- Làm rõ quan điểm đối ngoại và thực trạng triển khai chính sách của Nhật Bản trong mối quan hệ song phương và đa phương tại khu vực Đông Á, chỉ ra những lĩnh vực hợp tác và các vấn đề c
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
ĐÀO THÙY TRANG
ĐÔNG Á TRONG CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI CỦA NHẬT BẢN DƯỚI THỜI THỦ TƯỚNG SHINZO ABE
LUẬN VĂN THẠC SỸ QUỐC TẾ HỌC
Hà Nội – 2017
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
ĐÀO THÙY TRANG
ĐÔNG Á TRONG CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI CỦA NHẬT BẢN DƯỚI THỜI THỦ TƯỚNG SHINZO ABE
Chuyên ngành: Quan hệ quốc tế
Mã số: 60 31 02 06
LUẬN VĂN THẠC SỸ QUỐC TẾ HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Đặng Xuân Kháng
Hà Nội – 2017
Trang 31
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 4
Chương 1 NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI CỦA NHẬT BẢN ĐỐI VỚI ĐÔNG Á TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY 11 1.1 Vị trí địa chính trị của Đông Á tác động qua lại tới Nhật Bản 11
1.1.1 Về an ninh - chính trị 11
1.1.2 Về kinh tế 18
1.1.3 Về văn hóa- xã hội 21
1.2 Chính sách đối ngoại của Nhật Bản trước khi Thủ tướng Shinzo Abe tái đắc cử năm 2012 23
1.2.1 Sự điều chỉnh trong chiến lược hướng về châu Á của Nhật Bản những năm đầu thập kỷ 90 thế kỷ XX 23
1.2.2 Đông Á trong chính sách đối ngoại của Nhật Bản từ cuối những năm 90 (thế kỷ XX) đến trước khi Shinzo Abe tái đắc cử năm 2012 25
1.3 Bối cảnh tình hình khi Thủ tướng Shinzo Abe tái đắc cử năm 2012 31
1.4 Quan điểm chính trị của Thủ tướng Shinzo Abe 34
Tiểu kết 38
Chương 2: CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI CỦA NHẬT BẢN ĐỐI VỚI ĐÔNG Á DƯỚI THỜI THỦ TƯỚNG SHINZO ABE 39
2.1 Quan điểm chính trong chính sách đối ngoại đối với Đông Á của Thủ tướng Shinzo Abe 39
2.1.1 Tăng cường quan hệ đồng minh Nhật - Mỹ 42
2.1.2 Coi trọng quan hệ với các nước láng giềng 44
2.1.3 Tăng cường ngoại giao kinh tế 45
2.2 Quan hệ song phương 47
2.2.1 Chính sách đối ngoại của Nhật Bản đối với Trung Quốc 48
2.1.2 Chính sách đối ngoại của Nhật Bản đối với Hàn Quốc 60
2.1.3 Chính sách đối ngoại của Nhật Bản đối với Triều Tiên 64
2.1.4 Chính sách đối ngoại của Nhật Bản đối với Việt Nam 65
2.3 Quan hệ đa phương 72
2.2.1 Chính sách đối ngoại của Nhật Bản đối với ASEAN 72
Trang 42
2.2.2 Chính sách đối ngoại của Nhật Bản trong Hợp tác ba bên Nhật –
Trung – Hàn 81
Tiểu kết 86
Chương 3 MỘT SỐ NHẬN XÉT VÀ TÁC ĐỘNG CỦA CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI NHẬT BẢN TỚI KHU VỰC ĐÔNG NAM Á VÀ VIỆT NAM 88
3.1 Nhận xét chung 88
3.2 Tác động đối với khu vực Đông Nam Á 90
3.2.1 Tạo điều kiện cho các nước Đông Nam Á phát triển kinh tế 90
3.2.2 Đóng góp cho việc duy trì hòa bình và ổn định trong khu vực 92
3.2.3 Nâng cao vị thế của ASEAN trên trường quốc tế 96
3.3 Tác động đối với Việt Nam 98
KẾT LUẬN 102
TÀI LIỆU THAM KHẢO 104
Trang 53
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
ASEAN Association of Southeast Asian Nations
Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á
EU European Union
Liên minh châu Âu
FTA Free Trade Area
Khu vực thương mại tự do
DPJ Democratic Party of Japan
RCEP Regional Comprehensive Economic Partnership
Hiệp định đối tác kinh tế toàn diện khu vực
Trang 64
MỞ ĐẦU
1 Lý do lựa chọn đề tài
Bước sang thập niên tiếp theo của thế kỷ XXI, tình hình quốc tế và khu vực
có những chuyển biến phức tạp, khó lường, quan hệ quốc tế trở nên đa dạng, nhiều màu sắc hơn Chính sách đối ngoại của các nước, nhất là các nước lớn trở thành mối quan tâm của tất cả các chủ thể trong quan hệ quốc tế để từ đó mỗi quốc gia kịp thời điều chỉnh chính sách đối ngoại của mình nhằm tạo môi trường quốc tế thuận lợi cho phát triển đất nước Đông Á là khu vực đóng vai trò động lực tăng trưởng kinh
tế toàn cầu nhưng đồng thời cũng là nơi chứa đựng những bất ổn cho xung đột
Với vai trò là nền kinh tế lớn, là đồng minh quan trọng nhất của Mỹ ở khu vực, Nhật Bản sẽ đóng vai trò rất lớn trong khu vực Đông Á Chính sách đối ngoại của Nhật Bản không chỉ tác động đến quan hệ quốc tế trong khu vực, mà còn tác động đến từng quốc gia Đông Á Kể từ khi lên nắm quyền (tháng 12/2012), Thủ tướng Shinzo Abe đã không chỉ vực dậy nền kinh tế Nhật Bản mà còn có những bước đi bứt phá trong chiến lược nhằm nâng vị thế của Nhật Bản trên trường quốc
tế Trong gần 5 năm cầm quyền, chính sách đối ngoại của Thủ tướng Shizo Abe đã gây sự chú ý lớn cho các nhà lãnh đạo, nhà hoạch định chính sách, các nhà nghiên cứu Hơn nữa, Thủ tướng Shinzo Abe đã và đang hình thành và phát triển mạnh mẽ các chính sách thúc đẩy tiến trình liên kết khu vực Đông Á Do đó nghiên cứu đề tài này cho thấy một phần quan trọng trong cục diện chính trị ngoại giao Đông Á những năm gần đây
Việt Nam là một trong những nước thuộc khu vực Đông Á được Thủ tướng Shinzo Abe tới thăm đầu tiên khi vừa mới đắc cử, điều này cho thấy mối quan tâm lớn của ông tới Việt Nam Trong xu thế quốc tế hiện nay, Việt Nam cũng đang tìm kiếm con đường phát triển phù hợp cho đất nước trên bình diện đối ngoại Vì thế, việc tìm hiểu chính sách đối ngoại của các nước, trong đó có Nhật Bản là hết sức cấp thiết Nghiên cứu “Đông Á trong chính sách đối ngoại của Nhật Bản dưới thời Thủ tướng Shinzo Abe” sẽ có ý nghĩa khoa học và thực tiễn Luận văn sẽ là tài liệu
Trang 7- Luận văn thạc sỹ của Đỗ Thị Thu Hà, “Chính sách đối ngoại của Nhật Bản
đối với Đông Á dưới thời thủ tướng Koizumi”, bảo vệ năm 2013 tại Trường Đại học
Khoa học xã hội và Nhân văn Luận văn này làm rõ những chuyển biến trong đường lối đối ngoại của cựu thủ tướng Koizumi đối với khu vực Đông Á
- “Quan điểm của Nhật Bản về liên kết Đông Á trong bối cảnh toàn cầu hóa
và hội nhập kinh tế quốc tế” do Trần Quang Minh chủ biên, NXB KHXH xuất bản
năm 2007 Cuốn sách phân tích làm rõ quan điểm mới của Nhật Bản trong thúc đẩy tiến trình liên kết Đông Á giai đoạn thủ tướng Koizumi cầm quyền
- “Điều chỉnh chính sách đối ngoại của Nhật Bản trong bối cảnh quốc tế
mới” do Nguyễn Duy Dũng chủ biên, Tạp chí Nghiên cứu Nhật Bản và Đông Bắc
Á, số 10/2006 Bài viết phân tích những chuyển biến rõ rệt trong chính sách đối ngoại của Nhật Bản trước khi thủ tướng Shinzo Abe nắm quyền lần đầu năm 2006-
2007
Ở nước ngoài, việc nghiên cứu về chính sách đối ngoại của Nhật Bản đối với Đông Á được chú ý hơn, có thể kể đến một số tác phẩm:
Trang 86
- “The foreign policy of Japan under the new Abe administration”, tài liệu
nghiên cứu chính sách của Viện Nghiên cứu ASEAN (IAS) do Filip Sebok chủ biên, công bố tháng 12/2013 Thông qua cách nhận định hướng chiến lược của Thủ tướng Abe là “bình thường hóa” chính sách đối ngoại và có một cách nhìn rộng hơn, tác giảphân tích những nỗ lực của ông sau khi tái đắc cử năm 2012 để đưa Nhật Bản hướng tới một kỷ nguyên mới nhằm thay đổi hiện trạng an ninh bất ổn khu vực châu Á-Thái Bình Dương
- “Japan’s challenges in East Asia – Views from the next generation” của
Yuki Tatsumi thuộc Trung tâm Stimson, Mỹ công bố tháng 3/2014 Bài viết phân tích chi tiết các thách thức tại khu vực Đông Á dưới thời Thủ tướng Shinzo Abe
- “Japan’s vision for East Asia – Diplomacy amid geopolitical challenges”
do Shihoto Goto chủ biên, Trung tâm Wilson, Mỹ, năm 2015 Tài liệu tập hợp các bài viết phân tích đường lối đối ngoại của Thủ tướng Shinzo Abe trong bối cảnh Đông Á tiềm ẩn những thách thức an ninh bất ổn
Ngoài ra, tham khảo một số nghiên cứu liên quan đến đường lối đối ngoại của Nhật Bản dưới thời Thủ tướng Shinzo Abe như:
- John Hemmings and Maiko Kuroki, “Shinzo Abe: Foreign Policy 2.0”,
tháng 01/2013
- Andrew R Capistrano and Shuhei Kurizaki, “Japan’s changing defense
posture and security relations in East Asia”, The Korean Journal of International
Studies,Vol.14, 4/2016
- James Gannon, “Post-Abe: Back to the future for Japan?”, 29/02/2016
- Piyush Singh, “The architect: How Abe redesigned Japan’s foreign
policy”, The nationalinterest, 17/3/2016
Nhìn chung các công trình trên thường đề cập thiên về chính sách đối ngoại nói chung của Nhật Bản qua các thời kỳ Việc nghiên cứu chính sách đối ngoại của Nhật Bản đối với khu vực Đông Á dưới thời Thủ tướng Shinzo Abe (từ 2012 đến 2016) là một chủ đề mới, chưa được nghiên cứu riêng Luận văn sẽ đi sâu vào tìm hiểu chính sách đối ngoại của Thủ tướng Shinzo Abe trong quan hệ song phương và
Trang 93.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đông Á trong chính sách đối ngoại của Nhật Bảndưới thời Thủ tướng Shinzo Abethông qua quan điểm, chính sách đối ngoại của Nhật Bản đối với một số nước
và tổ chức trong khu vực
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Shinzo Abe từng là Thủ tướng Nhật Bản từ ngày 26/9/2006 đến tháng 9/2007 Ông là người nhậm chức lúc trẻ nhất trong các Thủ tướng Nhật Bản từ sau Chiến tranh Thế giới II và là Thủ tướng đầu tiên sinh sau Chiến tranh Năm
2007, ông Abe từ chức Thủ tướng và Chủ tịch Đảng Dân chủ Tự do khi mới làm được một năm, sau thất bại của đảng này trong cuộc bầu cử Thượng viện 5 năm sau, ông Abe lại tiếp tục tranh cử, quay lại làm Thủ tướng Nhật Bản từ ngày 26 tháng 12 năm 2012
Vì nhiệm kỳ thứ nhất ông Abe chỉ cầm quyền trong vòng 1 năm nên luận văn chỉ tập trung nghiên cứu chính sách của ông đối với khu vực Đông Á từ năm 2012 đến năm 2016
4 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Mục tiêu nghiên cứu
Nghiên cứu Đông Á trong chính sách đối ngoại Nhật Bảndưới thời Thủ tướng Shinzo Abe nhằm:
- Làm rõ vị trí địa chính trị của Đông Á trong chính sách đối ngoại của Nhật Bản dưới thời Thủ tướng Shinzo Abe và vai trò của Nhật Bản đối với khu vực Đông
Á
- Chỉ ra tác động của chính sách trên đối với an ninh, ổn định của khu vực Đông Nam Á, và của Việt Nam
Trang 108
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Phân tích các nhân tố tác động tới quá trình hình thành và phát triển đường lối đối ngoại của Thủ tướng Shinzo Abe đối với khu vực Đông Á từ khi tái đắc cử năm 2012 đến năm 2016
- Làm rõ quan điểm đối ngoại và thực trạng triển khai chính sách của Nhật Bản trong mối quan hệ song phương và đa phương tại khu vực Đông Á, chỉ ra những lĩnh vực hợp tác và các vấn đề còn tồn tại giữa các bên
- Trên cơ sở phân tích các chính sách đối ngoại cụ thể đó, nhận xét tác động của chính sách đối ngoại đối với Đông Á của Thủ tướng Shinzo Abe tác động đến khu vực Đông Nam Á và Việt Nam
5.Phương pháp nghiên cứu
- Luận văn vận dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lenin, đường lối đối ngoại của Đảng và nhà nước ta để tiếp cận và giải quyết các vấn đề khoa học của đề tài
- Các phương pháp nghiên cứu chính sách đối ngoại, quan hệ quốc tế theo cấp độ liên quốc gia/khu vực, toàn cầu/hệ thống, phương pháp phân tích văn bản…
sẽ được sử dụng trong quá trình chuẩn bị luận văn
- Luận văn sẽ sử dụng một số lý thuyết về quan hệ quốc tế, đặc biệt là chủ nghĩa hiện thực để tiếp cận và giải quyết các vấn đề khoa học của đề tài
- Ngoài ra, luận văn kết hợp sử dụng một số phương pháp của các ngành khoa học khác như nghiên cứu văn bản, phân tích vấn đề theo lịch đại, và đồng đại, thống kê, tổng hợp, so sánh, khi cần thiết và thích hợp
6 Nguồn tài liệu được sử dụng
6.1 Tài liệu cấp 1 (tài liệu gốc)
- Các văn kiện chính thức của Nhật Bản và các nước về quan hệ giữa Nhật Bản với các nước
- Phát biểu của các lãnh đạo nhà nước, chính giới, nhân vật hoạt động chính trị
Trang 119
- Các báo cáo của chính phủ, chính quyền các cấp, các tổ chức xã hội, doanh nghiệp và thống kê hàng năm
6.2 Tài liệu cấp 2 (tài liệu thứ cấp)
- Các công trình nghiên cứu khoa học liên quan tới đề tài của luận văn đã được công bố trên các tập san, tạp chí chuyên ngành
- Các thông tin liên quan tới luận văn hoặc các vấn đề của luận văn thu thập trên báo chí, trên các trang mạng chính thức của Bộ ngoại giao, Viện Nghiên cứu của Nhật Bản và Việt Nam
7 Đóng góp của luận văn
7.1 Tính khoa học
Đây là một đề tài nghiên cứu còn khá mới ở trong nước nên còn nhiều vấn đề cần được làm rõ, nhất là trong bối cảnh tình hình thế giới có nhiều biến động khó lường Việc nghiên cứu một cách bài bản, hệ thống đường lối đối ngoại của chính quyền Thủ tướng Shinzo Abe đối với Đông Á với hòa bình và ổn định khu vực
Thông qua việc đánh giá tác động của chính sách trên đối với khu vực Đông Nam Á-nơi tác động trực tiếp đến Việt Nam, có ý nghĩa trong việc nghiên cứu và đưa ra các luận điểm khoa học mang tính tham khảo cho công tác thực tiễn
8 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, Luận văn gồm 3 chương:
Trang 12xã hội; quá trình điều chỉnh và phát triển quan điểm đối ngoại của Nhật Bản đối với khu vực Đông Á qua các thời kỳ từ đầu thập niên 90 của thế kỷ XX đến trước khi Thủ tướng Shinzo Abe tái đắc cử năm 2012; bối cảnh tình hình thế giới và khu vực ảnh hưởng đến những điều chỉnh của ông Abe trong chính sách đối với Đông Á
Chương 2: Chính sách đối ngoại của Nhật Bản đối với Đông Á dưới thời Thủ tướng Shinzo Abe
Nội dung chính của chương là chỉ ra quan điểm đối ngoại của Thủ tướng Abe đối với khu vực Đông Á và phân tích chính sách đối ngoại của ông Abe đối với khu vực này thông qua các mối quan hệ song phương và đa phương của Nhật Bản với một số nước và tổ chức trong khu vực trên các lĩnh vực Đồng thời nhìn nhận và đánh giá khách quan các vấn đề còn tồn tại giữa Nhật Bản với các nước đặc biệt, tác giả chỉ ra vai trò không thể thiếu được của Nhật Bản đối với tổ chức ASEAN, nhất là vai trò trong cơ chế ASEAN+1, ASEAN+3
Chương 3: Một số nhận xét và tác động của chính sách đối ngoại của Nhật Bản tới khu vực Đông Nam Á và Việt Nam
Chương này đưa ra một số nhận xét chung và phân tích những tác động của chính sách đối ngoại của Nhật Bản đối với khu vực Đông Nam Á nói chung và Việt Nam nói riêng
Trang 13Đông Á là dải đất chạy dài từ bắc xuống nam nằm ở rìa phía Đông lục địa
nhất từ nửa sau thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX, Đông Á hầu như chỉ là một khu vực/đối tượng cho những cuộc xâm lược thôn tính của các cường quốc thực dân châu Âu và Bắc Mỹ, thì từ nửa sau thế kỷ XX và nhất là sau chiến tranh lạnh, Đông
Á đã trở thành một khu vực địa - chính trị quan trọng với vị thế quốc tế ngày càng nổi bật trên trường quốc tế, góp phần to lớn đối với chiều hướng phát triển của thế giới ngày nay
Thực ra, không phải tận cuối những năm 1990 ý tưởng về xây dựng cộng đồng Đông Á mới được khởi xướng mà nội dung này đã được đề cập từ khá lâu Với người Nhật, cụm từ “Cộng đồng châu Á” đã được nói đến từ cuối thế kỷ XIX khi đế quốc Nhật Bản bành trướng ra bên ngoài (vùng Viễn Đông và Đông Nam Á)
Về sau Nhật Bản đã ra sức tuyên truyền cho việc xây dựng “Khối đại Đông Á phồn thịnh” Ý tưởng về mở rộng hợp tác các nước trong khu vực tiếp tục được nêu ra dưới những tên gọi khác nhau, đặc biệt xuất hiện khá rầm rộ vào những năm 1960
Đó là “Vòng cung kinh tế Đông Á”, “Vòng cung kinh tế châu Á Thái Bình Dương”,
“Cộng đồng kinh tế lòng chảo Thái Bình Dương” … Những năm 1990 Nhật Bản lại kêu gọi thiết lập “Hành lang phát triển châu Á”.2
Vấn đề cộng đồng lại được khơi dậy khi Thủ tướng Malaixia Mahathiar đề xuất thành lập “Nhóm Kinh tế Đông Á” (East Asian Economic Group – EAEG), bao gồm hầu hết các nước ven biển Đông Á và hoạt động trong khuôn khổ APEC Theo quan điểm của một số nước Đông Á, cơ chế hợp tác dựa trên nguyên tắc hoạt động của ASEAN Nội dung chính của cơ chế hợp tác bao gồm các hội nghị cấp
1Nguyễn Quốc Hùng (2008), An ninh Đông Á, Tạp chí Đông Nam Á, số 2/2008, tr.4-9
2 Nguyễn Duy Dũng (2017), Xây dựng cộng đồng Đông Á: Những thách thức chủ yếu, Viện nghiên cứu
Đông Bắc Á, 2017
Trang 1412
cao, các kỳ gặp mặt của các nguyên thủ quốc gia, cấp bộ trưởng và mục đích cơ bản
là thúc đẩy hội nhập khu vực, trước hết là khía cạnh kinh tế.Mặc dù hợp tác Đông Á theo mô thức ASEAN+3 tiến triển chậm nhưng cũng đạt được một số kết quả nhất định Cơ chế hợp tác ASEAN+3 đã được hình thành, thể hiện trong các văn kiện, như Tuyên bố chung Hợp tác Đông Á, các báo cáo của Nhóm tầm nhìn Đông Á (EAVG), các báo cáo của Nhóm nghiên cứu Đông Á, các đề nghị tổ chức cấp cao Đông Á, khu vực mậu dịch tự do Đông Á, cộng đồng Đông Á, các sáng kiến của Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc Hàng năm, các quan chức cấp cao của ASEAN+3 thường xuyên gặp gỡ, ký các thoả thuận hợp tác về nhiều lĩnh vực, nhất
là về kinh tế
Thực tế vẫn còn tồn tại không ít sự khác biệt trong tiếp cận nhận thức về cộng đồng Đông Á Tuy nhiên trong công trình này, khái niệm Đông Á được dùng theo cách hiểu phổ biến gồm Nhật Bản, bán đảo Triều Tiên, Trung Quốc và các nước thành viên ASEAN ở Đông Nam Á
Trong những năm gần đây, liên kết Đông Á trở thành đối tượng được quan tâm của các nhà chính trị, kinh tế và đề tài nghiên cứu của các nhà khoa học Trong thực tiễn, mặc dù còn nhiều khó khăn, cản trở trên con đường hội nhập, song hợp tác khu vực Đông Á đã đạt được những thành tựu nhất định nhờ sự nỗ lực chung của cả cộng đồng các nước Đông Á
Hợp tác về chính trị - an ninh tại khu vực tuy tiến triển chậm nhưng cũng có những tiến bộ nhất định Hiện nay, các nước Đông Á đều đang tập trung cho lợi ích phát triển nên đều cần một môi trường an ninh-chính trị ổn định An ninh-chính trị
ổn định là một trong những động lực lớn nhất thúc đẩy quan hệ hợp tác Đông Á Do vậy, các nước Đông Á đã đưa ra các sáng kiến, hình thành nên các thể chế với sự tham gia của đông đảo lực lượng chính trị và các tầng lớp khác nhau vào quá trình hợp tác khu vực ở Đông Á từ sau Chiến tranh Lạnh và nhất là từ sau cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ Đặc biệt giữa 3 nước lớn trong khu vực là Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc đều đã thấu hiểu được sự cần thiết thúc đẩy quan hệ hợp tác
đa phương Các nước Đông Á đã ngồi lại với nhau thông qua diễn đàn hợp tác đa
Trang 1513
sẵn sàng gia nhập tiến trình liên kết Đông Á thông qua diễn đàn ASEAN + 3 là bước khởi đầu đầy ý nghĩa, không chỉ với Nhật Bản mà còn đối với cả khu vực Một mặt, chủ trương này đánh dấu những nét mới trong chính sách đối ngoại của Nhật Bản – “Chính sách hướng về châu Á” và lý giải cho hàng loạt những đóng góp tích cực thúc đẩy hợp tác Đông Á của Nhật Bản Mặt khác, thái độ ủng hộ của cường quốc kinh tế hàng đầu khu vực như Nhật Bản đượ ccoi là một trong những đảm bảo vững chắc hướng tới thành công của hợp tác Đông Á trên lĩnh vực an ninh, chính trị.4
Để tiến tới hội nhập Đông Á, các nước đã đề xuất những nguyên tắc hợp tác
và đưa ra thảo luận tại các cuộc họp thượng đỉnh ASEAN + 3 và các cuộc hội thảo Nguyên tắc thứ nhất là “Chủ nghĩa khu vực mở”, bởi vì sự ổn định và thịnh vượng của Đông Á không những phụ thuộc vào các quan hệ hợp tác khu vực mà còn phụ thuộc vào việc duy trì mối quan hệ hữu nghị với các nước ngoài khu vực Thực hiện nguyên tắc này, cả khu vực và cộng đồng quốc tế đều có lợi, xua tan đi nỗi lo của những người đã khẳng định rằng sự hội nhập khu vực Đông Á có thể dẫn đến việc tạo ra khối kinh tế khép kín
Nguyên tắc thứ hai là “Tiếp cận trên các lĩnh vực cần thiết, cụ thể” (functional approach) Dựa trên tình hình thực tế chứ không cố gắng xây dựng những khung khổ thể chế toàn diện từ đầu Dựa trên những đánh giá về tình hình thực tế, phương pháp tiếp cận này sẽ tìm ra hướng hợp tác trên các mặt cụ thể, đa dạng với quan điểm tạo ra các điều kiện cơ bản cho sự hội nhập toàn diện của khu vực trong tương lai
Nguyên tắc thứ ba là tôn trọng và thừa nhận các giá trị chung Nguyên tắc này nhằm khuyến khích các nước Đông Á đấu tranh để giải quyết các vấn đề như luật pháp, nhân quyền, tham nhũng và tăng cường hiệu quả quản lý Các nước có
Trang 1614
thể giúp đỡ lẫn nhau bằng cách chia sẻ kinh nghiệm trong việc giải quyết các vấn đề trên
Nguyên tắc thứ tưđề cập đến vấn đề xây dựng lòng tin trong lĩnh vực an ninh
và tạo thuận lợi cho việc hợp tác trong các lĩnh vực an ninh phi truyền thống qua việc làm rõ những khả năng quân sự của mỗi nước trong khu vực và tạo điều kiện cho các nước dễ dàng hiểu nhau khi có những chính sách khác biệt về quốc phòng
Trong quan hệ hợp tác an ninh, thành tựu cơ bản đạt được thuộc lĩnh vực an ninh phi truyền thống Cụ thể là hợp tác trong lĩnh vực an ninh xã hội và bảo vệ môi trường Các hợp tác này bao gồm hợp tác chống khủng bố, chống dịch viêm đường
hô hấp cấp (SARS), chống cúm gia cầm, buôn bán ma tuý Sau sự kiện 11/9/2001, các cuộc họp cấp cao chính thức, không chính thức, các cuộc họp cấp bộ trưởng và các cuộc hội thảo giữa các nước trong khu vực Đông Á đã đề cập và đưa ra Tuyên
bố chống khủng bố, xây dựng các kế hoạch và chương trình trao đổi tin tức, an ninh máy tính, xây dựng cơ cấu chống tội phạm trên mạng… Đồng thời quan tâm đến việc hợp tác trên các mặt khác như chống buôn lậu, ma tuý, nạn di dân bất hợp pháp, cướp biển, buôn lậu vũ khí, tội phạm kinh tế quốc tế, chủ nghĩa khủng bố… Khi bệnh dịch SARS bùng nổ, các nước ASEAN cùng với Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc đã liên tục tổ chức các hội nghị giữa các bộ trưởng y tế để bàn cách chống SARS, đưa ra các biện pháp, hành động chung nhằm phối hợp ngăn ngõa sự lây lan và đẩy lùi dịch bệnh
Để đối phó với những thiên tai gây ra như hạn hán, bão lụt, động đất, sóng thần,…, các cuộc họp cấp bộ trưởng các nước trong khu vực Đông Á thường xuyên
đề cập đến các vấn đề thiên tai và tìm cách khắc phục qua việc tổ chức các hội nghị
về môi trường, lập mạng lưới thông tin chung để kiểm tra môi trường khu vực, dự báo thiên tai để phòng chống Đặc biệt, sau khi cơn sóng thần xảy ra cuối năm 2004 tàn phá khu vực, cùng với các nước khác trên thế giới, các nước khu vực Đông Á đã tích cực ủng hộ về vật chất và cử các nhân viên y tế đến các nước bị ảnh hưởng để khôi phục lại cuộc sống bình thường cho người dân bị nạn
Trang 1715
Trước xu hướng toàn cầu hoá và khu vực hoá ngày càng gia tăng, vì sự tồn tại và phát triển của mình, các quốc gia Đông Á đã và đang cố gắng thúc đẩy tiến trình hợp tác Tuy nhiên, tiến độ của quá trình này hết sức chậm do còn tồn tại một
số vấn đề
Đông Á là khu vực tồn tại nhiều mâu thuẫn và tranh chấp giữa các quốc gia trong khu vực Những mâu thuẫn này hiện nay vẫn còn tồn tại trong hầu hết giữa các quốc gia và khi bùng nổ dễ lôi cuốn hoặc làm ảnh hưởng đến nước khác Lợi ích
an ninh - chính trị là một trong những động lực lớn nhất thúc đẩy sự hợp tác và tăng cường quan hệ giữa các nước khu vực Tuy nhiên, trong an ninh - chính trị đã có những vấn đề nan giải gây cản trở đến tiến trình hợp tác Đông Á đang phải đối diện với nhiều vấn đề cục bộ, với những xung đột cũ và những mâu thuẫn mới nảy sinh Xung đột ở đây mang tính đa dạng: tranh giành quyền lực, tranh chấp lãnh thổ, cạnh tranh kinh tế, mâu thuẫn hệ tư tưởng… Khu vực này cũng là nơi chứa đựng những nguy cơ xung đột lớn như vấn đề vũ khí hạt nhân ở Bán đảo Triều Tiên, vấn
đề Đài Loan và Trường Sa Bên cạnh đó, nguy cơ cạnh tranh mới giữa các cường quốc như Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản nếu xảy ra sẽ phá vỡ sự hợp tác Đông Á Cho đến nay, các mâu thuẫn vẫn đang tồn tại và tác động không nhỏ tới chính sách khu vực của mọi nước
Quan hệ quốc tế trong khu vực mới chỉ dừng lại ở các quan hệ song phương Bản thân các quan hệ song phương tương đối mỏng nên chưa tạo ra được nền tảng cho sự phát triển quan hệ đa phương Chủ nghĩa song phương vẫn giữ vai trò chủ đạo và được ưu tiên trong hợp tác Đông Á Ngoài ASEAN + 3, chưa có một thể chế thuần về Đông Á Các quốc gia tham gia chủ yếu vào các thể chế đa phương toàn cầu hoặc ngoài khu vực Các thể chế hiện hành hoặc có cả các nước không thuộc Đông Nam Á như ARF, APEC, ASEM, hoặc ở quy mô tiểu khu vực như ASEAN Những thể chế này hoạt động kém hiệu quả, tính ràng buộc không cao và thiếu chặt chẽ ASEAN + 3 mới chỉ tồn tại như một diễn đàn lỏng lẻo Thêm vào đó, lịch sử chiến tranh và xung đột giữa các nước trong khu vực đã tạo ra tâm lý ác cảm giữa các cộng đồng như giữa Trung Quốc với Nhật Bản, Hàn Quốc với Nhật Bản, Thái
Trang 1816
Lan với Campuchia…, tạo ra sự nghi ngờ lẫn nhau Sự chênh lệch giữa vị thế và quyền lực dẫn tới nguy cơ chia rẽ khu vực và gây khó khăn cho việc xây dựng lòng tin giữa các nước, đe dọa sự ổn định, quan hệ hợp tác khu vực Do vậy, việc thể chế hoá hợp tác Đông Á còn vô vàn khó khăn và tiến triển chậm
Trung Quốc và Nhật Bản là hai nước lớn ở Đông Á, có vị trí, vai trò quan trọng trong khu vực Tuy nhiên, có nhiều vấn đề do lịch sử để lại làm cho quan hệ giữa hai nước rơi vào tình trạng căng thẳng, gây tranh cãi từ nhiều năm nay và cản trở quan hệ giữa hai nước Việc Nhật Bản sửa đổi sách giáo khoa mà Trung Quốc cho rằng đã nói sai sự thật lịch sử, những chuyến viếng thăm đền Yasukuni – nơi thờ khoảng 2,5 triệu người chết trận trong đó có 14 tội phạm chiến tranh trong Chiến tranh Thế giới thứ hai của Thủ tướng Nhật Bản Koizumi đã gây ra sự chỉ trích mạnh mẽ từ phía Trung Quốc và Hàn Quốc, làm đóng băng tình cảm ở cả hai nước và có thể dẫn đến sự rắc rối lâu dài, khó giải quyết
Sự điều chỉnh lại chiến lược đối ngoại của Nhật Bản từ những năm 1990, trong đó có xu hướng quan hệ mật thiết hơn với Đài Loan, coi Đài Loan là một
“thực thể chính trị độc lập” đã làm cho quan hệ Nhật - Trung khó có thể cải thiện Hơn thế nữa, từ năm 1998 đến nay, Nhật Bản đã tăng cường hợp tác với Mỹ trong vấn đề phòng thủ tên lửa đạn đạo (TMD), đồng thời đặt Đài Loan trong hệ thống phòng vệ của tên lửa đạn đạo làm cho vấn đề Đài Loan trở thành vật cản quan trọng nhất ảnh hưởng đến tương lai trong quan hệ giữa hai nước
Vấn đề tranh chấp lãnh thổ, lãnh hải đã, đang và sẽ tiếp tục ảnh hưởng đến quan hệ Nhật - Trung Sự tranh chấp chủ quyền đối với quần đảo Senkaku/Điếu Ngư liên tiếp xảy ra đã gây nên những làn sóng chỉ trích, phẫn nộ của nhân dân hai nước, biến thành cuộc chiến ngoại giao, trở thành một “điểm nóng” trong quan hệ Nhật - Trung, có thể hủy hoại mối quan hệ này, cản trở sự hợp tác Đông Á
Sự khó khăn, phức tạp trong việc thống nhất hai miền Triều Tiên cũng là một thách thức lớn trên bước đường hợp tác, liên kết Đông Á Thái độ bất hợp tác của CHDCND Triều Tiên đối với Hàn Quốc nói riêng và với các nước khác nói chung, những nguy cơ đe doạ từ việc thử tên lửa hạt nhân, nhất là hành động thử vũ khí hạt
Trang 1917
nhân của CHDCND Triều Tiên hồi đầu tháng 10/2016 đã làm cho các nước vô cùng
lo lắng, buộc phải có kế hoạch chuẩn bị các biện pháp đối phó, trừng phạt, tạo nguy
cơ xung đột và mất ổn định trong khu vực Thủ tướng Shinzo Abe đã nhiều lần lên tiếng chỉ trích hành động của Triều Tiên Đỉnh điểm là vào ngày 29/8/2017, Triều Tiên phóng tên lửa qua không phận Nhật Bản gây ra mối lo ngại lớn tới người dân Nhật Thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe cho biết: "Tên lửa của Triều Tiên đã bay qua không phận của chúng ta và rơi xuống Thái Bình Dương Vụ phóng tên lửa này
đã đặt ra những thách thức to lớn chưa từng có với nền an ninh của chúng ta Chúng tôi kịch liệt phản đối hành động này và kêu gọi Hội đồng bản an Liên Hợp Quốc tiến hành phiên họp khẩn Nhật Bản đề nghị quốc tế tăng cường sức ép lên Triều Tiên".5
Đối với các nước ASEAN vẫn tồn tại một tâm lý lo ngại về sự gia tăng vai trò chính trị của Trung Quốc ở khu vực cũng như trên trường quốc tế Một số nước ASEAN trước đây đã có những mâu thuẫn, xung đột và hiện vẫn còn tồn tại sự tranh chấp về lãnh thổ trên biên giới đất liền và hải đảo Sự khác biệt về hệ tư tưởng
và chủ nghĩa nước lớn cùng với yếu tố người Hoa cũng làm cho các nước Đông Nam Á lo ngại, giữ thái độ, khoảng cách với Trung Quốc
Các nước lớn đều lo ngại địa vị bá chủ lọt vào tay các quốc gia lớn khác Cả Trung Quốc và Nhật Bản đều không muốn bị ràng buộc quá nhiều bởi lợi ích của các nước nhỏ Các nước nhỏ thì thiếu niềm tin vào các nước lớn trong khu vực và quan tâm nhiều đến các nước ngoài khu vực, làm giảm đi sự liên kết khu vực Đông
Á Tiếp đến là sự chênh lệch vị thế giữa các quốc gia trong vùng dẫn tới sự phân tầng và đẳng cấp trong hợp tác khu vực và tạo nên sự khác nhau trong quan điểm khu vực và quốc tế, lợi ích đối nội và đối ngoại Sự chênh lệch này dễ làm lệch hướng trong hợp tác khu vực Sự đa dạng trong hệ tư tưởng, chế độ chính trị và hệ thống chính trị cũng là vấn đề làm cản trở sự hợp tác Đông Á Tất cả những điều này tạo nên sự khác nhau trong thế giới quan, nhận thức, giá trị và lợi ích giữa các
5 Thủ tướng Nhật Bản Shizo Abe trả lời phỏng vấn báo chí ngày 29/8/2017, ngay sau khi Triều Tiên phóng tên lửa qua không phận Nhật Bản
Trang 2018
nước, dẫn tới sự khác nhau trong lĩnh vực ưu tiên, lựa chọn chính sách, cách thức
Đông Á đang ở tại một thời điểm lịch sử quan trọng khi hai xu hướng địa chính trị lớn nổi lên: sự gia tăng chiến lược của Trung Quốc và tác động từ sự trỗi
Bản, những thay đổi này đã dẫn đến sự giải thích rõ ràng hơn về các mục tiêu an ninh quốc gia và chiến lược Ở bên trong, Nhật Bản đã tăng cường khả năng quân
sự của mình, điều chỉnh chiến lược quốc phòng tập trung hơn vào các khu vực phía
Shinzo Abe là một lãnh đạo kiên định với chủ trương cải tổ Điều 9 Hiến pháp Nhật Bản và thay đổi cơ chế Bộ quốc phòng Nhật Bản, hướng tới mục tiêu đưa Nhật Bản trở thành cường quốc thực sự Ở bên ngoài, Nhật Bản đã tăng cường hợp tác quốc phòng với Mỹ, nhất là việc hai bên ký kết Hướng dẫn mới về Hợp tác Quốc phòng Nhật Bản- Mỹ năm 2015, bản nâng cấp đầu tiên kể từ năm 1997, cho phép Nhật Bản giúp bảo vệ Mỹ và các đồng minh khác, ngay cả khi Nhật Bản không phải là nước bị tấn công (được gọi là quyền tự vệ tập thể) Nhật Bản cũng đã củng cố quan
hệ an ninh với các nước có cùng mục tiêu (Úc, Ấn Độ), hình thành các quan hệ đối tác an ninh với nước nguyên đơn trong vụ tranh chấp Biển Đông (Philippines) cũng như với Việt Nam, và tham gia vào các nỗ lực ngoại giao quốc phòng mạnh mẽ song phương và đa phương (ADMM+)
1.1.2 Về kinh tế
Nếu như cho đến tận giữa thế kỷ trước, quan niệm về Đông Á là một khu vực
“nghèo đói, lạc hậu” còn khá phổ biến, thì hiện nay Đông Á được gọi là “trung tâm tăng trưởng” của thế giới trong suốt ba thập kỷ qua với tốc độ tăng trưởng kinh tế cao hơn hẳn tốc độ trung bình của các khu vực khác trong nền kinh tế thế giới Các quốc gia trong khu vực này đang ở trong những giai đoạn khác nhau của sự phát
6Trần Thị Nhung (2007), Hợp tác Đông Á: Thành tựu và những vấn đề, Tạp chí Viện nghiên cứu Đông Bắc
Á, số 3/2007
7 Văn Cường (2016), Những xu hướng chính trị ở Đông Á, Nghiên cứu Biển Đông, 20/7/2016
8Bhubhindar Singh (2016), Geopolitical trends in East Asia - Japan and ASEAN’s leading role, Asia and the
Pacific policy society, http://www.policyforum.net/geopolitical-trends-east-asia/, 05/7/2016
Trang 2119
triển kinh tế Các nền kinh tế mới công nghiệp hóa(NIEs) như Hàn Quốc, Đài Loan thuộc vào hàng các quốc gia, vùng lãnh thổ phát triển, còn Trung Quốc đã vươn lên trở thành nền kinh tế lớn thứ hai thế giới Hội nhập kinh tế tiến triển mạnh mẽ với hoạt động thương mại và đầu tư năng động, tích cực giữa các nước trong và ngoài khu vực Đông Á đã có những tiến bộ đáng kể hướng tới việc hình thành một khu vực liên kết kinh tế lớn thứ 3 thế giới sau EU và NAFTA Về phương diện này trước hết phải kể tới ASEAN hiện đang được xem là tổ chức khu vực có mức độ hội nhập kinh tế cao nhất giữa các nước đang phát triển, đặc biệt là việc hình thành Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC) năm 2015 Với phương châm lấy ASEAN làm
“trung tâm”, nhiều khung thỏa thuận ASEAN+ như ASEAN+3 (Trung, Nhật, Hàn), ASEAN+6 (thêm Úc, Ấn Độ, New Zealand), CEPEA(Đối tác Kinh tế Toàn diện Đông Á) và RCEP (Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực)… lần lượt xuất hiện Bên cạnh đó, còn có một khuôn khổ đàm phán thương mại tự do đa phương
là tiêu điểm quan trọng của thương mại châu Á – Thái Bình Dương (TBD) mà người ta không thể không nhắc tới khi đề cập đến tiến trình hội nhập kinh tế Đông Á, đó là Hiệp định Đối tác xuyên TBD (TPP), hiệp định mà cho đến nay
Lợi ích của Nhật Bản ở Đông Á không chỉ mới hình thành gần đây Từ đầu thế kỷ XX, Nhật Bản đã đưa ra ý tưởng về “Khối Đại Đông Á”, và đến giờ người Nhật vẫn luôn nhận thức rằng, nước này cần một vị trí quan trọng hơn trong khu vực Với quan niệm trên, Nhật Bản luôn muốn đi đầu trong liên kết Đông Á Nhật Bản không chỉ cung cấp vốn đầu tư, chuyển giao công nghệ mà còn hiểu rõ cách thức thúc đẩy sự phát triển của các quốc gia châu Á Nhật Bản cũng sở hữu nhiều phát minh khoa học công nghệ kỹ thuật cao, hàm lượng tri thức và giá trị gia tăng lớn Có thể nói tại Đông Á, Nhật Bản vẫn là nền kinh tế có ảnh hưởng sâu rộng, là một động lực phát triển quan trọng, và vai trò không nhỏ chi phối về kinh tế, mang lại nhiều ảnh hưởng tích cực đối với các nước trong khu vực
9Đỗ Thị Ánh (2017), Vai trò của Nhật Bản đối với hội nhập Đông Á – Phần 1, Nghiên cứu Nhật Bản,
http://cjs.inas.gov.vn/index.php?newsid=1244, 18/6/2017
Trang 2220
Nhật Bản đã thể hiện rõ vai trò quan trọng là nhà đầu tư trực tiếp lớn, nhà cung cấp các kết cấu sản phẩm trọng yếu kỹ thuật cao, là một trung tâm sáng tạo và phổ biến công nghệ kỹ thuật tiên tiến tại Đông Á, thể hiện được vai trò kết nối giữa các nước trong và ngoài khu vực thông qua những chính sách và chiến lược đối với mạng sản xuất Đông Á, giúp thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các quốc gia trong khu vực, là thị trường quan trọng giúp giảm sự lệ thuộc vào bên ngoài, đóng góp rất lớn trong việc thúc đẩy Đông Á trở thành khu vực có sức sống nhất của nền kinh tế toàn cầu
Mặt khác, Nhật Bản là một nước nghèo tài nguyên Đối với Đông Á có thể thấy được ở Nhật Bản vai trò như một thị trường tiêu thụ quan trọng, đặc biệt là Trung Quốc, Nhật Bản còn là một thị trường tiêu thụ hàng hóa lớn như các sản phẩm nông nghiệp hay khai khoáng.Đối với Nhật Bản, Đông Á không chỉ là địa điểm cung cấp nguyên liệu, mà còn là thị trường tiếp nhận đầu tư, tiêu thụ sản phẩm, nơi đặt các cứ điểm quan trọng trong mạng lưới sản xuất của các doanh nghiệp chế tạo nước này
Tuy nhiên, trong khi các nước Đông Á, nhất là Trung Quốc, đã nhờ hội nhập kinh tế mà tiếp nhận được vốn, mô hình phát triển, công nghệ tiên tiến của Nhật để phát triển vượt lên, thì Nhật Bản lại rơi vào suy thoái kinh tế triền miên Kinh tế trì trệ sau vài thập kỷ đã càng khiến cho vai trò của Nhật Bản tại Đông Á, trong đó có vai trò trong hội nhập kinh tế khu vực trở nên lu mờ hơn
Hơn nữa, về phương diện thể chế kinh tế, Nhật Bản đã chưa thành công trong việc tạo ra các thiết chế hội nhập khu vực hữu hiệu Trong khi nước này tỏ ra chậm chạp trong việc ký kết Hiệp định Thương mại tự do (FTA) với các đối tác Đông Á, Trung Quốc, cùng với sự vươn lên về kinh tế đã dùng cả sức mạnh tài chính tác động tới các nền kinh tế Đông Nam Á, khiến nhiều nước trở nên lệ thuộc khá nhiều vào kinh tế Trung Quốc về thương mại Việc Nhật Bản chậm chễ trong việc tạo ra một thiết chế hội nhập kinh tế khu vực hiệu quả càng khiến cho các nước Đông Nam Á tiến gần hơn vào “quỹ đạo” của Trung Quốc Ở một khía cạnh khác, trong quá trình đàm phán các thỏa thuận kinh tế thương mại, chính sách bảo hộ trong lĩnh
Trang 2321
vực nông nghiệp, mức độ tự do hóa chưa cao, số ngoại lệ nhiều của Nhật Bản về phương diện ngoại giao kinh tế rõ ràng cũng tạo nên tâm lý thiếu tích cực từ phía các đối tác10, ảnh hưởng đến việc thúc đẩy tiến trình hội nhập thể chế nói chung
Trung Quốc đang không chỉ thách thức vị trí dẫn đầu của Nhật Bản tại Đông
Á, mà còn từng bước vươn lên thay thế Nhật trong ảnh hưởng với nhiều nước Đông
Á khác Trước thực tế đó, tận dụng chiến lược quay trở lại châu Á của Mỹ dưới thời cựu Tổng thống Mỹ Barack Obama, Nhật Bản đã có một thời cơ đặc biệt để khôi phục và nâng cao vị thế, vai trò của mình với khu vực Khi Tổng thống Donald Trump đắc cử, Mỹ đã đơn phương rút khỏi TPP, Nhật Bản đã không tỏ ra nao núng, chủ động nắm lấy vị trí tiên phong trong việc dẫn dắt TPP, là quốc gia đầu tiên phê chuẩn hiệp định Hiện Nhật Bản là cường quốc kinh tế duy nhất tại Đông Á và châu
Á - TBD tham gia cùng lúc cả hai khuôn khổ TPP và RCEP, và tiếp tục vai trò là
Với tầm ảnh hưởng của mình, Nhật Bản là một đối tác lớn trong quá trình xây dựng các quy tắc, luật lệ của RCEP, TPP Ngoài ra, cùng với việc tham gia đàm phán nhiều hiệp định thương mại mang tầm vóc khác như FTA Nhật - EU, FTA Trung - Nhật - Hàn (CJK-FTA), Nhật Bản có thể nắm giữ sứ mệnh trở thành một
“cầu nối” huyết mạch giữa các khu vực kinh tế lớn của thế giới như Đông Nam Á - châu Âu - châu Á TBD - Mỹ
1.1.3 Về văn hóa- xã hội
Về cơ bản trong khu vực Đông Á, các quốc gia thường có văn hoá truyền thống hình thành trên nền tảng sản xuất nông nghiệp trồng lúa nước nên những đặc trưng như tính cộng đồng cao, trọng kinh nghiệm, tuổi tác, kinh nghiệm đều có nhiều nét tương đồng Những giá trị truyền thống từ Nho giáo, Đạo giáo, tư tưởng triết học phương Đông, cùng với sự giao thoa văn minh Trung- Ấn là những cơ sở của các giá trị chung Đông Á
Trang 2422
Điều này không chỉ được xem xét phân tích một cách thấu đáo trong bản thân các loại hình văn hoá chung của các nước Đông Á mà còn được phản ảnh đầy
đủ ở một hệ thống giá trị Bởi lẽ “giá trị là tập hợp những niềm tin có gốc rễ sâu xa
này được thể hiện và vận dụng một cách hiệu quả trong quá trình phát triển của các quốc gia châu Á nhiều thập kỷ qua Ngay cả khi khi cắt nghĩa sự phát triển thần kỳ
và trỗi dậy kinh tế của Nhật Bản, người ta không ngần ngại thừa nhận rằng đó là nhờ phát huy các giá trị văn hoá châu Á
Bên cạnh những giá trị văn hoá truyền thống thì khu vực này cũng là nơi tiếp nhận những loại hình và giá trị văn hoá mới, nhất là tiếp thu từ văn hoá phương Tây Đây cũng là lý do để tạo nên một Đông Á đa dạng với tính chất “văn hoá hỗn
hoá Đông Á, làm cho bức tranh văn hoá xã hội Đông Á vốn đan xen các dòng văn hoá và các giá trị khác nhau càng trở nên đa dạng hơn, phức tạp hơn.14Xét về góc độ văn hóa xã hội, cộng đồng Đông Á đang hình thành hiện tại có thể coi đây là bức tranh thu nhỏ của thế giới Bởi lẽ ở đây hiện diện khá đầy đủ các kiểu quốc gia từ cường quốc như Trung Quốc, Nhật Bản đến các quốc gia nhỏ như Đông timo, Lào…Từ các nước với nền văn hoá Nho giáo, Khổng giáo…ảnh hưởng sâu rộng trong xã hội như Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản…đến các quốc gia Hồi giáo lớn như Indonesia, Malaisia… hay các nước đạo Phật như Thái Lan, Mianma…và nhiều nước có số dân khá đông theo đạo Thiên chúa như Philippines…, hoặc từ các chế độ chính trị xã hội khác nhau và tiềm ẩn các vấn đề vốn vô cùng phức tạp như
13Furuta Motoo (2005), Cơ sở văn hoá của cộng đồng Đông Á Hội thảo khoa học: Hướng tới cộng đồng
Đông Á: cơ hội và thách thức, tr 84, Hà Nội, 2005
14 Nguyễn Duy Dũng (2017), Xây Dựng Cộng đồng Đông Á: Những thách thức chủ yếu, Viện nghiên cứu
Đông Nam Á, 2017
Trang 2523
minh Trung Hoa, nên có nhiều điểm tương đồng trong góc độ văn hóa-xã hội
Tôn giáo giữ vị trí độc tôn ở Nhật Bản là Shinto (Thần đạo) Tôn giáo này đã hoà trộn nhiều yếu tố Nho, Phật trên nền tín ngưỡng thờ tổ tiên là nữ thần mặt trời Các tôn giáo khác ở Nhật rất kém phát triển, trừ phật giáo Đại thừa Nhật Bản đã có thời coi văn minh Trung Hoa là mẫu hình lý tưởng để học theo, nhưng Nho giáo khi du nhập vào Nhật Bản không phải là nguyên mẫu Người Nhật đã chọn lựa từng bộ phận nhưng rất tuân thủ giáo lý Hệ thống tuyển chọn quan lại bằng thi cử hoàn toàn không được người Nhật áp dụng
Do các tác động từ hoàn cảnh tự nhiên, yếu tố lịch sử, tôn giáo, tính cách Nhật Bản cứng rắn, tiết kiệm, trung thành với các giá trị truyền thống và rất cầu
Như vậy, cũng như một số quốc gia Đông Á khác, Nhật Bản chịu ảnh hưởng
từ mô hình Nho giáo của Trung Hoa, chú trọng pháp luật Người Nhật cũng có nhiều nét tương đồng văn hóa với các quốc gia trong khu vực Đây chính là những điểm thuận lợi cho nền ngoại giao mở cửa dưới thời Shinzo Abe
Tóm lại, Đông Á là một trong những khu vực tồn tại sự đa dạng trên mọi lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa xã hội Nhật Bản đã xác định Đông Á là khu vực địa chiến lược quan trọng của Nhật Bản
1.2 Chính sách đối ngoại của Nhật Bản trước khi Thủ tướng Shinzo Abe tái đắc cử năm 2012
1.2.1 Sự điều chỉnh trong chiến lược hướng về châu Á của Nhật Bản những năm đầu thập kỷ 90 thế kỷ XX
Quan điểm của Nhật Bản về tiến trình liên kết Đông Á đã được tượng hình
15 Vũ Minh Giang (2008), So sánh văn hóa Đông Á và Đông Nam Á (trường hợp Việt Nam và Nhật Bản), Văn hóa học, http://www.vanhoahoc.edu.vn/nghien-cuu/ly-luan-van-hoa-hoc/van-hoa-hoc-so- sanh/424.html?task=view, 02/2016
16 Học thuyết Fukuda (1977) do Thủ tướng Takeo Fukuda, khởi xướng, đưa ra chính sách đối ngoại của Nhật Bản đối với các nước ASEAN, đánh dấu sự thay đổi trong chính sách đối ngoại của Nhật Bản đối với khu vực
Trang 2624
trường Nhật Bản có nhiều thay đổi, song qua từng thời kỳ, với những đời thủ tướng khác nhau, Nhật Bản vẫn luôn thể hiện sự quan tâm lớn tới tình hình khu vực thông qua đường lối, chính sách đối ngoại sắc sảo của các đảng cầm quyền Bằng những hành động thiết thực, Nhật Bản đã có những đóng góp to lớn trong việc thúc đẩy hợp tác các nước trong khu vực Đông Á, góp phần hiện thực hóa mục tiêu xây dựng Cộng đồng Đông Á của Thủ tướng Hatoyama
Những năm 90 của thế kỷ XX, sau khi chiến tranh lạnh kết thúc, quan hệ quốc tế có nhiều thay đổi, nền ngoại giao Nhật Bản đứng trước những vận hội và thách thức mới Sức mạnh của Mỹ giảm sút cùng với sự nổi lên của Trung Quốc tạo nên những áp lực lớn từ nhiều phía đối với Nhật Bản, đòi hỏi nước này phải điều chỉnh chiến lược, chính sách đối ngoại và thể hiện tích cực hơn vai trò, trách nhiệm trong các vấn đề toàn cầu và khu vực
Chính sách đối ngoại của Nhật Bản với châu Á dưới thời Thủ tướng Toshiki Kaifu (1989 - 1991) cũng kiên định mục tiêu: Cam kết không trở thành cường quốc quân sự; đóng góp tích cực hơn trong các vấn đề chính trị châu Á - TBD; tham gia giải quyết vấn đề Campuchia; tăng cường hợp tác khu vực thông qua đầu tư chuyển giao công nghệ, chương trình viện trợ chính thức ODA, đóng vai trò thúc đẩy hợp tác để các nước ASEAN và Đông Dương cùng phát triển Nhật Bản tham gia ngày càng tích cực hơn, sâu hơn vào các vấn đề của khu vực, cả về kinh tế và chính trị Nhờ những điều này Nhật Bản đã tạo ra ảnh hưởng tốt đẹp, góp phần cải thiện các mối quan hệ tại khu vực, tạo lập một môi trường hòa bình ở Đông Nam Á
Như vậy, ngoài quan hệ kinh tế truyền thống, Nhật Bản đã trực tiếp đề cập đến hợp tác trong lĩnh vực chính trị - an ninh với các quốc gia ASEAN, mở rộng ảnh hưởng của Nhật Bản sang các quốc gia trên bán đảo Đông Dương Cũng với chính sách đối ngoại đổi mới này, Nhật Bản đã hiện thực hóa được mục tiêu quan trọng được đề xuất trong Học thuyết Fukuda, đó là tăng cường vai trò “cầu nối” của
17 Học thuyết Hatoyama (2009) hay còn gọi là học thuyết “bác ái” của Thủ tướng Yukio Hatoyama với tham vọng xây dựng hình ảnh một nước Nhật Bản mới, là cầu nối các nước Đông-Tây
Trang 2725
Nhật Bản giữa Đông Dương và các nước ASEAN Kiên trì quan điểm “Chính trị, kinh tế song hành” được hình thành từ Học thuyết Fukuda, ý tưởng “thoát Âu, nhập Á” ngày càng rõ nét trong đường lối đối ngoại của Nhật Bản Các hoạt động kinh tế đối ngoại của nước này tại khu vực Đông Á nói riêng và châu Á –TBDnói chung cũng đã được tăng cường đáng kể trong những năm 1990
1.2.2 Đông Á trong chính sách đối ngoại của Nhật Bản từ cuối những năm 90 (thế kỷ XX) đến trước khi Thủ tướng Shinzo Abe tái đắc cử năm 2012
Kế tiếp những bước phát triển của người tiền nhiệm, Thủ tướng Ryutaro Hashimoto (1996 - 1998) đã thực hiện chuyến công du sang các nước ASEAN vào tháng 01/1997, với mục đích chính thúc đẩy hơn nữa mối quan hệ ngoại giao ASEAN - Nhật Bản và đề xuất tổ chức các cuộc họp cấp cao thường xuyên giữa hai bên Cũng trong chuyến thăm này, Nhật Bản công bố “Học thuyết Hashimoto” được coi là có tầm quan trọng ngang với “Học thuyết Fukuda” trong mục tiêu tăng cường
và mở rộng hơn mối quan hệ hợp tác với các nước ASEAN trên tất cả các lĩnh
XXI”:
1) Tiếp tục tăng cường hơn nữa quan hệ kinh tế giữa Nhật Bản và ASEAN, trong đó lĩnh vực ổn định tiền tệ - tài chính, cải cách cơ cấu kinh tế được đặc biệt chú trọng Tăng cường các cuộc đối thoại giữa hai bên về các lĩnh vực kinh tế vĩ mô, tiền tệ, tài chính thông qua cuộc họp thường niên các cấp;
2) Kêu gọi Nhật Bản và ASEAN tăng cường hợp tác trên 3 mặt đối thoại cấp cao; tích cực trao đổi văn hóa và giải quyết hiệu quả các vấn đề toàn cầu;
3) Kiến nghị nâng cấp quan hệ Nhật Bản - ASEAN từ đối thoại cấp bộ trưởng lên hội nghị cấp cao định kỳ, chính thức hoặc không chính thức, thể hiện một đường lối ngoại giao “kế thừa chính sách ngoại giao trước đây, phát triển hơn
18 Nguyễn Hoàng Giáp (2012), Một số điều chỉnh chính sách đối ngoại của Nhật Bản với Đông Nam Á những năm 90, Nghiên cứu quốc tế, Học viện Ngoại giao, số 19, http://www.dav.edu.vn/en/publications/international-studies-review/back-issues/1997/313-so-19-mot-so- dieu-chinh-trong-chinh-sach-dong-nam-a-cua-nhat-ban-nhung-nam-90.html, 2012
Trang 28Tiếp theo học thuyết Hashimoto, mối quan hệ giữa Nhật Bản và ASEAN tiếp tục được củng cố dưới thời Thủ tướng Keizo Obuchi (1998 - 2000) Kế hoạch Obuchi đã hiện thực hóa một bước học thuyết Hashimoto với việc đặt ra những mục tiêu cụ thể phát triển nguồn nhân lực nhằm tăng cường vai trò và ảnh hưởng của Nhật Bản trong việc phục hồi kinh tế của các nước Đông Nam Á còn kém phát triển Kế hoạch Obuchi chuyển dịch trọng tâm trợ giúp của Tokyo, từ trợ giúp tài chính khẩn cấp sang hỗ trợ công cuộc phục hồi và phát triển dài hạn các nền kinh tế này
Trong vòng 5 năm kể từ khi lên nắm chính quyền (2001), Thủ tướng Junichiro Koizumi đã thực hiện 7 chuyến viếng thăm đến các quốc gia Đông Nam Á; cùng với các nguyên thủ ASEAN tiến hành 8 cuộc hội đàm Tháng 01/2002, trong chuyến viếng thăm các nước Đông Nam Á, ông đã có bài diễn thuyết quan trọng với tiêu đề “Nhật Bản và ASEAN của Đông Á: Quan hệ đối tác cởi mở và thẳng thắn, trên cơ sở đối tác bình đẳng và tin tưởng lẫn nhau” Tuyên bố này có thể được coi là cơ sở của “Học thuyết Koizumi” trong hệ thống chính sách đối ngoại Nhật Bản, đặt nền tảng mới cho sự phát triển mối quan hệ truyền thống Nhật Bản - ASEAN trong thế kỷ XXI Trên cơ sở “đối tác bình đẳng, tin tưởng lẫn nhau”, đồng
Trang 2927
thời đưa ra khái niệm mới “Nhật Bản và ASEAN cùng tiến” Học thuyết Koizumi được cụ thể hóa qua 4 nội dung chính:
1) Nhật Bản ủng hộ ASEAN cải cách trên các lĩnh vực chính trị, luật pháp,
cơ cấu kinh tế và tài chính; tăng cường hợp tác khai thác khu vực sông Mêkông, công nghệ thông tin và các ngành nghề liên quan;
2) Nhật Bản tích cực hợp tác với các nước ASEAN trong mục tiêu xóa bỏ đói nghèo, phòng ngừa phát sinh xung đột, thúc đẩy xây dựng cơ chế an ninh khu vực, tăng cường tìm kiếm sự ủng hộ trong cuộc chạy đua vào Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc;
3) Nhật Bản đưa ra 5 ý tưởng cho mối quan hệ hợp tác Nhật Bản - ASEAN trong tương lai, bao gồm: hợp tác giáo dục và phát triển nguồn nhân lực; lấy năm
2003 là năm giao lưu Nhật Bản - ASEAN; tăng cường hợp tác kinh tế toàn diện; triệu tập Hội nghị Phát triển quốc tế Đông Á (IDEA) và tăng cường hợp tác an ninh;
4) Chính phủ của Thủ tướng Koizumi đặc biệt thể hiện sự quan tâm đến tiến trình liên kết khu vực Đông Á thông qua việc đề ra ý tưởng xây dựng “Một cộng đồng Đông Á cùng nhau hành động và cùng nhau phát triển” Theo ông: “Quá khứ của chúng ta có thể khác nhau nhưng tương lai của chúng ta có thể thống nhất và hỗ trợ cho nhau”, vì vậy “cần phải mở rộng Hợp tác Đông Á dựa trên quan hệ Nhật Bản - ASEAN” trong đó “bước đầu tiên là phải tranh thủ tối đa khuôn khổ ASEAN+3”
Báo chí Nhật Bản từng nhận định, chính quyền của cựu Thủ tướng Junichiro Koizumi chưa thực sự thành công với “Ngoại giao châu Á”, còn những nỗ lực của chính quyền Shinzo Abe chỉ dừng ở mức đưa quan hệ với các nước châu Á trở về điểm xuất phát Tờ Nihon Keizai cho rằng, nội các mới của Thủ tướng Yasuo Fukuda (2007-2008) và nhất là bản thân ông có thể tạo ra một bầu không khí tích cực hơn trong quan hệ giữa châu Á và Nhật Bản Kế thừa quan điểm của Học thuyết Fukuda “cha” (1977), tại Hội nghị “Tương lai châu Á” lần thứ 14 tổ chức tại Tokyo vào tháng 5-2008, Thủ tướng Fukuda đã cho thấy những hướng ưu tiên trong chính sách đối ngoại của Nhật Bản đối với Đông Nam Á:
Trang 3028
1) Nhật Bản tiếp tục duy trì Hiệp ước an ninh Nhật - Mỹ
2) Nhật Bản mong muốn tăng cường hợp tác với ASEAN trên các lĩnh vực kinh tế, bảo vệ môi trường, nâng cao hiệu quả sử dụng năng lượng, tăng cường nỗ lực đảm bảo an ninh lương thực, “hợp tác đối phó thảm họa"
3) Mục tiêu thúc đẩy việc thành lập Cộng đồng Đông Á, đẩy mạnh hợp tác với các nước Đông Nam Á, Nhật Bản ủng hộ mạnh mẽ những nỗ lực của ASEAN nhằm thành lập Cộng đồng ASEAN vào năm 2015
4) Đưa Nhật Bản trở thành quốc gia thúc đẩy hòa bình; hình thành và củng
cố cơ sở hạ tầng cho việc hợp tác tri thức và giáo dục; đấu tranh với những vấn đề toàn cầu như biến đổi khí hậu và bệnh lây nhiễm, tăng cường giao lưu con người trong khu vực châu Á – TBD
Các nội dung chính trên được giới quan sát gọi là "Học thuyết Fukuda mới",
là sự nối tiếp "Học thuyết Fukuda" Tuy nhiên, không dừng lại ở việc kế thừa chính sách của cha mình, Thủ tướng Y.Fukuda còn muốn mở rộng “Học thuyết Fukuda mới” ra các nước Đông Bắc Á với khẳng định “Nhật Bản phải tìm kiếm quan hệ thâm tình không chỉ với các nước Đông Nam Á mà cả với Trung Quốc và Hàn Quốc” Đặc biệt, độngthái tích cực nhất trong chính sách ngoại giao châu Á của Thủ tướng Y.Fukuda là việc cải thiện mối quan hệ Trung - Nhật Theo quan điểm của ông, Cộng đồng Đông Á sẽ là một ý tưởng viển vông nếu không có sự hòa giải lịch
sử giữa Bắc Kinh và Tokyo Và ông đã tạo ra ba sự thay đổi lớn:
1)Từ bỏ tính chất cực đoan trong chính sách ngoại giao của ông Koizumi, thay đổi lời nói và hành động thăm đền Yasukuni, xoá bỏ rào cản chính trị trong quan hệ Trung - Nhật;
2) Kiên định quan điểm đối ngoại tiếp tục nỗ lực cải thiện quan hệ Trung - Nhật, dù là cải cách hay bảo thủ đều cần phải duy trì quan hệ Trung - Nhật theo hướng ổn định, có kiểm soát;
3)Xây dựng một “Nội các hữu nghị Trung - Nhật”: thái độ phần lớn đều ôn hoà, có chừng mực, mong muốn tăng cường tình hữu nghị Trung -Nhật, không hài lòng với chính sách ngoại giao mất cân bằng của Koizumi
Trang 3129
Với Học thuyết Fukuda mới, quan hệ giữa Nhật Bản và các nước Đông Bắc
Á, đặc biệt là Trung Quốc, đang ngày càng ấm dần lên Thực hiện mục tiêu cải thiện quan hệ với Đông Bắc Á, tiếp tục duy trì và thúc đẩy mối quan hệ truyền thống với các nước ASEAN, Học thuyết Fukuda mới sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho thành công của tiến trình liên kết Đông Á
Từ khi Đảng Dân chủ Nhật Bản (DPJ) của Thủ tướng Yukio Hatoyama (2009 - 2010) lên nắm quyền, kết thúc 54 năm cầm quyền liên tục của Đảng LDP, chính sách đối ngoại của Nhật Bản có thêm nhiều điểm mới Cương lĩnh tranh cử của DPJ khẳng định sẽ theo đuổi "chính sách đối ngoại chủ động” Mục tiêu trong chiến lược của Nhật ở châu Á-TBD là thông qua những hành động ngoại giao một cách tích cực, linh hoạt và có hiệu quả nhằm tạo ra môi trường kinh tế - chính trị thuận lợi ở khu vực Coi đó là cơ sở để Nhật Bản hiện thực hóa mục tiêu trở thành một cường quốc toàn diện, không chỉ phát triển về kinh tế mà còn vững mạnh về chính trị Mục tiêu của DPJ được cụ thể thành những điểm sau:
1) DPJ sẽ xây dựng quan hệ đồng minh "gần gũi và bình đẳng" giữa Nhật Bản và Mỹ;
2) Củng cố các cơ chế hợp tác trong khu vực châu Á – TBD hướng tới mục tiêu xây dựng Cộng đồng Đông Á;
3) Coi Trung Quốc là đối tượng ngoại giao quan trọng, thường xuyên điều chỉnh chính sách đối ngoại và giành thế chủ động trong quan hệ ngoại giao với nước này;
4) Coi đối tượng phòng thủ ở khu vực Đông Bắc Á là Nga và Bắc Triều Tiên Thực hiện chính sách vừa cảnh giác, vừa cải thiện quan hệ với các nước này;
5) Coi Đông Nam Á là khu vực chiến lược quan trọng cần được ra sức mở rộng các quan hệ một cách toàn diện cả về kinh tế, chính trị và an ninh;
6) Đóng vai trò tích cực trong các hoạt động gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc; tự do hóa thương mại và đầu tư; chống biến đổi khí hậu; đi đầu trong việc loại trừ vũ khí hạt nhân và hiểm họa khủng bố
Trang 3230
Như vậy, xu hướng quan trọng trong chính sách đối ngoại dưới thời Chính
phủ Hatoyama có thể khái quát thành 3 điểm lớn: một là, tiếp tục tăng cường quan
hệ đồng minh với Mỹ; hai là, cải thiện quan hệ với Trung Quốc; ba là, coi trọng
hợp tác khu vực Đối với châu Á nói chung: Nội dung cốt lõi trong chiến lược ngoại giao của Chính phủ Hatoyama là mở rộng đối thoại chiến lược an ninh đa phương, thông qua đó xây dựng quan hệ cân bằng giữa đồng minh Nhật - Mỹ và ngoại giao châu Á, tạo bước đột phá để trở thành Ủy viên thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc Đối với các nước ASEAN, Nhật Bản luôn xác định đây là đối tác kinh tế, chính trị truyền thống quan trọng trong mục tiêu thực hiện hiệu quả tiến trình liên kết Đông Á Riêng đối với Việt Nam, về cơ bản, Chính phủ của Thủ tướng Hatoyama sẽ không thay đổi chính sách đối ngoại vì Việt Nam là quốc gia có vị trí địa chính trị mang tính chiến lược ở khu vực Đông Nam Á nói riêng và Đông Á nói chung
Về quan điểm “Xây dựng Cộng đồng Đông Á (EAC)”,sau khi đắc cử, Chính phủ của Thủ tướng Hatoyama đẩy nhanh việc thành lập Cộng đồng Đông Á dựa trên mô hình Liên minh châu Âu, theo đúng chủ trương của đảng Dân chủ Nhật Bản
là giảm phụ thuộc vào Mỹ và tăng cường hợp tác trong khu vực.Có thể thấy, ý tưởng EAC là tâm điểm trong nền ngoại giao châu Á của Chính phủ mới do Đảng Dân chủ Nhật Bản lãnh đạo, được thai nghén từ lâu trong đảng DPJ Việc Nhật Bản khởi xướng ý tưởng thành lập EAC không phải là điều quá ngạc nhiên Trong kỷ nguyên hậu chiến tranh lạnh, với sự thay đổi về địa chính trị, điều kiện kinh tế ở Đông Á, sụt giảm quyền lực của Mỹ, sự trỗi dậy của châu Á, Nhật Bản hơn bao giờ hết muốn thúc đẩy vị thế và lợi ích của mình ở khu vực này
Ngày 04/6/2010, Hạ viện Nhật Bản đã nhất trí bầu ông Naoto Kan làm Thủ tướng.Về mặt đường lối, nhất là về chính sách đối ngoại, chính phủ mới do Thủ tướng Naoto Kan sẽ tiếp tục thực hiện chính sách của cựu Thủ tướng Hatoyama Ngay sau khi được bầu làm thủ tướng, trong cuộc điện đàm chính thức đầu tiên với Tổng thống Mỹ Barack Obama, Thủ tướng Naoto Kan đã nhấn mạnh rằng “Liên minh Mỹ - Nhật sẽ là một trọng tâm trong chính sách ngoại giao của Nhật Bản”
Trang 3331
Hai bên tái khẳng định quan hệ song phương, nhất trí thực thi thỏa thuận về vấn đề tái bố trí căn cứ quân sự Mỹ tại Okinawa đã đạt được với nội các của ông Yukio Hatoyama cũng như cam kết hợp tác trong các vấn đề khu vực và thế giới Mặc dù nhấn mạnh rằng nền tảng trong chính sách đối ngoại của Nhật Bản là quan hệ đồng minh với Mỹ, nhưng Thủ tướng Kan cũng không quên các lợi ích thương mại với Trung Quốc Ông Kan cũng khẳng định sẽ tiếp tục theo đuổi mục tiêu thành lập Cộng đồng Đông Á theo quan điểm của Thủ tướng tiền nhiệm Hatoyama Các nhà nghiên cứu nhận định, Nhật Bản đang có một nội các trẻ hơn và đầy nhiệt huyết với công việc Người Nhật hy vọng chính phủ mới sẽ vượt qua những sóng gió để đưa đất nước “mặt trời mọc” tiếp tục phát triển và thực hiện giấc mơ cường quốc hàng đầu khu vực
Như vậy, quan điểm của Nhật Bản về tiến trình liên kết Đông Á đã được tượng hình rất sớm, từ chính sách Đông Nam Á trong Học thuyết Fukuda (1977) đến ý tưởng xây dựng Cộng đồng Đông Á trong quan điểm Hatoyama (2009) Mặc
dù chính trường Nhật Bản có nhiều thay đổi, song qua từng thời kỳ, với những đời thủ tướng khác nhau, Nhật Bản vẫn luôn thể hiện sự quan tâm lớn tới tình hình khu vực thông qua đường lối, chính sách đối ngoại sắc sảo của các đảng cầm quyền Bằng những hành động thiết thực, Nhật Bản đã có những đóng góp to lớn trong việc thúc đẩy hợp tác các nước trong khu vực Đông Á, góp phần hiện thực hóa mục tiêu xây dựng Cộng đồng Đông Á của Thủ tướng Hatoyama
1.3 Bối cảnh tình hình khi Thủ tướng Shinzo Abe tái đắc cử năm 2012
1.2.3.1 Tình hình thế giới, khu vực
Thủ tướng Shinzo Abe lên nắm quyền trong bối cảnh thế giới biến động phức tạp khó lường, tồn tại nhiều thuận lợi cũng như tiềm ẩn nhiều nguy cơ, thách thức lớn
Năm 2012 gắn với nhiều sự kiện mang tính chất toàn cầu, những bất ổn trong
xã hội châu Âu Kinh tế thế giới tăng trưởng chậm, tồn tại nguy cơ suy thoái Khủng hoảng nợ công tại nhiều quốc gia châu Âu như Hy Lạp, Ireland, Bồ Đào Nha … dẫn tới nhiều vấn đề kinh tế - xã hội gia tăng như thất nghiệp, chính sách phúc lợi, y tế,
Trang 3432
giáo dục, tệ nạn xã hội… Cùng với đó, trong những năm gần đây, thế giới chứng kiến những khủng hoảng chính trị ở nhiều quốc gia trên các châu lục, như cách mạng “Mùa xuân Ả-rập” mà hậu quả để lại là những thiệt hại về người và của do bạo động, bạo loạn, và thay đổi thể chế, chính quyền Đó là Gruzia, Tunisia, Algeria, Ai Cập, Yemen, Jordan, Ả Rập, Oman, Sudan, Syria, Iraq, Lybia … Trong khi đó, chủ nghĩa khủng bố ngày càng lan rộng và có các hoạt động gây thiệt hại lớn hơn Việc xuất hiện Nhànước Hồi giáo tự xưng IS đã cho thấy chủ nghĩa khủng bố là một mối đe dọa hiện hữu đối với người dân thế giới
Đặc biệt, tình hình khu vực Đông Á diễn ra phức tạp Tổng thống Obama thắng cử, tiếp tục thực hiện chiến lược xoay trục sang châu Á – TBD của Mỹ
Biển Đông sôi sục Trung Quốc lập ra cái gọi là "thành phố Tam Sa" gồm toàn bộ quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam, âm mưu từng bước thâu tóm toàn bộ Biển Đông, Theo ICG, một tổ chức nghiên cứu tầm cỡ quốc tế, căng thẳng ở Biển Đông có nguy cơ trở thành xung đột, bởi lực lượng vũ trang của các nước ngày càng tăng trong khi tranh chấp không được giải quyết
Đại hội đảng Cộng sản Trung Quốc lần thứ 18 diễn ra vào đầu tháng 11/2012 đánh dấu sự thay đổi thế hệ lãnh đạo của nền kinh tế số 2 thế giới Ông Tập Cận Bình trở thành Tổng bí thư mới của đảng và hạ quyết tâm chấn hưng Trung Quốc, tăng gấp đôi GDP vào năm 2020.Sự trỗi dậy của Trung Quốc khiến Nhật Bản phải quan tâm
Bán đảo Triều Tiên tiếp tục trở thành điểm nóng trong khu vực với việc Triều Tiên liên tục phóng tên lửa để "đưa vệ tinh lên vũ trụ" mà các nước Mỹ, Nhật, Hàn cho rằng hành động của Bình Nhưỡng thực chất là nhằm thử nghiệm tên lửa đạn đạo
Trang 3533
nợ của châu Âu và sự tác động của nó lên thị trường tài chính, cũng như hạn chế nguồn cung cấp năng lượng sau cuộc khủng hoảng phóng xạ Fukushima do thảm họa động đất và sóng thần tháng 3 năm 2011 gây ra Sóng thầnđã nhấn chìm nước Nhật, tàn phá nhiều thị trấn, đô thị ven biển miền Bắc, làm nhiều người thiệt mạng, mất tích, dẫn đến cảnh thiếu thốn lương thực, thuốc men và chỗ ở Ngay sau thảm họa sóng thần, Nhật Bản lại phải đối mặt với sự cố điện hạt nhân xảy ra tại nhà máy điện hạt nhân Fukushima, rò rỉ phóng xạ đe dọa nghiêm trọng đến tính mạng người dân và ảnh hưởng nghiêm trọng tới nền kinh tế Nhật Bản Sự cố Fukushima đã làm gia tăng những lo ngại chung về an toàn hạt nhân, ngăn chặn việc khởi động lại các
lò phản ứng đang đóng cửa để kiểm tra thường xuyên, và sự mất mát nguồn điện hạt nhân đã làm tăng chế độ phân phối điện bắt buộc, nhu cầu năng lượng đặt ra một cách cấp thiết Việc khắc phục thảm họa động đất và sóng thần này đã đặt ra thách thức đối với chính phủ Nhật Bản
Hơn nữa, năm 2012 Nhật Bản vẫn còn bị mắc kẹt trong giảm phát, giá tiêu dùng và giá tài sản tiếp tục giảm mặc dù Ngân hàng Trung ương Nhật Bản đã áp dụng các biện pháp nới lỏng định lượng với tỷ lệ lãi suất gần như bằng không Tăng trưởng sản lượng chậm, chi tiêu công gia tăng, đã đẩy tổng nợ công của Nhật Bản
năng tăng trưởng của nền kinh tế Nhật Bản Kinh tế Nhật Bản có dấu hiệu suy giảm
do giá trị đồng yên tăng cao, khủng hoảng kinh tế thế giới, sức mua giảm khiến xuất khẩu bị hạn chế
Ngoài ra, trong xã hội Nhật Bản tồn tại nhiều nguy cơ bất ổn chính trị Từ năm 2008, Nhật Bản đã thay thế 6 đời thủ tướng Điều này đã gây trở ngại cho hoạch định chính sách kinh tế, xã hội trong dài hạn Tình trạng dân số già, thiếu lao động trầm trọng trong nước, đặc biệt trong lĩnh vực nông nghiệp càng khiến cho việc khắc phục tăng trưởng kinh tế, giảm tải gánh nặng cho chính phủ càng trở nên khó khăn hơn bao giờ hết
19Trần Quang Minh (2013), Tổng quan kinh tế Nhật Bản 2013, Nghiên cứu Nhật Bản,
http://cjs.inas.gov.vn/index.php?newsid=750, 31/12/2013
Trang 3634
Bên cạnh những khó khăn đặt ra đối với chính quyền Tổng thống Shinzo Abe, Nhật Bản vẫn có các điều kiện thuận lợi nhất định Đó là tinh thần vươn lên khắc phục khó khăn của người Nhật, thành tựu vượt trội trong khoa học - công nghệ, luồng vốn đầu tư tài chính ổn định
Theo các nhà phân tích, ông Abe sẽ phải đối mặt với nhiều khó khăn trong nhiệm kỳ lần hai này như vực dậy nền kinh tế đang trì trệ, khắc phục tình trạng giảm phát và khôi phục nền tài chính công… Ông cũng cho biết sẽ làm tăng chi tiêu công bắt đầu từ hoạt động xây dựng các công trình công cộng trên khắp đất nước, đồng thời tăng hỗ trợ cho các vùng nông thôn Bên cạnh đó, ông cũng cam kết sẽ dành 10.000 tỷ yên (119 tỷ USD) cho việc tái thiết và phòng chống thiên tai
1.4 Quan điểm chính trị của Thủ tướng Shinzo Abe
- Quan điểm trong nhiệm kỳ Thủ tướng năm 2007
Ông Abe từng giữ cương vị trên trong nhiệm kỳ năm 2006 - 2007 Ông nổi tiếng với các quan điểm dân tộc chủ nghĩa Trong thời gian nắm quyền Thủ tướng, ông luôn kêu gọi sửa đổi hiến pháp, tăng cường giáo dục lòng yêu nước, phát triển quốc phòng, tăng cường vai trò gìn giữ hòa bình trên phạm vi quốc tế của Nhật Bản
Ông Abe luôn kêu gọi chính phủ Nhật Bản phải cứng rắn hơn trong vấn đề tranh chấp lãnh thổ với cả Trung Quốc và Hàn Quốc Ông cho rằng, Nhật Bản cần
"làm rõ quan điểm cứng rắn đối với chính phủ Trung Quốc và không cho phép tàu Trung Quốc xâm phạm lãnh thổ Nhật Bản"20
Trong thời gian vận động tranh cử, ông Abe đưa ra cương lĩnh hành động với những lời hứa hẹn bảo vệ chủ quyền lãnh thổ và vực dậy nền kinh tế Nhật Bản Ông cho biết, nếu tái đắc cử ông sẽ vực dậy nền kinh tế đang trì trệ và yếu kém cùng với nhiệm vụ bảo vệ lãnh thổ Trong bối cảnh tranh chấp chủ quyền Senkaku /Điếu Ngư giữa Trung Quốc và Nhật Bản gia tăng, quan điểm cứng rắn của ông Abe nói riêng
và đảng LDP nói chung là điểm mạnh để thu hút cử tri Nhật
- Quan điểm trong nhiệm kỳ tái đắc cử năm 2012
20 Thủ tướng Shinzo Abe phát biểu sau khi Trung Quốc điều 6 tàu hải giám tuần tra quanh khu vực quần đảo Senkaku/Điếu Ngư ngày 14/9/2012 Phản ứng này của Trung Quốc xuất phát từ việc chính phủ Nhật Bản tuyên bố quốc hữu hóa 5 đảo thuộc quần đảo Senkaku
Trang 3735
Ngày 18 tháng 12 năm 2012, ĐảngLDP đã giành chiến thắng đầy thuyết phục trong cuộc bầu cử Hạ viện ở Nhật Bản Chiến thắng này đã mở đường cho sự trở lại của LDP với tư cách là đảng cầm quyền sau hơn ba năm để mất vị trí này vào tay Đảng Dân chủ Nhật Bản (DPJ) Với thắng lợi vang dội của LDP trong cuộc tổng tuyển cử này, ông Shinzo Abe tái đắc cử, trở thành Thủ tướng Nhật Bản
Theo các nhà phân tích, bản thân đường lối chính trị của ông Abe đã có nhiều thay đổi so với những gì ông đã làm trước năm 2007, cũng như những gì các nhà lãnh đạo Nhật Bản khác đã làm trong thời gian qua Thay vì chú trọng vào những tranh cãi lãnh thổ gay gắt với nhiều nước lân cận, chính quyền của ông Abe
sẽ chuyển hướng sang tập trung phục hồi nền kinh tế đang hấp hối của Nhật Bản, các nhà phân tích nhận định
Như vậy, trong lần trở lại này, Thủ tướng Shinzo Abe sẽ tập trung nhiều hơn vào các vấn đề kinh tế trong nước, thay vì những tranh chấp lãnh thổ.Và ngay khi chính thức trở thành thủ tướng Nhật Bản, ông Abe đã cho thấy một loạt các động thái củng cố nhận định này Đầu tiên đó là việc ông Abe tuyên bố Nhật Bản sẽ không tiến hành bất cứ cuộc đàm phán nào về tranh chấp biển đảo Thay vào đó, ông dành những phát ngôn cứng rắn của mình để hứa hẹn sẽ thay đổi nền kinh tế, cam kết tăng chi tiêu công, chấm dứt tình trạng giảm phát triền miên cũng như thực hiện các biện pháp táo bạo để kìm giá đồng yên nhằm vực dậy hoạt động xuất khẩu của Nhật Bản
Sau khi trở lại vị trí người đứng đầu Chính phủ Nhật Bản, Thủ tướng Shinzo Abe đã có những bước đi mạnh mẽ với ưu tiên tập trung vào an ninh quốc gia và tăng cường mở rộng quan hệ đối ngoại nhằm hướng tới việc khôi phục vị thế trong quá khứ của Nhật Bản trên trường quốc tế21
Trong vòng hai năm đầu nhiệm kỳ, Thủ tướng Shinzo Abe đã đi thăm 50 nước – một kỷ lục đối với một lãnh đạo cấp cao Nhật Bản – nhằm thúc đẩy một
21 Minh Hoàng (2014), Những chuyển dịch quan trọng trong cục diện địa chính trị Đông Á hiện nay, Tạp chí
quốc phòng toàn dân,
http://tapchiqptd.vn/vi/quoc-phong-quan-su-nuoc-ngoai/nhung-chuyen-dich-quan-trong-trong-cuc-dien-dia-chinh-tri-dong-a-hien-nay/6431.html, 27/10/2014
Trang 3836
Bản là một cường quốc trong khu vực và trên thế giới
Thủ tướng Shinzo Abe chủ trương Nhật Bản cần phải áp dụng chính sách ngoại giao và an ninh quyết đoán hơn Ưu tiên hàng đầu của Thủ tướng là tăng cường mối quan hệ đồng minh với Mỹ, hợp tác với Mỹ vẫn là nền tảng của chính sách đối ngoại của Nhật Bản, bởi vì đây chính là đồng minh quân sự và là đối tác kinh tế hàng đầu của Nhật Bản Trong bối cảnh phải đối mặt với “mối đe dọa an ninh” đến từ Trung Quốc và sự bất ổn trên bán đảo Triều Tiên cùng với sự chuyển hướng chiến lược sang châu Á- TBD của Mỹ thì hợp tác với Mỹ vẫn là nền tảng của chính sách đối ngoại của Nhật Bản Điều này được thể hiện rõ rệt là sau khi giành được thắng lợi trong cuộc tranh cử, nhà lãnh đạo đầu tiên trên thế giới mà Thủ tướng Abe chọn điện đàm là cựu Tổng thống Mỹ Barack Obama cho thấy quan hệ với Mỹ có tầm quan trọng như thế nào đối với Chính quyền của Thủ tướng Abe Chuyến thăm Mỹ 4 ngày từ 21 đến 24/01/2013 của Thủ tướng Shinzo Abe đã khẳng định niềm tin của LDP vào mối quan hệ song phương gắn bó với Mỹ Chính quyền đương nhiệm của Nhật Bản cũng cố gắng giải quyết các vấn để rắc rối liên quan tới Hiệp ước an ninh Nhật- Mỹ như căng thẳng với Mỹ về việc di chuyển căn cứ quân
sự Futenma, sự phản đối của người dân Nhật Bản đối với căn cứ quân sự của Mỹ tại Okinawa, vấn đề hợp tác kinh tế TPP do Mỹ chủ đạo
Ngày 01/7/2014, nội các Nhật Bản đã chính thức thông qua việc diễn giải lại Điều 9 của Hiến pháp hòa bình của nước này Theo đó, thay vì chỉ phòng vệ trong phạm vi lãnh thổ quốc gia như quy định trước đây, Lực lượng phòng vệ Nhật Bản được quyền tham gia sứ mệnh phòng thủ tập thể bên ngoài lãnh thổ Đây là dấu mốc quan trọng trong quá trình điều chỉnh chính sách quốc phòng của Nhật Bản, nhằm đưa nước này trở thành một cường quốc thực sự trên thế giới
Theo Thủ tướng Shinzo Abe, cùng với việc diễn giải lại Điều 9 của Hiến pháp, Nhật Bản đã xây dựng 4 phương án để thực hiện quyền phòng vệ tập thể
22 Mike M Mochizuki & Samuel Parkinson Porter (2013), “Japan under Abe: Toward Moderation or
Nationalism?”, The Washington Quarterly, Vol 36, No 4, pg 25–41
Trang 3937
Phương án 1: sử dụng hệ thống phòng thủ tên lửa quốc gia để đánh chặn các tên lửa
tấn công nhằm vào các mục tiêu của Mỹ Phương án 2: triển khai Lực lượng phòng
vệ trên biển (JMSDF) khi các tàu của đồng minh bị tấn công ở các vùng biển xa
Phương án 3: sử dụng các Lực lượng phòng vệ (JSF) để thực hiện một cuộc phản
công nếu một Bộ chỉ huy liên quân có sự tham gia của Nhật Bản bị một quốc gia
khác tấn công ở lãnh thổ nước ngoài Phương án 4: sử dụng lực lượng quân sự để
loại bỏ những trở ngại đối với Nhật Bản trong các hoạt động gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc.23 Bốn phương án trên được đưa ra trong bối cảnh Nhật Bản phải luôn ở trong trạng thái sẵn sàng bảo đảm hiệu lực và hiệu quả của Hiệp ước an ninh Nhật - Mỹ cũng như bảo đảm lợi ích an ninh của Nhật Bản Như vậy, theo cách giải thích này, Nhật Bản vẫn tuân thủ chủ trương phòng vệ chứ không phải tiến công, kể
cả khi phải đối phó với Trung Quốc trong cuộc tranh chấp liên quan tới quần đảo Senkaku/Điếu Ngư ở Biển Hoa Đông Ngoài ra, Nhật Bản còn ngỏ ý tăng cường hợp tác quân sự với các nước trong khu vực, như: Ô-xtrây-li-a, Ấn Độ, Phi-li-pin và các nước ASEAN khác, nhằm tạo một hệ thống an ninh mới có thể đối phó với mối
đe dọa từ phía Trung Quốc Đây cũng là một trong sự dịch chuyển mới, đáng chú ý trong quan điểm của Nhật Bản đối với cục diện địa - chính trị Đông Á hiện nay
Tóm lại, từ những động thái trên có thể nhận thấy định hướng trong chính sách đối ngoại của Thủ tướng Shinzo Abe là chủ trương tăng cường mối quan hệ đồng minh với Mỹ và các nước đồng minh với Mỹ, thúc đẩy hợp tác với các nước ASEAN, đối phó với sự trỗi dậy và những thách thức an ninh từ phía Trung Quốc
và Bắc Triều Tiên, khẳng định vai trò và vị thế của Nhật Bản trong khu vực Đông Á nói riêng và trên trường quốc tế nói chung
23 Minh Hoàng (2014), Những chuyển dịch quan trọng trong cục diện địa chính trị Đông Á hiện nay, Tạp chí
Quốc phòng toàn dân,
http://tapchiqptd.vn/vi/quoc-phong-quan-su-nuoc-ngoai/nhung-chuyen-dich-quan-trong-trong-cuc-dien-dia-chinh-tri-dong-a-hien-nay/6431.html, 27/10/2014
Trang 4038
Tiểu kết
Tình hình khu vực Đông Á đang thay đổi nhanh chóng, tầm quan trọng của các vấn đề nội bộ khu vực tiếp tục mở rộng Những yếu tố an ninh chính trị, kinh tế, văn hóa xã hội cho thấy sự liên kết chặt chẽ giữa Nhật Bản với phần còn lại của khu vực
Với vị trí địa chính trị quan trọng của Đông Á, Nhật Bản xác định cho mình một vai trò quan trọng không thể thiếu trong khu vực Qua các đời Thủ tướng, Nhật Bản đã xây dựng và phát triển các học thuyết liên quan tới chính sách đối ngoại đối với các quốc gia và tổ chức trong khu vực, từ đó hướng tới xây dựng Cộng đồng Đông Á, mà ở đó Nhật Bản có vai trò chi phối
Trong cục diện mới của khu vực với bối cảnh biến động phức tạp, khó lường, ông Shinzo Abe lên nắm quyền với những quan điểm chính trị vừa cứng rắn vừa mềm dẻo Bên cạnh việc tập trung vào giải quyết vấn đề trong nước, Thủ tướng Shinzo Abe không ngừng khôi phục và đẩy mạnh tầm ảnh hưởng của Nhật Bản đối với khu vực Đông Á thông qua việc tiếp tục thúc đẩy sửa đổi Hiến pháp và nâng cao năng lực quốc phòng, hướng tới mục tiêu đưa Nhật Bản trở thành một cường quốc thực sự, cả về kinh tế và chính trị