm vào tình trạng khủng hoảng kinh tế, công nông nghiệp trì trệ, lương thực và thực phẩm ngày càng khan hiếm Đảng Nhân dân cách mạng Lào, Nhà nước Lào đứng trước yêu cầu đổi mới Trong đó, sự ứng dụng các công nghệ tiên tiến, hiện đại vào hoạt động sản xuất của nền kinh tế và các khu kinh tế mới ở Lào trở thành vấn đề cấp bách Đại hội Đảng lần thứ ba của Đảng Nhân dân cách mạng Lào đã diễn ra tại Viêng Chăn từ ngày 27 đến 30 tháng 4 năm 1982 Đại hội xác định nhiệm vụ quan trọng nhất của cách mạng Lào trong điều kiện mới là đồng thời tiến hành ba cuộc cách mạng: một cuộc cách mạng quan trọng về khoa học và công nghệ và một cuộc cách mạng trong sản xuất, được coi là chìa khóa để đảm bảo tăng sản lượng trong tất

Trang 36

29

cả các lĩnh vực, tất cả đều được dẫn dắt bởi một cuộc cách mạng văn hoá và tư tưởng Mỗi thứ sẽ giúp xây dựng chủ nghĩa xã hội Từ chủ trương trên, kế hoạch phát triển dài hạn với nhiều chương trình khoa học và công nghệđã hướng vào đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế

và quốc phòng đặt nền móng cho việc xây dựng các chính sách khoa học và công nghệ nói chung và chính sách công nghệ thân thiện môi trường nói riêng ở nước Lào trong các giai đoạn tiếp theo

* Giai đoạn từ năm 1986 cho đến nay

Đại hội IV của Đảng Nhân dân Cách mạng (NDCM) Lào (1986) đãđề ra đường lối đổi mới toàn diện, xây dựng và phát triển đất nước, dần hòa nhịp vào sự phát triển của khu vực và thế giới.Thực hiện đường lối đổi mới trong đó, Đảng Nhân dân cách mạng Lào coi

“Khoa học và công nghệ hiện đại là những yếu tố năng động và có tính quyết định trong các động lực tăng trưởng mới ”để tiến hành cải cách Đây được coi là bước ngoặt quan

trọng trong chiến lược phát triển khoa học và công nghệ ở Lào

Thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng Nhân dân cách mạng Lào, công tác xây dựng chính sách KH & CN cũng ngày càng hoàn thiện, tập trung vào nghiên cứu, bổ sung, sửa đổi những quy định còn hạn chế; soạn thảo văn bản mới để thay thế các văn bản đã lạc hậu Năm 2000, Luật KH & CN được Quốc hội thông qua đã thừa nhận quyền bình đẳng của mọi công dân trong hoạt động KH & CN Nét mới cơ bản này của Luật đã góp phần giải phóng mọi tiềm năng sáng tạo và là tiền đề thực hiện xã hội hóa hoạt động KH & CN

Tiếp đó, năm 2009, Quốc hội Lào thông qua Luật khuyến khích đầu tư thể hiện chính sách khuyến khích đầu tư cả trong nước và nước ngoài theo định hướng của Chính phủ vào các khu vực, lĩnh vực ưu tiên, trong đó có việc miễn giảm thuế, tiền thuêđất, phụ thuộc vào loại hình đầu tư và khu vực đầu tư, khuyến khích tất cả các cá nhân và pháp nhân nước ngoài đầu tư vào Lào nói chung và vào các khu công nghiệp nói riêng trên cơ sở nguyên tắc mỗi bên cùng có lợi và hoạt động theo pháp luật của Lào Trong đó, Nhà nước Lào đặc biệt quan tâm tới việc sử dụng và thúc đẩy ứng dụng các công nghệ thân thiện với môi trường như là một trong những điều kiện tiên quyết trong hoạt động đầu tư vào các khu công nghiệp ở Lào

Trang 37

30

Mặt khác, trong giai đoạn này, thế giới cũng đang phải đối mặt với sự biến đổi khí hậu toàn cầu đòi hỏi phải phát triển bền vững và bảo vệ môi trường Khái niệm “phát triển bền vững” xuất hiện trong phong trào bảo vệ môi trường từ những năm đầu của thập niên

70 của thế kỷ 20 Năm 1987, trong Báo cáo “Tương lai chung của chúng ta” của Hội đồng Thế giới về Môi trường và Phát triển (WCED) của Liên hợp quốc, “phát triển bền vững”được định nghĩa “là sự phát triển đáp ứng được những yêu cầu của hiện tại, nhưng không gây trở ngại cho việc đáp ứng nhu cầu của các thế hệ mai sau”

Hội nghị Thượng đỉnh Trái đất về Môi trường và phát triển tổ chức ở Rio de Janeiro (Braxin) năm 1992 và Hội nghị Thượng đỉnh Thế giới về Phát triển bền vững tổ chức ở Johannesburg (Cộng hoà Nam Phi) năm 2002 đã xác định “phát triển bền vững” là quá trình phát triển có sự kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hoà giữa 3 mặt của sự phát triển, gồm: phát triển kinh tế (nhất là tăng trưởng kinh tế), phát triển xã hội (nhất là thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội; xoáđói giảm nghèo và giải quyết việc làm) và bảo vệ môi trường (nhất là xử lý, khắc phục ô nhiễm, phục hồi và cải thiện chất lượng môi trường; phòng chống cháy và chặt phá rừng; khai thác hợp lý và sử dụng tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên) Hội nghị khuyến nghị từng nước căn cứ vào điều kiện vàđặc điểm cụ thểđể xây dựng Chương trình nghị sự

21 ở cấp quốc gia, cấp ngành vàđịa phương Mười năm sau, tại Hội nghị Thượng đỉnh Thế giới về Phát triển bền vững tổ chức năm 2002 ở Johannesburg (Cộng hoà Nam Phi), 166 nước tham gia Hội nghịđã thông qua Bản Tuyên bố Johannesburg và Bản Kế hoạch thực hiện về phát triển bền vững Hội nghịđã khẳng định lại các nguyên tắc đãđề ra trước đây và tiếp tục cam kết thực hiện đầy đủ Chương trình nghị sự 21 về phát triển bền vững

Chính phủ Lào đã cử các đoàn cấp cao tham gia các Hội nghị nói trên và cam kết thực hiện phát triển bền vững; đã ban hành và tích cực thực hiện “Kế hoạch quốc gia về Môi trường và Phát triển bền vững giai đoạn 1991-2000” (Quyết định số 58-CT ngày 12 tháng 10 năm 1991), tạo tiền đề cho quá trình phát triển bền vững ở Lào Quan điểm phát triển bền vững đãđược khẳng định trong Chỉ thị số 08-CT/TW ngày 15 tháng 4 năm 1998 của Bộ Chính trị về tăng cường công tác bảo vệ môi trường trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoáđất nước, trong đó nhấn mạnh: “Bảo vệ môi trường là một nội dung cơ bản không thể tách rời trong đường lối, chủ trương và kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội của tất

Trang 38

31

cả các cấp, các ngành, là cơ sở quan trọng bảo đảm phát triển bền vững, thực hiện thắng lợi

sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoáđất nước” Ngày 03 tháng 04 năm 1999, Quốc hội Lào đã thông qua Luật Bảo vệ môi trường Lào năm 1999 trong đó khuyến khích và ưu tiên các công nghệ phù hợp với tình hình kinh tế xã hội, phù hợp với các tiêu chuẩn kỹ thuật quốc gia nhằm giảm thiểu tác hại đối với môi trường (Điều 9, Luật Bảo vệ môi trường Lào năm 1999)để bảo vệ sức khoẻ con người, bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và sự phong phú của thiên nhiên và để đảm bảo sự phát triển bền vững kinh tế - xã hội của đất nước (Điều 1, Luật Bảo vệ môi trường Lào năm 1999)

Trải qua gần 13 năm thực hiện Luật Bảo vệ môi trường Lào năm 1999, bên cạnh những thành tựu đãđạt được thì Luật Bảo vệ môi trường đã bộc lộ những hạn chế như chế tài xử phạt các hành vi xâm hại đến môi trường còn nhẹ chưa đủ tính răn đe, chưa cập nhật được các khái niệm mới: công nghệ sạch, phát triển bền vững Quốc hội Lào đã tiến hành sửa đổi và ban hành Luật Bảo vệ môi trường Lào năm 2012 Trong đó, Nhà nước Lào ưu tiên khuyến khích việc trao đổi, hợp tác quốc tế trong việc sử dụng hợp lý các nguồn tài nguyên thiên nhiên, nguyên liệu và năng lượng thân thiện với môi trường (Khoản 4, Điều 6 Luật Bảo vệ môi trường năm 2012).Cho đến nay, Luật Bảo vệ môi trường Lào năm 2012 vẫn có hiê ̣u lực và đang được Quốc hô ̣i của Lào xem xét , sửa đổi, bổ sung, trong đó có các quy định về ưu tiên, khuyến khích sử dụng các công nghệ thân thiện với môi trường

Quan điểm phát triển bền vững đãđược tái khẳng định trong các văn kiện của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX năm 2011 của Đảng Nhân dân cách mạng Lào và trong Chiến lược phát triển kinh tế-xã hội 2011-2015 là: “Phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững, tăng trưởng kinh tếđi đôi với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường” và “Phát triển kinh tế-xã hội gắn chặt với bảo vệ và cải thiện môi trường, bảo đảm sự hài hoà giữa môi trường nhân tạo với môi trường thiên nhiên, giữ gìn đa dạng sinh học” Phát triển bền vững đã trở thành đường lối, quan điểm của Đảng và chính sách của Nhà nước Để thực hiện mục tiêu phát triển bền vững, nhiều chỉ thị, nghị quyết khác của Đảng, nhiều văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước đãđược ban hành và triển khai thực hiện như Chiến lược phát triển công nghiệp hoá – hiện đại hoá Lào năm 2001 – 2020, Chiến lược phát triển năng lượng tái tạo Lào năm 2011, Chiến lược phát triển công nghiệp Lào từ năm 2016 – 2025 và

Trang 39

32

tầm nhìn đến năm 2030, Chiến lược phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ Lào; nhiều chương trình, đề tài nghiên cứu về lĩnh vực này đãđược tiến hành và thu được những kết quả bước đầu; nhiều nội dung cơ bản về phát triển bền vững đãđi vào cuộc sống và dần dần trở thành

xu thế tất yếu trong sự phát triển của đất nước

Tiếp đó, Quốc hội Lào đã ban hành Luật KH & CN 2013 ngày 19 tháng 07 năm 2013 thay thế Luật KH & CN năm 2000, Luật đưa những ưu đãi về thuế và tín dụng, nhất là đối với các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân nghiên cứu và áp dụng công nghệ tiên tiến Luật cũng nêu rõ trách nhiệm của Bộ GD-ĐT, Bộ KH & CN, các bộ, ngành, địa phương trong việc đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài về KH & CN Trong đó, Nhà nước Lào đặc biệt

ưu tiên việc ứng dụng các công nghệ thân thiện môi trường nói chung và tại các khu công nghiệp ở Lào nói riêng

Như vậy, chính sách thúc đẩy ứng dụng công nghệ thân thiện môi trường ở nước CHDCND Lào được thể hiện tương đối cụ thể trong các văn bản pháp luật: Luật KH & CN

2013, Luật Bảo vệ môi trường 2012, Luật Khuyến khích đầu tư năm 2009, cùng với Chiến lược phát triển công nghiệp hoá – hiện đại hoá Lào năm 2001 – 2020, Chiến lược phát triển năng lượng tái tạo Lào năm 2011, Chiến lược phát triển công nghiệp Lào từ năm 2016 –

2025 và tầm nhìn đến năm 2030, Chiến lược phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ Lào đã tạo ra một hành lang pháp lý thống nhất, đồng bộ góp phần thực hiện có hiệu quả công tác quản lý nhà nước về KH & CN, từng bước đưa nền kinh tế Lào tiếp cận với kỹ thuật hiện đại, quy trình công nghệ tiên tiến, tiến tới sản xuất những mặt hàng có chất lượng và hàm lượng kỹ thuật cao thân thiện với môi trường, góp phần thúc đẩy phát triển nội sinh, tạo nên sức mạnh tổng hợp thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước

2.3 Chính sách thúc đẩy ứng dụng công nghệ thân thiện môi trường tại các khu công nghiệp ở nước CHDCND Lào

Sự phát triển mạnh mẽ của quá trình toàn cầu hóa và công nghệ đã và đang ảnh hưởng đến mọi mặt của đời sống và sản xuất Cùng với sự phát triển đó, công nghệ thân thiện với môi trường hay còn được gọi là công nghệ xanh đã được phát triển và sử dụng rộng rãi trong bảo vệ môi trường và bảo tồn tài nguyên thiên nhiên Để khuyến khích các

Trang 40

33

doanh nghiệp đầu tư cho phát triển và ứng dụng các công nghệ thân thiện với môi trường ở các khu công nghiệp, chính phủ Lào đã xây dựng và thực thi nhiều chính sách ưu đãi và khuyến khích đối với các doanh nghiệp dưới nhiều hình thức khác nhau, cụ thể:

2.3.1 Ưu đãi về thuế đối với doanh nghiệp ứng dụng công nghệ thân thiện với môi trường

Công nghệ thân thiện môi trường là nhân tố quyết định để phát triển đất nước bền vững Tuy vậy, để đầu tư cho công nghệ thân thiện môi trường rất tốn kém, vượt quá khả năng của nhiều doanh nghiệp nhỏ và vừa Do đó, Nhà nước Lào đã có nhiều chính sách ưu đãi về thuế như thuế suất thuế thu nhập đối với doanh nghiệp ứng dụng công nghệ thân thiện với môi trường, ưu đãi và miễn giảm tiền thuê đất Cụ thể:

Ƣu đãi về thuế suất

Điều 49, Luật Khuyến khích đầu tư của Lào năm 2009 về các lĩnh vực được khuyến khích đầu tư là nông nghiệp, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ Các hoạt động liên quan đến giảm nghèo, cải thiện điều kiện sống của người dân, xây dựng cơ sở hạ tầng, phát triển nguồn nhân lực, các hoạt động liên quan đến giảm nghèo, cải thiện điều kiện sống của người dân, tạo việc làm Theo đó, Điều 50, 51, Luật Khuyến khích đầu tư Lào năm

2009 và Điều 17, Luật Thuế Lào số 04/NA ngày 19 tháng 05 năm 2005 quy định: các doanh nghiệp kể cả trong nước và nước ngoài đầu tư vào Lào nói chung và các khu công nghiệp nói riêng tuỳ theo từng khu vực mà được hưởng mức thuế xuất khác nhau Đầu tư vào các khu công nghiệp ở Lào được hưởng ưu đãi được chia làm 3 khu vực (Xem phụ lục 1): Khu vực 1: Miền núi, vùng cao nguyên không có cơ sở hạ tầng kinh tế để tạo điều kiện thuận lợi cho đầu tư; Khu vực 2: Miền núi, vùng cao nguyên có cơ sở hạ tầng kinh tế vừa phải vừa đủ

để đầu tư; Khu vực 3: Khu vực cao nguyên có hạ tầng kinh tế tốt cho đầu tư Cụ thể như sau:

- Doanh nghiệp thành lập mới từ dự án đầu tư tại địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội thuộc khu vực 1, khu kinh tế, khu công nghệ cao; khu công nghệ thân thiện với môi trường, doanh nghiệp thành lập mới từ dự án đầu tư thuộc lĩnh vực công nghệ cao, công nghệ thân thiện với môi trường nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, đầu tư phát triển cơ sở

Ngày đăng: 10/11/2019, 23:45

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm