1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đảng bộ tỉnh lào cai lãnh đạo bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử ở địa phương từ năm 2000 đến năm 2015 =

148 142 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 148
Dung lượng 3,53 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Lịch sử nghiên cứu vấn đề Liên quan đến chủ đề bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử đã có một số công trình nghiên cứu, có thể chia làm hai nhóm: Một là, những nghiên cứu về

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

NGUYỄN THỊ THU THỦY

ĐẢNG BỘ TỈNH LÀO CAI LÃNH ĐẠO BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ CÁC DI TÍCH LỊCH SỬ Ở ĐỊA PHƯƠNG

TỪ NĂM 2000 ĐẾN NĂM 2015

LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ

Hà Nội - 2017 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

NGUYỄN THỊ THU THỦY

ĐẢNG BỘ TỈNH LÀO CAI LÃNH ĐẠO BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ CÁC DI TÍCH LỊCH SỬ Ở ĐỊA PHƯƠNG

TỪ NĂM 2000 ĐẾN NĂM 2015

Chuyên ngành: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam

Mã số: 60.22.03.15

LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ Người hướng dẫn: PGS TS Lê Văn Thịnh

Hà Nội - 2017LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số

Trang 3

liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng và được trích dẫn đầy đủ theo quy định

Tác giả

Nguyễn Thị Thu Thuỷ

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Để có thể hoàn thành đề tài luận văn thạc sĩ một cách hoàn thiện, bên cạnh sự nỗ lực cố gắng của bản thân còn có sự hướng dẫn nhiệt tình của Quý Thầy cô cũng như sự động viên ủng hộ của gia đình và bạn bè trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và thực hiện Luận văn thạc sĩ

Xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành và sâu sắc tới PGS.TS Lê Văn Thịnh người đã hết lòng giúp đỡ và tạo mọi điều kiện tốt nhất cho tôi hoàn thành luận văn này Xin chân thành cảm ơn toàn thể Quý thầy cô khoa Lịch

sử trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn đã tận tình truyền đạt những kiến thức quý báy cũng như tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất cho tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và cho đến khi hoàn thành luận văn tốt nghiệp

Xin chân thành cảm ơn Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch tỉnh Lào Cai

đã tạo điều kiện tốt nhất cho tôi trong suốt thời gian nghiên cứu và thực hiện Luận văn

Cuối cùng, xin gửi lời cảm ơn tới tập thể Ban giám hiệu, giáo viên trường Đại học khoa học xã hội và nhân văn đã tạo điều kiện cho tôi hoàn thành quá trình học tập của mình

Hà Nội, tháng 11 năm 2017

Học viên

Nguyễn Thị Thu Thuỷ

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 4

1 Lý do chọn đề tài 4

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 6

3 Mục đích, nhiệm vụ của Luận văn 12

3.1 Mục đích nghiên cứu 12

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 12

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 13

4.1 Đối tượng nghiên cứu 13

4.2 Phạm vi nghiên cứu 13

5 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu 14

5.1 Nguồn tư liệu 14

5.2 Phương pháp nghiên cứu 15

6 Đóng góp về khoa học của đề tài 15

7 Kết cấu của Luận văn 16

CHƯƠNG 1: CHỦ TRƯƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO CÔNG TÁC BẢO TỒN, PHÁT HUY GIÁ TRỊ CÁC DI TÍCH LỊCH SỬ CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH LÀO CAI TỪ NĂM 2000 ĐẾN NĂM 2005 17

1.1 Những nhân tố tác động đến công tác bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử ở tỉnh Lào Cai 17

1.1.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội và thực trạng công tác bảo tồn, phát huy các giá trị di tích lịch sử ở tỉnh Lào Cai trước năm 2000 17

1.1.2 Chủ trương, chính sách của Đảng và nhà nước 28

1.2 Đảng bộ tỉnh Lào Cai lãnh đạo công tác bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử trên địa bàn tỉnh từ năm 2000 đến năm 2005 35

1.2.1 Chủ trương và giải pháp của Đảng bộ tỉnh Lào Cai về công tác bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử 35

1.2.2 Đảng bộ tỉnh Lào Cai chỉ đạo công tác bảo tồn, phát huy giá trị các di tích lịch sử 37

Trang 6

CHƯƠNG 2: CÔNG TÁC BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ CÁC

DI TÍCH LỊCH SỬ CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH LÀO CAI TỪ NĂM 2006

ĐẾN NĂM 2015 46

2.1 Chủ trương của Đảng và sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Lào Cai 46

2.1.1 Chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước 46

2.1.2 Chủ trương và giải pháp của Đảng bộ tỉnh Lào Cai 51

2.2 Đảng bộ tỉnh Lào Cai chỉ đạo công tác bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử 53

2.2.1 Chỉ đạo xây dựng cơ chế, tổ chức bộ máy quản lý công tác bảo tồn, phát huy các di tích lịch sử 54

2.2.2 Chỉ đạo điều tra, xếp hạng, bảo tồn và tôn tạo các di tích lịch sử 59

2.2.3 Chỉ đạo công tác tuyên truyền, xây dựng cơ sở hạ tầng phát huy giá trị các di tích lịch sử 73

Tiểu kết chương 2 82

CHƯƠNG 3: MỘT VÀI NHẬN XÉT VÀ KINH NGHIỆM 84

3.1 Một vài nhận xét 84

3.1.1 Ưu điểm 84

3.1.2 Hạn chế 91

Tiểu kết chương 3 101

KẾT LUẬN 103

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 105

PHỤ LỤC 128

Trang 7

NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN

BCH : Ban Chấp hành

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Theo luật Di sản Văn hóa của Việt Nam, di tích lịch sử - văn hóa được quy định: “Là công trình xây dựng, địa điểm và các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc công trình, địa điểm đó, có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học” [61, tr.1]

Di tích là những bằng chứng vật chất có ý nghĩa quan trọng, minh chứng về lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc “Di tích giúp con người biết được cội nguồn của dân tộc mình, hiểu về truyền thống lịch sử, đặc trưng văn hoá của đất nước và do đó có tác động ngược trở lại tới việc hình thành nhân cách con người Việt Nam hiện đại” [46, tr 27]

Sau khi giành được độc lập, dù trong hoàn cảnh đất nước đang “nghìn cân treo sợi tóc” với thù trong, giặc ngoài, ngày 23 tháng 11 năm 1945, chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 65 về việc bảo tồn cổ tích trên toàn cõi Việt Nam Nội dung Sắc lệnh chỉ vẻn vẹn 256 chữ nhưng đã khẳng định quan điểm, đường lối, chính sách và những biện pháp cấp bách của Đảng và nhà nước Việt Nam đối với di sản văn hoá của dân tộc; thể hiện sự vận dụng sáng tạo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lê Nin về việc kế thừa tinh hoa văn hoá dân tộc trong xây dựng và phát triển văn hoá đất nước Sắc lệnh đã khẳng định “… Việc bảo tồn cổ tích là việc rất cần thiết trong công cuôc kiến thiết nước Việt Nam” [153, tr 21]

Di tích là một bộ phận quan trọng của di sản văn hóa Mà di sản văn hóa dân tộc là một trong những cội nguồn sức mạnh to lớn của dân tộc, được tạo ra trong quá khứ, cần được bảo vệ, duy trì và phát huy trong xã hội hiện đại Do

đó, việc bảo tồn và phát huy di sản văn hóa, trong đó có các di tích lịch sử là quy luật tất yếu của văn hóa Đặc biệt, trong xu thế hội nhập, toàn cầu hóa hiện

Trang 9

nay, vấn đề bảo tồn và phát huy di dản văn hóa có ý nghĩa vô cùng quan trọng nhằm giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc để hội nhập mà không bị hòa tan Huy động sức mạnh của toàn xã hội nhằm bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống, khích lệ sáng tạo các giá trị văn hóa mới, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, làm giàu văn hóa dân tộc

Trên cơ sở những thành tựu đã đạt được sau 15 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 5, khóa VIII, Ban chấp hành Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam khóa IX tiếp tục xây dựng Nghị quyết số 33 về xây dựng, phát triển văn hóa con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước Trong đó có nhấn mạnh đến nhiệm vụ bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử … “ Xây dựng cơ chế để giải quyết hợp lý, hài hòa giữa bảo tồn, phát huy di sản văn hóa với phát triển kinh tế - xã hội Bảo tồn, tôn tạo các di tích lịch sử - văn hóa tiêu biểu, phục vụ giáo dục truyền thống và phát triển kinh tế; gắn kết bảo tồn, phát huy di sản văn hóa với phát triển du lịch” [37,

tr.42] Điều này đã cho thấy ý nghĩa, tầm quan trọng của công tác bảo tồn,

phát huy giá trị các di tích lịch sử

Lào Cai là một tỉnh vùng cao, biên giới có vị trí địa – kinh tế - chính trị hết sức quan trọng Vùng đất Lào Cai cũng là nơi có truyền thống lịch sử và văn hóa lâu đời với nhiều di tích lịch sử, văn hóa Trong đó có 11 di tích cấp quốc gia, 10 di tích cấp tỉnh Trong những năm qua, công tác bảo tồn và phát huy giá trị các di di tích lịch sử của Lào Cai đã đạt được nhiều thành tựu cả về phương pháp và nội dung thực hiện Hệ thống di tích lịch sử của Lào Cai không chỉ có ý nghĩa quan trọng trong đời sống tinh thần của người dân địa phương mà còn đang trở thành nguồn lực quan trọng trong phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội Do đó, việc tìm hiểu về hệ thống di tích lịch sử ở Lào Cai, hoạt động bảo tồn và phát huy các di tích lịch sử này là điều vô cùng cần

Trang 10

được, đồng thời tổng kết, đúc rút các bài học kinh nghiệm để tiếp tục áp dụng, triển khai vào thực tiễn địa phương để công tác bảo tồn, phát huy giá trị các di tích đạt hiệu quả cao hơn nữa trong thời gian tới

Là một giáo viên giảng dạy bộ môn lịch sử ở trường phổ thông, tôi luôn quan tâm đến việc tìm hiểu các di tích lịch sử, văn hóa Đặc biệt, thông qua các phương tiện thông tin đại chúng, tôi được biết Lào Cai là địa phương có

hệ thống các di tích lịch sử khá phong phú và là một tỉnh miền núi có thành tựu lớn trong việc bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử Điều này, thôi thúc tôi muốn tìm hiểu về hoạt động bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch

sử của tỉnh Lào Cai

Với những lý do trên tôi chọn đề tài “Đảng bộ tỉnh Lào Cai lãnh đạo

bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử ở địa phương từ năm 2000 đến năm 2015” để làm làm văn tốt nghiệp Thạc sĩ Lịch sử, chuyên ngành

Lịch sử Đảng cộng sản Việt Nam

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Liên quan đến chủ đề bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử đã

có một số công trình nghiên cứu, có thể chia làm hai nhóm:

Một là, những nghiên cứu về di sản văn hoá, di tích lịch sử nói chung

Cuốn sách ”Tìm hiểu về đường lối văn hóa của Đảng cộng sản Việt

Nam”, Nxb Chính trị Quốc gia Hà Nội (2008) của tác giả Nguyễn Đình

Hãng đã cung cấp những kiến thức đầy đủ, chi tiết về chủ trương, đường lối của Đảng cộng sản Việt Nam về lĩnh vực văn hóa, bảo tồn và phát huy

di sản văn hoá

Trong cuốn ”Xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc

dân tộc”, Nxb Văn hoá Thông tin (2002) do tác giả Nguyễn Khoa Điềm là

chủ biên, các tác giả đã đi từ cách tiếp cận văn hóa, những yếu tố cấu thành

Trang 11

của nền văn hóa, những tiền đề lý luận và thực tiễn hoạt động văn hóa qua hơn nửa thế kỷ lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam để phản ảnh tính tiên tiến của nền văn hóa mà nhân dân ta đang xây dựng, những bản sắc văn hóa dân tộc Từ việc tổng kết thực tiễn công tác xây dựng, phát triển văn hóa của đất nước, kết hợp với kinh nghiệm xử lý vấn đề văn hóa ở một số nước trên thế giới, cuốn sách đã đưa ra những giải pháp để xây dựng nền văn hóa Việt Nam đáp ứng những yêu cầu của tình hình mới, đưa ra những định hướng chiến lược cho việc xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm

đà bản sắc dân tộc

Cuốn sách ”Một số vấn đề về bảo tồn và phát triển di sản văn hóa dân

tộc”, Nxb Chính trị Quốc Gia (2002) của tác giả Hoàng Vinh đề cập đến

những vấn đề lý luận về di sản văn hóa, vai trò, chức năng của di sản văn hóa Tác giả đã phân tích cụ thể chính sách về bảo tồn và phát triển di sản văn hóa dân tộc qua các kỳ Đại hội của Đảng Trên cơ sở những phân tích, đánh giá về thực trạng di sản văn hóa, tác giả đã đưa ra những giải pháp cụ thể về giữ gìn và phát huy di sản văn hóa (đặc biệt có tham khảo kinh nghiệm của Nhật Bản)

Cuốn sách ”Di sản văn hóa – bảo tồn và phát triển”, Nxb Thành phố

Hồ Chí Minh (2008) của nhóm tác giả Nguyễn Đình Thanh, Lê Minh Lý cũng đưa ra những vấn đề lý luận chung về di sản văn hóa, công tác bảo tồn và phát triển di sản văn hóa, đánh giá thực trạng bảo tồn, phát triển di sản văn hóa ở nước ta trong thời gian qua, bước đầu đưa ra một số giải pháp để bảo tồn và phát triển di sản văn hóa trong tình hình mới

Cuốn sách ”Di sản văn hóa - bảo tồn và trùng tu”, Nxb Văn hoá

Thông tin (2002) là kết quả tổng kết kinh nghiệm qua nhiều năm làm công tác bảo tồn, trùng tu các di sản văn hóa của Giáo sư – Tiến sĩ, kiến trúc sư Hoàng Đạo Kính

Trang 12

Cuốn giáo trình ”Bảo tồn di tích lịch sử văn hóa”, Nxb Đại học

Quốc gia Hà Nội (2008) của tác giả Trịnh Minh Đức đã đưa ra những kiến thức tổng quan, đầy đủ về các lĩnh vực trong công tác bảo tồn di tích lịch sử văn hóa

Cuốn sách “Giáo trình quản lý di sản văn hóa với phát triển du lịch”,

Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội (2010) do nhóm tác giả Lê Hồng Lý, Dương Văn Sáu, Đặng Hoài Thu thực hiện đã giới thiệu những kiến thức cơ bản về một số vấn đề liên quan đến văn hóa, di sản văn hóa, du lịch văn hóa và những sản phẩm du lịch văn hóa , những quan điểm quản lí và khai thác di sản văn hoá Từ đó chỉ ra những nội dụng và nguyên tắc quản lí các di sản văn hóa nhằm phục vụ việc phát triển du lịch Cuốn sách cũng trình bày một cách cơ bản quy trình tổ chức và quản lí nhằm tạo ra những sản phẩm

du lịch văn hóa

Giáo sư, tiến sĩ khoa học Lưu Trần Tiêu, Chủ tịch Hội Di sản Việt Nam, Chủ tịch Hội đồng Di sản Quốc gia là nhà nghiên cứu chuyên về công tác di sản văn hóa Ông đã có nhiều công trình nghiên cứu về công tác di sản nói chung và di tích nói riêng Những nghiên cứu của ông được công bố trên

Tạp chí Di sản Văn hóa về lĩnh vực di sản văn hóa có: ”Mấy vấn đề về nguồn

nhân lực trong hoạt động bảo tồn di sản văn hoá” (Tạp chí Di sản Văn hoá,

số 3 (40), năm 2012), “Mấy vấn đề về hoạt động tu bổ, phục hồi di tích lịch

sử - văn hoá” (Tạp chí Di sản Văn hoá, số 3 (36), năm 2011), Những

nghiên cứu này đã đưa ra những gợi mở quan trọng về công tác bảo tồn và phát huy di tích

Tiến sĩ Đặng Văn Bài, Tiến sĩ Nguyễn Thế Hùng là nhà nghiên cứu, đồng thời là nhà quản lý với nhiều năm giữ trọng trách Cục Trưởng tại Cục di sản Văn hóa Bằng kinh nghiệm quản lý và nghiên cứu chuyên sâu, các ông

đã có nhiều bài viết được công bố trên Tạp chí Di sản Văn hóa như: ”Một số

Trang 13

vấn đề đặt ra sau ba năm thi hành Luật di sản văn hoá” (Tạp chí Di sản văn

hoá số 2 (11) năm 2005) của tác giả Đặng Văn Bài, “Tu bổ và tôn tạo các di

tích lịch sử và văn hoá là hoạt động có tính đặc thù chuyên ngành” Tạp chí

Di sản Văn hoá số 2 (15) năm 2006 của tác giả Đặng Văn Bài, “Bảo tồn di

sản văn hoá trong quá trình phát triển” (Tạp chí Di sản Văn hoá, số 2 (19)

năm 2007) của tác giả Đặng Văn Bài, “Phát huy giá trị di tích phục vụ sự

nghiệp bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước” (Tạp chí Di sản Văn hoá,

số 3 (20) năm 2007) của tác giả Nguyễn Thế Hùng, “10 năm thực hiện Luật

di sản Văn hoá” (Tạp chí Di sản Văn hoá số 3 (40) năm 2012) của tác giả

Nguyễn Thế Hùng, “Vai trò của cộng đồng trong bảo tồn và phát huy giá

trị di sản văn hoá” (Tạp chí di sản văn hoá, số 1 (50) năm 2015) của tác

giả Nguyễn Thế Hùng, Những nghiên cứu này đều mang tính thực tiễn,

cụ thể sâu sắc

Những nghiên cứu trên đã cung cấp những kiến thức mang tính lý luận

cơ bản, những vấn cụ thể về công tác bảo tồn và phát huy giá trị các di tích

Luận văn thạc sĩ “Đảng bộ tỉnh Nghệ An lãnh đạo công tác bảo tồn và

phát huy giá trị cá di tích lịch sử, văn hóa từ năm 1991 đến năm 2012” của

tác giả Vũ Thị Thanh Tú bảo vệ tại trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân

văn năm 2013; Luận văn thạc sĩ “Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên lãnh đạo công

tác bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử, văn hóa từ năm 2001 đến năm 2010” của tác giả Ngô Thị Ngà bảo vệ tại trường Đại học Khoa học Xã

hội và Nhân văn năm 2013; Luận văn thạc sĩ “Đảng bộ tỉnh Yên Bái lãnh đạo

công tác bảo tồn và phát huy giá trị cá di tích lịch sử từ năm 1998 đến năm 2014” của tác giả Lê Văn Đin, bảo vệ tại trường Đại học Khoa học Xã hội và

Nhân văn năm 2015 Những công trình trên nghiên cứu về công tác bảo tồn

và phát huy giá trị các di tích lịch sử tại một địa phương cụ thể là những gợi

Trang 14

Hai là, những nghiên cứu về di tích lịch sử và bảo tôn phát huy giá trị các di tích lịch sử ở Lào Cai

Cuốn sách ”Du lịch Lào Cai”, Nxb Văn hoá Dân tộc (2000) của nhóm

tác giả Trần Hữu Sơn, Nguyễn Quang Đức, Mã A Lềnh, Đức Đảm, Đoàn Hữu Nam và Đình Dũng, do Sở Thương mại và Du lịch tỉnh Lào Cai xuất bản Đây

là công trình giới thiệu khái quát về bản sắc văn hoá các dân tộc ở Lào Cai và các danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử văn hóa trên địa bàn tỉnh

Cuốn sách ”Lào Cai vận hội mới”, Nxb Công ty Cổ phần Hợp tác

Truyền thông Việt Nam (2005), với sự tham gia của nhiều tổ chức, ban ngành, đoàn thể, doanh nghiệp và cá nhân trên địa bàn tỉnh Lào Cai Cuốn sách tổng hợp những thông tin tổng quan về lịch sử phát triển cũng như tiềm năng, lợi thế của vùng đất Lào Cai Cuốn sách gồm 5 phần trong đó phần II với tựa để “Sản phẩm văn hóa – Du lịch” từ trang 148 đến đến 198 Phần này

đã giới thiệu những di tích lịch sử, truyền thống văn hoá đặc sắc của Lào Cai được khai thác trở thành điểm du lịch hấp dẫn

Cuốn sách ”20 năm tái lập tỉnh Lào Cai (01/10/1991 – 01/10/2011)”,

Nxb Công ty cổ phần In và Thương mại Lào Cai (2011) của nhóm nhiều tác giả là lãnh đạo và nguyên lãnh đạo tỉnh Lào Cai, những nhà khoa học, nhà hoạch định chính sách, nhà nghiên cứu, nhà văn nhà thơ… được Báo Lào Cai tổng hợp và xuất bản Đây là một công trình tổng hợp công phu gồm 4 phần nội dung chính là: Lào Cai – Thành tựu mới, Nỗ lực xây dựng quê hương Lào Cai, Chặng đường mới, Lào Cai qua tác phẩm Cuốn sách chính là một nhật

ký về kinh tế, văn hóa, xã hội trong 20 năm xây dựng và phát triển của lãnh đạo và nhân dân các dân tộc tỉnh Lào Cai Trong bài “Góp phần bảo tồn và phát huy di sản văn hóa dân tộc” từ trang 148 đến 150 của tác giả Thu Phương đã điểm lại những chương trình, đề án, dự án về việc bảo tồn và phát

Trang 15

huy di sản văn hóa dân tộc cũng như đánh giá kết quả thực hiện các chương trình này Cũng trong cuốn này tác giả Mạnh Tuấn cũng đã có bài “Miền đất

in dấu thời gian” Nhằm để khẳng định giá trị di sản văn hóa của miền đất vùng biên cương, tác giả đã tổng hợp những công trình, di tích mang tính lịch

sử văn hóa của tỉnh Trong đó, các di tích cũng đã được tác giả đề cập và giới thiệu khá chi tiết cả về lịch sử hình thành, vị trí và vai trò trong việc khẳng định chủ quyền của tổ quốc – là biểu tượng văn hóa của nhân dân các dân tộc tỉnh Lào Cai trong quá trình xây dựng, gìn giữ và phát triển đất nước

Cuốn sách ”Văn hóa dân gian Lào Cai”, Nxb Văn hoá Dân tộc (1997)

của tác giả Trần Hữu Sơn là một nghiên cứu công phu về sắc thái văn hóa dân gian của các dân tộc hiện đang cư trú trên địa bàn tỉnh Lào Cai Từ trang 17 đến trang 19, sách đã giới thiệu và khẳng định vị trí chiến lược quan trọng của Lào Cai nói chung và các di tích thuộc quần thể di tích Đền Thượng, đền Đôi Cô

Cuốn sách ”Địa chí Lào Cai khái lược”, Nxb Văn hoá Dân tộc (2001),

chủ biên Nguyễn Đức Thăng Đây là một công trình nhằm cung cấp những thông tin cơ bản về tỉnh Lào Cai Cuốn sách đề cập đến những thông tin về diện tích, dân số, dân tộc, lịch sử, di tích, danh lam thắng cảnh và một số nét

về đặc trưng kinh tế - xã hội của tỉnh Lào Cai

Trong quá trình lãnh đạo xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Lào Cai đã ra các Nghị quyết, xây dựng và ban hành các chương trình, đề án về bảo tồn và phát huy di sản văn hóa dân tộc, các di tích lịch sử và hàng năm, hàng nhiệm kỳ đều có báo cáo, đánh giá khái quát kết quả đạt được Nguồn tư liệu trong các công trình, tài liệu, văn kiện đó là cơ sở để tác giả sử dụng, kế thừa trong quá trình phân tích, đánh giá, khái quát trong luận văn

Trang 16

Như vậy, cho đến nay, chưa có công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện và đầy đủ về sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Lào Cai đối với công tác bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử ở địa phương trong giai đoạn từ năm 2000 đến năm 2015 Tuy nhiên, những công trình nghiên cứu trên đã đưa ra những nhận xét, đánh giá, đúc rút ra những định hướng cho công tác bảo tồn, phát huy giá trị các di tích lịch sử ở Lào Cai để tác giả luận văn tiếp thu và kế thừa trong quá trình thực hiện Luận văn

3 Mục đích, nhiệm vụ của Luận văn

3.1 Mục đích nghiên cứu

Làm rõ chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Lào Cai đối với công tác bảo tồn và phát huy giá trị các di tích trên địa bàn tỉnh Lào Cai từ năm 2000 đến năm 2015

Từ sự lãnh đạo công tác bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử của Đảng bộ tỉnh Lào Cai (2000 – 2015), luận văn đưa ra một số nhận xét về

ưu điểm, hạn chế và bước đầu rút ra một số bài học kinh nghiệm nhằm cung cấp cơ sở khoa học cho việc hoạch định chủ trương, giải pháp trong công tác bảo tồn phát huy giá trị các di tích trong giai đoạn tiếp theo

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Tập hợp, hệ thống hóa nguồn tài liệu liên quan đến đề tài

- Nêu và phân tích những nhân tố tác động đến chủ trương, giải pháp và quá trình chỉ đạo công tác bảo tồn, phát huy giá trị các di tích lịch sử của Đảng bộ tỉnh Lào Cai đối với các di tích lịch sử trên địa bàn tỉnh

- Quá trình chỉ đạo thực hiện công tác bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử ở địa phương của Đảng bộ tỉnh Lào Cai

Trang 17

- Đánh giá những ưu điểm, hạn chế trong công tác bảo tồn, phát huy giá trị các di tích lịch sử của Đảng bộ tỉnh Đồng thời đúc rút những kinh nghiệm

để tham khảo cho hiện tại

4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tƣợng nghiên cứu

Luận văn tập trung tìm hiểu những chủ trương, giải pháp và sự chỉ đạo công tác bảo tồn, phát huy giá trị các di tích lịch sử của Đảng bộ tỉnh Lào Cai

từ năm 2000 đến năm 2015

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Về nội dung nghiên cứu:

Luận văn nghiên cứu sự lãnh chỉ đạo của đảng bộ tỉnh Lào Cai trong công tác bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử ở địa phương Cụ thể: Việc xây dựng cơ chế, chính sách, tổ chức bộ máy; việc nghiên cứu, xây dựng

hồ sơ di tích, kiểm kê di tích; trùng tu, tôn tạo các di tích; tuyên truyền, phát huy các di tích trong đời sống kinh tế, xã hội ở địa phương

Về thời gian nghiên cứu: từ năm 2000 đến năm 2015

Từ năm 2000, Tỉnh ủy Lào Cai đã cụ thể hóa các Nghị quyết của Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh bằng việc xây dựng các Đề án trọng tâm của các ngành, các lĩnh vực, trong đó có công tác bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử trên địa bàn tỉnh Do đó, chúng tôi lựa chọn nghiên cứu sự lãnh đạo của đảng bộ tỉnh Lào Cai về bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử xuyên suốt qua 3 nhiệm kỳ Đại hội Đảng bộ tỉnh Lào Cai: Đại hội XII (2000 – 2005), Đại hội XIII (2005 – 2010), Đại hội XIV (2010 – 2015) để nghiên cứu, tổng kết, đánh giá

Trang 18

Mặt khác, bắt đầu từ năm 2000, Lào Cai triển khai thực hiện đồng bộ

và quyết liệt Nghị quyết Trung ương V khóa VIII (1998) với nhiều giải pháp sáng tạo và hiệu quả

Hơn thế nữa, từ năm 2001, Luật di sản văn hóa bắt đầu có hiệu lực thực hiện với những quy định mới về công tác quản lý di tích

Ngày 24/7/2001, Bộ Văn hóa Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao

và Du lịch) đã ban hành Quyết định số 1760/2000/QĐ-BVHTT “Phê duyệt quy hoạch tổng thể bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử - văn hóa và danh lam thắng cảnh đến năm 2020” Quyết định này đã làm rõ các quan điểm bảo tồn và phát huy giá trị lịch sử - văn hóa và danh lam thắng cảnh Đồng thời đây là kim chỉ nam cho các địa phương xây dựng quy hoạch và tổ chức thực hiện các hoạt động bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch

Về không gian: Trên địa bàn tỉnh Lào Cai

5 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu

5.1 Nguồn tư liệu

Nguồn tư liệu mà Luận văn sử dụng là:

Các Văn kiện của Đảng; văn kiện các hội nghị Trung ương Đảng, các Văn bản của Chính phủ, của Bộ Văn hóa Thông tin, Bộ Văn hóa, Thể thao và

Du lịch về bảo tồn và phát huy các di tích lịch sử

- Các văn kiện của Đảng bộ tỉnh Lào Cai, Các văn bản của UBND tỉnh Lào Cai, Các văn bản của Sở Văn hóa Thông tin và Thể thao, Sở Văn hóa Thông tin, Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch tỉnh Lào Cai

- Các sách, báo, các công trình nghiên cứu liên quan đến công tác bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử nói chung và công tác bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch tại Lào Cai nói riêng

Trang 19

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp luận xuyên suốt được luận văn sử dụng là chủ nghĩa Mác – Lê Nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam

về Văn hóa và Di sản Văn hóa

Luận văn chủ yếu sử dụng phương pháp lịch sử và phương pháp logic Bên cạnh đó, luận văn còn sử dụng các phương pháp: phân tích, tổng hợp, đối chiếu, so sánh, thống kê, khảo sát thực địa, điều tra xã hội học nhằm trình bày kết quả mà tỉnh Lào Cai đã đạt được trong công tác bảo tồn, phát huy giá trị các di tích lịch sử, đánh giá chính xác những chủ trương, biện pháp của Đảng bộ tỉnh Lào Cai trong công tác bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử trên địa bàn tỉnh,

6 Đóng góp về khoa học của đề tài

- Thông qua đánh giá khách quan kết quả lãnh đạo bảo tồn, phát huy giá trị các di tích lịch sử của Đảng bộ tỉnh Lào Cai, đề tài sẽ phân tích những thành tựu, hạn chế, nguyên nhân của những thành tựu và hạn chế trong quá trình Đảng bộ tỉnh lãnh đạo bảo tồn, phát huy giá trị các di tích lịch sử tỉnh Lào Cai từ năm 2000 đến năm 2015 Từ đó góp phần làm sáng tỏ thêm quan điểm của Đảng về lãnh đạo bảo tồn, phát huy giá trị các di tích lịch sử

và sự vận dụng sáng tạo của Đảng bộ tỉnh Lào Cai vào điều kiện thực tế của địa phương

- Bước đầu đúc kết một số kinh nghiệm trong quá trình Đảng bộ tỉnh Lào Cai lãnh đạo bảo tồn, phát huy giá trị các di tích lịch sử

- Đề tài sau khi bảo vệ thành công có thể dùng làm tài liệu tham khảo giảng dạy ở Trường Chính trị tỉnh, các trường phổ thông về văn hóa, du lịch

Trang 20

và lịch sử địa phương; phục vụ công tác nghiên cứu, biên soạn lịch sử Đảng

bộ tỉnh Lào Cai thời kỳ đổi mới đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa

7 Kết cấu của Luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận văn được chia làm 3 chương:

Chương 1: Chủ trương và sự chỉ đạo công tác bảo tồn, phát huy giá trị các di tích lịch sử của Đảng bộ tỉnh Lào Cai từ năm 2000 đến năm 2005

Chương 2: Công tác bảo tồn, phát huy giá trị các di tích lịch sử của Đảng bộ tỉnh Lào Cai từ năm 2006 đến năm 2015

Chương 3: Một vài nhận xét và kinh nghiệm

Trang 21

Chương 1 CHỦ TRƯƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO CÔNG TÁC BẢO TỒN, PHÁT HUY GIÁ TRỊ CÁC DI TÍCH LỊCH SỬ CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH LÀO

CAI TỪ NĂM 2000 ĐẾN NĂM 2005 1.1 Những nhân tố tác động đến công tác bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử ở tỉnh Lào Cai

1.1.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội và thực trạng công tác bảo tồn, phát huy các giá trị di tích lịch sử ở tỉnh Lào Cai trước năm 2000

1.1.1.1 Điều kiện tự nhiên – kinh tế, xã hội và truyền thống lịch sử

Về điều kiện tự nhiên, Lào Cai là tỉnh vùng cao biên giới, nằm chính

giữa vùng Đông Bắc và vùng Tây Bắc của Việt Nam, cách Hà Nội 296 km theo đường sắt và 345 km theo đường bộ Tỉnh Lào Cai được tái lập tháng 10/1991 trên cơ sở tách ra từ tỉnh Hoàng Liên Sơn Từ ngày 01/01/2004 (sau khi tách huyện Than Uyên sang tỉnh Lai Châu), diện tích tự nhiên: 6.383,88 km2 (chiếm 2,44% diện tích cả nước, là tỉnh có diện tích lớn thứ 19/63 tỉnh, thành phố cả nước)

Tỉnh Lào Cai giáp nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa với 182,086

km đường biên giới giáp tỉnh Vân Nam (Trung Quốc); phía Nam giáp với tỉnh Yên Bái, phía Đông giáp với tỉnh Hà Giang, phíaTây giáp với tỉnh Lai Châu Lào Cai có điểm cực bắc 22051’, vĩ độ Bắc thuộc xã Pha Long, huyện Mường Khương; điểm cực đông 104038’ kinh đông thuộc xã Vĩnh Tiến, huyện Bảo Yên

Lào Cai là tỉnh có dãy núi và đỉnh núi cao nhất nước ta Điểm thấp nhất của tỉnh thuộc thung lũng sông Hồng ở khu vực làng Thíp (Bảo Yên) khoảng

80 - 90m và cao nhất là đỉnh Phan Xi Păng (Sapa) cao 3143m so với mực

Trang 22

nước biển Toàn tỉnh địa hình phân thành 4 đai cao: thấp hơn 200m, từ 200 - 500m, từ 500 - 1000m, từ 1000 - 1500m

Bên cạnh sự phân hoá đai cao, địa hình Lào Cai còn có tính phân bậc

rõ ràng với 7 bậc Hình thái địa hình có các đặc điểm cơ bản: đặc điểm chia cắt sâu, đặc điểm chia cắt ngang, đặc điểm độ dốc của địa hình, đặc điểm sơn văn

Nằm ở phía Tây Bắc lãnh thổ Việt Nam, Lào Cai mang đặc trưng của khí hậu nhiệt đới nóng ẩm, gió mùa, mùa đông lạnh, biến động mạnh và phân hóa đa dạng Đặc biệt, địa hình có sự chia cắt mạnh tạo nên sự chênh lệch nhiệt độ giữa các vùng tương đối lớn

Với những đặc điểm về địa chất, môi trường tự nhiên, khí hậu khắc nghiệt, biến đổi liên tục theo mùa đã gây ra những tác động lớn đến các di tích chủ yếu được làm từ chất liệu gỗ

Về kinh tế - xã hội, Lào Cai là tỉnh có nhiều tài nguyên để phát triển

kinh tế Tài nguyên đất của tỉnh đa dạng với 30 loại đất chia làm 10 nhóm chính, trong đó có một số nhóm chính có độ phì tự nhiên cao như nhóm đất phù sa, nhóm đất đỏ vàng, nhóm đất mùn vàng đỏ, nhóm đất mùn alit trên núi, nhóm đất đỏ vàng,… Toàn tỉnh có 278.907 ha rừng, chiếm 43,87% tổng diện tích tự nhiên toàn tỉnh, với hệ động thực vật phong phú và có giá trị kinh tế cao Khoáng sản Lào Cai đa dạng, có trữ lượng lớn với 150 điểm quặng và trên 30 loại khoáng sản Tài nguyên nước của Lào Cai tương đối phong phú với hệ thống sông suối dày đặc, phân bố khá đều với hai con sông lớn chảy qua là sông Hồng và sông Chảy

Những tiềm năng trên là điều kiện để Lào Cai khai thác phát triển các ngành kinh tế nông, lâm nghiệp, công nghiệp và dịch vụ Sau 25 năm tái lập tỉnh, kinh tế Lào Cai đã có những bước phát triển vượt bậc Tốc độ tăng

Trang 23

trưởng luôn ở mức 2 chữ số, cao hơn những năm đầu tái lập tỉnh, cao hơn so với mức tăng của cả nước và nhiều địa phương khác Tính đến hết năm 2015, GDP của Lào Cai đạt 18.212.330 triệu đồng [24, tr.15] Sự tăng trưởng này đã giúp Lào Cai dần ra khỏi danh sách các tỉnh nghèo, chậm phát triển của khu vực Đây là những điều kiện để quan tâm đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, tu

bổ, phục hồi các di tích lịch sử ở địa phương

Dân cư, dân tộc, Theo kết quả tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009,

toàn tỉnh Lào Cai có 614.595 người, trong đó dân tộc Kinh chiếm đa số trong tỉnh Lào Cai với 212.528 người Số lượng người Kinh đến từ hơn 40 tỉnh thành trong cả nước Dân tộc Hmông có 146.147 người; Dân tộc Tày có 94.243 người; Dân tộc Dao có 88.379; Dân tộc Giáy có 28.606 người; Dân tộc Nùng có 25.591 người; Dân tộc Phù Lá có 8.926; Dân tộc Hà Nhì có 4.026; Dân tộc Thái có 1.971 người; Dân tộc Bố Y có 1.398; Dân tộc Mường

có 958 người; Dân tộc Hoa có 822 người; Dân tộc La Chí có 619 người [23, tr.23-24]

Có thể nói, ngay từ thời cổ đại, Lào Cai đã là nơi hội tụ của nhiều tộc người Lào Cai là nơi cư trú của 3/4 ngữ hệ lớn của Việt Nam: ngữ hệ Nam Á, ngữ hệ Hán – Tạng, ngữ hệ Thái, với 6/8 nhóm ngôn ngữ của Việt Nam: Việt – Mường, Tày – Thái, Ka Đai, Hmông – Dao, Hán, Tạng – Miến Có 13 dân tộc với 23 nhóm ngành khác nhau Mỗi một dân tộc lại có bản sắc văn hóa riêng; trong cùng một dân tộc nhưng mỗi nhóm, ngành mang một đặc điểm sắc thái riêng tương tự như một tộc người Mặc dù có tộc danh khác nhau, quê quán khác nhau nhưng các dân tộc Lào Cai không xảy ra xung đột về dân tộc, tôn giáo Các đặc điểm trên tạo cho Lào Cai là tỉnh giàu bản sắc văn hóa, đồng thời là nơi thuận lợi cho giao lưu, hội tụ văn hoá

Trang 24

Về truyền thống lịch sử văn hóa, Với vị trí cửa ngõ biên giới phía Bắc

của Tổ quốc, từ xa xưa trong lịch sử, Lào Cai đã là mảnh đất “phên dậu” của đất Đặc điểm này đã tạo nên cho Lào Cai không chỉ có vị trí địa kinh tế, địa chính trị quan trọng mà còn là mảnh đất giàu giá trị lịch sử văn hóa

Sách “Dư địa chí” của Nguyễn Trãi soạn năm 1438 có ghi Hưng Hoá

xưa là bộ Tân Hưng Bộ Tân Hưng là một trong số 15 bộ của nước Văn Lang thời các Vua Hùng Dưới thời Âu Lạc, nước ta được chia thành 17 bộ Vùng phía đông và phía nam Lào Cai thuộc bộ lạc Tây Vu Trong thời kỳ Bắc thuộc, Lào Cai là vùng đất biên giới được cai quản theo chế độ kimi (tức là ràng buộc lỏng lẻo)

Dưới thời phong kiến độc lập, vùng đất Lào Cai nhiều lần được thay đổi về duyên cách và địa lý với các tên gọi: Châu Đăng (thời Lý), huyện Thủy

Vĩ, huyện Văn Bàn thuộc châu Quy Hóa (thời Trần); châu Thủy Vĩ, châu Văn Bàn (thuộc phủ Quy Hóa, thừa tuyên Hưng Hóa (Thời Lê); Châu Thủy Vĩ và Châu Văn Bàn (Thời Nguyễn) Sau khi chiếm đóng được Lào Cai, năm 1907, thực dân Pháp thành lập tỉnh dân sự Lào Cai Tháng 11 năm 1946, khi được giải phóng khỏi sự chiếm đóng của quốc dân Đảng, Lào Cai là một tỉnh thuộc liên khu 10 Thực dân Pháp quay trở lại chiếm đóng Lào Cai, chia Lào Cai

xứ Thái tự trị và xứ Nùng tự trị Ngày 28-1-1953, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh số 134-SL thành lập khu Tây Bắc Lào Cai cùng với các tỉnh Yên Bái, Sơn La, Lai Châu ra nhập khu Tây Bắc

Sau khi thống nhất đất nước, ngày 27/12/1975, Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà khoá V, kỳ họp thứ 2 ra Quyết nghị hợp nhất 3 tỉnh Lào Cai, Yên Bái, Nghĩa Lộ (trừ huyện Bắc Yên và Phù Yên) thành tỉnh Hoàng Liên Sơn

Trang 25

Ngày 12/8/1991, Nghị quyết Quốc hội khoá VIII, kỳ họp thứ 9 ban hành Nghị quyết chia tỉnh Hoàng Liên Sơn thành hai tỉnh mới là tỉnh Lào Cai và tỉnh Yên Bái Ngày 1/10/1991 tỉnh Lào Cai được tái thành lập Sự thay đổi về đơn vị hành chính, gắn liền với đó là sự thay đổi của bộ máy tổ chức chính quyền đã tác động to lớn đến công tác quản lý di tích trên địa bàn tỉnh

Nhân dân các dân tộc Lào Cai rất giàu truyền thống yêu quê hương, đất nước Lịch sử dân tộc đã ghi dấu nhiều chiến công hiển hách của nhân dân biên giới Lào Cai trong việc cản bước quân thù, làm cho kẻ thù phải thất điên bát đảo ngay khi chúng đặt chân vào lãnh thổ như ta như trong kháng chiến chống Mông – Nguyên, kháng chiến chống quân Minh, góp phần quan trọng vào chiến thắng chung của dân tộc Trong thời cận đại, nhân dân các dân tộc Lào Cai đã chiến đấu chống lại thực dân Pháp ngay từ khi chúng đặt chân đến Lào Cai Những cuộc khởi nghĩa do Nguyễn Quang Bích, rồi Giàng Chẩn Dùng, Giàng Chẩn Hùng khởi xướng,… hay những cuộc đấu tranh tự phát của đồng bào các dân tộc ở Ý Tý, Sa Pa,… đã minh chứng cho lòng yêu nước của nhân dân Lào Cai Trong suốt những năm tháng chiến đấu để giải phóng tỉnh nhà, nhân dân các dân tộc Lào Cai đã anh dũng tham gia vào các trận tuyến để chống giặc Sau ngày tỉnh Lào Cai được giải phóng (1/11/1950), nhân dân Lào Cai lại tích cực tham gia tiễu phỉ và phục vụ chiến dịch Điện Biên Phủ Sau năm 1954, nhân dân các dân tộc Lào Cai đoàn kết, thi đua lao động sản xuất xây dựng chủ nghĩa xã hội, vừa chiến đấu chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ, vừa chi viện cho chiến trường miền Nam Rất nhiều người con của Lào Cai đã ngã xuống cho nền độc lập của dân tộc Những trang sử hào hùng của nhân dân các dân tộc Lào Cai minh chứng cho sự có mặt, xây dựng và bảo vệ mảnh đất biên cương của tổ quốc được ghi dấu trong

Trang 26

(nơi thờ Quốc công tiết chế Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn), Đền Quan (nơi thờ Quan Thanh tra Giám sát trong tín ngưỡng thờ Quan Tứ phủ của người Việt), Đền Cấm (Nơi thờ phụng, ghi nhớ công ơn các quan binh đã chết trong cuộc chiến bảo vệ đất nước của quân đội Nhà Trần ở thế kỷ thứ XIII.), Đền Đôi Cô (Nơi thời hai cô người Bắc Ninh tham gia tiếp viện cho nghĩa quân đánh giặc ở vùng Lào Cai bị giặt bắt giết và giạt vào làng Chiềng), Đền ông Hoàng Bảy (nơi thờ ông Hoàng Bảy – một danh tướng triều Nguyễn có công trấn ải vùng đất phía Bắc, được vua Nguyễn tặng danh hiệu “Trấn an hiển liệt” và đền thờ ông được sắc phong là Thần vệ quốc), Đền Trung Đô (Nơi thờ anh em tướng quân Vũ Văn Mật, Vũ Văn Uyên và các thuộc tướng, trong đó có tướng Hoàng Vần Thùng – người dân tộc địa phương); Khu căn

cứ Cách mạng Cam Đường (Đây là nơi Chi bộ Cam Đường, Chi bộ nông thôn đầu tiên được thành lập ngày 10/10/1948), khu căn cứ cách mạng Việt Tiến (vùng cứ địa cách mạng quan trọng của Lào Cai trong cuộc đấu tranh giải phóng tỉnh Lào Cai), Đồn Phố Lu, thành lũy Trung Đô, thành cổ Nghị Lang,…

1.1.1.2 Thực trạng bảo tồn, phát huy giá trị các di tích lịch sử ở Lào Cai trước năm 2000

Việt Nam là một đất nước có truyền thống văn hiến Ngay từ thời xa xưa, cha ông ta đã có ý thức giữ gìn và bảo vệ di sản, cụ thể là di tích Nhà nước phong kiến Việt Nam đã có nhiều đạo luật, sắc phong đối với các di tích1 Tại các làng, xã, hệ thống hương ước, tục lệ đều có những quy định về việc chăm lo xây dựng và bảo vệ các di tích

1

Đền Mẫu ở thành phố Lào Cai đã được các triều đại vua nhà Nguyễn ban cho 3 đạo sắc phong: Tự Đức năm thứ Sáu (ngày 24/9/1853); Tự Đức năm thứ 33 (Ngày 24/11/1880); Khải Định năm thứ 9 (Ngày 25/7/1924)

Trang 27

Xác định tầm quan trọng của công tác giữ gìn, bảo vệ các di tích, ngay sau khi cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, Chủ tịch Hồ Chí Minh

đã ký Sắc lệnh số 65 – SL ngày 23/11/1945 về việc cấm phá hủy đình, chùa, đền, miếu, bia ký, thành quách, lăng mộ và các di tích khác Sắc lệnh của Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ thể hiện sự tôn trọng của Chính phủ đối với lịch

sử, văn hóa của dân tộc mà còn đặt nền móng cho công tác quản lý di tích trên địa bàn cả nước về sau này

Sau khi kháng chiến chống Pháp giành thắng lợi, Chính phủ đã ban hành các chỉ thị, nghi quyết về bảo tồn và phát huy di sản văn hóa Trong đó, phải kể đến Nghị định số 519/TTg ngày 29/10/1957 của Thủ tướng Chính phủ quy định về việc bảo vệ và sử dụng di tích lịch sử văn hóa và danh lam thắng cảnh Đây là văn bản pháp luật đầu tiên quy định về việc động sản, bất động sản tương đối cụ thể

Năm 1980, Hội đồng Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

đã ban hành Pháp lệnh số 14/LCT/HĐNN về bảo vệ di tích lịch sử và danh lam thắng cảnh Pháp lệnh đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho việc bảo vệ, khai thác và sử dụng di tích Trước những yêu cầu của việc bảo vệ và khai thác các di tích lịch sử, văn hóa, ngày 31 tháng 3 năm 1984, Hội đồng Nhà nước ban hành Pháp lệnh “Bảo vệ và sử dụng di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh” Kể từ đây công tác quản lý di tích được thống nhất từ các cấp, bộ, ngành trung ương đến địa phương

Điều 23 Hiến pháp nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm

1992 đã quy định: Nhà nước và xã hội bảo tồn, phát triển các di sản văn hóa dân tộc, chăm lo công việc bảo tồn, bảo tàng, tu bổ, tôn tạo, bảo vệ các di tích lịch sử cách mạng, các di sản văn hóa, các công trình nghệ thuật, các danh lam thắng cảnh Nghiêm cấm mọi hành động xâm phạm đến di tích lịch sử

Trang 28

cách mạng, các công trình nghệ thuật và danh thắng Điều này, thể hiện sự quan tâm của nhà nước tới công tác quản lý di tích và khẳng định vai trò của

di tích lịch sử, văn hóa trong đời sống văn hóa, xã hội của đất nước

Đối với tỉnh Lào Cai, là một địa phương nằm ở khu vực biên giới, với truyền thống lịch sử văn hóa như đã nói ở trên, Lào Cai có nhiều di tích lịch

sử cần được bảo tồn và phát huy Trên địa bàn Lào Cai, từ thời phong kiến, một số di tích đã được nhà nước phong kiến ban sắc phong như Đền Mẫu ở phường Lào Cai hiện nay, đền thờ ông Hoàng Bẩy ở Bảo Hà, các đền thờ khác cũng có lịch sử tồn tại từ 200 năm trở lên trên địa bàn tỉnh Các di tích lịch sử cách mạng như khu du kích Cam Đường, khu căn cứ cách mạng Việt Tiến, khu di tích Pú Gia Lan… được ra đời trong thời kỳ đấu tranh giải phóng tỉnh Lào Cai Tuy nhiên, sau khi giải phóng miền nam, thống nhất đất nước không lâu, đầu năm 1979, chiến tranh biên giới xảy ra, toàn bộ các cơ quan đầu não của Lào Cai phải di chuyển về đóng tại Yên Bái, dân cư cũng di tản về xuôi rất nhiều Do đó, công tác bảo tồn và phát huy giá trị các di tích chưa được chú trọng Hầu hết các di tích đều trong tình trạng xuống cấp trầm trọng, thậm chí có di tích bỏ hoang, không có người coi giữ Trong suốt những năm cùng chung sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Hoàng Liên Sơn, công tác quản lý di tích chưa thực sự được quan tâm Bởi rất nhiều vấn đề cấp thiết như hàn gắn vết thương chiến tranh, khôi phục kinh tế, cải thiện đời sống nhân dân cần được Đảng bộ Hoàng Liên Sơn ưu tiên tập trung thực hiện

Ngày 12 tháng 8 năm 1991, Quốc hội chia tách lại tỉnh Hoảng Liên Sơn thành tỉnh Yên Bái và tỉnh Lào Cai Ngày 01 tháng 10 năm 1991, tỉnh Lào Cai được tái lập và đi vào hoạt động Kể từ đây công tác bảo tồn và phát huy giá trị các di tích được thực hiện theo sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Lào Cai Ngay khi mới tái lập, Đảng bộ tỉnh Lào Cai đã xác định: “Công tác văn hóa, thông tin cần quán triệt tinh thần giữ gìn và phát huy những bản sắc văn hóa dân tộc,

Trang 29

tiếp thu văn hóa hiện đại, phù hợp với trình độ dân trí của nhân dân để xây dựng cuộc sống văn hóa vừa phong phú, vừa lành mạnh” [151, tr.234] Trong bối cảnh thực trạng đời sống còn nhiều khó khăn, rất nhiều vấn đề kinh tế, xã hội bức xúc đang đặt ra, đòi hỏi Đảng bộ tỉnh phải giải quyết, những chủ trương trên về lĩnh vực văn hóa đã cho thấy sự quan tâm của Đảng bộ tỉnh Lào Cai tới công tác phát triển văn hóa nói chung và quản lý di tích nói riêng

Đặc biệt, trong giai đoạn này, Chính phủ ban hành Quyết định số 25/QĐ-TTg ngày 19/01/1993 về một số chính sách nhằm xây dựng và đổi mới sự nghiệp văn hóa, nghệ thuật Điều 2 của Quyết định nêu rõ: Đầu tư 100% kinh phí cho việc tu bổ, tôn tạo các di tích cách mạng, những di tích gắn với quá trình hoạt động của Đảng và cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc

Hỗ trợ một phần kinh phí và huy động mọi nguồn lực, kể cả thu hút viện trợ

và vốn đầu tư của nước ngoài để gìn giữ tôn tạo các di tích lịch sử văn hoá khác, kể cả các công trình mang tính chất tôn giáo đã được công nhận là di tích lịch sử văn hoá

Tại buổi làm việc giữa Thủ tướng Võ Văn Kiệt và Bộ Văn hóa Thông tin, Thủ tướng đã nhấn mạnh: Các di tích lịch sử phản ảnh truyền thống đấu tranh dựng nước và giữ nước anh hùng của nhân dân ta là những biểu hiện cụ thể bản sắc văn hóa của dân tộc Việt Nam Đồng thời là một bộ phận di sản văn hóa của nhân loại Từ khi Đảng ta ra đời, lãnh đạo nhân dân tiến hành các cuộc cách mạng, có thêm các di tích cách mạng và di tích kháng chiến Chính vì vậy, việc bảo tồn, bảo tàng các di tích là sự nghiệp chung của nhà nước của của toàn xã hội, từ thế hệ này sang thế hệ khác Bộ Văn hóa Thông tin chịu trách nhiệm hoàn chỉnh hồ sơ của từng di tích, xây dựng quy hoạch bảo tồn, tôn tại các di tích đã được công nhận,…… Trước hết, cần cấp kinh phí cho việc hoàn chỉnh hồ sơ di tích và xây dựng quy hoạch

Trang 30

ương quản lý, bảo vệ, bảo tồn, tôn tạo di tích trên đia phương mình bằng sức người, sức của tại địa phương

Thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Văn hóa Thông tin

đã xây dựng và tổ chức triển khai Chương trình mục tiêu quốc gia về chống xuống cấp và tôn tạo các di tích lịch sử văn hóa ở Việt Nam Có thể nói, chương trình này là “liều thuốc” làm hồi sinh lại các di tích lịch sử văn hóa ở các địa phương, trong đó có Lào Cai

Liên tiếp trong các năm từ 1993 đến 1998, Bộ Văn hóa Thông tin có hướng dẫn chi tiết, cụ thể về việc xây dựng thủ tục, xây dựng hồ sơ, xây dựng dự toán đối với các di tích và hoạt động tu bổ, tôn tạo di tích Bộ Văn hóa Thông tin cũng đã chỉ rõ việc xây dựng hồ sơ di tích không đơn thuần

là thủ tục hành chính mà là một mặt hoạt động khoa học nghiêm túc có giá trị và có tác dụng không chỉ cho hiện tại mà trong tương lai lâu dài Đồng thời Bộ cũng đề nghị các địa phương triển khai việc quy hoạch bảo tồn di tích trong toàn tỉnh, lên danh mục di tích cần bảo vệ, phân loại di tích; hướng dẫn cụ thể các bước lập dự toán, xây dựng kinh phí trùng tu, tôn tạo

di tích,…

Tại Hội nghị lần thứ 4, Ban chấp hành Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam khóa VIII (tháng 7/1998) đã ban hành Nghị quyết số 03 về Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc Nghị quyết

đã chỉ rõ: “Di sản vǎn hóa là tài sản vô giá, gắn kết cộng đồng dân tộc, là cốt lõi của bản sắc dân tộc, cơ sở để sáng tạo những giá trị mới và giao lưu vǎn hóa Hết sức coi trọng bảo tồn, kế thừa, phát huy những giá trị vǎn hóa truyền thống (bác học và dân gian), vǎn hóa cách mạng, bao gồm cả vǎn hóa vật thể

và phi vật thể” [32, tr 4] Di sản văn hóa không chỉ nhằm thỏa mãn nhu cầu tinh thần của nhân dân, góp phần khẳng định niềm tự hào dân tộc, mà còn là

Trang 31

nguồn lực để phát triển kinh tế - xã hội Giáo dục truyền thống yêu nước và cách mạng qua hệ thống các di sản văn hóa có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với thế hệ trẻ hiện nay Vì vậy, việc đầu tư cho bảo tồn, tôn tạo các di tích lịch

sử văn hóa, nâng cao trách nhiệm của nhân dân đối với việc bảo vệ và phát huy vai trò của di sản văn hóa dân tộc là công việc vừa cơ bản, vừa cấp bách, cần phải được tiến hành nghiêm túc, kiên trì và thận trọng

Sau 5 năm tái lập tỉnh, từ ngày 02 đến ngày 04 tháng 5 năm 1996, Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh Lào Cai lần thứ XI được tổ chức Đại hội đã khẳng định: “… Xây dựng tỉnh Lào Cai ổn định về chính trị, vững mạnh về an ninh quốc phòng, kinh tế phát triển, quan hệ xã hội lành mạnh, có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” [31, tr.523]

Tỉnh ủy đã ban hành nhiều văn bản nhằm cụ thể hóa nội dung NQTW5 (khóa VIII) phù hợp với đặc thù của tỉnh như: Kế hoạch số 04-KH/TU ngày 4/10/1998, Chương trình hành động số 12-CT/TU, ngày 04/10/1998 triển khai thực hiện NQTW5( khoá VIII)…Tại Lào Cai, các hoạt động trùng tu, tôn tạo

di tích được triển khai tích cực và hiệu quả Sau 10 năm tái lập tỉnh, với sự chỉ đạo sát sao, sự quan tâm đầu tư về nhân lực, vật lực của Tỉnh ủy, UBND tỉnh Lào Cai, toàn tỉnh đã có 3 di tích được xếp hạng di tích cấp Quốc gia là: Di tích lịch sử văn hóa Đền Thượng, di tích lịch sử văn hóa Đền Bảo Hà, di tích lịch sử cách mạng khu căn cứ cách mạng Cam Đường.2

Tỉnh ủy, UBND tỉnh đã chỉ đạo ngành Văn hóa, Thông tin của tỉnh tổ chức khoanh vùng di tích, phối hợp với Sở Công nghiệp tỉnh xây dựng bản đồ khu vực cấm hoạt động khoáng sản Năm 1997, tỉnh đã giao cho ngành Văn

2 Di tích Đền Thượng được Bộ Văn hóa Thông tin Quyết định công nhận là di tích lịch sử văn hóa cấp Quốc gia theo Quyết định số 1460/QĐ/VH ngày 28/6/1996; Di tích lịch sử cách mạng Khu căn cứ cách mạng Cam Đường được Bộ Văn hóa Thôn g tin xếp hạng theo Quyết định số 1568/QĐ/VH ngày 20/7/.1994; Di tích lịch

sử văn hóa Đền Bảo Hà được Bộ Văn hóa Thông tin công nhận là di tích cấp quốc gia theo Quyết định số

Trang 32

hóa, Thông tin tổ chức triển khai việc xây dựng nhà trưng bày tại khu căn cứ

du kích cách mạng Cam Đường, triển khai thực hiện dự án tu bổ, tôn tạo khu

di tích Đền Thượng, lập phương án bảo vệ Đền Mẫu và tường Lưu Vĩnh Phúc [156, tr.2]

Như vậy, sau 10 năm tái lập tỉnh, với sự quan tâm chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh, công tác bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử trên địa bàn tỉnh Lào Cai bước đầu được đầu tư và có một số kết quả đáng kể Đây là tiền đề quan trọng để hoạt động bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử ở Lào Cai tiếp tục có những bước phát triển cao hơn trong thế kỷ XXI

1.1.2 Chủ trương, chính sách của Đảng và nhà nước

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng họp vào thời điểm có ý nghĩa trọng đại Thế kỷ XX đã kết thúc, thế kỷ XXI vừa bắt đầu Toàn Đảng, toàn dân ta đã trải qua 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội lần thứ VIII của Đảng, 10 năm thực hiện Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế - xã hội 1991

- 2000 và 15 năm đổi mới

Trên cơ sở đánh giá các kết quả đã đạt được trong Đại hội VIII, Đại hội

đã đề ra phương hướng nhiệm vụ trong 5 năm 2001 – 2005, đối với lĩnh vực văn hóa, Đại hội nhấn mạnh:

“Xây dựng nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc vừa là mục tiêu vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội Mọi hoạt động văn hoá nhằm xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện về chính trị, tư tưởng, trí tuệ, đạo đức, thể chất, năng lực sáng tạo, có ý thức cộng đồng, lòng nhân ái, khoan dung, tôn trọng nghĩa tình, lối sống có văn hoá, quan hệ hài hoà trong gia đình, cộng đồng và xã hội Văn hoá trở thành nhân tố thúc đẩy con người tự hoàn thiện nhân cách, kế thừa truyền thống

Trang 33

cách mạng của dân tộc, phát huy tinh thần yêu nước, ý chí tự lực, tự cường xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

Tăng nhanh mức đầu tư của Nhà nước và của xã hội cho sự nghiệp phát triển văn hoá Tạo điều kiện để nhân dân ngày càng nâng cao trình độ thẩm

mỹ và thưởng thức nghệ thuật, trở thành những chủ thể sáng tạo văn hoá, đồng thời hưởng thụ ngày càng nhiều các thành quả văn hoá Nâng cao chất lượng hệ thống bảo tàng lịch sử, bảo tàng cách mạng; đẩy mạnh xây dựng thư viện, nhà văn hoá, nhà thông tin, câu lạc bộ sức khoẻ, sân bãi thể dục thể thao, khu vui chơi giải trí Bảo tồn và phát huy các di sản văn hoá dân tộc, các giá trị văn học, nghệ thuật, ngôn ngữ, chữ viết và thuần phong mỹ tục của các dân tộc; tôn tạo các di tích lịch sử, văn hoá và danh lam thắng cảnh; khai thác các kho tàng văn hoá cổ truyền Tiếp thu tinh hoa và góp phần làm phong phú thêm nền văn hoá của nhân loại Đấu tranh chống sự xâm nhập của văn hoá

độc hại” [33, tr.45]

Đồng thời, Đại hội cũng đề ra chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm 2001 – 2010 với những định hướng cụ thể cho từng lĩnh vực, trong đó, lĩnh vực bảo tồn và phát huy di sản được nhấn mạnh: “Chú trọng gìn giữ, phát triển các di sản văn hoá phi vật thể, tôn tạo và quản lý tốt các di sản văn hoá vật thể, các di tích lịch sử; nâng cấp các bảo tàng Phát triển mạng lưới thư viện, hiện đại hoá công tác thư viện, lưu trữ Xây dựng các công

trình văn hoá, các khu vui chơi công cộng” [35, tr.6]

Quán triệt những quan điểm, đường lối của Đảng, để bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa, đáp ứng nhu cầu về văn hóa ngày càng cao của nhân dân, góp phần xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc và đóng góp vào kho tàng di sản văn hóa thế giới;

để tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước, nâng cao trách nhiệm của nhân

Trang 34

dân trong việc tham gia bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa, ngày 29/6/2001, Quốc Hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ban hành Luật Di sản Văn hóa Luật Di sản Văn hóa gồm 7 chương, 74 điều Luật đã khẳng định “Di sản văn hóa Việt Nam là tài sản quý giá của cộng đồng các dân tộc Việt Nam và là một bộ phận của di sản văn hóa nhân loại,

có vai trò to lớn trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước của nhân dân ta” [61, tr.1] Luật Di sản Văn hóa đã đưa ra những khái niệm cơ bản về lĩnh vực

di tích như: “di tích lịch sử văn hóa”, “bảo quản di tích lịch sử văn hóa”, “tu

bổ di tích lịch sử văn hóa”, “phục hồi di tích lịch sử văn hóa” Đồng thời, Luật

Di sản văn hóa cũng đưa ra những quy định cụ thể về công tác bảo tồn và phát huy di tích lịch sử văn hóa trêm các mặt: tiêu chí của di tích lịch sử văn hóa; cách phân chia di tích; trình tự, thủ tục xếp hạng di tích; trình tự thủ tục tu bổ, phục hồi di tích; khu vực bảo vệ di tích; nội dung về quản lý di tích, nguồn tài chính phục vụ bảo vệ và phát huy di tích

Luật Di sản Văn hóa là cơ sở pháp lý quan trọng để tổ chức và triển khai các hoạt động về bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử Để hướng dẫn thi hành Luật Di sản Văn hóa, ngày 11 tháng 11 năm 2002, Chính phủ ban hành Nghị định số 92/2002/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Di sản Văn hóa Nghị định đã cụ thể hóa các khái niệm di sản văn hóa vật thể; cách phân loại di tích; cách xếp loại di tích cấp tỉnh, cấp quốc gia

và quốc gia đặc biệt; quy định về việc lập hồ sơ di tích, khoanh vùng bảo vệ

di tích,

Cũng trong thời gian này, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 71/2001/QĐ-TTg ngày 04/5/2001 về các chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2001 – 2005 Trong đó, có Dự án chống xuống cấp và tôn tạo các di tích lịch sử, cách mạng và kháng chiến Đây là nguồn lực quan trọng để các địa phương tu bổ và phục hồi các di tích

Trang 35

Nhằm đưa công tác bảo tồn, phát huy giá trị các di tích lịch sử thực sự được triển khai sâu rộng và có hiệu quả, Bộ Văn hóa Thông tin đã ban hành Quyết định số 1706/QĐ-BVHTT ngày 24/7/2001 của Bộ trưởng Bộ Văn hóa Thông tin phê duyệt quy hoạch tổng thể bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch

sử - văn hóa và danh lam thắng cảnh đến năm 2030 Văn bản này đã thể hiện

rõ quan điểm bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lích sử văn hóa là phải đảm bảo tính trung thực của lịch sử hình thành di tích, không được làm sai lệch các giá trị và đặc điểm vốn có của di tích, phải giữ gìn nguyên vẹn, không làm biến đổi những yếu tố cấu thành của di tích, đảm bảo tính nguyên gốc của di tích; Bảo tồn phải gắn với phát huy giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể của di tích, với sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, sự phát triển của các ngành hữu quan nhất là các ngành du lịch, giao thông công chính, xây dựng,… ; Tạo lập sự hài hòa giữa phát triển kinh tế, quá trình đô thị hóa với bảo vệ các di tích; ngăn chặn tình trậng lấn chiếm đất đai và xây dựng các công trình không phù hợp trong các khu vực bảo vệ di tích; nâng cao vai trò quản lý của Nhà nước,thực hiện xã hội hóa hoạt động bảo tồn và phát huy giá trị các di tích Huy động tối đa các nguồn lực trong và ngoài nước, nâng cao nhận thức và sự tham gia đóng góp của toàn xã hội trong việc quản lý, bảo tồn và phát huy giá trị di tích

Bản Quy hoạch đã đề ra mục tiêu bảo tồn và phát huy giá trị di tích đến năm 2020 là: Giữ gìn nguyên vẹn và đầy đủ các di tích đã và đang được xếp hạng, không để xuống cấp, tổn thất hoặc bị hủy hoại; Nâng cao nhận thức, phát huy các giá trị của di tích trong việc giáo dục truyền thống lịch sử, văn hóa và truyền thống văn hiến của dân tộc cho nhân dân, đặc biệt là thế hệ trẻ, ; Trong điều kiện cho phép, các di tích cần được tu bổ, tôn tạo một cách hoàn chỉnh với tư cách là một sản phẩm du lịch có giá trị phục vụ chiến lược

Trang 36

cường công tác quản lý nhà nước về di tích theo hướng mở rộng quá trình xã hội hóa, thu hút sự tham gia rộng rãi của nhân dân vào việc bảo vệ và phát huy di tích, gắn quản lý nhà nước bằng Pháp luật

Trong tu bổ, chống xuống cấp di tích, khi thực hiện việc tu bổ, chống xuống cấp các công trình di tích phải lập dự án trên cơ sở nghiên cứu, khảo sát, đánh giá toàn diện các giá trị di tích gốc Tôn trọng và giữ gìn bằng mọi biện pháp các thành tố nguyên gốc của di tích, hạn chế tối đa mọi sự thay thế, nhất là thay thế bằng các chất liệu và vật liệu mới Giải pháp ưu tiên là bảo quản, gia cố và tu bổ di tích Trong tu bổ, chống xuống cấp di tích ưu tiên vận dụng các quy trình và các kỹ thuật thi công truyền thống, sử dụng các chất liệu và vật liệu truyền thống phù hợp với di tích Việc tu bổ chống xuống cấp di tích phải tuân thủ quy trình sau: nghiên cứu tư liệu và khảo sát hiện trạng – xây dựng dự án và thiết kế kỹ thuật, dự toán, thẩm định, phê duyệt – thi công dưới sự giám sát của nhà chuyên môn và duy trì nhật ký công trình – nghiệm thu – hoàn chỉnh hồ sơ tu bổ

Đối với hoạt động tôn tạo di tích, tạo điều kiện làm nổi bật các mặt giá trị của di tích và tạo ra môi trường cảnh quan hài hòa với di tích đó Quy hoạch tuyến đường tham quan, đi lại trong khu di tích phải phù hợp với tính chất lịch sử của di tích Các công trình phụ trợ được phép xây dựng nhưng phải nằm ngoài khu vực bảo vệ di tích bảo gồm nhà trưng bày

bổ sung di tích, nhà tiếp khách và nhà ban quản lý

Sử dụng và khai thác di tích trước hết vì lợi ích của toàn xã hội Khuyến khích các hoạt động sử dụng và khai thác di tích nhằm phát huy truyền thống tốt đẹp của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, xây dựng giá trị văn hóa mới, làm giàu kho tàng di sản văn hóa Việt Nam, góp phần mở rộng giao lưu văn hóa với các nước Khuyến khích việc sử dụng và khai thác di

Trang 37

tích để phục vụ nhu cầu du lịch văn hóa, giải trí lành mạnh của nhân dân Bài trừ các hủ tục và chống các biểu hiện tiêu cực, thương mại hóa trong sử dụng

và khai thác di tích; Khuyến khích sử dụng di tích theo đúng công năng lúc khởi dựng Trường hợp cần thiết có thể sử dụng một hạng mục trong di tích vào các chức năng khác nhưng không được làm biến đổi cơ cấu không gian cũng như nội thất của di tích

Văn bản này cũng đề cập đến việc đổi mới cơ chế, chính sách, chế độ quản lý di tích Về phân cấp quản lý di tích, đối với các di tích quốc gia và di tích cấp tỉnh, tùy vào tình hình cụ thể ở địa phương mà thành lập các tổ chức quản lý sau: Các di tích có giá trị, yêu cầu chuyên môn cao thì có thể thành lập Ban Quản lý trực thuộc Bảo tàng hoặc Ban quản lý di tích tỉnh, thành phố; Các di tích khác do ủy ban nhân dân xã, phường ra quyết định thành lập Ban quản lý; Cần quan tâm đào tạo cán bộ quản lý và thực hiện tu bổ, tôn tạo di tích; Đối với công tác xã hội hóa công tác tu bổ và tôn tạo các di tích: Tăng cường tuyên truyền, nâng cao ý thức tông trọn, bảo tồn và phát huy các di tích trong mọi tầng lớp nhân dân, đặc biệt trong thanh thiếu niên, coi đây là biện pháp cực kỳ quan trọng trong có ý nghĩa lâu dài trong bảo tồn di sản văn hóa dân tộc Ban hành chính sách khuyến khích nhân dân tham gia vào sự nghiệp bảo tồn di sản văn hóa Khắc phục tư tưởng bảo cấp trong nhân dân đối với việc bảo vệ và tu bổ, tôn tạo di tích, đặt di tích vào các thiết chế văn hóa xã hội truyền thống xóm làng, thực hiện nhân dân có quyền quản lý, bảo vệ và tham gia đóng góp tu bổ di tích

Đây là những định hướng căn bản cho các địa phương tổ chức triển khai và thực hiện công tác bảo tồn, phát huy giá trị các di tích lịch sử

Ngày 30 tháng 8 năm 2001, Bộ Văn hóa Thông tin đã ban hành Kế hoạch số 3483/VHTT-KH về kế hoạch phát triển sự nghiệp văn hóa thông tin

Trang 38

5 năm 2001 – 2005 Trong đó có nêu: Các di tích được xếp hạng được tu bổ chống xuống cấp… cần được coi là thiết chế văn hóa gắn trực tiếp với đời sống tâm linh của nhân dân được Nhà nước bảo vệ, duy trì, tồn tại và phát triển Đây là những định hướng cụ thể trong giai đoạn 5 năm đối với công tác bảo tồn, phát huy giá trị các di tích ở các địa phương

Ngày 16/10/2002, Bộ Văn hóa Thông tin đã ban hành Quyết định số 3145/QĐ-BVHTT về việc xây dựng đề án “phát triển văn hóa thông tin 6 tỉnh đặc biệt khó khăn miền núi phía Bắc” Văn bản này đã thể hiện thêm một bước sự quan tâm của Trung ương đối với các tỉnh khu vực miền núi Đây là những nguồn lực quan trọng được đầu tư cho tôn tạo, phục hồi các di tích

Ngày 18 tháng 12 năm 2002, Thủ tướng Chính phủ đã ra chỉ thị số 05/2002/CT-TTg về việc tăng cường các biện pháp bảo vệ cổ vật trong di tích

và ngăn chặn đào bới, trục với trái phép cổ vật Thủ tướng yêu cầu các các địa phương tập trung chỉ đạo ngay một số công việc: tăng cường kiểm tra, thanh tra, bảo vệ, trùng tu, tôn tạo và phát huy các di tích,

Quyết định số 05/2003/QĐ-BVHTT ngày 06/02/2003 của Bộ Văn hóa Thông tin về việc ban hành Quy chế bảo quản, tu bổ và phục hồi di tích lịch sử,danh lam thắng cảnh Quy chế này đã đưa ra các bước tiến hành công tác bảo quản, tu bổ và phục hồi di tích lịch sử Tạo điều kiện cho các địa phương thực hiện công tác tu bổ và tôn tạo di tích Đây là những hướng dẫn nghiệp vụ

cụ thể để các thực hiện công tác tu bổ tôn tạo di tích

Ngày 17 tháng 6 năm 2003, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 124/2003/QĐ-TTg phê duyệt Đề án bảo tồn, phát triển văn hóa các dân tộc Việt Nam Nội dung bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa truyền thống của các dân tộc thiểu số có hoạt động điều tra, khảo sát, thống kê, quản lý, trùng tu các di tích lịch sử, di tích cách mạng, di tích văn hóa… vùng dân tộc thiểu số

Trang 39

Hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật, các đề án, quy hoạch, hướng dẫn trên đã cho thấy sự quan tâm của Đảng và nhà nước tới công tác bảo tồn

Từ ngày 26 đến ngày 29 tháng 12 năm 2000, Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh Lào Cai lần thứ XII nhiệm kỳ 2000 – 2005 đã diễn ra thành công tốt đẹp Đây là Đại hội bản lề của thế kỷ mới, đại hội đánh dấu 15 năm tiến hành thực hiện Đường lối Đổi mới của Đảng cộng sản Việt Nam và 10 năm tái lập tỉnh Lào Cai Đại hội đã tiến hành tổng kết, đánh giá việc quả thực hiện các nhiệm

vụ, mục tiêu của nhiệm kỳ trước và đề ra phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ cho nhiệm kỳ tới

Báo cáo chính trị của Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh khóa XI trình Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XII đã đưa ra định hướng phát triển văn hóa giai đoạn 2001 – 2005 là: “Đẩy mạnh xây dựng văn hóa Lào Cai tiên tiến đậm

đà bản sắc dân tộc, hướng và xây dựng làng, bản văn hóa, xây dựng con người có tinh thần yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, có ý thức tự lực tự cường,

có trách nhiệm cao trong lao động, có lương tâm nghề nghiệp, có tác phong

Trang 40

công nghiệp; khai thác và phát huy vốn văn hóa, thể thao truyền thống và không ngừng nâng cao mức hưởng thụ văn hóa cho nhân dân” [28, tr.38]

Đặc biệt tỉnh cũng đưa ra giải pháp cụ thể: “… Nghiên cứu xây dựng nhà truyền thống ở tỉnh, huyện để có cơ sở giáo dục truyền thống quê hương, bảo tồn tinh hoa của các dân tộc” [27, tr.48]

Những chủ trương trên đã được Đảng bộ tỉnh Lào Cai cụ thể hóa thành

chương trình số 4“Chương trình phát triển văn hóa - giáo dục, khoa học,

công nghệ, môi trường và xã hội” và Đề án số 15 “Đề án bảo tồn khai thác, phát triển bản sắc văn hoá các dân tộc Lào Cai”

Tổng kết 5 năm thực hiện Nghị quyết trung ương 5 khóa VIII trên địa bàn tỉnh, Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy đã chỉ đạo “…… phải coi trọng bản sắc văn hóa các dân tộc trên cơ sở khảo sát, kiểm kê, phải có dự án, chương trình nhằm chấn hưng nền văn hóa của tỉnh Lào Cai” [ 29, tr.78]

Quán triệt và vận dụng các nội dung chỉ đạo trong Kết luận Hội nghị lần thứ X Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa IX) về tiếp tục thực hiện Nghị quyết TW 5 khóa VIII về “xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”, Tỉnh ủy Lào Cai đã xây dựng Chương trình hành động số 62-Ctr/TU của BCH Đảng bộ tỉnh Lào Cai về việc tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương V khóa VIII về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc Chương trình đã đề ra mục tiêu, nhiệm vụ trọng tâm tiếp tục xây dựng và phát triển văn hóa đến năm

2010 là “Tiếp tục đẩy mạnh công tác bảo tồn, kế thừa và phát huy mạnh mẽ tính đa dạng, bản sắc độc đáo của văn hóa các dân tộc trong tỉnh” [29, tr.293] Nhiệm vụ cụ thể là “Tăng cường công tác chỉ đạo thực hiện hoàn thành Đề án bảo tồn và phát huy di sản văn hóa các dân tộc Lào Cai Cần đẩy nhanh tiến

độ sưu tầm, khai thác di sản văn hóa vật thể và phi vật thể Có kế hoạch bảo

Ngày đăng: 10/11/2019, 23:42

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w