1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Mô hình sinh kế trên sóng truyền hình địa phương (khảo sát đài PT TH hải phòng và đài PT TH tuyên quang từ tháng 4 2016 đến tháng 4 2017)

135 76 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 135
Dung lượng 2,47 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Các nghiên cứu về vai trò của báo chí với phát triển bền vững: Trên lĩnh vực Báo chí học trong nước, có nhiều công trình nghiên cứu, nhiều bài báo, tạp chí về vai trò của báo chí đ

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

NGUYỄN PHÖC LẬP

MÔ HÌNH SINH KẾ TRÊN SÓNG TRUYỀN HÌNH ĐỊA PHƯƠNG

(Khảo sát: Đài Phát thanh - Truyền hình Hải Phòng và

Đài Phát thanh - Truyền hình Tuyên Quang

từ tháng 4/2016 đến tháng 4/2017)

LUẬN VĂN THẠC SĨ BÁO CHÍ HỌC

Hà Nội - 2017

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

NGUYỄN PHÚC LẬP

MÔ HÌNH SINH KẾ TRÊN SÓNG TRUYỀN HÌNH ĐỊA PHƯƠNG

(Khảo sát: Đài Phát thanh - Truyền hình Hải Phòng và Đài Phát thanh - Truyền hình Tuyên Quang

từ tháng 4/2016 đến tháng 4/2017)

LUẬN VĂN THẠC SĨ BÁO CHÍ HỌC

Chuyên ngành : Báo chí học

Mã số : 60 32 01 01

Người hướng dẫn khoa ho ̣c: TS.Bùi Chí Trung

Hà Nội - 2017

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Luận văn này là công trình nghiên cứu độc lập của tác giả dưới sự hướng dẫn khoa học của Tiến sĩ Bùi Chí Trung Đề tài luận văn không trùng lặp với bất kỳ công trình nghiên cứu nào đã công bố trong và ngoài nước Các số liệu, thông tin trong luận văn có nguồn gốc rõ ràng, tin cậy và được trích dẫn theo quy định về khoa học Các kết quả nghiên cứu của luận văn chưa từng được công bố ở bất kỳ công trình nghiên cứu nào Tác giả là người duy nhất chịu hoàn toàn trách nhiệm về nội dung của luận văn!

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Luận văn này được hoàn thành, trước hết, bằng sự nỗ lực và nghiêm túc trong nghiên cứu của tác giả, nhưng không thể không kể đến sự giúp đỡ, hướng dẫn nhiệt tình, trách nhiệm của rất nhiều người Những sự giúp đỡ và hướng dẫn đó giúp tác giả hoàn thành được luận văn đúng tiến độ và đóng góp vào hoạt động nghiên cứu chung về sinh kế Tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc và trân trọng tới:

Các thầy, cô giáo Khoa Báo chí và Truyền thông (Trường ĐH Khoa học Xã hội và Nhân văn, ĐH Quốc gia Hà Nội) đã hướng dẫn, chỉ bảo và cung cấp kiến thức để bản thân nâng cao trình độ nghiệp vụ về báo chí, nhất là phát thanh, truyền hình trong suốt thời gian qua

Đặc biệt, xin được chân thành cảm ơn TS Bùi Chí Trung - người đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này!

Lãnh đạo cơ quan Đài Phát thanh và Truyền hình Hải Phòng, Đài Phát thanh và Truyền hình Tuyên Quang cùng các đồng nghiệp, bạn bè và người thân đã tạo điều kiện giúp đỡ, góp ý, động viên tôi trong suốt khóa học và thời gian nghiên cứu luận văn

Trong khuôn khổ một luận văn, do sự giới hạn về thời gian và kinh nghiệm nên không tránh khỏi những thiếu sót Vì vậy, tác giả rất mong nhận được những ý kiến đóng góp quý báu của các thầy cô và các bạn!

Trang 5

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: LÝ THUYẾT CHUNG VỀ TRUYỀN THÔNG PHÁT TRIỂN, TRUYỀN HÌNH ĐỊA PHƯƠNG VÀ VĂN HÓA VÙNG TRONG TRUYỀN THÔNG VỀ MÔ HÌNH SINH KẾ 13

1.1 Các khái niệm liên quan 13

1.2 Truyền thông phát triển về các mô hình sinh kế 17

1.2.1 Lý thuyết về truyền thông phát triển 17

1.2.2 Các mô hình truyền thông cho hoạt động phát triển sinh kế bền vững và phương thức thể hiện trên truyền hình 21

1.3 Truyền hình địa phương với vấn đề truyền thông về mô hình sinh kế 24

1.4 Văn hóa vùng với truyền thông về mô hình sinh kế 27

1.5 Đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước về sinh kế và truyền thông về mô hình sinh sinh kế 30

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 34

CHƯƠNG 2: TRUYỀN THÔNG VỀ MÔ HÌNH SINH KẾ TRÊN SÓNG TRUYỀN HÌNH ĐỊA PHƯƠNG 35

2.1 Giới thiệu chung về Đài PT - TH Hải Phòng, Đài PT - TH Tuyên Quang 35

2.1.1 Đài PT - TH Hải Phòng 35

2.1.2 Đài Phát thanh và truyền hình Tuyên Quang 42

2.2 Thực trạng truyền thông về mô hình sinh kế trên sóng truyền hình địa phương48 2.2.1 Về số lượng, thời lượng, tần xuất nội dung 48

2.2.2 Về nội dung 50

2.2.3 Về hình thức thể hiện 68

2.3 Các mô hình truyền thông phát triển sinh kế trên truyền hình địa phương 77

2.4 Đánh giá chung 80

2.4.1 Thành công 80

2.4.2 Hạn chế 81

TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 84

Trang 6

CHƯƠNG 3: ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ TRUYỀN THÔNG VỀ MÔ HÌNH SINH KẾ TRÊN SÓNG TRUYỀN HÌNH

ĐỊA PHƯƠNG 85

3.1 Những giải pháp chung cho Đài PT - TH Tuyên Quang và Đài PT - TH Hải Phòng 85

3.1.1 Cơ sở vật chất, trang thiết bị 85

3.1.2 Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực 87

3.1.3 Đổi mới nội dung, hình thức thể hiện thông tin 89

3.1.4 Nâng cao vị thế và tính tương tác với công chúng của Đài PT - TH Tuyên Quang và Đài PT - TH Hải Phòng 90

3.2 Những giải pháp cụ thể nâng cao hiệu quả truyền thông về mô hình sinh kế 91

3.2.1 Nâng cao trình độ, năng lực và tính chuyên nghiệp của phóng viên, biên tập viên phụ trách truyền thông về mô hình sinh kế 91

3.2.2 Đổi mới nội dung, hình thức thể hiện thông tin về mô hình sinh kế 92

3.2.3 Hướng đến những yêu cầu, đòi hỏi mới của công chúng 94

3.2.4 Vai trò của tỉnh Tuyên Quang và thành phố Hải Phòng trong việc phát triển các mô hình sinh kế 94

TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 97

KẾT LUẬN 98

TÀI LIỆU THAM KHẢO 100

Trang 7

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

DFID Department for International Development

(Bô ̣ Phát triển Quốc tế Anh)

KHXH&NV Khoa học xã hội và nhân văn

PT-TH Phát thanh và truyền hình

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1 Khung sinh kế 16Bảng 2.1: Số lƣợng tin, phóng sự và chuyên đề của Đài Phát PT - TH Tuyên Quang

và Đài PT - TH Hải Phòng truyền thông về mô hình sinh kế trên sóng truyền hình (từ tháng 4/2016 đến tháng 4/2017) 48

Trang 9

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 2.1 Bản đồ địa lý hành chính thành phố Hải Phòng 35Hình 2.2 Bản đồ địa lý hành chính tỉnh Tuyên Quang 42Hình 2.3 Tỷ lệ tin, phóng sự và chuyên đề của Đài PT - TH Tuyên Quang truyền thông về mô hình sinh kế trên sóng truyền hình 49Hình 2.4 Tỷ lệ tin, phóng sự và chuyên đề của Đài PT - TH Hải Phòng truyền thông về mô hình sinh kế trên sóng truyền hình 49

Trang 10

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Biến đổi khí hậu đang là vấn đề cấp thiết đặt ra cho toàn cầu Việt Nam được đánh giá là một trong năm nước chịu ảnh hưởng nặng nền nhất của biến đổi khí hậu Sinh kế bền vững là một trong giải pháp được ưu tiên đặt lên hàng đầu trong ứng phó với biến đổi khí hậu Nó là điều kiện cần thiết cho quá trình phát triển, nâng cao đời sống của con người nhưng vẫn đáp ứng được đòi hỏi về chất lượng môi trường

tự nhiên Đến nay, có nhiều chương trình, tổ chức dự án hỗ trợ cho cộng đồng để hướng đến mục tiêu phát triển ổn định và bền vững Thực tế cho thấy, việc lựa chọn những hoạt động sinh kế của người dân chịu ảnh hưởng rất lớn từ nhiều yếu tố: điều kiện tự nhiên, xã hội, con người, vật chất và cơ sở hạ tầng Việc đánh giá hiệu quả các hoạt động sinh kế giúp chúng ta hiểu rõ được những phương thức sinh kế của người dân có phù hợp với điều kiện của địa phương? Các hoạt động sinh kế có bền vững, hiệu quả và phát triển ổn định lâu dài hay chỉ mang tính thời điểm?

Muốn phát triển bền vững quốc gia thì cần phát triển bền vững các vùng, địa phương Hay nói cách khác, muốn phát triển bền vững ở quy mô lớn thì cần bắt đầu

từ quy mô nhỏ Việt Nam có 63 tỉnh, thành phố và được chia thành 8 vùng địa lý kinh tế Điều kiện địa lý và đặc điểm tự nhiên mỗi vùng, mỗi địa phương khác nhau đòi hỏi có chính sách phát triển khác nhau, phù hợp với đặc thù của vùng, địa phương thì mới có thể đảm bảo phát triển bền vững Trước yêu cầu thực tiễn này, trong phần V của “Chương trình Nghị sự 21 của Việt Nam” cũng đã quy định về đổi mới hệ thống quản lý với 5 hướng cụ thể, nhằm bảo đảm cho quá trình quy hoạch, kế hoạch hóa và chỉ đạo thực hiện phát triển vùng mang tính bền vững Trong đó phát triển bền vững các vùng, địa phương là cơ sở quan trọng để phát triển

bền vững mỗi quốc gia: “Chiến lược phát triển vùng một mặt phải ưu tiên phát

triển trước các vùng kinh tế trọng điểm, có khả năng bứt phá lên trước, nhưng mặt khác phải chú ý tới việc hỗ trợ các vùng kém phát triển và có điều kiện khó khăn hơn, nhằm tạo ra một sự cân đối nhất định trong phát triển không gian, từng bước thu hẹp khoảng cách về xã hội và tiến tới giảm bớt sự chênh lệch về kinh tế trong

Trang 11

những năm sau này Các vùng phát triển kinh tế trọng điểm sẽ đóng vai trò là đầu tàu, là động cơ lôi kéo các vùng miền núi, vùng sâu, vùng xa có điều kiện khó khăn hơn” (Định hướng chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam, Chương trình Nghị

sự 21 của Việt Nam, Quyết định 153/2004/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 17/8/2004)

Ở Việt Nam, thời gian gần đây đã có nhiều chương trình, dự án hỗ trợ cộng đồng dân cư chuyển đổi và nâng cao sinh kế theo hướng bền vững Từ đó, bên cạnh các mô hình sinh kế truyền thống của các địa phương, nhiều mô hình sinh kế mới ra đời nhằm đa dạng hóa hoạt động sinh kế, đảm bảo đời sống cho người dân Bởi vậy, việc khảo sát các mô hình sinh kế và truyền thông về các mô hình sinh kế trên báo chí nói chung, truyền hình nói riêng là việc làm cần thiết Với ưu thế trực quan về hình ảnh, đa dạng về hình thức thể hiện, truyền hình có nhiều thuận lợi trong việc phản ánh chân thực và đầy đủ về các mô hình sinh kế; huy động các nguồn lực trong cộng đồng; tuyên truyền nêu gương các hộ dân, các mô hình đã thành công; khuyến khích người dân có động lực, khích lệ cộng đồng có ý chí vươn lên để phát triển sinh kế trở thành phong trào thi đua rộng rãi, người dân các vùng khó khăn cùng nhau vươn lên đăng ký thoát nghèo Cùng với hệ thống báo chí, truyền hình bám sát các quan điểm, định hướng chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước

và chủ trương của địa phương để tuyên truyền làm thay đổi nhận thức cho người dân, giúp người dân thấy được mục tiêu, ý nghĩa của chủ trương, chính sách, tránh tình trạng thụ động, trông chờ hỗ trợ từ Nhà nước Từ đó góp phần thực hiện một cách đồng bộ, có trọng tâm, đa dạng về phương thức, phù hợp với từng nhóm đối tượng, vùng miền, từng bước tạo sự chuyển biến mạnh mẽ, toàn diện về hoạt động sinh kế bền vững, nhất là ở các vùng khó khăn

Cũng vì lý do đó, trên cơ sở tiếp cận từ lý thuyết truyền thông phát triển,

khung sinh kế bền vững và văn hóa vùng, chúng tôi lựa chọn nghiên cứu đề tài “Mô

hình sinh kế trên sóng truyền hình địa phương” cho luận văn thạc sĩ của chúng tôi

Truyền thông về mô hình sinh kế trên sóng truyền hình địa phương có ý nghĩa quan trọng trong việc góp phần thay đổi, nâng cao nhận thực của người dân về biến đổi

Trang 12

khí hậu, cũng như triển khai, đưa các mô hình sinh kế vào thực tiễn và đánh giá hiệu quả của các mô hình sinh kế sau quá trình triển khai tại tỉnh Tuyên Quang và thành phố Hải Phòng Chúng tôi đặt tương quan đối tượng nghiên cứu là mô hình sinh kế trên sóng truyền hình của Đài PT - TH Hải Phòng với mô hình sinh kế trên sóng truyền hình của Đài PT - TH Tuyên Quang không ngoài mục tiêu làm rõ luận điểm trên trong nội dung Chương trình Nghị sự 21 của Việt Nam

1 Lịch sử nghiên cứu đề tài

- Các nghiên cứu về vấn đề sinh kế bền vững:

Trên thế giới, đã có nhiều thành tựu quan trọng nghiên cứu sinh kế cộng đồng Các công trình bước đầu gắn với các khái niệm và phương pháp từ các nghiên cứu đói nghèo ở nông thôn Điển hình như nghiên cứu của Chambers, Robert (1983) lập luận rằng hộ gia đình có thu nhập thấp hướng tới sinh kế bền vững thông qua việc chống lại tính dễ bị tổn thương khi gặp rủi ro và bất an bằng cách thế chấp cả tài sản hữu hình và tài sản vô hình Đối với Carney (1998), ông cho rằng sinh kế bao gồm các khả năng, tài sản (gồm cả vật chất, nguồn lực xã hội) và các hoạt động cần thiết

để sống Hay Cục Phát triển Quốc tế Vương quốc Anh (DFID) và tổ chức CARE Quốc tế đã phát triển khung lý thuyết về sinh kế, sinh kế bền vững Dựa trên khung

lý thuyết này, rất nhiều các nghiên cứu đã được triển khai và mở rộng các khung lý thuyết cho sinh kế nông thôn Các chính sách để xác định sinh kế cộng đồng dân cư theo hướng bền vững được xác định liên quan chặt chẽ đến bối cảnh kinh tế vĩ mô

và liên quan đến các yếu tố bên ngoài Tiêu biểu cho các nghiên cứu này là Ellis (2000) với nghiên cứu khẳng định sự bền vững của sinh kế cộng đồng phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: khả năng trang bị nguồn vốn, trình độ lao động, các mối quan

hệ trong cộng đồng và chính sách phát triển sinh kế Theo nghiên cứu của Koos Neefjes (2009) về “Biến đổi khí hậu và sinh kế bền vững”, để tạo lập sinh kế bền vững trước tác động của biến đổi khí hậu, người dân và các cộng đồng dễ bị tổn thương bởi biến đổi khí hậu cần có các nguồn lực sinh kế chất lượng cao và các chính sách, thể chế cần được thiết kế sao cho các nguồn lực sinh kế được tiếp cận một cách công bằng để người dân có thể quản lý và sử dụng sinh kế một cách bền

Trang 13

vững Nghiên cứu của IUCN, SEI, và IISD (2003) về “Livelihoods and climate change” đã đưa ra cách tiếp cận tổng hợp trong việc giải quyết vấn đề sinh kế bền vững trong bối cảnh biến đổi khí hậu

Tại Việt Nam, chúng tôi tìm thấy một số đề tài nghiên cứu về mô hình sinh

kế tiêu biểu Năm 2008, Oxfam có báo cáo về “Việt Nam: Biến đổi khí hậu, sự thích ứng và người nghèo” Tuy nhiên, báo cáo này chỉ tập trung phân tích cuộc sống của các hộ gia đình nghèo ở hai tỉnh Bến Tre và Quảng trị trong bối cảnh khí hậu đang thay đổi và tìm hiểu cách thức người dân địa phương đối phó với biến đổi khí hậu Công trình nghiên cứu “Thích ứng sinh kế của cộng đồng dân cư ven biển tỉnh Bến Tre trong bối cảnh biến đổi khí hậu” của TS Lê Thị Kim Thoa, Trung tâm Nghiên cứu Biển và Đảo, Trường ĐH Khoa học Xã hội và Nhân văn TPHCM cũng đã nghiên cứu về một số hoạt động sinh kế tiêu biểu của người dân vùng ven biển tỉnh Bến Tre, như: trồng dừa và sản xuất các sản phẩm từ cây dừa, đánh bắt thủy hải sản, phát triển du lịch, Từ đó đánh giá tác động của biến đổi khí hậu tới các hoạt động sinh kế này và đề xuất giải pháp cụ thể về vốn, cơ chế chính sách, sinh kế thay thế và thích ứng với biến đổi khí hậu,…

Năm 2010, Bộ Tài nguyên và Môi Trường Việt Nam phối hợp với cơ quan phát triển quốc tế vương quốc Anh và chương trình phát triển Liên Hợp Quốc thực hiện nghiên cứu về “Các chiến lược thích ứng cho sinh kế ven biển chịu nhiều rủi ro nhất do tác động của biến đổi khí hậu ở miền Trung Việt Nam” Nghiên cứu cho rằng hệ thống sinh kế nông thôn vùng ven biển có nguy cơ cao nhất trước biến đổi khí hậu là những sinh tế phụ thuộc trực tiếp vào nguồn lực tự nhiên Vì vậy việc xây dựng khả năng phục hồi cho các sinh kể về chịu tác động của biến đổi khí hậu đòi hỏi các biện pháp nhằm đảm bảo khả năng phục hồi của các nguồn tài nguyên thiên nhiên

“Phát triển mô hình cải thiện sinh kế bền vững cho cộng đồng đựa trên tiềm năng tri thức bản địa của các dân tộc thiểu số” là công trình nghiên cứu do PGS.TS Ngô Quang Sơn, Viện trưởng Viện Dân tộc Ủy ban Dân tộc thực hiện Qua nghiên cứu trường hợp 4 dân tộc thiểu số tại chỗ Ê Đê, Gia Rai của Đắk Lắk và Mông, Dao

Trang 14

của Lai Châu từ năm 2010 - 2013, công trình đã đưa ra kết quả về các loại vốn sinh

kế và các hoạt động sinh kế tại những địa phương này Từ đó, chỉ rõ vai trò quan trọng của tiềm năng tri thức bản địa của các dân tộc thiểu số trong việc phát triển bền vững các mô hình sinh kế thích ứng với biến đổi khí hậu

Đề tài nghiên cứu khoa học của trường đại học quốc gia Hà Nội về “Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến sử dụng đất và biến đổi sinh kế của cộng đồng dân

cư Đồng bằng Sông Hồng” do Lưu Bích Ngọc và cộng sự thực hiện đã tiến hành khảo sát hộ gia đình tại 5 xã thuộc 4 tỉnh đồng bằng sông Hồng là Thái Bình, Ninh Bình, Nam Định và Hà Nội để minh họa cho các phân tích và đánh giá Tuy nhiên các kết quả nghiên cứu chủ yếu mang tính định tính và các tác động của biến đổi khí hậu đến sinh kế người dân chưa được định chưa được lượng hóa Khoảng trống này đã được tác giả Vũ Thị Hoài Thu bổ sung trong luận án tiến sĩ “Sinh kế bền vững vùng ven biển đồng bằng sông Hồng trong bối cảnh biến đổi khí hậu” Tác giả đã áp dụng phương pháp nghiên cứu định tính để bước đầu đánh giá nghiên cứu được thực hiện tại huyện tỉnh Nam Định - 1 trong 5 tỉnh bị ảnh hưởng nhiều nhất bởi biến đổi khí hậu ở vùng ven biển Đồng bằng sông Hồng

Mỗi công trình về sinh kế bền vững trên thế giới và ở Việt Nam trong bối cảnh biến đổi khí hậu lại có một hướng tiếp cận nghiên cứu riêng Những kết quả nghiên cứu tập hợp lại tạo thành một bức tranh đa dạng, phong phú về sinh kế cộng đồng trong quá trình phát triển và có ý nghĩa gợi mở vấn đề, cung cấp nhiều thông tin có giá trị làm cơ sở cho việc nghiên cứu sinh kế ở Việt Nam hiện nay Nhìn chung, các nghiên cứu này là cơ sở, nền tảng lý thuyết về biến đổi khí hậu, về sinh

kế và tác động của biến đổi khí hậu tới sinh kế bền vững cho người dân,… để luận văn có thể tham khảo và dựa vào đó tìm ra hướng nghiên cứu riêng

- Các nghiên cứu về vai trò của báo chí với phát triển bền vững:

Trên lĩnh vực Báo chí học trong nước, có nhiều công trình nghiên cứu, nhiều bài báo, tạp chí về vai trò của báo chí đối với đời sống kinh tế xã hội, trong đó có vấn đề phát triển bền vững cũng như phát triển bền vững địa phương nói chung và

mô hình sinh kế nói riêng

Trang 15

Tại Việt Nam, đối với sách, chúng ta có thể kể đến một số công trình nghiên cứu tiêu biểu, như: Cơ sở Lý luận báo chí truyền thông (của các tác giả: Dương Xuân Sơn, Đinh Văn Hường, và Trần Quang, tái bản nhiều lần), “Truyền thông đại chúng và phát triển xã hội” (2008), Bộ sách 8 tập “Báo chí - những vấn đề lý luận

và thực tiễn” (Khoa Báo chí và Truyền thông, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn),… Đây là những nghiên cứu về báo chí học quan trọng, là cơ sở lý

thuyết thiết yếu khi thực hiện nghiên cứu bất kỳ một vấn đề nào của báo chí

Về vai trò của báo chí với phát triển bền vững, có thể nói, đây là nội dung luôn được báo chí quan tâm tuyên truyền Nhiều hội thảo khoa học đã được các cơ quan báo chí, các tổ chức quản lý báo chí tổ chức Tiêu biểu có thể kể đến: hội thảo khu vực: “Vai trò của báo chí đối với phát triển kinh tế bền vững” do Hội Nhà báo Việt Nam phối hợp với Viện KAS tổ chức (2012), hội thảo "Báo chí vì sự phát triển bền vững vùng dân tộc và miền núi" (2014), hay hội thảo: „Vai trò, tác động của báo chí, truyền thông đối với phát triển bền vững địa phương do Ban Tuyên giáo Tỉnh

uỷ Lào Cai và Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn tổ chức (2016),… Những hội thảo này không chỉ nhằm nâng cao hiểu biết, nhận thức của nhà báo khi thực hiện truyền thông về lĩnh vực này để mang lại hiệu quả thông tin cao nhất, mà còn giúp các địa phương nhận thấy vai trò quan trọng của báo chí trong việc thông tin, truyền thông, nâng cao nhận thức của người dân, của cộng đồng về tác động của biến đổi khí hậu tới đời sống dân sinh cũng như việc quan tâm hoạch định các chính sách, chiến lược phát triển bền vững

Bên cạnh đó, chúng tôi tìm thấy một số công trình nghiên cứu khoa học tiêu biểu về vai trò của báo chí đối với phát triển bền vững, như: “Báo cáo tổng quan vai trò của báo chí đối với phát triển bền vững vùng Tây Bắc” (PGS TS Đặng Thị Thu Hương - Trưởng Khoa Báo chí và Truyền thông, Trường Đại học Khoa học Xã hội

và Nhân văn chủ trì), “Báo điện tử với vấn đề phát triển bền vững vùng Tây Bắc” (Th.s An Thị Thu Hiền, Trường ĐH Khoa học Xã hội & Nhân văn), … Đây là những công trình mang tính tổng quát, có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển bền vững của đất nước nói chung và khu vực Tây Bắc nói riêng

Trang 16

Nghiên cứu “Truyền thông phát triển - vai trò, sứ mệnh đối với phát triển địa phương” của tiến sĩ Bùi Chí Trung đã nêu bật hiệu quả, tác động của báo chí truyền thông đến sự phát triển của xã hội, là cầu nối thúc đẩy các chiến lược đi vào cuộc sống Công trình cũng đã xây dựng cơ sở lý luận và thực tiễn về vai trò, nhiệm vụ, phương thức và những đóng góp của truyền thông đối với việc phát triển kinh tế -

xã hội, đối với sự phát triển bền vững; nghiên cứu, khảo sát, đánh giá thực trạng hoạt động truyền thông hiện nay, thành công và những hạn chế, cũng như những tác động của truyền thông đến thúc đẩy sự phát triển xã hội; từ nghiên cứu lý luận thực tiễn, đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng và hiệu quả của truyền thông Đây

cơ sở quan trọng để phục vụ quá trình nghiên cứu về các mô hình sinh kế trên sóng truyền hình địa phương hiện nay của luận văn này

Một số bài nghiên cứu: “Báo chí truyền thông Việt Nam trong tiến trình phát triển và hội nhập” (PGS.TS Đinh Văn Hường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, ĐHQG Hà Nội), “Phát huy hơn nữa vai trò của báo chí với vấn đề phát triển bền vững ở địa phương” (TS Đinh Xuân Hòa - Khoa Phát thanh & truyền hình, Học viên Báo chí Tuyên truyền), “Vai trò của báo chí với phát triển bền vững địa phương” (PGS TS Dương Xuân Sơn - Khoa Báo chí & Truyền thông, ĐH Khoa học Xã Hội & Nhân văn Hà Nội), “Phát triển bền vững và vai trò của báo chí” (TS Phạm Việt Dũng – Trưởng Ban Kinh tế, Tạp chí Cộng sản),… cho thấy vai trò của báo chí đối trong thực hiện nhiệm vụ tuyên truyền phục vụ phát triển bền vững địa phương, phát triển bền vững quốc gia Tuy nhiên có thể nhận thấy, vấn đề sinh kế được phản ánh trên báo chí nói chung và trên truyền hình nói riêng như thế nào thì rất ít công trình nghiên cứu đề cập

- Các nghiên cứu về phát triển kinh tế xã hội tỉnh Tuyên Quang và thành phố Hải Phòng nhìn từ định hướng phát triển bền vững địa phương

Đối với 2 địa phương được khảo sát trong luận văn này, chúng tôi cũng đã tìm thấy một số công trình nghiên cứu liên quan, như: “Cảng thị Hải Phòng trong hệ thống giao thương của đường biển Việt Nam và thế giới” (Th.s Nguyễn Thị Hoài Phương, trường ĐH Khoa học Xã hội & Nhân văn), “Làng nghề Hải Phòng trong

Trang 17

bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế” (Nguyễn Văn Tùng, Luận văn Th.s Kinh tế),

“Tăng trưởng kinh tế gắn với công bằng xã hội ở Hải Phòng” (Trương Thị Nga, Luận văn Ths Kinh tế),…Nghiên cứu đề xuất giải pháp thực hiện cung cấp nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn tại tỉnh Tuyên Quang” (Nguyễn Thị Thúy Ái, Luận văn Ths Khoa học môi trường và bảo vệ môi trường), “Nghiên cứu điều kiện phát triển du lịch cộng đồng ở huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang” (Nguyễn Đức Khoa, Luận văn Th.s Du lịch),…

Các công trình nghiên cứu kể trên đều có những điểm chung: hoặc là nghiên cứu về mô hình sinh kế trên từng lĩnh vực cụ thể như kinh tế, xã hội hay môi trường của các ngành chuyên biệt; hoặc đặt trọng tâm nghiên cứu một cách tổng quát về vai trò của báo chí với phát triển bền vững; hay một loại hình báo chí cụ thể, như: báo điện tử, phát thanh,… đối với vấn đề phát triển bền vững nói chung Đây là những tài liệu quí giá mà tác giả luận văn có thể khai thác và tham khảo những kiến thức cần thiết cho luận văn của mình Tuy nhiên, mặc dù đã có nhiều khoá luận tốt nghiệp Đại học và Luận văn sau Đại học nghiên cứu về vấn đề phát triển bền vững cũng như mô hình sinh kế trên báo chí nhưng chưa có đề tài nào nghiên cứu, khảo

sát riêng về các mô hình sinh kế trên sóng truyền hình địa phương Bởi vậy, “Mô

hình sinh kế trên sóng truyền hình địa phương” là một đề tài hoàn toàn mới, thú vị

Do vậy, chúng tôi chọn nghiên cứu đề tài này với mong muốn sẽ đem lại những kết quả nghiên cứu hữu ích về báo chí truyền thông nói chung và báo truyền hình nói riêng, đồng thời đóng góp thêm những cơ sở lý luận và thực tiễn đối với phát triển sinh kế bền vững tỉnh Tuyên Quang và thành phố Hải Phòng - những địa phương dễ chịu tổn thương bởi biến đổi khí hậu

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu:

- Luận văn xác định mục tiêu đánh giá thực trạng công tác thông tin, truyền thông về mô hình sinh kế trên sóng truyền hình địa phương hiện nay Từ đó, chỉ ra những thành công và hạn chế, đồng thời để xuất giải pháp nhằm góp phần nâng cao chất lượng truyền thông phát triển các mô hình sinh kế, đóng góp vào quá trình xóa

đói giảm nghèo và phát triển bền vững quốc gia

Trang 18

Nhiệm vụ nghiên cứu:

- Hệ thống hóa lý luận về truyền thông phát triển nói chung và báo chí truyền hình với phát triển bền vững địa phương nói riêng; về định hướng của Đảng, Nhà nước đối với phát triển bền vững địa phương, xây dựng các mô hình sinh kế phù hợp và bền vững cho các địa phương với từng đối tượng cụ thể bị tác động

- Tổng quan về định hướng truyền thông phát triển, về định hướng của Đảng, Nhà nước đối với phát triển sinh kế bền vững tại tỉnh Tuyên Quang và thành phố

Hải Phòng cũng như vai trò của truyền hình đối với vấn đề này

- Khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng, so sánh công tác thông tin tuyên truyền về mô hình sinh kế của 2 kênh truyền hình Hải Phòng (THP) và truyền hình Tuyên Quang (TTV) về các mặt nội dung, hình thức thể hiện thông tin mô hình sinh

kế của 2 địa phương

- Đánh giá ưu, nhược điểm của truyền hình với vấn đề thông tin về mô hình sinh kế, đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng các chương trình truyền hình về vấn

đề này trên 2 kênh truyền hình THP và TTV

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

- Đối tượng nghiên cứu của đề tài: hoạt động thông tin, tuyên truyền về mô hình sinh kế cho người dân trên sóng truyền hình địa phương

- Phạm vi nghiên cứu: Trong khuôn khổ luận văn này, chúng tôi thực hiện

khảo sát mô hình sinh kế được phát sóng trong chương trình Thời sự của 2 địa phương là Hải Phòng và Tuyên Quang từ tháng 4 năm 2016 đến tháng 4 năm 2017

Sở dĩ, chúng tôi chọn 2 địa phương này bởi đây là 2 tỉnh, thành phố có đặc điểm địa

lý và điều kiện tự nhiên khá đặc trưng cho 2 vùng kinh tế là khu vực Tây Bắc Bộ và Đông Bắc Bộ, đại diện cho khu vực miền núi và miền biển Qua đây mong muốn có được cái nhìn tổng quan về việc sử dụng, phát huy vai trò của các chương trình truyền hình trên 2 kênh truyền hình Hải Phòng (THP) và truyền hình Tuyên Quang (TTV) trong thực hiện tuyên truyền, định hướng phát triển bền vững của 2 địa phương này qua các mô hình sinh kế cho nhân dân địa phương Việc khảo sát, nghiên cứu trong thời gian một năm cũng sẽ cơ bản đánh giá được một cách tổng

Trang 19

quát về việc phản ánh vấn đề phát triển của các địa phương, nhất là những tác động của điều kiện thời tiết, thiên tai đặc thù tới tỉnh Tuyên Quang và thành phố Hải

Phòng qua từng thời điểm trong năm

5 Phương pháp nghiên cứu:

Để thực hiện đề tài này, luận văn có sử dụng một số phương pháp nghiên cứu sau:

- Phương pháp nghiên cứu lịch sử và sử dụng các tài liệu thứ cấp: Chúng tôi

tiến hành sưu tầm, tập hợp các văn kiện, chỉ thị, nghị quyết; các văn bản, tài liệu của Đảng, nhà nước liên quan đến xã hội hóa thông tin báo chí nhằm tìm hiểu chủ trương, đường lối, định hướng của Đảng, Nhà nước về vấn đề này; tập hợp, hệ thống tài liệu lý tuận từ các sách, báo, tạp chí, các công trình khoa học trong và ngoài nước có liên quan đến đề tài Chúng tôi cũng đã thu thập các tài liệu liên quan đến định hướng, chính sách của 2 địa phương là tỉnh Tuyên Quang và thành phố Hải Phòng về phát triển bền vững địa phương và xây dựng các mô hình sinh kế cho nhân dân địa phương

-Phương pháp phân tích nội dung: Đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu

này để khảo sát, phân tích nội dung và hình thức thể hiện các tin, bài của hai kênh truyền hình địa phương là THP và TTV để đánh giá thực trạng, thành công và hạn chế của báo chí truyền hình trong việc hỗ trợ, thúc đẩy sự phát triển bền vững của

hai địa phương là thành phố Hải Phòng và tỉnh Tuyên Quang

- Phương pháp phỏng vấn sâu và và thảo luận nhóm: phương pháp phỏng vấn

sâu (phỏng vấn trực tiếp và phỏng vấn qua điện thoại) được tác giả luận văn tiến hành đối với lãnh đạo các địa phương, các nhà khoa học, các nhà quản lý báo chí, lãnh đạo đài, phóng viên chuyên làm phóng sự… nhằm thu được những đánh giá khách quan, có trọng lượng về chất lượng và hiệu quả xã hội của các chương trình truyền hình về mô hình sinh kế của thành phố Hải Phòng và tỉnh Tuyên Quang trên sóng truyền hình THP và TTV

- Phương pháp tiếp cận liên ngành: Đề tài nghiên cứu trường kết hợp sử dụng

các phương pháp cơ bản của báo chí học với các lĩnh vực khoa học xã hội, địa văn

Trang 20

hóa, kinh tế phát triển để tìm hiểu thực trạng hoạt động thông tin tuyên truyền về

mô hình sinh kế tại các những địa phương trong diện khảo sát

Các nhóm phương pháp này vừa truyền thống, vừa hiện đại, giúp cho kết quả nghiên cứu đạt được độ chính xác cao nhất, đáng tin cậy nhất

6 Đóng góp mới của luận văn

- Đây là công trình đầu tiên ở cấp độ luận văn thạc sĩ chuyên ngành Báo chí học đặt vấn đề nghiên cứu về các mô hình sinh kế trên sóng truyền hình địa phương -Trong luận văn này, các tin, bài, phóng sự, các chương trình truyền hình trên hai kênh truyền hình THP và TTV về các mô hình sinh kế được nhìn nhận, phân tích, đánh giá một cách toàn diện, từ nhiều góc độ Qua đó làm rõ thực trạng, bao gồm những thành công, hạn chế Trên cơ sở đó, luận văn đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả tuyên truyên, giáo dục, giải thích về phát triển bền vững trên sóng truyền hình địa phương

- Kết quả của luận văn là sự khẳng định vai trò của truyền hình địa phương trong thực hiện nhiệm vụ tuyên truyền về mô hình sinh kế, góp phần thực hiện các nhiệm vụ chính trị theo tinh thần các chỉ thị, nghị quyết của Đảng cũng như định hướng phát triển của 2 địa phương là thành phố Hải Phòng và tỉnh Tuyên Quang về phát triển bền vững, ổn định đời sống cho nhân dân

7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn

Ý nghĩa lý luận của đề tài:

- Đề tài góp phần làm rõ và phong phú hơn lý luận về vai trò của báo chí truyền hình với phát triển bền vững Đồng thời, đề tài cũng cung cấp những luận điểm khoa học, hệ thống hóa cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu về vai trò của báo chí truyền hình đối với sự phát triển mô hình sinh kế bền vững một địa

phương

Ý nghĩa thực tiễn của đề tài:

- Quá trình khảo sát, phân tích để nghiên cứu, đề tài đánh giá những thành công, hạn chế của truyền hình địa phương trong việc thông tin, tuyên truyền, thúc đẩy phát triển các mô hình sinh kế ở địa phương Từ đó đề xuất các giải pháp, kiến

Trang 21

nghị nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả tuyên truyền của các chương trình truyền hình trên hai Đài truyền hình địa phương là Đài PT - TH Hải Phòng và Đài PT - TH Tuyên Quang về lĩnh vực này

- Kết quả nghiên cứu của đề tài cũng sẽ là tài liệu tham khảo hữu ích cho các địa phương trong việc khai thác, sử dụng thông tin trên sóng truyền hình địa phương

để hỗ trợ, thúc đẩy phát triển các mô hình sinh kế ở địa phương mình

8 Kết cấu, bố cục

Luận văn gồm 3 phần: Mở đầu, Nội dung và Kết luận

Phần Nội dung của luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Lý luận chung về truyền thông phát triển và vai trò của truyền hình

trong hoạt động thông tin tuyên truyền về phát triển mô hình sinh kế

Chương 2: Thực trạng truyền thông về mô hinh sinh kế trên sóng truyền hình địa phương

Chương 3: Đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng truyền thông về mô hình sinh kế trên sóng truyền hình địa phương

Trang 22

CHƯƠNG 1:

LÝ THUYẾT CHUNG VỀ TRUYỀN THÔNG PHÁT TRIỂN,

TRUYỀN HÌNH ĐỊA PHƯƠNG VÀ VĂN HÓA VÙNG

TRONG TRUYỀN THÔNG VỀ MÔ HÌNH SINH KẾ 1.1 Các khái niệm liên quan

- Biến đổi khí hậu: là sự thay đổi của hệ thống khí hậu gồm khí quyển, thuỷ

quyển, sinh quyển, thạch quyển hiện tại và trong tương lai bởi các nguyên nhân tự

nhiên và nhân tạo [27, tr.4]

- Phát triển bền vững: là một phương thức phát triển kinh tế- xã hội nhằm

giải quyết tốt mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế, giải quyết các vấn đề xã hội và bảo vệ môi trường với mục tiêu đáp ứng tốt hơn các nhu cầu của thế hệ hiện tại đồng thời không gây trở ngại cho việc đáp ứng nhu cầu của các thế hệ mai sau Hay nói cách khác: đó là sự phát triển hài hoà cả về kinh tế, văn hoá, xã hội, môi trường

ở các thế hệ nhằm không ngừng nâng cao chất lượng sống của con người [27, tr.4]

- Sinh kế:

Ý tưởng về sinh kế đã có từ tác phẩm của Robert Chambers vào giữa những năm 80 (sau đó được phát triển bởi Chamber, Conway và những người khác vào đầu những năm 1990) Từ đó một số cơ quan phát triển đã tiếp nhận khái niệm sinh

kế và cố gắng đưa vào thực hiện

Theo đó, sinh kế bao gồm năng lực, tài sản (dự trữ, nguồn lực, yêu cầu, tiếp cận) và các hoạt động cần có để bảo đảm phương tiện sinh sống Tổ chức CRD (Trung tâm phát triển nông thôn miền Trung Việt Nam) khi triển khai các chương trình hoạt động phát triển cộng đồng giải thích rằng sinh kế là “tập hợp tất cả các nguồn lực và khả năng mà con người có được, kết hợp với những quyết định và hoạt động mà họ thực thi nhằm để đạt được mục tiêu và các ước nguyện của họ” Trong khung phân tích sinh kế bền vững của DFID thì “sinh kế bao gồm các khả năng các tài sản (bao gồm cả các nguồn lực vật chất và xã hội) và các hoạt động cần thiết để kiếm sống” [DFID, 1999, tr 4]

Trang 23

Ở Việt Nam khái niệm sinh kế được giải thích trong Từ điển Tiếng Việt với nghĩa “sinh kế là việc làm để kiếm ăn, để mưu sống” [Viện Ngôn ngữ học, 2002] Sinh kế là cách mưu sinh của một người hoặc một nhóm người phụ thuộc chặt chẽ vào nguồn lực năng lực ra quyết định và những hoạt động kiếm sống nhằm đạt được những mục tiêu và ước nguyện của họ Tuy nhiên để mưu sinh, con người luôn phải chịu áp lực và mọi phía, đó là các nguồn lực tự nhiên, kinh tế, xã hội, môi trường Trong các yếu tố tác động đến sinh kế, yếu tố khí hậu môi trường có những tác động ngày càng mạnh Tình hình biến đổi khí hậu đã ảnh hưởng lớn đến cuộc sống sinh kế của cộng đồng dân cư đặc biệt là cộng đồng dân cư nghèo

Một sinh kế gồm có những khả năng, những tài sản (bao gồm cả nguồn tài nguyên vật chất và xã hội) và những hoạt động cần thiết để kiếm sống Một sinh kế được xem là bền vững khi nó có thể đối phó và khôi phục trước tác động của những

áp lực và những cú sốc, và duy trì hoặc tăng cường những năng lực lẫn tài sản của

nó trong hiện tại và tương lai, trong khi không làm suy thoái nguồn tài nguyên thiên nhiên (Chambers, R And G Conway, 1992)

Chiến lược sinh kế là quá trình sinh ra quyết định về các vấn đề cấp hộ, bao gồm những vấn đề như thành phần của hộ, tính gắn bó giữa các thành viên, phân bổ các nguồn lực vật chất và chi phí vật chất của hộ (Seppala, 1996)

Khái niệm về sinh kế của hộ hay một cộng đồng là một tập hợp của các nguồn lực và khả năng của con người kết hợp với những quyết định và những hoạt động

mà họ sẽ thực hiện để không những kiếm sống mà còn đạt đến mục tiêu đa dạng hơn Hay nói cách khác, sinh kế của một hộ gia đình hay một cộng đồng còn được gọi là kế sinh nhai của hộ gia đình hay cộng đồng đó

Và sinh kế chỉ bền vững khi nó có thể đương đầu và phục hồi sau các cú sốc hoặc cải thiện năng lực, tài sản, cung cấp các cơ hội sinh kế bền vững cho các thế hệ

kế tiếp; và đóng góp lợi ích cho các sinh kế khác ở cấp độ địa phương hoặc toàn cầu, trong ngắn hạn và dài hạn

Khái niệm cho thấy “sinh kế” bao gồm các nguồn lực tự nhiên, kinh tế, xã hội

và văn hóa mà các cá nhân, hộ gia đình, hoặc nhóm xã hội sở hữu có thể tạo ra thu

Trang 24

nhập hoặc có thể được sử dụng, trao đổi để đáp ứng nhu cầu của họ Hiểu biết và đánh giá đúng cũng như biết huy động tối đa các nguồn lực sẽ thúc đẩy quá trình phát triển sinh kế của cộng đồng

- Mô hình sinh kế: Mô hình theo định nghĩa Từ điển tiếng Việt [Hoàng Phê,

2011] là hình thức diễn đạt ngắn gọn các đặc trưng chủ yếu của một đối tượng theo một phương tiện nào đó để nghiên cứu đối tượng đó

Như vậy, mô hình sinh kế là một hệ thống sinh kế mà ở đó con người là chủ thế tác động lên các nguồn lực sinh kế để hình thành nên các hoạt động sinh kế nhằm thực hiện chiến lược sinh kế tạo ra kết quả sinh kế Hay hiểu đơn giản, mô hình sinh kế

là cách thức tổ chức hoạt động cần có để bảo đảm phương tiện sinh sống

- Khung sinh kế: là một công cụ được xây dựng nhằm phân tích những yếu

tố ảnh hưởng đến sinh kế của con người và tác động qua lại giữa chúng Để duy trì sinh kế, mỗi hộ gia đình thường có các kế sách sinh nhai khác nhau Kế sách sinh nhai của hộ hay chiến lược sinh kế của hộ là quá trình ra quyết định về các vấn đề cấp hộ Bao gồm những vấn đề như thành phần của hộ, tính gắn bó giữa các thành viên, phân bổ các nguồn lực vật chất và chi phí vật chất của hộ [DFID (1999), Sustainable Livelihoods Guidance Sheets]

Chiến lược sinh kế của hộ phải dựa vào năm loại nguồn lực (tài sản) cơ bản sau:

+ Nguồn nhân lực: Bao gồm kỹ năng, kiến thức, khả năng lao động và sức khoẻ con người Các yếu tố đó giúp cho con người có thể theo đuổi những chiến lược tìm kiếm thu nhập khác nhau và đạt những mục tiêu kế sinh nhai của họ Ở mức độ gia đình nguồn nhân lực được xem là số lượng và chất lượng nhân lực có sẵn

+ Nguồn lực xã hội: Là những nguồn lực định tính dựa trên những gì mà con người đặt ra để theo đuổi mục tiêu kế sinh nhai của họ Chúng bao gồm uy tín của

hộ, các mối quan hệ xã hội của hộ

+ Nguồn lực tự nhiên: Là cơ sở các tài nguyên thiên nhiên của hộ hay của cộng đồng, được trông cậy vào để sử dụng cho mục đích sinh kế như đất đai, nguồn nước, cây trồng, vật nuôi, mùa màng v.v

Trang 25

Trong thực tế, sinh kế của người dân thường bị tác động rất lớn bởi những biến động của nguồn lực tự nhiên Trong các chương trình di dân tái định cư, việc di chuyển dân đã làm thay đổi nguồn lực tự nhiên của người dân và qua đó đã làm thay đổi sinh kế của họ

+ Nguồn lực vật chất: Bao gồm tài sản hộ gia đình hỗ trợ cho sinh kế như nhà

ở, các phương tiện sản xuất, đi lại, thông tin v.v

+ Nguồn lực tài chính: Là những gì liên quan đến tài chính mà con người có được như: Nguồn thu nhập tiền mặt, tiền tiết kiệm, tín dụng và các nguồn khác như lương, nguồn hỗ trợ, viện trợ từ bên ngoài cho hộ gia đình và cho cộng đồng

Bảng 1.1 Khung sinh kế (Nguồn: Bộ phát triển quốc tế Anh quốc (DFID)

Mỗi hộ dân là một bộ phận cấu thành nên cộng đồng họ đang sống, các tài sản

và nguồn lực của họ cũng là một phần tài sản và nguồn lực của cộng đồng đó, vì vậy chiến lược sinh kế của mỗi hộ đều có sự tương đồng và phù hợp với nhau cũng như phù hợp với chiến lược sinh kế của cộng đồng

Chiến lược sinh kế cộng đồng cũng dựa trên 5 loại nguồn lực trên nhưng mang

ý nghĩa rộng hơn cho cả cộng đồng, đó là: số lượng và chất lượng nguồn nhân lực của cộng đồng; Thể chế chính trị, phong tục, tập quán, uy tín của cả cộng đồng; Điều kiện tự nhiên của địa bàn cộng đồng sinh sống; Các cơ sở hạ tầng xã hội hỗ trợ

Trang 26

cho sinh kế như giao thông, hệ thống cấp nước, hệ thống ngăn, tiêu nước, cung cấp năng lượng, thông tin, v.v

- Khung sinh kế bền vững: đươ ̣c coi là một cách tiếp cận toàn diện về các

vấn đề phát triển thông qua việc thảo luận về sinh kế của con người và đói nghèo trong các bối cảnh khác nhau Về mặt khái niệm, các tiếp cận này có nguồn gốc từ các nghiên cứu phát triển liên quan đến đói nghèo và giảm nghèo, nổi bật nhất là các phân tích của Amartya Sen , Robert Chambers và một số ho ̣c giả khác Nhấn mạnh đến tính hiệu quả của các hoạt động phát triển, các tiếp cận sinh kế bền vững

(sustainable livelihood approaches) là kết quả của cuộc tranh luận giữa các nhà

nghiên cứu và thực hành phát triển về phát triển nông thôn Trong đó, khung phân tích sinh kế bền vững do Bộ Phát triển Quốc tế Anh (Department for International Development - DFID) thúc đẩy [Carney (ed.), 1998] được các học giả và các cơ quan phát triển ứng dụng rộng rãi Ở Việt Nam, các tiếp cận sinh kế bền vững , nhất

là khung phân tích sinh kế bền vững của DFID, đã được ít nhiều thảo luâ ̣n

Tóm lại, các quan điểm về sinh kế bền vững đều hướng đến mối quan hệ mang tính vững chắc như kiềng ba chân giữa 3 yếu tố: kinh tế - môi trường - xã hội Đây cũng được xem là mục tiêu mà con người hướng tới trong tương lai khi tác động ngược của các quan điểm phát triển sai lệch trước đây đã và đang ngày càng ảnh hưởng tiêu cực đến con người

1.2 Truyền thông phát triển về các mô hình sinh kế

1.2.1 Lý thuyết về truyền thông phát triển

- Truyền thông (communication): là một quá trình liên tục trao đổi hoặc chia

sẻ thông tin, tình cảm, kinh nghiệm, kĩ hăng nhằm tạo sự liên kết lẫn nhau để dẫn

tới sự thay đổi trong hành vi và nhận thức [34, tr 11]

Truyền thông thường gồm ba phần chính: nội dung, hình thức, và mục tiêu Nội dung truyền thông bao gồm các hành động trình bày kinh nghiệm, hiểu biết, đưa ra lời khuyên hay mệnh lệnh, hoặc câu hỏi Các hành động này được thể hiện qua nhiều hình thức như động tác, bài phát biểu, bài viết, hay bản tin truyền hình

Trang 27

Mục tiêu có thể là cá nhân khác hay tổ chức khác, thậm chí là chính người hoặc tổ chức gửi đi thông tin

Có nhiều cách định nghĩa lĩnh vực truyền thông, trong đó truyền thông không bằng lời, truyền thông bằng lời và truyền thông biểu tượng Truyền thông không lời thực hiện thông qua biểu hiện trên nét mặt và điệu bộ Khoảng 93% “ý nghĩa biểu cảm” mà chúng ta cảm nhận được từ người khác là qua nét mặt và tông giọng, 7% còn lại là từ những lời nói mà chúng ta nghe được Truyền thông bằng lời được thực hiện khi chúng ta truyền đạt thông điệp bằng ngôn từ tới người khác Truyền thông biểu tượng là những thứ chúng ta đã định sẵn một ý nghĩa và thể hiện một ý tưởng nhất định ví dụ như quốc huy của một quốc gia

Mục đích của truyền thông là hướng đến những hiểu biết chung nhằm thay đổi thái độ, nhận thức, hành vi của đối tượng truyền thông và tạo định hướng giá trị cho công chúng

- Truyền thông phát triển (Development Communication): hoặc truyền

thông vì sự phát triển (Development Support Communication) - viết tắt trong tiếng Anh là C4D là khái niệm khá mới mẻ nếu so với lịch sử phát triển của ngành báo chí Ý tưởng chung của truyền thông phát triển là làm thế nào để phục vụ cho mục tiêu phát triển tại các nước đang phát triển

Nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới đưa ra ý rằng C4D mang cả giá trị nền tảng

lý luận và thực hành trong các tiến trình phát triển Từ góc độ thực tế, đã có dẫn chứng cho thấy những cấu trúc, mô hình và tiến trình truyền thông “có liên hệ mật thiết với công tác quản trị hiệu quả, minh bạch và đáng tin cậy hơn, với sự hình thành xã hội dân sự bền vững và năng động hơn, và với tăng trưởng kinh tế nhanh chóng và đồng đều hơn” Thông tin và tri thức được coi là những yếu tố thiết yếu với con người để “ứng xử phù hợp với những cơ hội và thách thức của thay đổi xã hội, kinh tế và công nghệ, trong đó có những thay đổi giúp cải thiện năng suất nông nghiệp, an ninh lương thực và sinh kế nông thôn” Truyền thông cũng đóng vai trò chủ đạo trong “chuyển đổi các quan niệm xã hội và hành vi cá nhân”

Trang 28

Truyền thông và phát triển, với tư cách một ngành đặc thù cả về nghiên cứu và hoạt động thực tiễn, ra đời từ khá lâu trên thế giới, đánh dấu bằng công trình nghiên cứu của nhà xã hội học người Mỹ, Daniel Lerner (1958), Sự chuyển dịch của xã hội truyền thống: Hiện đại hóa Trung Đông Công trình là một nghiên cứu về con đường đi lên hiện đai hóa của 6 quốc gia quan trọng vùng Trung Đông Tư tưởng chính của tác phẩm là phương Đông cần học tập mô hình phương Tây để phát triển,

đó chính là mô hình hiện đại hóa, bắt đầu từ công nghiệp hóa

Công thức, hay quy trình của sự phát triển theo hướng này đó là: khi tiến trình

đô thị hóa đạt đến con số 25% trở lên, tương ứng với sự gia tăng của tỉ lệ dân cư tập trung ở thành thị, thúc đẩy khả năng đọc viết được cải thiện, cùng với sự phát triển của báo chí truyền thông, dẫn đến sự tham gia của người dân vào các hoạt động kinh tế, chính trị-xã hội ngày càng cao Kết quả và mục tiêu của quá trình là xã hội thay đổi, đi dần đến hiện đại

Sau đó, một học giả khác là Schramm Wilbur (1964), với tác phẩm Truyền thông đại chúng và sự phát triển quốc gia tiếp tục đi theo mô hình hiện đại hóa (mordenisation), tập trung vào xem xét vai trò của các phương tiện truyền thông đại chúng đối với sự biến đổi xã hội (social change) và phát triển (development) theo hướng hiện đại

Tuy nhiên, đến những năm đầu thập niên 1970s, sự thất bại của một số quốc gia đang phát triển áp dụng mô hình hiện đại hóa rập khuôn phương Tây đã đặt ra những vấn đề lý luận và thực tiễn về phát triển Dễ nhận thấy bất cập mang tính triết học của mô hình này là sự đối lập không dung hòa nổi giữa truyền thống và hiện đại Nói cách khác, các quốc gia phương Đông, vốn được coi là lạc hậu, nặng căn truyền thống, muốn tiến lên hiện đại thì phải từ bỏ, hay chí ít là thay đổi những thói quen, tập quán truyền thống lâu đời của mình Nhiều nước đi theo mô hình này không những không đạt được trình độ phát triển như phương Tây mà còn rơi vào khủng hoảng, bẫy thu nhập trung bình, bất ổn, xung đột văn hóa, xung đột tôn giáo, hay dẫn đến tâm lý thù ghét phương Tây - như một mầm mống, một nguyên nhân giải thích cho những tư tưởng cực đoan, khủng bố sau này

Trang 29

Cũng từ thập niên 1970 trở đi, những yếu tố quan trọng của phát triển như văn hóa sở tại, con người và các điều kiện kinh tế xã hội của quốc gia đã có mặt trên bàn nghị sự của các chương trình hành động vì phát triển trên quy mô toàn cầu, đã được nhìn nhận thấu đáo hơn Đó là cơ sở cho sự ra đời các trường phái, mô hình mới trong lĩnh vực truyền thông phát triển, đặt trọng tâm tiếp cận là các tổ chức cộng đồng Một mặt, vai trò nòng cốt, quyết định của báo chí và truyền thông đại chúng vẫn được khẳng định trong việc tạo ra những dòng chảy thông tin liên tục, đại chúng, thúc đẩy sự phổ biến kiến thức, kinh nghiệm, kỹ năng phục vụ các mục tiêu phát triển của người dân Mặt khác, đã có sự đề cao vai trò quan trọng của truyền thông cộng đồng, tức là những yếu tố văn hóa, truyền thống, hoạt động giao tiếp, kể

cả tín ngưỡng văn hóa, tương tác cộng đồng của người dân sở tại, cũng như vai trò của các tổ chức công dân, hiệp hội ở địa phương

Tổ chức Liên hợp quốc về văn hóa, giáo dục, UNESCO, và chương trình phát triển Liên hợp quốc, UNDP, cũng đã đưa vào cương lĩnh và chiến lược hành động

vì sự phát triển của các quốc gia, đặc biệt là phát triển con người, phát triển bền vững, đề ra những giá trị, mục tiêu phổ quát của phát triển; nhưng đồng thời cũng tôn trọng và khuyến khích các mô hình, những tiếp cận đặc thù dựa trên nền tảng văn hóa xã hội và trình độ phát triển ở từng quốc gia

Vai trò của truyền thông đối với sự nghiệp phát triển đã được nhìn nhận trên diện rộng, quy mô và đa chiều Theo đó, tiếp cận từ trên xuống là đánh giá vai trò, thực tiễn hoạt động của báo chí và các phương tiện truyền thông đại chúng Tiếp cận từ dưới lên là mô hình truyền thông cộng đồng có sự tham gia của người dân vào các hoạt động phục vụ cho chính mục tiêu phát triển, cải thiện, nâng cao chất lượng sống của họ Ngoài ra, công tác truyền thông phục vụ phát triển cũng thu hút

sự tham gia và đóng góp quan trọng của các thành phần: những nhà hoạch định và thực thi chính sách (quốc gia và địa phương); doanh nghiệp và giới đầu tư, và các nhà khoa học

Trước yêu cầu thực tiễn đặt ra, vấn đề phát triển bền vững, trong đó có phát triển bền vững địa phương đã và đang trở thành một trong những đề tài nghiên cứu

Trang 30

nhận được sự quan tâm của giới nghiên cứu trong nước và trên thế giới Các chuyên gia, các nhà khoa học trên tất cả các lĩnh vực từ khoa học xã hội tới khoa học kinh

tế, khoa học kinh tế,… đã và đang thực hiện các nghiên cứu về phát triển bền vững

1.2.2 Các mô hình truyền thông cho hoạt động phát triển sinh kế bền vững và phương thức thể hiện trên truyền hình

1.2.2.1 Mô hình tuyên truyền

Trong mô hình này, báo chí địa phương đóng vai trò quan trọng Chức năng của báo chí cách mạng Việt Nam là thông tin, tuyên truyền, cổ động, tổ chức tập thể Các loại hình báo chí từ báo in, phát thanh, truyền hình, báo mạng điện tử, hay các công thông tin địa phương có nhiệm vụ tuyên truyền thường xuyên, kịp thời về các chính sách, chủ trương, đường lối của các cấp lãnh đạo Đảng, Nhà nước và địa phương

Mô hình tuyên truyền là điển hình của kiểu truyền thông từ trên xuống Tuy nhiên, nó vẫn phát huy tác dụng và cần thiết, đặc biệt là đối với các nội dung thuộc

về quyết sách, lâu dài, chân lý và những thông điệp không mang tính tranh cãi như không chặt phá rừng, bảo vệ môi trường, bài trừ hủ tục, mê tín dị đoan, gìn giữ bản sắc văn hóa vùng v.v

Điều kiện then chốt của công tác tuyên truyền là đảm bảo quyền tiếp cận thông tin của người dân, đảm bảo phủ sóng thông tin từ các loại hình đến được với đồng bào vùng sâu, vùng xa; đi kèm với đó là khả năng đọc viết của người dân

1.2.2.2 Mô hình truyền thông thay đổi hành vi

Hoạt động tuyên truyền không thể hiệu quả nếu đi sự vận động, giải thích Truyền thông thay đổi hành vi là mô hình nhấn mạnh vào khả năng thuyết phục của thông tin đối với người tiếp nhận Trong xu thế bùng nổ truyền thông, công chúng

có thể tiếp nhận thông tin từ nhiều nguồn khác nhau, họ cũng chủ động hơn trong việc lựa chọn xem hoặc không xem

Mô hình thay đổi hành vi dựa trên cơ sở tâm lý học hành vi, bắt đầu từ việc nhận thức cho đến tiếp cận, tiếp nhận, vận dụng, hay khước từ vận dụng những kiến thức, chỉ dẫn của thông tin vào đời sống cá nhân Do đó, thông tin muốn thuyết

Trang 31

phục phải đảm bảo độ chính xác, tính dễ hiểu, và nghệ thuật đưa tin, làm sao để người dân nhận thấy họ có liên quan, tức là phải tiếp cận từ nhu cầu của họ, thay vì

từ phía người truyền thông

Trong lĩnh vực truyền thông phát triển, mô hình thay đổi hành vi được áp dụng triệt để, cả hai hướng tiếp cận: gián tiếp qua phương tiện truyền thông đại chúng, hay trực tiếp qua kênh truyền thông cộng đồng

Cũng giống như tuyên truyền, mô hình thay đổi hành vi cần phải được thực hiện thường xuyên, lâu dài để đạt được hiểu quả

1.2.2.3 Mô hình khuếch tán

Cha đẻ của mô hình này chính là nhà nghiên cứu nổi tiếng trong ngành truyền thông người Mỹ Latinh, Everett Rogers Dựa trên lý thuyết dòng chảy hai bước (two step flow) của thông tin, Rogers cho rằng, những tri thức, sự cải tiến, tiến bộ (innovations) được tiếp cận bởi một nhóm tiên phong trong cộng đồng trước khi khuếch tán đến các đối tượng rộng hơn

Mô hình khuếch tán đòi hỏi sự phối kết hợp của báo chí với các nhà khoa học, các nhà quản lý một cách chặt chẽ Đây là cách mà báo chí tham gia trực tiếp vào hoạt động phát triển cộng đồng, theo hướng tư vấn, chỉ dẫn (media advocacy) Lâu nay, trong nhiều hội thảo, nhiều công trình nghiên cứu đã phân tích rất rõ

về vai trò của khoa học công nghệ, của các nhà khoa học, chuyên gia trong việc phát triển liên kết vùng Tuy nhiên còn có thể nhìn nhận vai trò ảnh hưởng của các nhà khoa học, các nhà quản lý từ giác độ truyền thông, từ các mô hình truyền thông

“khuếch tán” cũng như các mô hình truyền thông phát triển khác

1.2.2.4 Mô hình giáo dục - giải trí

Đúng như tên gọi, đây là mô hình có sự kết hợp của cả hai phương diện giáo dục và giải trí.Theo kinh nghiệm lâu năm trong lĩnh vực phát triển, các chuyên gia phải thừa nhận rằng, cá nhân sử dụng truyền thông nhằm thỏa mãn nhu cầu giải trí luôn cao hơn so với nhu cầu thông tin Xét cho cùng, bất kỳ hoạt động giải trí lành mạnh nào đều có thể mang lại một ích lợi nhất định về phương diện nhận thức, tri thức, kinh nghiệm, kỹ năng Tuy nhiên, để phát huy hiểu quả và đạt được mục tiêu

Trang 32

phát triển, các nhà nghiên cứu cũng như hoạt động thực tiễn đề ra phương thức lồng ghép các nội dung giáo dục vào các chương trình truyền thông giải trí

Mô hình giáo dục - giải trí có thể áp dụng ở cấp độ của các phương tiện truyền thông đại chúng như phát thanh, truyền hình Ở cấp độ địa phương, cộng đồng, đó

là các hình thức tuyên truyền, biểu diễn nghệ thuật lưu động, các sân khấu truyền thống do các nghệ sỹ địa phương trình diễn các loại hình truyền thống với lồng ghép giáo dục về kỹ năng sống, về xây dựng đời sống văn hóa, văn minh ở cơ sở Đây chính là cách mà truyền thông phát triển khắc phục sự phiến diện, cực đoan của thời kỳ đầu là đối lập tuyệt đối cái truyền thống với cái hiện đại; bằng cách ngược lại - phát huy tối đa thế mạnh của các lọai hình nghệ thuật truyền thống, mà xét cho cùng cũng là các loại hình truyền thông, chuyển những vấn đề vĩ mô, hóc búa thành những câu chuyện đời thường, lồng ghép những thông điệp phát triển kinh tế vào những sinh hoạt văn hóa của người dân Và điều quan trọng hơn là sức sống của những nội dung truyền thông đó sẽ lan tỏa sâu rộng, bền vững hơn nếu như chính họ là người tự sáng tạo ra các nội dung truyền thông đó

1.2.2.5 Mô hình tham gia

Đúng như tên gọi, thuật ngữ tham gia (participation) khẳng định vai trò chủ thể của các cá nhân trong chương trình truyền thông Mô hình này cũng phù hợp với mục tiêu lấy con người làm trọng tâm của truyền thông và phát triển bền vững Mô hình này cũng phát huy vai trò của các tổ chức, đoàn thể như Hội phụ nữ, Đoàn thanh niên, Hội Cựu chiến binh của từng địa phương

Cách thức của truyền thông tham gia cũng đa dạng Có thể là một hoạt động cấp xã, phường, thôn xóm tổ chức về một chủ đề cụ thể như thế nào là phát triển kinh tế vườn rừng, làm thế nào để chế biến, tiêu thụ hàng hóa, những sản phẩm nào

có giá trị cao v.v Ở đó, người dân được tham gia và giao tiếp với nhau, họ là chủ thể của hình thức truyền thông được thiết kế như một buổi sinh hoạt tập thể, hay một trò chơi Nhà truyền thông sẽ đóng vai trò trọng tài dẫn dắt và gợi ý để các cá nhân tự tìm kiếm tri thức, câu trả lời cho những vấn đề đặt ra

Cũng có thể là một hoạt động của chính người dân, mà một trong số họ có thể

Trang 33

giữ vai trò chủ chốt có vai trò là những “nhà truyền thông”, với những minh chứng thuyết phục “người thực - việc thực” để vận động người dân địa phương tham gia các chương trình, dự án kinh tế mang tính tập thể, quy mô rộng lớn Chính những

mô hình tổ đội, hợp tác xã nông nghiệp tại địa phương không chỉ có chức năng của một đơn vị kinh tế, mà còn là hạt nhân tuyên truyền về các mô hình, giải pháp nâng cao thu nhập cho người dân, giải quyết việc làm, góp phần làm thay đổi diện mạo đất nước Vấn đề đặt ra là nhà nước, chính quyền địa phương trong chiến lược phát triển kinh tế phải làm thế nào để người dân đóng vai trò chủ thể, phát huy được vai trò của mình trong tập hợp, vận động, thay đổi cách nghĩ, cách làm cho người dân

1.2.2.6 Mô hình tiếp thị xã hội

Đây là phương thức kết hợp hầu hết các mô hình riêng lẻ kể trên, để tạo thành một chương trình hành động có tính chiến lược dài hơi, quy mô Lõi của mô hình là một mục tiêu có tính chiến lược, đối tượng thụ hưởng trên diện rộng như kể trên Ở tầm vĩ mô, báo chí và các phương tiện truyền thông đại chúng đều vào cuộc thông tin, tuyên truyền, vận động, thuyết phục Ở cấp vi mô, từng địa phương, cộng đồng

có thể triển khai các hoạt động cụ thể Các doanh nghiệp, các nhà khoa học, hội - đoàn thể, cũng tham gia từ góc độ của mình

Kết hợp của cả hai ngành marketing và truyền thông, mô hình tiếp thị xã hội (social marketing) đang được áp dụng rộng rãi nhất hiện nay ở thế giới cũng như Việt Nam

1.3 Truyền hình địa phương với vấn đề truyền thông về mô hình sinh kế

Xuất phát từ lợi thế là có sự lan tỏa và tác động mạnh mẽ đến công chúng, trong hoạt động truyền thông phát triển, vai trò của truyền hình, đặc biệt là các kênh truyền hình địa phương giữ một vai trò quan trọng Tại Việt Nam, truyền hình là kênh thông tin tuyền truyền đường lối và chính sách của Đảng và Nhà nước; truyền tải nhanh chóng, chính xác, kịp thời những quyết sách quan trọng, mang tính chiến lược tới mọi vùng miền của Tổ quốc Những thông tin về tình hình kinh tế, chính trị, ngoại giao, các hoạt động kinh tế quốc tế trong và ngoài nước được cập nhật liên tục và truyền tải kịp thời Các kênh truyền hình góp phần thu hẹp khoảng cách giữa

Trang 34

các vùng miền, thúc đẩy sự phát triển kinh tế, quảng bá hình ảnh, những lợi thế của từng địa phương, mỗi vùng miền và cả quốc gia ra bên ngoài thế giới Đồng thời, truyền hình cũng tạo ra những cơ hội cho các hoạt động sản xuất, kinh doanh, giao

lưu văn hoá và là kênh cung cấp các hoạt động giải trí,

Hiện nay, cả nước có gần 70 đài phát thanh, truyền hình 63 tỉnh, thành phố trên cả nước đều có kênh truyền hình riêng, do UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quản lý Đài PT - TH địa phương cũng là cơ quan ngôn luận của Đảng bộ tỉnh, thành phố; là diễn đàn của nhân dân địa phương Chính vì vậy, Đài

PT - TH địa phương có vai trò quan trọng trong việc tuyên truyền nhằm giữ vững sự

ổn định về chính trị, thúc đẩy phát triển kinh tế, nâng cao dân trí và đời sống xã hội của địa phương đó Đồng thời, các Đài PT - TH địa phương còn thực hiện nhiệm vụ tuyên truyền, phổ biến đường lối, chủ trương chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước và các Nghị quyết, chính sách vào cuộc sống; góp phần bảo tồn, phát huy các giá trị bản sắc dân tộc, thực hiện chức năng làm cầu nối giữa Đảng, Nhà nước

và các đoàn thể xã hội với nhân dân; củng cố và tăng cường niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước

Báo chí địa phương nói chung và truyền hình địa phương nói riêng có lợi thế

là nắm chắc hoàn cảnh cụ thể, phong tục tập quán địa phương, có thể đi sâu vào từng đối tượng riêng biệt Từ đó thông tin trở nên gần gũi và góp phần tác động vào

tư tưởng, tình cảm của người dân địa phương một cách trực tiếp Công chúng địa phương thích xem truyền hình địa phương mình vì họ có thể cập nhật được thông tin về những sự kiện, vấn đề đang xảy ra xung quan mình

Ngôn ngữ thể hiện trên các kênh chương trình truyền hình địa phương ngày càng đa dạng Các chương trình truyền hình tiếng dân tộc đã được nhiều đài tăng thời lượng Bên cạnh các chương trình tiếng Việt, nhiều đài đã thực hiện các bản tin tiếng nước ngoài đáp ứng yêu cầu phục vụ nhiệm vụ thông tin đối ngoại

Thực tế cho thấy, mặc dù còn gặp nhiều khó khăn về kinh tế, đầu tư của ngân sách Nhà nước hạn chế, doanh thu quảng cáo không tăng hoặc tăng thấp, trong khi chi phí sản xuất chương trình tiếp tục tăng cao, song nhiều đài PT - TH địa phương

Trang 35

đã tập trung đồng bộ hóa các thiết bị sản xuất chương trình theo hướng số hóa, nâng cao chất lượng hình ảnh, âm thanh Hầu hết các Đài đã áp dụng sản xuất chương trình trên hệ thống bàn dựng phi tuyến, lưu trữ, phát sóng tự động trên mạng internet Một số Đài truyền hình đã bắt đầu sản xuất các chương trình truyền hình với tín hiệu HD, thích ứng với xu hướng phát triển chung của thế giới và khu vực cũng như với yêu cầu của dịch vụ truyền hình chất lượng cao Một số Đài còn xây dựng các kênh tương tác và giao tiếp với khán giả thông qua trang thông tin điện tử của Đài, trang Youtube và các trang mạng xã hội,

Không tránh khỏi còn nhiều hạn chế về con người, trang thiết bị, chuyên môn nghiệp vụ và còn không ít khó khăn, thách thức đặt ra trong thời đại công nghệ phát triển như vũ bão và thông tin bùng nổ mạnh mẽ, song đứng trước yêu cầu mới, để bắt kịp với sự phát triển về khoa học công nghệ phát thanh, truyền hình đang có những bước tiến rất nhanh, các Đài PT - TH địa phương nỗ lực tranh thủ mọi nguồn đầu tư, trong đó có nguồn thu sự nghiệp để mở rộng điều kiện tác nghiệp, năng lực sản xuất chương trình, trang thiết bị kỹ thuật theo hướng hiện đại, đồng bộ, đúng quy hoạch Tiếp tục thực hiện quyết liệt Quy hoạch truyền dẫn, phát sóng phát thanh, truyền hình đến năm 2020 và Đề án số hóa truyền dẫn, phát thanh truyền hình mặt đất đến năm 2020 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, các Đài phát thanh, truyền hình trên toàn quốc phải tiếp tục tập trung tăng cường hơn nữa công tác tuyên truyền về đề án này, từng bước chuyển đổi mô hình tổ chức để tập trung vào nhiệm vụ sản xuất và nâng cao chất lượng nội dung chương trình, bảo đảm để người dân sẽ được xem các chương trình truyền hình với chất lượng thông tin, hình ảnh, âm thanh tốt hơn và chuẩn bị tiền đề để tham gia tích cực hơn nữa vào việc cung cấp các nội dung gia tăng khác trên dịch vụ truyền hình số

Khi khán giả tìm đến đài địa phương, là lúc họ mong muốn được biết những tin tức gần gũi, liên quan trực tiếp, sát sườn với lợi ích của họ Đây chính là biểu hiện của xu hướng “phi đại chúng” trong báo chí

Với những vai trò và nhiệm vụ ấy, mỗi kênh truyền hình địa phương đều có các chương trình khác nhau phục vụ mục đích thông tin, tuyên truyền về các vấn đề,

Trang 36

sự kiện diễn ra tại chính địa phương đó, mang hơi thở cuộc sống của chính tỉnh, thành phố đó Cũng bởi vậy, đối với vấn đề phát triển phát triển bền vững nói chung, mô hình sinh kế nói riêng, tùy vào điều kiện địa lý và đặc điểm tự nhiên của mỗi địa phương mà các kênh truyền hình địa phương có hình thức tuyên truyền phù hợp Ví dụ điển hình, nếu đối với khu vực miền núi, nhiệm vụ tuyên truyền trọng tâm của kênh truyền hình địa phương về phát triển bền vững và mô hình sinh kế là những vấn đề tiêu biểu, như: bảo vệ rừng, nâng cao dân trí cho người dân khu vực dân tộc thiểu số, phát triển kinh tế lâm nghiệp,… thì đối với khu vực miền biển, các kênh truyền hình địa phương lại chú trọng đến: an ninh biển đảo, đối phó với tình trạng nước biển dâng, sinh kế cho ngư dân,… Có thể nói, vấn đề phát triển bền vững và sinh kế cho người dân là yêu cầu cấp thiết đặt ra đối với mỗi địa phương hiện nay Đây cũng là nội dung được các kênh truyền hình địa phương đặc biệt quan tâm thực hiện nhiệm vụ thông tin, tuyên truyền với mong muốn đưa các chính sách của Đảng, Nhà nước, các chủ trương của chính địa phương về phát triển bền vững, sinh kế bền vững đến công chúng; nâng cao nhận thức của công chúng về vấn đề này; và từ đó hiện thực hóa các nhiệm vụ, hành động cụ thể để hướng tới mục tiêu phát triển bền vững mỗi địa phương Nhưng, đến thời điểm này, chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách chi tiết, cụ thể về việc truyền tải, phản ánh nội dung truyền thông về phát triển bền vững địa phương hay cụ thể hơn là sinh kế bền vững trên sóng truyền hình địa phương

1.4 Văn hóa vùng với truyền thông về mô hình sinh kế

Văn hóa vùng là một dạng thức văn hóa, mà ở đó trong một không gian địa lý xác định, các cộng đồng người do cùng sống trong một môi trường tự nhiên nhất định, trong những điều kiện phát triển xã hội tương đồng, và nhất là các mối quan

hệ giao lưu văn hóa sống động, nên trong quá trình lịch sử lâu dài đã hình thành nhữn g đặc trưng văn hóa chung Những biểu hiện của văn hóa vùng mang tính đa

vẻ thể hiện trên toàn bộ các mặt của đời sống văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần của cư dân, tuy nhiên trong đó đặc trưng hơn cả là lối sống, nếp sống của cư dân, như việc làm lụng, nếp ăn mặc, đi lại giao tiếp, nếp vui chơi giải trí, phong tục, lễ

Trang 37

nghi, tín ngưỡng, lễ hội; các hoạt động văn hóa - nghệ thuật, nhất là văn hóa nghệ thuật dân gian như văn học dân gian, âm nhạc, dân ca, kiến trúc, trang trí dân gian

và chừng mực nào đó còn thấy ở phong cách và tâm lý của con người Trong mỗi một vùng văn hoá, lại có thể chia làm nhiều tiểu vùng văn hoá Khái niệm tiểu vùng văn hoá để chỉ những bộ phận hợp thành vùng văn hoá Mỗi tiểu vùng được xác định với những nét đặc thù bị chi phối bởi không gian địa lí, khí hậu và lịch sử hình thành, phát triển của vùng Việc phân loại tiểu vùng văn hoá hoàn toàn không phá

vỡ tính thống nhất của tổng thể một vùng văn hoá

Việc phân vùng văn hóa ở Việt Nam đến nay còn thiếu sự thống nhất trong giới nghiên cứu Hiện có bốn phương án khác nhau trong phân vùng văn hóa Việt Nam

Phương án thứ nhất, Đinh Gia Khánh, Cù Huy Cận (chủ biên) trong cuốn Các vùng văn hóa Việt Nam, NXB văn học Hà Nội, 1995, chủ trương chia nước ta thành 9 vùng văn hóa

Phương án thứ hai, Huỳnh Khái Vinh, Nguyễn Thanh Tuấn, trong Chấn hưng các vùng và tiểu vùng văn hóa ở nước ta hiện nay, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995), xác định Việt Nam có 8 vùng văn hóa

Phương án thứ ba, Ngô Đức Thịnh viết Văn hóa vùng và phân vùng văn hóa ở Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1993, lại chủ trương chia văn hóa Việt Nam thành 7 vùng

Phương án thứ tư, theo Trần Quốc Vượng (chủ biên) trong cuốn Cơ sở văn hóa Việt Nam, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1997, văn hóa Việt Nam nên chia thành 6 vùng

Mỗi phương án phân vùng văn hóa Việt Nam đều có một cơ sở lý luận riêng cùng với việc vận dụng về hệ tiêu chí của vùng văn hóa

Đối với mỗi vùng văn hóa, ta cần xem xét hai loại yếu tố: Một là yếu tố quyết định, hai là yếu tố biểu hiện

Yếu tố quyết định là những yếu tố về địa lý, điều kiện tự nhiên như địa hình, sinh thái, khí hậu, những đặc điểm về tộc người của dân cư, những đặc điểm về quá

Trang 38

trình phát triển lịch sử - xã hội, lịch sử chính trị, lịch sử đấu tranh, trạng thái xã hội v.v

Yếu tố biểu hiện là lối sống, phong tục tập quán, nghệ thuật bao gồm âm nhạc, hội họa, kiến trúc, điêu khắc, ca múa, sân khấu , ngôn ngữ và văn hóa, sự giao lưu văn hóa giữa nội và ngoại vùng, sự tương tác giữa văn hóa dân gian và văn hóa bác học, vai trò tinh hoa của trung tâm và sự khuếch tán của nó đối với vùng, tạo nên sự đồng nhất và sắc thái vượt trội của vùng v.v… Tất cả các yếu tố biểu hiện trên được bộc lộ ra trong tính cách, tâm lý, nếp sống của cư dân địa phương

Dựa vào những nét đặc trưng vừa phân tích ở trên, nhiều nhà nghiên cứu nước

ta chủ trương chia văn hóa Việt Nam thành 7 vùng văn hóa như sau:

- Vùng văn hóa châu thổ Bắc Bộ

- Vùng văn hóa Việt Bắc

- Vùng văn hóa Tây Bắc và miền núi Bắc Trung Bộ

- Vùng văn hóa duyên hải Bắc Trung Bộ

- Vùng văn hóa duyên hải Trung và Nam Trung Bộ

- Vùng văn hóa Trường Sơn - Tây Nguyên

- Vùng văn hóa Nam Bộ

1.4.1 Vùng Văn hóa Việt Bắc

Vùng văn hóa Việt Bắc bao gồm địa bàn của các tỉnh Hà Giang, Cao Bằng, Bắc Cạn, Tuyên Quang, Thái Nguyên, Lạng Sơn Tuy nhiên, vùng văn hóa Việt Bắc lại có ranh giới rộng hơn, nghĩa là nó bao gồm cả 6 tỉnh nói trên cộng thêm phần đồi núi của các tỉnh Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Bắc Giang và Quảng Ninh, cùng với vùng đất tả ngạn sông Thao thuộc Lào Cai, Yên Bái

Địa hình vùng Việt Bắc ít bị chia cắt như ở Tây Bắc, có cấu trúc theo kiểu cánh cung, tụ lại ở Tam Đảo

Cư dân Việt Bắc chủ yếu là người Tày và người Nùng, ngoài ra còn có một số tộc ít người khác là người Dao, người H‟mông, người Lô Lô, người Sán Chay…

Văn hóa sản xuất của cư dân Việt Bắc được đặc trưng bởi nghề nông làm ruộng nước ở vùng thung lũng và làm nương rẫy ở vùng núi Phong phú sản phẩm

Trang 39

nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, lại là đầu mối giao thông, nên từ lâu đã hình thành nên các chợ, thị trấn, thị xã hoạt động buôn bán trao đổi khá sầm uất, kết hợp với chợ thành kiểu phố chợ Ở đây cũng hình thành hệ thống bến sông, nơi qua lại trao đổi buôn bán bằng đường thủy, và một số trạm đảm bảo sự giao thông, thông tin buôn bán

1.4.2 Vùng Văn hóa châu thổ Bắc Bộ

Vùng văn hoá châu thổ Bắc Bộ bao gồm các tỉnh, thành phố: Hà Nội, Hà Tây (cũ), Hà Nam, Nam Định, Thái Bình, Hải Dương, Hưng Yên, Hải Phòng, Quảng Ninh; phần đồng bằng của tỉnh Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, Bắc Giang, Ninh Bình

Về mặt địa hình, châu thổ Bắc Bộ là địa hình núi xen kẽ đồng bằng hoặc thung lũng, thấp và bằng phẳng, dốc thoải từ Tây Bắc xuống Đông Nam, từ độ cao 10 - 15m giảm dần đến độ cao mặt biển Đặc biệt, Bắc Bộ là vùng duy nhất có mùa đông lạnh kéo dài ba tháng, khí hậu phân hoá thành bốn mùa tương đối rõ nét Đồng bằng Bắc Bộ có mạng lưới sông ngòi khá dày, gồm các dòng sông lớn như sông Hồng, sông Thái Bình, sông Mã, cùng hệ thống tưới tiêu dày đặc Đất đai trong vùng tương đối màu mỡ, thích hợp cho nền nông nghiệp lúa nước phát triển Như vậy, hai địa phương được lựa chọn nghiên cứu trong luận văn gồm tỉnh Tuyên Quang và thành phố Hải Phòng đại diện cho hai vùng văn hóa là Vùng văn hóa Việt Bắc và Vùng văn hóa châu thổ Bắc Bộ với đặc điểm địa hình khác nhau dẫn tới hình thành các sinh kế khác nhau

1.5 Đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước về sinh kế và truyền thông về mô hình sinh sinh kế

Biến đổi khí hậu hiện không còn là vấn đề của riêng một tổ chức, một quốc gia nào mà đang ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống của toàn nhân loại cũng như các loài sinh vật trên Trái đất Theo nhận định của UNDP, Việt Nam là một trong 5 quốc gia trên thế giới dễ bị tổn thương nhất trước biến đổi khí hậu và thường xuyên phải gánh chịu tác động của thiên tai Trong vòng 70 năm qua, nhiệt độ trung bình đã tăng thêm khoảng 2 - 3 độ C Mực nước biển dâng thêm khoảng 20cm Theo dự

Trang 40

đoán, vào cuối thế kỷ 21 này, nhiệt độ trung bình ở Việt Nam có thể tăng thêm 2,5 - 3,7 độ C và mực nước biển có thể dâng thêm từ 78 - 95cm Hậu quả, người Việt Nam

sẽ mất nhà cửa và 45% diện tích đất nông nghiệp sẽ ngập chìm trong nước biển

Biến đổi khí hậu ngày càng diễn biến phức tạp, gia tăng tốc độ, trong khi cuộc sống của đa số nông dân Việt Nam chủ yếu dựa vào nông nghiệp, do vậy, việc nghiên cứu và nhân rộng có hiệu quả các mô hình kinh tế thích ứng với biến đổi khí hậu góp phần quan trọng nâng cao hiệu quả sản xuất nông nghiệp, vừa đạt mục tiêu đảm bảo an ninh lương thực mà còn có giá trị xuất khẩu cao, đáp ứng nền nông nghiệp phát triển Phát triển sinh kế cho người dân trong điều kiện biến đổi khí hậu

là một vấn đề bức thiết đặt ra hiện nay

Ở Việt Nam, trong những năm qua, rất nhiều mô hình sinh kế đã được xây dựng nhằm hỗ trợ người dân thích ứng với biến đổi khí hậu

Là một quốc gia ven biển có bờ biển dài trên 3.200km, có các vùng biển và thềm lục địa khoảng 1 triệu km2, gần 3.000 đảo nằm rải rác trên biển Đông từ Bắc chí Nam, bao gồm các đảo ven bờ và hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa nằm giữa biển, đối với Việt Nam, biển và đảo có vai trò quan trọng về nhiều mặt kinh tế, quân

sự, chính trị… Vì vậy, lịch sử phát triển của đất nước luôn gắn chặt với việc bảo vệ các vùng biển và hải đảo thuộc chủ quyền quốc gia Hiện nay, trong sự nghiệp đổi

mới toàn diện, Đại hội Đảng lần thứ X (2006) chỉ rõ: “Phát triển mạnh kinh tế biển

vừa toàn diện vừa có trọng tâm, trọng điểm với những ngành có lợi thế so sánh để đưa nước ta trở thành quốc gia mạnh về kinh tế biển gắn với bảo đảm quốc phòng,

an ninh và hợp tác quốc tế (…) nhanh chóng phát triển kinh tế - xã hội ở các hải đảo gắn với bảo đảm quốc phòng, an ninh” Bên cạnh đó, Việt Nam cũng đã đưa

ra những chính sách về biển đảo phù hợp với thực tiễn và tình hình mới Tiêu biểu phải kể đến Quyết định số 3017/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về Điều chỉnh Quy hoạch phát triển kinh tế đảo đến năm 2020, định hướng đến năm 2030 Dựa trên những chính sách này, những năm gần đây, nhiều mô hình sinh kế nông nghiệp đã được triển khai tại các địa phương ven biển và bước đầu đạt được những thành công như: mô hình 2 vụ lúa chất lượng cao; mô hình 2 vụ lúa - 1 vụ rau màu; mô

Ngày đăng: 10/11/2019, 23:34

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm