1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường nước tại Việt Nam hiện nay

101 340 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 101
Dung lượng 861,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luận văn tìm hiểu những vấn đề lý luận cơ bản về kiểm soát ô nhiễm môi trường nước và pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường nước. Trên cơ sở lý luận, tác giả đánh giá thực trạng và thực tiễn thi hành pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường nước tại Việt Nam hiện nay. Từ thực trạng và thực tiễn thi thành, tác giả đưa ra giải pháp, kiến nghị về việc hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường nước tại Việt Nam.

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

LẠI THỊ DIỆU LINH

PH¸P LUËT VÒ KIÓM SO¸T ¤ NHIÔM M¤I TR¦êNG N¦íC

T¹I VIÖT NAM HIÖN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2018

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

LẠI THỊ DIỆU LINH

PH¸P LUËT VÒ KIÓM SO¸T ¤ NHIÔM M¤I TR¦êNG N¦íC

T¹I VIÖT NAM HIÖN NAY

Chuyên ngành: Luật Kinh tế

Mã số: 8380101.05

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS VŨ THU HẠNH

HÀ NỘI - 2018

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội.

Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn.

Tôi xin chân thành cảm ơn!

NGƯỜI CAM ĐOAN

Lại Thị Diệu Linh

Trang 4

SOÁT Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT

VỀ KIỂM SOÁT Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG NƯỚC 8 1.1 Tổng quan về ô nhiễm môi trường nước và kiểm soát ô

nhiễm môi trường nước 8

1.1.1 Khái niệm, đặc điểm về ô nhiễm môi trường nước 81.1.2 Khái niệm, đặc điểm về kiểm soát ô nhiễm môi trường nước 12

1.2 Những vấn đề lý luận của pháp luật về kiểm soát ô nhiễm

môi trường nước 16

1.2.1 Khái niệm, đặc điểm của pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi

trường nước 161.2.2 Những nội dung cơ bản của pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi

trường nước 20

1.3 Pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường nước tại một số

quốc gia Châu Á 36

1.3.1 Pháp luật về kiểm soát ô nhiễm nước tại Nhật Bản 361.3.2 Pháp luật về kiểm soát ô nhiễm nước tại Trung Quốc 371.3.3 Một số gợi mở đối với pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi

trường nước tại Việt Nam 39

Kết luận chương 1 42

Trang 5

Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ KIỂM SOÁT Ô NHIỄM

MÔI TRƯỜNG NƯỚC VÀ THỰC TIỄN THI HÀNH TẠI

VIỆT NAM HIỆN NAY 43

2.1 Đánh giá thực trạng các quy định về trách nhiệm của Nhà nước trong kiểm soát ô nhiễm môi trường nước và thực tiễn thi hành tại Việt Nam hiện nay 43

2.1.1 Điều tra cơ bản tài nguyên nước 43

2.1.2 Xây dựng và thực hiện chiến lược, quy hoạch bảo vệ tài nguyên nước .46

2.1.3 Cấp phép xả thải 50

2.1.4 Xây dựng hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật môi trường 55

2.1.5 Công tác thanh tra thực hiện pháp luật và xử lý vi phạm 58

2.2 Đánh giá thực trạng các quy định về nghĩa vụ của các tổ chức, cá nhân trong kiểm soát ô nhiễm môi trường nước và thực tiễn thi hành tại Việt Nam hiện nay 66

2.2.1 Thực hiện đánh giá tác động môi trường và kế hoạch bảo vệ môi trường .67

2.2.2 Đóng phí bảo vệ môi trường đối với nước thải 68

2.2.3 Sự tham gia, giám sát và tham vấn của cộng đồng vào công tác kiểm soát ô nhiễm môi trường nước 70

Kết luận chương 2 73

Chương 3: ĐỊNH HƯỚNG, GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ THI HÀNH PHÁP LUẬT VỀ KIỂM SOÁT Ô NHIỄM NƯỚC TẠI VIỆT NAM 74

3.1 Định hướng hoàn thiện pháp luật về kiểm soát ô nhiễm nước tại Việt Nam 74

3.2 Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường nước tại Việt Nam 76

Trang 6

3.2.1 Một số giải pháp hoàn thiện các quy định về trách nhiệm của

Nhà nước và nâng cao hiệu quả thi hành các quy định về kiểm

soát ô nhiễm môi trường nước 76

3.2.2 Một số giải pháp hoàn thiện các quy định về nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân và nâng cao hiệu quả thi hành các quy định về kiểm soát ô nhiễm môi trường nước 82

Kết luận chương 3 85

KẾT LUẬN 87

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 89

Trang 7

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

ĐTM: Đánh giá tác động môi trường

KSONMTN: Kiểm soát ô nhiễm môi trường nướcNEP: Chương trình môi trường Liên hợp quốcONMTN: Ô nhiễm môi trường nước

QCVN: Quy chuẩn kỹ thuật Việt Nam

TCVN: Tiêu chuẩn Việt Nam

Trang 8

DANH MỤC BẢNG

Số hiệu Tên bảng Trang

Bảng 2.1 Thống kê công tác thanh tra, xử lý vi

phạm pháp luật về BVMT ở cấp Trung

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Nước chiếm ¾ diện tích trái đất, trong đó chứa đến 97% là là nước mặn

ở các đại dương, 3% còn lại thì có khoảng 99% là nước ngọt ở dạng băng đá

và tuyết, chỉ có khoảng 1% lượng nước ngọt là nước mặt dùng để duy trì sựsống Như vậy, lượng nước ngọt còn lại là một lượng rất nhỏ để phục vụ chođời sống sinh hoạt và hoạt động sản xuất của con người

Nước sạch là nhu cầu thiết yếu đối với mỗi con người trong cuộc sốngthường nhật Bên cạnh đó, nước sạch cũng là một mắt xích quan trọng quyếtđịnh đến sự phát triển đối với hoạt động công nghiệp và nông nghiệp, ảnhhưởng đến sự phát triển kinh tế - xã hội của Quốc gia

Trên thế giới, theo Báo cáo của Chương trình Môi trường Liên hợpquốc chỉ ra rằng giai đoạn 1990 – 2010, môi trường nước của hơn 50% cácdòng sông ở 3 châu lục bị ô nhiễm vi sinh vật và ô nhiễm hữu cơ, đồng thời,nước bị nhiễm mặn cũng tăng gần 1/3 Khoảng 1/4 các con sông ở châu MỹLatinh, 10 - 25% sông ở châu Phi và 50% các con sông ở châu Á bị ảnhhưởng bởi ô nhiễm vi sinh vật, phần lớn là do việc xả nước thải, chất thải, rácthải sinh hoạt chưa qua xử lý ra sông Ở các ao, hồ, sông và kênh dẫn nướcthải, vấn đề ô nhiễm dinh dưỡng đang làm cho chất lượng nước thay đổi theochiều hướng xấu, ảnh hưởng đến hệ sinh thái Một trong những hậu quả chínhcủa vấn đề này là hiện tượng phú dưỡng, xảy ra khi dư thừa các chất dinhdưỡng trong môi trường nước Sự dư thừa các chất dinh dưỡng sẽ thúc đẩy sựphát triển của các loài tảo, rong, rêu, thực vật phù du trong nước, dẫn đếnthiếu dưỡng khí, cạn kiệt ôxy hòa tan, giảm số lượng cá thể cá và các quần thểđộng vật khác Theo thống kê trong Báo cáo của UNEP, trung bình mỗi năm

có khoảng 3,4 triệu người chết tại 3 châu lục do các bệnh liên quan đến visinh vật gây bệnh có trong nước mặt như dịch tả, thương hàn, bại liệt, tiêu

Trang 10

chảy, viêm gan… và ước tính khoảng 25 triệu người ở châu Mỹ Latinh, 164triệu ở châu Phi, 134 triệu người ở châu Á có nguy cơ lây nhiễm các bệnhtrên Cũng theo UNEP cảnh báo, hơn 300 triệu người ở 3 châu lục trênđang có nguy cơ mắc các bệnh dịch tả và thương hàn do tình trạng ô nhiễmnguồn nước [44].

Việt Nam được đánh giá là quốc gia có mạng lưới sông ngòi dày đặc,nhưng ngược lại Việt Nam hiện thuộc nhóm quốc gia thiếu nước Bên cạnh

đó, môi trường nước đang bị suy thoái nghiêm trọng do tình trạng khai thácquá mức và ô nhiễm đang gia tăng mất kiểm soát Có thể kể đến các đoạnsông bị ô nhiễm nghiêm trọng như: sông Kỳ Cùng; sông Hiến; sông BằngGiang; sông Hồng đoạn qua Phú Thọ, Vĩnh Phúc; sông Cầu đoạn qua TháiNguyên, Bắc Giang, Bắc Ninh; sông Ngũ Huyện Khê; sông Nhuệ - Đáy;sông Vàm Cỏ Đông;… Hay những năm gần đây, chúng ta không thể khôngnhắc đến việc Công ty cổ phần TNHH Vedan Việt Nam gây ô nhiễm nghiêmtrọng cho dòng sông Thị Vải và Công ty TNHH Hưng Nghiệp Fosmosa xảthải vượt quá cho phép gây ra hiện tượng cá chết hàng loạt vào tháng04/2016 tại vùng biển các tỉnh miền Trung Không phải là quốc gia ngoại lệđứng ngoài trong công cuộc bảo vệ môi trường nước Việt Nam đã tạo rahành lang pháp lý và từng bước sửa đổi, bổ sung nhằm mục đích hoàn thiệnpháp luật để phòng ngừa phát hiện, ngăn chặn và xử lý ô nhiễm môi trườngnước hiệu quả nhất Có thể kể đến hệ thống văn bản pháp luật về kiểm soát ônhiễm môi trường nước tại Việt Nam hiện nay như sau: Luật bảo vệ môitrường 2014; Luật tài nguyên nước 2012; Các tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹthuật môi trường về nước mặt, nước ngầm, nước biển, nước thải chế biếnthủy hải sản, nước thải sinh hoạt,…; Các quy định về phí bảo vệ môi trườngđối với nước thải; Các quy định về xử phạt vi phạm trong lĩnh vực bảo vệmôi trường; … Tuy vậy, hệ thống pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi

Trang 11

trường nước vẫn còn bất cập, hạn chế Thể hiện ở sự chồng chéo giữa cácquy định pháp luật, chồng chéo về trách quản lý của cơ quan Nhà nước,chưa có hệ thống pháp luật thống nhất về kiểm soát ô nhiễm môi trường.Ngoài ra, khi thực hiện công tác kiểm soát ô nhiễm môi trường nước còn cónhững khó khăn trong hoạt động đánh giá hiện trạng môi trường, hoạt độngquan trắc, hoạt động cấp giấy phép xả thải, hoạt động khắc phục ô nhiễm,hoạt động ứng phó sự cố, hoạt động xử lý vi phạm; …

Chính vì vậy, tác giả chọn đề tài “Pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi

trường nước tại Việt Nam hiện nay” với mong muốn đóng góp một phần

trong việc xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và nâng cao hiệu quả thihành pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường nước Với mục tiêu bảo vệ,gìn giữ môi trường nước không bị ô nhiễm đảm bảo cho sự phát triển ổn định

và bền vững kinh tế - xã hội

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Hiện nay, có nhiều công trình nghiên cứu về lý luận và thực tiễn xoayquanh vấn đề pháp luật bảo vệ môi trường và kiểm soát ô nhiễm môi trườngnước Có thể kể đến như sau:

Nguyễn Anh Tuấn (2012), Pháp luật về kiểm soát hoạt động gây ô

nhiễm môi trường biển trong hoạt động hàng hải ở Việt Nam, Luận văn thạc

sĩ luật, Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội;

Trần Thị Hà My (2015), Pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường

trong lĩnh vực khai thác đá qua thực tiễn tỉnh Ninh Bình, Luận văn thạc sĩ

luật, Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội;

Tiêu Thị Hà (2010), Pháp luật bảo vệ môi trường nước lưu vực sông ở

Việt Nam, Luận văn thạc sĩ luật;

Nguyễn Thị Hải Hạnh (2007), Thực hiện pháp luật bảo vệ môi trường

ở cấp phường và vai trò của cộng đồng trong công tác bảo vệ môi trường

Trang 12

nhằm phát triển bền vững ở Việt Nam hiện nay, Luận văn thạc sĩ ngành lý

luận và lịch sử nhà nước pháp luật;

Hồ Anh Tuấn (2016), Hoàn thiện pháp luật bảo vệ môi trường nước

trong khu công nghiệp ở Việt Nam, Luận văn thạc sĩ luật, Khoa Luật - Đại học

Quốc gia Hà Nội;

Nguyễn Thị Phương (2010), Pháp luật tài nguyên nước Việt Nam trong

điều kiện kinh tế thị trường, Luận văn thạc sĩ kinh tế;

Đinh Phượng Quỳnh (2011), Pháp luật về bảo vệ môi trường ở Việt

Nam – Thực trạng và giải pháp, Luận văn thạc sĩ ngành Lý luận lịch sử nhà

nước và pháp luật, Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội;

Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu trên chỉ tập trung nghiên cứu cácvấn đề lý luận của pháp luật bảo vệ môi trường và đánh giá, phân tích thựctrạng của pháp luật bảo vệ môi trường nói chung và bảo vệ môi trường nướctại từng khu vực nói riêng Pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường nướcchưa được quan tâm, nghiên cứu một cách độc lập so với pháp luật bảo vệmôi trường nói chung và bảo vệ môi trường nước nói riêng, chỉ xem công táckiểm soát ô nhiễm môi trường nước là một bộ phận của hoạt động bảo vệ môitrường thông qua trách nhiệm của Nhà nước và nghĩa vụ của các tổ chức, cánhân trong xã hội Do vậy, luận văn này sẽ tập trung nghiên cứu pháp luật vềkiểm soát ô nhiễm môi trường nhằm cung cấp các vấn đề lý luận cơ bản củapháp luật, thực trạng của các quy định pháp luật và đưa ra định hướng, giảipháp để xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và nâng cao hiệu quả thihành các quy định pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường nước

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài

3.1 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở tìm hiểu, nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản của phápluật về kiểm soát ô nhiễm môi trường nước; đánh giá những khó khăn, vướng

Trang 13

mắc, hạn chế của quy định pháp luật và thực tiễn thi hành các quy định phápluật đó Đưa ra định hướng, đề xuất các giải pháp để hoàn thiện pháp luật vànâng cao hiệu quả thi hành pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường nướctại Việt Nam hiện nay.

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục tiêu tổng quát nêu trên, tác giả sẽ phải đạt được cácmục tiêu cụ thể như sau:

- Làm sáng tỏ được những vấn đề lý luận cơ bản về pháp luật về kiểmsoát ô nhiễm môi trường nước; so sánh với pháp luật về kiểm soát ô nhiễmmôi trường nước của một số nước Châu Á có tương đồng về điều kiện pháttriển kinh tế xã hội, điều kiện tự nhiên để rút ra được những ưu điểm để ViệtNam có thể học hỏi

- Phân tích, đánh giá trúng, đúng thực trạng các quy định pháp luật vềkiểm soát ô nhiễm môi trường nước của Việt Nam hiện nay; cũng như nhữngthành tựu đạt được và những hạn chế, bất cập, vướng mắc, khó khăn của thựctrạng các quy định pháp luật và thực tiễn thi hành các quy định pháp luật đó

- Trên cơ sở đó, đưa ra định hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật vànâng cao hiệu quả thi hành của các quy định pháp luật về kiểm soát ô nhiễmmôi trường nước trong tương lai

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu những vấn đề

lý luận pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường nước; thực trạng và thựctiễn thi hành pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường nước tại Việt Namhiện nay

Phạm vi nghiên cứu: Trong khuôn khổ có hạn, luận văn tập trung

nghiên cứu về những vấn đề lý luận cơ bản và thực trạng pháp luật về kiểmsoát ô nhiễm môi trường nước mặt tại Việt Nam hiện nay

Trang 14

5 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài được nghiên cứu dựa trên các phương pháp luận của chủ nghĩa

Mác – Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng và Nhà nước vềNhà nước và Pháp luật đồng thời dựa trên những lý luận của bộ môn Lý luậnchung về nhà nước và pháp luật

Ngoài ra, luận văn còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:

- Phương pháp phân tích: là phương pháp được sử dụng để chia tách đề

tài thành các mặt, các vấn đề, các khía cạnh khác nhau để từ đó chọn lọc cácthông tin cần thiết phục vụ cho đề tài Cụ thể: phương pháp phân tích được sửdụng để làm sáng tỏ các quy định của Pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môitrường nước tại Việt Nam;

- Phương pháp tổng hợp: phương pháp này giúp liên kết các mặt, các

vấn đề, các khía cạnh từ các thông tin thu thập được thành một chỉnh thểthống nhất đầy đủ và sâu sắc;

- Phương pháp so sánh: phương pháp này sẽ được sử dụng để so sánh

quy định của Pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường nước tại Việt Nam

và một số Quốc gia Châu Á Từ đó, làm nổi bật những hạn chế, bất cập cầnhoàn thiện và sửa đổi của Pháp luật Việt Nam

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

- Ý nghĩa về mặt lý luận: luận văn là công trình chuyên khảo góp phầnxây dựng có hệ thống những vấn khái niệm, đặc điểm cơ bản về kiểm soát ônhiễm môi trường nước và pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường nước.Thông qua những định hướng và đề xuất giải pháp đề tài nghiên cứu sẽ đónggóp một phần để hoàn thiện hơn nữa hệ thống lý luận về pháp luật về kiểmsoát ô nhiễm môi trường nước

- Ý nghĩa về mặt thực tiễn: luận văn sẽ góp một phần để hoàn thiệnpháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường nước thông qua việc đưa ra những

Trang 15

định hướng và đề xuất các giải pháp để hoàn thiện hệ thống pháp luật về kiểmsoát ô nhiễm môi trường nước tại Việt Nam hiện nay và nâng cao hiệu quả thihành của các quy định pháp luật này Bên cạnh đó, luận văn có thể được sửdụng làm tài liệu tham khảo để nghiên cứu pháp luật về kiểm soát ô nhiễmmôi trường nước tại Việt Nam.

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục từ viết tắt, danh mục bảng vàdanh mục tài liệu tham khảo, kết cấu luận văn gồm 03 chương:

Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về kiểm soát ô nhiễm môi

trường nước và pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường nước

Chương 2: Thực trạng pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường nước

và thực tiễn thi hành tại Việt Nam hiện nay

Chương 3: Định hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao

hiệu quả thi hành pháp luật về kiểm soát ô nhiễm nước tại Việt Nam hiện nay

Trang 16

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ KIỂM SOÁT

Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT VỀ KIỂM SOÁT

Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG NƯỚC

1.1 Tổng quan về ô nhiễm môi trường nước và kiểm soát ô nhiễm môi trường nước

1.1.1 Khái niệm, đặc điểm về ô nhiễm môi trường nước

1.1.1.1 Khái niệm, đặc điểm ô nhiễm môi trường nước

Theo Hiến chương châu Âu về nước:

Ô nhiễm nước là sự biến đổi nói chung do con người đốivới chất lượng nước, làm nhiễm bẩn nước và gây nguy hiểm chocon người, cho công nghiệp, nông nghiệp, cho động vật nuôi vàcác loài hoang dã

Theo Cơ quan Bảo vệ môi trường của Bang New South Wales của

Úc (NWS EPA):

Ô nhiễm nước nghĩa là sự có mặt của bất kỳ chất nào trongnguồn nước từ đó làm thay đổi tính chất vật lý, hóa học, sinh họccủa nước Ô nhiễm nước cũng bao gồm các trường hợp các chất cómặt trong nước do rơi xuống, chảy xuống, được rửa, được thổi hoặcđược thấm vào nguồn nước (ví dụ đất có thể được rửa trôi vào trongnguồn nước [16, tr.59]

Theo Wikipedia tiếng Việt:

Ô nhiễm nước là sự thay đổi theo chiều xấu đi các tính chấtvật lý – hóa học – sinh học của nước, với sự xuất hiện các chất lạ ởthể lỏng, rắn làm cho nguồn nước trở nên độc hại với con người vàsinh vật Làm giảm độ đa dạng sinh vật trong nước

Trang 17

Luật Tài nguyên nước 2012 có quy định:

Ô nhiễm nguồn nước là sự biến đổi tính chất vật lý, tính chấthóa học và thành phần sinh học của nước không phù hợp với tiểuchuẩn, quy chuẩn kỹ thuật cho phép, gây ảnh hưởng xấu đến conngười và sinh vật [27, Điều 2, Khoản 14]

Từ những định nghĩa nêu trên, có thể hiểu ô nhiễm môi trường nướcmột cách đầy đủ như sau: Ô nhiễm môi trường nước là sự xuất hiện của cácchất lạ làm thay đổi tính chất vật lý, hóa học, sinh học của nước khiến chonước nhiễm bẩn; gây hại đến con người trong hoạt động sinh hoạt thườngnhật và hoạt động sản xuất nông nghiệp, công nghiệp; gây hại đến động vật,thực vật và làm giảm độ đa dạng sinh học tại môi trường nước

Vậy, ô nhiễm môi trường nước có những đặc điểm như sau: có sự xuấthiện của chất lạ độc hại làm thay đổi tính chất vật lý, hóa học, sinh học củanước; dẫn đến tình trạng nguồn nước bị nhiễm độc làm ảnh hưởng xấu đếncon người, sinh vật

1.1.1.2 Phân loại nguồn gây ô nhiễm môi trường nước

Có rất nhiều cách để phân loại nguồn gây ô nhiễm môi trường nước Tùythuộc vào tính chất, đặc điểm của mỗi loại nguồn gây ô nhiễm môi trường nước

mà phân loại theo các cách dưới đây:

Căn cứ theo tính chất của các nguồn gây ô nhiễm: có thể phân loại

thành ô nhiễm môi trường nước do tự nhiên và ô nhiễm môi trường nước donhân tạo

Ô nhiễm môi trường nước do tự nhiên là ô nhiễm môi trường nướcđược gây ra do hậu quả của thiên tai như: mưa bão, lũ lụt, động đất, núi lửa,sóng thần… Khi thiên tai xảy ra sẽ đưa một lượng lớn các chất thải, xác độngvật, xác thực vật,… vào môi trường nước gây ô nhiễm Tuy nhiên, ô nhiễmmôi trường nước do tự nhiên thường xảy ra không thường xuyên và không

Trang 18

phải là nguyên nhân chính dẫn đến vấn nạn ô nhiễm môi trường nước và suythoái chất lượng nước.

Ô nhiễm môi trường nước do nhân tạo là sự ô nhiễm môi trường nước

do các hoạt động của con người gây ra, phát sinh từ hoạt động sinh hoạt, hoạtđộng sản xuất nông nghiệp, hoạt động sản xuất công nghiệp và từ các hoạtđộng kinh tế xã hội khác Có thể kể đến như: ô nhiễm môi trường nước từhoạt động sinh hoạt là nước được thải ra từ quá trình sinh hoạt của con người,

đó là nước đã được sử dụng cho các mục đích ăn uống, sinh hoạt, tắm rửa…của các khu vực dân cư, công trình công cộng, cơ sở dịch vụ, thường nướcthải sinh hoạt được xả trực tiếp vào nguồn nước tự nhiên và không qua xử lý;

ô nhiễm môi trường nước từ hoạt động sản xuất công nghiệp là nước đượcthải ra do hoạt động sản xuất công nghiệp; ô nhiễm nước từ hoạt động sảnxuất nông nghiệp xuất phát từ việc sử dụng thuốc trừ sâu, thuốc diệt cỏ trong quá trình trồng trọt của người nông dân dẫn đến tình trạng dư lượngthuốc trừ sâu, diệt cỏ gây ô nhiễm môi trường nước hay nước thải từ chuồngtrại chăn nuôi thường chứa hàm lượng chất hữu cơ cao, lượng ni tơ, phốt pholớn và nhiều vi khuẩn gây bệnh cũng là một nguyên nhân dẫn đến ô nhiễmmôi trường nước; ô nhiễm từ các hoạt động kinh tế xã hội khác có thể kể đếnhoạt động y tế, du lịch, giao thông cũng là một nguyên nhân Ô nhiễm donhân tạo là nguyên nhân chính dẫn đến vấn nạn ô nhiễm và suy thoái chấtlượng nước trên toàn thế giới

Căn cứ theo tiêu chí các nguồn gây ô nhiễm: có thể phân loại thành ô

nhiễm nước do các ion hòa tan và ô nhiễm nước do các chất hữu cơ

Ô nhiễm nước do các ion hòa tan là sự ô nhiễm nước gây ra bởi cácchất dinh dưỡng (N, P), sulfat (SO42-), clorua (Cl-), các kim loại nặng (Hg, Cr,

Pb, Mn, As….)

Ô nhiễm nước do các chất hữu cơ là sự ô nhiễm nước gây ra bởi các

Trang 19

chất hữu cơ dễ bị phân hủy sinh học (Cacbonhidrat, Protein, chất béo), dầu

mỡ (Hidrocacbon), các vi sinh vật gây bệnh (vi khuẩn, vi rút, giun sán) [23]

Căn cứ theo tiêu chí khả năng xác định vị trí và quy mô của các nguồn gây ô nhiễm: có thể phân loại thành ô nhiễm điểm và ô nhiễm diện.

Ô nhiễm điểm là ô nhiễm được gây ra bởi một nguồn thải độc lập, khi ônhiễm xảy ra chúng ta có thể thể dễ dàng xác định được vị trí của nguồn thảigây ra ô nhiễm này, ví dụ như đường ống cống thải của nhà máy, nước thải từmột cụm làng nghề,……

Ô nhiễm diện là ô nhiễm được gây ra bởi các dòng chảy tự nhiên củanước mưa, trong quá trình vận động lưu thông tự nhiên của dòng nước mangtheo các chất ô nhiễm vào các vùng nước tự nhiên như: sông, hồ, ao, kênh,rạch và các vùng nước ven biển Ví dụ, sự chảy tràn của dòng nước mang cácchất gây ô nhiễm từ hoạt động nông nghiệp như dư lượng thuốc trừ sâu, phânbón hóa học; từ các hoạt động sinh hoạt của con người như các loại dầu mỡ,chất độc hóa học; từ hoạt động chăn nuôi như các chất thải của động vật …

1.1.1.3 Những ảnh hưởng do ô nhiễm môi trường nước gây ra cho con người và sự phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia

Tốc độ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và sự gia tăng nhanh về dân sốgây áp lực nặng nề đến tài nguyên nước Tình trạng ô nhiễm môi trường nướcdiễn ra càng ngày càng trầm trọng cả về mức độ và quy mô gây ảnh hưởng rấtlớn đến nhiều vấn đề trong xã hội, có thể kể đến như:

Thứ nhất, ảnh hưởng của ô nhiễm môi trường nước đến sức khỏe con người: Sức khỏe con người bị ảnh hưởng do môi trường nước bị nhiễm vi

trùng, vi khuẩn và các chất ô nhiễm hữu cơ, ô nhiễm kim loại nặng (Asen,Cadimi, thủy ngân, ) thông qua hai con đường: một là nguồn thức ăn bịnhiễm các chất gây ô nhiễm trong quá trình nuôi trồng, chế biến; hai là conngười tiếp xúc trực tiếp với môi trường nước bị ô nhiễm trong sinh hoạt và

Trang 20

sản xuất Hậu quả của ô nhiễm môi trường nước hại gây nên các bệnh bệnhung thư, bệnh thiếu máu, bệnh AntaiAntai, bệnh viêm gan A, bệnh tả, bệnhđường tiêu hóa và các bệnh ngoài da

Thứ hai, ảnh hưởng của ô nhiễm môi trường nước đến phát triển kinh tế: Ô nhiễm môi trường nước ảnh hưởng lớn đến sự phát triển kinh tế của một

quốc gia bởi sự tác động của nó đến toàn bộ các hoạt động kinh tế, sự tăngtrưởng kinh tế kéo theo sự gia tăng thiệt hại nặng nề do ô nhiễm mỗi trườnggây ra Ô nhiễm môi trường nước gây những thiệt hại kinh tế không nhỏ tronghoạt động sản xuất công nghiệp, sản xuất nông nghiệp và khai thác, nuôitrồng thủy sản bởi hoạt động khai thác, nuôi trồng thủy sản phụ thuộc rấtnhiều vào nguồn nước, khi nguồn nước ô nhiễm thủy sản không thể sinh sốngdẫn đến chết hàng loạt Ô nhiễm môi trường nước gây áp lực lên nền kinh tếbởi những chi phí phải chi trả để giải quyết ô nhiễm môi trường, bởi nhữngchi phí phải chi trả để xây dựng hệ thống y tế chữa trị các bệnh do ô nhiễmmôi trường nước gây ra,…

Thứ ba, ảnh hưởng đến sự phát triển của xã hội: Ô nhiễm môi trường

nước gây ảnh hưởng đến sức khỏe con người, ảnh hưởng đến sự phát triển củanền kinh tế bởi phải chi trả những chi phí rất lớn để khắc phục những hậu quả

do ô nhiễm môi trường nước gây ra như: cần chi phí lớn để khắc phục và xử

lý ô nhiễm môi trường nước; cần chi phí lớn để đầu tư cho giáo dục, y tế;…

Từ nền kinh tế kém phát triển, sẽ dễ gây ra tình trạng nghèo đói, sự phân hóagiàu nghèo diễn ra nhanh chóng dẫn đến những căng thẳng trong các mốiquan hệ xã hội Do vậy, xã hội sẽ kém phát triển bởi sự gia tăng bạo lực giữacác mối quan hệ trọng xã hội, gia tăng tệ nạn xã hội,…

1.1.2 Khái niệm, đặc điểm về kiểm soát ô nhiễm môi trường nước

1.1.2.1 Khái niệm kiểm soát ô nhiễm môi trường nước

Theo Wikipedia tiếng Việt: “Kiểm soát ô nhiễm là một từ dùng trong

quản lý môi trường Nó bao gồm việc kiểm soát phát thải và chất thải vào

Trang 21

không khí, nước và đất Trong các cấp kiểm soát, phòng chống ô nhiễm và giảm thiểu chất thải được xem là các biện pháp hiệu quả”[45].

Theo Khoản 18, Điều 3, Luật Bảo vệ môi trường 2014: “Kiểm soát ô

nhiễm là quá trình phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn và xử lý ô nhiễm”.

Hiện nay, chưa có một định nghĩa đầy đủ chính thống nào về kiểmsoát ô nhiễm môi trường nước Chỉ có định nghĩa chung về kiểm soát ônhiễm Do vậy, ta có thể hiểu kiểm soát ô nhiễm môi trường nước theo nghĩađầy đủ như sau: Kiểm soát ô nhiễm môi trường nước là hoạt động phòngngừa, phát hiện, ngăn chặn và xử lý ô nhiễm môi trường nước Kiểm soát ônhiễm môi trường nước nhằm kiểm soát các chất thải có nguy cơ gây ônhiễm môi trường nước, với mục tiêu không cho các chất gây ô nhiễm đượctiếp xúc với môi trường nước hoặc làm cho các chất gây ô nhiễm trở thành

vô hại trước khi tiếp xúc với môi trường nước Mục đích cuối cùng của kiểmsoát ô nhiễm môi trường nước là bảo vệ môi trường nước và bảo vệ hệ sinhthái tồn tại ở môi trường nước

1.1.2.2 Sự cần thiết của việc kiểm soát ô nhiễm môi trường nước

Như chúng ta đã biết nước đóng vai trò rất quan trọng trong cuộc sốngsinh hoạt thường nhật của con người và trong các hoạt động kinh tế của đấtnước; nước phục vụ cho hoạt động sinh hoạt của con người như: ăn uống, tắmrửa, dịch vụ giải trí… đảm bảo, nâng cao chất lượng cuộc sống và sức khỏecủa con người; nước phục vụ cho hoạt động kinh tế như hoạt động sản xuấtcông nghiệp, sản xuất nông nghiệp, hoạt động du lịch,… Tuy nhiên, vấn nạn

ô nhiễm nước lại đang xảy ra hàng ngày hàng giờ trên toàn thế giới với tínhchất và mức độ rất nghiêm trọng Nguyên nhân dẫn đến vấn nạn ô nhiễmnước là việc tiếp xúc của các chất gây ô nhiễm có trong chất thải từ hoạt độngsản xuất, kinh doanh, sinh hoạt của con người với môi trường Bởi vậy, phải

có các biện pháp để không cho các chất thải chứa các chất gây ô nhiễm được

Trang 22

tiếp xúc với môi trường nước hoặc làm các chất gây ô nhiễm trở thành vô hạitrước khi tiếp xúc với môi trường nước, trong trường hợp các chất gây ônhiễm đã tiếp xúc với môi trường nước thì phải ngay lập tức phát hiện và thựchiện các biện pháp để xử lý ô nhiễm để trả lại môi trường nước có chất lượnggiống với môi trường nước trước khi tiếp nhận các chất thải có chứa chất gây

ô nhiễm, đảm bảo được hệ sinh thái thủy sinh sống tại môi trường nước vẫntồn tại và phát triển

Do đó, thực hiện kiểm soát ô nhiễm môi trường nước là rất cần thiết đểbảo vệ môi trường nước và giải quyết vấn nạn ô nhiễm môi trường

1.1.2.3 Đặc điểm của kiểm soát ô nhiễm môi trường nước

Như phân tích ở trên, kiểm soát ô nhiễm môi trường nước có thể coi làthen chốt, chìa khóa để giảm thiểu tình trạng ô nhiễm môi trường nước và bảo

vệ môi trường nước Vây, kiểm soát ô nhiễm môi trường nước có những đặcđiểm như sau:

Về chủ thể của kiểm soát ô nhiễm môi trường nước: Trách nhiệm và

nghĩa vụ bảo vệ môi trường nước không thuộc về riêng bất cứ một chủ thểnào mà là trách nhiệm của toàn xã hội, toàn cộng đồng Bởi vậy, trách nhiệm

và nghĩa vụ kiểm soát ô nhiễm nước cũng thuộc về toàn xã hội

Cơ quan nhà nước có trách nhiệm hoạch định, ban hành các chính sách,quy định pháp luật về kiểm soát ô nhiễm nước và tổ chức thực hiện các quy định

đó một cách hiệu quả; đánh giá hiện trạng tài nguyên nước; xây dựng và thựchiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch bảo vệ tài nguyên nước; quản lý nguồnthải và cấp giấy phép xả thải; xây dựng hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuậtmôi trường; thanh tra, xử lý vi phạm trong lĩnh vực bảo vệ môi trường;…

Tổ chức, cá nhân trong xã hội có nghĩa vụ tuân thủ các quy định củapháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường nước; thực hiện các biện phápnhằm bảo vệ chất lượng, trữ lượng nước trong quá trình khai thác và sử dụng

Trang 23

nguồn nước; xây dựng kế hoạch và thực hiện biện pháp phòng ngừa, ngănchặn, xử lý ô nhiễm môi trường nước kịp thời thông qua việc thực hiện nghĩa

vụ đánh giá tác động môi trường, đóng phí bảo vệ môi trường đối với nướcthải, tham gia và tham vấn vào công tác kiểm soát ô nhiễm môi trường nước…

Về mục đích của kiểm soát ô nhiễm môi trường nước: kiểm soát ô

nhiễm môi trường nước nhằm mục đích cuối cùng là bảo đảm trữ lượng, chấtlượng của các nguồn nước, phòng chống và khắc phục triệt để các hành vi gây

ô nhiễm nước để bảo vệ môi trường nước, gìn giữ và phát triển sự đa dạngsinh học tồn tại ở môi trường nước

Về nội dung của kiểm soát ô nhiễm môi trường nước: công tác KSONMTN

gồm các công việc như sau: phòng ngừa ONMTN, phát hiện ONMTN, ngănchặn ONMTN và xử lý ONMTN Và có thể chia thành ba công đoạn cụ thể

để thực hiện kiểm soát ô nhiễm nước như sau: công đoạn

“phòng ngừa ô nhiễm”, công đoạn “phát hiện – ngăn chặn ô nhiễm”,công đoạn “xử lý – phục hồi ô nhiễm” Đặc biệt, cần quan tâm và chú trọngtới công đoạn “phòng ngừa ô nhiễm” bởi đây là công đoạn thực hiện việc xử

lý các chất gây ô nhiễm có trong nguồn thải không cho chúng tiếp xúc vớimôi trường nước hoặc triệt tiêu khả năng gây ô nhiễm của chúng trước khitiếp xúc với môi trường nước “Phòng ngừa ô nhiễm” là công đoạn đầu tiên

và rất quan trọng vì khi đó chưa phát sinh ô nhiễm nên chúng ta không cầnkiểm soát chặt chẽ để không phát sinh tình trạng ô nhiễm, không phải xử lýhậu quả nặng nề do ô nhiễm gây ra

Về nguyên tắc của kiểm soát ô nhiễm môi trường nước: kiểm soát ô nhiễm

môi trường nước được thực hiện dựa trên hai nguyên tắc chung cơ bản sau:

Nguyên tắc chung một: Ngăn ngừa các chất gây ô nhiễmkhông cho tiếp cận với nguồn nước và các chất đó phải được xử lýthấu đáo, không còn khả năng gây ô nhiễm nước trước khi đi vàonguồn nước

Trang 24

Nguyên tắc chung hai: Mọi quy trình xử lý phải đảm bảo kếtquả cuối cùng là chất lượng nước sạch hỗ trợ cho cuộc sống của cá

và các sinh vật dưới nước; đảm bảo sinh kế bền vững và các giá trị

hỗ trợ cuộc sống của con người [16, tr.60]

Về biện pháp để kiểm soát ô nhiễm môi trường nước: kiểm soát ô

nhiễm môi trường nước đang trở thành nhu cầu bức thiết để bảo vệ môitrường, giảm thiểu ô nhiễm và giải quyết được tình trạng ô nhiễm môi trường

Do đó, cần phải có sự áp dụng các giải pháp một các tổng thể, chặt chẽ vàhoàn chỉnh Cụ thể, cần áp dụng khoa học công nghệ phù hợp để ngăn chặn,phát hiện và xử lý ô nhiễm kết hợp xây dựng hệ thống các quy định pháp luậtchuyên biệt để kiểm soát được ô nhiễm triệt để và hiệu quả Khi kết hợp khoahọc công nghệ, chính sách pháp luật, công cụ kinh tế và có hệ thống quản lý,giám sát một cách đồng bộ, phối hợp nhịp nhàng thì công tác KSONMTNmới đạt hiệu quả

1.2 Những vấn đề lý luận của pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường nước

1.2.1 Khái niệm, đặc điểm của pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường nước

1.2.1.1 Khái niệm pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường nước

Hiện nay, chưa có một định nghĩa cụ thể nào của pháp luật về kiểmsoát ô nhiễm môi trường nước trong quy định của pháp luật hiện hành Tuynhiên, từ định nghĩa về ô nhiễm môi trường, kiểm soát ô nhiễm môi trườngnêu trên và khái niệm mang tính phổ quát về pháp luật nói chung, có thể địnhnghĩa về pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường nước như sau: Pháp luật

về kiểm soát ô nhiễm nước là hệ thống các quy tắc xử sự có tính bắt buộcchung được nhà nước ban hành và đảm bảo thực hiện, nhằm phòng ngừa, pháthiện, xử lý và ngăn chặn ô nhiễm môi trường nước, bao gồm các quy định

Trang 25

pháp luật về trách nhiệm của cơ quan nhà nước có thẩm quyền cũng nhưnghĩa vụ của các tổ chức, cá nhân trong việc phòng ngừa, phát hiện, xử lý vàngăn chặn ô nhiễm nhằm mục tiêu bảo vệ và phát triển nguồn nước.

1.2.1.2 Đặc điểm của pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường nước

Pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường nước là hệ thống các quytắc xử sự chung do đó mang đầy đủ những đặc điểm của một hệ thống phápluật nói chung, ngoài ra sẽ mang những đặc điểm riêng biệt để thể hiện đầy đủtính chất của kiểm soát ô nhiễm môi trường nước Do đó, pháp luật về kiểmsoát ô nhiễm môi trường nước sẽ có những đặc điểm như sau:

Thứ nhất là, pháp luật về KSONMTN là công cụ để kiểm soát ô nhiễm

môi trường nước và bảo vệ môi trường nước, là hệ thống quy tắc xử sự có tínhchất bắt buộc nhằm điều tiết hành vi của các chủ thể trong xã hội để kiểm soát ônhiễm môi trường nước được hiệu quả Với mục đích cuối cùng ngăn chặnkhông cho các chất gây ô nhiễm tiếp xúc với nguồn nước và đảm bảo chất lượngnước sau khi xả thải vẫn duy trì được sự sống của hệ sinh thái hiện tại

Thứ hai là, pháp luật về KSONMTN được xây dựng dựa trên cơ sở nền

tảng khoa học công nghệ xử lý ô nhiễm nước Khoa học công nghệ là một công

cụ cần thiết bậc nhất trong công tác KSONMTN bởi mỗi loại nước thải khácnhau được thải ra từ các nguồn khác nhau chứa các chất gây ô nhiễm khácnhau nên phải có công nghệ phù hợp để xử lý từng loại nước thải đúng cáchđảm bảo không còn khả năng gây ô nhiễm khi tiếp xúc với nguồn nước Ngoài

ra, để KSONMTN được chính xác và hiệu quả buộc chúng ta phải áp dụngkhoa học công nghệ để thống kê và xây dựng một hệ thống số liệu đầy đủ hoànthiện về số lượng và chất lượng nước tại từng khu vực và toàn Quốc gia

Thứ ba là, Pháp luật về KSONMTN quy định trách nhiệm của cơ quan

nhà nước nhà để đảm bảo kiểm soát ô nhiễm môi trường nước được hiệu quả

Trang 26

Bằng trách nhiệm của mình, cơ quan quản lý Nhà nước tổ chức, thực hiện cáccông việc sau: điều tra cơ bản tài nguyên nước; xây dựng hệ thống tiêu chuẩn,quy chuẩn môi trường nước; xây dựng chiến lược, quy hoạch về khai thác, sửdụng, bảo vệ, phát triển tài nguyên nước; thanh tra thực hiện pháp luật về bảo

vệ tài nguyên nước và xử lý vi phạm; cấp giấy phép xả thải

Thứ tư là, Pháp luật về KSONMTN quy định nghĩa vụ của tổ chức, cá

nhân trong xã hội, buộc các chủ thể này điều chỉnh hành vi, tuân thủ, thực hiệnnghiêm chỉnh những quy định của pháp luật về KSONMTN Bên cạnh đó,pháp luật còn quy định các chế tài sẽ áp dụng trong trường hợp các tổ chức, cánhân không tuân thủ, thực hiện nghiêm túc các quy định về KSONMTN Cóthể kể đến các nghĩa vụ của tổ chức cá nhân trong KSONMTN như sau: thựchiện các biện pháp nhằm bảo vệ chất lượng, trữ lượng nước trong quá trìnhkhai thác và sử dụng nguồn nước; xây dựng kế hoạch và thực hiện biện phápphòng ngừa, ngăn chặn, xử lý ô nhiễm môi trường nước kịp thời, thông quaviệc thực hiện đánh giá tác động môi trường, đóng phí bảo vệ môi trườngđối với nước thải, tham gia và tham vấn vào công tác kiểm soát ô nhiễm môitrường nước

Từ khái niệm, đặc điểm của pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môitrường nước được đề cập ở bên trên, có thể thấy việc xây dựng hệ thốngpháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường nước là rất cần thiết và phải dựatrên những cơ sở sau:

Thứ nhất là, xây dựng hệ thống pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi

trường nước phải xuất phát từ thực tiễn Có thể thấy trình công nghiệp hóa,hiện đại hóa, xã hội hóa đưa nền kinh tế của đất nước tăng trưởng mạnh mẽ,nâng cao đời sống của các cá nhân trong xã hội, tuy nhiên đi cùng với đó làvấn nạn ô nhiễm môi trường đặtc biệt là vấn nạn ô nhiễm môi trường nước

Trang 27

Các tổ chức, cá nhân vì mục tiêu lợi nhuận mà đã lờ đi nhiệm vụ bảo vệ môitrường như việc không xây dựng hệ thống xả thải theo quy định, không ápdụng công nghệ xử lý nước thải mà thay vào đó là việc xả thải trực tiếp ra môitrường nước,…Chính vì vậy, hệ thống pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môitrường nước phải được xây dựng dựa trên cơ sở thực tế các mối quan hệ trong

xã hội, các hành vi của chủ thể trong xã hội, theo đó hệ thống pháp luật phảitiên lượng và kịp thời thay đổi để điều chỉnh các hành vi gây ô nhiễm môitrường nước ngày càng tinh vi

Thứ hai là, xây dựng hệ thống pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi

trường nước phải dựa trên cơ sở khoa học công nghệ, bởi khoa học công nghệ

là công cụ kỹ thuật để kiểm soát ô nhiễm môi trường nước hiệu quả Việc ápdụng khoa học công nghệ trong hoạt động quan trắc môi trường; xây dựng hệthống tiêu chuẩn môi trường, quy chuẩn kỹ thuật môi trường;… sẽ giúp chohoạt động kiểm soát ô nhiễm môi trường nước đạt hiệu quả tối đa, bởi các giảipháp về khoa học công nghệ là công cụ để ngăn chặn không cho các chất gây

ô nhiễm tiếp xúc với môi trường nước hoặc làm các chất gây ô nhiễm mất khảnăng gây ô nhiễm trước khi tiếp xúc với môi trường nước

Có thể thấy, việc xây dựng hệ thống pháp luật về kiểm soát ô nhiễmmôi trường hoàn chỉnh và đầy đủ là điều kiện cần, tuy nhiên, để các quyđịnh pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường nước phát huy được tínhkhả thi, đạt hiệu quả cao trong việc kiểm soát ô nhiễm môi trường nước thìrất cần điều kiện đủ - đó là những điều kiện để đảm bảo cho việc thực hiệnpháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường nước Cụ thể để đảm bảo choviệc thực hiện pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường nước hiệu quảcần những điều kiện sau:

Thứ nhất là, hệ thống các quy định pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi

Trang 28

trường nước phải thống nhất, rõ ràng, hoàn chỉnh, toàn diện và khả thi để cóthể đạt hiệu quả trong việc kiểm soát ô nhiễm môi trường nước Bên cạnh đó,những chế tài quy định tại hệ thống pháp luật này cần có đủ sức răn đe đối vớicác chủ thể trong xã hội gây ra ô nhiễm môi trường nước;

Thứ hai là, cần có hệ thống cơ quan nhà nước để thi hành các quy định

của pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường nước, các cơ quan nhà nướcnày được phân chia trách nhiệm, thẩm quyền một cách hợp lý không bị chồngchèo, ngoài ra cần xây dựng bộ máy quản lý kiểm soát ô nhiễm môi trườngnước theo hướng tinh gọn, nhanh nhạy, chính xác Bên cạnh đó, phải thựchiện công tác bồi dưỡng nghiệp vụ đối với cán bộ chuyên trách trong các cơquan nhà nước có thẩm quyền

Thứ ba là, cần tuyên truyền pháp luật đến các cá nhân, cơ quan, tổ chức

để các chủ thể này hiểu, nắm được ý nghĩa và tầm quan trọng to lớn trongcông tác bảo vệ môi trường nước và kiểm soát ô nhiễm môi trường nước đểcác chủ thể có thể vận dụng và tuân thủ pháp luật

1.2.2 Những nội dung cơ bản của pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường nước

Xuất phát từ sự cần thiết và vai trò quan trọng của nước trong đời sốngcủa mỗi con người, cùng với tình trạng ô nhiễm nước đáng báo động, do vậy,cần phải kết hợp nhiều giải pháp để kiểm soát ô nhiễm môi trường nước đạt hiệuquả Trong đó, việc sử dụng công cụ pháp luật để kiểm soát ô nhiễm môi trườngnước là rất cần thiết Nội dung pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường nướcquy định cụ thể trách nhiệm và nghĩa vụ của từng chủ thể tham gia vào việcphòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn và xử lý ô nhiễm Cụ thể như sau:

1.2.2.1 Trách nhiệm của nhà nước trong việc kiểm soát ô nhiễm môi trường nước

*) Điều tra cơ bản tài nguyên nước

Nhà nước thể hiện trách nhiệm quản lý của mình trong việc điều tra cơ

Trang 29

bản tài nguyên nước của mình thông qua công tác đánh giá hiện trạng tàinguyên nước và công tác kiểm kê, thu thập mẫu nước.

“Đánh giá hiện trạng tài nguyên nước là quá trình hoạt động nhằm xác định trữ lượng, chất lượng, tình hình khai thác, sử dụng, bảo vệ tài nguyên nước, nguyên nhân gây ảnh hưởng tiêu cực tới trữ lượng, chất lượng nước quốc gia” [12, tr.195].

Công tác điều tra, đánh giá hiện trạng tài nguyên nước là việc thực hiệnlập bản đồ địa chất; bản đồ tài nguyên nước cho từng vùng nước; xác địnhkhả năng tiếp nhận nước thải của nguồn nước qua đó đưa ra đánh giá sốlượng, chất lượng nguồn nước; đánh giá tình trạng ô nhiễm, suy thoái, cạnkiệt của các nguồn nước để phân loại mức độ ô nhiễm, suy thoái, cạn kiệt củanguồn nước; đưa ra cảnh báo về diễn biến bất thường về số lượng, chất lượngcác nguồn nước Thông qua hoạt động điều tra, đánh giá tài nguyên nước sẽxây dựng hệ thống quan trắc, giám sát ô nhiễm tài nguyên nước; xây dựng hệthống thông tin, cơ sở dữ liệu tài nguyên nước; xây dựng báo cáo tài nguyênnước quốc gia, tỉnh thành phố trực thuộc trung ương, báo cáo khai thác, sửdụng tài nguyên nước của từng ngành, dịch vụ

Mục đích của công tác điều tra, đánh giá hiện trạng tài nguyên nước đểđánh giá tổng quan về tiềm năng của tài nguyên nước để từ đó đưa ra địnhhướng để khai thác, sử dụng, bảo vệ, phát triển tài nguyên nước

Công tác kiểm kê, thu thập mẫu nước là việc thực hiện hoạt động kiểm

kê, thu thập, đo đạc các mẫu nước thải của từng ngành, mẫu nước sinh hoạt,

… để kiểm định, phân tích, đánh giá chất lượng, số lượng của các nguồn nướcthông qua đó xây dựng hệ thống số liệu tổng thể, toàn diện cho từng nguồnnước, từng khu vực Mục đích của công tác kiểm kê, thu thập mẫu nước làtheo dõi có hệ thống diễn biến tình hình khai thác, sử dụng, tác động tới cácthành phần trong nguồn nước của hoạt động sinh hoạt và hoạt động sản xuất

Trang 30

kinh doanh, xác định chính xác các yếu tố tác động lên môi trường, nguồn gây

ô nhiễm, suy thoái, cạn kiệt tài nguyên nước Một trong những công cụ đểkiểm kê, thu thập mẫu nước là hoạt động quan trắc môi trường

Hoạt động điều tra cơ bản tài nguyên nước có vai trò rất quan trọngtrong công tác KSONMTN bởi những lý do như sau:

Thứ nhất là, giúp xây dựng một hệ thống số liệu khoa học toàn diện

đầy đủ về các thành phần trong môi trường nước qua đó đánh giá được hiệntrạng tài nguyên nước cho từng khu vực tại từng khoảng thời gian cụ thể

Thứ hai là, từ hệ thống số liệu khoa học là kết quả của hoạt động đánh

giá hiện trạng tài nguyên nước, cơ quan nhà nước tiến hành dự báo những tácđộng xấu đến tài nguyên nước Điều này giúp các tổ chức, cá nhân có thể biếtđược hiện trạng môi trường nước tại khu vực nước mình đang khai thác, sửdụng để điều chỉnh hành vi của mình nhằm đảm bảo an toàn, tiết kiệm và sửdụng hiệu quả tài nguyên nước Qua đó, thực hiện các biện pháp bảo vệ phùhợp với thực trạng tài nguyên nước tại từng thời điểm và địa bàn cụ thể

Thẩm quyền thực hiện công tác điều tra cơ bản tài nguyên nước thuộcđược phân cấp như sau: Bộ Tài nguyên và Môi trường có trách nhiệm quản lýhoạt động điều tra cơ bản tài nguyên nước, tổng hợp số liệu và xây dựng hệthống toàn diện và đầy đủ các số liệu về thành phần môi trường nước tại từngkhu vực ở cùng một thời điểm; Bộ, cơ quan ngang bộ, Uỷ ban nhân dân cấptỉnh có trách nhiệm tổ chức, thực hiện điều tra cơ bản tài nguyên nước theo sựphân cấp của Chính phủ

*) Xây dựng và thực hiện chiến lược, quy hoạch bảo vệ tài nguyên nước

Chiến lược bảo vệ tài nguyên nước có thể hiểu là những nhiệm vụlớn, mục tiêu lớn mang tính tổng thể, được Nhà nước xây dựng và chỉ đạothực hiện trong thời gian dài nhằm khai thác và sử dụng hợp lý, tiết kiệm,

Trang 31

hiệu quả tài nguyên nước, phòng chống, khắc phục hậu quả tác hại do nướcgây ra [12, tr.199].

Chiến lược bảo vệ tài nguyên nước có vai trò là một tầm nhìn và mụctiêu dài hạn đối với việc quản lý, bảo vệ, phát triển tài nguyên nước và việckhai thác, sử dụng tài nguyên nước Đồng thời, chiến lược bảo vệ tài nguyênnước cũng đề ra định hướng, nhiệm vụ và các giải pháp để khai thác, sử dụng,bảo vệ tài nguyên nước, ứng phó với các sự cố, phòng, chống và khắc phụchậu quả do nước gây ra một cách hiệu quả

Bên cạnh việc xây dựng và thực hiện chiến lược bảo vệ tài nguyênnước thì việc xây dựng và thực hiện quy hoạch bảo vệ tài nguyên nước cũng

rất quan trọng và cần thiết Dựa trên định nghĩa về

Quy hoạch bảo vệ môi trường là việc phân vùng môi trường

để bảo tồn, phát triển và thiết lập hệ thống hạ tầng kỹ thuật bảo vệmôi trường gắn với hệ thống giải pháp bảo vệ môi trường trong sựliên quan chặt chẽ với quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hộinhằm bảo đảm phát triển bền vững [28, Điều 3, Khoản 21]

Chúng ta có thể rút ra định nghĩa về quy hoạch bảo vệ tài nguyên nước

như sau: Quy hoạch bảo vệ tài nguyên nước là hoạt động của cơ quan nhà

nước có thẩm quyền nhằm phân vùng, phân loại môi trường nước để bảo tồn,phát triển tài nguyên nước thông qua hoạt động đánh giá trữ lượng, chấtlượng, sự vận động của các nguồn nước trong phạm vi từng khu vực, từng địaphương và trong cả nước Phải luôn gắn kết chặt chẽ giữa quy hoạch bảo vệtài nguyên nước và quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội để đảm bảophát triển bền vững

Nền tảng để xây dựng chiến lược, quy hoạch về bảo vệ phát triển tàinguyên nước có thể kể đến các yếu tố như sau:

Thứ nhất là, việc xây dựng chiến lược, quy hoạch về bảo vệ tài nguyên

Trang 32

nước đầu tiên phải dựa trên điều kiện kinh tế của quốc gia, từng khu vực, địaphương Chiến lược, quy hoạch phát triển kinh tế xã hội của từng khu vực, địaphương phải gắn liền với chiến lược, quy hoạch bảo vệ tài nguyên nước củakhu vực, địa phương đó nhằm bảo vệ môi trường, cảnh quan thiên nhiên vàphát triển bền vững, luôn đảm bảo tính toàn diện giữa nước mặt và nước dướiđất, giữa khai thác và sử dụng để tăng hiệu quả sử dụng tài nguyên nước.

Thứ hai là, dựa trên đặc tính của nước là sự luân chuyển liên tục từ khu

vực này sang khu vực khác do vậy quy hoạch bảo vệ tài nguyên nước khôngnhất thiết phải theo địa giới hành chính mà cần dựa vào sự vận động, khảnăng ổn định của nguồn nước; dựa vào sự phát triển kinh tế của từng khu vực

sẽ tác động đến trữ lượng và chất lượng nước để từ đó xác định hình thức,mục đích sử dụng, bảo vệ, phát triển tài nguyên nước phù hợp

Song song với việc xây dựng chiến lược, quy hoạch bảo vệ tài nguyênnước, đối với việc xây dựng và điều chỉnh chiến lược, quy hoạch khai thác, sửdụng tài nguyên nước quy mô từ 02 tỉnh trở lên, … cơ quan tổ chức được giaonhiệm vụ xây dựng và điều chỉnh chiến lược, quy hoạch này bắt buộc phảithực hiện đánh giá môi trường chiến lược Việc đánh giá môi trường chiếnlược sẽ đánh giá được tổng quan tài nguyên nước và kinh tế- xã hội ở khu vực

đó, phân tích và dự báo sự tác động của chiến lược, quy hoạch sẽ tác động lêntài nguyên nước như thế nào trên cơ sở đó đưa ra các giải pháp giảm thiểunhững tác động tiêu cực, bất lợi đến môi trường nước

Thẩm quyền trong việc xây dựng chiến lược, quy hoạch bảo vệ môitrường nước được phân cấp như sau:

Về xây dựng chiến lược bảo vệ môi trường nước do Bộ Tài nguyên và

Môi trường phối hợp cùng các Bộ, cơ quan ngang bộ và Uỷ ban nhân dân cấptỉnh thực hiện

Trang 33

Về lập, phê duyệt quy hoạch bảo vệ môi trường nước do Bộ Tài nguyên

và Môi trường phối hợp cùng các Bộ, cơ quan ngang bộ lập, phê duyệt quyhoạch tài nguyên nước chung, quy hoạch tài nguyên nước lưu vực sông liêntỉnh; Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh lập quy hoạch tài nguyên nước của tỉnh

*) Cấp giấy phép xả thải

Để đảm bảo phòng tránh được tình trạng ô nhiễm, suy thoái và cạn kiệttài nguyên nước, buộc hoạt động kiểm soát ô nhiễm môi trường nước phảikiểm soát được lượng nước thải từ các nguồn thải xả ra môi trường nước thôngqua việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy phép xả thải cho các chủthể trong xã hội thực hiện thăm dò, khai thác, sử dụng tài nguyên nước

Giấy phép xả nước thải vào nguồn nước được hiểu là một sự cho phépcủa cơ quan nhà nước trong việc xả nước thải vào nguồn nước nhưng phảiđảm đảo được việc xả thải không gây ô nhiễm môi trường, không làm suythoái, cạn kiệt tài nguyên nước

Tầm quan trọng của việc cấp giấy phép xả thải thể hiện qua những vaitrò sau: hoạt động cấp giấy phép xả thải giúp kiểm soát chặt chẽ được nguồnthải xả vào môi trường nước từ đó Nhà nước có căn cứ để quản lý hiệu quả tàinguyên nước, hạn chế việc khai thác, sử dụng tài nguyên nước bừa bãi, gópphần vào việc bảo vệ trữ lượng và chất lượng nước quốc gia Bên cạnh đó,hoạt động cấp giấy phép xả thải vào nguồn nước còn góp phần bảo vệ quyền

và lợi ích cho các chủ thể khai thác, sử dụng tài nguyên nước

Việc cấp giấy xả thải vào nguồn nước phải được thực hiện dựa trênnhững cơ sở sau:

Thứ nhất là, việc cấp giấy phép xả thải phải dựa trên quy hoạch bảo vệ

tài nguyên nước Khi xây dựng quy hoạch bảo vệ tài nguyên nước cơ quanNhà nước có thẩm quyền sẽ phân môi trường nước thành từng vùng để bảo

Trang 34

tồn, phát triển Do đó, khi thực hiện xem xét cấp giấy phép xả thải vào từngvùng nước phải đảm bảo được quy hoạch đã được xây dựng và phê duyệtnhằm mục đích bảo vệ môi trường nước, phòng chống ô nhiễm, suy thoái vàcạn kiệt tài nguyên nước.

Thứ hai là, việc cấp giấy phép xả thải vào nguồn nước phải dựa trên

căn cứ của tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật về môi trường Bởi tiêu chuẩn, quychuẩn kỹ thuật môi trường là mức giới hạn của các thông số về chất lượng,hàm lượng các chất gây ô nhiễm có trong chất thải sẽ được xả thải vào môitrường nước Bởi vậy, mỗi chủ thể trong xã hội khi thực hiện xả thải vàonguồn nước đều phải thực hiện xử lý nước thải tại cơ sở cho phù hợp với cáctiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật môi trường được cho phép trước khi xả thải

Thứ ba là, việc cấp giấy phép xả thải vào nguồn nước phải căn cứ vào

hiện trạng nguồn nước, khả năng tự làm sạch của nguồn nước và khả năngtiếp nhận nước thải Đặc tính đặc trưng của nước là sự tự làm sạch, sự tự làmsạch này sẽ phụ thuộc vào lượng các chất gây ô nhiễm, lưu lượng nguồnnước, điều kiện thủy động của dòng chảy,… Để cấp giấy phép xả thải vàonguồn nước ngoài việc đánh giá khả năng tự làm sạch của nguồn nước, chúng

ta cần căn cứ vào hệ thống số liệu khoa học về các thành phần trong môitrường nước cho từng khu vực tại từng khoảng thời gian cụ thể là kết quả củahoạt động đánh giá hiện trạng môi trường nước, để từ đó đánh giá được khảnăng tiếp nhận nước thải của nguồn nước và là căn cứ để cấp giấy phép xảthải vào nguồn nước

Căn cứ vào lưu lượng xả thải, nguồn tiếp nhận nước thải mà thẩmquyền cấp giấy phép xả thải vào nguồn nước sẽ thuộc về Bộ Tài nguyên vàMôi trường hay Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn hoặc Uỷ ban nhândân cấp tỉnh

Trang 35

*) Xây dựng hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật môi trường

Tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật được định nghĩa như sau tại Luật tiêuchuẩn, quy chuẩn kỹ thuật 2006:

Tiêu chuẩn là quy định về đặc tính kỹ thuật và yêu cầu quản

lý dùng làm chuẩn để phân loại, đánh giá sản phẩm, hàng hoá, dịch

vụ, quá trình, môi trường và các đối tượng khác trong hoạt độngkinh tế - xã hội nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả của các đốitượng này Tiêu chuẩn do một tổ chức công bố dưới dạng văn bản để

tự nguyện áp dụng [25, Điều 2, Khoản 1]

Quy chuẩn kỹ thuật là quy định về mức giới hạn của đặc tính

kỹ thuật và yêu cầu quản lý mà sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ, quátrình, môi trường và các đối tượng khác trong hoạt động kinh tế - xãhội phải tuân thủ để bảo đảm an toàn, vệ sinh, sức khoẻ con người;bảo vệ động vật, thực vật, môi trường; bảo vệ lợi ích và an ninhquốc gia, quyền lợi của người tiêu dùng và các yêu cầu thiết yếukhác Quy chuẩn kỹ thuật do cơ quan nhà nước có thẩm quyền banhành dưới dạng văn bản để bắt buộc áp dụng [25, Điều 2, Khoản 2].Ngoài ra, tại Luật Bảo vệ môi trường 2014 đưa ra định nghĩa như sau

về tiêu chuẩn môi trường, quy chuẩn kỹ thuật môi trường:

Tiêu chuẩn môi trường là mức giới hạn của các thông số vềchất lượng môi trường xung quanh, hàm lượng của các chất gây ônhiễm có trong chất thải, các yêu cầu kĩ thuật và quản lý được cơquan nhà nước có thẩm quyền ban hành dưới dạng văn bản nhưngkhông bắt buộc phải áp dụng trừ khi toàn bộ hoặc một phần của tiêuchuẩn môi trường được viện dẫn trong văn bản quy phạm pháp luật,quy chuẩn kỹ thuật môi trường [28, Điều 3, Khoản 6]

Quy chuẩn kỹ thuật môi trường là mức giới hạn của cácthông số về chất lượng môi trường xung quanh, hàm lượng của các

Trang 36

chất gây ô nhiễm có trong chất thải, các yêu cầu kĩ thuật và quản lýđược cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành dưới dạng văn bảnbắt buộc áp dụng để bảo vệ môi trường [28, Điều 3, Khoản 5].Vậy từ các định nghĩa trên có thể thấy tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuậtmôi trường giữ một vai trò đặc biệt quan trọng trong công tác kiểm soát ônhiễm môi trường nước, có thể kể đến những vai trò như:

Thứ nhất là, tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật môi trường là cơ sở khoa

học để xác định chất lượng môi trường sống của con người, xác định mức độ

ô nhiễm của môi trường nước, xác định các biện pháp ngăn chặn, khắc phụctình trạng ô nhiễm môi trường nước Qua đó là căn cứ để đánh giá hiện trạngmôi trường nước, dự báo tình hình môi trường nước trong một khoảng thờigian cụ thể;

Thứ hai là, tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật môi trường là giúp xác định

được phạm vi, giới hạn mà các chủ thể đang khai thác, sử dụng nước đượcphép tác động đến môi trường nước;

Thứ ba là, tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật môi trường là căn cứ pháp lý

để cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định tính chất, mức độ nguy hiểmcủa từng hành vi gây ô nhiễm môi trường nước từ đó áp dụng các biện pháp

xử lý hành chính hoặc hình sự theo quy định của pháp luật

Từ những vai trò quan trọng nêu trên, chúng ta có thể thấy tiêu chuẩn,quy chuẩn kỹ thuật môi trường vừa là công cụ kỹ thuật vừa là công cụ pháp lý

để kiểm soát ô nhiễm môi trường nước Ngoài ra, tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹthuật môi trường còn có những đặc điểm sau:

Thứ nhất là, đối với từng nguồn nước phải xây dựng các tiêu chuẩn,

quy chuẩn kỹ thuật môi trường khác nhau tùy thuộc vào tính chất và mục đíchkhai thác, sử dụng Do vậy, tổ chức, cá nhân đang khai thác sử dụng tài nguyênnước hay cơ quan nhà nước có thẩm quyền đang quản lý việc khai thác sử dụngnước phải nắm chắc được đầy đủ các tiêu chuẩn môi trường nước

Trang 37

Thứ hai là, việc xây dựng hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật môi

trường phải đảm bảo mục đích bảo vệ sức khỏe con người, có nghĩa là cáctiêu chuẩn phải được xây dựng dựa trên cơ sở nghiên cứu sự tác động củanước đối với sức khỏe con người từ đó ban hành giới hạn tiêu chuẩn mà tronggiới hạn đó con người được bảo vệ sức khỏe và phát triển bình thường; đảmbảo mục đích bảo vệ sự đa dạng của hệ sinh thái, có nghĩa là các tiêu chuẩn,quy chuẩn kỹ thuật môi trường phải được xây dựng trên cơ sở nghiên cứu mốiquan hệ giữa tài nguyên nước và hệ sinh thái nhằm mục tiêu duy trì và pháttriển hệ sinh thái; đảm bảo mục đích phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội củađất nước và khả năng thực hiện trên thực tế

Thứ ba là, khoa học công nghệ là nền tảng để xây dựng hệ thống tiêu

chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật môi trường Do đó, để xây dựng được hệ thốngtiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật môi trường phù hợp với thực tế buộc chúng taphải có các chính sách đầu tư nghiên cứu và phát triển khoa học công nghệ xử

lý nước thải một cách hệ thống và bài bản

Thẩm quyền ban hành các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật môi trường

do Bộ Tài nguyên và Môi trường thực hiện

*) Công tác thanh tra việc thực hiện pháp luật và xử lý vi phạm

Đối với hoạt động kiểm soát ô môi trường nước công tác thanh tra sẽgiúp phát hiện các hành vi gây ô nhiễm nước, suy thoái nước; phát hiện hiệntrạng về ô nhiễm tại các khu vực để từ đó đưa ra các biện pháp ngăn chặn, xử

lý ô nhiễm môi trường nước một cách kịp thời và hiệu quả Ngoài ra, công tácthanh tra còn có mục đích kiểm soát việc tuân thủ pháp luật của các chủ thểtrong quá trình khai thác, sử dụng tài nguyên nước

Thanh tra việc thực hiện pháp luật về tài nguyên nước là hoạtđộng do cơ quan nhà nước có thẩm quyền tiến hành theo thủ tục,trình tự nhất định, nhằm phát hiện, ngăn chặn, xử lý những hành vi

Trang 38

vi phạm về pháp luật tài nguyên nước, góp phần bảo vệ, phát triểntài nguyên nước [12, tr.206].

Từ khái niệm về thanh tra nêu trên và mục đích của công tác thanh tra,chúng ta có thể thấy công tác thanh tra việc thực hiện pháp luật có những đặcđiểm như sau:

Thứ nhất là, công tác thanh tra được thực hiện nhằm mục đích kiểm

soát việc thực hiện, tuân thủ pháp luật của các chủ thể; phát hiện gây ô nhiễmmôi trường, suy thoái, cạn kiệt tài nguyên nước

Thứ hai là, khi thực hiện công tác thanh tra cần có sự kết hợp nhuần

nhuyễn giữa công cụ pháp luật và công cụ khoa học kỹ thuật Công cụ khoahọc kỹ thuật sẽ giúp cho việc thực hiện công tác chuyên môn về đo đạc, lấy sốliệu, phân tích để đưa ra đánh giá chính xác về trữ lượng, chất lượng nước củakhu vực đó Cùng với những căn cứ về các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuậtmôi trường được quy định tại pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trườngnước, để phát hiện hành vi gây ô nhiễm môi trường và xác định trách nhiệmcủa các chủ thể để xử lý

Thứ ba là, công tác thanh tra sẽ giúp phát hiện các vi phạm của các chủ

thể, phát hiện các vùng nước bị ô nhiễm, phát hiện ra nguyên nhân gây ô nhiễm

để thực hiện công tác kiểm soát ô nhiễm môi trường nước một cách hiệu quả.Bên cạnh đó, cũng sẽ phát hiện ra những bất cập của các quy định pháp luật,việc thực hiện pháp luật trong công tác kiểm soát ô nhiễm môi trường nước để

có những kiến nghị giải pháp để hoàn thiện pháp luật KSONMTN

Thẩm quyền thực hiện công tác thanh tra do thanh tra chuyên ngành vềmôi trường nước thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường, Sở Tài nguyên và Môitrường thực hiện

Khi phát hiện ra các vi phạm về việc tuân thủ quy định pháp luật vềkiểm soát ô nhiễm môi trường nước gây ô nhiễm môi trường nước, suy thoái,

Trang 39

cạn kiệt tài nguyên nước, phá hủy hệ sinh thái thủy sinh tại vùng nước đó thìcần có các biện pháp xử lý những vi phạm này.

Xử lý vi phạm là hoạt động của cơ quan nhà nước có thẩm quyền truycứu trách nhiệm pháp lý đối với các chủ thể có hành vi vi phạm pháp luật tàinguyên nước gây ra những ảnh hưởng đến môi trường nước Tùy thuộc vàotính chất, mức độ vi phạm của hành vi mà sẽ áp dụng trách nhiệm pháp lýkhác nhau như: trách nhiệm hành chính, trách nhiệm dân sự hoặc tráchnhiệm hình sự

Trách nhiệm hành chính là việc xử lý những hành vi vi phạm các quy

định quản lý nhà nước trong lĩnh vực bảo vệ môi trường do các tổ chức, cánhân thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, không bắt buộc phải có dấu hiệu củahậu quả thiệt hại xảy ra Các biện pháp được sử dụng để áp dụng trách nhiệmhành chính là: cảnh cáo, phạt tiền và các biện pháp khắc phục hậu quả

Trách nhiệm hành chính sẽ được áp dụng trên những nguyên tắc sau:

Thứ nhất là, nguyên tắc xử lý kịp thời: mọi vi phạm các quy định do

các tổ chức, cá nhân thực hiện đều được xử lý và ngăn chặn kịp thời.Việc xửphạt phải tiến hành nhanh chóng, công minh, triệt để nhằm hạn chế, khắcphục để hậu quả của hành vi vi phạm đó gây ra là ở mức thấp nhất

Thứ hai là, nguyên tắc xử lý công minh: chỉ khi thực hiện các hành

vi vi phạm thì các chủ thể mới bị xử lý vi phạm hành chính Thể hiện ởchỗ, một hành vi vi phạm hành chính chỉ bị xử phạt vi phạm hành chínhmột lần, một chủ thể thực hiện nhiều hành vi vi phạm hành chính thì sẽ bị

xử phạt cho từng hành vi vi phạm của mình, nhiều chủ thể cùng vi phạmmột hành vi vi phạm hành chính thì từng chủ thể sẽ bị xử phạt cho hành vi

vi phạm của mình gây ra

Thứ ba là, nguyên tắc áp dụng các biện pháp xử lý thích hợp: khi áp

dụng các biện pháp xử lý vi phạm hành chính đều phải căn cứ vào tính chất,

Trang 40

mức độ của vi phạm; những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ để đưa ra quyết địnhhình thức xử lý và áp dụng biện pháp xử lý phù hợp.

Trách nhiệm hình sự: áp dụng đối với tổ chức, cá nhân thực hiện hành

vi gây hậu quả nghiêm trọng cho môi trường nước và có các yếu tố cấu thànhnên tội phạm Việc thực hiện các hành vi của tổ chức, cá nhân đều do lỗi cố ýmặc dù các tổ chức, cá nhận thức rõ ràng về việc hành vi của mình sẽ gây hại

và nguy hiểm cho môi trường nước nhưng vẫn cố ý thực hiện hành vi đó Cácbiện pháp được sử dụng để áp dụng trách nhiệm hình sự là: phạt tiền, phạt cảitạo không giam giữ, phạt tù và các hình phạt bổ sung

Trách nhiệm dân sự: áp dụng đối với các tổ chức, cá nhân thực hiện

các hành vi vi phạm pháp luật, mục đích của trách nhiệm này nhằm giải quyếthậu quả do hành vi đó gây ra bằng việc buộc các tổ chức, cá nhân gây ra hành

vi vi phạm phải chịu mọi chi phí để phục hồi môi trường và bồi thường chonhững người bị hại do hành vi đó gây ra Trách nhiệm dân sự chỉ được ápdụng khi chứng minh được các yếu tố như sau: có hành vi vi phạm pháp luậtxảy ra, có thiệt hại xảy ra từ hành vi vi phạm pháp luật đó, có mối quan hệnhân quả giữa thiệt hại và hành vi vi phạm pháp luật đó

1.2.2.2 Nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân trong việc kiểm soát ô nhiễm môi trường nước

Trách nhiệm bảo vệ tài nguyên nước không thuộc riêng về cơ quannhà nước mà còn cần sự chung tay góp sức của tổ chức, cá nhân trong xãhội Bởi các tổ chức, cá nhân là các chủ thể trong xã hội thực hiện việc khaithác và sử dụng trực tiếp nguồn nước Tổ chức, cá nhân có nghĩa vụ bảo vệchất lượng trữ lượng tài nguyên nước thông qua việc tuân thủ các quy địnhcủa pháp luật không được thực hiện những hành vi gây tổn hại đến chấtlượng, trữ lượng nước, gây ô nhiễm, suy thoái và cạn kiệt tài nguyên nước

Để kiểm soát ô nhiễm môi trường nước, các tổ chức, cá nhân cần thực hiệncác nghĩa vụ như sau:

Ngày đăng: 10/11/2019, 09:51

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Hoàng Ánh, Nguyễn Phan Thùy Linh, Trần Thế Loan (2014),“Kiểm soát ô nhiễm nước tại Việt Nam - Cơ hội và thách thức” , Tạp chí môi trường, chuyên đề I Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Kiểm soát ô nhiễm nước tại Việt Nam - Cơ hội và thách thức”
Tác giả: Nguyễn Hoàng Ánh, Nguyễn Phan Thùy Linh, Trần Thế Loan
Năm: 2014
2. Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (2004), Quyết định của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn số 56/2004/QĐ-BNN ngaày 01/11/2004 quy định về thẩm quyền, thủ tục cấp giấy phép xả nước thải vào hệ thống công trình thủy lợi, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định của Bộtrưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn số 56/2004/QĐ-BNNngaày 01/11/2004 quy định về thẩm quyền, thủ tục cấp giấy phép xảnước thải vào hệ thống công trình thủy lợi
Tác giả: Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn
Năm: 2004
3. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2012), Báo cáo môi trường nước mặt 2012, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo môi trường nước mặt2012
Tác giả: Bộ Tài nguyên và Môi trường
Năm: 2012
4. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2014), Thông tư số 27/2014/TT-BTNMT ngày 30/05/2014 quy định việc đăng ký khai thác nước dưới đất, mẫu hồ sơ cấp, gia hạn, điều chỉnh, cấp lại giấy phép tài nguyên nước, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 27/2014/TT-BTNMTngày 30/05/2014 quy định việc đăng ký khai thác nước dưới đất, mẫu hồsơ cấp, gia hạn, điều chỉnh, cấp lại giấy phép tài nguyên nước
Tác giả: Bộ Tài nguyên và Môi trường
Năm: 2014
5. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2015), Báo cáo hiện trạng môi trường quốc gia năm 2011-2015, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo hiện trạng môi trườngquốc gia năm 2011-2015
Tác giả: Bộ Tài nguyên và Môi trường
Năm: 2015
6. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2015), Thông tư số 27/2015/TT-BTNMT ngày 29/05/2015 về đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường và kế hoạch bảo vệ môi trường, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 27/2015/TT-BTNMTngày 29/05/2015 về đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác độngmôi trường và kế hoạch bảo vệ môi trường
Tác giả: Bộ Tài nguyên và Môi trường
Năm: 2015
7. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2016), Thông tư 31/2016/TT-BTNMT ngày 14/10/2016 về bảo vệ môi trường cụm công nghiệp, khu kinh doanh, dịch vụ tập trung, làng nghề và cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư 31/2016/TT-BTNMT ngày14/10/2016 về bảo vệ môi trường cụm công nghiệp, khu kinh doanh, dịchvụ tập trung, làng nghề và cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ
Tác giả: Bộ Tài nguyên và Môi trường
Năm: 2016
8. Chính phủ (2013), Nghị định 201/2013/NĐ-CP ngày 27/11/2013 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật tài nguyên nước, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định 201/2013/NĐ-CP ngày 27/11/2013 củaChính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật tài nguyênnước
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2013
9. Chính phủ (2015), Nghị định 18/2015/NĐ-CP ngày 14/02/2015 quy định về quy hoạch bảo vệ môi trường, đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường và kế hoạch bảo vệ môi trường, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định 18/2015/NĐ-CP ngày 14/02/2015 quy địnhvề quy hoạch bảo vệ môi trường, đánh giá môi trường chiến lược, đánhgiá tác động môi trường và kế hoạch bảo vệ môi trường
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2015
10. Chính phủ (2016), Nghị định 154/2016/NĐ-CP ngày 16/11/2016 về phí bảo vệ môi trường đối với nước thải, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định 154/2016/NĐ-CP ngày 16/11/2016 về phíbảo vệ môi trường đối với nước thải
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2016
11. Thiên Lý (2014), “Chính sách quản lý ô nhiễm nước tại Nhật Bản”, Tạp chí môi trường, Chuyên đề I Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Chính sách quản lý ô nhiễm nước tại Nhật Bản”
Tác giả: Thiên Lý
Năm: 2014
12. Lê Hồng Hạnh, Vũ Thu Hạnh (2017), Giáo trình luật môi trường, Nxb Công an nhân dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình luật môi trường
Tác giả: Lê Hồng Hạnh, Vũ Thu Hạnh
Nhà XB: NxbCông an nhân dân
Năm: 2017
13. Bùi Đức Hiển (2017), “Thực trạng chính sách pháp luật về sự tham gia của cộng đồng dân cư trong bảo vệ môi trường ở Việt Nam hiện nay” , Tạp chí môi trường (8) Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Thực trạng chính sách pháp luật về sự tham giacủa cộng đồng dân cư trong bảo vệ môi trường ở Việt Nam hiện nay”
Tác giả: Bùi Đức Hiển
Năm: 2017
14. Nguyễn Quốc Hùng (2017), Pháp luật về phòng chống và khắc phục ô nhiễm nguồn nước – Thực tiễn áp dụng tại tỉnh Quảng Bình , Luận văn thạc sĩ Luật học, Khoa luật - Đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp luật về phòng chống và khắc phục ônhiễm nguồn nước – Thực tiễn áp dụng tại tỉnh Quảng Bình
Tác giả: Nguyễn Quốc Hùng
Năm: 2017
15. Trần Thị Thu Hường (2016), “Tăng cường hiệu quả xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường”, Tạp chí môi trường (12) Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Tăng cường hiệu quả xử lý vi phạm hànhchính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường”
Tác giả: Trần Thị Thu Hường
Năm: 2016
17. Nguyễn Ngọc Lý (2018), “Ô nhiễm nước và sự cần thiết xây dựng Luật kiểm soát ô nhiễm nước tại Việt Nam”, Tạp chí môi trường (3) Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Ô nhiễm nước và sự cần thiết xây dựng Luậtkiểm soát ô nhiễm nước tại Việt Nam”
Tác giả: Nguyễn Ngọc Lý
Năm: 2018
18. Vũ Nhung (2018), “Nâng cao hiệu quả công tác thanh tra về tài nguyên môi trường”, Tạp chí môi trường (3) Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Nâng cao hiệu quả công tác thanh tra về tài nguyênmôi trường”
Tác giả: Vũ Nhung
Năm: 2018
19. Hoàng Oanh (2017), “Mối quan tâm của cộng đồng doanh nghiệp về các vấn đề môi trường”, Tạp chí môi trường (5) Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Mối quan tâm của cộng đồng doanh nghiệp về cácvấn đề môi trường”
Tác giả: Hoàng Oanh
Năm: 2017
20. Nguyễn Thị Ái Phương (2014), “Luật kiểm soát phòng ngừa ô nhiễm nước của Trung Quốc, bài học kinh nghiệm cho Việt Nam”, Tạp chí môi trường, Chuyên đề Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Luật kiểm soát phòng ngừa ô nhiễmnước của Trung Quốc, bài học kinh nghiệm cho Việt Nam”
Tác giả: Nguyễn Thị Ái Phương
Năm: 2014
21. Nguyễn Thị Phương (2010), Pháp luật tài nguyên nước Việt Nam trong điều kiện kinh tế thị trường, Luận văn thạc sỹ luật học, Khoa Luật - Đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp luật tài nguyên nước Việt Nam trongđiều kiện kinh tế thị trường
Tác giả: Nguyễn Thị Phương
Năm: 2010

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w