Luận văn tập trung nghiên cứu về chính sách dầu mỏ được sử dụng dưới thời cố tổng thống Hugo Chavez, cùng với chính sách của ông nhằm hỗ trợ cũng như kêu gọi sự ủng hộ của các nước Mỹ La
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
TRẦN QUỐC ANH
NHÂN TỐ DẦU MỎ TRONG CHÍNH SÁCH MỸ LATINH CỦA VENEZUELA
THỜI KỲ TỔNG THỐNG HUGO CHAVEZ FRIAS
(1999-2013)
LUẬN VĂN THẠC SĨ
NGÀNH QUỐC TẾ HỌC
Hà Nội – 2017
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
TRẦN QUỐC ANH
NHÂN TỐ DẦU MỎ TRONG CHÍNH SÁCH MỸ LATINH CỦA VENEZUELA
THỜI KỲ TỔNG THỐNG HUGO CHAVEZ FRIAS
(1999-2013)
LUẬN VĂN THẠC SĨ Ngành: QUỐC TẾ HỌC Chuyên ngành: QUAN HỆ QUỐC TẾ
Mã số: 60 31 02 06
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS TRẦN XUÂN HIỆP
Hà Nội – 2017
Trang 33
LỜI CẢM ƠN
Hôm nay, bản Luận văn của em đã được hoàn thành, trong giờ phút tràn đầy cảm xúc này, em xin bầy tỏ và gửi tới thầy giáo hướng dẫn TS Trần Xuân Hiệp lòng biết ơn sâu sắc nhất Thầy luôn tận tình chỉ bảo, hướng dẫn, giúp đỡ
em trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và xây dựng, từ khởi thảo đầu tiên cho đến khi hoàn chỉnh bản Luận văn này
Em cũng xin chân thành cảm ơn và ghi nhớ sâu sắc những tình cảm và tri thức đã truyền thụ cho em của tất cả các thầy cô giáo, đặc biệt là PGS.TS thầy Hoàng Khắc Nam, Khoa Quốc tế học Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội đã trang bị cho em những kiến thức bổ ích trong suốt thời gian học tập và nghiên cứu
Nhân đây, em cũng xin được gửi lời cảm ơn chân thành tới ngài đại sứ và các cán bộ của Đại sứ quán Venezuela tại Việt Nam, tới gia đình, bạn bè thân thiết đã động viên, cung cấp tài liệu, dành thời gian hỗ trợ để em hoàn thành được khóa học và Luận văn này
Tuy đã có nhiều cố gắng, nhưng do trình độ và thời gian có hạn nên Luận văn của em chắc chắn còn nhiều thiếu sót Vì vậy, em rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của Quý Thầy, Cô, Đồng nghiệp và các bạn để Luận văn được hoàn thiện hơn
Trang 44
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, được thực hiện dưới sự hướng dẫn của TS Trần Xuân Hiệp Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về nội dung của Luận văn này
Học viên
Trần Quốc Anh
Trang 55
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT 7
LỜI NÓI ĐẦU 8
1 Tính cấp thiết của đề tài 8
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 9
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 12
4 Phương pháp nghiên cứu 12
5 Cấu trúc của luận văn 13
CHƯƠNG I CÁC YẾU TỐ QUY ĐỊNH NHÂN TỐ DẦU MỎ TRONG CHÍNH SÁCH MỸ LATINH CỦA VENEZUELA 14
1.1 Cấp độ thế giới 14
1.2 Cấp độ khu vực 15
1.2.1 Tác động của một số nước tới tình hình Mỹ Latinh 15
1.2.2 Phong trào cánh tả Mỹ Latinh 19
1.3 Cấp độ trong nước 20
1.3.1 Điều kiện tự nhiên, vị trí chiến lược của Venezuela 20
1.3.2 Tài nguyên dầu mỏ tại Venezuela 23
1.4 Cấp độ cá nhân (tư tưởng của ông Hugo Chavez) 26
1.4.1 Nhân tố thủ lĩnh 26
1.4.2 Những chủ trương, biện pháp của Tổng thống Hugo Chavez 28
1.5 Tiểu kết chương I 36
CHƯƠNG II QUÁ TRÌNH SỬ DỤNG DẦU MỎ NHƯ MỘT CÔNG CỤ TRONG CHÍNH SÁCH KHU VỰC CỦA VENEZUELA 37
2.1 Dầu mỏ và chính sách hợp tác về dầu mỏ của Venezuela 37
2.1.1 Yếu tố dầu mỏ tại Venezuela 37
Trang 66
2.1.2 Chính sách đối ngoại về hợp tác dầu mỏ 44
2.2 Chính sách dầu mỏ của Venezuela đối với khối ALBA 46
2.3 Chính sách dầu mỏ của Venezuela đối với PETROCARIBE 60
2.4 Tiểu kết chương II 73
CHƯƠNG III ĐÁNH GIÁ 74
3.1 Kết quả và thuận lợi trong chính sách dầu mỏ của Venezuela 74
3.1.1 Kết quả đạt được 74
3.1.2 Thuận lợi 76
3.2 Hạn chế và khó khăn trong triển khai chính sách này 77
3.2.1 Một số hạn chế 76
3.2.2 Khó khăn 80
3.3 Tiểu kết chương III 85
KẾT LUẬN 86
TÀI LIỆU THAM KHẢO 88
Trang 72 Các từ viết tắt Tiếng Anh
(Quỹ Tiền tệ Quốc tế)
(Khu vực mậu dịch tự do Châu Mỹ)
EIA US Energy Information Administration
(Cơ quan Quản lý Thông tin Năng lượng Mỹ)
OPEC Organization of Petroleum Exporting Countries
(Tổ chức các nước Xuất khẩu Dầu mỏ)
3 Các từ viết tắt tiếng Tây Ban Nha
ALBA Alternativa Bolivariana de Las Américas
(Sự lựa chọn Boliva cho Châu Mỹ)
TCP Tratado de Comercio de los Pueblos
(Hiệp ước Thương mại cho các Dân tộc)
ALCA Area de Libre Comercio de las Americas
(Khu vực thương mại tư do Châu Mỹ)
(Khối thị trường chung Nam Mỹ)
PETROAMERICA Acuerdo de Cooperacion energética con America
(Thỏa thuận hợp tác dầu khí Châu Mỹ)
PETROCARIBE Acuerdo de Cooperacion energética con los paies del Caribe
(Thỏa thuận hợp tác dầu khí với các nước Caribe)
(Tổng Công ty Dầu khí Quốc gia Venezuela)
PSUV Partido Socialista Unido de Venezuela
(Đảng XHCN Thống nhất Venezuela)
Trang 88
LỜI NÓI ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Quan hệ của Venezuela với các nước khu vực Mỹ Latinh và Caribe, với ngọn cờ đầu là Venezuela đã tạo nên một làn sóng “xây dựng Chủ nghĩa Xã hội thế kỷ XXI” Đặc biệt, từ khi Tổng thống Hugo Chavez Frias lên cầm quyền, đầu năm 1999, với tư tưởng xây dựng Venezuela theo con đường Xã hội Chủ nghĩa, Venezuela đã khởi xướng trong việc thành lập nhiều tổ chức tại khu vực nhằm trợ giúp các nước Mỹ Latinh như ALBA, PETROCARIBE… cũng như gây dựng hình ảnh Venezuela là một trong những nước tiên phong mong muốn đưa đất nước tiến lên xây dựng CNXH tại Mỹ Latinh
Venezuela nói riêng và các nước khu vực Mỹ Latinh nói chung ngày càng nhận được nhiều sự quan tâm của các cường quốc trên thế giới khi vị thế của Mỹ suy giảm từ sau cuộc khủng bố ngày 11/9/2001 Với nguồn tài nguyên thiên nhiên dồi dào, gần như còn nguyên sơ, chưa được khai thác đến, trải rộng trên diện tích hơn 900 nghìn km2 và dân số khoảng 26 triệu người, Venezuela có nguồn dầu mỏ được xác minh lớn nhất thế giới Bằng việc sử dụng nguồn lợi lớn
từ dầu khí, Chính phủ đã đầu tư cho các chương trình xã hội, cải thiện mức sống của các tầng lớp nhân dân lao động và tăng cường hợp tác, liên kết trong khu vực Những chính sách đó đã nhận được sự đồng tình và ủng hộ mạnh mẽ của nhân dân lao động và các lực lượng dân chủ, tiến bộ ở Mỹ Latinh và thế giới Với lợi thế này, trong những năm cầm quyền, Tổng thống Hugo Chavez đã tranh thủ và tận dụng tối đa nguồn tài nguyên “vàng đen” để nâng cao hình ảnh và vị thế của Venezuela trong khu vực, cũng như thu hút, kêu gọi các nước Mỹ Latinh ủng hộ và đi theo con đường xây dựng CNXH 1
Dưới thời chính quyền Hugo Chavez, Venezuela thực hiện đường lối đối ngoại đề cao độc lập và chủ quyền dân tộc, chống cường quyền; đề cao tinh thần
1
Đỗ Minh Tuấn (2005), “Lịch sử hình thành và phát triển nhà nước Venezuela độc lập”, Tạp chí Châu Mỹ ngày
nay, (số 05), tr 52
Trang 99
đoàn kết, hợp tác và liên kết Mỹ Latinh – Caribe, đặc biệt tăng cường quan hệ hợp tác chiến lược với Cuba; sử dụng nguồn lực dầu khí để tập hợp lực lượng với các nước trong và ngoài khu vực; chủ trương đẩy mạnh quan hệ với Nga nhằm tạo thế cân bằng trong lúc quan hệ chính trị - ngoại giao với Mỹ căng thẳng, ưu tiên phát triển quan hệ với các nước Xã hội Chủ nghĩa
Đường lối đối ngoại này của Tổng thống Chavez đã gây ra những biến động trong quan hệ quốc tế ở châu Mỹ, tác động không nhỏ đến phòng trào cấp tiến của các quốc gia trong khu vực Từ đó đường lối này đã góp phần tác động đến chính sách đối ngoại của các nước, tạo luồng gió mới cho phong trào cánh tả tại đây
An ninh năng lượng ngày càng được khẳng định đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển của nhiều quốc gia nên “ngoại giao năng lượng” đang ngày càng trở thành một thuật ngữ thông dụng và là công cụ đối ngoại mạng tính chiến lược Vì vậy Tổng thống Hugo Chavez đã sử dụng nguồn tài nguyên dầu
mỏ để kêu gọi, lôi kéo sự ủng hộ của các nước trong khu vực, cũng như thể hiện vai trò trở thành ngọn cờ mới trong công cuộc xây dựng XHCN tại Mỹ Latinh
Luận văn tập trung nghiên cứu về chính sách dầu mỏ được sử dụng dưới thời cố tổng thống Hugo Chavez, cùng với chính sách của ông nhằm hỗ trợ cũng như kêu gọi sự ủng hộ của các nước Mỹ Latinh đi theo CNXH kiểu mới, hay còn gọi là “Chủ nghĩa Xã hội thế kỷ XXI” tại khu vực Luận văn mong muốn cung cấp cho người đọc thêm một cách nhìn khách quan về nhân tố dầu mỏ trong chính sách đối ngoại của Venezuela trong thời kỳ cầm quyền của Tổng thống Hugo Chavez và đưa ra những nghiên cứu về tác động của chiến lược này với khu vực Mỹ Latinh và thế giới cũng như rút ra một số bài học kinh nghiệm trong quan hệ đối ngoại của Việt Nam
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Xét về khía cạnh các công trình nghiên cứu trong quan hệ Venezuela –
Mỹ Latinh trong những năm qua, hầu như rất ít, đặc biệt là các công trình về quá
Trang 10kỷ XXI” của tác giả Nguyễn An Ninh do nhà xuất bản Chính trị Quốc gia phát hành năm 2010, các công trình này cũng cung cấp cho độc giả một số góc nhìn
về các mối quan hệ trong khu vực Mỹ Latinh, tuy nhiên các bài viết trên chưa phân tích được cụ thể mối quan hệ đặc biệt giữa Venezuela và các nước Mỹ Latinh trong đó có nhân tố dầu khí Vì vậy, với bài nghiên cứu sau, tác giả hi vọng sẽ cung cấp cho độc giả một góc nhìn mới, tương đối toàn diện về quá trình hình thành và cách vận dụng nhân tố dầu mỏ trong chính sách đối ngoại khu vực của Venezuela dưới thời Tổng thống Hugo Chavez
Các ấn phẩm và bài viết tham khảo thêm như cuốn “Công cuộc đấu tranh bảo vệ độc lập dân tộc ở Venezuela dưới thời Tổng thống Hugo Chavez (1999-2012)” của tác giả Nguyễn Thị Quế, Đặng Công Thành, Nhà Xuất bản Chính trị Quốc gia Hà Nội (2014), cũng như một số bài viết trên Tạp chí Châu Mỹ Ngày nay như: “Liên kết Kinh tế Mỹ Latinh: Quan điểm, tiến trình và Chính sách”, tác giả Khu Thị Tuyết Mai, số 5 năm 2001; “Mỹ và cuộc đảo chính bất thành ở Venezuela”, tác giả Thái Văn Long, số 10 năm 2002; Kinh tế - Xã hội “Kinh tế
và Kế hoạch công nghiệp hóa nền Kinh tế của Chính phủ Hugo Chavez”, tác giả Nguyễn Hồng Sơn, số 6 năm 2007; “Venezuela dưới thời của Tổng thống Hugo Chavez” của tác giả Lê Thị Thu Trang, số 4 năm 2009; “Xung quanh sự kiện
Trang 1111
Hugo Chavez đắc cử Tổng thống Venezuela”, tác giả Đỗ Vũ Hưng tổng hợp, số
12 năm 2009; “Chính sách phát triển xã hội của Venezuela: Nhiệm vụ và kết quả”, tác giả Nghiêm Thị Thủy, số 04 năm 2010; “Bầu cử ở Venezuela năm 2012: Những áp lực cho Tổng thống Chavez”, tổng hợp, số 7 năm 2012; “Tác động của Hoa Kỳ tới liên kết Chính trị ở Mỹ Latinh”, tác giả Nguyễn Lan Hương, số 01 năm 2013… cũng như một số tài liệu của Đại sứ quán Venezuela tại Việt Nam như: “Plan de la Patria” – “Kế hoạch tổ quốc”, Chương trình Chính phủ Boliva-ri-a của Venezuela, Kế hoạch phát triển Kinh tế Xã hội theo Định hướng Xã hội Chủ nghĩa lần thứ hai, 2013-2019; “Chính sách dầu mỏ quốc gia, chính sách đại chúng và mang tính cách mạng”, Rafael D Ramirez Cerreño Bộ trưởng, Bộ Năng lượng và dầu mỏ Venezuela (MENPET), năm 2005 nói về chính sách sử dụng của Venezuela vào tiến trình hội nhập Mỹ Latinh… một số bài viết trên website của Viện Nghiên cứu xã hội Mỹ Latinh (Instituto Latinoamericano de Investigaciones Sociales - ILDIS) như một số bài viết sau:
“La propuesta Petroamerica y la Intergracion Energetica de America Latina y El Caribe” – “Đề xuất cho khu vực dầu khí Châu Mỹ và sự thống nhất về năng lượng của Mỹ Latinh và Caribe”, Eduardo Mayobre, tháng 11 năm 2005; “La Energia como palanca de intergracion en America Latina ya Caribe” - “Năng lượng như cán cân trong việc thống nhất tại khu vực Mỹ Latinh và Caribe” của tác giả Luis E.Lander, tháng 7 năm 2006; “La energia como Factor Activo de la Integracion Latinoamericano” – “Năng lượng như một nhân tố tích cực trong việc thống nhất khu vực Mỹ Latinh”, Carlos Mendoza Pottella, Rafael Quiroz S., tháng 12/2006; “El rol presente y future de Venezuela en el Nuevo multilateralismo latinoamericano” – “Vai trò hiện tại và tương lại của Venezuela trong chủ nghĩa đa phương mói tại Mỹ Latinh”, tác giả Fernando Gerbasi, tháng
3 năm 2013; Tạp chí Nghiên cứu Quốc tế như: bài viết “?Qué es el ALBA?” –
“ALBA là gì?”, của Tổ chức hữu nghị ALBA – Những hình ảnh đoàn kết, của tác giả Julio Suarez, năm 2007; “La historia Petrolera Venezolana” – La Petrolia – “Lịch sử dầu khí Venezuela – Dầu khí”, tác giả Fernando Travieso, năm 2012,
Trang 1212
khái quát về lịch sử hình thành của ngành dầu khí Venezuela; “Evolucion del Acuerdo de Cooperacion Energetica PETROCARIBE” – “Cách mạng trong Thỏa thuận hợp tác năng lượng PettroCaribe”, của “Sistema Economia Latinoamericano y del Caribe” - Viện Hệ thống kinh tế Mỹ Latinh và Caribe (SELA), tháng 6 năm 2015; …hay những trang web của Đại sứ quán, Thông tấn
xã Việt Nam, Bộ Ngoại giao Việt Nam, là những nguồn tài liệu bổ ích phục vụ cho đề tài nghiên cứu về nhân tố dầu mỏ trong quan hệ giữa Venezuela với các
nước Mỹ Latinh giai đoạn từ cuối năm 1999 tới năm 2013
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Chính sách sử dụng nhân tố dầu mỏ của
Venezuela đối với các nước Mỹ Latinh, dưới thời kỳ của Tổng thống Hugo Chavez (1999-2013)
Phạm vi nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu tác động đối ngoại từ
việc sử dụng nhân tố dầu mỏ của chính phủ Venezuela tới khu vực Mỹ Latinh và đánh giá các tác động này lên quan hệ đối ngoại của Venezuela Phạm vi thời gian trong thời kỳ cầm quyền của Tổng thống Hugo Chavez (1999-2013) và phạm vi không gian là Venezuela và các nước Mỹ Latinh trong thời kỳ này
4 Phương pháp nghiên cứu
Ngoài việc sử dụng các phương pháp chung của nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn như phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh … luận văn còn
sử dụng một số phương pháp trong nghiên cứu quan hệ quốc tế gồm những
phương pháp sau:
Phương pháp phân tích: Sử dụng cách tiếp cận các cấp độ phân tích để
làm rõ các tác động đến chính sách và đưa ra những cơ sở cho hoạch định ngoại giao của Chính phủ Venezuela
Trang 1313
Phương pháp lịch sử: Hệ thống lại các giai đoạn lịch sử quan trọng trong
việc hình thành chính sách đối ngoại của Venezuela thời kỳ này
Phương pháp hệ thống cấu trúc: phân tích hệ thống và cấu trúc quan hệ
trong khu vực, những tác động và ảnh hưởng của nó trong mối quan hệ khu vực
Mỹ Latinh
Phương pháp phân tích chính sách: chính sách đối nội quốc gia là cơ sở
cho hình thành chính sách đối ngoại; điều này giúp hiểu rõ ràng đâu là cơ sở, nguyên nhân cho việc áp dụng chính sách dầu mỏ của Venezuela với các nước trong khu vực
Phương pháp phân tích lợi ích: do lợi ích là định hướng và sự dẫn đến các
hành vi quốc gia, nên việc phân tích lợi ích sẽ làm sáng tỏ cơ sở để đánh giá mối quan hệ giữa các bên trong khu vực, nguyên nhân dẫn đến hợp tác, triển vọng mối quan hệ thông qua việc xem xét lợi ích mà các bên mang lại cho nhau và lợi ích mà mỗi bên cần
5 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, danh mục các từ viết tắt, kết luận, tài liệu tham khảo, Luận văn có bố cục gồm 3 chương:
Chương I: Luận văn nghiên cứu khái quát về các nhân tố ảnh hưởng đến chính
sách đối ngoại của Venezuela gồm các cấp độ như: thế giới, khu vực, trong nước
và đặc biệt là cấp độ cá nhân ông Hugo Chavez Các yếu tố này, phần nào có tác
động đến nhân tố dầu mỏ trong chính sách Mỹ Latinh của Venezuela
Chương II: Luận văn đi sâu phân tích tầm quan trọng và tiềm năng của nguồn
tài nguyên dầu mỏ tại Venezuela, cũng như quá trình sử dụng dầu mỏ như một công cụ trong chính sách đối ngoại tại khu vực của Venezuela trong các khối như ALBA, PETROCARIBE
Chương III: Luận văn đưa ra những đánh giá, nêu ra một số thuận lợi khó khăn
của chính sách, những thành công đạt được của Chính phủ Venezuela cũng như nhìn nhận những hạn chế, khó khăn khi áp dụng chính sách này vào thực tiễn
Trang 1414
CHƯƠNG I CÁC YẾU TỐ QUY ĐỊNH NHÂN TỐ DẦU MỎ TRONG CHÍNH SÁCH
MỸ LATINH CỦA VENEZUELA 1.1 Cấp độ thế giới
Sau khi mô hình CNXH ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ, ở Mỹ Latinh, nhiều đảng cộng sản cũng như phe cánh tả tan rã hoặc buộc phải điều chỉnh, thay đổi đường lối, chiến lược và sách lược đấu tranh CNTB và các chính trị gia phương Tây đã nói tới cái gọi là sự tận cùng của lịch sử khi cho rằng mô hình
Tư bản Chủ nghĩa sẽ là sự lựa chọn tất yếu của các dân tộc Nhưng, thực tế đã và đang chứng minh rằng “Chủ nghĩa tự do mới” được Mỹ áp đặt ở hầu hết các nước Mỹ Latinh, trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay đang rơi vào khủng hoảng sâu sắc, bởi đây là một mô hình phát triển không bền vững, không giải quyết được các vấn đề xã hội ngày càng trầm trọng như y tế, giáo dục, thất nghiệp, nhà ở, giao thông, môi trường, nguồn nước…; làm phân hóa xã hội ngày một tăng, người giàu ngày càng giàu, người nghèo ngày càng nghèo thêm
Tình hình nêu trên đã dẫn đến những biến động xã hội ở nhiều nước Mỹ Latinh; các đảng cánh hữu truyền thống mất tín nhiệm trước nhân dân và không còn được cử tri lựa chọn Phong trào xã hội, quần chúng phát triển mạnh mẽ; các đảng cánh tả, tiến bộ đang dần hồi phục và từ năm 1998 tới nay đã giành chính quyền ở nhiều nước thông qua tranh cử hợp pháp (như Venezuela, Chile, Brazil, Argentina, Uruguay, Panama, Bolivia, Ecuador, Nicaragua, Guantemala, Paraguay); trong đó một số nước như Venezuela, Bolivia, Ecuador tuyên bố đi lên xây dựng CNXH thế
kỷ XXI Như vậy là, gần hai thập niên sau khi mô hình chế độ XHCN Liên Xô và Đông Âu tan rã, CNXH lại được nhân dân nhiều nước Mỹ Latinh lựa chọn như một
mô hình phát triển kinh tế, chính trị, xã hội cho đất nước mình
Sau khi kết thúc Chiến tranh lạnh, được xem như “Thập kỷ bị đánh mất” của Mỹ Latinh nói chung và Venezuela nói riêng Những năm cuối thế kỷ XX, đầu thế kỷ XXI, chiến tranh cục bộ, xung đột vũ trang, xung đột dân tộc, sắc tộc
và tôn giáo, chạy đua vũ trang, can thiệp lật đổ, ly khai, hoạt động khủng bố,
Trang 1515
những tranh chấp về biên giới lãnh thổ, biển đảo, các nguồn tài nguyên thiên nhiên vẫn diễn ra ở nhiều nơi với tính chất ngày càng phức tạp Sự thay đổi của cục diện chính trị thế giới sau Chiến tranh lạnh đã gây nên những chấn động nặng
nề, tác động tiêu cực đến phong trào cộng sản quốc tế nói chung và phong trào tại các nước Mỹ Latinh nói riêng, đòi hỏi phong trào phải có đối sách thích hợp, vượt qua những thách thức để tồn tại và phát triển
Việc kiểm soát sản lượng khai thác cũng như lũng đoạn giá dầu mỏ của các công ty khai thác dầu mỏ trên thế giới (Chủ yếu thuộc các nước TBCN) dẫn đến tình trạng giá dầu liên lục bị mất giá do các công ty đua nhau bán phá giá Trước tình hình đó các nước xuất khẩu dầu mỏ trên thế giới nhận thấy cần có một tổ chức chung để điều hành và thống nhất giá cả và sản lượng khai thác trên thế giới, đảm bảo lợi ích chung của từng quốc gia, trong đó có các quốc gia khai thác dầu mỏ như Venezuela
Bước sang thế kỷ XXI, với những thành tựu trong bước đầu cải cách, đổi mới, xây dựng đất nước ở các nước XHCN còn lại đã chứng tỏ sức sống của chế
độ XHCN Vai trò của một số nước XHCN, đặc biệt ở Mỹ Latinh, trong đó có Venezuela, với nguồn tài nguyên dầu mỏ dồi dào, ngày càng được thể hiện sinh động và rõ nét hơn trên mọi mặt của đời sống quốc tế với việc xuất hiện trào lưu các lực lượng cánh tả lên cầm quyền trong những năm đầu thế kỷ XXI
1.2 Cấp độ khu vực
1.2.1 Tác động của một số nước tới tình hình Mỹ Latinh
Nhân tố Mỹ: Từ trước tới nay, Mỹ Latinh luôn được coi là khu vực sân
sau của Mỹ; trong suốt các thập kỷ trước đó, các nước Mỹ Latinh luôn phụ thuộc vào Mỹ về mọi mặt, cả về chính trị lẫn kinh tế Chính sách của Mỹ đối với
Mỹ Latinh trong gần hai thế kỷ qua về cơ bản dựa trên học thuyết Monroe Ngày 2/12/1823, Tổng thống Mỹ James Monroe, trong một thông điệp gửi Quốc hội
đã nêu một học thuyết làm nền tảng cho chính sách đối ngoại Mỹ trong gần 200
Trang 1616
năm sau đó: “Châu Mỹ dành cho người Châu Mỹ” 2
Quan điểm này chống lại sự can thiệp và ảnh hưởng của châu Âu đối với châu Mỹ Qua thời gian, cùng với sự lớn mạnh của nước Mỹ, khẩu hiệu đó dần chuyển thành “Châu Mỹ dành cho người Mỹ” Trên cở sở học thuyết này, gần hai thế kỷ qua, Mỹ từng bước thiết lập ảnh hưởng gần như là tuyệt đối trên bán cầu Nam của châu Mỹ về mọi mặt như chính trị, kinh tế, quân sự… Từ cuộc chiến tranh với Mexico, tới việc thiết lập nhà nước Panama, cấm vận Cuba, lật đổ chính quyền tổng thống Sanvador Alendez tại Chile, nuôi dưỡng các tổ chức vũ trang như Contra hòng lật đổ các chế độ cấp tiến ở Nicaragua, âm mưu đảo chính ở Venezuela…, Mỹ luôn tìm mọi cách hợp pháp hay không hợp pháp, công khai hoặc ngấm ngầm để can thiệp vào công việc nội bộ của các nước trong khu vực, duy trì cục diện có lợi nhất cho sự thống trị của Mỹ ở các nước Mỹ Latinh
Đối với Venezuela, Mỹ có mối quan tâm đặc biệt, bởi Venezuela là một trong những nguồn cung cấp dầu mỏ quan trọng nhất của Mỹ với khoảng 1 triệu thùng mỗi ngày tùy từng thời điểm, là nguồn nhập khẩu dầu mỏ lớn thứ 4 của
Mỹ Hơn nữa trữ lượng dầu khí của Venezuela đứng hàng đầu thế giới trong bối cảnh giá nhiên liệu có xu hướng ngày càng tăng cao Do nguồn nhiên liệu dồi dào đó mà trong suốt nhiều năm, tuy quan hệ giữa hai nước nhiều lúc rất căng thẳng nhưng Mỹ vẫn chưa một lần tuyên bố cấm vận nước này như vẫn từng làm với các nước khác Chính vì thế, khả năng can thiệp quân sự vào Venezuela do
đó mà ít đi 3
Tuy nhiên, tình hình Venezuela từ khi Tổng thống Hugo Chavez lên nắm quyền đã buộc Mỹ phải tính lại chính sách của mình Tổng thống Hugo Chavez
đã công khai chống Mỹ, thắt chặt quan hệ với Nga và Trung Quốc, mua vũ khí
và tập trận chung cùng Nga (11/2008), với sự tham gia của máy bay ném bom chiến lược và các đoàn tàu chiến có khả năng mang đầu đạn hạt nhân của Nga ngay tại vùng biển Caribe, đe dọa trực tiếp an ninh của Mỹ Những động thái mà
2 Nguyễn Nghị, Lê Minh Đức (1994), Lịch sử nước Mỹ, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội tr 161
3 Demetrio Boersner (2012), “Venezuela en el escenario estratégico global”, ILDIS, Instituto Latinoamericano
de Investigaciones Sociales, Caracas (Demetrio Boersner (2012), “Venezuela trong viễn cảnh chiến lược toàn
cầu”, ILDIS, Viện Nghiên cứu Xã hội Mỹ Latinh, Caracas), tr 3
Trang 1717
Mỹ thực hiện tại Venezuela cho thấy Mỹ đang quyết tâm lật đổ các chính phủ cánh tả tại đây và các nước khác trong khu vực này Các biện pháp mà Mỹ thực hiện trong các bước tiếp theo, trong đó không loại trừ cả khả năng ám sát và đảo chính chống lại Tổng thống Hugo Chavez, sẽ tác động mạnh tới cuộc đấu tranh củng cố độc lập dân tộc ở Venezuela, chi phối các tổ chức trong khu vực Mỹ với vị thế là một siêu cường lớn nhất ở Mỹ Latinh cũng như có khả năng chi phối các nước trong khu vực này, vì vậy, Chính quyền Mỹ luôn cố duy trì địa vị
số một ở Mỹ Latinh, điều này đã tác động không nhỏ đến chính sách đối ngoại của Venezuela áp dụng cho các nước trong khu vực, trong đó có việc sử dụng công cụ hữu hiệu là nguồn dầu mỏ
Nhân tố Cuba: Cách đây hơn 60 năm, một sự kiện làm rung chuyển Mỹ
Latinh khi chế độ độc tài Batista do Mỹ hậu thuẫn đã sụp đổ trước cuộc tổng nổi dậy của nhân dân Cuba mà nòng cốt là phong trào cách mạng 26/7/1953 dưới sự lãnh đạo của lãnh tụ trẻ tuổi Fidel Castro Là một nước nhỏ, nhưng suốt hơn nửa thế kỷ qua, Cuba phải đương đầu với các kiểu chiến tranh “nóng” và “lạnh” nhằm giữ vững chính quyền và thành quả cách mạng Đối với các nước khu vực Mỹ Latinh, Cuba luôn là ngọn cờ, là tấm gương kiên trì CNXH cho các nước Mỹ Latinh noi theo Cuba luôn sẵn sàng giúp đỡ các dân tộc anh em, dù ở bất cứ đâu khi có những người khốn khổ cần giúp đỡ Các đội bác sĩ, y tá tình nguyện viên Cuba có mặt ở bất cứ điểm nóng nào theo lời kêu gọi của các quốc gia Mỹ Latinh cũng như các nước bạn bè khác trên thế giới Cuba là niềm tin của những người cánh tả Mỹ Latinh vào một trật tự xã hội công bằng, tiến bộ
Là một quốc đảo nằm ở vịnh Caribe có nhiều điểm tương đồng với khu vực Mỹ Latinh, nên Cuba được coi là đồng minh tự nhiên của các chính phủ cánh tả ở Mỹ Latinh hiện nay Hơn nửa thế kỷ qua, kể từ khi cách mạng thành công năm 1959, Cuba luôn cùng với các lực lượng cánh tả ở Mỹ Latinh sát cánh trên hành trình đi tới những mục tiêu cao cả vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ, hợp tác và phát triển
Trang 1818
Sau khi một loạt các chính phủ cánh tả ra đời tại Mỹ Latinh, những đóng góp của Cuba tiếp tục giữ vai trò quan trọng trong việc đấu tranh bảo vệ và phát triển các chính phủ này Hàng vạn các chuyên gia Cuba trong các lĩnh vực y tế, giáo dục, thể thao, kinh tế, an ninh, quốc phòng đã được cử sang giúp các chính phủ cánh tả, trong đó chủ yếu cử sang Venezuela Những kết quả bước đầu mà Venezuela giành được trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, an ninh - quốc phòng có sự giúp đỡ không nhỏ từ phía Cuba Những thắng lợi này đã giúp củng cố lòng tin của đại đa số nhân dân lao động vào chính quyền, vào Tổng thống
và cũng giúp ông Chavez có thể quay lại cầm quyền sau cuộc đảo chính không thành của phe đối lập vào tháng 4/2002
Cuba luôn là ngọn cờ, là hình mẫu, lý tưởng của nhiều cuộc đấu tranh đang tiếp diễn tại khu vực bởi nhìn lại chặng đường đó, một lô zich nội tại đã làm nên sức mạnh Cuba, đó là sức mạnh của độc lập dân tộc và CNXH, với sức mạnh đó, Cuba sẽ tiếp tục đi đầu trong cuộc đấu tranh chống Chủ nghĩa Đế quốc, vì công bằng xã hội, hạnh phúc của nhân dân lao động và các giá trị cao cả của thời đại tại
Mỹ Latinh Riêng đối với Venezuela, kể từ khi Tổng thống Hugo Chavez lên nắm chính quyền, cách mạng Venezuela đã giành được sự ủng hộ và giúp đỡ to lớn của Cuba, những thành tựu trên các lĩnh vực đời sống xã hội của Venezuela trong những năm qua không tách khỏi sự ủng hộ, giúp đỡ của Cuba Đồng thời, để giúp Cuba giải quyết khó khăn về năng lượng, Venezuela cam kết bán cho Cuba trên
90 nghìn thùng dầu thô mỗi ngày với giá thấp hơn nhiều giá thị trường cũng nhưng được quy đổi theo các dịch vụ và các sản phẩm nông nghiệp khác thay cho tiền mặt Song song với việc đó, Cuba cam kết sẽ gửi các bác sĩ và giáo viên tới Bolivia để tham gia vào chương trình chăm sóc sức khỏe và phổ cập văn hóa cho người nghèo tại Bolivia; theo thoả thuận các bên ký kết khi thành lập tổ
chức “Sự lựa chọn Boliva cho Châu Mỹ” (ALBA) Do vậy, có thể nói, Cuba là
một trong những nhân tố quan trọng tác động trực tiếp đến đấu tranh bảo vệ độc lập dân tộc ở Mỹ Latinh nói chung và Venezuela nói riêng
Trang 1919
Nhân tố nước lớn khác: Nga, Trung Quốc, EU…cũng đang tăng cường ảnh
hưởng ở khu vực này Đầu tư của các đối tác này vào khu vực Mỹ Latinh tăng mạnh trong những năm gần đây và vượt cả Mỹ ở một số nước Hợp tác kinh tế cũng có bước nhảy vọt, đặc biệt là trong lĩnh vực năng lượng Chính các cường quốc này tăng cường quan hệ đầu tư, thương mại với Venezuela và Mỹ Latinh đã
đe doạ vị trí độc tôn của Mỹ ở khu vực vốn được coi là sân sau của Mỹ này Việc Venezuela mở rộng, thúc đẩy quan hệ với các đối tác này giúp tránh được sự phụ thuộc trong quan hệ kinh tế, thương mại vào Mỹ; đặc biệt việc Venezuela tăng cường hợp tác quân sự với Nga trong bối cảnh quan hệ giữa Nga và các nước phương Tây đang căng thẳng cũng làm giảm khả năng Mỹ can thiệp quân sự trực tiếp vào Venezuela Đồng thời, việc thúc đẩy hợp tác năng lượng với Trung Quốc
và các nước khác cũng giúp Venezuela có thể đa dạng hoá được các thị trường năng lượng, không chỉ phụ thuộc vào thị trường năng lượng Mỹ
1.2.2 Phong trào cánh tả Mỹ Latinh
Mỹ Latinh là khu vực địa lý trải dài từ Mexico xuống hết Nam Mỹ, với tổng diện tích trên 20 triệu km² và dân số hơn 500 triệu người, có 33 quốc gia độc lập và 14 vùng lãnh thổ Trừ người Brazil nói tiếng Bồ Đào Nha, hầu hết người dân còn lại ở Mỹ Latinh đều nói tiếng Tây Ban Nha Nét độc đáo về ngôn ngữ và văn hóa của các dân tộc Mỹ Latinh là yếu tố hỗ trợ cho các khuynh hướng, phong trào chính trị lan tỏa nhanh chóng và rộng khắp châu lục
Từ đầu những năm 1990, Mỹ Latinh đã xuất hiện xu hướng thiên tả và ngày càng phát triển mạnh, đến những năm đầu thế kỷ XXI nó đã trở thành một trào lưu chính trị- xã hội có tiếng vang lớn không chỉ ở khu vực mà còn trên quy
mô thế giới Venezuela và một số nước như Bolivia, Ecuador, Nicaragua lựa chọn con đường xây dựng “CNXH thế kỷ XXI” thể hiện bước phát triển mới của trào lưu cánh tả Mỹ Latinh Đây là điều kiện thuận lợi để các lực lượng cánh tả khu vực nói chung và Venezuela nói riêng đẩy mạnh hoạt động và trở thành lực lượng đi đầu trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa tự do mới, chống sự lệ thuộc vào Mỹ, bảo vệ độc lập, chủ quyền và bình đẳng trong quan hệ quốc tế
Trang 2020
Xu hướng liên kết này ở khu vực khá rõ nét, Cuba, Venezuela ký Hiệp
ước thành lập “Sự lựa chọn Boliva cho Châu Mỹ” (ALBA) Bốn nước Brazil,
Argentina, Uruguay và Paraguay cùng thúc đẩy liên kết Mỹ Latinh trong khuôn khổ khối thị trường chung Nam Mỹ (MERCOSUR) sau đó, khối này tiếp tục có
sự tham gia tích cực của các quốc gia khác như Venezuela, Bolivia, với mục tiêu chung là tăng cường hợp tác cùng Cuba, mở rộng hợp tác với EU, Trung Quốc, Nhật Bản và các quốc gia khác trên thế giới Venezuela khởi xướng và vận động các thành viên theo phong trào cánh tả khu vực Mỹ Latinh tham gia vào Thỏa thuận hỗ trợ Dầu khí khu vực Caribe (PETROCARIBE)
Venezuela thúc đẩy sự đoàn kết Mỹ Latinh và quan hệ hữu nghị với tất cả các nước khác trên thế giới; lấy hợp tác thay thế đấu tranh; lấy hội nhập thay cho bóc lột, đấu tranh cho một trật tự thế giới đa cực, dân chủ; khuynh hướng độc lập với Mỹ, đề cao lợi ích quốc gia dân tộc; tăng cường liên kết, hợp tác khu vực, ủng hộ Cuba, phản đối chính sách bao vây cấm vận của Mỹ đối với Cuba; ủng hộ quá trình dân chủ hoá các quan hệ quốc tế và cải tổ Liên hợp quốc, đấu tranh cho một trật tự thế giới mới dân chủ và bình đẳng, vì hoà bình, độc lập, dân chủ và tiến bộ xã hội
Trong quan hệ với các nước Mỹ Latinh, Venezuela đặc biệt coi trọng quan hệ với Cuba; công khai ủng hộ và thiết lập quan hệ đồng minh chiến lược với Cuba Tháng 10/2000, hai nước đã ký kết Hiệp định Hợp tác Toàn diện, cung cấp một lượng lớn dầu thô hàng ngày cho Cuba và cho vay nợ khoản thanh toán với lãi xuất ưu đãi Ngoài ra, hai bên tăng cường hợp tác trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, thương mại, giáo dục, thể thao, y tế, xây dựng…
1.3 Cấp độ trong nước
1.3.1 Điều kiện tự nhiên, vị trí chiến lược của Venezuela
Venezuela (tên chính thức là Cộng hòa Boliva của Venezuela, tiếng Tây Ban Nha: República Bolivariana de Venezuela) là một quốc gia nằm ở phía
Bắc lục địa Nam Mỹ Có các tuyến đường biển và đường hàng không chính nối
Trang 2121
Bắc Mỹ và Nam Mỹ Venezuela có đường bờ biển dài hơn 2.800 km, diện tích
là 916.445 km², địa hình Venezuela có thể chia làm ba vùng chính:
Vùng Tây Bắc: đây là nơi có độ cao lớn nhất của Venezuela Những dải núi cực Đông Bắc của dãy Andes lấn vào lãnh thổ Venezuela và mở rộng ra tận đường bờ biển phía Bắc của nước này
Vùng phía Nam: phần lớn vùng này là Cao nguyên Guyana với độ cao trung bình khoảng gần 1000 mét so với mực nước biển
Vùng Trung Tâm: là vùng có những đồng bằng rộng lớn Các đồng bằng bằng phẳng với đất đai màu mỡ trải dài từ biên giới với Colombia ở phía Tây đến tận vùng châu thổ sông Orinoco
Nguồn tài nguyên phong phú, đa dạng nhất là: Dầu mỏ, khí tự nhiên, sắt,
vàng, bôxit, một số khoáng sản khác và tiềm năng đáng kể về thủy điện
Đất nước con người Venezuela:
Tên gọi Venezuela được bắt nguồn từ chuyến hải trình của nhà vẽ bản đồ Amerigo Vespucci cùng với nhà thám hiểm Alonso de Ojeda đến bờ biển Tây Bắc vịnh Venezuela năm 1499 Khi đến bán đảo Guajira, Vespucci đã bắt gặp những ngôi nhà lá của thổ dân da đỏ được dựng trên mặt nước và khiến ông liên
tưởng đến thành phố Venice (tiếng Italia: Venezia) Ông đã đặt tên cho vùng đất
này là Venezuola, trong tiếng Ý có nghĩa là “Venice nhỏ” Trong tiếng Tây Ban
Nha, cụm từ zuela dùng với vai trò giải nghĩa tương tự như zuola trong tiếng Ý
được ghép thay vào để hình thành cái tên Venezuela
Dân số Venezuela ước tính vào khoảng 26 triệu người (theo số liệu tháng 12/2012) Khoảng 85% dân số Venezuela sống tập trung tại các đô thị miền Bắc Venezuela là một trong những nước có tỷ lệ dân cư sống tại thành thị cao nhất Nam Mỹ Do đó khu vực phía Nam đồng bằng Orinoco tuy chiếm đến một nửa diện tích đất nước nhưng lại vô cùng hoang vắng với chỉ 15% dân cư sống tại đó Ngôn ngữ chính thức tại Venezuela là tiếng Tây Ban Nha Bên cạnh đó còn có 31 ngôn ngữ của thổ dân da đỏ bản địa như tiếng Guajibo, Pemon,
Trang 2222
Warao, Wayuu và các ngôn ngữ thuộc nhóm Yanomaman 83% dân cư theo Đạo Thiên chúa 4
Chính trị: Venezuela theo thể chế Cộng hòa Tổng thống Venezuela được
bầu cử với phiếu bầu trực tiếp theo nguyên tắc phổ thông đầu phiếu Tổng thống đảm nhiệm vai trò là nguyên thủ quốc gia và đồng thời cũng là người đứng đầu chính phủ Nhiệm kỳ của một tổng thống là 6 năm (theo hiến pháp mới) và tổng thống có thể được bầu lại trong nhiệm kỳ tiếp theo Tổng thống có thể đề nghị quốc hội sửa đổi các điều luật nhưng quốc hội cũng có thế phủ quyết đề nghị của tổng thống nếu đa số phản đối
Các đảng phái chính trị chủ yếu: Phong trào nền Cộng hoà thứ V (MVR), Phong trào Tiến lên CNXH (MAS), Hành động Dân chủ (AD), Xã hội Thiên chúa giáo (COPEI), Tổ quốc cho tất cả (PPT), Chúng ta có thể (PODEMOS)
Ngày 02/3/2008, tiến hành Đại hội thành lập Đảng XHCN Thống nhất Venezuela (PSUV) trên cơ sở tập hợp đa số các đảng phái, phong trào tham gia liên minh cầm quyền; Đại hội bầu ra 15 ủy viên chính thức và 15 ủy viên dự bị để chuẩn bị cho cuộc bầu cử trực tiếp Ban lãnh đạo chính thức vào năm 2009
Kinh tế: Công nghiệp dầu mỏ là ngành kinh tế mũi nhọn, đóng góp nhiều
nhất cho kinh tế Venezuela, chiếm tới 1/3 GDP, 80% (tài liệu số 25, Nguyễn Thị Quế, Đặng Công Thành, tr 14) giá trị xuất khẩu và hơn một nửa ngân sách nhà nước Đất nước này có một nguồn dự trữ dầu mỏ và khí đốt lớn nhất thế giới và hiện Venezuela là thành viên của Tổ chức các nước Xuất khẩu Dầu mỏ (OPEC)
và là một trong 10 nước xuất khẩu dầu thô lớn nhất thế giới
Từ thập niên 1950 đến thập niên 1980, Venezuela là một trong những cường quốc kinh tế tại Mỹ Latinh Thu nhập bình quân của nước này gia tăng nhanh đã thu hút rất nhiều lao động từ khắp nơi trên thế giới Tuy nhiên khi giá dầu thế giới giảm mạnh trong thập niên 1980, nền kinh tế Venezuela đã bị ảnh hưởng nặng nề Trong những năm cuối thế kỷ XX đầu thế kỷ XXI, giá
4
https://www.iea.org/statistics/statisticssearch/report/?country=Venezuela&product=electricityandheat
Trang 2323
dầu trên thị trường thế giới đã tăng trở lại và tạo điều kiện phục hồi cho nền kinh tế Venezuela Năm 2007, tốc độ tăng trưởng kinh tế của nước này là 8,4%, thu nhập bình quân đầu người là 12.200 USD Năm 2012, thu nhập bình quân đầu người là 12.900 USD 5
Mặc dù là một quốc gia giàu tài nguyên thiên nhiên nhưng việc phân bố tài sản thu được tại Venezuela lại không đồng đều, khiến cho đời sống một bộ phận lớn dân nghèo gặp nhiều khó khăn Dưới sự lãnh đạo của tổng thống Hugo Chavez,
tỷ lệ người nghèo trong những năm mới cầm quyền tại Venezuela đã giảm đáng
kể, từ mức 49% năm 1998 xuống còn 12.3% năm 2007 6
1.3.2 Tài nguyên dầu mỏ tại Venezuela
Venezuela là một nền kinh tế dầu khí (đứng vị trí quan trọng thứ 5 trên thế giới) chủ yếu là nhà xuất khẩu thuần Sự phát triển của ngành kinh tế này liên quan mật thiết với giá dầu thô Là quốc gia có trữ lượng dầu khí được kiếm chứng lớn nhất (trữ lượng tại chỗ khoảng trên 297,6 tỷ thùng, công bố ngày 31/12/2011 theo công báo số 39.885 đăng ngày 19/3/2012) và đứng vị trí thứ năm trên thế giới về trữ lượng khí tự nhiên (195 tỷ m3
) 7 Năm 2011 trong lĩnh vực dầu khí đã ghi nhận sự tăng trưởng 0,6% thông qua việc giá dầu tăng lên 40%; cùng với việc khai thác dầu khí có mức tăng trưởng là 0,5% và các hoạt động lọc dầu cũng có mức tăng là 1,3% Lĩnh vực này trong năm 2010 cũng có mức tăng trưởng nhẹ là 0,1%, trong đó bao gồm việc giá dầu tăng lên 27,5%; PDVSA cũng tăng vốn điều lệ thêm 35%, tuy nhiên lợi nhuận cố định của công ty có sự sụt giảm, điều đó đã giới hạn khả năng đầu tư của công ty khiến sản lượng khai thác giảm Tuy nhiên, trong năm
2009 ghi nhận việc giảm xuống ở mức 7,4% do phản ứng từ việc mở rộng đầu tư trong lĩnh vực này năm 2008 (tăng 2,9%), trong đó bao gồm việc giảm hạn ngạch khai thác theo bảng quy định của Tổ chức OPEC cho Venezuela Việc giảm sản lượng khai thác trong năm 2009 khiến doanh thu của chính phủ trong
Trang 2424
lĩnh vực này giảm 35,4% so với năm 2008, do giá dầu thô giảm 34,1% (trong năm 2009 giá dầu thô trung bình của Venezuela là 57,02 đô la Mỹ/thùng, trong khi đó năm 2008 giá dầu là 86,49 đô la/thùng; bình quân mỗi thùng dầu năm
2009 đã mất 29,47 đô la so với năm 2008) 8
Sản lượng khai thác dầu thô được phân chia giữa Công ty Dầu khí Quốc gia Venezuela S.A (PDVSA) và các công ty tư nhân hoạt động tại đây, trong đó nổi bật
là đại diện của một số công ty như Petrobras, Chevron – Texaco, Repsol – YPF và British Petroleum (BP), tất cả các công ty này đều là thành viên của Hiệp hội Dầu khí Venezuela Sự hiện diện của các công ty dầu khí tư nhân bắt đầu từ việc Chính phủ mở cửa cho các hoạt động trong thăm dò, tìm kiếm dầu khí trong thời gian giữa thập kỷ 90 thông qua các thỏa thận điều hành và hợp tác chiến lược Các công
ty này hoạt động dưới hình thức của các thỏa thuận điều hành chung; tuy nhiên để phù hợp với luật Dầu khí ban hành năm 2001, các hợp đồng về thỏa thuận điều hành chung này phải được ký kết dưới hình thức công ty liên doanh Chính thức từ
31 tháng 12 năm 2005, tất cả các công ty bắt buộc phải chuyển đổi từ hình thức thỏa thuận điều hành chung sang công ty liên doanh
Ngành công nghiệp hóa dầu được Chính phủ can thiệp mạnh mẽ Theo chiến lược thì đây là ngành cung cấp các loại sản phẩm chế biến từ dầu khí, nên Chính phủ đã kiểm soát phần lớn các công ty trong lĩnh vực này thông qua Công ty Pequiven Công ty này đóng vai trò như động lực cho ngành công nghiệp hóa dầu nhằm dẫn dắt các công ty nhỏ và các công ty trung bình đi theo định hướng thành các công ty phụ trợ Bởi vậy việc tăng trưởng trong lĩnh vực hóa dầu gắn kết mạnh
mẽ tới sự phát triển của ngành dầu khí
Trữ lượng dầu khí quan trọng nhất và vẫn chưa kiểm chứng đầy đủ hoặc chưa được chứng nhận nằm tại khu vực phía Đông của quốc gia, có tên gọi là vành đai Dầu khí Orinoco Một vấn đề đáng chú ý về chất lượng phải kể đến là, dầu thô tìm thấy tại khu vực này chủ yếu thuộc loại dầu siêu nặng Điều này dẫn
8
http://www.icex.es/icex/es/navegacion-principal/todos-nuestros-servicios/informacion-de-mercados/paises/navegacion-principal/noticias/4698366.html?idPais=VE&null
Trang 25XX tại khu vực lòng hồ Maracaibo Từ đó đến nay, sản lượng khai thác tại đây
có khuynh hướng liên tục tăng lên
Chính phủ Venezuela đẩy mạnh việc khai thác khí tự nhiên, trong đó, theo Báo cáo Điều hành của PDVSA năm 2011, sản lượng khai thác khí là gần 71,3 triệu m3 khí/ngày, cao hơn 2,3% sản lượng khai thác của năm 2010 Sản lượng
có thể đạt được theo báo cáo là khoảng 73,3 triệu m3/ngày, tăng hơn 3% so với năm 2011, nhờ việc tăng sức mua của Chevron và Ecopetrol khi cộng thêm vào nguồn cung khí từ Colombia, đã tăng thêm 33% so với sản lượng 2010 Tuy nhiên, tình hình khai thác và cung cấp khí tự nhiên của Venezuela rất thấp, kèm theo đó là việc chậm phát triển các dự án khí khu vực ngoài khơi và việc sản luợng khai thác dầu dậm chân tại chỗ cũng gây ảnh hưởng đến sản lượng khai thác của Venezuela Việc này đã làm giảm khả năng tiêu thụ khí tự nhiên trước nhu cầu nội địa đang tăng cao, trong đó bao gồm việc thỏa mãn nhu cầu cho các nhà máy điện sử dụng khí tự nhiên, cũng như nhu cầu lớn sản phẩm khí sử dụng riêng cho ngành công nghiệp dầu khí, mặc dù trữ lượng đã được kiểm chứng của quốc gia này là 195 tỷ m3
khí, cho phép Venezuela đứng ở vị trí thứ 5 trên thế giới về trữ lượng và đứng thứ nhất trong khu vực Trung Nam Mỹ 9
Trong thập niên đầu của thế kỷ XXI, năng lượng với tầm quan trọng ngày càng tăng đã trở thành một vấn để được nhiều quốc gia quan tâm An ninh năng lượng đã trở thành vấn đề mang tính toàn cầu, mất an ninh năng lượng sẽ đe dọa
sự phát triển bền vững của cả thế giới Trong những năm đầu thế kỷ XXI, kinh
tế thế giới suy giảm, giá năng lượng, mà cụ thể là dầu mỏ đã giảm mạnh, có thời điểm còn khoảng 20 USD/thùng Tuy nhiên, chỉ vài năm sau đó, giá dầu mỏ đã
9
http://www.icex.es/icex/es/navegacion-principal/todos-nuestros-servicios/informacion-de-mercados/paises/navegacion-principal/noticias/4698366.html?idPais=VE&null, Báo cáo của phòng Thương mại ĐSQ Tây Ban Nha tại Caracas, Venezuela, 22/2/2013
Trang 2626
tăng tới mức kỷ lục là trên 140 USD/thùng Những nước có trữ lượng dầu mỏ lớn như Venezuela đã thu được khoản lợi nhuận to lớn từ sự tăng giá này
Venezuela nắm giữ số lượng dầu mỏ và khí tự nhiên lớn nhất trên thế giới
và luôn được xếp hạng là một trong những nhà cung cấp dầu mỏ hàng đầu cho
Mỹ Các mỏ dầu khí khai thác tại Venezuela có vai trò quan trọng trong nền kinh
tế quốc dân Là một thành viên sáng lập của Tổ chức các nước Xuất khẩu Dầu mỏ (OPEC), Venezuela có một vị trí quan trọng trong thị trường dầu mỏ toàn cầu
Năm 2008, tổng năng lượng tiêu thụ của Venezuela là 3,2 nghìn triệu triệu đơn vị nhiệt Anh (BTU) Dầu và khí tự nhiên chiếm số lượng lớn của tổng tiêu thụ năng lượng tại Venezuela Trong thập kỷ qua, tỷ lệ tiêu thụ dầu mỏ trong tổng nguồn năng lượng của đất nước đã tăng từ 32% đến 44%, chủ yếu là do chính phủ Venezuela trợ cấp cho nhiên liệu lỏng 10
1.4 Cấp độ cá nhân (tư tưởng của ông Hugo Chavez)
1.4.1 Nhân tố thủ lĩnh
“Chủ nghĩa thủ lĩnh” là nét đặc sắc trong văn hóa chính trị Mỹ Latinh
Sắc thái của “Chủ nghĩa thủ lĩnh” cũng là một nhân tố góp phần tạo nên cái riêng của khu vực Mỹ Latinh trước đây dường như đã bị chủ nghĩa thực dân cũ chặn đứng quá trình đang phân rã của các xã hội tiền phong kiến Chủ nghĩa thủ lĩnh cùng với chủ nghĩa dân tộc là những truyền thống và những giá trị được tiếp tục mang vào thời cận đại và hiện đại trong cuộc đấu tranh vì độc lập dân tộc và phát triển Theo đó, ở mỗi thế kỷ gần đây, Mỹ Latinh đều có những con người vĩ đại cả về ý chí, nhiệt tình cách mạng và tầm vóc tư tưởng Họ là ngọn cờ cho phong trào tiến bộ và cách mạng của nhiều nước Chính những nhân cách lớn ấy
đã được lịch sử tạo ra và họ đã góp phần đẩy nhanh lịch sử Vì thế tên tuổi của các nguyên thủ luôn gắn liền với những cuộc cách mạng, cải cách ở mỗi quốc
10 https://www.iea.org/statistics/statisticssearch/report/?country=Venezuela&product=electricityandheat
Trang 27và những chỉ trích gay gắt xã hội và chính phủ đương thời Vào thời gian này, ông thành lập phong trào Cách mạng Boliva - 200 (Movimiento de la Revolucíon Bolivariana- 200)
Không hài lòng với sự suy thoái kinh tế, tham nhũng và xã hội lộn xộn dưới chính quyền Tổng thống Carlos Andres Perez, Hugo Chavez đã quyết định tiến hành cuộc vận động lật đổ chính quyền để xây dựng một quốc gia Venezuela phát triển hài hòa hơn và có tiếng nói trên trường quốc tế Kế hoạch lật đổ chính quyền dự định thực hiện vào tháng 12/1991, nhưng sau đó Hugo Chavez đã hoãn lại đến ngày 4/2/1992 Cuộc đời binh nghiệp của ông đã kết thúc vào tháng 2/1992 khi ông đang là trung tá, lữ đoàn trưởng lữ đoàn dù và đã chỉ huy 300 quân dưới quyền tiến hành đảo chính quân sự nhằm lật đổ chính quyền đương thời Cuộc đảo chính thất bại, Chavez bị bắt và cầm tù, nhưng tên tuổi ông trở nên nổi tiếng trong cả nước Sau hai năm ngồi tù, ông được ân xá với điều kiện là không được trở lại quân ngũ Sau khi ra tù ông bắt đầu hoạt động chính trị Ông vận động các bạn chiến đấu và một số đảng viên các đảng
Trang 2828
cánh tả lập ra Phong trào nền Cộng hòa thứ V thông qua đấu tranh nghị trường
để nắm chính quyền, thực hiện mục tiêu cách mạng theo tinh thần anh hùng dân tộc Boliva
Năm 1998, Hugo Chavez bắt đầu vận động tranh cử tổng thống Thời điểm này ông là thủ lĩnh của Đảng phong trào nền Cộng hòa thứ V (MVR) đồng thời là ứng cử viên của Liên minh yêu nước và đã trúng cử Tổng thống Trong cuộc bầu
cử tổng thống tháng 12/1998, Ông Hugo Chavez đã thu được trên 56% số phiếu ủng hộ và chính thức nhận chức Tổng thống cánh tả đầu tiên ngày 02/2/1999, không chỉ ở Venezuela mà còn ở cả Mỹ Latinh vào thời điểm đó Sau khi lên cầm quyền Tổng thống Chavez đã ra sức củng cố bộ máy nhà nước, tiến hành cải tổ bộ máy lập pháp, tư pháp và hành pháp, có nhiều biện pháp cải cách mạnh mẽ về kinh tế và xã hội đẩy mạnh chống đói nghèo, tham nhũng và nhận được sự ủng hộ mạnh mẽ của dân chúng cũng như các nước thiên tả trong khu vực
Mặc dù giới chính trị thế giới còn có những khác biệt và mâu thuẫn trong đánh giá về Tổng thống Venezuela, nhưng những đóng góp của ông Hugo Chavez đối với thế giới vẫn được ghi nhận Năm 2005 ông được Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên Hợp Quốc (UNESCO) trao Giải thưởng quốc tế José Marti vì những đóng góp quan trọng trong việc củng cố khối đoàn kết và quá trình hội nhập khu vực Mỹ Latinh và Caribe Còn tạp chí Times danh tiếng thì bầu chọn ông là một trong 100 nhân vật kiệt xuất đang định hình và biến đổi thế giới 11
1.4.2 Những chủ trương, biện pháp của Tổng thống Hugo Chavez
* Thành lập Đảng Xã hội Chủ nghĩa Thống nhất Venezuela (PSUV):
Việc nhanh chóng cần phải thành lập Đảng Xã hội Chủ nghĩa Thống nhất Venezuela như đội tiên phong thống nhất và duy nhất trở thành yêu cầu sống còn của cách mạng Venezuela
Từ năm 1998 đến nay, cuộc Cách mạng Boliva ở Venezuela do Phòng trào nền Cộng hòa thứ V (MVR) dẫn dắt và lãnh đạo Tham gia cuộc cách mạng
11 http://www.sggp.org.vn/hien-tuong-chinh-tri-cua-khu-vuc-my-latinh-230100.html
Trang 2929
Boliva có nhiều lực lượng chính trị, đảng phái với khuynh hướng tư tưởng, đường lối chính trị và cương lĩnh khác nhau Mặc dù MVR đương nhiên được thừa nhận là đội tiền phong chính trị và Chavez là thủ lĩnh, là lãnh tụ của cuộc cách mạng, nhưng việc thành lập PSUV như đội tiền phong thống nhất và duy nhất trở thành yêu cầu cấp thiết Bởi vì, PSUV, không chỉ là các lực lượng chính trị tiên phong có điều kiện thống nhất lại như một bộ tham mưu chiến đấu có tổ chức duy nhất, mà còn tạo ra cho cách mạng Venezuela một cương lĩnh duy nhất
đi tới tiến trình đấu tranh ngày càng triệt để
Từ tháng 1/2005 đến tháng 2/2008, sau hơn ba năm chuẩn bị, Đại hội Đảng Xã hội Chủ nghĩa Thống nhất Venezuela (PSUV) đã được tiến hành thành công Thay mặt cho 5,6 triệu đảng viên đã đăng ký gia nhập PSUV, hơn 1.800 đại biểu đã bầu Tổng thống Hugo Chavez làm Chủ tịch Đảng Sự ra đời của Đảng PSUV là một yếu tố hết sức quan trọng và cùng với vai trò “thủ lĩnh” và
uy tín tuyệt đối của Tổng thống Hugo Chavez trở thành hạt nhân đoàn kết các lực lượng chính trị, các tầng lớp nhân dân Venezuela để vượt qua mọi khó khăn, thử thách, tiến hành thành công cuộc cách mạng Boliva xây dựng “Chủ nghĩa
Xã hội thế kỷ XXI” ở Venezuela
Tổng thống Chavez công bố kế hoạch thành lập PSUV trong đó đề cập đến bài học kinh nghiệm từ lịch sử hoạt động của Đảng Cộng sản Liên Xô trước đây và của Việt Nam, nhất là bài học về mối quan hệ máu thịt giữa Đảng với quần chúng Tổng thống Chavez đưa ra định hướng xây dựng PSUV theo mô hình chính đảng từ dưới lên, coi trọng vai trò, quyền lực của cơ sở, cọi trọng dân chủ trong đảng, mọi chức vụ trong đảng nhất thiết phải do tập thể người lao động là đảng viên bầu ra; tránh nguy cơ quan liêu, xa rời thực tiễn, chuyên quyền, độc đoán Quần chúng nhân dân cách mạng được tự do đăng ký gia nhập PSUV Chủ trương thành lập Đảng PSUV của ông Chavez đã được đông đảo quần chúng nhân dân ủng hộ Chính vì vậy, đến cuối năm 2007 đã có hơn 7 triệu
Trang 30Xuất phát từ tình hình thực tế của Venezuela trong những năm cuối thế kỷ
XX, tiến hành cải cách thực sự là bước đi mang tính tất yếu Cải cách là sự lựa chọn hợp lý nhất để đưa Venezuela thoát khỏi tình hình hiện tại Hơn nữa thay đổi tình trạng bất công của xã hội hiện tại, xây dựng một xã hội dân chủ ấm no, quyền con người được tôn trọng luôn là ước mở của những người dân nghèo Venezuela, họ ủng hộ ông Chavez - ứng cử viên Tổng thống vốn xuất thân từ tầng lớp bình dân và đã từng sống trong những khu phố nghèo vì ông cam kết đem lại một tương lai mới cho họ Họ coi ông là niềm hy vọng cuối cùng giúp thoát khỏi tình cảnh nghèo khổ, khốn cùng Và khi lên nắm quyền, nhà chính trị yêu nước này đã không làm thất vọng các cử tri của mình
Những năm mới cầm quyền, Chính quyền của Tổng thống Hugo Chavez tin tưởng vào “Con đường thứ Ba” trong phát triển kinh tế, nên trong các chính sách, chương trình phát triển kinh tế - xã hội của Chính phủ Venezuela vẫn tương tự như chính sách của các chính phủ xã hội dân chủ nói chung Thận trọng trong những quyết định mang tính cải cách đột phá ở lĩnh vực kinh tế, Chính quyền của Tổng thống Hugo Chavez tuyên bố không tiếp tục chương trình tư nhân hóa mà chính phủ cánh hữu trước đó đang tiến hành nhưng cũng không quốc hữu hóa các công ty tư nhân vốn trước đây là công ty nhà nước và tìm mọi biện pháp để ổn định nền kinh tế đang rất khó khăn mà không phá giá đồng tiền hay áp đặt một hệ thống kiểm soát tỷ giá
Quốc sách của Chavez là phải xây dựng một mô hình kinh tế mới theo hướng XHCN Để xây dựng thành công CNXH thế kỷ XXI, Nhà nước phải nắm vai trò quản lý ngành khai thác dầu khí, kiểm soát chặt tài chính, tiền tệ và thực hiện chương trình phúc lợi xã hội, y tế, giáo dục; điều phối lại ruộng đất
12
Nguyễn Thị Khánh Vân (2010) “Venezuela Những năm Đầu thế kỷ XXI và quan hệ với Việt Nam” Luận
Văn Thạc sĩ, tr22-23
Trang 31sẽ lên tới 30% và Nhà nước sẽ nắm giữ ít nhất 51% cổ phiếu trong liên doanh với các công ty tư nhân để chiếm cổ phần chi phối 13
Sau đảo chính quân sự không thành của phe đối lập tháng 4/2002 Chính quyền của Tổng thống Hugo Chavez đã tiến hành xây dựng nền kinh tế thị trường, đa thành phần, đa sở hữu, trong đó thành phần kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo và chi phối, định hướng cho nền kinh tế cả nước; từng bước quốc hữu hóa hoặc nắm cổ phần chi phối tất cả các doanh nghiệp mang tính chiến lược, đặc biệt là các doanh nghiệp trong ngành dầu khí; thúc đẩy các hình thức kinh tế xã hội, kinh tế tập thể, kinh tế nội sinh để các thành phần này cùng kinh
tế nhà nước trở thành nền tảng của nền kinh tế nhà nước
Trong giai đoạn 2004 – 2008, nền kinh tế phục hồi và liên tục phát triển Nhờ vậy, thu nhập GDP hàng năm đều tăng đáng kể Năm 2004 GDP đạt 110 tỷ USD, GDP trên đầu người được hơn 4.200 USD; thì năm 2005 các chỉ số tương ứng là 123,6 tỷ USD (tăng 2%) và hơn 5.000 USD (tăng 9,5%); năm 2006 ước tính là 164,4
tỷ USD (tăng gần 3% so với năm trước) và gần 6.100 USD (tăng 77,5%) 14
Năm 2007, tốc độ tăng trưởng kinh tế của Venezuela là 8,4% Thu nhập bình quân đầu người 13.200 USD Năm 2009, do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới, GDP của Venezuela tăng trưởng -2,5%, đạt khoảng 358
13 Viện Quan hệ Quốc tế (2008), Phong trào cánh tả Mỹ Latinh: thực trạng và triển vọng, Đề tài khoa học cấp Bộ
2008, Học viện Chính trị-hành chính quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, tr36
14
Nguyễn Hồng Sơn (2007), Kinh tế và kế hoạch công nghiệp hóa nền kinh tế của chính phủ Hugo Chavez, Tạp
chí Châu Mỹ ngày nay, số 6, tr.4
Trang 3232
tỷ USD, dự trữ ngoại tệ đạt trên 26,4 tỷ USD Đầu năm 2010, do dự trữ ngoại tệ giảm, cùng với việc nguồn thu từ dầu mỏ giảm sút (trong khi dầu mỏ đóng góp tới hơn 80% kim ngạch xuất khẩu của Venezuela) nền kinh tế Venezuela đã sụt giảm hơn 7,6% trong năm 2010 15
Trong một thời gian dài, Chính phủ đã sử dụng hàng chục tỷ USD lợi nhuận thu được từ ngành công nghiệp dầu khí để tập trung tiến hành cải cách xã hội như: xóa nạn mù chữ, xóa đói, giảm nghèo, xây dựng thêm nhiều trường học, tăng cường dịch vụ y tế Kết quả, đến năm 2005 đất nước không còn người mù chữ, tỷ
lệ người nghèo giảm từ 48,6% xuống còn 36%, thu nhập thực tế tăng 445%, tăng trưởng kinh tế có tốc độ cao: năm 2004 đạt 18%, năm 2005-2006 đạt 9-10% 16
Chính sách trong lĩnh vực dầu khí:
Quốc hữu hóa những ngành kinh tế quan trọng là nỗ lực nổi bật ở Chính
phủ Venezuela Khá nhiều biện pháp mềm dẻo nhằm dành lại chủ quyền quốc gia về tài nguyên, mà trước hết là dầu mỏ, đã được thực hiện Tổng thống Hugo Chavez đã đề xuất Quốc hội ban hành đạo luật mới quy định về vấn đề quốc hữu hóa Ông coi đây là một trong năm động lực của “cách mạng Boliva”: Động lực này đã được triển khai đầu tiên trong lĩnh vực quản lý tài nguyên quốc gia Đạo luật Hydrocacbon (Dầu khí) được ban hành năm 2001 có hiệu lực vào năm 2002
đã thay thế Luật Hydrocacbon 1943 và luật Quốc hữu hóa 1975 Đạo luật mới này quy định rằng mọi hoạt động khai thác và phân phối đều thuộc về nhà nước, trừ các lĩnh vực kinh doanh trong sản xuất dầu thô siêu nặng Dựa trên đạo luật mới này, chính phủ của tổng thống đã chính thức quốc hữu hóa ngành khai thác dầu mỏ Chính phủ đã tập trung vai trò hoạch định và quyền quản lý nguồn tài nguyên dầu mỏ vào tay mình, cơ cấu lại toàn bộ Tổng Công Dầu khí Quốc gia (PDVSA), cho ngừng hợp đồng khai thác dầu khí với các công ty tư nhân tại 32
mỏ dầu và thay thế bằng hình thức liên doanh để PDVSA nắm giữ 60% cổ phần, tăng đáng kể tiền cho thuê các dịch vụ và tiền thuế thu từ dầu mỏ
15
https://www.baomoi.com/venezuela-ben-bo-vuc-sup-do/c/19461413.epi
16 Tạp chí Cộng sản, số 773 (03/2007), tr86
Trang 3333
Vào thời kỳ này, Nhà nước chiếm khoảng 2/3 sản lượng dầu khí và 1/3 còn lại là của các tập đoàn tư nhân lớn, nhưng sau khi luật dầu khí mới có hiệu lực, nguồn tài nguyên này được khai thác trong khuôn khổ của các hợp đồng đã được tái thương lượng, đem lại cho Venezuela doanh thu lớn hơn nhiều so với trước đây “Tất cả mọi người đều được hưởng lợi từ dầu mỏ” là tiêu chí của chính phủ của ông Hugo Chavez Nhiều lĩnh vực khác cũng đã được quốc hữu hóa như sản xuất và phân phối điện năng, viễn thông, luyện kim, sản xuất xi măng và một số công ty sản xuất lương thực 17
Venezuela là quốc gia có trữ lượng dầu khí lớn trên thế giới, nhưng việc khai thác này chủ yếu do các công ty nước ngoài thực hiện Ngày 15/4/2006, Quốc hội nước này đã thông qua dự luật về thuế tài nguyên, theo đó các công ty dầu
mỏ nước ngoài hoạt động tại Venezuela phải chịu mức thuế mới là 33,3% so với 16,6% trước đây Ngày 15/4/2008, Venezuela tăng mức thuế thu nhập đối với các dự án khai thác dầu mỏ tại lưu vực sông Orinoco từ 34% lên 50% Hai mức thuế mới bổ sung cho ngân sách Nhà nước thêm 9 tỷ USD/năm (Lê Thị Thu Trang (2009), tài liệu số 41, tr49) Đây là một bước đột phá mạnh mẽ trong chiến lược dầu mỏ của Tổng thống Hugo Chavez nhằm cân bằng lợi nhuận mà các công ty dầu mỏ tư nhân và nước ngoài đã thu được trong thời gian trước đó Mức thuế mới mà Quốc hội Venezuela thông qua chủ yếu ảnh hưởng lớn tới các công ty nước ngoài khai thác dầu thô nặng trên lưu vực sông Orinoco như ExxonMobil, Chevron, Conoco-Philips, Total… Các công ty tư nhân ở Venezuela hoạt động trong những dự án chung với chính phủ, đã đóng mức thuế 33,3% từ trước đó nên họ không phải đóng thêm
Cộng vào đó là kế hoạch chấm dứt việc quản lý của nước ngoài đối với các xí nghiệp khai thác dầu ở khu vực sông Orinoco, nơi các hãng độc quyền như Chevron và Texas, Total, BP sẽ mất quyền sở hữu Venezuela đã giành lại quyền điều hành và sở hữu bốn nhà máy lọc dầu ở khu vực Orinoco Bốn nhà máy này trị giá hơn 30 tỷ USD và có thể chế biến 600.000 thùng dầu thô/ngày
17
Lê Thị Thu Trang (2009), “Venezuela dưới thời của Tổng thống Hugo Chavez” Tạp chí Châu Mỹ ngày nay,
(số 04), tr48
Trang 3434
Trước đó các công ty sở hữu chúng gồm Conoco-Phillips, Chevron, Mobil (Mỹ), BP (Anh), Statoil (Nauy) và Total (Pháp), đã đồng ý tuân thủ lệnh chuyển giao quyền vận hành lại cho PDVSA, công ty chiếm khoảng 60% tổng
Exxon-số vốn của bốn nhà máy trên 18
* Chính sách đối ngoại:
Trong suốt thế kỷ XX, đặc biệt là sau chiến tranh thế giới lần thứ hai, mặc
dù còn có một số tranh chấp lãnh thổ với hai nước láng giềng là Colombia và Guyana song Venezuela vẫn chủ trương duy trì quan hệ hữu hảo với hầu khắp các nước Mỹ Latinh cũng như các nước phương Tây
Sau khi đắc cử Tổng thống năm 1998, ông Hugo Chavez đã lãnh đạo đất nước Venezuela theo đường lối cánh tả với học thuyết của chủ nghĩa Boliva và xây dựng CNXH thế kỷ XXI ở châu Mỹ Venezuela thực hiện chính sách đối ngoại độc lập, tự chủ Quan hệ ngoại giao với các nước theo đường lối cánh tả
và XHCN tại Mỹ Latinh được đẩy mạnh, nhất là với Cuba và Bolivia khi cả ba nước thiết lập một hiệp định thương mại (ALBA) nhằm ngăn cản ảnh hưởng của
Mỹ tại khu vực
Trong quan hệ quốc tế, Hugo Chavez chủ trương một châu Mỹ Latinh thống nhất, theo ước nguyện của Simon Boliva - người anh hùng dân tộc của toàn Nam
Mỹ và trước mắt giữ quan hệ thực sự hữu hảo với các nước trong vùng Ngoài châu
Mỹ, Chavez chủ trương có quan hệ hữu nghị chặt chẽ với các nước, đặc biệt là Nga
và Trung Quốc, cũng như những nước chống Mỹ, trong đó có Iran
Chính quyền Tổng thống Chavez ưu tiên phát triển quan hệ chặt chẽ với Cuba và các nước khác ở Mỹ Latinh có chính phủ cánh tả, các nước có xu hướng chống Mỹ trên thế giới Cuba luôn có ảnh hưởng lớn đối với cuộc cách mạng Venezuela Trong thời điểm Cuba bị bao vây cấm vận và gặp nhiều khó khăn chồng chất, Venezuela đã cung cấp dầu mỏ cho Cuba với giá ưu đãi để vực dậy nền kinh tế Cuba Venezuela cung cấp mỗi ngày khoảng 90 nghìn thùng dầu
18Lê Thị Thu Trang (2009), “Venezuela dưới thời của Tổng thống Hugo Chavez” Tạp chí
Châu Mỹ ngày nay, (số 04), tr49.
Trang 3535
thô cho Cuba, đổi lại hơn 60 nghìn bác sĩ, giáo viên, huấn luyện viên và chuyên gia Cuba làm việc tại quốc gia Nam Mỹ này để điều trị y tế và phát triển giáo dục cho Venezuela tại các vùng sâu, vùng xa Cuba và Venezuela đã ký tới 285 thỏa thuận hợp tác trong các lãnh vực khoa học, công nghệ, sản xuất lương thực, đánh bắt cá, du lịch …Hai bên cũng đã thỏa thuận thiết lập 8 liên doanh trong đóng tàu biển, viễn thông và truyền thông, luyện kim, công nghiệp cơ bản, giao thông và sản xuất mía đường Venezuela là bạn hàng thương mại số một của Cuba, với trao đổi thương mại song phương đã tăng từ 200 triệu USD năm 2005 lên trên 7 tỷ USD năm 2009 19
Với Mỹ, Venezuela duy trì quan hệ, nhưng cảnh giác và tập hợp lực lượng nhằm đối phó sức ép của Mỹ Mặc dù quan hệ ngoại giao giữa Venezuela và Mỹ
có nhiều bất đồng về chính trị, nhưng ít có khả năng đổ vỡ hoàn toàn vì Venezuela là nước cung cấp dầu mỏ lớn thứ hai cho Mỹ, chiếm 15% nhu cầu nhập khẩu của Mỹ 19
Với Colombia, nước láng giềng và là một đồng minh thân cận của Mỹ tại khu vực, Venezuela luôn thận trọng trong quan hệ
Với Châu Âu, Venezuela tiếp tục tăng cường quan hệ trên cơ ở bình đẳng cùng có lợi, đặc biệt với các nước công nghiệp phát triển như Tây Ban Nha, Pháp, Nga
Với Châu Á, ưu tiên phát triển hợp tác với các nước XHCN như Trung Quốc, Việt Nam Tháng 9 năm 2009, Venezuela đã ký với Trung Quốc một thỏa thuận để khai thác dầu mỏ tại châu thổ Orinoco miền Đông Venezuela Theo thỏa thuận, Trung Quốc sẽ đầu tư 16 tỷ USD trong vòng 3 năm để được quyền khai thác dầu mỏ tại khu vực được đánh giá là có trữ lượng dầu lớn nhất thế giới Tiếp đó tháng 1 năm 2010, hai bên đã thông qua dự án hợp tác xây dựng nhà máy lọc dầu tại thành phố Khiết Dương, tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc với vốn đầu tư lên tới 6 tỷ USD Việt Nam cũng được Chính phủ Venezuela và cá nhân Tổng thống Chavez có thiện cảm đặc biệt Ngày 29/6/2010 tại Venezuela,
19 TTXVN (2007), Venezuela, Cuba và Boolivia thành lập ngân hàng hỗ trợ phát triển (cập nhật ngày 8/6/2007)
Trang 3636
Tập đoàn Dầu khí Việt Nam và Venezuela chính thức ký kết “Hợp đồng Thành lập và Quản lý Công ty Liên doanh PetroMacarero, Lô Junin 2 thuộc vành đai dầu Orinoco” Trữ lượng thu hồi khai thác trong 25 năm dự kiến là trên 1,46 tỷ thùng dầu Sản lượng khai thác ban đầu sẽ là 50 nghìn thùng/ngày và đạt sản lượng đỉnh là 200 nghìn thùng/ ngày Tổng mức đầu tư của dự án là trên 1,8 tỷ USD vì vậy Chính phủ hai nước coi đây là dự án cốt lõi trong chuỗi giá trị về hợp tác đầu tư giữa Venezuela và Việt Nam 20
1.5 Tiểu kết chương I
Việc áp đặt “Chủ nghĩa tự do mới” của Mỹ cho các nước khu vực Mỹ Latinh nơi được cọi là “sân sau” của Mỹ đã gây nên những hậu quả nghiêm trọng cho đời sống kinh tế xã hội tại các quốc gia này, đặc biệt là Venezuela Tuy nhiên sau khi lên nắm quyền bằng con đường bầu cử hợp pháp (lần đầu tiên một nước Mỹ Latinh dành được), Tổng thống Venezuela Hugo Chavez - với Chủ nghĩa Thủ lĩnh sẵn có đã vận dụng linh hoạt nguồn tài nguyên dâu mỏ trong việc thắt chặt quan hệ đối ngoại với các nước trong khu vực, cũng như các nước lớn khác trên thế giới nhằm giảm bớt sự phụ thuộc vào Mỹ
Ông đã sử dung nguồn lực quan trọng này để xây dựng và giành quyền tự chủ về kinh tế, cũng như hỗ trợ tích cực cho các nước láng giềng thân cận khác trong đó có Cuba, đưa phòng trào cánh tả Mỹ Latinh đi theo xu hướng mới năm ngoài dự tính của Mỹ, tạo một luồng gió mới trong quan hệ quốc tế
Với những thuận lợi từ nguồn tài nguyên dầu mỏ, Chính phủ Venezuela một mặt đẩy mạnh chính sách đối ngoại với các nước bạn bè nhưng vẫn chưa thể dứt bỏ hoàn toàn sự phụ thuộc vào Mỹ Tuy nhiên bước đầu Chính phủ Venezuela trong với vai trò của Tổng thống Hugo Chavez đã khẳng định việc lãnh đạo đất nước theo đường lối cánh tả, quyết tâm xây dựng CNXH của thế kỷ XXI, bằng công cụ hết sức quan trọng là dầu mỏ, tạo sự lan tỏa ra các quốc gia trong khu vực Mỹ Latinh cũng như một số quốc gia khác trên thế giới
20 Báo cáo dự án Junin 2(10/2010), Tập đoàn Dầu khí Việt Nam
Trang 3737
CHƯƠNG II QUÁ TRÌNH SỬ DỤNG DẦU MỎ NHƯ MỘT CÔNG CỤ TRONG
CHÍNH SÁCH KHU VỰC CỦA VENEZUELA 2.1 Dầu mỏ và chính sách hợp tác về dầu mỏ của Venezuela
2.1.1 Yếu tố dầu mỏ tại Venezuela
* Tầm quan trọng của dầu mỏ:
Trong những nguồn tài nguyên của trái đất, dầu mỏ được coi là quan trọng nhất, liên quan đến sự tồn tại và phát triển của nhiều ngành công nghiệp Vì thế, nó cũng trở thành một nguyên cớ quan trọng gây tranh chấp và xung đột trong quan hệ quốc tế Thực tế lịch sử cho thấy chính xung đột và tranh chấp dầu mỏ là một trong những nguyên nhân của hai cuộc chiến tranh thế giới trong thế kỷ qua
Dầu mỏ đã trở thành một con bài quan trọng trong nền ngoại giao quốc tế
kể từ đầu thế kỷ XX Cả những nước khai thác lẫn những nước tiêu thụ đều phải quan tâm đến chính sách dầu mỏ và khía cạnh chính trị của dầu mỏ, làm xuất hiện một lĩnh vực được gọi là chính trị dầu mỏ
Đứng trước tình hình phát triển nhanh chóng về khoa học công nghệ, cạnh tranh mạnh mẽ của các nước có nền kinh tế phát triển gọi tắt là "G7" và các nước có nền "Kinh tế mới Nổi" bao gồm cả Trung Quốc, Ấn Độ, Hàn Quốc, Nga, Brazil… được gọi là “G20”, năng lượng nói chung và đặc biệt là dầu mỏ nói riêng đã trở thành nguồn nguyên liệu không thể thiếu trong việc phát triển kinh tế của mỗi nước, mỗi khu vực trên thế giới trong thế kỷ XXI
Trên thế giới, các khu vực có trữ lượng dầu mỏ lớn hầu hết nằm ở “thế giới thứ ba” Để giành quyền kiểm soát các mỏ dầu, các nước đế quốc đã sử dụng những biện pháp chính trị - quân sự áp đặt đường lối của mình cho các nước sở hữu dầu mỏ, trước hết là ngăn chặn việc quốc hữu hoá của các nước đó Iran, Iraq và Venezuela là những trường hợp điển hình
Iraq, nước có trữ lượng dầu mỏ lớn thứ ba thế giới, đã phải chịu một cuộc tấn công của Mỹ năm 2003 dưới cái cớ chống khủng bố, để đến năm 2005, dưới tác động của Mỹ, Hiến pháp Iraq đã phải bảo đảm một vai trò chủ yếu cho các công ty
Trang 3838
dầu khí nước ngoài Tổ chức Diễn đàn Chính sách Toàn cầu đã khẳng định rằng dầu mỏ Iraq chính là “đặc điểm trung tâm của cảnh quan chính trị” ở đây 21
Venezuela luôn là cái gai ở phía Nam đối với Mỹ vì lập trường cứng rắn của tổng thống Hugo Chavez phản đối chủ nghĩa bá quyền của Mỹ Thế nhưng nước này lại là một trong năm quốc gia hàng đầu cung cấp dầu thô cho Mỹ Chính điều đó đã phần nào giải thích cho thái độ cứng rắn của ông Chavez mà
Mỹ không đưa được phương pháp trừng phạt thích hợp
Hiểu rõ vai trò của địa chính trị dầu mỏ, các quốc gia sản xuất dầu mỏ hiện nay đã biết đoàn kết lại để tạo ra sức mạnh tổng hợp nhằm tạo đối trọng với các cường quốc trong thế cân bằng quyền lực Năm 1960, các nước này đã cho ra đời
Tổ chức các Nước Xuất khẩu Dầu mỏ (OPEC), tổ chức này nhanh chóng trở thành nhân tố quan trọng nhất trong việc điều tiết sản lượng khai thác và tiêu thụ dầu mỏ, chấm dứt sự độc quyền và khống chế của các công ty dầu mỏ phương Tây
Cơ cấu nguồn Dầu mỏ và Khí đốt của Venezuela:
Dầu mỏ: Venezuela là nước xếp thứ mười một trong số các nước xuất khẩu dầu
ròng lớn nhất trên thế giới (số liệu năm 2009) Theo Tạp chí Dầu khí, Venezuela
có 296,5 tỷ thùng dầu dự trữ được xác minh năm 2011, lớn nhất thế giới, đứng trên Ả rập Saudi về trữ lượng 22 Cập nhật các kết quả trên bao gồm cả trữ lượng lớn dầu nặng được phát hiện bổ sung vào năm 2010 tại vành đai dầu Orinoco tại miền Trung Venezuela Venezuela là một nhà cung cấp đáng kể dầu thô cho thị trường thế giới; trong năm 2009 nước này đã xuất khẩu dầu ròng trung bình 1,75 triệu thùng/ngày, là nhà xuất khẩu dầu lớn nhất ở Tây bán cầu Trong những năm gần đây, sản lượng dầu thô khai thác trong nước đã giảm, trong khi tiêu thụ trong nước lại tăng lên, gây ra sự suy giảm xuất khẩu dầu Cơ quan Quản lý thông tin Năng lượng Mỹ (EIA) ước tính xuất khẩu dầu ròng của Venezuela đã giảm xuống mức 1,59 triệu thùng/ngày trong năm 2010
21 PGS.TS Nguyễn Văn Dân, “Tài nguyên thiên nhiên – Mối quan tâm địa chính trị hàng đầu của các quốc gia”,
Viện Khoa học Xã hội&Nhân văn Quốc gia (Tạp Chí Tài Chính) 20/05/2014
22
steady-p1.html
Trang 39http://www.ogj.com/articles/print/volume-109/issue-49/special-report-worldwide/worldwide-oil-production-39
Venezuela quốc hữu hóa ngành công nghiệp dầu mỏ vào những năm
1970, lập ra Tổng công ty Dầu khí Quốc gia - Petroleos de Venezuela S.A (PDVSA) Là người sử dụng lao động lớn nhất Venezuela, PDVSA chiếm một phần đáng kể GDP của đất nước, đống góp chính vào doanh thu và kim ngạch xuất khẩu của Chính phủ
Trong những năm 90, Venezuela đã có những bước tự do hóa lĩnh vực dầu khí Tuy nhiên, kể từ cuộc bầu cử Tổng thống năm 1999 và ông Hugo Chavez giành thắng lợi, Venezuela đã tăng việc tham gia của nhà nước trong ngành công nghiệp dầu khí Chính phủ ông Chavez ban đầu đã tăng thuế và tỷ lệ tham gia vào các dự án mới cũng như các dự án hiện có và việc này được Chính phủ ủy thác cho PDVSA Trong năm 2009 và 2010, Venezuela quốc hữu hóa các công ty dầu trong lĩnh vực dịch vụ và cơ sở hạ tầng, nguyên do là các công
ty này đã thất bại trong việc đàm phán chuyển đổi hình thức các hợp đồng hiện
có theo yêu cầu của Chính phủ Venezuela cũng ngày càng tăng áp lực lên các nhà thầu dầu khí nước ngoài còn ở lại trong nước để tăng đầu tư, bù đắp sự suy giảm sản lượng khai thác thời gian gần đây
EIA ước tính Venezuela khai thác khoảng 2,36 triệu thùng dầu quy đổi/ngày năm 2010 Dầu thô chiếm 2,09 triệu thùng/ngày trong tổng số, còn lại là khí tự nhiên hóa lỏng và các sản phẩm dầu khác Sản lượng khai thác dầu thô của Venezuela được tính toán dựa trên các nguồn cung khác nhau, sự sai lệch chủ yếu là do phương pháp đo lường Những nguồn khác (bao gồm cả đánh giá của EIA) dựa theo sản lượng dầu đã được nâng cấp thì cho con số đó thấp hơn khoảng 10% so với số nguyên liệu ban đầu EIA tính toán rằng việc khai thác dầu thô của Venezuela một lần nữa giảm xuống mức 2,09 triệu thùng/ngày trong năm 2011 Việc suy giảm mạnh này đến từ các mỏ dầu cũ, do các vấn đề về bảo trì, đồng thời tại thời điểm đó cần phải đáp ứng mục tiêu cắt giảm sản lượng của OPEC Theo OPEC mục tiêu sản lượng trong năm 2010 của Venezuela chỉ là 1,99 triệu thùng/ngày
Dầu thô của Venezuela theo tiêu chuẩn quốc tế với bản chất là dầu nặng
và có tính chua Vì vậy, phần lớn sản lượng dầu khai thác được phải chuyển tới
Trang 4040
các nhà máy lọc dầu chuyên dụng trong nước và quốc tế Khu vực khai thác dầu nhiều nhất của quốc gia là lưu vực lòng hồ Maracaibo, miền Tây Venezuela, chiếm hơn một nửa sản lượng dầu của Venezuela Nhiều mỏ ở Venezuela đã suy giảm, đòi hỏi sự đầu tư lớn để duy trì sản lượng hiện tại Các nhà phân tích ước tính rằng PDVSA phải chi khoảng 3 tỷ USD/năm chỉ để duy trì mức khai thác ở các mỏ hiện có, vì tỷ lệ suy giảm tại các mỏ này ít nhất chiếm 25% sản lượng 23
Vành đai dầu nặng Orinoco: Venezuela nắm giữ hàng tỷ thùng dầu thô
nặng và trầm tích nhựa đường, hầu hết trong số đó là nằm ở vành đai Orinoco ở miền Trung Venezuela Theo một nghiên cứu phát hành bởi Cơ quan Khảo sát Địa chất Mỹ, ước tính trung bình các nguồn tài nguyên dầu thô tại chỗ từ vành đai Orinoco là 513 tỷ thùng PDVSA đã bắt đầu dự án "Magna Reserva” trong năm
2005, liên quan đến việc phân chia các khu vực Orinoco thành 27 khối và đã xác định trữ lượng tại chỗ và kết quả dự trữ dầu của Venezuela tăng hơn 100 tỷ thùng
Trong năm 1990, Venezuela đã thành lập hiệp hội chiến lược để khai thác các nguồn lực này, sau đó chuyển đổi chúng cho các công ty liên doanh với quyền sở hữu đa số của PDVSA Các dự án này liên quan đến việc chuyển đổi dầu thô nặng và bitum (nhựa đường) sang dầu nhẹ, ngọt Venezuela đã lên kế hoạch để phát triển hơn nữa nguồn tài nguyên dầu tại vành đai dầu Orinoco trong những năm tới Năm 2009, Venezuela đã ký hiệp định song phương về phát triển của bốn khối lớn trong khu vực Junin Năm 2010, Việt Nam đã được trao giấy phép phát triển quan trọng trong khu vực Carabobo liên quan đến dự
án Junin 2 liên doanh với Công ty CVP (công ty thành viên của PDVSA) Venezuela kỳ vọng các dự án này sẽ làm tăng khả năng tổng khai thác dầu nặng lên 2 triệu thùng/ngày vào cuối thập kỷ này (Ban HTQT, tài liệu số 28)
Xuất khẩu dầu mỏ của Venezuela đã giảm gần 50%, kể từ khi đạt đỉnh khai thác là 3,06 triệu thùng/ngày vào năm 1997 Venezuela xuất khẩu phần lớn dầu sang Mỹ vì sự gần gũi về mặt địa lý đã nâng cao lợi nhuận cho xuất khẩu và bởi vì các nhà máy lọc dầu trên bờ biển khu vực Vịnh Mexico của Mỹ được
23
Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (2013), “Tổng quan về tình hình năng lượng và dầu mỏ các nước lớn ảnh hưởng
đến an ninh năng lượng trên thị trường thế giới”, Tổng quan năng lượng Ban HTQT, tr59