1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Cơ sở khoa học cho phát triển du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng huyện miền núi mộc châu, tỉnh sơn la

210 52 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 210
Dung lượng 11 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Châu thành các tiểu vùng địa lý với đặc điểm về điều kiện và tài nguyên du lịch tự nhiên và nhân văn; c Đánh giá mức độ thuận lợi của các tiểu vùng địa lý đối với phát triển một số loại

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN

-

Phạm Thị Cẩm Vân

CƠ SỞ KHOA HỌC CHO PHÁT TRIỂN

DU LỊCH SINH THÁI DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG HUYỆN MIỀN NÚI MỘC CHÂU, TỈNH SƠN LA

LUẬN ÁN TIẾN SĨ ĐỊA LÍ

Hà Nội - 2018

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN

-

Phạm Thị Cẩm Vân

CƠ SỞ KHOA HỌC CHO PHÁT TRIỂN

DU LỊCH SINH THÁI DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG HUYỆN MIỀN NÚI MỘC CHÂU, TỈNH SƠN LA

Chuyên ngành: Quản lý tài nguyên và môi trường

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi

Các số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực và chƣa từng đƣợc ai

công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Nghiên cứu sinh

Phạm Thị Cẩm Vân

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Luận án được hoàn thành tại Khoa Địa lý, Trường Đại học Khoa học Tự

nhiên, ĐHQG Hà Nội, dưới sự hướng dẫn khoa học của GS.TS Nguyễn Cao Huần

và TS Trần Thị Mai Hoa NCS xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất đến các thầy, cô

- những người đã thường xuyên dạy bảo, khuyến khích, động viên NCS trong suốt thời gian thực hiện luận án

Trong quá trình nghiên cứu, NCS đã nhận được những chỉ bảo và góp ý quý

báu của các thầy, cô trong và ngoài trường: PGS.TS Pham Quang Tuấn, GS.TS

Trương Quang Hải, PGS.TS Nguyễn Thị Hải, PGS.TS Đặng Văn Bào, PGS.TS Trần Đức Thanh, GS.TS Nguyễn Khanh Vân, GS.TSKH Phạm Hoàng Hải, PGS.TS Vũ Văn Phái, PGS.TS Nguyễn Hiệu, Bằng cả tấm lòng của mình, NCS

xin chân thành cảm ơn những giúp đỡ quý báu đó

NCS cũng xin bày tỏ lòng biết ơn tới các cán bộ thuộc UBND huyện Mộc Châu, Ban quản lý Du lịch huyện Mộc Châu, Hiệp hội du lịch huyện Mộc Châu,

và cộng đồng địa phương trên địa bàn huyện Mộc Châu đã tạo điều kiện và tận tình giúp đỡ trong suốt quá trình NCS tiến hành nghiên cứu tại địa phương

NCS cũng xin trân trọng cảm ơn sự giúp đỡ và tạo điều kiện của các thầy, cô giáo trong Phòng Sau Đại học, Khoa Địa lý, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc Gia Hà Nội

NCS xin gửi lời cảm ơn đến lãnh đạo, cán bộ đồng nghiệp thuộc Viện Dân tộc học đã tạo điều kiện giúp đỡ trong suốt quá trình học tập nghiên cứu của mình

Cuối cùng, NCS xin gửi lời cảm ơn tới gia đình, bạn bè đã động viên NCS rất nhiều trong thời gian thực hiện luận án

Hà Nội, ngày tháng năm 2018

NCS Phạm Thị Cẩm Vân

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết 1

2 Mục tiêu và nội dung nghiên cứu 3

3 Phạm vi nghiên cứu 3

4 Điểm mới của luận án 4

5 Luận điểm bảo vệ 4

6 Cơ sở dữ liệu 4

7 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 5

8 Cấu trúc luận án 5

CHƯƠNG 1.CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 6

1.1 Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan 6

1.1.1 Tổng quan các công trình nghiên cứu về Du lịch sinh thái, Du lịch

sinh thái dựa vào cộng đồng 6

1.1.2 Tổng quan các công trình nghiên cứu về cơ sở địa lý cho phát triển

du lịch 12

1.1.3 Tổng quan các công trình nghiên cứu về Mộc Châu 16

1.2 Cơ sở lý luận nghiên cứu du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng áp dụng cho huyện Mộc Châu 18

1.2.1 Một số khái niệm cơ bản 18

1.2.2 Nguyên tắc phát triển du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng 20

1.2.3 Điều kiện và tài nguyên cho phát triển du lịch sinh thái dựa vào

cộng đồng 21

1.2.4 Các loại hình du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng 24

1.2.5 Các cơ sở khoa học theo tiếp cận địa lý cho phát triển du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng 27

1.2.6 Đặc trưng lãnh thổ huyện miền núi Mộc Châu với hoạt động du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng 30

1.3 Quan điểm tiếp cận, phương pháp và quy trình nghiên cứu 32

1.3.1 Quan điểm và cách tiếp cận 32

1.3.2 Phương pháp nghiên cứu và đánh giá áp dụng trong luận án 33

1.3.3 Quy trình nghiên cứu 37

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 39

Trang 6

CHƯƠNG 2.ĐIỀU KIỆN ĐỊA LÝ VÀ TÀI NGUYÊN CHO PHÁT TRIỂN

DU LỊCH SINH THÁI DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG HUYỆN MIỀN NÚI

MỘC CHÂU, TỈNH SƠN LA 40

2.1 Điều kiện địa lý cho phát triển du lịch sinh thái huyện Mộc Châu 40

2.1.1 Vị trí địa lý và lợi thế phát triển du lịch 40

2.1.2 Điều kiện địa lýtự nhiên cho phát triển du lịch 41

2.1.3 Các điều kiện kinh tế - xã hội cho phát triển du lịch 51

2.2 Tài nguyên du lịch nổi bật của huyện Mộc Châu 56

2.2.1 Tài nguyên du lịch sinh thái tự nhiên 56

2.2.2 Tài nguyên du lịch sinh thái nhân văn 59

2.3 Phân vùng địa lý và đặc điểm tài nguyên du lịch của các tiểu vùng 69

2.3.1 Một số vấn đề lý luận về phân vùng địa lý huyện Mộc Châu 69

2.3.2 Đặc điểm các tiểu vùng địa lý huyện Mộc Châu 73

TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 80

CHƯƠNG 3.ĐÁNH GIÁ TIỀM NĂNG, THỰC TRẠNG VÀ ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH SINH THÁI DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG

HUYỆN MIỀN NÚI MỘC CHÂU, TỈNH SƠN LA 83

3.1 Đánh giá tiềm năng phát triển du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng

huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La 83

3.1.1 Đánh giá mức độ thuận lợi đối với phát triển DL sinh thái của các

tiểu vùng địa lý 83

3.1.2 Đánh giá năng lực tham gia của cộng đồng trong phát triển du lịch sinh thái huyện Mộc Châu 100

3.1.3 Đánh giá chung về khả năng khai thác các loại hình du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng huyện Mộc Châu 123

3.2 Hiện trạng hoạt động du lịch huyện Mộc Châu 127

3.2.1 Khách du lịch 127

3.2.2 Thu nhập xã hội từ du lịch 130

3.2.3 Hoạt động xúc tiến, quảng bá du lịch 131

3.2.4 Các tuyến, điểm du lịch đang khai thác 132

Trang 7

3.3 Định hướng và giải pháp phát triển du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng

huyện miền núi Mộc Châu, tỉnh Sơn La 134

3.3.1 Quan điểm và cơ sở xây dựng định hướng phát triển Du lịch

sinh thái 134

3.3.2 Định hướng không gian phát triển du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng huyện Mộc Châu 138

3.3.3 Định hướng giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động phát triển du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng huyện Mộc Châu 141

TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 146

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 148

DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 151

TÀI LIỆU THAM KHẢO 152

PHỤ LỤC

Trang 8

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT Tiếng Anh

ASEAN Association of South East Asian Nations

(Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á)

(Du lịch dựa vào cộng đồng) ESCAP Economic and Social Commission for Asia and the Pacific

(Ủy ban Kinh tế - xã hội Châu Á Thái Bình Dương) IUCN International Union for Conservation of Nature

(Tổ chức bảo tồn thiên nhiên thế giới) TIES The International Environmetrics Society

(Tổ chức du lịch sinh thái quốc tế) UNEP United Nations Environment Programme

(Chương trình môi trường Liên hợp quốc) UNWTO United Nations World Tourism Organization

(Tổ chức Du lịch thế giới của Liên hợp quốc) WTO World Trade Organization

(Tổ chức thương mại thế giới) WWF World Wildlife Fund

(Quỹ bảo tồn thiên nhiên thế giới)

Tiếng Việt

Trang 9

DANH MỤC HÌNH

Hình 3.2 Bản đồ đánh giá mức độ thuận lợi của các tiểu vùng cho phát triển

du lịch Homestay và trải nghiệm không gian văn hóa bản làng 97 Hình 3.3 Bản đồ đánh giá mức độ thuận lợi của các tiểu vùng cho

phát triển du lịch trải nghiệm nông nghiệp nông thôn 98 Hình 3.4 Bản đồ đánh giá mức độ thuận lợi của các tiểu vùng cho

Hình 3.5 Cơ cấu thu nhập hộ gia đình cung cấp dịch vụ Homestay và

trải nghiệm không gian văn hóa bản làng (trường hợp bản Dọi) 120

Hình 3.7 Bản đồ định hướng phát triển du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng

Trang 10

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1.1 Số mẫu phiếu khảo sát theo bản, tiểu vùng địa lý 35 Bảng 2.1 Một số yếu tố khí hậu Mộc Châu (số liệu giai đoạn 1985 - 2013) 45 Bảng 2.2 Nhiệt độ trung bình năm tương ứng theo các bậc độ cao địa hình

Bảng 3.4 Bảng cơ sở và kết quả phân hạng mức độ thuận lợi của các

tiểu vùng đối với hoạt động DL Homestay và trải nghiệm không gian văn hóa bản làng

92

Bảng 3.5 Kết quả điểm đánh giá thành phần và đánh giá tổng hợp của các

tiểu vùng địa lý đối với DL trải nghiệm nông nghiệp nông thôn 93 Bảng 3.6 Bảng cơ sở và kết quả phân hạng mức độ thuận lợi của các tiểu

vùng đối với hoạt động DL trải nghiệm nông nghiệp nông thôn 94 Bảng 3.7 Kết quả điểm đánh giá thành phần và đánh giá tổng hợp của các

Bảng 3.8 Bảng cơ sở và kết quả phân hạng mức độ thuận lợi của các

Bảng 3.9 Bảng tổng hợp và lựa chọn ưu tiên loại hình DL theo các

Bảng 3.10 Quan niệm của người dân về DL Homestay và trải nghiệm

Bảng 3.11 Mức độ sẵn sàng tham gia của cộng đồng đối với DL Homestay

và trải nghiệm không gian văn hóa bản làng tại bản Dọi 103 Bảng 3.12 Mức độ sẵn sàng tham gia của cộng đồng đối với DL Homestay

và trải nghiệm không gian văn hóa bản làng tại bản Cà Đạc 103

Trang 11

Bảng 3.13 Mức độ sẵn sàng tham gia của cộng đồng đối với DL Homestay

và trải nghiệm không gian văn hóa bản làng tại bản Áng 104 Bảng 3.14 Mức độ sẵn sàng tham gia của cộng đồng đối với DL Homestay

và trải nghiệm không gian văn hóa bản làng tại bản Vặt 105 Bảng 3.15 Tổng hợp mức độ sẵn sàng tham gia của cộng đồng tại các điểm

nghiên cứu đối với DL Homestay và trải nghiệm không gian văn hóa bản làng

105

Bảng 3.16 Phân hạng mức độ thuận lợi theo tiêu chí cộng đồng trong phát

triển DL Homestay và trải nghiệm không gian văn hóa bản làng 106 Bảng 3.17 Quan niệm của người dân về DL trải nghiệm NNNT 107 Bảng 3.18 Mức độ sẵn sàng tham gia của cộng đồng đối với trải nghiệm

Bảng 3.19 Mức độ sẵn sàng tham gia của cộng đồng đối với DL trải

Bảng 3.20 Mức độ sẵn sàng tham gia của cộng đồng đối với DL trải

Bảng 3.21 Tổng hợp mức độ sẵn sàng tham gia của cộng đồng tại các điểm

nghiên cứu đối với DL trải nghiệm nông nghiệp nông thôn 112 Bảng 3.22 Phân hạng mức độ thuận lợi theo tiêu chí cộng đồng trong

phát triển DL trải nghiệm nông nghiệp nông thôn 112

Bảng 3.24 Mức độ sẵn sàng tham gia của cộng đồng đối với DL mạo hiểm

Bảng 3.25 Mức độ sẵn sàng tham gia của cộng đồng đối với DL mạo hiểm

Bảng 3.26 Mức độ sẵn sàng tham gia của cộng đồng đối với DL mạo hiểm

Bảng 3.27 Tổng hợp mức độ sẵn sàng tham gia của cộng đồng tại các điểm

Bảng 3.28 Phân hạng mức độ thuận lợi theo tiêu chí cộng đồng trong

Bảng 3.29 Tổng hợp mức độ sẵn sàng tham gia của cộng đồng trong

Bảng 3.30 Số lượng nhà nghỉ cộng đồng tại một vài điểm nghiên cứu 118 Bảng 3.31 Sự tham gia của cộng đồng địa phương trong phát triển DL

Homestay và trải nghiệm không gian văn hóa bản làng 118

Trang 12

Bảng 3.32 Sự tham gia của cộng đồng địa phương trong hoạt động DL

Bảng 3.33 Tổng hợp khả năng phát triển DL Homestay và trải nghiệm

Bảng 3.34 Tổng hợp khả năng phát triển DL trải nghiệm nông nghiệp

Bảng 3.36 Lượng khách tham gia du lịch làng bản và lưu trú tại các xã

Bảng 3.37 Số ngày lưu trú trung bình của du khách giai đoạn 2011 - 2016 129 Bảng 3.38 Mức độ hài lòng của du khách đối với DL tại địa phương 130 Bảng 3.39 Doanh thu từ du lịch của Mộc Châu giai đoạn 2011 - 2016 131

Bảng 3.41 Phân tích SWOT cho phát triển du lịch sinh thái dựa vào

Bảng 3.42 Định hướng ưu tiên phát triển du lịch sinh thái dựa vào

Trang 13

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết

Du lịch sinh thái từ lâu được biết đến là một trong những loại hình du lịch bền vững và được lựa chọn là hướng phát triển của nhiều quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam [60] Nhằm đáp ứng mục tiêu vừa khai thác được thế mạnh của các tài nguyên du lịch (tự nhiên, nhân văn), vừa mang lại lợi ích thiết thực cho người dân bản địa, DLST đã và đang phát triển theo một chiều cạnh mới, đó là Du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng

Mộc Châu có diện tích tự nhiên 1.081,66km2 [13], được thiên nhiên ban tặng nhiều tài nguyên có giá trị như: hang Dơi (di tích danh thắng cấp quốc gia), thác Dải Yếm, ngũ động bản Ôn (danh thắng cấp tỉnh), khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Nha là nơi sinh sống của nhiều loài động thực vật quý hiếm trong sách đỏ Việt Nam [7] và nhiều danh thắng nổi tiếng khác Về khí hậu, Mộc Châu có tới 9 tháng thuận lợi với sức khỏe của con người [117].Về mặt xã hội, Mộc Châu là địa bàn cư trú lâu đời của của người Hmông, người Thái, người Mường Với bàn tay lao động và trí óc sáng tạo, họ đã tạo ra những hệ sinh thái đặc sắc mang những nét văn hóa riêng của cộng đồng: ruộng bậc thang, nương chè xanh ngút ngàn, thung lũng hoa nhiệt đới, vườn hoa cải, hoa mận đặc trưng của Tây Bắc, Có thể nói mảnh đất này đã hội tụ cả tài nguyên thiên nhiên và văn hóa đa sắc tộc để phát triển du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng Tuy nhiên, cho đến nay, hoạt động du lịch dịch vụ ở đây còn tự phát, chưa thực

sự tương xứng với tiềm năng vốn có của nó, tỷ trọng ngành này chỉ chiếm 26,5% thấp hơn nhiều so với ngành nông nghiệp và công nghiệp trong cơ cấu kinh tế của huyện Mộc Châu [13]

Định hướng “Phát triển kinh tế xã hội và quy hoạch không gian đến năm

2020, tầm nhìn đến năm 2030”, Mộc Châu được xác định nằm trong Khu du lịch

quốc gia Mộc Châu đó là “Phát triển Khu Du lịch quốc gia Mộc Châu trở thành

động lực phát triển du lịch vùng Trung du miền núi Bắc Bộ với hệ thống sản phẩm

du lịch đa dạng, độc đáo, ”[3] Đặc biệt đây được coi là khu trung tâm du lịch sinh thái với nhiều sản phẩm du lịch bản sắc văn hóa của cộng đồng địa phương

Trang 14

Trong bối cảnh phát triển chung của kinh tế thị trường và đô thị hóa, nhiều địa phương đang đứng trước những thay đổi về tài nguyên, môi trường và biến đổi trong bản sắc văn hóa tộc người, thách thức cho phát triển bền vững và Mộc Châu sẽ không nằm ngoài xu thế đó Chính vì vậy, du lịch sinh thái là một trong các giải pháp an toàn và hiệu quả, vừa khai thác được lợi ích kinh tế để nâng cao mức sống người dân, lại vừa bảo tồn được tài nguyên thiên nhiên Sự tham gia của cộng đồng vào du lịch sinh thái chính là yếu tố quyết định cho phát triển bền vững ở địa phương

Nghiên cứu phát triển Du lịch sinh thái được thực hiện theo nhiều cách tiếp cận khoa học khác nhau, trong đó có tiếp cận địa lý mà hiện nay chủ yếu vẫn là dựa trên các khoa học địa lý bộ phận (Địa lý tự nhiên, địa lý kinh tế - xã hội,…) Trong thực tiễn, nguồn tài nguyên du lịch tự nhiên và nhân văn có quan hệ tương tác lẫn nhau trong phạm vi không gian lãnh thổ nhất định với đặc trưng riêng về tự nhiên -

và kinh tế - xã hội Điều đó đòi hỏi nghiên cứu Du lịch sinh thái cần thiết lựa chọn hướng tiếp cận trong địa lý một cách tổng hợp hơn trên cơ sở của khoa học địa lý (hay còn gọi là địa lý học) Khoa học địa lý là một hệ thống các khoa học tự nhiên

và xã hội nghiên cứu các thể tổng hợp lãnh thổ tự nhiên, các thể tổng hợp sản xuất theo lãnh thổ và các thành phần của chúng [42] Nói cách khác, địa lý học với vai trò là khoa học nghiên cứu về tổ chức lãnh thổ theo không gian và thời gian cùng với các phương pháp nghiên cứu liên ngành có thể đánh giá, xác định rõ nguồn tài nguyên của lãnh thổ, góp phần quan trọng cho việc định hướng phát triển kinh tế xã hội, trong đó có du lịch

Do vậy, để đạt được mục tiêu trên trong thực tiễn vừa gìn giữ, bảo tồn tài nguyên, vừa phục vụ được phát triển theo hướng bền vững cần thiết kết hợp hài hòa hai vấn đề này và trên cơ sở của những nghiên cứu cụ thể Trước đây đã có nhiều công trình nghiên cứu về phát triển Du lịch sinh thái, phát triển Du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng, nhưng chưa có công trình nào nghiên cứu cụ thể, trực tiếp về phát triển Du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng huyện Mộc Châu tỉnh Sơn La.Với tất

cả những lý do trên, nghiên cứu sinh đã chọn đề tài nghiên cứu: “Cơ sở khoa học cho phát triển du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng huyện miền núi Mộc Châu tỉnh Sơn La” làm luận án tiến sĩ

Trang 15

2 Mục tiêu và nội dung nghiên cứu

Mục tiêu: Xác lập cơ sở khoa học dựa trên tiếp cận địa lý cho định hướng

không gian phát triển du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La theo hướng bền vững

Nội dung nghiên cứu

- Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan; xác lập cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

- Phân tích đặc điểm và vai trò của các điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, tài nguyên du lịch, cơ sở vật chất hạ tầng cho phát triển du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng huyện Mộc Châu

- Phân vùng địa lý và phân tích các tiểu vùng địa lý với đặc điểm tài nguyên cho phát triển du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng

- Đánh giá mức độ thuận lợi của các tiểu vùng địa lý cho phát triển du lịch sinh thái và phân tích khả năng tham gia của cộng đồng trong phát triển du lịch

- Định hướng không gian phát triển du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng huyện Mộc Châu theo hướng bền vững

- Định hướng giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động phát triển du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng huyện Mộc Châu

3 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi không gian lãnh thổ: Đề tài được thực hiện trong phạm vi huyện

Mộc Châu, tỉnh Sơn La trong mối quan hệ với các khu vực lân cận

Phạm vi thời gian: Luận án nghiên cứu, phân tích các số liệu về tự nhiên,

kinh tế, xã hội và du lịch của huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La trong giai đoạn 2011

-2016 có tính đến các số liệu dự báo và định hướng quy hoạch đến năm 2030

Phạm vi khoa học: Đề tài luận án nghiên cứu du lịch sinh thái huyện Mộc

Châu dựa theo tiếp cận địa lý, tập trung nghiên cứu một số vấn đề chủ yếu: a) Về lý luận: Nghiên cứu nội hàm của cách tiếp cận địa lý theo hướng phân vùng Địa lý cho phát triển du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng; b) Phân vùng địa lý huyện Mộc

Trang 16

Châu thành các tiểu vùng địa lý với đặc điểm về điều kiện và tài nguyên du lịch tự nhiên và nhân văn; c) Đánh giá mức độ thuận lợi của các tiểu vùng địa lý đối với phát triển một số loại hình du lịch sinh thái; d) Phân tích năng lực cộng đồng trong phát triển du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng theo các tiểuvùng địa lý; đ) Định hướng không gian ưu tiên phát triển các loại hình du lịch sinh thái phù hợp với từng tiểu vùng

4 Điểm mới của luận án

- Làm rõ được sự phân hóa lãnh thổ thành các tiểu vùng địa lý với đặc điểm riêng về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và tài nguyên du lịch tạo cơ sở khoa học cho phát triển du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La

- Xác định được mức độ thuận lợi và định hướng ưu tiên phát triển du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng đối với các tiểu vùng địa lý theo 3 loại hình du lịch chính: (1)

du lịch Homstay và trải nghiệm không gian văn hóa bản làng, (2) du lịch trải nghiệm nông nghiệp nông thôn, (3) du lịch mạo hiểm ở huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La

5 Luận điểm bảo vệ

Luận điểm 1 Các tiểu vùng địa lý với tính đặc thù riêng về điều kiện tự

nhiên, kinh tế - xã hội, tài nguyên du lịch và cơ sở hạ tầng là những căn cứ khoa học cần thiết và khách quan cho phát triển du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng ở huyện Mộc Châu

Luận điểm 2 Kết quả đánh giá mức độ thuận lợi cùng với năng lực của cộng

đồng địa phương đối với các loại hình du lịch: du lịch Homstay và trải nghiệm không gian văn hóa bản làng, du lịch trải nghiệm nông nghiệp nông thôn, du lịch mạo hiểm theo các tiểu vùng địa lý cho phép lựa chọn và xác định các loại hình du lịch sinh thái ưu tiên phù hợp với lãnh thổ huyện MộcChâu

6 Cơ sở dữ liệu

Nguồn tài liệu được sử dụng trong luận án bao gồm:

- Hệ thống các tài liệu, các công trình đã công bố về lý luận và nghiên cứu sử dụng tài nguyên; các báo cáo về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội; niên giám thống kê từ 2011- 2016, quy hoạch sử dụng đất đến 2016 của huyện;

Trang 17

- Hệ thống các bản đồ số chuyên đề và tổng hợp: bản đồ hành chính (1/50.000), bản đồ địa hình (1/50.000), bản đồ tài nguyên du lịch huyện Mộc Châu, bản đồ đất huyện Mộc Châu (1/50.000)

- Kết quả nghiên cứu của đề tài cấp tỉnh mà tác giả là thư ký, thành viên

tham gia chính (2012-2013): “Nghiên cứu tiềm năng du lịch sinh thái huyện Quỳnh

Nhai, tỉnh Sơn La”; “Nghiên cứu ảnh hưởng của các yếu tố truyền thống đến giáo dục và chăm sóc trẻ em ở một số dân tộc tỉnh Sơn La”,

- Các kết quả điều tra khảo sát ngoài thực địa của NCS trong quá trình thực hiện luận án

7 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

Ý nghĩa khoa học: Kết quả khoa học của luận án góp phần làm phong phú

những vấn đề về lý luận và phương pháp nghiên cứu của địa lý học cho định hướng phát triển du lịch sinh thái có sự tham gia của cộng đồng địa phương;

Ý nghĩa thực tiễn: Hệ thống cơ sở dữ liệu, các kết quả nghiên cứu, bản đồ

chuyên đề của luận án sẽ là những tài liệu khoa học có giá trị đối với các nhà quản lý

khi đưa ra các định hướng quy hoạch phát triển du lịch theo hướng bền vững

8 Cấu trúc luận án

Ngoài Mở đầu, Kết luận và Phụ lục, luận án được cấu trúc theo 3 chương, trình bày trong 150 trang với 50 bảng biểu, 22 sơ đồ, biểu đồ, ảnh minh họa và các bản đồ chuyên đề

Chương 1 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Chương 2 Điều kiện địa lý và tài nguyên cho phát triển du lịch sinh thái dựa

vào cộng đồng huyện miền núi Mộc Châu, tỉnh Sơn La

Chương 3 Đánh giá tiềm năng, thực trạng và định hướng phát triển du lịch

sinh thái dựa vào cộng đồng huyện miền núi Mộc Châu, tỉnh Sơn La

Trang 18

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1.1 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN

1.1.1 Tổng quan các công trình nghiên cứu về Du lịch sinh thái, Du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng

1.1.1.1 Các nghiên cứu về cơ sở lý luận Du lịch sinh thái, Du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng

a) Trên thế giới

Du lịch sinh thái hình thành từ nửa cuối những năm 1970 đến giữa những năm

1980 của thế kỷ XX và được coi là một mô hình phát triển của Du lịch bền vững (DLBV) DLST được biết đến nhiều hơn từ Hội nghị thượng đỉnh về môi trường tổ chức tại Stockholm Thụy Điển (1972) nhưng phải đến năm 1983 thì thuật ngữ về DLST mới được đưa ra lần đầu tiên bởi Hector Ceballos - Lascurain (1983) - một nhà môi trường học và kiến trúc sư người Mehico [dẫn theo 6]

Vào khoảng thời gian trước và đầu những năm 90 của thế kỷ trước, những nghiên cứu về DLST hầu như có cùng quan điểm với Hector Ceballos-Lascurain, cho rằng đây

là hoạt động du lịch có liên quan đến thiên nhiên, bảo vệ môi trường: Taylor, Boo, E.(1990) [143], Kreg lindberg and Donald E Hawkins (1990) [131], và nền tảng chính của DLST là dựa vào những giá trị tự nhiên và văn hóa để phát triển Bucley RC (1991)

[124] Cũng trong khoảng thời gian này, Tổ chức du lịch sinh thái quốc tế (TIES, 1990)

được thành lập đã phổ biến rộng rãi tới các quốc gia thành viên về vai trò bảo vệ tài nguyên môi trường của DLST [dẫn theo 2] Đặc biệt, những nghiên cứu thực tiễn mà địa điểm là các VQG, KBT thiên nhiên cũng được thực hiện [dẫn theo 63] Việc lựa chọn

đối tượng nghiên cứu này một lần nữa khẳng định rằng DLST được nhắc đến với vai

trò ưu tiên là bảo tồn và phát triển bền vững

Cho tới những năm cuối thập niên 90 của thế kỷ trước, những nghiên cứu về DLST như Honey, M.(1999) [127], Simpson and Wall(1999) [140] đã mở rộng quan điểm về DLST không chỉ dựa vào thiên nhiên, mà mối quan hệ giữa con người với tự nhiên cũng như lợi ích của người dân địa phương cũng đã được đề cập Đặc biệt, việc đưa ra điều kiện hình thành, nguyên tắc và các bước để phát triển DLST đã được nêu rõ Những năm sau đó, nghiên cứu về DLST vẫn diễn ra mạnh mẽ và ngày càng khẳng định

Trang 19

cấp các dịch vụ DL có trách nhiệm và bền vững, mà đặc biệt là vị trí của cộng đồng ngày càng được khẳng định nhiều hơn DLST phát triển ở mức cao, đó là “Du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng” Nghiên cứu về vấn đề này được các học giả quan tâm dưới

những thuật ngữ khác nhau: Du lịch cộng đồng (DLCĐ) hay Du lịch dựa vào cộng đồng (DLDVCĐ)/ Du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng, Du lịch sinh thái cộng đồng

(DLSTCĐ) và hầu hết các nghiên cứu đều đồng nhất quan điểm về DLCĐ và DLDVCĐ (DL dựa vào cộng đồng) [119] Quan điểm về DLST dựa vào cộng đồng hay DLSTCĐ chủ yếu là nhấn mạnh yếu tố sinh thái trong hoạt động du lịch Cho đến nay, những

nghiên cứu về DLCĐ thường theo hai xu hướng: 1) Coi đây là một loại hình du lịch

[dẫn theo 70,135,140,148, ]; 2) Coi đây là phương thức tiếp cận bền vững [122,129,131,147 ]

Thứ nhất, coi DLSTDVCĐ hay DLSTCĐ là một loại hình du lịch Những nhà

nghiên cứu theo quan điểm này cho rằng: “Du lịch dựa vào cộng đồng là một loại hình

du lịch trong đó chủ yếu người dân địa phương đứng ra phát triển và quản lý hoạt động du lịch, lợi ích từ du lịch sẽ đóng góp một phần vào phát triển kinh tế địa phương

(Nicole Hausle và Wollfgang Strasdas (2000) [135] Quỹ bảo tồn thiên nhiên thế giới (WWF, 2001): DL Dựa vào cộng đồng hay Du lịch cộng đồng (DLCĐ) là loại hình

DL mà ở đó CĐĐP có sự kiểm soát và tham gia chủ yếu vào sự phát triển và quản lý các hoạt động DL, và phần lớn lợi nhuận thu được tự hoạt động DL được giữ lại cho cộng đồng [148] Như vậy, mặc dù coi đây là một loại hình du lịch nhưng những quan

điểm trên đã chỉ ra tầm quan trọng của người dân địa phương trong việc phát triển du lịch ngay trên địa bàn sinh sống của họ Đặc biệt, đa số những nghiên cứu theo hướng này tập trung vào việc đánh giá, tìm hiểu những điều kiện cần thiết của một địa phương để có thể phát triển loại hình du lịch này Địa phương không chỉ có tài nguyên

tự nhiên, tài nguyên nhân văn, mà điều kiện về cơ sở hạ tầng, về con người cũng rất quan trọng [140]

Thứ hai, coi DLSTDVCĐ hay DLSTCĐ là một phương thức tiếp cận bền vững,

một công cụ để bảo tồn tài nguyên du lịch [121,129,147] Với cách tiếp cận hoàn toàn khác, những nghiên cứu theo hướng này chủ yếu chỉ rõ vai trò của các bên liên quan trong hoạt động DLCĐ: CĐĐP, các tổ chức hỗ trợ phát triển, các nhà quản lý, Theo Kibicho, W 2008, cộng đồng chính là một trong những nhân tố có quyền quyết định các giải pháp phát triển, là chìa khóa PTBV [131] Trong đó, những lĩnh vực mà cộng đồng

Trang 20

giữ quyết định then chốt như kinh tế, chính trị thông qua việc lập kế hoạch thực hiện và quản lý hoạt động du lịch [121] Wheeller (1992) cho rằng DLCĐ sẽ mang lại đồng thời hai lợi ích: bảo tồn tự nhiên và phát triển cộng đồng [147] Không chỉ có vậy, DLSTDVCĐ còn có tác dụng làm tránh những xung đột giữa con người và môi trường, huy động tất cả nguồn lực của cộng đồng vào phát triển địa phương mà không làm tổn hại đến môi trường [129].Theo tổ chức Thương mại thế giới (2005), nhiều nước ở châu

Á và đặc biệt là những nước thuộc tiểu vùng sông Mê Kông: Thái Lan, Lào, Campuchia, đã xây dựng chương trình xóa đói giảm nghèo trong đó có các hoạt động liên quan đến DLSTDVCĐ Bên cạnh những ưu điểm mà loại hình DL này mang lại, đã

có những nghiên cứu đề cập đến mặt hạn chế của nó, đó là DLCĐ cũng sẽ làm mở rộng

sự khác biệt giữa những thành viên trong cộng đồng và điều này có thể dẫn đến những xung đột khác trong xã hội [138] Từ những nghiên cứu điểm cụ thể, một số nghiên cứu

đề xuất về bài học kinh nghiệm và phương pháp phát triển du lịch cộng đồng cũng được công bố [142,148]

b)Ở trong nước

Tại Việt Nam, DLST bắt đầu hình thành và phát triển từ năm 1990 với sự kiện

“Năm du lịch Việt Nam” được tổ chức Từ đó, nhiều thông tư, nghị định, văn bản liên quan đến quy hoạch và phát triển du lịch trong đó có DLST đã được Nhà nước ban hành Song song với đó, nghiên cứu về DLST được thực hiện và công bố ở cả phương diện lý thuyết và thực tiễn

Trên phương diện lý thuyết, vấn đề về khái niệm, mục tiêu, ý nghĩa, tiềm năng

cho phát triển DLST lần đầu tiên được đưa ra thảo luận tại Hội thảo về DLST với phát

triển Du lịch bền vững ở Việt Nam (1998) [116] Năm 1999, Tổng cục Du lịch phối hợp

với Tổ chức bảo tồn thiên nhiên thế giới (IUCN) và Ủy ban Kinh tế - xã hội Châu Á

Thái Bình Dương (ESCAP) tổ chức Hội thảo: “ Xây dựng chiến lược phát triển DLST ở

Việt Nam”, kết quả Hội thảo đã cho thấy tầm quan trọng của DLST trong PTBV kinh tế

xã hội, làm cơ sở cho phát triển DL Việt Nam cũng như đẩy mạnh hợp tác phát triển DLST giữa Việt Nam với quốc tế Từ đây, DLST được xác định như là một trong những

“đòn bẩy” để thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội ở Việt Nam Đặc biệt, sự ra đời của một

số chuyên khảo của các nhà khoa học Phạm Trung Lương(2002), Lê Huy Bá (2009), Nguyễn Đình Hòe (2005), Thế Đạt (2003) là những công trình có đóng góp quan trọng

về hệ thống cơ sở lý luận có liên quan đến DLST hiện nay ở Việt Nam [60,2,36,18]

Trang 21

Ở Việt Nam, “Du lịch dựa vào cộng đồng” được bàn luận đến từ đầu thập niên

90 của thế kỷ XX Ban đầu là những công trình của một số học giả Mark Grindley (1997) Jean Michaud (1998); Analisa Koeman, Michael Di Gregorio (1998) khi thực hiện nghiên cứu ở địa bàn huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai Các học giả này đề cập đến việc đánh giá nguồn lực về văn hóa, xã hội cho việc phát triển du lịch, cũng những tác động của du lịch tới đời sống cộng đồng, tới tài nguyên môi trường [dẫn theo 35] Để nhìn nhận lại những vấn đề trên một cách rõ ràng hơn, và đặc biệt là tìm ra phương cách để phát triển du lịch ở Sa Pa không làm tổn hại hay phá hủy các tài nguyên ở địa phương cũng như nâng cao chất lượng sống của người dân nơi đây, một nghiên cứu của tác giả Phạm Thị Mộng Hoa và Lâm Thị Mai Lan (2000) đã được thực hiện [35] Đây là một trong những nghiên cứu mới về phát triển DL bền vững dựa vào cộng đồng trong giai đoạn này, tuy nhiên nghiên cứu chỉ dừng lại ở một số nhóm người cụ thể chịu tác động của du lịch: người bán hàng dong, trẻ em lang thang, người kinh doanh du lịch và khách

du lịch nên vẫn còn một số hạn chế

Đến thế kỷ XXI vấn đề phát triển DLCĐ mới lần đầu tiên được đưa ra chính thức tại “Hội thảo chia sẻ bài học kinh nghiệm phát triển DLCĐ Việt Nam” (2003) [85] Trong thời gian gần đây, DLCĐ đã nhận được sự được quan tâm nghiên cứu nhiều và chuyên sâu hơn của một số nhà khoa học Phạm Hoàng Hải cùng cộng sự (2013) [29], Phạm Trung Lương,Hoàng Hoa Quân, Nguyễn Ngọc Khánh, [60], Võ Quế (2006) [70], Nguyễn Thị Hải (2004) [23], Trần Đức Thanh, chủ biên (2014) [86], Bùi Thị Hải Yến (2008) [119]… Từ các nghiên cứu này, người đọc có thể nhận ra rằng: 1) Hai tên gọi “Du lịch dựa vào cộng đồng” hay “Du lịch cộng đồng” mặc dù hình thức khác nhau nhưng đều có sự tương đồng trong ngữ nghĩa: Nói đến hoạt động phát triển du lịch có sự tham gia của cộng đồng địa phương; 2) Các khái niệm đều chú ý đến vai trò cung cấp dịch vụ du lịch và việc hưởng lợi từ hoạt động đó của cộng đồng địa phương; quyền lợi

và trách nhiệm của khách du lịch ít được nhắc tới Theo đó, DLCĐ là phương thức phát triển DL bền vững mà ở đó CĐĐP có sự tham gia trực tiếp và chủ yếu trong các giai đoạn phát triển và mọi hoạt động DL Cộng đồng nhận được sự hợp tác, hỗ trợ của các

tổ chức, cá nhân trong nước và quốc tế; của chính quyền địa phương cũng như chính phủ và nhận được phần lớn lợi nhuận thu được từ hoạt động DL nhằm phát triển CĐ, bảo tồn, khai thác tài nguyên môi trường DL bền vững, đáp ứng các nhu cầu DL phong

Trang 22

phú, có chất lượng cao và hợp lý của du khách [120] Tác giả Trần Đức Thanh cùng các cộng sự đã nêu rất rõ về hai khái niệm Du lịch cộng đồng và Du lịch dựa vào cộng đồng

Theo nhóm các nhà nghiên cứu này, đây là “Khái niệm hai trong một” [86] và là hai giai

đoạn của một quá trình, mục đích chung vẫn là thúc đẩy cộng đồng tham gia vào hoạt động DL, kinh tế địa phương phát triển cũng như chuyển dịch cơ cấu kinh tế địa phương theo hướng du lịch dịch vụ

Nhiều nghiên cứu đồng nhất quan điểm DLCĐ và DLDVCĐ, coi đây là hoạt động DL có sự tham gia của CĐĐP vào tất cả các hoạt động du lịch, trong đó có cả kinh doanh dịch vụ du lịch [70,71] Đồng thời, chúng ta cũng thấy rằng, mặc dù sử dụng các thuật ngữ khác nhau DLCĐ, DLDVCĐ [60,70], DLSTDVCĐ [24,28,86] nhưng về cơ bản tất cả các khái niệm trên đều được hiểu là “du lịch dựa vào cộng đồng” nhưng nhấn mạnh vai trò của các hệ sinh thái (sinh thái tự nhiên và sinh thái nhân văn) như là nhân

tố chính tạo nên tài nguyên của loại hình DL này

Không chỉ dừng lại trong việc tiềm hiểu các khái niệm liên quan đến DLCĐ, việc đưa ra các phương thức nhằm đánh giá sự tham gia của cộng đồng cũng đã được đề xuất trong một số nghiên cứu: Cevat Tosun (1999) đề xuất 3 thang đo: Tham gia cưỡng chế, tham gia thụ động, và cao nhất là tham gia tự nguyện; Pretty (1994), Satterthwaite (1995) lại lựa chọn 7 mức độ: Tham gia thụ động, tham gia cung cấp thông tin, tham gia

tư vấn, tham gia khuyến khích vật chất, tham gia chức năng, tham gia tương tác, tham gia tự giác [dẫn theo 6] Một số học giả trong nước lại tìm hiểu năng lực cộng đồng thông qua việc đánh giá nhận thức, thái độ, hành vi của họ trong việc cung cấp dịch vụ

du lịch Như vậy, có thể có nhiều cách khác nhau để xác định được mức độ tham gia của

cộng đồng, tuy nhiên, tùy vào từng mục đích nghiên cứu để sử dụng kết hợp nhiều các thang đo cho phù hợp

1.1.1.2 Các nghiên cứu về phương pháp đánh giá tài nguyên cho phát triển du lịch sinh thái

Không chỉ bàn luận về khái niệm DLCĐ, các điều kiện để phát triển, phương pháp đánh giá và những bài học thực tiễn trong và ngoài nước khi phát triển loại hình du lịch này cũng được các tác giả trên đưa ra khá rõ ràng Các phương pháp đánh giá tài nguyên cho phát triển du lịch được thực hiện trong thời gian gần đây: Bùi Thị Hải Yến (2008), Phạm Trung Lương & cộng sự (2000) Theo đó, các nghiên cứu này đã tổng kết

Trang 23

lại các nghiên cứu trước đó với 4 kiểu đánh giá tài nguyên cho phát triển du lịch cộng đồng (kiểu tâm lý thẩm mỹ, kiểu sinh khí hậu, kiểu đánh giá kỹ thuật, kiểu đánh giá kinh tế) [59,119] Năm 2014, nghiên cứu của Trần Đức Thanh (chủ biên, 2014) là một trong những đóng góp cụ thể trong việc phát triển cả về lý luận cũng như thực tiễn cho phát triển DLSTCĐ, giúp cải thiện các điều kiện sống cho người dân sống ở vùng đệm các VQG trong đó cụ thể là vườn quốc gia Cúc Phương [86] Mặc dù không đưa ra tiêu chí đánh giá cho hoạt động DL này, nghiên cứu đã cho thấy một cái nhìn cụ thể về những lĩnh vực dịch vụ mà người dân địa phương có thể tham gia đồng thời họ được hưởng lợi với việc phát triển DLSTCĐ ở một khu vực VQG

Từ thực tiễn nghiên cứu tại các địa phương, Quỹ Phát triển Châu Á kết hợp với

Viện nghiên cứu phát triển ngành nghề nông thôn (2012) “Tài liệu hướng dẫn phát triển

du lịch cộng đồng” rút ra những bài học kinh nghiệm xây dựng mô hình DLCĐ cho các

làng nghề thủ công truyền thống ở Bắc Ninh, từ đó chia sẻ các kinh nghiệm xây dựng

mô hình du lịch cộng đồng nâng cao đời sống người dân ở những vùng miền khác nhau trên cả nước [72] Đặc biệt, SNV (Tổ chức phát triển Hà Lan) đã phối hợp với Tổng cục

Du lịch và đối tác nghiên cứu thực hiện một số mô hình xóa đói giảm nghèo thông qua

mô hình du lịch tại các địa phương: Sa Pa (Lào Cai), Lăng Cô (Thừa Thiên Huế), Vĩnh

Hy (Ninh Thuận), Hà Tây (Hà Nội) [46] Kết quả của những nghiên cứu này đã đóng góp nhiều về cơ sở lý luận và thực thiễn để phát triển loại hình DLCĐ

Trong những năm gần đây, nhiều địa phương đã áp dụng triển khai loại hình DLST hay DLCĐ và mang lại nguồn thu đáng kể cho người dân, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống cho cộng đồng Một số địa phương đi đầu trong việc phát triển loại hình DL này như: Mai Châu, Sa Pa, Quảng Bình, Huế, vùng đồng bằng sông Cửu Long Đặc biệt, VQG Cúc Phương phát triển mô hình DLST tổ chức theo chuyên đề với các tuyến du lịch: Tuyến khám phá bí ẩn thiên nhiên Cúc Phương; Tuyến tìm hiểu các giá trị khảo cổ Cúc Phương; Tuyến tìm hiểu văn hóa Cúc Phương; Tuyến tìm hiểu thiên nhiên, văn hóa Cúc Phương [153] Hay, Vườn Quốc gia Bạch Mã lại có nguồn tài nguyên địa hình đa dạng hơn, phát triển DLST theo hướng mô hình đường mòn diễn giải với nhiều tuyến du lịch tới các điểm tham quan trong VQG: Đường mòn thác Đỗ Quyên; đường mòn thác Ngũ Hồ; Đường mòn đỉnh Bạch Mã [154] Đặc biệt, Bản Lác (Mai Châu, Hòa Bình) với những nét độc đáo về các món ăn đặc sản, lối sống, các lễ hội

Trang 24

văn hóa, địa phương này đã tạo được nguồn thu nhập đáng kể cho người dân với việc phát triển mô hình DLSTCĐ

Như vậy, nghiên cứu về DLST ở Việt Nam ban đầu còn được coi là một lĩnh vực khá mới, theo thời gian, những nghiên cứu về DLST đã có nhiều công trình nghiên cứu với các cách tiếp cận khác nhau, mỗi cách tiếp cận, mỗi hướng nghiên cứu đều có điểm yếu điểm mạnh cần phát triển Cùng với đó, nhiều mô hình DLST ở địa phương đã được xây dựng và bước đầu đã cho thấy sự thành công, góp phần phát triển kinh tế xã hội ở địa phương

1.1.2 Tổng quan các công trình nghiên cứu về cơ sở địa lý cho phát triển du lịch

1.1.2.1 Trên thế giới

Hoạt động DL được biết đến từ rất sớm trong lịch sử, chính vì vậy nghiên cứu về

nó đã được thực hiện ở nhiều lĩnh vực Trong địa lý học, nghiên cứu địa lý du lịch được hình thành từ trước những năm 40 của thế kỷ XX và cho đến nay nó đã phát triển ở nhiều giai đoạn khác nhau

Giai đoạn ban đầu được đặc trưng bởi quá trình nghiên cứu các luồng địa lý du lịch với các công trình của khoa Du lịch thuộc đại học Tổng hợp Leningrad, Liên Xô cũ Giai đoạn thứ hai được hình thành vào đầu những năm 1960, khi lượng khách du lịch tăng cao, gây áp lực lên tài nguyên và môi trường, đặt ra vấn đề cần phải nghiên cứu đánh giá các điều kiện tài nguyên, tổ chức lãnh thổ (TCLT) cho hoạt động DLBV Cùng với đó, nhiều nghiên cứu lý thuyết cũng như ứng dụng có liên quan đến vấn đề này được thực hiện, tiêu biểu là những công trình của các nhà khoa học thuộc Đại học Lomonôxôp Liên Xô: Iu.A.Vedenhin và N.N.Mirosnhitrencô, 1981, Mukhina, 1973 ) [dẫn theo51] Đối tượng nghiên cứu trong các công trình này chính là địa chất, địa hình, khí hậu, thực vật cho hoạt động du lịch

Tại Châu Á, các nhà địa lý cũng đã nghiên cứu theo hướng này từ những năm 70 của thế kỷ XX Tiên phong là các nước như Nhật Bản, Ấn Độ, Trung Quốc,…với hoạt động chính là kiểm kê các loại tài nguyên cho mục đích DL, nghiên cứu các điều kiện tự nhiên của một lãnh thổ đối với phát triển DL [dẫn theo 74] Đặc biệt, việc nghiên cứu xây dựng các chỉ tiêu để đánh giá sự phù hợp của các yếu tố tự nhiên đối với hoạt động

DL của con người cũng được thực hiện

Trang 25

Song song với việc lựa chọn đánh giá theo các tiêu chí đối với mỗi hợp phần tự nhiên cho phát triển du lịch thì việc nghiên cứu TCLT cho phát triển du lịch (PTDL) cũng được nhiều nhà địa lý quan tâm và được thực hiện ở nhiều nơi, nhưng nổi bật nhất vẫn là ở Liên Xô, Hoa Kỳ, và cả các nước phương Tây Điển hình các nghiên cứu trong lĩnh vực này là những công trình của các tác giả: V.B Nêphêđơva, L.G.Suitchenco; B.N Likhanop, 1973 (Liên Xô cũ); Kostrowicki, 1970; Warszyncka, 1973 (Ba Lan); Đavis, 1971 (Hoa Kỳ); Wolfe, 1966 (Canada),…[dẫn theo 61]

Cho đến những năm 1990, khi quan điểm phát triển bền vững được đề cập thì các nghiên cứu về TCLT du lịch tập trung nhiều đến nghiên cứu về định mức và tiêu chuẩn phù hợp với sức chứa của tài nguyên trongvùng hoạt động du lịch (C.A Gunn, 1994; Bucley RC, 1991…) [124,126] Cũng theo những nghiên cứu này, bên cạnh những mục tiêu mà tổ chức lãnh thổ cần hướng tới đó là đạt được hiệu quả về mặt kinh doanh, bảo

vệ tài nguyên du lịch thì mục đích mang lại lợi ích cho cộng đồng cũng đã được đặt ra Trong giai đoạn này, không chỉ ở Liên Xô, các nhà khoa học phương Tây vừa kế thừa những nghiên cứu đi trước đồng thời mở rộng nghiên cứu cả về lý luận và thực tiễn cho

về đánh giá các điều kiện địa lý cho PTDL (G.Georgiev,1980, K.Tiskov,1984; N.Popova, 1993;…); Cùng với đó, không chỉ các tiêu chí về điều kiện tự nhiên được lựa chọn để đánh giá, một số yếu tố về cơ sở hạ tầng (CSHT), khả năng tiếp cận dịch vụ, chất lượng môi trường,… cũng được lựa chọn (ESCAP, 1995; B.Rosemary,1998) [dẫn theo 61]

Đến giai đoạn thứ ba, các nghiên cứu vẫn tập trung theo hướng đánh giá điều kiện địa lý cho PTDL, tuy nhiên quy mô đánh giá và TCLT cũng đa dạng từ cấp địa phương cho đến cấp quốc gia (Nguyen Cao Huan and Lee, 1997, CM Hall, 2008) [134,128] Đồng thời, sự phát triển về phương pháp nghiên cứu gắn với công nghệ thông tin máy tính đã thúc đẩy các nghiên cứu từ mô tả định tính chuyển sang phân tích định lượng và mô hình hóa Một đóng góp lớn của các nghiên cứu trong giai đoạn này là khả năng tiếp cận các dữ liệu và thông tin không gian nhờ công nghệ viễn thám Từ việc đưa

ra các tiêu chí đánh giá, tích hợp GIS, đã cho kết quả khả quan trong việc tổ chức lãnh thổ dành cho hoạt động DL

Như vậy, nghiên cứu về các điều kiện địa lý phục vụ cho DL đã được hình thành khá sớm trên thế giới với ba giai đoạn chính, giai đoạn nghiên cứu luồng địa lý du lịch,

Trang 26

đánh giá tài nguyên và tổ chức lãnh thổ du lịch, tổ chức lãnh thổ hướng tới phát triển bền vững cho cộng đồng Trong quá trình phát triển đó, hệ phương pháp nghiên cứu cũng đã được mở rộng từ mô tả định tính sang phân tích định lượng với sự trợ giúp của GIS Và mục đích cuối cùng của quá trình phát triển này chính là hướng tới khai thác sử dụng hiệu quả các nguồn tài nguyên du lịch (TNDL) nhưng vẫn phải đảm bảo mục tiêu PTBV

1.1.2.2 Ở Việt Nam

Ở Việt Nam, do nhu cầu phát triển của DL, hướng nghiên cứu địa lý ứng dụng được nhiều nhà khoa học quan tâm, đặc biệt là đánh lãnh thổ cho hoạt động DL Một số

nội dung chính theo hướng này đó là:

a) Các nghiên cứu về đánh giá điều kiện tài nguyên cho phát triển du lịch:

Theo hướng này, các nghiên cứu chủ yếu là đánh giá khái quát các tiềm năng tự nhiên và nhân văn, đánh giá tổng hợp điều kiện địa lý phục vụ quy hoạch, TCLT và phân vùng du lịch trên phạm vi cả nước: Vũ Tuấn Cảnh (1990) [10], Nguyễn Trần Cầu (1994) [11], Nguyễn Minh Tuệ & nnk (1997) [109], Nguyễn Ngọc Khánh (1999) [49] Quá trình đánh giá được thực hiện song song với thành lập bản đồ chuyên đề có liên quan ở tỷ lệ nhỏ Những nghiên cứu này mang tính khái quát cao, và chưa xây dựng các chỉ tiêu đánh giá cho điểm cụ thể cho một loại hình DL nào

Các nghiên cứu đánh giá tổng hợp các điều kiện tự nhiên (ở tỷ lệ lớn) cho mục đích PTDL như: Phạm Quang Anh (1996) [1]; Nguyễn An Thịnh (2007) [92], Phạm Quang Tuấn (2008) [106], Trương Quang Hải (2011) [32]; Trương Quang Hải, Nguyễn Cao Huần, Đặng Văn Bào (2006) [30], Trần Đức Thanh (2005) [84]; Đào Ngọc Cảnh (2003) [9] Về cơ bản, các nghiên cứu này đều thực hiện theo các bước: lựa chọn tiêu chí đánh giá, xác định điểm đánh giá và phân bậc mức độ thuận lợi cho phát triển du lịch Trong đó, một số tiêu chí thường hay được lựa chọn: Bộ tiêu chí về tiềm năng nội lực (giá trị thẩm mĩ, giá trị giải trí, giá trị văn hóa lịch sử, giá trị khoa học, đa dạng sinh học ) và ngoại lực (khả năng liên kết, khả năng tiếp cận, chất lượng cơ sở lưu trú ) [33] Tác giả Trần Đức Thanh trong đánh giá tiềm năng cho du lịch tỉnh Thanh Hóa đã lựa chọn 3 tiếu chí: Độ hấp dẫn của tài nguyên, diện tích tài nguyên phục vụ cho hoạt động du lịch, khả năng khai thác du lịch [84] Tác giả Đào Ngọc Cảnh sử dụng 7 tiêu chí

để đánh giá tổng hợp tài nguyên du lịch tỉnh Kiên Giang: Độ hấp dẫn khách du lịch, thời gian khai thác vào hoạt động du lịch, sức chứa khách du lịch, vị trí và khả năng tiếp cận,

Trang 27

cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất - kỹ thuật, độ bền vững (mức độ phá hủy) trước các hoạt động du lịch, khả năng khai thác vào du lịch [9]; Nhìn chung, các nghiên cứu đa số đều chọn từ 5 - 7 tiêu chí để đánh giá và phân cấp chúng tùy theo mục đích đánh giá Bên cạnh xác định tiêu chí đánh giá, việc lựa chọn hệ số cho các tiêu chí là rất quan trọng, các tác giả hầu hết xác định hệ số 3, 2, 1 cho các tiêu chí theo ý kiến của người nghiên cứu trên cơ sở kế thừa các công trình đã có Đặc biệt, trong thời gian gần đây sử dụng thuật toán ma trận tam giác [51] hay sử dụng GIS và phương pháp phân tích thứ bậc (AHP) trong xác định hệ số cho các tiêu chí được coi là có ưu thế và được lựa chọn phổ biến hơn [26,33]

Có thể nói, với hướng đánh giá mức độ thuận lợi các tổng thể tự nhiên cho PTDL, các tác giả đã căn cứ số điểm đánh giá của khu vực so với điểm tối đa để kết luận mức độ thuận lợi của từng khu vực cho mục đích đề ra Đây là hướng tiếp cận phổ biến trong đánh giá tiềm năng phát triển du lịch hiện nay theo hướng địa lý học Tuy nhiên, hầu hết các nghiên cứu đã thực hiện mới chỉ dừng lại ở việc đánh giá cho mục đích du lịch nói chung, chưa đi vào đánh giá cho một loại hình du lịch cụ thể

Bên cạnh hướng đánh giá tổng hợp các điều kiện tự nhiên, nhân văn cho phát triển du lịch, chỉ ra vùng, lãnh thổ thuận lợi nhất cho hoạt động du lịch, thì việc đánh giá

và xây dựng bộ tiêu chí xác định tuyến, điểm du lịch cũng thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu: Trương Quang Hải (2015) [33], Đặng Duy Lợi & nnk (2013) [57], Nguyễn Minh Tuệ (1992) [107] Ngoài hướng nghiên cứu về đánh giá tổng hợp thể, chỉ ra vùng trọng điểm, tổ chức lãnh thổ cho hoạt động DL, cũng như hoạch định tuyến, điểm DL, việc đánh giá sức chứa trong DL đặc biệt với sự hỗ trợ của GIS cũng được quan tâm nghiên cứu: Nguyễn Thị Hải, Hoàng Hồng Huệ, Nguyễn Thúy Phương, Nguyễn Hồng Nhung, Nguyễn Anh Quân (2004); Đào Ngọc Cảnh (2003) [9,24]

b) Các nghiên cứu về Du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng:

Trong bối cảnh phát triển toàn cầu, những nghiên cứu về địa lý du lịch không thể không nhắc đến vai trò của cộng đồng địa phương (CĐĐP) trong phát triển Tác giả Nguyễn Thị Hải (2007) [25] đã thực hiện nghiên cứu khá công phu về lĩnh vực này, bằng việc đánh giá hiện trạng phát triển du lịch ở một vườn quốc gia như Hoàng Liên Sơn theo các nguyên tắc của DLST, đánh giá mối quan hệ giữa du lịch với CĐĐP, những tác động tích cực và tiêu cực của hoạt động DL với cộng đồng, nhóm nghiên cứu

Trang 28

đã đưa ra cái nhìn hoàn toàn mới về vai trò của cộng đồng trong phát triển du lịch Đồng thời nghiên cứu này cũng đưa ra giải pháp phát triển DLSTDVCĐ nhằm hài hòa giữa phát triển kinh tế xã hội với bảo tồn và phát triển DLBV Đây được coi là bước đột phá trong nghiên cứu về DLST với địa lý học ứng dụng hiện nay Tuy nhiên nghiên cứu này vẫn chỉ bó hẹp ở khu vực một VQG, hướng nghiên cứu này có ý nghĩa to lớn hơn nếu

nó được thực hiện tại nhiều địa phương với các cộng đồng dân tộc đa dạng về bản sắc văn hóa Những năm gần đây, có một số nhà khoa học trẻ đã thực hiện đề tài luận án tiến sỹ theo hướng nghiên cứu phát triển du lịch sinh thái theo các vùng địa lý tự nhiên: Nghiên cứu du lịch Vĩnh Phúc (Lương Chi Lan, 2016), nghiên cứu du lịch ven biển và các đảo tỉnh Quảng Ninh (Nguyễn Lan Anh, 2014), nghiên cứu du lịch Quảng Ninh, Hải Phòng (Nguyễn Đăng Tiến, 2016), nghiên cứu du lịch Thái Nguyên (Vũ Thị Hạnh, 2012), nghiên cứu tổ chức lãnh thổ du lịch Tây Nguyên dựa vào phân vùng cảnh quan (Nguyễn Thu Nhung, 2017)…

Không chỉ có các nhà khoa học nghiên cứu về du lịch sinh thái mà cả các nhà quản lý cũng đặc biệt quan tâm và đã tạo hành lang pháp lý cho lĩnh vực này phát triển: Ngày 14/06/2005, tại kỳ hợp thứ VII khóa XI của Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam

đã thông qua Luật du lịch, trong đó có quy định rõ các vấn đề liên quan đến PTDL và phát triển du lịch bền vững, gồm cả DLST ở Việt Nam; Luật này được chỉnh sửa bổ sung trong Luật du lịch 2017 số 092017/QH14 được ban hành ngày 19/06/2017, có hiệu lực từ ngày 01/01/2018 [73]

1.1.3 Tổng quan các công trình nghiên cứu về Mộc Châu

Mộc Châu - một địa danh ở miền Tây Bắc, có lịch sử gắn liền với tiến trình phát triển của Việt Nam Từ xa xưa, Mộc Châu đã được nhắc đến trong hầu hết các sách sử

chính thức của các triều đại phong kiến Việt Nam: Đại Việt sử ký toàn thư (Ngô Sĩ Liên), Dư địa chí (Nguyễn Trãi) Đặc biệt, cuốn sách mô tả đầy đủ nhất về vùng đất và con người nơi đây phải kể đến là Hưng Hóa phong thổ lục của Hoàng Bình Chính và

Hưng Hóa ký lược của Phạm Thận Duật [dẫn theo 88] Theo thời gian, đã có rất nhiều

công trình nghiên cứu về đặc trưng văn hóa tộc người trên vùng đất này [39,75,101, ]

Du lịch bắt đầu phát triển ở Mộc Châu từ những năm 2000, cùng với đó đã có những

công trình nghiên cứu liên quan đến du lịch Sơn La nói chung và Mộc Châu nói riêng: Quy

hoạch phát triển khu du lịch Mộc Châu (Viện Nghiên cứu phát triển du lịch, Sở Kế hoạch

Trang 29

và đầu tư tỉnh Sơn La, 1997) [3]; Đề án phát triển Mộc Châu thành khu du lịch quốc gia

(Sở thương mại - Du lịch tỉnh Sơn La, 2007) Để góp phần thúc đẩy hoạt động DL của tỉnh

phát triển, đến năm 2007, Sở Văn hóa - Thể thao và Du lịch tỉnh Sơn La có “Quy hoạch

tổng thể phát triển du lịch tỉnh Sơn La giai đoạn 2007 - 2015 và định hướng đến năm 2020”, trong đó nhiều địa phương trên địa bàn của tỉnh được quy hoạch để phát triển

DLCĐ Định hướng đến năm 2020, tỉnh Sơn La sẽ có 25 bản du lịch cộng đồng

Năm 2010, tác giả Đỗ Thị Mùi đã thực hiện luận án Tiến sỹ “Tổ chức lãnh thổ du

lịch Sơn La” [61] dưới góc độ Địa lý học, tác giả đã đưa ra cái nhìn tổng quát về các

điều kiện tự nhiên, nhân văn cho phát triển du lịch ở tỉnh Sơn La Đánh giá khả năng phát triển của các tuyến điểm du lịch trong khu vực nghiên cứu Tuy nhiên, tác giả lại chưa đánh giá được hiệu quả của việc phát triển các loại hình du lịch ở Sơn La nói chung và ở Mộc Châu nói riêng Dưới góc độ văn hóa, cũng đã có một số nghiên cứu nhằm bảo tồn các giá trị văn hóa của Sơn La cũng như Mộc Châu để phục vụ cho phát

triển du lịch: Nghiên cứu, sưu tầm di sản văn hóa các dân tộc phục vụ phát triển du lịch

huyện Mộc Châu (Đề tài cấp tỉnh, 2009); “Nghiên cứu tiềm năng du lịch sinh thái và nhân văn huyện Quỳnh Nhai” (Đề tài cấp tỉnh, 2013) [77,78] Bên cạnh những công

trình nghiên cứu của các nhà khoa học có giá trị về DL và DLCĐ tại tỉnh Sơn La, năm

2007, Tổ chức phát triển Hà Lan (SNV) đã phối hợp với Sở Văn hóa - Thể thao và Du lịch Sơn La tổ chức khảo sát nhiều địa điểm tiềm năng trên toàn tỉnh để xây dựng mô hình DLCĐ như Ngọc Chiến (Mường La), bản Bó, bản Cá, bản Mòng (Thành phố Sơn La), Hồng Ngài (Bắc Yên), Mường Do (Phù Yên),

Với những công trình nghiên cứu có liên quan trên địa bàn tỉnh Sơn La cũng như huyện Mộc Châu, phần lớn đã làm rõ về tiềm năng phát triển DL, tổ chức lãnh thổ hợp

lý để PTDL, xây dựng mô hình bản DLSTCĐ Tuy nhiên, việc xem xét đánh giá mức

độ tham gia của cộng đồng địa phương vào DL ở Sơn La đặc biệt là ở Mộc Châu là chưa

được để cập rõ nét Vì thế việc nghiên cứu “Cơ sở khoa học cho phát triển du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng huyện miền núi Mộc Châu, tỉnh Sơn La” có ý nghĩa vô

cùng quan trọng

* Từ việc tổng quan các nghiên cứu có liên quan đến luận án, có thể rút ra một vài nhận xét sau:

Trang 30

1 Du lịch sinh thái, hay DLST vào cộng đồng đều hướng tới du lịch bền vững, bảo tồn được tài nguyên, nâng cao vai trò và nguồn thu nhập của cộng đồng từ du lịch tại chính địa phương Điều này lại rất gắn với từng khu vực địa lý riêng biệt và sẽ có nhiều ứng dụng đối với các vùng có nguồn tài nguyên du lịch phong phú, cộng đồng còn

có mức sống thấp nhưng có khát vọng cải thiện cuộc sống

2 Nghiên cứu phát triển DL được thực hiện theo các cách tiếp cận khoa học khác nhau, trong đó có tiếp cận địa lý Theo cách tiếp cận này, các nghiên cứu chủ yếu dựa vào phân vùng địa lý tự nhiên

3 Những công trình theo hướng đánh giá trong địa lý có thể thấy: a) Các tác giả tập trung theo hai hướng: Một là đánh giá tổng hợp các điều kiện tự nhiên, tài nguyên và chỉ ra khu vực thuận lợi cho phát triển DL; hai là đánh giá điều kiện tài nguyên xác định tuyến, điểm DL; b) Các công trình nghiên cứu đều có xu hướng đánh giá từng thành phần cho đến đánh giá tổng hợp, đánh giá các đối tượng ở cấp lớn (tỷ lệ nhỏ) đến các đối tượng ở cấp nhỏ (tỷ lệ lớn) Tuy nhiên, các nghiên cứu đều đưa ra chỉ tiêu đánh giá một cách tổng quát cho phát triển DL, chưa có nhiều công trình đi sâu đánh giá cho một hoạt động DL cụ thể nào; c) Bên cạnh nghiên cứu định lượng, trong thời gian gần đây, các nghiên cứu có xu hướng kết hợp định lượng và định tính, nhìn nhận vai trò của cộng đồng trong phát triển DL; d) Chưa có nhiều nghiên cứu sử dụng đánh giá tài nguyên cho hoạt động DLST dựa vào cộng đồng theo hướng tiếp cận địa lý học

4 Dựa vào phân tích các công trình nghiên cứu đã nêu khi nghiên cứu DLST dựa vào cộng đồng ở khu vực miền núi như Mộc Châu cần phải kế thừa và tìm ra những nét khác biệt trong tiếp cận khoa học và nội dung nghiên cứu

1.2 CƠ SỞ LÝ LUẬN NGHIÊN CỨU DU LỊCH SINH THÁI DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG ÁP DỤNG CHO HUYỆN MỘC CHÂU

1.2.1 Một số khái niệm cơ bản

* Du lịch sinh thái: Từ những phân tích các nghiên cứu trong và ngoài nước cũng

như thực tiễn tại Việt Nam có thể đưa ra một số điểm về nội hàm của Du lịch sinh thái:

- Du lịch sinh thái “là du lịch đến những khu vực tự nhiên ít bị thay đổi với những

mục tiêu đặc biệt: Nghiên cứu, trân trọng và hưởng ngoạn phong cảnh và giới thực động vật hoang dã, cũng như những biểu thị văn hóa (cả quá khứ, hiện tại) được khám phá trong những khu vực này” [6]

Trang 31

- “Du lịch sinh thái là DL có trách nhiệm tới những vùng tự nhiên, có vai trò bảo

tồn môi trường và cải thiện mức sống cho người dân địa phương, đồng thời có hoạt động giáo dục diễn giải môi trường” [86]

Với các ý đã nêu, khái niệm DLST được khái quát hóa trong Luật Du lịch Việt

Nam 2017: “Du lịch sinh thái là loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên, gắn với bản sắc

văn hóa địa phương, có sự tham gia của cộng đồng dân cư, kết hợp giáo dục và bảo vệ môi trường” [73] Theo đó, NCS chọn khái niệm này làm cơ bản áp dụng trong những

nghiên cứu của mình

* Cộng đồng: Cộng đồng theo quan niệm Marxist là: “Mối liên hệ qua lại giữa các

cá nhân, được quyết định bởi các lợi ích chung của các thành viên có sự giống nhau về điều kiện tồn tại và hoạt động của những con người hợp thành cộng đồng đó, bao gồm các hoạt động sản xuất vật chất và các hoạt động khác của họ…” [dẫn theo 65] Tất cả các hình thức tự tổ chức mà chúng ta đã biết của con người đều là các kiểu cộng đồng, chỉ khác nhau ở phạm vi không gian - thời gian và nội dung các lợi ích chung Đó là các tổ chức gia đình, cộng đồng dân cư, các cộng đồng được xếp theo thứ hạng xã hội, theo nghề nghiệp, tộc người, theo lãnh thổ quốc gia và cuối cùng loài người nói chung Cộng đồng (Community) là một tập thể gồm những thành viên gắn với nhau bằng những giá trị chung Cộng đồng có sự cố kết nội tại không phải do những quy tắc rõ ràng, những luật pháp thành văn mà do những mối quan hệ truyền thống, huyết thống [115]

Ở Việt Nam, danh từ cộng đồng được sử dụng cho các đơn vị xã hội cơ bản là gia đình, làng - xã, hay một nhóm xã hội nào đó có những đặc tính xã hội chung về tâm thức

và lý tưởng xã hội hay về lứa tuổi, giới, hoặc nghề nghiệp Chính vì vậy, khái niệm cộng đồng được hiểu dưới nhiều chiều kích khác nhau và phổ biến là làng - xã, thôn, bản, buôn,

ấp, huyện, Khi nghiên cứu về cộng đồng là: “Nghiên cứu các đặc trưng văn hóa biểu thị qua các mặt: Tôn giáo - tín ngưỡng, phong tục tập quán, cách giao tiếp ứng xử, khả năng chinh phục thiên nhiên, khả năng sáng tạo nghệ thuật, tính cách tâm lý của cư dân trong cộng đồng” [40]

Trong khuôn khổ luận án này, NCS quan niệm: Cộng đồng là những nhóm người

định cư trên một lãnh thổ nhất định (bản, làng, xã, huyện ), giống nhau về điều kiện tồn tại, và hoạt động sản xuất vật chất, có sự gần gũi về tư tưởng, văn hóa, nền sản xuất,có sự quan tâm chia sẻ về quyền lợi và trách nhiệm trong cộng đồng đó

Trang 32

Chính từ những khái niệm này, nghiên cứu du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng theo tiếp cận địa lý là việc phân chia lãnh thổ thành các vùng, tiểu vùng địa lý nhất định trong sự đồng nhất về điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên của mỗi vùng hoặc tiểu vùng với các nhóm cư dân định cư trên đó; Các cộng đồng sinh sống trên đó có các phương thức khai thác, sử dụng tài nguyên theo cách riêng phù hợp với điều kiện địa phương, hình thành nét văn hóa đặc trưng trong quá trình phát triển cũng như phục vụ hoạt động du lịch

* Du lịch dựa vào cộng đồng/ du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng

Du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng được hiểu là một dạng DLST trong điều kiện cộng đồng địa phương có thực quyền tham gia vào quá trình phát triển và quản lý DLST, phần lớn lợi ích của hoạt động này thuộc về họ [25] DLST dựa vào cộng đồng không những là một bậc cao hơn của DLST, mà còn là sự phát triển theo hướng bền vững về mặt sinh thái (sinh thái tự nhiên và sinh thái nhân văn) của hoạt động DL Du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng cũng là DLDVCĐ nhưng tập trung vào những khu vực có sức hút về mặt tự nhiên, đóng góp vào bảo vệ môi trường và tăng thêm thu nhập cho người dân địa phương Như vậy, DLST dựa vào cộng đồng chính là nét “tinh túy” của du lịch sinh thái

Một cách tổng quát, trong nghiên cứu này có thể xem “Du lịch sinh thái dựa vào

cộng đồng là một dạng của DLST mà hoạt động du lịch dựa trên các nguồn tài nguyên sinh thái tự nhiên và sinh thái nhân văn sẵn có, trong đó cộng đồng địa phương có thể đang, sẽ tham gia và họ được hưởng lợi từ hoạt động DL đó mang lại Sự sẵn sàng tham gia của cộng đồng địa phương được thể hiện ở các mặt: 1) Nhận thức của cộng đồng về

du lịch; 2) Hình thức tham gia vào du lịch của cộng đồng; 3) Ý thức bảo tồn của cộng đồng địa phương”

1.2.2 Nguyên tắc phát triển du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng

Các nguyên tắc phát triển DLST dựa vào cộng đồng huyện Mộc Châu về cơ bản

là dựa trên những nguyên tắc phát triển của du lịch sinh thái, bao gồm: - Bảo vệ môi

trường và duy trì HST, duy trì nguồn tài nguyên [60]: Nếu DLSTDVCĐ là một hình

thức phát triển kinh tế thì sẽ tiềm ẩn những ảnh hưởng tiêu cực đối với môi trường Điều này sẽ làm ảnh hưởng tới chất lượng của hoạt động du lịch cũng như nguồn tài nguyên phục vụ du lịch Theo đó, mọi hoạt động của DLSTDVCĐ ở Mộc Châu cần được quan

Trang 33

xấu tới môi trường, đồng thời một phần thu nhập từ du lịch sẽ được chi vào để duy trì, bảo vệ HST cũng như nguồn tài nguyên phục vụ DL

- Bảo vệ và phát huy bản sắc văn hóa cộng đồng [60]: Các giá trị văn hóa bản địa

là một bộ phận luôn luôn đi liền với môi trường sinh thái và là một trong những nguồn tài nguyên không thể thiếu đối với hoạt động DLSTDVCĐ Khách du lịch đến tham gia hoạt động DLSTDVCĐ không chỉ thưởng ngoạn cảnh đẹp tự nhiên mà họ còn có thể tìm hiểu các giá trị văn hóa bản địa Vì thế, bảo vệ và phát huy bản sắc văn hóa cộng đồng địa phương sẽ đóng một phần quan trọng quyết định tới sự tồn tại của loại hình du lịch này

- Tạo việc làm và mang lại lợi ích cho cộng đồng địa phương [60]: Với bất kỳ

hình thức kinh doanh nào, việc đem lại thu nhập cho chủ thể thực hiện là một trong những mối quan tâm hàng đầu Với DLSTDVCĐ, khi tham gia cung cấp các dịch vụ du lịch, cộng đồng địa phương đã có thêm những việc làm mới bên cạnh hoạt động sản xuất nông nghiệp truyền thống của họ Thông qua đó, người dân sẽ có thêm nhiều việc làm góp phần tăng thu nhập cho cuộc sống

- Có hoạt động giáo dục và diễn giải môi trường [60]: Đây là một trong những

nguyên tắc khá quan trọng, nó thể hiện ở chỗ khi du khách dời khỏi nơi mình đến tham quan sẽ có được sự hiểu biết cao hơn về các giá trị của môi trường tự nhiên, về những đặc điểm sinh thái khu vực, cũng như văn hóa bản địa Từ đó, du khách sẽ có cách cư xử tích cực trong việc bảo tồn và phát triển những giá trị tự nhiên cũng như nhân văn của địa phương mình

- Cộng đồng sở tại là thành phần chủ chốt và có vai trò quyết định trong vận

hành và quản lý cũng như hưởng lợi từ hoạt động du lịch

1.2.3 Điều kiện và tài nguyên cho phát triển du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng

1.2.3.1 Tài nguyên du lịch

Theo Luật du lịch Việt Nam (2017): “Tài nguyên du lịch là cảnh quan thiên

nhiên, yếu tố tự nhiên, và các giá trị văn hóa làm cơ sở để hình thành sản phẩm du lịch, khu du lịch, điểm du lịch nhằm đáp ứng yêu cầu du lịch” [73]

Tài nguyên phục vụ cho DLSTDVCĐ bao gồm tài nguyên du lịch sinh thái tự

nhiên và tài nguyên du lịch sinh thái nhân văn Các tài nguyên này thể hiện trong cảnh

quan, hệ sinh thái cụ thể và các giá trị văn hóa bản địa tồn tại phát triển không tách rời với cảnh quan, HST tự nhiên đó

Trang 34

a Điều kiện và tài nguyên DLST tự nhiên

Điều kiện và tài nguyên du lịch tự nhiên chính là tài nguyên DLST tự nhiên có ý nghĩa đối với du lịch, bao gồm: địa hình, khí hậu, thủy văn, sinh vật và đa dạng sinh học, các cảnh quan tự nhiên, các di sản tự nhiên

- Vị trí địa lý: yếu tố này thể hiện thông qua lợi thế trong sự liên kết, kết nối giữa một địa phương với các khu vực lân cận cho phát triển du lịch

- Địa hình: Đây là nơi diễn ra các hoạt động du lịch, là nền tảng tạo nên những phong cảnh đẹp Các kiểu địa hình đặc biệt thường được khai thác cho DL: hang động, bãi biển, phong cảnh núi rừng, Hiện tại huyện Mộc Châu có một số dạng địa hình và cảnh quan đẹp đã và đang được du khách tới tham quan: Hang Dơi, rừng thông, thác Dải Yếm, Ngũ động, đồi chè trái tim, thung lũng Nà Ka, nông trường chè,

- Khí hậu: Điều kiện và tài nguyên khí hậu được xác định trước hết là tổng hợp của các yếu tố nhiệt độ, độ ẩm và một số yếu tố khác như hướng gió, ánh nắng mặt trời thích hợp nhất với sức khỏe con người, tạo cho con người các điều kiện sống thoải mái,

dễ chịu nhất Qua thu thập các số liệu về tài nguyên khí hậu của Mộc Châu cho thấy, địa phương này có khí hậu mát mẻ, phù hợp với sức khỏe con người

- Thủy văn: Các đối tượng nước chính sau đây đã được (khai thác như tài nguyên DL): Bề mặt nước, điểm nước nóng và suối nước khoáng, Mộc Châu mặc dù hiện tại chưa tìm thấy điểm nước nóng cũng như suối nước khoáng, tuy nhiên đây lại là một trong những địa phương có dòng sông Đà chảy qua tạo tiềm năng khi khai thác bề mặt nước sông Đà cho hoạt động du lịch tham quan ngắm cảnh bằng thuyền

- Sinh vật và đa dạng sinh học: Tài nguyên sinh vật có giá trị tạo nên phong cảnh làm cho thiên nhiên đẹp và sống động hơn Hiện tại, các tài nguyên sinh vật ở nước ta phục vụ mục đích du lịch đa số ở các VQG, KBT thiên nhiên, các HST tự nhiên đặc biệt, các điểm tham quan sinh vật Trong địa bàn huyện Mộc Châu có một phần diện tích của khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Nha, với sự đa dạng các loài động vật và thực vật,

có thể đây là tiềm năng cho hoạt động du lịch trong tương lai

b Tài nguyên DLST nhân văn

Các tài nguyên DLST nhân văn chính là các tài nguyên gắn với bản sắc văn hóa địa phương, bao gồm: các giá trị văn hóa bản địa gắn với HST cụ thể được khai thác, sử dụng để tạo ra các sản phẩm DLST Các giá trị văn hóa bản địa được hình thành và phát

Trang 35

triển gắn liền với sự tồn tại của hệ sinh thái tự nhiên như các phương thức canh tác, lễ hội, sinh hoạt văn hóa truyền thống, của cộng đồng [60] Mộc Châu với sự tồn tại lâu đời của các tộc người Thái, Hmông, Mường, Dao, tạo nên một bức tranh văn hóa đa dạng tồn tại song song với hệ sinh thái nông nghiệp đặc trưng (nông trường chè, khu chuyên canh trồng cây ăn quả, rau màu, trồng hoa, nương chè, ) là một phần không thể thiếu trong việc cung cấp các dịch vụ cho hoạt động du lịch

1.2.3.2 Điều kiện cơ sở hạ tầng vật chất kỹ thuật, kinh tế - xã hội

Cơ sở hạ tầng bao gồm mạng lưới giao thông, thông tin liên lạc, các công trình cung cấp điện nước, trạm y tế Yếu tố này có vai trò quan trọng trong quá trình tạo ra khả năng tiếp cận tài nguyên cũng như quyết định mức độ khai thác tài nguyên DL Mạng lưới giao thông gắn với việc di chuyển của du khách, hệ thống thông tin liên lạc đảm bảo điều kiện cập nhật thông tin cho du khách Các yếu tố về điện nước, trạm y tế

là những yếu tố không thể thiếu trong sinh hoạt hàng ngày của du khách

Cơ sở hạ tầng vật chất kỹ thuật bao gồm các yếu tố có chức năng tạo ra các dịch

vụ đáp ứng nhu cầu của khách du lịch như: nhà hàng, khách sạn, vận chuyển, lưu trú, vui chơi giải trí Các yếu tố này có vai trò quan trọng trong quá trình tạo ra sản phẩm du lịch nhằm thỏa mãn nhu cầu của du khách Điều kiện về kinh tế - xã hội của điểm đến sẽ cho thấy trình độ phát triển của địa phương, vai trò quan trọng trong việc phát triển các

cơ sở hạ tầng, cơ sở hạ tầng vật chất kỹ thuật bổ trợ cho hoạt động du lịch

1.2.3.3 Yếu tố cộng đồng

Trong hoạt động DLDVCĐ, bên cạnh tầm quan trọng của tài nguyên, cở sở hạ tầng vật chất kỹ thuật, sự tham gia của cộng đồng địa phương là yếu tố không thể thiếu bởi nó quyết định sự thành công hay thất bại của hoạt động du lịch này Vai trò của cộng đồng trong hoạt động du lịch được thể hiện ở hai khía cạnh chính: a) Cung cấp các sản phẩm du lịch; b) Tham gia quản lý và cung cấp nguồn lao động

Thứ nhất, cung cấp các sản phẩm du lịch: Cộng đồng địa phương chính là người chủ sở hữu các tài nguyên du lịch, họ sẽ biết vận dụng các tài nguyên đó tạo ra sản phẩm

du lịch Một số dịch vụ du lịch mà người dân có thể cung cấp: dịch vụ lưu trú, ăn uống, sản xuất các sản phẩm nông sản bán cho người dân và du khách và thu nhập từ những hoạt động đó

Trang 36

Thứ hai, cộng đồng tham gia quản lý, và cung cấp nhân công lao động cho hoạt động du lịch: Cộng đồng là người hiểu rõ nhất mảnh đất, con người nơi họ sinh sống, chính vì vậy, họ cũng có thể tham gia vào việc tổ chức, quản lý, giám sát, ra quyết định trong việc sử dụng, khai thác, bảo vệ tài nguyên, giữ gìn vệ sinh tại các khu, điểm du lịch; Cộng đồng địa phương là đối tượng chịu tác động trực tiếp từ hoạt động du lịch, họ được tạo thêm việc làm khi tham gia vào các hoạt động kinh doanh du lịch

1.2.3.4 Các điều kiện khác

Chủ trương chính sách của các cấp chính quyền sẽ là yếu tố thúc đẩy hay kìm hãm sự phát triển của hoạt động du lịch: Nếu chính quyền địa phương có chủ trương và định hướng ủng hộ phát triển du lịch là điều vô cùng thuận lợi; Nếu chính quyền địa phương không ủng hộ thì du lịch khó có thể phát triển được Việc ủng hộ này được thể hiện ở các mặt: Tạo điệu kiện cho du khách tới tham quan, khuyến khích người dân địa phương đầu tự phát triển cơ sở hạ tầng cho du lịch

Bên cạnh đó, các doanh nghiệp du lịch (doanh nghiệp kinh doanh lữ hành, kinh doanh lưu trú, kinh doanh vận chuyển, ) cũng có vai trò quan trọng trong phát triển DL nói chung và DLSTDVCĐ nói riêng Họ là cầu nối giữa khách du lịch với cộng đồng, là yếu tố trung gian để bán các sản phẩm du lịch của cộng đồng và họ cũng là người đầu tư

để tạo một số sản phẩm du lịch mà cộng đồng chưa cung ứng đủ, nhằm đảm bảo cho sự

đa dạng các sản phẩm du lịch cho du khách Các doanh nghiệp này còn đóng góp vào sự phát triển kinh tế của địa phương thông qua việc mua nông sản của địa phương bán cho

du khách, đóng thuế,

1.2.4 Các loại hình du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng

Theo Trần Đức Thanh và cộng sự (2014), “loại hình du lịch” chính là hoạt động

du lịch có chung một đặc điểm nào đó Với xu thế phát triển hình thức DLST nói chung

và DLSTDVCĐ nói riêng như hiện nay, một số loại hình DLST có thể phát triển: nghiên

cứu đa dạng sinh học ở các VQG, KBT thiên nhiên, tham quan miệt vườn (trải nghiệm nông nghiệp nông thôn), thăm bản làng dân tộc và trải nghiệm dịch vụ Homestay, mạo hiểm, tham quan nghỉ dưỡng; đi bộ trong rừng, …[60]

1) Du lịch Homestay và trải nghiệm không gian văn hóa bản làng

Quan niệm chung cho loại hình du lịch này là du khách được cung cấp không gian nghỉ tại cộng đồng, thưởng thức các món ăn địa phương và tham gia vào các hoạt

Trang 37

động chung của người dân nơi họ đặt chân đến [135] Khách du lịch có cơ hội để tìm hiểu các giá trị văn hóa bản địa như tập tục sinh hoạt, sản xuất, hoạt động lễ hội, văn hóa dân gian, các sản phẩm thủ công truyền thống, các di tích lịch sử, được hình thành và phát triển gắn liền với đặc điểm sinh thái tự nhiên của địa phương đó

Điều kiện để địa phương có thể phát triển loại hình DL Homestay và trải nghiệm không gian văn hóa bản làng bao gồm: a) có tài nguyên tự nhiên hấp dẫn; b) có sự sinh sống của nhiều dân tộc, tạo nên sự đa dạng trong văn hóa cộng đồng; c) cộng đồng địa phương được tạo điều kiện xây dựng các ngôi nhà truyền thống của dân tộc mình để nếu

có nhu cầu du khách có thể nghỉ lại tại đó; d) cộng đồng chủ động tham gia một cách có

tổ chức trong các hoạt động văn hóa, dịch vụ du lịch phục vụ du khách [157]

Mộc Châu được biết đến là nơi sinh sống của 11 dân tộc, điều này tạo nên sự đa dạng trong bản sắc văn hóa tộc người địa phương Bên cạnh đó, mảnh đất này đã và đang hấp dẫn nhiều du khách bởi vẻ đẹp thiên nhiên hoang sơ, đa dạng Tất cả những yếu tố này tạo cơ hội thuận lợi cho Mộc Châu có thể phát triển loại hình DL này trong hiện tại và tương lai

2) Du lịch trải nghiệm nông nghiệp nông thôn

Du lịch trải nghiệm nông nghiệp nông thôn là loại hình DLST với sản phẩm chủ yếu dưới dạng tham quan nghiên cứu HST nông nghiệp Khách du lịch tham gia loại hình du lịch này sẽ được cùng người nông dân gieo trồng, chăm sóc và thu hoạch các sản phẩm nông nghiệp ngay tại vườn/ trên đồng ruộng Hoạt động du lịch này cũng có tác dụng kết nối du khách với cảnh quan địa phương và các di sản của cộng đồng dân tộc bản địa [156,158] Ở Việt Nam, loại hình DL trải nghiệm nông nghiệp nông thôn phát triển đặc biệt ở các miệt vườn đồng bằng sông Cửu Long Đối với các tỉnh khu vực phía bắc, loại hình du lịch này vừa kết hợp tham quan ngắm cảnh và thiên về học hỏi, tìm hiểu các hoạt động sản xuất nông nghiệp Loại hình này mặc dù mới phát triển trong thời gian gần đây, song đã thu hút được khá nhiều khách du lịch trong và ngoài nước [60] Khi tham gia loại hình du lịch này, du khách có thêm cơ hội gần gũi với thiên nhiên và trải nghiệm cuộc sống nhà nông như những người nông dân thực thụ Người dân địa phương thông qua cung cấp dịch vụ du lịch này có thể quảng bá sản phẩm nông nghiệp và một phần thu nhập từ nông nghiệp của họ cũng tăng lên từ du lịch [156] Chính từ tên gọi của loại hình du lịch này, người đọc cũng có thể hình dung được điều

Trang 38

kiện để có thể phát triển được nó đó là: Có sự hoạt động của trang trại sản xuất nông nghiệp, các nhà vườn, miệt vườn, [159] Du khách tham gia trải nghiệm du lịch nông nghiệp nông thôn ở Mộc Châu không chỉ đơn thuần là tìm hiểu phương thức hái chè, phương thức canh tác ruộng bậc thang, cách trồng rau, trồng hoa, mà còn tham quan những thắng cảnh thiên nhiên ở phạm vi không gian họ đặt chân tới

3) Du lịch mạo hiểm

Du lịch mạo hiểm được coi là loại hình du lịch được thực hiện ở những khu vực

có địa hình hiểm trở, khó khăn Nó có thể bao gồm các hoạt động như: Leo núi, đi bộ trong rừng, tìm hiểu hang động Chính vì thế, điểm hấp dẫn đối với loại hình du lịch này chính là những đỉnh núi cao hiểm trở, những hang động khó đi nhằm đánh thức trí tò mò của những du khách ưa khám phá Điểm đến là các vùng thiên nhiên hoang sơ, chủ yếu

là đồi núi và cao nguyên, hang động Các địa điểm được chọn thường là những khu vực núi rừng hoặc bản làng cách xa đồng bằng và thành phố Đặc biệt, những nơi có sự đa dạng về địa hình, đa dạng về tài nguyên và sự độc đáo của văn hóa bản địa như là khu vực đồi núi và cao nguyên thu hút khách ưa khám phá mạo hiểm hơn cả [160] Trên đường trải nghiệm loại hình DL này, du khách có thể tìm hiểu, khám phá thiên nhiên và văn hóa bản địa để thấy được những nét đẹp và hấp dẫn của địa phương Người tham gia loại hình du lịch này cần phải có ý chí kiên cường và sức khỏe dẻo dai Những yếu tố thu hút đối với hoạt động du lịch mạo hiểm: Độ dài chuyến đi, khoảng cách đi bộ trong

cả chuyến, độ cao tối đa (đối với các đỉnh núi) so với mực nước biển mà du khách đạt được trong suốt chuyến đi Du lịch mạo hiểm có thể thực hiện ở các mức độ: rất dễ, dễ, trung bình và khó [161] Đặc điểm của các mức độ này được thể hiện cụ thể trong phần phụ lục 13

Qua thực tế nghiên cứu cho thấy, Mộc Châu là một trong những nơi có địa hình

đa dạng, chủ yếu là đồi núi, đặc biệt các núi đá vôi, những hang động đẹp là những nơi thích hợp cho loại hình DL này

4) Một số loại hình DLST dựa vào cộng đồng khác

Du lịch tham quan nghỉ dưỡng: Đây được coi là một trong những loại hình của DLST, để phát triển được nó địa phương cần có nguồn tài nguyên thiên nhiên đặc sắc,

đa dạng, khí hậu phù hợp với sức khỏe con người Điều quan trong hơn đó là cần phải

Trang 39

phát triển Một số địa phương đi đầu với loại hình du lịch này: Kim Bôi Hòa Bình, suối khoáng nóng Bang (Quảng Bình), suối nước nóng Kênh Gà (Ninh Bình), suối nước nóng Đam Rông (Lâm Đồng) Mộc Châu mặc chưa tìm thấy mỏ nước khoáng, nước nóng, nhưng lại có khí hậu ôn hòa, mát mẻ, khá thuận lợi đối với sức khỏe của con người, phù hợp với tham quan nghỉ dưỡng

Ngoài ra, Mộc Châu có thể lựa chọn một số loại hình du lịch khác như: Đi bộ trong rừng Đây là loại hình du lịch kết hợp tham quan các cảnh quan tự nhiên ở các VQG và KBT thiên nhiên đang phát triển Ở Mộc Châu, các loại hình DL này có thể được kết hợp với DL Homestay và trải nghiệm không gian văn hóa bản làng, DL trải nghiệm nông nghiệp nông thôn hay DL mạo hiểm

Tùy vào điều kiện tài nguyên của mỗi địa phương có thể lựa chọn phát triển loại hình du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng cho phù hợp Từ thực tế các điều kiện tại huyện Mộc Châu cũng như đặc điểm của một số loại hình DLST kể trên, nơi đây có thể

lựa chọn các loại hình du lịch sau để phát triển: (1) DL Homestay và trải nghiệm không

gian văn hóa bản làng, (2) DL trải nghiệm nông nghiệp nông thôn, (3) DL mạo hiểm

1.2.5 Các cơ sở khoa học theo tiếp cận địa lý cho phát triển du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng

Nội dung của Địa lý học với vấn đề phát triển du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng bao gồm: Phân tích các điều kiện địa lý và tài nguyên du lịch, phân vùng địa lý hàm chứa các tài nguyên du lịch; đánh giá nguồn lực, phân tích hiện trạng và quy hoạch phát triển du lịch

1.2.5.1 Các điều kiện địa lý tự nhiên là cơ sở cho việc xác định tài nguyên DLST

Các tính chất đặc thù của điều kiện tự nhiên (địa chất, địa hình, khí hậu, thủy văn, sinh vật và đa dạng sinh học) cùng với cư dân địa phương và đặc điểm văn hóa, các sản phẩm phát triển trong sản xuất hình thành nguồn tài nguyên du lịch (tài nguyên du lịch

tự nhiên và tài nguyên du lịch nhân văn) cho địa phương Các điều kiện địa lý này có sự phân hóa khác nhau theo từng vùng, từng khu vực địa lý Các thành phần địa lý lại biến đổi theo nhịp điệu trong năm như khí hậu, thủy văn, sinh vật, các cảnh quan tự nhiên, thậm chí cả các hoạt động văn hóa của con người Chính điều này lại tạo ra nét đặc sắc của nguồn tài nguyên du lịch đối với địa phương Ở Mộc Châu có thể nhận thấy các

Trang 40

hang động, thác nước, hồ nước, núi sông, và cảnh quan nhân sinh, là nguồn tài nguyên cho du lịch của huyện

1.2.5.2 Điều kiện địa lý kinh tế - xã hội - dân cư là cơ sở cho sự tham gia vào hoạt động du lịch và DLST của cộng đồng

Cùng với điều kiện về địa lý tự nhiên, các điệu kiện về địa lý kinh tế - xã hội - dân cư đóng vai trò quan trọng đối với cộng đồng tham gia vào DLSTDVCĐ:

Nơi nào có điều kiện tự nhiên và các nguồn tài nguyên thuận lợi cho phát triển

KT - XH, chất lượng cuộc sống cao, KT - XH phát triển, có các chính sách xã hội tốt sẽ tạo điều kiện tốt hơn nhằm giúp cho trình độ học vấn và nhận thức của người dân được nâng cao, thuận lợi hơn cho phát triển DLCĐ Ngược lại, ở những vùng có điều kiện tự nhiên và nguồn tài nguyên không thuận lợi cho phát triển KT - XH và sinh sống của con người, thiếu những chính sách cùng điều kiện phát triển chung, dẫn đến không thuận lợi cho phát triển DLDVCĐ

Ở khu vực miền núi và cao nguyên - nơi sinh sống của các dân tộc thiểu số tuy xa các trung tâm văn hóa - kinh tế nhưng có nguồn tài nguyên phong phú thuận lợi cho phát triển du lịch Song ở đây lại đồng nghĩa với việc có địa hình hiểm trở, giao thông đi lại khó khăn, nhiều thiên tai, KT - XH còn chưa phát triển, chất lượng cuộc sống người dân địa phương chưa cao Thêm vào đó, nhận thức của người dân về du lịch còn nhiều hạn chế, họ thường tham gia vào hoạt động DL một cách thụ động, chưa năng động, sáng tạo, không được tham gia vào việc quản lý cũng như đưa ra các quyết định phát triển DL của cộng đồng mình Đây chính là những rào cản cho việc phát triển DLDVCĐ Điều này sẽ làm cho sản phẩm du lịch của địa phương nghèo nàn và đơn điệu, giảm sức cạnh tranh và hấp dẫn khách du lịch Chính vì vậy, việc tìm hiểu điều kiện kinh tế - xã hội - dân cư là nội dung quan trọng trong định hướng phát triển các sản phẩm DLDVCĐ ở mỗi địa phương cụ thể

1.2.5.3 Các tiểu vùng địa lý - cơ sở không gian với điều kiện và nguồn tài nguyên tự nhiên và nhân văn cho phát triển du lịch sinh thái

Hiện tại trong khoa học địa lý đang tồn tại hai loại hình phân vùng: Phân vùng địa lý tự nhiên và phân vùng địa lý kinh tế Trong phân vùng địa lý tự nhiên ranh giới các đơn vị phân vùng được vạch ra dựa vào yếu tố tự nhiên, còn trong phân vùng kinh tế

Ngày đăng: 10/11/2019, 23:33

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w