Người dưới 18 tuổi, chủ thể đặc biệt của pháp luật nói chung và tố tụng hình sự nói riêng. Là những người đang ở giai đoạn hình thành nhân cách và luôn có xu hướng muốn khẳng định mình nên dễ bị lôi kéo, dụ dỗ. Vì vậy, người dưới 18 tuổi cần được pháp luật bảo đảm một cách tốt nhất quyền, lợi ích của một công dân bằng những quy định pháp luật riêng biệt.
Trang 1NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐẢM BẢO QUYỀN BÀO CHỮA CỦA
NGƯỜI BỊ BUỘC TỘI LÀ NGƯỜI DƯỚI 18 TUỔI TRONG TTHS 1
1.1 Khái niệm quyền bào chữa của người bị buộc tội 1
1.1.1 Khái niệm quyền bào chữa 1
1.1.2 Khái niệm người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi 4
1.1.3 Ý nghĩa của việc đảm bảo quyền bào chữa của người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi 6
1.2 Cơ sở pháp lý – cơ sở lý luận – cơ sở thực tiễn của việc đảm bảo quyền bào chữa của người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi 11
1.2.1 Cơ sở pháp lý 11
1.2.2 Cơ sở lý luận 14
1.2.3 Cơ sở thực tiễn 15
1.3 Cơ chế đảm bảo quyền bào chữa của người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi 15
1.3.1 Đảm bảo bằng các quy định pháp luật 16
1.3.2 Đảm bảo quyền khiếu nại của người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi 16 1.3.3 Đảm bảo bằng cơ chế giám sát của Viện kiểm sát 17
1.3.4 Đảm bảo về mặt nhận thức 18
1.4 Lược sử hình thành và phát triển của quy định về đảm bảo quyền bào chữa của người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi từ sau CMT8 1945 đến trước khi Bộ luật tố tụng hình sự 2015 có hiệu lực thi hành 18
1.4.1 Các quy định về đảm bảo quyền bào chữa của người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi từ sau CMT8 1945 đến trước khi Bộ luật tố tụng hình sự 1988 có hiệu lực thi hành 19
1.4.2 Các quy định về đảm bảo quyền bào chữa của người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi theo Bộ luật tố tụng hình sự 1988 21
Trang 2PHÁP LUẬT THỰC ĐỊNH VỀ ĐẢM BẢO QUYỀN BÀO CHỮA CỦA NGƯỜI BỊ
BUỘC TỘI LÀ NGƯỜI DƯỚI 18 TUỔI VÀ THỰC TRẠNG ÁP DỤNG 25
2.1 Đảm bảo quyền bào chữa của người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự 2015 25
2.1.1 Đảm bảo quyền bào chữa thông qua nguyên tắc cơ bản của pháp luật tố tụng hình sự 25
2.1.2 Đảm bảo quyền bào chữa của người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi thông qua quyền tự bào chữa 27
2.1.3 Đảm bảo quyền bào chữa của người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi thông qua quyền nhờ người khác bào chữa 30
2.1.4 Đảm bảo quyền bào chữa của người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi thông qua quyền có người bào chữa chỉ định 36
2.2 Trách nhiệm của các cơ quan tiến hành tố tụng trong việc bảo đảm quyền bào chữa của người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi 40
2.3 Thực tiễn áp dụng các quy định pháp luật tố tụng hình sự nhằm đảm bảo quyền bào chữa của người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi 42
2.3.1 Những kết quả đạt được trong việc đảm bảo quyền bào chữa của người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi trong TTHS 42
2.3.2 Những bất cập, hạn chế trong việc đảm bảo quyền bào chữa của người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi trong tố tụng hình sự 45
2.3.2.1 Những bất cập trong quy định của pháp luật 45
2.3.2.2 Những bất cập trong việc áp dụng pháp luật 48
CHƯƠNG 3 52
Trang 33.1 Định hướng hoàn thiện việc đảm bảo quyền bào chữa của người bị buộc tội là
người dưới 18 tuổi 52
3.2 Một số giải pháp 54
3.2.1 Giải pháp về hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự 54
3.2.2 Những giải pháp khác 57
3.2.2.1 Công tác hướng dẫn áp dụng Bộ luật tố tụng hình sự 2015 57
3.2.2.2 Giải pháp về con người 58
3.2.2.3 Giải pháp về cơ sở vật chất 62
Trang 4CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐẢM BẢO QUYỀN BÀO CHỮA CỦA NGƯỜI BỊ BUỘC TỘI LÀ NGƯỜI DƯỚI 18 TUỔI TRONG TTHS
1.1 Khái niệm quyền bào chữa của người bị buộc tội
1.1.1 Khái niệm quyền bào chữa
Quyền con người (QCN), là giá trị chung của toàn nhân loại, được ghi nhận hầu hết ở các văn kiện pháp lý quốc tế, tiêu biểu như Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền
1948 Không những khẳng định giá trị QCN, Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền còn bảo vệ và thúc đẩy tôn trọng các quyền và quyền tự do cơ bản của con người Từ đó, QCN được pháp điển hoá trong một số Công ước như Công ước quốc tế (CƯQT) về các quyền Dân sự và Chính trị (1966), CƯQT về các quyền kinh tế, xã hội và văn hoá (1966) càng ghi nhận thêm việc bảo vệ các quyền cơ bản của con người trên toàn thế giới
Để đảm bảo hiệu quả của hoạt động tố tụng hình sự (TTHS), chức năng bào chữa phải luôn được song hành cùng với chức năng buộc tội Có như vậy, việc giải quyết vụ án hình sự sẽ khách quan, toàn diện, đảm bảo nguyên tắc xác định sự thật của vụ án QBC là một trong những chế định quan trọng và phức tạp, vừa mang tính
lí luận, vừa mang tính thực tiễn cao1 Song hiện nay còn có nhiều quan điểm khác nhau xung quanh khái niệm, nội dung, bản chất chủ thể…của QBC
Một trong những quan điểm được đề cập phổ biến khi nói đến khái niệm về QBC phải kể đến quan điểm của nhà luật học Xô viết Stragovich M.S trong cuốn
“Giáo trình Luật tố tụng hình sự Xô Viết” Theo đó, ông cho rằng: “Bào chữa là tổng hoà các hành vi tố tụng hướng tới việc bác bỏ sự buộc tội và xác định bị can không
có lỗi hoặc làm giảm nhẹ trách nhiệm hình sự (TNHS) của bị can” Và ông cho rằng
“Quyền bào chữa của bị can là tất cả các quyền năng tố tụng mà pháp luật quy định
1
Hoàng Thị Sơn - Về khái niệm quyền bào chữa và việc bảo đảm quyền bào chữa của bị can, bị cáo, Tạp chí Luật học, 05, 2000.
Trang 5cho bị can để bảo vệ khỏi mọi sự buộc tội và được bị can sử dụng để bác bỏ sự buộc tội, để đưa ra các lý lẽ và chứng cứ trong việc biện minh hoặc làm giảm nhẹ trách nhiệm của mình” Như vậy, theo ông chủ thể thực hiện QBC là bị can và khái niệm
bị can sẽ rộng hơn khái niệm bị cáo QBC trong khái niệm của Stragovich M.S được thực hiện thông qua các quyền tố tụng đã được pháp luật quy định nhằm hướng tới việc bãi bỏ sự buộc tội hoặc làm giảm nhẹ TNHS của mình Theo tác giả, quan niệm
về chủ thể của Stragovich M.S như vậy là quá hẹp vì chỉ thừa nhận QBC thuộc về bị can “Trong TTHS, QBC xuất hiện ở chỗ mà ở đó có sự buộc tội và QBC thuộc về người nào khi người đó bị buộc tội” Như vậy, trong từng giai đoạn tố tụng khác nhau
sẽ xuất hiện những chủ thể bị buộc tội khác nhau như người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, do đó, không thể chỉ giới hạn QBC chỉ dành cho bị can
Mặt khác, theo quan điểm của Ph.N.Phatkylin, ông cho rằng QBC không chỉ
là bao gồm các hành vi tố tụng nhằm bác bỏ sự buộc tội hoặc làm giảm nhẹ TNHS
mà “…nó thậm chí được thể hiện trong việc đảm bảo các quyền và lợi ích được pháp luật bảo vệ của bị can kể cả khi chúng không trực tiếp liên quan tới việc làm giảm nhẹ TNHS của bị can trong vụ án” 2 Nghĩa là, phạm vi QBC ở đây đã được mở rộng
hơn, nó không chỉ còn là bác bỏ đi sự buộc tội hay làm giảm nhẹ TNHS mà còn đảm bảo các quyền và lợi ích hợp pháp của bị can trong vụ án Hiểu như vậy là quá rộng bởi lẽ, quyền và lợi ích hợp pháp của bị can được pháp luật TTHS điều chỉnh là rất nhiều, nhưng có những quyền không thuộc nội hàm của QBC
Quy định trong Bộ luật TTHS của một số nước XHCN thì chủ thể thực hiện QBC bao gồm cả bị can, bị cáo nhưng “quyền bào chữa của bị can bị hạn chế vì họ chỉ có quyền trong một số trường hợp cụ thể” Cụ thể, tại Điều 73 Bộ luật TTHS Bungari quy định 03 trường hợp người bào chữa được tham gia từ khi khởi tố bị can:
“1 Bị can là người chưa thành niên; 2 Bị can là người có nhược điểm về thể chất hoặc tâm thần không bào chữa được; 3 Khi có sự đồng ý của Kiểm sát viên nếu sự
2 Phạm Hồng Hải - Đảm bảo quyền bào chữa của người bị buộc tội Nxb.CAND, 1999, tr.16
Trang 6
tham gia của người bào chữa không gây khó khăn trong việc xác định chân lý khách quan vụ án” Với quan điểm như trên thì rõ ràng QBC của bị can đã bị hạn chế, họ
chỉ được quyền nhờ người khác bào chữa trong những trường hợp trên, ngoài những trường hợp trên thì họ phải tự bào chữa lấy
Theo PGS.TS Phạm Hồng Hải “Quyền bào chữa trong tố tụng hình sự là tổng hoà các hành vi tố tụng do người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, người bị kết án thực hiện trên cơ sở phù hợp với quy định của pháp luật nhằm phủ nhận một phần hay toàn bộ
sự buộc tội của cơ quan tiến hành tố tụng, làm giảm nhẹ hoặc loại trừ trách nhiệm hình sự của mình trong vụ án hình sự” 3 Như vậy, theo khái niệm này, QBC đã được
mở rộng về chủ thể thực hiện còn bao gồm cả người bị tạm giữ, người bị kết án Tuy nhiên, người bị tạm giữ là do quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng (THTT) và quyết định này xâm phạm quyền tự do, do đó, đặt ra yêu cầu phải có NBC để bảo vệ quyền và lợi íchs hợp pháp của họ Còn trường hợp người bị kết án, là người đã có bản án có hiệu lực của pháp luật về hành vi phạm tội của mình, sau khi bản án kết tội
có hiệu lực pháp luật thì người này đã là người có tội và phải chịu hình phạt theo quy định của pháp luật Buộc tội xảy ra trước và chỉ tồn tại trước khi bản án của toà án có hiệu lực pháp luật Vì vậy không thể cho rằng người bị kết án là chủ thể của QBC
Một tác giả khác cũng đã đưa ra quan điểm của mình về vấn đề này như sau,
theo tác giả Hoàng Thị Sơn “Quyền bào chữa của bị can, bị cáo là tổng thể các quyền
mà pháp luật quy định bị can, bị cáo có thể sử dụng nhằm bác bỏ một phần hay toàn
bộ sự buộc tội hoặc giảm nhẹ trách nhiệm cho họ” Tác giả cũng cho rằng: “Người
bị tạm giữ không thể coi là đối tượng bị buộc tội mà họ chỉ có thể trở thành đối tượng
bị buộc tội nếu có đủ căn cứ để khởi tố họ với tư cách bị can”4 Như vậy, QBC cũng chỉ được đặt ra với bị can, bị cáo và phạm vi của QBC bao hàm 02 nội dung: bác bỏ
3
Phạm Hồng Hải - Đảm bảo quyền bào chữa của người bị buộc tội Nxb.CAND, 1999, tr.16
4 Hoàng Thị Sơn - Về khái niệm quyền bào chữa và việc bảo đảm quyền bào chữa của bị can, bị cáo, Tạp chí Luật học, 05, 2000.
Trang 7
một phần hay toàn bộ sự buộc tội hoặc làm giảm nhẹ TNHS Không đồng tình với quan điểm về chủ thể của QBC, tác giả cho rằng trước khi khởi tố bị can, mọi hành
vi tố tụng đều nhằm hướng đến người bị tạm giữ Khi CQĐT cho rằng có đủ căn cứ tạm giữ thì sẽ ra quyết định tạm giữ Trong trường hợp này, rõ ràng quyết định tạm giữ của CQĐT được coi là hành vi buộc tội đối với người bị tạm giữ Do đó, QBC cũng phải được đặt ra với chủ thể này
Quy định tại khoản 4 Điều 31 Hiến pháp 2013 như sau: “Người bị bắt, tạm giữ, tạm giam, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử có quyền tự bào chữa, nhờ luật sư hoặc người khác bào chữa” và theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 4 Bộ luật
TTHS 2015 thì người bị buộc tội không chỉ bao gồm bị can, bị cáo mà còn bao gồm
cả người bị bắt, người bị tạm giữ Hoạt động TTHS luôn luôn bao gồm ba chức năng
cơ bản: chức năng buộc tội, chức năng bào chữa, chức năng xét xử Ba chức năng này không thể tách rời Do đó, nếu đã xem người bị buộc tội bao gồm cả 04 chủ thể nêu trên thì phải đặt ra vấn đề bào chữa cho họ, như vậy hoạt động tố tụng mới không mang tính một chiều và tính quy buộc
Với những phân tích nêu trên và căn cứ vào quy định của Bộ luật TTHS hiện
hành, tác giả xin đưa ra khái niệm về QBC như sau: Quyền bào chữa trong TTHS Việt Nam là tổng thể các quyền mà pháp luật quy định cho người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo có thể sử dụng nhằm bác bỏ một phần hay toàn bộ sự buộc tội, làm giảm nhẹ trách nhiệm hình sự hoặc làm sáng tỏ tình tiết về sự vô tội của mình
1.1.2 Khái niệm người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi
Người dưới 18 tuổi, là người chưa phát triển đầy đủ về thể chất và tâm sinh
lý, là những đối tượng dễ bị tổn thương, vì vậy trong quá trình giải quyết các vụ án hình sự đối với người dưới 18 tuổi cần phải đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của
họ theo quy định của pháp luật
Thuật ngữ người dưới 18 tuổi là thuật ngữ mới được đưa vào sử dụng trong lĩnh vực tư pháp cụ thể là lĩnh vực TTHS từ khi ban hành Bộ luật TTHS 2015 để thay cho thuật ngữ người chưa thành niên còn nhiều tranh cãi trước đây Hiện nay trong
Trang 8pháp luật chưa có một định nghĩa cụ thể về người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi, song căn cứ vào khái niệm tội phạm, khái niệm người bị buộc tội, tuổi chịu TNHS được quy định trong BLHS và các biện pháp ngăn chặn có thể hiểu người bị buộc tội
là người dưới 18 tuổi theo những phân tích dưới đây
Về khái niệm người bị buộc tội tại điểm đ khoản 1 Điều 4 Bộ luật TTHS, theo
đó, người bị buộc tội bao gồm người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo
Về độ tuổi chịu TNHS của người dưới 18 tuổi theo quy định tại Điều 12 BLHS
2015 sửa đổi, bổ sung 2017 là từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi Việc xác định độ tuổi của người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi có ý nghĩa quan trọng trong quá trình xử
lý, giải quyết vụ án hình sự Bộ luật TTHS 2003 không có một Điều luật quy định cụ thể về vấn đề này Để khắc phục nhược điểm đó, Bộ luật TTHS 2015 đã đưa vào một điều luật cụ thể quy định chặt chẽ về cách xác định độ tuổi của người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi trên cơ sở tiếp thu từ Thông tư 01/2011/TTLT-VKSTC-TANDTC-BCA-BTP-BLĐTBXH Điều 417 đã mở rộng phạm vi đối tượng để xác định độ tuổi dưới 18 tuổi bao gồm cả người bị bắt, người bị tạm giữ vì trên thực tế khi bắt, tạm giữ người dưới 18 tuổi thì cơ quan THTT phải tiến hành xác định độ tuổi trước khi khởi tố bị can, do đó, quy định như vậy để cơ quan có thẩm quyền THTT phải thực hiện biện pháp xác định độ tuổi để tránh thực hiện tuỳ nghi như trước đây nhằm hạn chế đến mức thấp nhất trong một số trường hợp đã khởi tố bị can, khởi tố
vụ án nhưng sau đó phải đình chỉ do người phạm tội dưới 18 tuổi Về cách xác định, khoản 2 Điều 417 xác định theo hướng có lợi cho người bị buộc tội, nghĩa là trong trường hợp đã áp dụng các biện pháp hợp pháp mà vẫn không xác định chính xác ngày, tháng sinh thì lấy ngày cuối cùng của tháng, của quý, của năm để làm ngày, tháng sinh
Đối với người bị buộc tội là bị can, bị cáo là người dưới 18 tuổi có đặc điểm như sau:
- Độ tuổi từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi
- Phạm tội được quy định tại Điều 12 BLHS 2015 sửa đổi, bổ sung 2017
Trang 9- Đã có quyết định khởi tố bị can, quyết định đưa vụ án ra xét xử
Đối với người bị buộc tội là người bị bắt, người bị tạm giữ là người dưới 18 tuổi có đặc điểm như sau:
- Đối với người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi: là người bị bắt, người bị tạm giữ khi phạm các tội được quy định khoản 1 Điều 12 BLHS 2015 sửa đổi, bổ sung
2017 và đã có quyết định tạm giữ, quyết định bắt người
- Đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi: là người bị bắt, người bị tạm giữ khi có các căn cứ quy định tại Điều 110, 111, 112, các điểm a, b, c, d, đ khoản 2 Điều 119 Bộ luật TTHS 2015, và chỉ áp dụng trong trường hợp người dưới 18 tuổi phạm tội nghiêm trọng do cố ý, tội rất nghiêm trọng, tội đặc biệt nghiêm trọng, và đã có quyết định tạm giữ, quyết định bắt người
- Đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi: là người bị bắt, người bị tạm giữ khi có các căn cứ quy định tại Điều 110, 111, 112, các điểm a, b, c, d, đ khoản 2 Điều 119 Bộ luật TTHS 2015, và chỉ áp dụng trong trường hợp phạm tội nghiêm trọng do vô ý, tội ít nghiêm trọng mà BLHS quy định hình phạt tù đến 02 năm mà
họ vẫn tiếp tục phạm tội, bỏ trốn và bị bắt theo quyết định truy nã thì có thể trở thành người bị bắt, người bị tạm giữ
Qua đó, không phải bất cứ người nào dưới 18 tuổi có hành vi trái pháp luật được quy định trong BLHS đều được xem là người bị buộc tội Chỉ khi thoả mãn các dấu hiệu như trên, họ mới bị coi là người bị buộc tội
1.1.3 Ý nghĩa của việc đảm bảo quyền bào chữa của người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi
Thứ nhất, việc đảm bảo QBC của người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi là biểu hiện cụ thể của việc đảm bảo quyền con người, quyền cơ bản của công dân
Quyền con người là một trong những giá trị nhân bản cao nhất mà các quốc gia trên thế giới đều đề cao và bảo vệ nó Việt Nam là một nước tiên phong trong việc phê chuẩn các Công ước nhân quyền quốc tế Từ Hiến pháp 1946 đến Hiến pháp
2013 và các luật đều ghi nhận ngày càng nhiều những nguyên tắc và quy định bảo vệ
Trang 10quyền con người Trong hoạt động TTHS, QBC là quyền con người của những người thực hiện hành vi xâm phạm đến quyền của người khác, gây thiệt hại cho các quan
hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ Cơ quan THTT, người THTT luôn luôn tạo điều kiện để họ được thực hiện những quyền của người bị buộc tội Khi một người trong
xã hội có hành vi vi phạm pháp luật hình sự, bị trói buộc bởi một quyết định của cơ quan có thẩm quyền như quyết định bắt, quyết định tạm giữ, quyết định khởi tố bị can, quyết định đưa vụ án ra xét xử, đồng thời với những quyết định đó thì quyền tự
do về thân thể của họ, một trong những quyền Hiến định của công dân đã bị xâm phạm Do đó, họ được trao cho QBC như là một cách thức để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình Việc bào chữa là quyền của người bị buộc tội chứ không phải nghĩa vụ của họ Nghĩa là, việc không sử dụng QBC không có nghĩa là người bị buộc tội đương nhiên thừa nhận hành vi phạm tội của mình Và ngược lại, việc sử dụng QBC không được coi như một hành vi chống đối, thái độ “ngoan cố”, không chịu nhận tội của người bị buộc tội
Thứ hai, đảm bảo quyền bào chữa của người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi
là biểu hiện của việc xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN
Sự tham gia của NBC trong các vụ án và sự tham gia của NBC chỉ định đối với vụ án có người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi là một biểu hiện rõ nét tính nhân dân trong hoạt động tố tụng, việc xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Khi đó, NBC vừa tham gia bảo vệ quyền, lợi ích của người bị buộc tội vừa giám sát, phản biện lại các hoạt động tố tụng của cơ quan có thẩm quyền NBC không phải là đại diện của cơ quan công quyền nên khi tham gia tố tụng họ có điều kiện giám sát các hoạt động tố tụng một cách khách quan Qua quá trình thực hiện chức năng của mình, NBC dần nhận thấy những ưu điểm cũng như khuyết điểm của điều luật so với thực tiễn, những góp ý của NBC sẽ góp phần hoàn thiện cũng như bảo đảm cho chúng được thực thi
Người bào chữa khi thực hiện nhiệm vụ bào chữa, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị buộc tội đồng thời bảo vệ pháp chế XHCN Nghĩa là, khi thực hiện
Trang 11nhiệm vụ bào chữa, với vai trò là người gỡ tội, NBC phải vận dụng linh hoạt kiến thức pháp luật của mình và quan trọng phải công tâm khách quan trong việc bào chữa của mình Ngược lại, nếu muốn bảo vệ pháp chế XHCN, NBC cần phải đấu tranh bảo
vệ quyền lợi của công dân, của người bị buộc tội đã được pháp luật quy định Tưởng chừng như không có mối quan hệ giữa hai nhiệm vụ trên nhưng nếu người bào chữa không dung hoà được nó thì sẽ dẫn đến hệ quả Bởi vì, nếu không công tâm, khách quan trong việc bào chữa thì sẽ dẫn đến bóp méo sự thật, không tuân thủ quy định của pháp luật Nếu NBC đặt nhiệm vụ bảo vệ pháp chế XHCN lên trên nhiệm vụ bào chữa của mình thì lúc này, người bào chữa đã thực hiện thay nhiệm vụ của kiểm sát viên Vì vậy, đảm bảo QBC của người bị buộc tội còn góp phần bảo vệ pháp chế XHCN, bảo vệ công bằng xã hội, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân
Thứ ba, đây là một quy định mang ý nghĩa xã hội to lớn, nó thể hiện chính sách dân chủ, nhân đạo, tiến bộ của Nhà nước ta trong công cuộc đấu tranh và phòng chống tội phạm nói chung và trong việc giải quyết vụ án hình sự nói riêng
Có thể so sánh, TTHS là một cuộc đấu tranh không cân sức giữa các bên đối trọng về lợi ích5 Người bị buộc tội và đặc biệt là người bị buộc tội dưới 18 tuổi, phần lớn trong số họ là những người có kiến thức pháp luật hạn chế hoặc không có, thường
là những người yếu thế cả về tâm lí, trình độ cũng như kiến thức của mình Trong khi
đó, bên buộc tội là những cơ quan mang quyền lực nhà nước có đầy đủ kiến thức pháp luật cũng như trình độ, chuyên môn, kinh nghiệm của mình Chính vì vậy, hoạt động TTHS thể hiện được sự dân chủ chỉ khi bên buộc tội và bên gỡ tội phải ngnag bằng nhau về vị thế Khi đó, những cơ chế đảm bảo QBC của người bị buộc tội nói chung và của người dưới 18 tuổi nói riêng chính là những điều kiện để tạo ra vị thế ngang bằng đó Khi chủ thể của QBC thực hiện QBC bằng cách tự bào chữa chính là
tự mình thực hiện việc gỡ tội bằng những công cụ mà pháp luật đã trao cho họ; hoặc người bị buộc tội có thể thực hiện QBC bằng cách nhờ người khác bào chữa, người bào chữa bằng kinh nghiệm, kiến thức pháp luật cũng như kỹ năng bào chữa đã được
5 Nguyễn Thái Phúc – Mô hình tố tụng hình sự Việt Nam – Những vấn đề lý luận và thực tiễn, Tạp chí Khoa học pháp lý, số 05, 2007
Trang 12đào tạo sẽ giúp cho người bị buộc tội chống lại sự buộc tội của cơ quan THTT Tính nhân đạo của việc đảm bảo QBC thể hiện ở chỗ: việc người bị buộc tội là người dưới
18 tuổi tự mình thực hiện QBC chính là việc họ đã sử dụng những cách thức mà pháp luật cho phép để chống lại những quan hệ xã hội đã được pháp luật hình sự bảo vệ ngay cả khi họ đã có những hành vi xâm phạm những quan hệ đó; và người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi được quyền nhờ người khác bào chữa cũng như trong trường hợp được cơ quan THTT chỉ định người bào chữa thể hiện tinh thần nhân đạo sâu sắc, là một nghĩa cử cao đẹp, giúp người đang ở tình thế bất lợi để có thể đảm bảo được quyền bào chữa, quyền con người của họ
Trong các giai đoạn phát triển khác nhau của lịch sử, ở mỗi Nhà nước đều có những quy định cụ thể về QCN Tuy nhiên, đối với việc đảm bảo QBC chỉ thực sự được ghi nhận từ khi có sự ra đời của kiểu nhà nước tư sản Ở các kiểu Nhà nước chiếm hữu nô lệ, phong kiến, việc quy định QBC cũng như đảm bảo cho quyền này
là rất ít, thường không được xem trọng Đến Hiến pháp 2013, QBC được ghi nhận tại chương về quyền con người, quyền cơ bản của công dân Đây là một bước tiến quan trọng, thể hiện sự tiến bộ trong việc nhận thức về quyền con người qua quá trình lập pháp
Thứ tư, đảm bảo quyền bào chữa của người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi góp phần vào việc xác định sự thật của vụ án, không làm oan người vô tội, bỏ lọt tội phạm
Việc quy định đảm bảo QBC của người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi là một bảo đảm quan trọng cho hoạt động xét xử được tiến hành một cách khách quan, công bằng Trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, cơ quan THTT mang quyền lực nhà nước và họ có nghĩa vụ phải chứng minh, làm sáng tỏ sự thật của vụ án Bên cạnh
đó, pháp luật còn trao cho người bị buộc tội quyền tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa để bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp của mình Hai quyền này của bên gỡ tội và buộc tội góp phần vào việc giải quyết vụ án một cách toàn diện, chính xác, đảm bảo việc điều tra, truy tố, xét xử đúng người, đúng tội Đây là hai hoạt động có tính
Trang 13đối trọng với nhau: đối trọng về việc tìm kiếm và đánh giá chứng cứ, đối trọng về yêu cầu, về mục đích Không có việc tham gia của hai hoạt động này thì quá trình tố tụng chỉ mang tính một chiều, không khách quan6 Những quy định về việc đảm bảo QBC của người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi giúp cho cơ quan THTT có cái nhìn tổng quát, chính xác hơn về vụ án, nhằm thực hiện triệt để tư tưởng xác định sự thật của vụ án Ngược lại, việc xác định sự thật của vụ án đặt ra yêu cầu buộc các cơ quan THTT muốn tìm ra được sự thật của vụ án thì phải thực hiện những quy định về đảm bảo QBC của người bị buộc tội
Thứ năm, đảm bảo quyền bào chữa của người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi cụ thể hoá nguyên tắc suy đoán vô tội
Nguyên tắc suy đoán vô tội được ghi nhận tại Điều 13 Bộ luật TTHS 2015, theo đó, người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự, thủ tục do Bộ luật TTHS quy định và có bản án hết tội của Toà án đã
có hiệu lực pháp luật Quyền được suy đoán vô tội là tiền đề để người bị buộc tội thực hiện được QBC của mình và là cơ sở để các cơ quan THTT phải đảm bảo QBC được thực hiện Chỉ khi người bị buộc tội được coi là chưa có tội, họ mới có quyền chứng minh chứ không có nghĩa vụ chứng minh mình vô tội, đây chính là một trong những
cơ sở để họ thực hiện quyền bào chữa của mình7 Ngược lại, việc thực hiện QBC chính là cụ thể hoá nguyên tắc suy đoán vô tội Khi thực hiện QBC đó, họ được suy đoán là vô tội trong quá trình giải quyết vụ án
Thứ sáu, đảm bảo quyền bào chữa của người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi góp phần đảm bảo nguyên tắc tranh tụng trong tố tụng hình sự
Có thể nói, nguyên tắc tranh tụng là một nguyên tắc quan trọng bởi chỉ có thực hiện tốt việc tranh tụng và đảm bảo cho hoạt động tranh tụng được công khai, bình đẳng thì mới giúp cho việc giải quyết vụ án đúng pháp luật, không ảnh hưởng đến
Trang 14việc đảm bảo QBC của người bị buộc tội Một trong những nội dung của nguyên tắc tranh tụng là phải đảm bảo được quyền bình đẳng giữa bên buộc tội và bên bào chữa
Bộ luật TTHS 2015 đã quy định rõ mối quan hệ, vị trí giữa những người THTT và người tham gia tố tụng trong việc đưa ra chứng cứ, đánh giá chứng cứ, đưa ra yêu cầu để làm rõ sự thật khách quan của vụ án là bình đẳng, đây là tiền đề quan trọng để các chủ thể thực hiện hoạt động tranh tụng bảo vệ quan điểm, quyền lợi của mình khi tham gia tố tụng Chỉ trên cơ sở bình đẳng trong việc đưa ra chứng cứ, đánh giá chứng
cứ thì hoạt động tranh tụng mới đảm bảo chất lượng, tính thực thi cao Do đó, những nội dung về QBC của người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi cần phải được cơ quan THTT, người THTT đảm bảo thực hiện trên cơ sở các quy định của pháp luật, khi đó chất lượng tranh tụng trong TTHS cũng sẽ được nâng cao
1.2 Cơ sở pháp lý – cơ sở lý luận – cơ sở thực tiễn của việc đảm bảo quyền bào
chữa của người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi
1.2.1 Cơ sở pháp lý
Xuất phát từ tầm quan trọng của QCN, trong hệ thống pháp luật quốc tế đều
có những quy định khác nhau nhằm bảo đảm QCN nói chung và quyền bào chữa của người bị buộc tội nói riêng và có hiệu lực ràng buộc về nghĩa vụ pháp lý đối với các quốc gia thành viên QBC là một trong những chuẩn mực bắt buộc (jus cogens) trong
quyền được xét xử công bằng
Tại Điều 11 Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền của Liên Hiệp Quốc ngày 10
tháng 12 năm 1948 đã quy định: “Bất cứ ai bị cáo buộc về một hành vi phạm tội đều được quyền suy đoán vô tội cho đến khi bị chứng minh là phạm tội trước một phiên toà công khai, nơi mà anh ta được cung cấp những bảo đảm cần thiết cho việc bào
chữa” Như vậy, với Tuyên ngôn , QCN được thực hiện trước hết bởi QBC
QBC cũng được ghi nhận tại Điều 14 Công ước quốc tế về quyền dân sự và chính trị
(ICCPR) như sau: “Một người bị cáo buộc về một hành vi phạm tội sẽ có quyền: 1 Được có khoảng thời gian hợp lý và các điều kiện đầy đủ để chuẩn bị việc bào chữa,
và có quyền trao đổi với người bào chữa do mình lựa chọn; 2 Có quyền tự bào chữa
Trang 15hoặc thông qua người bào chữa do mình lựa chọn; 3 Trong trường hợp một người không bào chữa, ngừoi bào chữa chỉ định sẽ cung cấp cho anh ta; vì lợi ích chung của công lý, người bào chữa sẽ được chỉ định miễn phí nếu một người không có khả
năng chi trả cho người bào chữa…”
Bên cạnh đó, quyền có người bào chữa còn được bảo đảm bởi các văn bản pháp lý khác có liên quan như: Quy chế Rome về Toà án hình sự quốc tế (Rome
Status of the International Criminal Court) tại Điều 55(2)(c) “Được quyền có trợ giúp pháp lý theo sự lựa chọn của mình hoặc nếu không có trợ giúp pháp lý thì, trong mọi trường hợp cần thiết để đảm bảo công lý, sẽ được nhận trợ giúp theo sự chỉ định mà không phải trả thù lao nếu người đó không có đủ khả năng chi trả”, hay tại Điều 67(1)(d) “1 Khi Toà án xem xét để đưa ra phán quyết về bất kỳ lừoi buộc tội nào, bị cáo có quyền được xét xửc ông khai theo những quy định của Quy chế này, có quyền được xét xử công bằng, khách quan và được hưởng những bảo đảm tối thiểu sau một cách hoàn toàn bình đẳng:…d Được có mặt khi xét xử, được tự mình bào chữa hoặc thông qua sự trợ giúp pháp lý theo sự lựa chọn của bị cáo, được thông báo, nếu bị cáo không có sự trợ giúp pháp lý, về quyền này và được nhận sự trợ giúp pháp lý do Toà án chỉ định trong bất kỳ trường hợp nào nếu điều đó là cần thiết để bảo đảm công lý, và miễn phí nếu bị cáo không đủ điều kiện chi trả”; Các nguyên tắc cơ bản
về vai trò của luật sư (Basic Principles on the Role of Lawyer, 1990) quy định “Mọi người đều có quyền yêu cầu sự giúp đỡ của luật sư theo sự lựa chọn của mình nhằm thiết lập và bảo vệ các quyền của mình đó trong mọi giai đoạn của tố tụng hình sự”
Việt Nam với tư cách là thành viên các điều ước quốc tế về QCN cùng với việc nhận thức rõ vai trò và tầm ý nghĩa của QBC, các nhà lập pháp đã nội luật hoá các quy định mang tính chuẩn mực vào trong các quy định của Hiến pháp, Bộ luật TTHS cũng như các văn bản hướng dẫn thi hành để QBC được hoàn thiện và đảm
bảo quyền này được thực thi
Ngày 02/01/2002, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 08-NQ/TW về một
số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp, trong đó nêu rõ: “đảm bảo tranh tụng dân
Trang 16chủ giữa KSV tại phiên toà với luật sư, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác”, “các cơ quan tư pháp có trách nhiệm tạo điều kiện để luật sư tham gia vào quá trình tố tụng: tham gia hỏi cung bị can, nghiên cứu hồ sơ vụ án, tranh luận dân chủ tại phiên toà…” Vấn đề này tiếp tục được đề cập trong Nghị quyết số 48-
NQ/TW ngày 24/5/2005 và Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 Theo đó, một trong các nhiệm vụ
cải cách tư pháp là phải “Đổi mới việc tổ chức phiên toà xét xử,…Nâng cao chất lượng tranh tụng tại các phiên toà xét xử, coi đây là khâu đột phá của hoạt động tư pháp”
Hiến pháp năm 1946, bản Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà đã ghi nhận QBC của bị cáo “được quyền tự bào chữa lấy hoặc mượn luật sư” Từ đó, qua các bản Hiến pháp 1959, 1980, 1992 đều tiếp tục kế thừa và phát triển Các bản Hiến pháp 1946, 1959, 1980 đều xếp QBC trong chương về cơ quan
tư pháp Hiến pháp 1992 quy định QBC của bị can, bị cáo như là yêu cầu và nguyên tắc hoạt động của Toà án nhân dân khi thực hiện viếc xét xử Điều 132 Hiến pháp
1992 “Quyền bào chữa của bị cáo được bảo đảm Bị cáo có thể tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa cho mình” Tổ chức luật sư được thành lập để giúp bị cáo và các đương sự khác bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình và góp phần bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa Như vậy, QBC của người bị buộc tội chỉ được đảm bảo thực hiện trong phạm vi giai đoạn tại Toà án (giai đoạn xét xử) Khắc phục nhược
điểm này đến Hiến pháp 2013 QBC đã mở rộng đối với “Người bị bắt, tạm giữ, tạm giam, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử” và QBC được xếp vào nhóm quyền cơ bản
của công dân, quyền con người Như vậy, Hiến pháp 2013 đã xác định QBC là quyền con người, quyền công dân nên không chỉ cơ quan xét xử mà tất cả các cá nhân, cơ quan, tổ chức trong xã hội phải có trách nhiệm tôn trọng và được Nhà nước đảm bảo thực hiện
Thực hiện cải cách tư pháp và để phù hợp với tinh thần của Hiến pháp 2013, nhiều văn bản luật ra đời nhằm tạo cơ chế pháp lý bảo đảm cho QBC như: Luật Tổ
chức Toà án nhân dân 2014 tại Điều 14 với quy định “Toà án có trách nhiệm bảo
Trang 17đảm quyền bào chữa của bị can, bị cáo” Văn bản pháp lý góp phần quan trọng trong
việc bảo đảm thực hiện QBC của người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi phải kể đến
Luật Luật sư 2006 sửa đổi 2012 khi hoạt động của luật sư góp phần “bảo vệ công lý, các quyền tự do, dân chủ của công dân, quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức, phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam
xã hội chủ nghĩa, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh” (Điều 3); Bộ luật TTHS
2015 với các quy định cụ thể về trình tự, thủ tục tiến hành các vụ án có người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi tại Chương XXVIII Các quy định của pháp luật Việt Nam,
cụ thể là các quy định của pháp luật TTHS Việt Nam liên quan đến QBC của người
bị buộc tội về cơ bản đã có sự tương đồng với pháp luật quốc tế và phải đáp ứng được thực tiễn
1.2.2 Cơ sở lý luận
Người dưới 18 tuổi mà cụ thể độ tuổi để bị truy cứu TNHS là từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi Đây là độ tuổi mà về tâm lý và sinh lý có nhiều biến chuyển nhất Những người này có xu hướng về tâm lý rất khó kiểm soát, dễ bốc đồng, manh động,
mù quáng và có xu hướng chứng tỏ sự trưởng thành của bản thân Do đó, dễ bị lôi kéo, dụ dỗ, thiếu tính cương quyết và không có khả năng độc lập để giải quyết vấn
đề của mình Về sinh lý, đây là khoảng thời gian mà ngoại hình cũng như sức khoẻ của người dưới 18 tuổi đạt cao nhất, sự phát triển của các hormon trong cơ thể cũng tác động rất lớn đến việc hình thành nhân cách và cách cư xử của họ đối với những tác động của môi trường xung quanh Vì vậy, đòi hỏi pháp luật TTHS cũng phải có những quy định về thủ tục đặc biệt hơn so với người đủ 18 tuổi để phù hợp với những đặc điểm tâm – sinh lý của người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi
Người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi thường không có nhận thức đúng đắn
về pháp luật, vì vậy, pháp luật TTHS đã có những quy định tạo nên hàng rào pháp lý bảo vệ vững chắc Việc xử lý người dưới 18 tuổi phải được tuân theo nguyên tắc
“…nhằm mục đích giáo dục, giúp đỡ họ sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh, trở thành công dân có ích” (khoản 1 Điều 91 BLHS) Do đó, việc đảm bảo QBC của họ
Trang 18sẽ góp phần giải quyết vụ án được khách quan, toàn diện, tạo điều kiện cho họ nhận thức được lỗi cũng như sửa lỗi lầm của mình, tạo điều kiện cho việc thực hiện đấu tranh, phòng chống tội phạm
1.2.3 Cơ sở thực tiễn
Sẽ không xuất hiện sự tranh tụng nếu TTHS chỉ đơn thuần hoặc là buộc tội hoặc là bào chữa Trên thực tế, đã xuất hiện các hiện tượng tiêu cực như móm cung, bức cung, nhục hình hay tình trạng oan sai, án oan và điều đáng lo ngại nhất tình trạng này lại thường xuyên xảy ra đối với người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi vì
sự hạn chế về nhận thức Hay hiện tượng cơ quan THTT không giải thích quyền, nghĩa vụ của người bị buộc tội và những quyền đặc trưng chỉ dành cho người dưới
18 tuổi dẫn đến họ không thể hiểu được tầm quan trọng của việc bào chữa đối với hành vi vi phạm của mình, khi đối diện với CQĐT họ thường phó mặc cho CQĐT
Ngoài ra, hiện nay một bộ phận không nhỏ các cán bộ điều tra còn xem nhẹ công tác bào chữa của NBC, họ cho rằng những vụ án có NBC tham gia sẽ gây cản trở cho quá trình điều tra, đã có những biểu hiện cản trở, gây khó khăn trong thủ tục cấp giấy chứng nhận bào chữa, gặp và tiếp xúc với người bị buộc tội hay như sự hạn chế về thời điểm tham gia của NBC từ giai đoạn điều tra là những hiện tượng phổ biến Thực tế, người THTT thường nhằm vào sự thiếu hiểu biết về pháp luật của người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi để buộc họ nhận tội bằng cách “dụ” người bị buộc tội nhận tội để được giảm nhẹ tội, hay thậm chí CQĐT trong nhiều trường hợp không muốn sự tham gia của người bào chữa còn được thể hiện công khai bằng cách
“khuyên” bị can về sự vô ích của việc nhờ luật sư bào chữa mà cứ thành khẩn khai báo để giảm nhẹ tội Đối với bị can là người dưới 18 tuổi, do kém hiểu biết về pháp luật, lại đang trong tâm trạng hoang mang, lo sợ thì việc thuận tình nghe theo lời khuyên của Điều tra viên là hoàn toàn có thể hiểu được8
1.3 Cơ chế đảm bảo quyền bào chữa của người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi
8 Nguyễn Hoàng – Nguyên nhân tiêu cực trong hoạt động bào chữa của luật sư, Báo Pháp luật TP.HCM, ngày 27/5/2008
Trang 191.3.1 Đảm bảo bằng các quy định pháp luật
QBC là một trong những chế định quan trọng, thể hiện QCN một cách sâu sắc nhất Bảo đảm QBC xuất phát từ yêu cầu bảo vệ QCN và bảo đảm nguyên tắc xác định sự thật của vụ án Cơ sở pháp lý cho việc đảm bảo QBC của người bị buộc tội nói chung và người dưới 18 tuổi được quy định trong văn bản cao nhất là Hiến pháp
2013 Để QBC trở thành quyền thực định của mỗi con người, chỉ có thông qua pháp
luật thì các giá trị con người mới được xác định và đảm bảo thực hiện trong thực tiễn
Những quy định của Hiến pháp tạo tiền đề thiết yếu, là cơ sở để Bộ luật TTHS ghi nhận QBC của người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi với những quy định phù hợp, thể chế hoá những quy định tiền đề ở Hiến pháp 2013 Ngoài ra, văn bản pháp lý góp phần quan trọng trong việc đảm bảo QBC của người bị buộc tội là Luật luật sư 2006 sửa đổi, bổ sung 2012 Thực tiễn hiện nay, luật sư là bộ phận không nhỏ đóng góp những thành tựu của mình trong công tác bào chữa, vì vậy, việc hoàn thiện Luật luật
sư sẽ đảm bảo quyền, nghĩa vụ của họ khi tham gia vào bào chữa
Các quy định của pháp luật Việt Nam về thủ tục TTHS đối với người chưa 18 tuổi mặc dù còn những hạn chế, song qua quá trình sửa đổi, bổ sung, ban hành, các
Bộ luật TTHS đã ngày càng hoàn thiện hơn Sự hoàn thiện và tiến bộ trong cơ chế đảm bảo quyền của người dưới 18 tuổi ở Việt Nam về căn bản đã tương đồng với các Điều ước quốc tế như Công ước của Liên hợp quốc về quyền trẻ em (20/02/1990) mà Việt Nam là nước châu Á đầu tiên tham gia
Bằng việc tạo ra một hàng rào pháp lý vững chắc về QBC dành cho người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi như trên sẽ đảm bảo được tính dân chủ và định hướng cho hoạt động tố tụng tránh được sai phạm, qua đó, đảm bảo QBC của người bị buộc
tội là người dưới 18 tuổi
1.3.2 Đảm bảo quyền khiếu nại của người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi
Quyền khiếu nại là quyền cơ bản của người bị buộc tội, là biện pháp quan trọng tạo điều kiện cho người bị buộc tội phát hiện ra những vi phạm thủ tục tố tụng của cơ quan THTT, người THTT nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình
Trang 20Theo đó, Bộ luật TTHS đảm bảo quyền khiếu nại không chỉ dành riêng cho người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi mà đối với những hành vi xâm phạm quyền, lợi ích hay những quyết định tố tụng trái pháp luật thì họ có thể thông qua người bào chữa
để thực hiện quyền khiếu nại của mình Thông qua quyền khiếu nại, những sai phạm của cơ quan THTT sẽ được xử lý và hơn nữa là cơ sở để hạn chế những sai phạm đó được lặp lại Là cách thể hiện quyền con người của người bị buộc tội
Bằng cách giải quyết khiếu nại đối với các quyết định, hành vi tố tụng trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của người bị buộc tội không chỉ xử lý
cơ quan, cá nhân vi phạm, mà quan trọng hơn nữa là chấm dứt hành vi vi phạm, phục hồi quyền, lợi ích của người bị buộc tội
1.3.3 Đảm bảo bằng cơ chế giám sát của Viện kiểm sát
Theo Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân 2014, tại khoản 1 Điều 2 quy định
chức năng của VKS như sau: “1 Viện kiểm sát nhân dân là cơ quan thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam”
Với chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp, VKS đã tham gia vào tất cả các giai đoạn của quá trình tố tụng, khi đó VKS phải phát huy tối đa khả năng giám sát của mình
Để việc đảm bảo QBC của người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi được thực thi, VKS có trách nhiệm giám sát; ngăn ngừa, hạn chế và xử lý kịp thời các hành vi gây cản trở của cơ quan THTT, người THTT nếu xảy ra sự xâm phạm QBC của người bị buộc tội Hơn nữa, VKS phải tạo những điều kiện thuận lợi và những biện pháp do pháp luật quy định để người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi có thể thực hiện được QBC của mình Để làm được điều đó, nhiệm vụ của Kiểm sát viên trong việc bảo đảm QBC của người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi như sau: Kiểm sát việc ra quyết định khởi tố, việc áp dụng biện pháp ngăn chặn của cơ quan THTT; Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong giai đoạn truy tố từ khi VKS nhận hồ sơ vụ án kết thúc điều tra của Cơ quan điều tra VKS nghiên cứu hồ sơ chính là kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động khởi tố, điều tra; Kiểm sát việc tuân theo pháp luật tại phiên toà
để đảm bảo quyền tranh tụng, qua đó đảm bảo quyền, lợi ích của người buộc tội
Trang 21Thông qua những hoạt động kiểm sát đó, việc giải quyết vụ án, quá trình hoạt động
tố tụng nói chung và hoạt động bào chữa của người bị buộc tội cũng như NBC nói riêng được đảm bảo thực thi
1.3.4 Đảm bảo về mặt nhận thức
Pháp luật TTHS đã có những quy định nhằm đảm bảo QBC của người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi Tuy nhiên, việc đảm bảo này sẽ chỉ là vấn đề lý luận, không được vận dụng một cách triệt để nếu như cơ quan THTT, người THTT, người tham gia tố tụng cũng như các cơ quan, nhà nước, tố chức xã hội và mọi công dân không
nhận thức đúng và đầy đủ nội dung, ý nghĩa và tầm quan trọng của nó
Trong quá trình giải quyết vụ án, đặc biệt là đối với vụ án có người bị buộc tội
là người dưới 18 tuổi, cơ quan THTT luôn luôn tạo mọi điều kiện để quyền của họ được thực hiện và phát huy một cách tối đa Người THTT có nghĩa vụ giải thích cho người bị buộc tội, đồng thời tạo mọi điều kiện như đăng ký bào chữa, chỉ định NBC bắt buộc cho người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi…Họ luôn ý thức được rằng việc bảo đảm thực hiện QBC của người bị buộc tội chính là giúp họ giải quyết vụ án một
cách nhanh chóng, khách quan, toàn diện và đầy đủ
Việc tham gia tố tụng của người bào chữa còn là một hình thức giám sát việc thực thi pháp luật của cơ quan THTT Nhận thức đúng QBC còn giúp nhân dân giám sát việc tuân thủ pháp luật của cơ quan THTT và người THTT
1.4 Lược sử hình thành và phát triển của quy định về đảm bảo quyền bào chữa của người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi từ sau CMT8 1945 đến trước khi Bộ
luật tố tụng hình sự 2015 có hiệu lực thi hành
Trong phần này, cột mốc để nghiên cứu về cơ chế đảm bảo QBC được bắt đầu vào thời điểm lịch sử của việc ra đời nước Việt Nam dân chủ cộng hoà vào năm 1946 Đây là thời điểm chấm dứt sự tồn tại của chế độ quân chủ chuyên chế qua nhiều thế
kỷ, đồng thời đánh dấu sự khởi đầu của quá trình hình thành và phát triển của toàn
bộ hệ thống pháp luật Việt Nam trong một thể chế mới
Trang 221.4.1 Các quy định về đảm bảo quyền bào chữa của người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi từ sau CMT8 1945 đến trước khi Bộ luật tố tụng hình sự 1988 có hiệu lực thi hành
Ngày 10/10/1945 Nhà nước ta ban hành sắc lệnh số 46/SL quy định rõ một số chính sách sau: quy định các luật sư có quyền làm nhiệm vụ bào chữa tại tất cả các toà án tỉnh trở lên và trước các toà án quân sự; sắc lệnh số 13/SL quy định thành lập Đoàn thể luật sư và các luật sư có quyền biện hộ trước tất cả các toà án sơ thẩm, thể hiện một nền dân chủ trong xã hội mới Tuy nhiên, lúc này QBC của người bị buộc tội vẫn chưa được coi trọng, chỉ được thể hiện thông qua quyền biện hộ của luật sư
Để khắc phục thiếu sót này, Điều 5 Sắc lệnh số 21/SL ngày 14/02/1946 của Toà án
quân sự đã quy định mở rộng hơn hình thức thực hiện QBC “ Bị cáo có quyền tự
bênh vực hay nhờ luật sư hoặc nhờ người khác bênh vực cho”
Ngày 09/11/1946 tại kỳ họp thứ 2 của Quốc hội khoá 1, Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà đã được thông qua Trong đó tại khoản 2 Điều
67 có đề cập như sau: “Người bị cáo được quyền tự bào chữa lấy hoặc mượn luật sư” Đây được xem là nền tảng cho sự phát triển và hoàn thiện chế định QBC trong
TTHS Việt Nam sau này
Năm 1956, ngành Tư pháp đã có một văn bản hết sức quan trọng: “Đề án quyền bào chữa của bị cáo” đã được thông qua tại Hội nghị Tư pháp toàn quốc, trong
đó ghi nhận rõ các quyền của người bào chữa khi tham gia tố tụng Nổi bật một số nội dung như sau: NBC có thể bắt đầu công tác từ khi mở cuộc thẩm cứu, được có mặt cùng với bị cáo trong hỏi cung, tại phiên toà người bào chữa có một số quyền như được hỏi tất cả những người cung khai trước toà, sau khi công bố việc luận tội, NBC được trình bày lời bào chữa của mình…sau khi kết thúc phiên toà được xem bản án, chống án thay cho người bị buộc tội nếu có yêu cầu hoặc được sự đồng ý của
bị can
Vào thời điểm này, các thủ tục tố tụng dành cho người chưa thành niên chưa được quy định cụ thể Hoạt động tố tụng vẫn phải tuân thủ đầy đủ các quy định về
Trang 23thủ tục dành cho bị can, bị cáo là người chưa thành niên Bên cạnh đó, trong một số văn bản đã thể hiện được việc bảo vệ các QCN trong TTHS, trong đó có bị can, bị cáo là người chưa thành niên Chẳng hạn như tại sắc lệnh số 69/SL của Chủ tịch nước
là sắc lệnh về việc những bị can có thể nhờ một công dân không phải là luật sư bào chữa cho, trước toà án thường và toà án đặc biệt xử việc tiểu hình và đại hình ngày
18/6/1949, “người bị cáo được quyền bào chữa lấy hoặc mướn luật sư” (Điều 67);
“cấm không được tra tấn, đánh đập, ngược đãi bị cáo và tội nhân” (Điều 68) hay một số quy định khá tiến bộ như: “Nếu có thể được, những phạm nhân thành án nên phân loại như sau và giam riêng: phạm nhân dưới 18 tuổi…”(Điều 9)
Hiến pháp 1959 ra đời, QBC của bị can, bị cáo một lần nữa được ghi nhận tại
Điều 101 “QBC của người bị cáo được đảm bảo” Như vậy, không chỉ dừng lại ở
việc quy định QBC cho bị cáo mà Hiến pháp 1959 còn khẳng định cả cơ chế bảo đảm QBC cho họ Các văn bản thời kỳ này vẫn chưa thể hiện được rõ nét các quyền và lợi ích hợp pháp của bị can, bị cáo là người chưa thành niên
Đến ngày 27/8/1974 Thông tư số 16/TATC được ban hành nhằm hướng dẫn
cụ thể về trình tự, thủ tục xét xử sơ thẩm Thông tư đã đề cập đến trường hợp bắt buộc phải chỉ định người bào chữa nếu bị cáo là ngưởi chưa thành niên và khẳng định QBC là quyền quan trọng nhất của bị cáo, Toà án phải đảm bảo cho họ thực hiện một cách đầy đủ quyền của mình, Toà án phải đồng thời nghiên cứu những lời bào chữa một cách khách quan
Sau khi thống nhất đất nước, thể chế chính trị và tổ chức hành chính giữa hai miền Nam, Bắc vẫn chưa được thống nhất Năm 1985, BLHS đầu tiên của nước Cộng hoà XHCN Việt Nam ra đời Những vấn đề về người chưa thành niên phạm tội được quy định cụ thể trong Chương VII gồm 11 điều (từ Điều 57 đến Điều 67) chủ yếu nhằm giáo dục, giúp đỡ họ sữa chữa sai lầm khuyết điểm để trở thành công dân có
ích
Kế thừa những giá trị cốt lõi của pháp luật TTHS nước ta từ CMT8 1945 đến năm 1988 và để phù hợp với sự thay đổi của xã hội, ngày 28/6/1988 Bộ luật TTHS
Trang 24đầu tiên của nước ta được thông qua Bộ luật TTHS đầu tiên quy định về trình tự, thủ
tục giải quyết vụ án hình sự
Tóm lại, thời kỳ này mặc dù có nhiều văn bản pháp luật TTHS được ban hành nhưng các quy định đã bộc lộ nhiều bất cập, thiếu đồng bộ nhất là trong việc quy định
về thủ tục tố tụng dành cho bị can, bị cáo là người chưa thành niên Tuy nhiên, mặc
dù nhà nước ta đang còn nhiều khó khăn nhưng việc đảm bảo QBC trong TTHS vẫn được phát triển theo chiều hướng dân chủ và ngày càng hoàn thiện
1.4.2 Các quy định về đảm bảo quyền bào chữa của người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi theo Bộ luật tố tụng hình sự 1988
Lần đầu tiên trong lịch sử Việt Nam có một bộ luật hoàn chỉnh quy định về trình tự, thủ tục khởi tố điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự; chức năng nhiệm vụ quyền hạn và mối quan hệ giữa các cơ quan THTT; quyền và nghĩa vụ của những người tham gia tố tụng, của các cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội và công
dân Điều 12 với tên gọi “Bảo đảm QBC của bị can, bị cáo” quy định “Bị can, bị cáo có quyền tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Toà án có nhiệm vụ bảo đảm cho bị can, bị cáo thực hiện QBC của họ”
Và khoản 2 Điều 34 quy định “ bị can, bị cáo có quyền tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa cho mình” Cùng với đó là việc quy định phân biệt hai khái niệm bị can, bị cáo; theo đó, “bị can là người đã khởi tố về hình sự Bị cáo là người đã bị Toà án quyết định đưa vụ án ra xét xử” (khoản 1 Điều 34) Đối với thủ tục về những
vụ án mà bị can, bị cáo là người chưa thành niên, Bộ luật TTHS 1988 đã quy định
thành một chương riêng với tên gọi “Thủ tục đặc biệt” tại Chương XXXI từ Điều
271 đến Điều 280 Bộ luật TTHS đã quy định về các vấn đề như phạm vi áp dụng, việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn và giám sát đối với người chưa thành niên, việc điều tra truy tố, xét xử và thi hành án hình sự, việc tham gia của đại diện gia đình, tổ chức xã hội và NBC trong những vụ án mà bị can, bị cáo là người chưa thành niên Cũng tại Chương XXXI, Điều 273 quy định về việc bắt, tạm giữ, tạm giam như
sau: “…có thể bị bắt, tạm giữ, tạm giam nếu có đủ căn cứ quy định tại các Điều 62,
Trang 2563, 64, 68 và 71 của Bộ này, nhưng chỉ trong những trường hợp phạm tội rất nghiêm trọng do cố ý hoặc phạm tội đặc biệt nghiêm trọng…” Do đó, đối với tội phạm ít
nghiêm trọng do bị can, bị cáo là người chưa thành niên thực hiện sẽ không áp dụng các hình thức bắt, tạm giữ, tạm giam Về việc đảm bảo QBC, Bộ luật TTHS 1988 quy định, CQĐT, VKS, Toà án phải yêu cầu Đoàn luật sư cử người bào chữa cho bị can, bị cáo nếu bị can, bị cáo không tự lựa chọn được Đại diện hợp pháp của bị can,
bị cáo có thể lựa chọn người bào chữa hoặc tự mình bào chữa cho bị can, bị cáo Bị can, bị cáo là người chưa thành niên và đại diện hợp pháp của họ cũng có quyền yêu cầu thay đổi hoặc từ chối người bào chữa (Điều 37) đối với người bào chữa do cơ quan THTT yêu cầu Đoàn luật sư cử cho họ Điều 276 cũng quy định đại diện gia đình cũng phải có mặt khi bị can, bị cáo được CQĐT hỏi cung và phải có mặt tại phiên toàn xét xử nhằm ổn định tâm lý cho người chưa thành niên, đồng thời bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho họ
Tuy nhiên, cùng với việc tiếp tục khẳng định “QBC của bị cáo được bảo đảm…” (Điều 132 Hiến pháp 1992), sự ra đời của BLHS sửa đổi, bổ sung năm 1989
và một số quy định tại Chương XXXI chưa thật sự phù hợp với các điểm chung của các Bộ luật Do đó, Bộ luật TTHS 1988 đã qua ba lần sửa đổi, bổ sung vào các năm
1989, 1992 và năm 2000 Mặc dù vậy về nguyên tắc đảm bảo QBC tại Điều 12 vẫn không thay đổi so với năm 1988
1.4.3 Các quy định về đảm bảo quyền bào chữa của người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi theo Bộ luật tố tụng hình sự 2003
Bộ luật TTHS 2003 được Quốc hội thông khoá IX tại kỳ họp thứ 4 thông qua
và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2004
Một trong những nội dung sửa đổi quan trọng trong Bộ luật lần này liên quan
đến QBC được quy định tại Điều 11 với tên gọi: “Bảo đảm QBC của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo” Theo đó, “Người bị tạm giữ, bị can, bị cáo có quyền tự bào chữa
hoặc nhờ người khác bào chữa CQĐT, VKS có nhiêm vụ bảo đảm cho người bị tạm giữ, bị can, cáo thực hiện QBC của họ theo quy định của Bộ luật này” Như vậy, Bộ
Trang 26luật TTHS 2003 đã mở rộng đối tượng được bảo đảm QBC không chỉ với bị can, bị
cáo mà ngay cả người bị tạm giữ cũng được đảm bảo QBC của mình
Ngoài ra, Bộ luật TTHS 2003 đã có những quy định tiến bộ và phát triển như: người bào chữa được tham gia tố tụng sớm hơn so với quy định của Bộ luật TTHS 1988; quy định cụ thể về chế định bào chữa chỉ định; thủ tục cấp giấy chứng nhận bào chữa được bổ sung một cách đầy đủ hơn; quan trọng hơn nữa người bào chữa được quyền thu thập tài liệu, đồ vật, tình tiết liên quan đến việc bào chữa từ người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, người thân thích của những người này hoặc từ cơ quan, tổ chức, cá nhân theo yêu cầu của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo nếu không thuộc bí mật Nhà nước, bí mật công tác
Theo quy định tại khoản 2 Điều 57 Bộ luật TTHS 2003 thì việc tham gia của người bào chữa trong vụ án có bị can hoặc bị cáo là người chưa thành niên là bắt buộc Cơ quan THTT chỉ được giải quyết vụ án khi đã có người bào chữa tham gia Việc từ chối, thay đổi người bào chữa được hướng dẫn cụ thể tại Nghị quyết 03/NQ-HĐTP, theo đó, nếu không có sự thống nhất giữa người chưa thành niên và người đại diện hợp pháp của họ thì về việc từ chối người bào chữa thì vụ án vẫn được tiến hành xét xử theo thủ tục chung và có sự tham gia của người bào chữa đã được cử
Kế thừa các quy định của Bộ luật TTHS năm 1988, Bộ luật TTHS 2003 đã có những sửa đổi, bổ sung về việc tham gia tố tụng của gia đình, nhà trường và tổ chức,
cụ thể tại khoản 2, 3 Điều 306 đã quy định khi lấy lời khai, hỏi cung người bị tạm giữ, bị can là người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi hoặc người chưa thành niên có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất, khi xét xử bị cáo là người chưa thành niên phải có mặt đại diện gia đình Đại diện gia đình cũng có thể hỏi người bị tạm giữ, bị can nếu được điều tra viên đồng ý; đọc hồ sơ vụ án khi kết thúc điều tra; đại diện nhà trường hoặc tổ chức xã hội tham gia phiên toà có quyền đưa ra tài liệu, đồ vật, yêu cầu và đề nghị thay đổi người THTT, tham gia tranh luận và khiếu bại các hành vi của người THTT Những quy định trên đã tạo điều kiện tối đa trong việc thực hiện bảo đảm QBC của người chưa thành niên phạm tội Tuy nhiên, với những quy định còn tuỳ nghi như “có thể”, “đề nghị” hay những bất cập trong việc cấp giấy chứng
Trang 27nhận bào chữa,…thì việc bảo đảm QBC còn phụ thuộc nhiều vào nhận thức của cơ quan THTT, người THTT
Trang 28CHƯƠNG 2
PHÁP LUẬT THỰC ĐỊNH VỀ ĐẢM BẢO QUYỀN BÀO CHỮA CỦA NGƯỜI
BỊ BUỘC TỘI LÀ NGƯỜI DƯỚI 18 TUỔI VÀ THỰC TRẠNG ÁP DỤNG
2.1 Đảm bảo quyền bào chữa của người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự 2015
Bộ luật TTHS 2015 được Quốc hội ban hành ngày 27/11/2015 với nhiều quy định mới Bộ luật tiếp tục khẳng định QBC và đảm bảo QBC cho người bị buộc tội Đối với người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi với đặc điểm là người chưa phát triển đầy đủ về thể chất, tâm – sinh lý, khả năng nhận thức còn hạn chế, do vậy, việc bào chữa trong những vụ án do người dưới 18 tuổi thực hiện tội phạm ngoài việc phải tuân theo những quy định chung của Bộ luật TTHS thì các hoạt động liên quan đến bào chữa và đảm bảo QBC còn phải tuân theo những quy định thủ tục bắt buộc được quy định tại Chương XXVIII
2.1.1 Đảm bảo quyền bào chữa thông qua nguyên tắc cơ bản của pháp luật tố tụng hình sự
Là một trong những nguyên tắc cơ bản của Bộ luật TTHS 2015, nguyên tắc đảm bảo QBC của người bị buộc tội là cơ sở quan trọng cho việc bảo đảm quyền và lợi ích của công dân khi tham gia TTHS Việc thực hiện nguyên tắc góp phần tích cực vào việc xác định sự thật khách quan của vụ án, bảo đảm không để lọt tội phạm, tránh sự áp đặt duy ý chí, chủ quan Cùng với việc ghi nhận tại Hiến pháp 2013 thì
Bộ luật TTHS 2015 đã cụ thể hoá nội dung này của Hiến pháp thành một trong những nguyên tắc cơ bản của TTHS – đó là, nguyên tắc bảo đảm QBC của người bị buộc
tội tại Điều 16, với quy định: “Người bị buộc tội có quyền tự bào chữa, nhờ luật sư hoặc người khác bào chữa Cơ quan, người có thẩm quyền THTT có trách nhiệm thông báo, giải thích và bảo đảm cho người bị buộc tội,…thực hiện đầy đủ QBC…theo quy định của Bộ luật này” Đối với người bị buộc tội là người dưới 18
tuổi, Bộ luật TTHS 2015 một lần nữa khẳng định nguyên tắc tiến hành tố tụng đối
Trang 29với họ là phải bảo đảm quyền bào chữa của người dưới 18 tuổi tại khoản 5 Điều 414
Cụ thể, theo nguyên tắc, có thể khái quát về chủ thể của QBC và chủ thể có trách nhiệm bảo đảm QBC như sau:
Chủ thể của quyền bào chữa
Theo nguyên tắc, chủ thể của QBC là người bị buộc tội, cụ thể đối với nguyên tắc tiến hành tố tụng tại Điều 414 là người dưới 18 tuổi Và tại điểm đ khoản 1 Điều
4 quy định người bị buộc tội bao gồm: người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo
Do đó, trong phạm vi khoá luận chủ thể của QBC là người bị bắt, người bị tạm giữ,
bị can, bị cáo là người dưới 18 tuổi
Người bị bắt bao gồm bắt người phạm tội quả tang, bắt người đang bị truy nã,
bắt người trong trường hợp khẩn cấp Đây là chủ thể mới của nguyên tắc đảm bảo QBC Bộ luật TTHS đã mở rộng diện chủ thể được hưởng QBC, qua đó, thời điểm tham gia bào chữa của người bào chữa cũng sớm hơn
Người bị tạm giữ là người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang, bị bắt theo quyết định truy nã hoặc phạm tội tự thú, đầu thú và đối với họ đã có quyết định tạm giữ (khoản 1 Điều 59) Có thể thấy, sự
buộc tội đối với người bị tạm giữ được thể hiện qua căn cứ bị tạm giữ và quyết định tạm giữ đối với họ Do đó, phải đặt ra yêu cầu được đảm bảo QBC cho họ khi đã xuất hiện sự buộc tội
Bị can là người đã bị khởi tố về hình sự (khoản 1 Điều 60) Tại quyết định
khởi tố bị can đã cho biết bị can khởi tố về tội gì, theo điều, khoản nào của BLHS cũng như thời gian, địa điểm phạm tội và những tình tiết khác của tội phạm (khoản 2 Điều 179) Vì vậy, khi đó, sự buộc tội đã được thể hiện chính thức và cũng cần phải đặt ra yêu cầu bảo đảm QBC cho họ
Bị cáo là người đã bị Toà án đưa ra xét xử (khoản 1 Điều 61) Toà án đưa bị
cáo ra xét xử khi đã có quyết định đưa vụ án ra xét xử Có thể thấy, quyết định này
là cơ sở rõ ràng để Toà án xem xét sự buộc tội đối với họ
Trang 30Chủ thể có trách nhiệm đảm bảo QBC của người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi
Qua từng giai đoạn tố tụng, các chủ thể việc đảm bảo QBC có thể là CQĐT, VKS, Toà án Khi xác định sự thật của vụ án, những người THTT không chỉ tìm hiểu những vấn đề liên quan đến việc buộc tội, đến hành vi của người bị buộc tội mà bên cạnh đó, còn phải quan tâm đến những tình tiết gỡ tội đối với người bị buộc tội Khi
đó, người THTT cần phải tạo điều kiện để các chủ thể khác được thực hiện các quyền của họ đã được pháp luật quy định CQĐT đóng vai trò rất quan trọng trong việc giải quyết vụ án vì kết quả từ hoạt động điều tra của CQĐT sẽ là cơ sở để VKS quyết định truy tố hay không truy tố và là cơ sở để Toà án xem xét làm căn cứ khi xét xử đối với
bị cáo Vì vậy, quyền và lợi ích của người bị buộc tội phải được bảo đảm ngay từ giai đoạn này Đối với VKS, trong các giai đoạn tố tụng từ khởi tố, điều tra, truy tố, xét
xử và thi hành án có nhiều chủ thể tham gia vào từng giai đoạn cụ thể, trong đó VKS
là cơ quan duy nhất hiện diện trong tất cả các giai đoạn của tố tụng hình sự Với chức năng buộc tội và kiểm sát việc tuân theo pháp luật, trong phạm vi thẩm quyền của mình, VKS có quyền huỷ bỏ các quyết định không có căn cứ và trái pháp luật của CQĐT để kịp thời khắc phục những vi phạm pháp luật của CQĐT, để đảm bảo quyết định truy tố là đúng đắn, chính xác tạo cơ sở pháp lý vững chắc để Toà án xét xử Toà án với chức năng xét xử, nơi mà tranh tụng được diễn ra một cách công khai, khi
đó, Toà án phải đưa ra những bản án công bằng nhất cho người bị buộc tội
2.1.2 Đảm bảo quyền bào chữa của người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi thông qua quyền tự bào chữa
Quyền tự bào chữa của người bị buộc tội là việc người bị buộc tội tự mình sử dụng các quyền mà pháp luật trao cho họ nhằm để bác bỏ một phần hay toàn bộ việc buộc tội cũng như nhằm làm giảm TNHS cho mình Các quyền của người bị buộc tội được ghi nhận tại các Điều 58, 59, 60, 61 Bộ luật TTHS Tuy nhiên, những quyền này không phải quyền nào cũng nằm trong phạm vi của QBC Với mục đích bác bỏ
Trang 31sự buộc tội của mình, việc đảm bảo quyền tự bào chữa của người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi được thể hiện qua những nội dung sau đây:
Nhằm bảo đảm quyền tự bào chữa của mình, người bị buộc tội là người dưới
18 tuổi phải được biết lý do vì sao mình bị buộc tội Người bị buộc tội muốn tự mình
thực hiện việc bào chữa thì trước tiên họ phải biết được mình bị buộc tội như thế nào
và nguyên nhân của sự buộc tội đó Điều đó sẽ giúp họ dễ dàng hơn trong việc định hướng phương hướng, mục tiêu cũng như nội dung để tự bào chữa cho mình Quyền này được cụ thể như sau: người bị buộc tội được biết lý do vì sao mình bị bắt, bị tạm giữ, bị can được biết mình bị khởi tố về tội gì, bị cáo có quyền được nhận quyết định đưa vụ án ra xét xử và được nghe tuyên án cũng như nhận bản án, quyết định sơ thẩm
Để có thể tự bào chữa, người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi được quyền biết họ bị buộc tội bởi những chứng cứ nào Quyền này được cụ thể hoá qua việc sau
khi kết thúc điều tra bị can được đọc, ghi chép bản sao tài liệu hoặc tài liệu được số hoá liên quan đến việc buộc tội, gỡ tội hoặc bản sao tài liệu khác có liên quan đến việc bào chữa Để đảm bảo sự khách quan trong vụ án thì bị can, bị cáo còn có quyền
đề nghị giám định, định giá tài sản cũng như đề nghị thay đổi người THTT, người giám định, người định giá tài sản, người phiên dịch, người dịch thuật Kết quả giám định, biên bản định giá tài sản là một trong những nguồn chứng cứ quan trọng có vai trò hỗ trợ cho việc tự bào chữa của họ cho nên pháp luật đã đảm bảo cho họ được quyền đề nghị thực hiện những công việc trên
Người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi được thông báo, giải thích về quyền, nghĩa vụ của mình để có thể thực hiện việc tự bào chữa Có thể thấy, quyền và nghĩa
vụ của người bị buộc tội không chỉ đặt ra yêu cầu cơ quan THTT phải thông báo để
họ biết mà người THTT còn phải giải thích để họ hiểu về những quyền, nghĩa vụ đó Việc hiểu rõ những quyền của mình sẽ trang bị cho họ những hiểu biết nhất định và
là cơ sở để họ có thể tự bào chữa cho mình một cách tốt nhất Bộ luật TTHS 2015 đã quy định chi tiết hơn, theo đó trước khi tiến hành hỏi cung bị can lần đầu, người
Trang 32THTT phải giải thích rõ quyền, nghĩa vụ cho bị can và việc giải thích này phải được ghi vào biên bản
Quyền được trình bày quan điểm về sự buộc tội và các tình tiết gỡ tội để tự bào chữa của người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi Đối với người bị bắt, người bị
tạm giữ, bị can thì họ có quyền trình bày lời khai Đối với bị cáo họ có quyền trình bày ý kiến tại Toà Việc trình bày lời khai, ý kiến không phải là nghĩa vụ của họ và
họ không buộc phải đưa ra lời khai để chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội Vì vậy, trường hợp họ từ chối khai báo thì không được xem là tình tiết tăng nặng về hành vi đó Qua việc trình bày lời khai, ý kiến, người bị buộc tội có thể đưa ra những tình tiết có lợi trong việc tự bào chữa để chứng minh sự vô tội của mình Hơn nữa, để đảm bảo ổn định tâm lý của người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi, Bộ luật TTHS cũng quy định số lần hỏi cung trong một ngày là không quá hai lần và mỗi lần không quá hai giờ để đảm bảo được điều kiện về sức khoẻ tốt nhất phục vụ cho việc hỏi cung, lấy lời khai
Người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi có quyền đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, yêu cầu để tự bào chữa cho mình Những chứng cứ, tài liệu, đồ vật thường có ý
nghĩa gỡ tội hoặc chứng minh họ có tình tiết giảm nhẹ TNHS Bộ luật TTHS 2015
đã mở rộng quyền của người bị buộc tội trong việc tự bào chữa khi quy định họ có quyền thu thập cả chứng cứ so với trước đây là chỉ được quyền thu thập tài liệu, đồ vật và những tài liệu đồ vật này nếu có đủ các thuộc tính của chứng cứ thì mới được xem là chứng cứ Cơ quan THTT có trách nhiệm ghi nhận, kiểm tra, đánh giá các chứng cứ, tài liệu, đồ vật đó Đối với yêu cầu, người bị buộc tội được quyền đưa ra yêu cầu nhằm mục đích tự mình thực hiện việc bào chữa, tuy nhiên, việc xem xét tính phù hợp và chấp nhận các yêu cầu đó là trách nhiệm của cơ quan THTT
Quyền tự bào chữa của người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi tại phiên toà
sơ thẩm, phúc thẩm Ngoài các quyền tương tự người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can
thì bị cáo còn được quyền tham dự phiên toà, khi tham gia phiên toà, bị cáo sẽ có cơ hội tranh luận cũng như chứng kiến những gì mà Kiểm sát viên đã buộc tội một cách
Trang 33công khai tại phiên toà Thông qua đó, bị cáo sẽ chỉ ra những điểm bất hợp lý, thiếu
cơ sở trong quá trình buộc tội Ngoài ra, bị cáo còn được quyền nói lời sau cùng, đây
là cơ hội để bị cáo có thể khẳng định một lần nữa sự vô tội hay những tình tiết có thể được xem xét để giảm nhẹ TNHS của mình Quyền kháng cáo được xem là quyền đặc thù của bị cáo Thực hiện quyền kháng cáo là một trong những căn cứ làm phát sinh giai đoạn phúc thẩm, nơi bị cáo sẽ tiếp tục được đảm bảo những quyền tự bào chữa để có thể bác bỏ cũng như giảm nhẹ TNHS của mình
2.1.3 Đảm bảo quyền bào chữa của người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi thông qua quyền nhờ người khác bào chữa
Trên thực tế, việc người bị buộc tội nói chung và người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi tự mình thực hiện việc bào chữa sẽ không đem lại hiệu quả cao vì trình
độ hiểu biết pháp luật, khả năng thu thập chứng cứ hạn chế và những nguyên nhân chủ quan lẫn khách quan khác Do đó, theo quy định của pháp luật TTHS Việt Nam, quyền được nhờ người khác bào chữa là một quyền mặc nhiên của người bị buộc tội, song song với quyền tự bào chữa của họ Họ có thể đồng thời tự mình thực hiện việc bào chữa và nhờ người khác bào chữa Tuy nhiên, tại khoản 1 Điều 422 Bộ luật TTHS
2015 với cách quy định dùng từ “hoặc” có thể dẫn đến hiểu sai ý nghĩa của Điều luật
là họ chỉ được quyền sử dụng một trong hai hình thức Vì vậy, cần phải lưu ý việc sử dụng từ “hoặc” tại đây phải được hiểu giống với ý nghĩa của từ “và”
Chủ thể có quyền nhờ người khác bào chữa đối với trường hợp người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi
Theo quy định tại khoản 1 Điều 72 như sau: “Người bào chữa là người được người bị buộc tội nhờ bào chữa hoặc cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng chỉ định…” Thông thường, việc nhờ người khác bào chữa phải do chính người bị buộc
tội thực hiện và phụ thuộc vào ý chí của người bị buộc tội Tuy nhiên, theo quy định
của pháp luật: “Người bào chữa do người bị buộc tội, người đại diện hoặc người thân thích của họ lựa chọn” (khoản 1 Điều 75) và tại Điều 422 quy định “1 Người
bị buộc tội là người dưới 18 tuổi có quyền tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào