uận văn phân tích làm rõ cơ sở lý luận để hoàn thiện pháp luật về nhóm người yếu thế và bảo vệ quyền của nhóm người yếu thế như: Khái niệm về nhóm yếu thế, phân loại nhóm yếu thế; Sự tồn tại và phát triển của các học thuyết về quyền con người, quyền nhóm yếu thế; Vị trí và vai trò của việc bảo vệ quyền con người, quyền nhóm yếu thế; vai trò của quản lý nhà nước trong việc bảo đảm quyền nhóm yếu thế. Luận văn đã phân tích và đánh giá thực trạng pháp luật và áp dụng pháp luật về bảo vệ nhóm người yếu thế ở Việt Nam hiện nay trên cơ sở phân tích một số vấn đề về mặt thực tiễn. Cụ thể trên hai phương diện chính, đó là: Thực trạng ban hành pháp luật trong giai đoạn hiện nay, nguyên nhân của những khó khăn, vướng mắc; Thực trạng việc áp dụng và thực hiện pháp luật về bảo vệ các nhóm yếu thế. Qua đó có những đánh giá nhất định về thành tựu và hạn chế về bảo vệ quyền con người nói chung và quyền nhóm yếu thế nói riêng. Dựa trên kết quả những phân tích, luận văn đề xuất một số phương án để hoàn thiện pháp luật và áp dụng pháp luật về bảo vệ nhóm người yếu thế, đặc biệt trong việc cụ thể hóa và áp dụng các chính sách của Đảng và của Nhà nước, giúp cho các chính sách này có thể phát huy hiệu quả. Luận văn đã góp phần làm rõ thêm những khía cạnh lý luận, thực tiễn về pháp luật bảo vệ quyền nhóm yếu thế, qua đó góp phần sự nghiệp xây dựng và hoàn thiện cơ sở pháp lý về bảo vệ quyền con người, quyền nhóm yếu thế tại nước ta. uận văn phân tích làm rõ cơ sở lý luận để hoàn thiện pháp luật về nhóm người yếu thế và bảo vệ quyền của nhóm người yếu thế như: Khái niệm về nhóm yếu thế, phân loại nhóm yếu thế; Sự tồn tại và phát triển của các học thuyết về quyền con người, quyền nhóm yếu thế; Vị trí và vai trò của việc bảo vệ quyền con người, quyền nhóm yếu thế; vai trò của quản lý nhà nước trong việc bảo đảm quyền nhóm yếu thế. Luận văn đã phân tích và đánh giá thực trạng pháp luật và áp dụng pháp luật về bảo vệ nhóm người yếu thế ở Việt Nam hiện nay trên cơ sở phân tích một số vấn đề về mặt thực tiễn. Cụ thể trên hai phương diện chính, đó là: Thực trạng ban hành pháp luật trong giai đoạn hiện nay, nguyên nhân của những khó khăn, vướng mắc; Thực trạng việc áp dụng và thực hiện pháp luật về bảo vệ các nhóm yếu thế. Qua đó có những đánh giá nhất định về thành tựu và hạn chế về bảo vệ quyền con người nói chung và quyền nhóm yếu thế nói riêng. Dựa trên kết quả những phân tích, luận văn đề xuất một số phương án để hoàn thiện pháp luật và áp dụng pháp luật về bảo vệ nhóm người yếu thế, đặc biệt trong việc cụ thể hóa và áp dụng các chính sách của Đảng và của Nhà nước, giúp cho các chính sách này có thể phát huy hiệu quả. Luận văn đã góp phần làm rõ thêm những khía cạnh lý luận, thực tiễn về pháp luật bảo vệ quyền nhóm yếu thế, qua đó góp phần sự nghiệp xây dựng và hoàn thiện cơ sở pháp lý về bảo vệ quyền con người, quyền nhóm yếu thế tại nước ta. uận văn phân tích làm rõ cơ sở lý luận để hoàn thiện pháp luật về nhóm người yếu thế và bảo vệ quyền của nhóm người yếu thế như: Khái niệm về nhóm yếu thế, phân loại nhóm yếu thế; Sự tồn tại và phát triển của các học thuyết về quyền con người, quyền nhóm yếu thế; Vị trí và vai trò của việc bảo vệ quyền con người, quyền nhóm yếu thế; vai trò của quản lý nhà nước trong việc bảo đảm quyền nhóm yếu thế. Luận văn đã phân tích và đánh giá thực trạng pháp luật và áp dụng pháp luật về bảo vệ nhóm người yếu thế ở Việt Nam hiện nay trên cơ sở phân tích một số vấn đề về mặt thực tiễn. Cụ thể trên hai phương diện chính, đó là: Thực trạng ban hành pháp luật trong giai đoạn hiện nay, nguyên nhân của những khó khăn, vướng mắc; Thực trạng việc áp dụng và thực hiện pháp luật về bảo vệ các nhóm yếu thế. Qua đó có những đánh giá nhất định về thành tựu và hạn chế về bảo vệ quyền con người nói chung và quyền nhóm yếu thế nói riêng. Dựa trên kết quả những phân tích, luận văn đề xuất một số phương án để hoàn thiện pháp luật và áp dụng pháp luật về bảo vệ nhóm người yếu thế, đặc biệt trong việc cụ thể hóa và áp dụng các chính sách của Đảng và của Nhà nước, giúp cho các chính sách này có thể phát huy hiệu quả. Luận văn đã góp phần làm rõ thêm những khía cạnh lý luận, thực tiễn về pháp luật bảo vệ quyền nhóm yếu thế, qua đó góp phần sự nghiệp xây dựng và hoàn thiện cơ sở pháp lý về bảo vệ quyền con người, quyền nhóm yếu thế tại nước ta. uận văn phân tích làm rõ cơ sở lý luận để hoàn thiện pháp luật về nhóm người yếu thế và bảo vệ quyền của nhóm người yếu thế như: Khái niệm về nhóm yếu thế, phân loại nhóm yếu thế; Sự tồn tại và phát triển của các học thuyết về quyền con người, quyền nhóm yếu thế; Vị trí và vai trò của việc bảo vệ quyền con người, quyền nhóm yếu thế; vai trò của quản lý nhà nước trong việc bảo đảm quyền nhóm yếu thế. Luận văn đã phân tích và đánh giá thực trạng pháp luật và áp dụng pháp luật về bảo vệ nhóm người yếu thế ở Việt Nam hiện nay trên cơ sở phân tích một số vấn đề về mặt thực tiễn. Cụ thể trên hai phương diện chính, đó là: Thực trạng ban hành pháp luật trong giai đoạn hiện nay, nguyên nhân của những khó khăn, vướng mắc; Thực trạng việc áp dụng và thực hiện pháp luật về bảo vệ các nhóm yếu thế. Qua đó có những đánh giá nhất định về thành tựu và hạn chế về bảo vệ quyền con người nói chung và quyền nhóm yếu thế nói riêng. Dựa trên kết quả những phân tích, luận văn đề xuất một số phương án để hoàn thiện pháp luật và áp dụng pháp luật về bảo vệ nhóm người yếu thế, đặc biệt trong việc cụ thể hóa và áp dụng các chính sách của Đảng và của Nhà nước, giúp cho các chính sách này có thể phát huy hiệu quả. Luận văn đã góp uận văn phân tích làm rõ cơ sở lý luận để hoàn thiện pháp luật về nhóm người yếu thế và bảo vệ quyền của nhóm người yếu thế như: Khái niệm về nhóm yếu thế, phân loại nhóm yếu thế; Sự tồn tại và phát triển của các học thuyết về quyền con người, quyền nhóm yếu thế; Vị trí và vai trò của việc bảo vệ quyền con người, quyền nhóm yếu thế; vai trò của quản lý nhà nước trong việc bảo đảm quyền nhóm yếu thế. Luận văn đã phân tích và đánh giá thực trạng pháp luật và áp dụng pháp luật về bảo vệ nhóm người yếu thế ở Việt Nam hiện nay trên cơ sở phân tích một số vấn đề về mặt thực tiễn. Cụ thể trên hai phương diện chính, đó là: Thực trạng ban hành pháp luật trong giai đoạn hiện nay, nguyên nhân của những khó khăn, vướng mắc; Thực trạng việc áp dụng và thực hiện pháp luật về bảo vệ các nhóm yếu thế. Qua đó có những đánh giá nhất định về thành tựu và hạn chế về bảo vệ quyền con người nói chung và quyền nhóm yếu thế nói riêng. Dựa trên kết quả những phân tích, luận văn đề xuất một số phương án để hoàn thiện pháp luật và áp dụng pháp luật về bảo vệ nhóm người yếu thế, đặc biệt trong việc cụ thể hóa và áp dụng các chính sách của Đảng và của Nhà nước, giúp cho các chính sách này có thể phát huy hiệu quả. Luận văn đã góp phần làm rõ thêm những khía cạnh lý luận, thực tiễn về pháp luật bảo vệ quyền nhóm yếu thế, qua đó góp phần sự nghiệp xây dựng và hoàn thiện cơ sở pháp lý về bảo vệ quyền con người, quyền nhóm yếu thế tại nước ta. phần làm rõ thêm những khía cạnh lý luận, thực tiễn về pháp luật bảo vệ quyền nhóm yếu thế, uận văn phân tích làm rõ cơ sở lý luận để hoàn thiện pháp luật về nhóm người yếu thế và bảo vệ quyền của nhóm người yếu thế như: Khái niệm về nhóm yếu thế, phân loại nhóm yếu thế; Sự tồn tại và phát triển của các học thuyết về quyền con người, quyền nhóm yếu thế; Vị trí và vai trò của việc bảo vệ quyền con người, quyền nhóm yếu thế; vai trò của quản lý nhà nước trong việc bảo đảm quyền nhóm yếu thế. Luận văn đã phân tích và đánh giá thực trạng pháp luật và áp dụng pháp luật về bảo vệ nhóm người yếu thế ở Việt Nam hiện nay trên cơ sở phân tích một số vấn đề về mặt thực tiễn. Cụ thể trên hai phương diện chính, đó là: Thực trạng ban hành pháp luật trong giai đoạn hiện nay, nguyên nhân của những khó khăn, vướng mắc; Thực trạng việc áp dụng và thực hiện pháp luật về bảo vệ các nhóm yếu thế. Qua đó có những đánh giá nhất định về thành tựu và hạn chế về bảo vệ quyền con người nói chung và quyền nhóm yếu thế nói riêng. Dựa trên kết quả những phân tích, luận văn đề xuất một số phương án để hoàn thiện pháp luật và áp dụng pháp luật về bảo vệ nhóm người yếu thế, đặc biệt trong việc cụ thể hóa và áp dụng các chính sách của Đảng và của Nhà nước, giúp cho các chính sách này có thể phát huy hiệu quả. Luận văn đã góp phần làm rõ thêm những khía cạnh lý luận, thực tiễn về pháp luật bảo vệ quyền nhóm yếu thế, qua đó góp phần sự nghiệp xây dựng và hoàn thiện cơ sở pháp lý về bảo vệ quyền con người, quyền nhóm yếu thế tại nước ta. đó góp phần sự nghiệp xây dựng và hoàn thiện cơ sở pháp lý về bảo vệ quyền con người, quyền nhóm yếu thế tại nước ta.
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
PHAN THÀNH TRUNG
HOµN THIÖN PH¸P LUËT VÒ B¶O VÖ
QUYÒN CñA NHãM YÕU THÕ ë VIÖT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Trang 2HÀ NỘI - 2018
Trang 3ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
PHAN THÀNH TRUNG
HOµN THIÖN PH¸P LUËT VÒ B¶O VÖ
QUYÒN CñA NHãM YÕU THÕ ë VIÖT NAM
Chuyên ngành: Lý luận và lịch sử Nhà nước và pháp luật
Mã số: 8380101.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS DƯƠNG ĐỨC CHÍNH
Trang 4HÀ NỘI - 2018
Trang 5LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam kết Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong luận văn chưa được công bố trong bất cứ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong luận văn bảo đảm tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội.
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi
có thể bảo vệ Luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn
NGƯỜI CAM ĐOAN
Phan Thành Trung
Trang 6Danh mục các ký hiệu, chữ viết tắt
48.Báo chính phủ (2018), Bao nhiêu trẻ em bị bạo hành, xâm hại chưa được phát hiện?, http://truyenhinhnghean.vn 11749.Báo chính phủ (2018), Bảo vệ trẻ em Chính phủ còn nhiều việc cần chỉ đạo và hành động, http://baochinhphu.vn 11752.Cục trẻ em Bộ lao động (2018), Tổng kết công tác năm 2017, http://www.molisa.gov.vn 11754.Nguyễn Văn Hậu (2017), Nhiều bất cập trong thi hành Luật Bình đẳng giới,
http://www.sggp.org.vn 11756.Lao động xã hội (2018), Những khó khăn trong việc thực hiện chính sách trợ giúp người khuyết tật và một số đề xuất, http://laodongxahoi.net 11862.Hà Quyên (2018), 2.000 trẻ em Việt Nam bị bạo hành nghiêm trọng mỗi năm,
https://news.zing.vn 118
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
CEDAW Công ước về xóa bỏ toàn bộ các hình thức phân biệt đối
xử với phụ nữ CRC Công ước về quyền trẻ em
ICC Tòa hình sự quốc tế
MDG Tuyên bố Thiên niên kỷ và cam kết đạt được tám Mục tiêu
Phát triển Thiên niên kỷ NCT Người cao tuổi
NKT Người khuyết tật
UBND Ủy ban nhân dân
UNESCO Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên Hiệp Quốc
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Thực hiện mục tiêu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, chođến nay, đã hình thành hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật về mọi mặt củađời sống chính trị, kinh tế, xã hội Từ khi tiến hành công cuộc Đổi mới vào năm
1986 đến nay, Quốc hội đã ban hành hàng trăm văn bản luật và pháp lệnh Trong sốnày có những đạo luật trực tiếp điều chỉnh quyền con người, quyền công dân như
Bộ luật hình sự, Bộ luật dân sự, Bộ luật lao động, Luật Bảo vệ sức khỏe nhân dân,Luật Bảo hiểm y tế, Luật Dược, Luật hôn nhân và gia đình, Luật phòng, chống muabán người, Luật bình đẳng giới, Luật khám bệnh, chữa bệnh, Luật phòng, chống bạolực gia đình, Luật cư trú, Luật tiếp công dân, Luật việc làm… Đáng chú ý, Quốc hội
đã ban hành những đạo luật riêng cho nhóm đối tượng dễ bị tổn thương như Luậtbảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em, Luật người cao tuổi, Luật người khuyết tật…
Nội dung của các đạo luật được ban hành thể chế hóa ngày càng đầy đủ, cụthể và rõ ràng quan điểm, chính sách của Đảng, Nhà nước về bảo vệ quyền conngười, quyền công dân trong điều kiện cụ thể của Việt Nam Việc xây dựng các đạoluật theo nguyên tắc bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp và tính thống nhất của vănbản quy phạm pháp luật trong hệ thống pháp luật; được tiến hành công khai, minhbạch với sự tham gia đóng góp ý kiến rộng rãi của các nhóm đối tượng chịu sự điềuchỉnh của văn bản và trong nhiều trường hợp được công bố rộng rãi trên các phươngtiện thông tin đại chúng để người dân tham gia đóng góp ý kiến
Tuy nhiên do sự phát triển quá nhanh của các thành phần xã hội, cùng với xuthế hội nhập thế giới sâu và rộng hiện nay thì việc các văn bản Luật không thể bao quáthết và phù hợp với nhóm yếu thế, đồng thời việc thực hiện áp dụng pháp luật về vấn đềnày vẫn còn nhiều bất cập, bộc lộ nhiều điểm yếu Vì vậy việc phân tích và đề xuất cácgiải pháp hoàn thiện là một việc cần thiết trong bối cảnh hiện nay
2 Tình hình nghiên cứu của đề tài
Trong thời gian gần đây, đã có nhiều bài viết, nhiều công trình nghiên cứuxoay quanh vấn đề về quyền con người, quyền của nhóm yếu thế được tiếp cận từ
Trang 8nhiều khía cạnh như quyền chính trị, quyền lao động, quyền an sinh, Việc phântích các khía cạnh lý luận và thực tiễn liên quan đến bảo vệ quyền của nhóm yếu thếmột cách hệ thống và chuyên sâu qua đó góp phần một bộ phận không nhỏ nhómđối tượng yếu thế trong xã hội nhằm bảo đảm sự phát triển bình đẳng trong xã hộihiện nay Một số có thể kể đến như:
- Giáo trình Lý luận và pháp luật về quyền con người do Nguyễn Đăng
Dung, Vũ Công Giao, Lã Khánh Tùng đồng chủ biên của Khoa Luật – Đại học quốcgia Hà Nội năm 2009
- Giáo trình Luật người khuyết tật năm 2011 của Trường Đại học Luật Hà Nội.
- Sách “ Hỏi đáp về Quyền con người” năm 2013 của Khoa Luật – Đại học
Quốc gia Hà Nội
- Sách “Luật về quyền của các nhóm người dễ bị tổn thương” của Khoa Luật
– Đại học Quốc gia năm 2011
- Một số sách của Viện khoa học Xã hội Việt Nam như: Cơ chế bảo đảm và bảo vệ quyền con người, Nxb Khoa học xã hội, 2011; Quyền con người – tiếp cận
đa ngành và liên ngành luật học, Nxb Khoa học xã hội, 2010.
- Một số bài viết và công trình nghiên cứu ở Việt Nam về các nhóm yếu thế
như: Bài viết “Về quyền của người cao tuổi trong Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992” của tác giả Nguyễn Thị Loan Anh đăng trên Tạp chí Cộng sản điện tử ngày 23-4-2013 Báo cáo “Già hóa dân số và người cao tuổi ở Việt Nam
- Thực trạng, dự báo và một số khuyến nghị chính sách” do Quỹ dân số Liên Hợp Quốc tại Việt Nam công bố tháng 7-2011 Bài viết “Chăm sóc y tế cho người cao tuổi: Trách nhiệm của Nhà nước, gia đình và xã hội” trên tạp chí Cộng sản điện tử ngày 02/10/2017; Bài viết “Bảo vệ quyền của phụ nữ bằng pháp luật hình sự và tố tụng hình sự” của tác giả Chu Thị Trang Vân (Bộ môn Tư pháp hình sự, khoa Luật
– Đại học Quốc gia Hà Nội); …
Một số luận văn khoa học nghiên cứu về quyền của các nhóm yếu thế như:
“Hoàn thiện pháp luật bảo vệ quyền phụ nữ ở Việt Nam hiện nay” của tác giả
Vương Vân Huyền (Luận văn thạc sĩ luật học, Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà
Trang 9Nội, 2014) nghiên cứu về pháp luật và thực hiện pháp luật bảo vệ phụ nữ ở Việt
Nam; “Bảo vệ quyền của người khuyết tật trong pháp luật lao động Việt Nam – thực trang và giải pháp của tác giả Hà Thị Lan (Luận văn thạc sĩ Luật học, Khoa
Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội, 2014) nghiên cứu chủ yếu về quyền của ngườikhuyết tật trong lĩnh vực lao động;…
Những nghiên cứu nêu trên đã đưa đến những cái nhìn khái quát về nhóm yếuthế và việc bảo đảm quyền của nhóm người này theo pháp luật quốc tế và pháp luậtViệt Nam Tuy nhiên hầu hết là các bài là phân tích và làm rõ chỉ 1 nhóm yếu thế cụthể, mà chưa có các bài viết đề cập đến nhiều nhóm yếu thế, điều đó khiến cho ngườiđọc và nghiên cứu khó có cái nhìn tổng quát và thấy được mối liên hệ giữa các nhómyếu thế Do đó luận văn này đề cập tới các nhóm yếu thế nhằm tạo cái nhìn tốt nhất
về mối liên hệ giữa các nhóm yếu thế, cùng với đó là đưa ra các phương hướng, giảipháp nhằm hoàn thiện pháp luật Việt Nam về bảo vệ quyền của 4 nhóm yếu thế là:phụ nữ, trẻ em, người khuyết tật và người cao tuổi
3 Đối tượng nghiên cứu
- Quy định của pháp luật và thực hiện pháp luật về bảo vệ quyền nhóm yếuthế ở Việt Nam
- Tính khả thi và nội dung của những giải pháp được đề xuất nhằm hoànthiện pháp luật về bảo vệ quyền của các nhóm yếu thế là: phụ nữ, trẻ em, ngườikhuyết tật và người cao tuổi ở Việt Nam hiện nay
4 Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: Luận văn đi sâu phân tích các vấn đề lý luận và thực tiễn ápdụng các quy định của pháp luật Việt Nam về bảo vệ quyền của nhóm yếu thế.Trong đó đề cập tới chủ yếu là 4 nhóm yếu thế có vai trò chủ yếu và tiêu biểu là:Phụ nữ, trẻ em, người khuyết tật và người cao tuổi
- Về phạm vi không gian: Luận văn nghiên cứu và làm rõ pháp luật và thựchiện pháp luật trên lãnh thổ nước Việt Nam
- Về phạm vi thời gian: Luận văn chủ yếu dựa trên các quy định của phápluật Việt Nam về bảo vệ quyền nhóm yếu thế trong Hiến pháp và các bộ luật cụ thể
Trang 10như: Hiến pháp 2013, Luật Hôn nhân và Gia đình, Luật bình đẳng giới, Luật trẻ em,Luật người khuyết tật, Luật người cao tuổi, Luật lao động, Luật Bảo hiểm xã hội,….Đặc biệt là từ sau năm 2009 là thời điểm Luật người cao tuổi ra đời sau đó lần lượt
là các luật như Luật người khuyết tật (2010), Luật Hôn nhân và gia đình (2014),Luật trẻ em (2016),… Đồng thời với đó là thực trạng thực hiện pháp luật về bảo vệnhóm yếu thế tại Việt Nam từ năm 2009 trở lại đây
5 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
Phân tích và làm sáng tỏ về pháp luật, về thực trạng áp dụng pháp luật bảo vệquyền nhóm yếu thế Từ đó đề xuất các giải pháp, phương hướng hoàn thiện phápluật và thực hiện pháp luật trong lĩnh vực này Và hướng tới việc nâng cao chấtlượng sống, nâng cao an sinh nhóm yếu thế đặc biệt là những bộ phận có hoàn cảnhkhó khăn, bệnh tật khó có thể tự mình bảo đảm được cuộc sống bình thường
6 Tính mới và những đóng góp của đề tài
Luận văn sau khi hoàn thành sẽ góp phần làm sáng tỏ những vấn đề lý luận
về khái niệm, đặc điểm của các nhóm yếu thế, việc ban hành và thực hiện pháp luậtbảo vệ quyền nhóm yếu thế
Luận văn làm rõ thực trạng về pháp luật và thực hiện pháp luật về bảo vệquyền nhóm yếu thế ở Việt Nam hiện nay Pháp luật ở Việt Nam hiện tại về bảo vệquyền của nhóm yếu thế đang dần hoàn thiện, đồng thời việc thực hiện pháp luậtcũng đã được quan tâm hơn; tuy nhiên cũng có nhiều điểm bất cập cần phải đề nghịsửa đổi, bổ sung
So với các công trình khoa học khác thì luận văn có một số đóng góp như:
Về cách tiếp cận thì luận văn đã tiếp cận và nghiên cứu pháp luật và bảo vệ phápluật về quyền nhóm yếu thế là một cơ chế bảo vệ quyền con người; Về nội dung thìtrên cơ sở thực tiễn tự hiện pháp luật tại Việt Nam luận văn cũng đã đề xuất nhiềugiải pháp như sửa đổi các Luật, bộ Luật như Luật Người cao tuổi, Luật bảo hiểm xãhội, Luật Lao động,… kèm với đó là các giải pháp nâng cao hiệu quả của việc thựchiện pháp luật bảo vệ quyền nhóm yếu thế
Trang 117 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn này sử dụng phương pháp thống kê, so sánh, phân tích, tổng hợp,diễn dịch và phương pháp thực chứng để phân tích làm sáng tỏ vấn đề cần nghiêncứu Kế thừa có chọn lọc kết quả của các công trình nghiên cứu của các tác giả khác
có liên quan đến vấn đề đang nghiên cứu như: luận án, luận văn, đề tài nghiên cứu,bài viết trên các tạp chí, báo,
8 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mục lục, Mở đầu, Kết luận và tài liệu tham khảo, nội dung củaluận văn được kết cấu thành 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về hoàn thiện pháp luật bảo vệ quyền nhóm yếu thế
Trang 12Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT BẢO VỆ QUYỀN NHÓM YẾU THẾ
1.1 Quyền nhóm yếu thế là nội dung cơ bản của quyền con người
1.1.1 Khái niệm về quyền con người, quyền nhóm yếu thế
Con người sinh ra trên thế giới ai cũng đều được hưởng một quyền tự nhiên
đó chính là quyền con người, đây không phải là một khái niệm xa lạ trong lịch sửphát triển của xã hội loài người, tuy nhiên có nhiều cách hiểu khác nhau về vấn đềnày Theo như khoa học pháp lý thì quyền con người được hiểu là những quyền màpháp luật cần phải thừa nhận đối với tất cả các thể nhân Đó là quyền tối thiểu mà cánhân phải có và được có, quyền bất khả xâm phạm không ai có thể can thiệp Và đểbảo vệ những quyền tự nhiên này thì xã hội loài người đã phải tạo ra cho mình mộtthiết chế có trách nhiệm bảo đảm những quyền này không bị xâm phạm, đó là nhànước Theo như trong bản “Tuyên ngôn độc lập” của Mỹ năm 1776 thì:
Chúng tôi khẳng định một chân lý hiển nhiên rằng, mọi người đềusinh ra có quyền bình đẳng Tạo hóa đã ban cho họ những quyền không
ai có thể xâm phạm được, trong những quyền đó có quyền được sống,quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc
Rằng để đảm bảo những quyền lợi này, các chính phủ được thànhlập ra trong nhân dân và có được những quyền lợi chính đáng trên cơ sở
sự nhất trí của nhân dân, rằng bất cứ khi nào một thể chế chính quyềnnào đó phá vỡ những mục tiêu này, thì nhân dân có quyền thay đổi hoặcloại bỏ chính quyền đó và lập nên một chính quyền mới, đặt trên nềntảng những nguyên tắc cũng như tổ chức thực thi quyền hành theo mộtthể chế sao cho có hiệu quả tốt nhất đối với an ninh và hạnh phúc của họ.Không chỉ có các nước trên thế giới mà ngay cả khi đất nước Việt Nam vừagiành được độc lập thì trong bản “Tuyên ngôn độc lập” đầu tiên do Chủ tịch Hồ Chí
Minh đọc trong ngày 02/9/1945 cũng đã nói rất rõ rằng: “Tất cả mọi người sinh ra
Trang 13đều có quyền bình đẳng Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc” Và theo dòng lịch sử xuyên suốt quá trình xây dựng và bảo vệ đất
nước các bản hiến pháp năm 1946, 1959, 1980, 1992 và 2013 đều ghi dấu sự tôntrọng và bảo vệ quyền con người ngày một rõ ràng và mạnh mẽ và hiện đại
Và từ những quyền con người của các nhà nước đã trở thành quyền conngười của Liên Hợp Quốc Quyền con người được luật pháp quốc tế bảo vệ Ngày19-12-1966 Đại hội đồng Liên Hợp Quốc đã thông qua hai công ước quốc tế về cácquyền con người Công ước thứ nhất có hiệu lực từ ngày 23-3-1976 bảo vệ cácquyền dân sự và chính trị Công ước thứ hai có hiệu lực từ ngày 3-1-1976 bảo vệcác quyền kinh tế, văn hóa, xã hội [11]
Như vậy có thể hiểu chung quyền con người là những quyền tự nhiên, vốn cócủa con người được ghi nhận và bảo vệ trong pháp luật quốc gia và các thỏa thuậnpháp lý quốc tế
Nhóm yếu thế/thiệt thòi (disadvantaged groups): Thuật ngữ yếu thế thiệt thòi
đã được sử dụng theo truyền thống như một tính từ như muốn mô tả một chất lượngvốn có của nhóm là yếu thế thiệt thòi Đó là nhóm mà mọi người thấy mình lâm vàohoàn cảnh khó khăn mà ở đó họ bị từ chối việc tiếp cận và sử dụng các phương tiệnđược cho là hữu ích với đa số các nhóm xã hội tương tự khác Đó là quyền tự chủ,trách nhiệm, lòng tự trọng, quyền được sự hỗ trợ của cộng đồng, y tế, giáo dục,thông tin, việc làm, vốn và hệ thống hỗ trợ khác Đó là nhóm người luôn luôn có sựhiện diện của “rào cản với khả năng tự duy trì được khả năng sinh tồn của bản thân,hoặc dễ bị xâm hại” [35] Theo xác định của UNESCO thì nhóm yếu thế bao: Người
ăn xin, nạn nhân của các loại tội phạm, người tàn tật, thanh thiếu niên có hoàn cảnhkhó khăn, nhóm giáo dục đặc biệt, người cao tuổi, người nghèo,người lang thang,phụ nữ, trẻ em,… ngoài ra còn có người xin tị nạn, người tị nạn, người bị xã hội loạitrừ [36]
Như vậy nhóm yếu thế là nhóm xã hội đặc biệt có hoàn cảnh khó khăn hơn,
có vị thế thấp kém hơn so với các nhóm xã hội “bình thường” có những đặc điểm
Trang 14tương tự Họ gặp phải nhiều thách thức ngăn cản khả năng hòa nhập của họ vớicộng đồng, nói cách khác là bị cô lập ở một thế giới khác Và vì thế ngoài nhữngquyền tự nhiên của con người như trên thì nhóm yếu thế còn có những đặc quyềnriêng như quyền bình đẳng, quyền tự quyết, quyền được học tập, quyền được sửdụng các dịch vụ y tế giáo dục, quyền được pháp luật và nhà nước bảo hộ riêng donhững thiệt thòi đã phải chịu.
Và để nhìn nhận về nhóm yếu thế rõ hơn thì chúng ta có thể nhìn nhận quamột vài đặc điểm nổi bật sau:
Thứ nhất, những người yếu thế thường gặp khó khăn về sức khỏe, những
người này thường có sức khỏe kém, sức khỏe người cao tuổi suy giảm do tuổi già,sức khỏe người khuyết tật các dạng vận động kém và hầu hết không có khả năng laođộng Vì thế, những hoạt động và các công việc cần có thể lực tốt thì họ khó có thểđáp ứng được theo yêu cầu; bên cạnh đó, nếu tham gia vào công việc mà họ thườngxuyên xin nghỉ vì vấn đề sức khỏe thì sẽ ảnh hưởng tới công việc Chính do đó nêncác nhà tuyển dụng lao động sẽ cân nhắc khi tuyển dụng những người này do có thểlàm giảm hiệu suất lao động từ đó dẫn tới việc họ bị kém lợi thế khi xin việc so vớingười bình thường Và ngay kể cả đối với phụ nữ, kể cả với một người có sức khỏe
và làm việc bình thường tuy nhiên do đặc điểm của người phụ nữ có thể một tháng
sẽ phải nghỉ một vài ngày, tất nhiên điều đó làm ảnh hưởng tới công việc và khi xinviệc họ buộc phải bị đánh giá thấp hơn so với các nam giới cùng độ tuổi
Thứ hai, về mặt kinh tế Do những thiệt thòi về mặt sức khỏe nên có thể thấy
rằng khả năng lao động của nhóm này hạn chế, điều này khiến họ không có thunhập, thu nhập thấp hoặc không ổn định, đời sống gặp khó khăn, phụ thuộc nhiềuvào kinh tế gia đình và một phần trợ cấp xã hội Phần lớn đời sống vật chất và nhucầu cơ bản của họ chưa đảm bảo điều kiện bình thường Do đó dễ ảnh hưởng đến sựphát triển hoặc cơ chế bảo vệ và chăm sóc cho nhóm yếu thế
Thứ ba, vấn đề về hòa nhập cộng đồng và tham gia các hoạt động xã hội Do
nhóm yếu thế hay bị xã hội kì thị và phân biệt đối xử nên họ rất khó khăn hoặckhông có khả năng trong việc tham gia các hoạt động xã hội, hoạt động vui chơi mà
Trang 15đáng ra họ có quyền được hưởng, nếu như họ có thể tham gia một cách bình đẳng
và vô tư như người bình thường thì chắc chắn rằng đời sống tinh thần của họ sẽđược cải thiện, tạo tinh thần lạc quan và niềm tin cuộc sống
1.1.2 Những đặc điểm của quyền con người và quyền nhóm yếu thế
Do nhóm yếu thế là một bộ phận góp phần cấu thành nên xã hội con người vìvậy những tính chất và đặc điểm của quyền con người nghiễm nhiên quyền nhómyếu thế cũng sẽ có Và theo nhận thức chung của cộng đồng quốc tế thì quyền conngười có các đặc điểm tính chất cơ bản như sau:
- Về tính phổ biến:
Tính phổ biến của quyền con người được thể hiện rất rõ và đặc trưng đó làphạm vi áp dụng là rộng khắp toàn thế giới không phân biệt lãnh thổ, màu da, tôngiáo, giới tính,… Con người dù ở trong hoàn cảnh, chế độ riêng biệt, thuộc nhữngnền văn hóa khác nhau thì vẫn được công nhận là con người và được hưởng cácquyền tự do cơ bản [10, tr.41]
- Tính đặc thù:
Mặc dù theo đúng như định nghĩa khái niệm thì tất cả mọi người đều đượchưởng quyền con người nhưng mức độ hưởng thụ quyền có sự khác biệt, điều đóphụ thuộc vào năng lực các nhân của từng người, hoàn cảnh chính trị, truyền thốngvăn hóa xã hội mà người đó đang sống Vì xét ra ở mỗi vùng vấn đề về quyền conngười mang sắc thái khác nhau Ví dụ như dân trí, trình độ nhận thức và chế độ ansinh ở hầu hết các vùng châu Phi không thể bằng khi so với các đất nước phát triểnchâu Âu do nền kinh tế kém phát triển [10, tr.42]
- Tính không thể bị tước bỏ:
Từ khi xuất hiện khái niệm và nhận thức về quyền con người trong xã hội hiệnđại thì quyền con người không thể bị tước bỏ hay hạn chế một cách tùy tiện Ngoại trừmột số trường hợp đặc biệt ngoại lệ được pháp luật các quốc gia quy định như mộtngười phạm tội bị tước quyền tự do và bị nhà nước yêu cầu cải tạo trong tù [10, tr.43]
- Tính không thể phân chia
Đã nói tới quyền con người là nói tới sự ngang bằng như nhau về vai trò và
Trang 16tầm quan trọng, về nguyên tắc không có quyền nào được coi là giá trị hơn quyềnnào bởi vì chúng nằm trong một mối liên hệ mật thiết và ảnh hưởng lẫn nhau, nếu
bỏ hay hạn chế một quyền nào đó thì đều tác động tiêu cực tới nhân phẩm, giá trị và
sự phát triển của con người Mặc dù vậy vẫn có một số ngoại lệ trong hoàn cảnh đặcbiệt thì có thể ưu tiên một số quyền hơn ví dụ như trong thiên tai dịch bệnh thìquyền ưu tiên là quyền được y tế chăm sóc… Điều này không có nghĩa là các quyềnđược ưu tiên thực hiện có giá trị cao hơn mà bởi vì các quyền đó trong thực tế hoàncảnh lúc đó có thể bị đe dọa hoặc vi phạm [10, tr.43]
- Tính bình đẳng
Bản tuyên ngôn nhân quyền của Liên Hợp Quốc là một văn kiện quan trọngđánh dấu sự công nhận của quyền con người trên toàn thế giới:
“Điều 1 Mọi người sinh ra tự do và bình đẳng về phẩm cách và quyền lợi, 6
lý trí và lương tri và phải đối xử với nhau trong tình bắc ái
Điều 2 Ai cũng được hưởng những quyền tự do ghi trong bản Tuyên ngôn
này không phân biệt đối xử vì bất cứ lý do nào… hạn chế chủ quyền”
Con người khi sinh ra có thể khác nhau về chủng tộc, màu da giới tính nhưng
đó là điều hiển nhiên do vị trí địa lý, nguồn gốc… nhưng đó không phải là căn cứphân biệt trong việc được hưởng hay không được hưởng quyền và nghĩa vụ Mànguyên tắc bình đẳng thể hiện là tất cả mọi người đều có vị thế ngang nhau trướcpháp luật và có quyền không bị phân biệt đối xử Quyền bình đẳng thể hiện trong tất
cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, đặc biệt là lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa –
xã hội và pháp lý Quyền và nghĩa vụ của con người không bị phân biệt bởi giớitính, tín ngưỡng, dân tộc,… Trong cùng một đều kiện như nhau con người đượchưởng quyền và nghĩa vụ như nhau có tư cách pháp lý như nhau
- Tính tự nhiên
Con người tiến hóa qua hàng triệu năm, và phát triển tới xã hội hiện nay làmột điều hoàn toàn tự nhiên, do đó quyền con người cũng là quyền tự nhiên và
“bẩm sinh” – là quyền vốn có của con người từ xa xưa mà nếu không được hưởng
thì chúng ta sẽ thể sống như một con người Đây là đặc quyền, gắn liền với tư cách
Trang 17con người, với cá nhân con ngời Những quyền này không thể phụ thuộc và bị phụthuộc và phong tục tập quán hay truyền thống văn hóa, ý chí của cá nhân giai cấphay nhà nước nào Vì rõ ràng là con người là sinh ra tự nhiên các chủ thể không thểtạo ra con người do đó quyền con người cũng không thể do cá nhân hay tổ chức nào
áp đặt tước bỏ được
1.2 Khái niệm và đặc điểm của pháp luật về bảo vệ quyền nhóm yếu thế
1.2.1 Khái niệm pháp luật bảo vệ quyền nhóm yếu thế
Pháp luật là hệ thống những qui tắc xử sự mang tính bắt buộc chung do nhà
nước ban hành hoặc thừa nhận và đảm bảo thực hiện, thể hiện ý chí của giai cấpthống trị và là nhân tố điều chỉnh các quan hệ xã hội phát triển phù hợp với lợi íchcủa giai cấp mình Pháp luật là một bộ phận quan trọng của cấu trúc thượng tầng xãhội Nó do cơ sở hạ tầng quyết định nhưng lại có tác động trở lại đối với cơ sở hạtầng Và với pháp luật bảo vệ quyền nhóm yếu thế có thể có những khái niệm khácnhau tùy thuộc vào cách thức tiếp cận Tuy nhiên theo những gì phổ biến nhất vàvới cách nhìn từ góc độ lý luận nhà nước và pháp luật về quyền con người nóichung và quyền nhóm yếu thế nói riêng thì khái niệm về quyền nhóm yếu thế có thểđược hiểu như sau:
Pháp luật về bảo vệ quyền nhóm yếu thế là tổng thể các nguyên tắc quy phạm do Nhà nước Việt Nam ban hành hoặc thừa nhận nhằm quy định về quyền lợi của nhóm yếu thế về các mặt của đời sống như kinh tế, chính trị, xã hội – văn hóa – giáo dục,… về hệ thống các biện pháp tổ chức của nhà nước, của xã hội để bảo đảm các quyền lợi của nhóm yếu thế trong đời sống hiện tại.
1.2.2 Đặc điểm pháp luật bảo vệ quyền nhóm yếu thế
Pháp luật bảo vệ quyền nhóm yếu thế là một bộ phận cấu thành lên pháp luậtcủa Việt Nam và trên thế giới, do đó nó có những đặc điểm chung của pháp luật nóichung nhưng có những điểm riêng biệt, cụ thể như sau:
Thứ nhất, về nguồn pháp luật Nguồn pháp luật có nhiều dạng như: Các
nguyên tắc chung của pháp luật, văn bản quy phạm pháp luật, điều ước quốc tế,phong tục tập quán, án lệ hay các quyết định bản án của tòa án, quy tắc của các hiệp
Trang 18hội nghề nghiệp Tuy nhiên nguồn chủ yếu trong hệ thống pháp luật Việt Nam làdạng văn bản quy phạm pháp luật thứ nhất đó là văn bản quy phạm do các cơ quanlập pháp ban hành, thứ hai là các điều ước Quốc tế mà Việt Nam thừa nhận hiệu lực.Việc sử dụng điều ước quốc tế trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế là hoàn toànphù hợp nhằm theo kịp với xu thế của thế giới Việc áp dụng trực tiếp điều ước quốc
tế cho phép các chủ thể pháp luật trong nước sử dụng ngay các quy tắc của Điềuước quốc tế để bảo vệ quyền và nghĩa vụ mà không cần phải đợi đến khi nội luậthóa quy tắc đó Hiện tại Việt Nam đã có Luật Điều ước quốc tế và tại Điều 6 luậtnày cũng quy định có hai trường hợp quy định điều ước quốc tế có thể được ápdụng trực tiếp tại Việt Nam Trường hợp thứ nhất ở khoản 1 khi quy định của điềuước quốc tế xung đột/khác với quy định của pháp luật Việt Nam về cùng một vấn đềthì áp dụng quy định điều ước quốc tế Trường hợp thứ hai là khi có quyết định chophép áp dụng trực tiếp của Quốc hội, Chủ tịch nước hay Chính phủ Tại Luật Bình
đẳng giới năm 2006 quy định: “Trong trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hòa
xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác với quy định của Luật này thì áp dụng quy định của điều ước quốc tế đó” [15, Điều 3].
Như vậy ở Việt Nam các văn bản quy phạm pháp luật và điều ước quốc tếđều được coi là nguồn pháp luật trong hệ thống quy phạm pháp luật về bảo vệquyền nhóm yếu thế
Thứ hai, pháp luật bảo vệ quyền nhóm yếu thế không nằm trong 1 văn bản
mà có trong rất nhiều văn bản luật khác nhau, với các mức độ nội dung điều chỉnhkhác nhau mà cao nhất có thể kể đến là Hiến pháp
Hiến pháp quy định những nguyên tắc chung về quyền con người, quyềncông dân Trong mỗi hoàn cảnh điều kiện khác nhau quyền con người nói riêng vàquyền nhóm yếu thế luôn được thể hiện phát triển và có tính kế thừa cao Từ Hiếnpháp đầu tiên năm 1946 đến gần đây nhất là Hiến pháp 2013 luôn luôn đổi mới và
cụ thể các quyền con người, quyền và nghĩa vụ của công dân Đặc biệt đối với Hiếnpháp 2013 thì lần đầu tiên “Quyền con người” đã thành tên gọi của Chương, thay vìchỉ gọi là “quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân”
Quyền của người yếu thế ngày càng được phát triển và cụ thể hóa cùng với
Trang 19sự phát triển của xã hội trong các bản Hiến pháp, một số quyền cơ bản như: Quyềnbất khả xâm phạm về thân thế, được pháp luật bảo hộ về sức khỏe; quyền đượcchăm sóc, bảo vệ và tôn trọng; quyền được làm việc học tập; quyền tự do tínngưỡng tôn giáo; quyền tham gia quản lý nhà nước; quyền được bảo đảm an sinh xãhội; quyền kết hôn, ly hôn; quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí tiếp cận thông tin,hôi họp, lập hội, biểu tình;…
Dưới Hiến pháp thì Luật và văn bản dưới Luật cũng được ban hành rất nhiều
và cụ thế và mục đích chung là cụ thể hóa quyền của nhóm yếu thế, tạo điều kiệncho nhóm yếu thế thực hiện tốt quyền và nghĩa vụ của mình
Văn bản luật quy định về quyền của nhóm yếu thế gần như bao trùm mọihoạt động của đời sống xã hội Ví dụ: bảo vệ các quyền về chính trị, có Luật Bầu cửđại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân; bảo vệ quyền kinh tế có các luật như: BộLuật dân sự, Luật Sở hữu trí tuệ, Luật đất đai; bảo vệ quyền tài sản, quan hệ hônnhân, gia đình, có các luật như: Luật Hôn nhân và gia đình, Luật Thừa kế, LuậtPhòng, chống bạo lực gia đình; bảo vệ an ninh, tính mạng: Bộ luật hình sự; bảo vệ
sự phát triển của trẻ em thì có luật Trẻ em,…
Có thể thấy rằng việc xây dựng hệ thống pháp luật đã phát triển cả về chiềudọc (đáp ứng về yêu cầu trật tự pháp lý) và chiều ngang (đảm bảo tính đồng bộ giữacác văn bản luật)
1.2.3 Vai trò của pháp luật trong bảo vệ quyền nhóm yếu thế
Bảo đảm quyền con người nói chung và nhóm yếu thế nói riêng là một quátrình lâu dài với sự kết hợp của nhiều điều kiện khác nhau như kinh tế, chính trị,văn hóa… Tuy nhiên để thực sự đạt được những tiến bộ như hiện nay thì pháp luậtthực sự là một trong những điều kiện tiên quyết góp phần lớn vào sự phát triển đó
Thứ nhất, pháp luật là phương tiện cụ thể hóa một cách chính thống phần lớn
các quyền, tự do của công dân nói chung và nhóm yếu thế nói riêng trong Hiếnpháp, trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội: từ lĩnh vực chính trị, hành chính đếnlĩnh vực dân sự, kinh tế, lao động, hôn nhân gia đình, lĩnh vực các quyền, tự do của
cá nhân Nhiều quyền của công dân nói chung và nhóm yếu thế nói riêng chỉ có thể
Trang 20được bảo đảm và bảo vệ khi và chỉ khi được cụ thể hóa thành các quy phạm phápluật Nếu như không có sự thừa nhận của nhà nước và thông qua pháp luật thì nóchưa trở thành quyền thực sự Và khi đã được cụ thể hóa trong pháp luật thì quyềncon người, quyền nhóm yếu thế là quyền pháp định, là ý chí chung của toàn xã hội,được xã hội thừa nhận và phục tùng, được Nhà nước tôn trọng và bảo vệ, không ai
có quyền xâm phạm các quyền này
Thứ hai, pháp luật là tiền đề để con người đấu tranh và bảo vệ các quyền và
lợi ích hợp pháp của mình Pháp luật được xem xét không chỉ với tư cách là công
cụ, phương tiện quản lý xã hội của nhà nước mà nó còn là công cụ, là cơ sở của conngười nói chung và nhóm yếu thế nói riêng trong việc bảo vệ quyền của chính họ.Pháp luật có thể nói là một chuẩn mực của sự công bằng, vì xuất phát từ xa xưa,pháp luật cũng hình thành nên từ đạo đức, từ nguyên tắc xã hội, được con ngườicông nhận do đó có thể dung là thước đo mọi người, có điều thước đo này có nhữngràng buộc Quyền con người, quyền nhóm yếu thế có thể bị xâm phạm từ các nhóm
xã hội khác hoặc cũng có thể bị chính những chủ thế được nhà nước trao quyền xâmphạm khi thi hành công vụ Bởi vì cơ bản trong quan hệ giữa công dân và nhà nướcthì công dân vừa là chủ nhà nước nhưng cũng là đối tượng thực hiện nghĩa vụ vớinhà nước, bị nhà nước quản lý, cho nên việc tác động qua lại và nguy cơ bị xâmphạm quyền là điều hoàn toàn dễ hiểu Trong mối quan hệ với các cơ quan nhànước, công dân là người bị quản lý và chịu sự phán quyết nên họ luôn ở vị thế bấtlợi Trong điều kiện đó, người công dân không có vũ khí, phương tiện nào khác hữuhiệu hơn là sử dụng pháp luật để đấu tranh tự bảo vệ lấy các quyền và lợi ích củamình Chỉ có pháp luật, bằng những quy phạm pháp luật chặt chẽ về chức năng,nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm, nghĩa vụ của các cơ quan, tổ chức, các quyền vànghĩa vụ của công dân, người đấu tranh chống lại các hành vi xâm hại, bảo vệquyền và lợi ích hợp pháp của mình
Thứ ba, vai trò của pháp luật trong việc thực hiện và bảo vệ quyền nhóm yếu
thế còn thể hiện trong mối quan hệ giữa pháp luật và các điều kiện bảo đảm khác(chính trị, kinh tế, văn hóa …) các điều kiện trên đều phải thông qua pháp luật, thể
Trang 21hiện dưới hình thức pháp luật mới trở thành giá trị xã hội ổn định, được hiện thựchóa trên qui mô toàn xã hội Chỉ có như vậy thì các điều kiện đó mới phát huy đượcvai trò của mình trong việc thực hiện và bảo vệ quyền nhóm yếu thế, cụ thể như:
- Điều kiện chính trị: Đường lối chính trị của một quốc gia là nhằm xây dựngvào bảo vệ lãnh thổ, bảo vệ độc lập dân tộc, xây dựng nền kinh tế phát triển, nềndân chủ thực sự Đường lối chính trị đó phải được thể chế hóa trong Hiến pháp vàpháp luật Hiến pháp quy định chế độ chính trị, chế độ kinh tế, văn hóa xã hội, tổchức hoạt động của các cơ quan Nhà nước và tổ chức xã hội, quyền và nghĩa vụ cơbản của công dân… Đó chính là cơ sở pháp lý để xây dựng một xã hội có cơ cấu tổchức và chế độ chính trị hướng tới tôn trọng, bảo vệ quyền con người
- Điều kiện kinh tế: Phát triển kinh tế tạo cơ sở vật chất là một trong nhữngđiều kiện quan trọng đảm bảo thực hiện quyền nhóm yếu thế Nhưng muốn pháttriển kinh tế thì đường lối chính sách, cơ chế phải được cụ thể hóa trong pháp luật.Pháp luật sẽ tạo khuôn khổ môi trường pháp lý thuận lợi cho hoạt động sản xuấtkinh doanh dịch vụ phát huy được mọi tiềm năng, hạn chế được các mặt tiêu cực
- Điều kiện văn hóa: Phát triển văn hóa giáo dục, nâng cao dân trí cũng phảiđược thể chế hóa trong hệ thống pháp luật, bảo đảm cho con người được phát triển
tự do và toàn diện, tạo điều kiện cho mọi người được độc lập, nghiên cứu nâng caonhận thức về mọi mặt Mặt khác, pháp luật có vai trò giáo dục tích cực, mạnh mẽđối với tất cả các thành viên trong xã hội góp phần hình thành văn hóa pháp lý ởmọi người, giúp cho mọi người biết sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật,biết “tự bảo vệ” các quyền và lợi ích hợp pháp của mình và biết tôn trọng các quyền
và lợi ích hợp pháp của người khác trong cộng đồng
Thứ tư, pháp luật là công cụ vừa cứng rắn nhưng cũng vừa mềm dẻo trong
việc bảo vệ quyền con người, quyền nhóm yếu thế Tính cứng rắn và tính mềm dẻothể hiện ở chỗ khi cần thiết Nhà nước sẽ dung các biện pháp cưỡng chế bằng cáchình thức với cấp độ từ mềm dẻo như giáo dục, thuyết phục bảo đảm quyền đượcthực hiện hoặc cũng có thể cao hơn là tước một số quyền cơ bản tạm thời nếu nhưđối tượng có khả năng gây nguy hiểm cho xã hội
Trang 221.2.4 Cấu trúc pháp luật về bảo vệ quyền nhóm yếu thế
Các quyền của nhóm yếu thế nói riêng và quyền con người nói chung được
đề cập từ rất lâu, nhất là trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay, và các quyền nàyhiện được xác định trên cơ sở pháp luật thuộc nhiều cấp độ khác nhau tạo thành mộtkim tự tháp quyền từ trên xuống dưới:
Thứ nhất về cấp độ pháp luật quốc tế: “Tuyên bố toàn cầu của Liên hợp quốc về quyền con người” (năm 1948), “Công ước của Liên hợp quốc về xóa bỏ toàn bộ các hình thức phân biệt chủng tộc” (năm 1963), đặc biệt là “Công ước về xóa bỏ toàn bộ các hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ” (CEDAW) (năm 1979),
“Công ước về quyền trẻ em” (CRC) (năm 1989) [11] Quyền của nhóm yếu thế và
cụ thể hơn nữa là quyền của nhóm người dễ bị xâm hại như trẻ em, phụ nữ, ngườicao tuổi,… được thiết chế hóa thành các quy định, các mục tiêu, phương châm hànhđộng trong các tuyên bố và các hiệp ước quốc tế Tại Hội nghị Thượng đỉnh Thiênniên kỷ của Liên Hợp Quốc năm 2000, 189 quốc gia thành viên nhất trí thông quaTuyên bố Thiên niên kỷ và cam kết đạt được tám Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ(MDG) vào năm 2015 Và trong mục tám mục tiêu thiên niên kỉ năm 2015 thì nhómyếu thế được nhắc tới 5/8 mục tiêu có đề cập đến nhóm yếu thế đó là:
+ Tất cả trẻ em học hết tiểu học
+ Phụ nữ có các cơ hội và được tôn trọng như nam giới
+ Có thêm nhiều trẻ em dưới 5 tuổi lớn lên khỏe mạnh
+ Ngày càng có ít bà mẹ tử vong khi sinh con
+ Cộng đồng toàn cầu liên hiệp và phối hợp với nhau để xây dựng một thếgiới bình đẳng và công bằng
Thứ hai cấp độ pháp luật quốc gia:
Quyền của nhóm yếu thế được ghi nhận trong các văn bản pháp luật quốc gia
và đầu tiên phải kể đến Hiến pháp Xuyên suốt trong các bản Hiến pháp từ năm
1946 cho tới Hiến pháp gần đây nhất là Hiến pháp 2013 đều nhắc tới quyền conngười nói chung và quyền nhóm yếu thế nói riêng, không những thế trong Hiếnpháp 2013 đã dành riêng một chương để đề cập tới Không những thế ở Việt Nam
Trang 23quyền của nhóm yếu thế còn được cụ thể hóa trong rất nhiều bộ luật như Luật Trẻ
em 2016, Luật người cao tuổi 2009, Luật Hôn nhân và gia đình, Luật giáo dục,…
Và ở mỗi bộ luật đều quy định rất rõ và nhất quán với Hiến pháp về việc công nhận
và bảo vệ quyền của nhóm yếu thế
Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định:
Trong trường hợp tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng màpháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu thì trong giấy chứng nhậnquyền sở hữu phải ghi tên của cả vợ chồng [27, Điều 34]
Điều 95 Luật Đất đai năm 2013 quy định:
Chuyển quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khácgắn liền với đất của vợ hoặc của chồng thành quyền sử dụng đất chung,quyền sở hữu tài sản chung của vợ và chồng
Luật người cao tuổi 2009 quy định:
Người cao tuổi được bảo đảm các nhu cầu cơ bản về ăn, mặc, ở,
đi lại,… được ưu tiên sử dụng các dịch vụ theo Luật; được miễn cáckhoản đóng góp cho các hoạt động xã hội, trừ trường hợp tự nguyệnđóng góp,… [17, Điều 3, Khoản 1]
Còn riêng đối với trẻ em, xác định đây là một trong những nhóm đối tượngđược đặc biệt quan tâm của Nhà nước và xã hội do đây là tương lai của Đất nước.Luật trẻ em 2016 dành riêng 1 mục gồm 25 điều (từ Điều 12 đến điều 36) nhằm nêucác quyền của trẻ em và không ai được phép xâm phạm…
Thứ ba cấp độ pháp quy dưới luật: Theo như đã tìm hiểu ở trên, quyền của
nhóm yếu thế được quy định trong Hiến pháp và các bộ luật và có một điều rõ ràng
là các văn bản trên và các văn bản pháp luật quốc tế cùng chung một đặc điểmthường đưa ra quy định chung mang tính nguyên tắc Do đó các văn bản dưới luật làhoàn toàn cần thiết nhằm mục đích giải thích và hướng dẫn thực hiện các quyềnnhóm yếu thế Và điều này có thể dẫn tới nhiều khả năng có thể xảy ra tùy thuộcvào trình độ nhận thức, thái độ, hành vi của những cơ quan, tổ chức cá nhân cótrách nhiệm thực thi pháp luật
Trang 241.3 Những nhóm người yếu thế cụ thể và một số quy định pháp luật quốc tế về quyền của nhóm người yếu thế
1.3.1 Nhóm người yếu thế là trẻ em
Hiện tại cả pháp luật quốc tế và quốc gia thì đều quy định rõ khái niệm trẻ
em, và những điều kiện để được coi là trẻ em Theo như Điều 1 Công ước Liên hợp
quốc về quyền trẻ em năm 1989 thì “Trẻ em là những người dưới 18 tuổi” Còn
theo pháp luật Việt Nam thì được thể hiện ngay tại Điều 1 Luật Trẻ em 2016 như
sau: “Trẻ em là người dưới 16 tuổi”.
Có thể nhận thấy giữa pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam có sự chênhlệch về tuổi, tuy nhiên điều này không vi phạm công ước vì tại Điều 1 Công ướcLiên hợp quốc về quyền trẻ em thì cũng nêu rất rõ trừ trường hợp luật pháp áp dụngvới trẻ em đó quy định tuổi thành niên sớm hơn
Một số đặc điểm dễ nhận thấy nhất của trẻ em chính là:
Về mặt thể chất của trẻ em phát triển còn chưa đầy đủ Do đang trong quátrình phát triển về thể chất nên các em cần có sự chăm sóc cần thiết từ phía gia đình
để các em có thể phát triển tốt và toàn diện hơn
Về mặt tâm lý, các em thường có những suy nghĩ còn non nớt, nhận thức vấn
đề đôi khi còn chưa chín chắn Chính vì vậy, các quan điểm và ý kiến của các emthường không được lắng nghe hoặc tôn trọng
Trẻ em thường sống phụ thuộc gia đình, cha, mẹ, các em vẫn chưa thể tự hoàntoàn chăm sóc được cho bản thân Bên cạnh đó, các em chưa đến độ tuổi lao động nênchưa thể tự nuôi sống bản thân và còn phụ thuộc vào gia đình
1.3.2 Nhóm người yếu thế là phụ nữ
Hiện nay trên thế giới chủ yếu có 2 giới tính là nam và nữ, trừ một số trườnghợp đặc biệt Và phụ nữ là cụm từ thường được dùng để chỉ giới tính nữ Tuy nhiênbên cạnh đó còn sử dụng một số từ ngữ khác như đàn bà, con gái,… Như vậy nếuxét kĩ về mặt ngữ nghĩa thì các cụm từ có sự khác nhau:
Thứ nhất, đối với cụm từ phụ nữ ta có định nghĩa như sau: “Phụ nữ chỉ một, một nhóm hay tất cả nữ giới đã trưởng thành, hoặc cho là đã trưởng thành về mặt
xã hội Nó cho thấy một cái nhìn thể hiện sự thiện cảm, trân trọng nhất định từ phía
Trang 25người sử dụng Nó đề cập đến hoặc hướng người ta đến những mặt tốt, đến những giá trị, những đóng góp, những ảnh hưởng từ nữ giới”.
Thứ hai, đối với cụm từ đàn bà thì ta cũng có khái niệm tương tự khái niệm
phụ nữ, tuy nhiên có thể thấy được so với phụ nữ thì cụm từ đàn bà thể hiện mộtcách diễn đạt không được trang trọng cho lắm, thiếu thiện cảm, tiêu cực, nhưngcũng phải thừa nhận rằng cụm từ đàn bà cũng từng đã tồn tại trong hiến pháp Việt
Nam dưới góc độ một sự trân trọng Đó là hiến pháp năm 1946: “Đàn bà ngang quyền với đàn ông về mọi phương diện” [20, Điều 9].
Thứ ba, cụm từ con gái chỉ những nữ giới trẻ, thường ở độ tuổi vị thành niên,
những người đã có biểu hiện rõ ràng của giới tính nữ (nhỏ hơn nữa thì được coi là
bé gái) nhưng chưa được cho là trưởng thành
Như vậy, không có một khái niệm cụ thể rõ ràng nào để định nghĩa phụ nữ,cho nên dù sử dụng cụm từ nào thì cũng chỉ giới nữ nói chung, chỉ là mỗi cụm từđược nhìn dưới một góc độ khác nhau Tuy nhiên, nếu đòi hỏi một cách khắt khe thìcụm từ phụ nữ ở đây đòi hỏi họ phải trưởng thành cả về mặt tâm - sinh lý, địa vị xãhội và phải là người đã kết hôn Thế nhưng ở khía cạnh quyền phụ nữ thì không đòihỏi người đó là phụ nữ mà nói về giới nữ nói chung không phân biệt tuổi tác…
Phụ nữ là nhóm đông nhất trong các nhóm xã hội dễ bị tổn thương nên vấn
đề quyền của phụ nữ thu hút sự quan tâm rất lớn của cộng đồng quốc tế Phụ nữthường gặp nhiều khó khăn trong cuộc sống, về mặt thể chất, phụ nữ được coi làphái yếu Đối với những công việc nặng nhọc đòi hỏi có sức mạnh phụ nữ thườngkhó có khả năng thực hiện Về mặt kinh tế, ở thành thị, phụ nữ phần lớn ban ngày
họ đi làm các công việc và tự tạo thu nhập cho bản thân nhưng đối với một số côngviệc thì khả năng cạnh tranh của họ không bằng nam giới, ở nông thôn, do đa sốphụ nữ dành nhiều thời gian cho việc chăm sóc gia đình hoặc chăm sóc, nuôi dạycon cái nên họ không có công việc để tạo thu nhập cho bản thân, một số ít kháccũng tham gia làm thêm một số công việc để có thêm thu nhập góp phần làm tăngthu nhập trong gia đình [7, tr.9]
Trang 261.3.3 Nhóm người yếu thế là người khuyết tật
Theo như Điều 1 Công ước của Liên hợp quốc về Quyền của người khuyếttật năm 2007 được Việt Nam thông qua năm 2014 tại kỳ họp thứ 8 Quốc hội khóa
XIII thì: “Người khuyết tật bao gồm những người có những khiếm khuyết lâu dài về thể chất, trí tuệ, thần kinh hoặc giác quan mà khi tương tác với các rào cản khác nhau có thể cản trở sự tham gia đầy đủ và hiệu quả của họ trong xã hội trên một nền tảng công bằng như những người khác trong xã hội”.
Theo phân loại của Tổ chức Y tế thế giới, có ba mức độ về khuyết tật: khiếmkhuyết, khuyết tật và tàn tật Khiếm khuyết chỉ đến sự mất mát hoặc không bìnhthường của cấu trúc cơ thể liên quan đến tâm - sinh lý Khuyết tật chỉ đến sự giảmthiểu chức năng hoạt động, là hậu quả của sự khiếm khuyết Còn tàn tật đề cập đến sựbất lợi hoặc thiệt thòi của người mang khiếm khuyết do tác động của môi trườngxung quanh lên tình trạng khuyết tật của họ Còn theo quan điểm của Tổ chức Quốc
tế người khuyết tật thì: “Người khuyết tật trở thành người tàn tật là do thiếu cơ hội
để tham gia các hoạt động xã hội và có một cuộc sống giống như thành viên khác”
[9]
- Đặc điểm người khuyết tật:
Thứ nhất, người khuyết tật có sự khiếm khuyết về thể chất, thần kinh, trí
tuệ… hoặc kết hợp một trong số các tình trạng trên Phản ánh sự tương tác giữa cáctính năng của cơ thể của một người và các tính năng của xã hội mà họ sống Tìnhtrạng khuyết tật có thể có từ khi sinh ra, hoặc xảy ra trong cuộc đời con người
Thứ hai, do có những khiếm khuyết làm ảnh hưởng đến khả năng của những
người khuyết tật mà họ thường bị xâm phạm các quyền của mình Bên cạnh đó, họcòn phải đối diện với những khó khăn mà bản thân họ không thể tự thực hiện được.Những người này thường hay tự ti và mặc cảm về bản thân, một số người trong xãhội có sự phân biệt đối xử và có những hành vi xúc phạm người khuyết tật
Thứ ba, người khuyết tật thường có trình độ tay nghề thấp hoặc không có
nghề, đa số họ có nguồn thu nhập thấp do khả năng của họ không đáp ứng được cácyêu cầu của xã hội và phần lớn thu nhập của họ có được từ nguồn ngân sách xã hội
1.3.4 Nhóm người yếu thế là người cao tuổi
Trang 27Theo như quy định của Tổ chức y tế thế giới thì: “Người cao tuổi phải từ 70 tuổi trở lên” Còn theo Luật Người cao tuổi Việt Nam năm 2009 thì: “Người cao tuổi là những người đủ 60 tuổi trở lên” [18, Điều 9] Lý do chính dẫn tới việc quy
định độ tuổi người cao tuổi ở Việt Nam thấp hơn so với Tổ chức Y tế thế giới là do tuổithọ trung bình của nước ta thấp hơn so với nhiều nước trên thế giới, mặc dù tới năm
2016 tuổi thọ trung bình của nước ta đã là 73.4 tuổi [50], tuy nhiên việc quy định thấphơn cũng nhằm bảo đảm các nhu cầu cơ bản về ăn, mặc, ở, đi lại và chăm sóc sức khỏecũng như tạo điều kiện tham gia các hoạt động văn hóa, giáo dục, thể thao,…
Và người cao tuổi có một số đặc điểm tiêu biểu như sau:
Trước hết, đó là đặc điểm về sức khỏe, người cao tuổi đa số sức khỏe đã suygiảm rất nhiều do tuổi đã cao, phần ít họ còn khả năng tự chăm sóc bản thân,thường đối với những người có độ tuổi càng lớn thì khả năng phụ thuộc vào con,cháu để chăm sóc cá nhân, hỗ trợ việc đi lại càng nhiều,
Thứ hai, đặc điểm về kinh tế và khả năng tham gia các hoạt động chính trị,
xã hội, người cao tuổi thường ít còn khả năng độc lập về kinh tế, có nguồn thu nhậpthấp, các ngành nghề của họ để lại việc họ có nhận được các khoản phụ cấp của nhànước, bên cạnh đó còn có các khoản phụ cấp của con cháu và một số trợ cấp của xãhội Đối với các hoạt động chính trị, xã hội của người cao tuổi cũng giảm dần dophần lớn ảnh hưởng từ sức khỏe, bên cạnh đó, nếu có điều kiện họ cũng tham giacác hoạt động thể dục, văn hóa nghệ thuật,…
1.4 Lịch sử hình thành và phát triển pháp luật về quyền nhóm yếu thế trên thế giới và Việt Nam
Do nhóm yếu thế là một bộ phận của xã hội loài người do đó lịch sử hìnhthành và phát triển quyền con người cũng có thể coi là lịch sử phát triển quyềnnhóm yếu thế, có chăng lịch sử quyền nhóm yếu thế xuất hiện sau bởi một số đặcđiểm đặc biệt
Quyền con người, hay nhân quyền là một giá trị cơ bản, quan trọng của nhânloại Đó là thành quả của sự phát triển lịch sử, là một đặc trưng của xã hội vănminh Hiện nay về nguồn gốc của quyền còn người có hai trường phái đưa ra hai
Trang 28quan điểm khác nhau.
Đầu tiên đó là học thuyết quyền tự nhiên (natural rights) cho rằng quyền conngười là điều hiển nhiên, bẩm sinh đã có mà mọi cá nhân khi sinh ra đều được hưởng
vì đơn giản họ là 1 nhân tố trong cộng đồng nhân loại Vì vậy mà các quyền này không
bị phụ thuộc vào bất kì một yếu tố nào như vị trí địa lý, phong tục tập quán hay là bất
kì ý chí của cá nhân hay tổ chức nào khác, và không một chủ thể nào, kể cả các nhànước, có thể ban phát hay tước bỏ các quyền con người vốn có [10, tr.40]
Ngược lại học thuyết trên thì là học thuyết về quyền pháp lý (legal rights),trong đó cho rằng các quyền con người không phải những gì bẩm sinh mà phải donhững chủ thể khác công nhận và xác định, như nhà nước pháp điểm hóa thành cácquy phạm pháp luật hoặc xuất phát từ truyền thống văn hóa Như vậy theo như họcthuyết về quyền pháp lý thì quyền con người bị giới hạn và ảnh hưởng ở góc độnhất định, cả thời hạn hiệu lực của các quyền con người sẽ phụ thuộc vào vị trí địa
lý, phong tục tập quán, giai cấp thống trị [10, tr.41]
Như vậy có thể thấy sự xung đột về hai luồng tư tưởng là 1 bên cho rằngquyền con người là tự nhiên vốn dĩ sẵn có và 1 bên cho rằng quyền con ngườikhông tự có mà nó được phải được công nhận thì mới hình thành
Xét về độ dài lịch sử thì có vẻ như học thuyết về quyền tự nhiên được đề cậpsớm hơn và số lượng học giả nhiều hơn Từ thời Hi Lạp cổ đại nhà triết học Zeno(333 – 264 TCN) đã phát biểu không ai sinh ra đã là một nô lệ, địa vị nô lệ là do bịtước đoạt sự tự do vốn có Tư tưởng này sau đó được nhiều triết gia tái khẳng định
và phát triển, trong đó tiêu biểu nhất là Thomas Hobbes (1588–1679), John Locke(1632-1704) và Thomas Paine (1731–1809) Thomas Hobbes cho rằng quyền tự
nhiên cốt yếu của con người là “được sử dụng quyền lực của chính mình để bảo đảm cuộc sống của bản thân mình, và do đó, được làm bất cứ điều gì mà mình cho
là đúng đắn và hợp lý…” Trong các tác phẩm của mình, John Locke cho rằng các
chính phủ chẳng qua chỉ là một dạng ‘khế ước xã hội’ giữa những kẻ cai trị vànhững người bị trị, trong đó những người bị trị (đa số công dân) tự nguyện ký vàobản khế ước này với kỳ vọng và mong muốn sử dụng chính phủ như là một phươngtiện để bảo vệ các “quyền tự nhiên” của họ chứ không phải để ban phát và quy định
Trang 29các quyền cho họ [10, tr.41].
Tuy nhiên thì tới ngày nay cuộc tranh luận tính đúng đắn của hai học thuyếtnày vẫn chưa dừng lại Việc phân tích đúng sai, hợp lý và không hợp lý của hai họcthuyết này là không đơn giản do chúng liên quan đến một phạm vi rộng lớn các vấn
đề về triết học, chính trị, xã hội, đạo đức,… Và vì vậy mọi quan điểm nào nhằmphủ nhận bất kì một học thuyết nào đều không phù hợp Vì đơn giản hiện nay vềhình thức hầu hết các văn kiện pháp luật của các quốc gia đều thể hiện các quyềncon người là các quyền pháp lý, thì trong Tuyên ngôn toàn thế giới về quyền conngười năm 1948 và một số văn kiện pháp luật ở một số quốc gia, quyền con ngườiđược khẳng định một cách rõ ràng là các quyền tự nhiên, vốn có và không thểchuyển nhượng được của các cá nhân
Năm 1977 nhà luật học người Cezch là Karel Vasak đã đề cập đến các mốctrong sự phát triển về nhận thức nói chung và việc pháp điển hóa các quyền conngười vào luật quốc tế nói riêng theo đó sự phát triển này thành ba giai đoạn Giaiđoạn 1 tập trung vào quyền dân sự, giai đoạn 2 tập trung vào quyền kinh tế, xã hộivăn hóa; và giai đoạn 3 tập trung vào quyền tập thể Theo lịch sử phát triển phápluật về quyền con người, thì các quyền nhóm luôn luôn có một phần đồng thờigiống với quyền cá nhân Ví dụ như quyền bình đẳng thì sẽ đề cập đến quyền dân sựchính trị của cá nhân và quyền của nhóm người như phụ nữ, hay người khuyết tật,
… Và nhìn xa hơn nữa về trước đây có thể thấy rằng những văn kiện quốc tế đầutiên về vấn đề quyền nhóm và quyền cá nhân thì nội dung cơ bản là về các quyềnnhóm chứ không phải cá nhân Như khi Hội Quốc Liên hoạt động từ năm 1919 đến
1939 thì tổ chức đã thông qua một số văn kiện quốc tế như Tuyên ngôn về quyền trẻ
em năm 1924 … Sau khi Chiến tranh thế giới thứ II kết thúc thì sự ra đời của LiênHợp Quốc cũng cho chúng ta thấy sự phát triển đồng thời các quyền cá nhân và tậpthể Trong Lời nói đầu của Hiến chương Liên Hợp Quốc việc bày tỏ tin tưởng vào
sự bình đẳng giữa các quốc gia, giữa phụ nữ với đàn ông thể hiện rõ sự gắn bókhông tác rời giữa quyền cá nhân và quyền tập thể Sau này ở các Tuyên ngôn toànthế giới về nhân quyền năm 1948 hay các công ước quốc tế cơ bản về quyền dân sự,chính trị năm 1966 thì mặc dù nội dung chính về quyền cá nhân nhưng vẫn lồng
Trang 30ghép quyền nhóm trong đó như quyền của phụ nữ, trẻ em,…
Còn tại Việt Nam thì tư tưởng về quyền con người xuất hiện từ khá sớm từ thờiphong kiến đã manh nha xuất hiện Tư tưởng nhân đạo yêu thương con người, vì conngười được phản ánh rõ qua áng hùng văn Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi với lời
thơ mở đầu “Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân” Bên cạnh đó, tư tưởng coi trọng con
người còn được thể hiện qua các quy định, điều lệ mà các triều đại phong kiến banhành nhằm bảm đảm sự công bằng và ổn định trong đời sống của người dân
Dưới các triều đại phong kiến Việt Nam đầu tiên như thời nhà Ngô, nhà Đinh,mặc dù hệ thống luật pháp chính thức chưa được ban hành nhưng triều đình có nhữngquy định về việc sử dụng các hình phạt để răn đe, trừng trị nhằm đảm bảo sự công bằng
và ổn định xã hội Đến triều đại nhà Lý, bộ luật thành văn đầu tiên của Việt Nam (Bộ hình thư) đã được ra đời (năm 1042) Dưới thời kỳ này, do Phật giáo trở thành quốc
giáo nên các điều lệ trong bộ luật chủ yếu dựa trên tư tưởng của đạo đức nhà Phật đểhướng thiện cho con người nhằm tạo mối quan hệ tốt đẹp giữa nhà nước và nhân dân
Tiếp nối tư tưởng đó, triều đại nhà Trần xây dựng nên Bộ hình luật (năm 1244) để quản
lý đất nước, trong đó có thêm các chính sách thưởng phạt khá phân minh Những điềuluật đó góp phần đảm bảo sự công bằng, quyền lợi và trách nhiệm của người dân, tạodựng nên mối quan hệ gắn kết giữa chính quyền phong kiến với nhân dân, từ đó thúcđẩy sự ổn định của xã hội Chính điều đó đã góp phần huy động được sức dân cùng nhànước tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Và thời kì đỉnh cao nhất của pháp luật thời phong kiến không thể nào không
đề cập tới Bộ Luật Hồng Đức thời Hậu Lê Bộ luật Hồng Đức mặc dù được banhành trong xã hội phong kiến nhưng nó thể hiện được khá nhiều tư tưởng tiến bộ,đảm bảo quyền lợi chính đáng cho người dân và phần nào cho thấy sự đề cao quyềncon người trong xã hội phong kiến tuy không được diễn tả một cách trực tiếp Một
số nội dung tiêu biểu như:
Thứ nhất, bảo đảm quyền được sống của con người, nếu bị xâm phạm thì
người phạm tội hoàn toàn bị xử phạt như tội bắt người đem bán (Điều 312, 435); tộihiếp dâm (Điều 403, Điều 428),…[47]
Trang 31Thứ hai, quyền của phụ nữ được nâng cao và có rất nhiều điểm tiến bộ do
trong thời phong kiến thì tư tưởng trọng nam khinh nữ vẫn còn rất cao, việc bảo vệquyền của người phụ nữ là một điều cực kì mới mẻ và có tính đột phá Trong luật
Hồng Đức, điều 322 quy định Con gái thấy chồng chưa cưới có ác tật có thể kêu lên quan để trả đồ sính lễ Đồng thời, luật này cũng có những điều khoản trừng phạt đối với những người chồng thiếu trách nhiệm đối với vợ Điều 308 quy định Chồng
bỏ lửng vợ 5 tháng mà không đi lại thì vợ được quyền kiện lên quan để bỏ chồng Nếu đã có con thì cho hạn một năm Việc quy định cho phép người vợ có quyền bỏ
chồng như vậy là điều khá hiếm hoi trong các xã hội truyền thống
Thứ ba, luật Hồng Đức cũng chú trọng tới việc bảo vệ quyền lợi cho các
nhóm yếu thế, thiệt thòi trong xã hội, thể hiện tư tưởng mang tính nhân văn, nhân
đạo Điều 295 quy định Phải chăm sóc người goá vợ, goá chồng, mồ côi, tàn tật nghèo khổ không thể tự mình mưu sinh, không có người thân thích để nương tựa; Điều 379 quy định Xử tội người trưởng họ tự tiện bán đất của đứa cháu mồ côi.
Có thể nói, thông qua các điều luật, các quy định của các triều đại phongkiến, chúng ta ít nhiều thấy được tư tưởng và sự coi trọng quyền lợi của con ngườitrong xã hội truyền thống Nó đã phần nào thể hiện sự coi trọng và bảo vệ quyềncon người Tuy nhiên, con người trong các xã hội truyền thống không tồn tại nhưmột thực thể cá nhân mà đó là con người xã hội, là thành viên của cộng đồng nênlợi ích của con người phải được đặt trong lợi ích của cộng đồng, dân tộc Tư tưởng
về quyền con người ở thời kỳ phong kiến chưa chú trọng tới quyền tự do cá nhân,các quyền công dân như ở châu Âu thế kỷ XVIII trở đi Những tư tưởng này ở ViệtNam chỉ được chú trọng nhiều khi bước sang thế kỷ XIX, nhất là qua tư tưởng vềquyền con người, quyền công dân của Chủ tịch Hồ Chí Minh Những tư tưởng vềquyền công dân, quyền con người chỉ được thừa nhận và thể chế hoá khi nhà nướcViệt Nam Dân Chủ Cộng Hoà ra đời
Năm 1945 nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời và bản Hiến phápđầu tiên ra đời 1 năm sau đó (1946) Tuy là bản hiến pháp đầu tiên nhưng nó đã thểhiện những tư tưởng rất tiến bộ về quyền con người Những tư tưởng đó liên tụcđược các hiến pháp của Việt Nam sau này (hiến pháp 1958; hiến pháp 1980; hiến
Trang 32pháp 1992; hiến pháp 2013) kế thừa và phát triển.
Các bản hiến pháp của Việt Nam sau này với tinh thần coi trọng con người, đềcao quyền lợi của con người đã không ngừng sửa đổi, bổ sung các điều luật để phùhợp hơn với bối cảnh thực tế Điều cần lưu ý là trong các bản hiến pháp, quyền lợiluôn được đặt song hành với nghĩa vụ của con người Hiến pháp Việt Nam năm 1946
có 18 điều quy định về quyền lợi và nghĩa vụ công dân Các bản hiến pháp về saucũng dành riêng một chương cho điều này, và các điều quy định luôn được bổ sungthêm: Hiến pháp năm 1958 có 21 điều (từ điều 22 đến 43); Hiến pháp năm 1980 có
29 điều (từ điều 53 đến 81); Hiến pháp năm 1992 có 34 điều (từ điều 49 đến 82) Mỗihiến pháp về sau là sự kế thừa và phát triển các nội dung từ những hiến pháp trước
đó Hiến pháp mới nhất của Việt Nam ra đời năm 2013 đã có một số điều chỉnh sovới Hiến pháp năm 1992, trong đó, chương V của bản Hiến pháp 1992 với nhan đề:
“Quyền và nghĩa vụ của công dân” đã được chuyển thành: “Quyền con người, quyền
và nghĩa vụ cơ bản của công dân” (bao gồm 35 điều, từ điều 14 đến điều 49) vàchuyển lên ở vị trí chương II ngay sau chương I về “Chế độ chính trị” Điều này thểhiện sự chú trọng đến quyền con người của Việt Nam trong bối cảnh đương đại.Không chỉ có thể Đảng và Nhà nước ta luôn luôn đồng hành cùng các nước trên thếgiới trong việc bảo vệ quyền con người bằng cách tham gia ký kết các công ước, điềukhoản của luật pháp quốc tế liên quan tới bảo đảm quyền con người như phê chuẩnCông ước chống lại mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ (CEDAW) năm 1982;Công ước về Quyền trẻ em (CRC) năm 1990 Đi kèm với đó là các bộ luật, văn bảndưới luật nhằm cụ thể hóa đường lối chính sách của Đảng và nhà nước như Luật trẻ
em, Luật hôn nhân và gia đình, Luật người cao tuổi, Luật người khuyết tật,… Tất cảnhững điều đó nhằm góp phần đảm bảo quyền và sự phát triển toàn diện của conngười nói chung và nhóm người yếu thế nói riêng trong xã hội Việt Nam
1.5 Cơ chế bảo vệ và bảo đảm quyền nhóm yếu thế
Quyền con người nói chung và quyền nhóm yếu thế nói riêng không chỉ cầnđược quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật mà còn cần được thể hiện quacác tổ chức, cơ quan hoạt động trong lĩnh vực này Bởi nếu thiếu đi việc áp dụng thìpháp luật cũng chỉ là những con chữ vô nghĩa Và chính những văn bản pháp luật và
Trang 33những cơ quan này tạo thành cơ chế bảo vệ và thúc đẩy quyền nhóm yếu thế.
Trong nội dung phân tích này do quyền nhóm yếu thế là một bộ phận cấu thànhquan trọng của quyền con người, và do đó phần nhiều sẽ đề cập tới quyền con người
Quyền con người từ lâu đã được công nhận trong pháp luật quốc tế và cácquốc gia Đầu tiên phải kể tới là Luật về các quyền ra đời năm 1689 là kết quả củacuộc cách mạng Tư sản Anh Và sau đúng gần 1 thế kỉ vào ngày 04/7/1776 các đạibiểu các bang của Hợp chủng quốc Hoa Kì thông qua bản Tuyên ngôn Độc lập mà
tại đây đã khẳng định một chân lý, “mọi người sinh ra đều bình đẳng, tạo hóa đã ban cho họ những quyền tất yếu và bất khả xâm phạm, trong đó có quyền được sống, quyền được tự do và mưu cầu hạnh phúc” Và chỉ ít lâu sau cách mạng Tư sản
Pháp thành công Tuyên ngôn về Nhân quyền và Dân quyền ra đời cũng có đề cập
tới quyền con người ngay tại Điều 1: “Người ta sinh ra đều tự do và bình đẳng về quyền lợi, và phải luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi”.
Mặc dù chưa đề cập kĩ tới các nhóm yếu thế chỉ khái quát tới quyền conngười nhưng có thể hiểu được, nhóm người yếu thế là một bộ phận xã hội, cũng làcon người nên việc hưởng các quyền đó là đương nhiên, ở đây chứng tỏ vấn đềquyền con người đã được ghi nhận từ rất sớm
Năm 1945 khi Liên hợp quốc ra đời thì việc ghi nhận các quyền con người đượcthực hiện đồng loạt trong pháp luật quốc tế và quốc gia Thể hiện sự quan tâm tới vấn
đề quyền con người, năm 1948 Tuyên ngôn toàn thế giới về Nhân quyền (UDHR) rađời Tuyên ngôn này tuy không phải là nguồn bắt buộc của Liên Hợp Quốc nhưng lạiđược các quốc gia ngầm công nhận như là một nguồn chính thức cùng với các điều ướcquốc tế về quyền con người Đến năm 1966, Liên Hợp Quốc đã thông qua Công ước
về các Quyền dân sự và chính trị (ICCPR) và Công ước về các Quyền kinh tế, xã hội
và văn hóa (ICESCR) quy định gần như hoàn chỉnh các quyền con người Hai côngước này đã được phê chuẩn bởi hầu hết các quốc gia thành viên
Cơ chế bảo vệ quyền con người cần hoạt động hiệu quả ở cấp độ quốc tế vàcấp độ quốc gia do quyền con người bản chất mang phạm vi rất rộng, ghi nhậntrong nhiều văn bản, có sự kí kết công nhận và thực hiện bởi nhiều chủ thể thông
Trang 34qua nhiều biện pháp khác nhau.
Ở cấp độ quốc tế thì ngoài các công ước về quyền con người thì cơ chế bảo đảmquyền còn được thể hiện ở bộ máy các cơ quan trong hệ thống Liên hợp quốc Theo đóthì hai dạng cơ quan chính phụ trách là cơ quan thành lập dựa trên Hiến chương vàdạng cơ quan thành lập dựa trên điều ước quan trọng về quyền con người
Theo Hiến chương Liên Hợp Quốc thì 6 cơ quan chính của Liên Hợp Quốcbao gồm: Đại hội đồng, Hội đồng Bảo an, Hội đồng Kinh tế - Xã hội, Hội đồngQuản thác, Tòa án Quốc tế và Ban Thư ký Liên Hợp Quốc (Điều 7 Hiến chươngLiên Hợp Quốc) Các cơ quan này sẽ thành lập các ủy ban phía bên dưới nhằm giúpviệc để tiến hành bảo vệ quyền con người Và quan trọng nhất trong số các cơ quanchuyên môn là Hội đồng Quyền con người của Liên Hợp Quốc, Ủy ban về Vị thếcủa phụ nữ, Cơ chế Đánh giá Định kỳ toàn thể, Ủy ban Tư vấn Các chủ thể khi có
vi phạm các quyền con người đều bị xử lý bởi những cơ chế do chính Liên HợpQuốc ban hành [3, tr.18]
Theo cơ chế dựa trên điều ước, thì các ủy ban giám sát được thành lập để giámsát việc thực hiện các công ước cơ bản về quyền con người Hiện nay, có chín côngước được xem là cơ bản về quyền con người, theo đó, có các Ủy ban giám sát như sau:
Ủy ban về Xóa bỏ sự phân biệt chủng tộc (thành lập theo Công ước về Xóa bỏ tất cảcác hình thức phân biệt chủng tộc, 1965); Ủy ban về Quyền con người (thành lập theoCông ước về các Quyền dân sự, chính trị, 1966); Ủy ban về Xóa bỏ sự phân biệt đối xửvới phụ nữ (thành lập theo Công ước quốc tế về Xóa bỏ tất cả các hình thức phân biệtđối xử với phụ nữ, 1979); Ủy ban Chống tra tấn (thành lập theo Công ước về Chống tratấn và các hình thức đối xử tàn bạo, vô nhân đạo hoặc hạ nhục khác, 1987); Ủy ban vềcác Quyền kinh tế, xã hội, văn hóa (thành lập theo một nghị quyết của ECOSOC); Ủyban về Quyền trẻ em (thành lập theo Công ước về Quyền trẻ em, 1989); Ủy ban về Bảo
vệ quyền của tất cả những người lao động nhập cư và các thành viên trong gia đình họ(thành lập theo Công ước về Bảo vệ quyền của tất cả những người lao động nhập cư vàcác thành viên trong gia đình họ, 1990); Ủy ban về Quyền của người khuyết tật (thànhlập theo Công ước về Quyền của người khuyết tật, 2007); Ủy ban về Các vụ mất tíchcưỡng bức (thành lập theo Công ước quốc tế về Bảo vệ tất cả mọi người khỏi bị cưỡng
Trang 35bức đưa đi mất tích, 2006) [11].
Việc thành lập tòa Hình sự quốc tế (ICC) đã thể hiện rõ rằng việc thực thibảo vệ quyền con người được quan tâm rất sát sao, xem xét trách nhiệm hình sự củanhững cá nhân phạm các tội ác quốc tế nghiêm trọng nhất như tội diệt chủng, tộichống nhân loại, tội ác chiến tranh và tội xâm lược là hoàn toàn đúng đắn Tuy ICC
do Liên Hợp Quốc thành lập nhưng ICC hoạt động độc lập với Liên Hợp Quốc vàvẫn hỗ trợ Liên Hợp Quốc trong hoạt động bảo vệ nhân chứng khi cung cấp nhà ở
và các biện pháp bảo vệ khẩn cấp mang tính lâm thời, và mặc dù độc lập thì ICCvẫn thực sự có vai trò rất lớn trong việc bảo đảm quyền con người được thực thi
Ở cấp độ quốc gia thì ngoài các văn kiện, điều ước quốc tế mà các quốc gia
đã kí kết thì việc thúc đẩy và bảo vệ sự phát triển của quyền con người còn có các
ủy ban quyền con người được tổ chức ở nhiều quốc gia như Ấn Độ, Thái Lan, HànQuốc,… các cơ quan này là các cơ quan hành chính hoạt động bên cạnh hệ thốngtòa án nhằm phối hợp giải quyết các vấn đề liên quan tới quyền con người
Đối với Việt Nam thì quyền con người nói chung và quyền nhóm yếu thế nóiriêng được quan tâm từ rất sớm, và gần đây nhất nhận thức của nước ta về vấn đềnày càng được nâng cao khi Hiến pháp 2013 lần đầu tiên quyền con người được đưavào một chương riêng ngay sau chương về chế độ chính trị,… đi kèm với đó là mộtloạt các luật bảo vệ và thúc đẩy quyền con người, quyền nhóm yếu thế như Bộ luậtDân sự, Bộ luật Hình sự, Luật Hôn nhân và gia đình, Luật người khuyết tật, Luậtngười cao tuổi, Luật trẻ em,… Mặc dù vậy có một điều khá đáng tiếc là chưa cómột cơ quan nào chuyên trách về vấn đề này mà chỉ là các cơ quan chuyên nhiệmnhư hội phụ nữ, hội người cao tuổi,…
Hiến pháp năm 2013 đã quy định tương đối đầy đủ các quyền con ngườitương ứng với quy định tại các công ước quốc tế về quyền con người Về các quyềndân sự và chính trị, Hiến pháp đã dành chín điều quy định về các quyền này Theo
đó, quyền sống được quy định tại Điều 19; quyền không bị tra tấn, đối xử hay trừngphạt tàn ác, vô nhân đạo hay bị hạ nhục được quy định tại khoản 1 Điều 20; quyềnđược suy đoán vô tội được quy định tại khoản 1 Điều 31… Các quyền kinh tế, xã
Trang 36hội và văn hóa cũng được quy định khá hoàn chỉnh Quyền làm việc và được bảođảm các điều kiện lao động thích đáng được quy định tại Điều 35 Hiến pháp năm2013; quyền học tập được quy định tại Điều 39; quyền được chăm sóc sức khỏeđược quy định tại Điều 38 Các quyền này cũng được cụ thể hoá tại các luật chuyênngành như Luật lao động năm 2012, Luật Giáo dục năm 2005.
Bên cạnh việc ghi nhận các quyền con người nói chung, pháp luật Việt Namcòn quy định về quyền của những nhóm dễ bị tổn thương bao gồm phụ nữ, trẻ em,quyền người khuyết tật, người cao tuổi Việc ghi nhận các quyền của các nhómngười dễ bị tổn thương tạo điều kiện cho họ thực hiện quyền và không bị xâm phạmquyền bởi các chủ thể khác
Tuy nhiên, nếu chỉ dừng lại ở việc ghi nhận các quyền trong các văn bản luậtthì cơ chế thực thi quyền chưa thật sự đầy đủ Để các quyền được bảo vệ toàn vẹn,cần có cơ quan bảo vệ và thực thi các quyền Ở Việt Nam hiện nay, các cơ quan bảo
vệ và thúc đẩy nhân quyền chưa tập trung vào một cơ quan cụ thể mà nhiệm vụ nàyđược quy định cho nhiều cơ quan khác nhau thuộc bộ máy nhà nước, bao gồm Quốchội, Chính phủ, Tòa án nhân dân và Viện Kiểm sát nhân dân Việc giao chức năngbảo vệ quyền con người cho nhiều cơ quan nhà nước có ưu điểm là giúp bảo vệ toàndiện quyền con người, nhưng lại gây ra hạn chế cho việc xác định đầu mối có nhiệm
vụ chính trong các cơ quan này và cũng gây khó khăn khi một cá nhân muốn khiếunại về các vi phạm nhân quyền
1.6 Tiêu chí hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền nhóm yếu thế tại Việt Nam
Hệ thống pháp luật có chất lượng là hệ thống pháp luật bảo đảm được việcthực hiện và áp dụng pháp luật đạt được kết quả cao trong thực tiễn đồng thời chophép dự báo được khả năng thực hiện hóa các quy định trong đời sống xã hội Do
đó việc xây dựng hệ thống các tiêu chí đánh giá sự hoàn thiện pháp luật là cần thiếttrong bối cảnh hiện nay Hệ thống pháp luật bảo vệ quyền nhóm yếu thế là một bộcủa hệ thống pháp luật Việt Nam do đó để đánh giá sự hoàn thiện của pháp luật bảo
vệ quyền nhóm yếu thế sẽ căn cứ theo các tiêu chí sau:
Thứ nhất, về tính toàn diện, đồng bộ: Tính toàn diện, đồng bộ của hệ thống
Trang 37phải thể hiện ở hai cấp độ Về cấp độ chung, tính toàn diện và đồng bộ của hệ thốngpháp luật bảo vệ quyền nhóm yếu thế là phải điều chỉnh hết tất cả các quan hệ xãhội có liên quan đến nhóm yếu thế mặt khác đồng thời phải bảo đảm sự phù hợp vớiHiến pháp và các văn bản pháp luật của các lĩnh vực khác, bảo đảm sự thống nhấttrong một hệ thống pháp luật chung Về cấp độ cụ thể, các vấn đề liên quan tới bảo
vệ quyền nhóm yếu thế phải được quy định một cách cụ thể, chi tiết và phải có tínhkịp thời; cùng với đó chính các quy phạm cũng phải không có sự trùng lặp, chồngchéo với các văn bản khác đặc biệt là khi xây dựng các quy phạm phải tuyệt đốituân thủ tinh thần Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật, các văn bản cấp dướikhông được trái với văn bản của cấp trên
Thứ hai, về tính phù hợp: Tính phù hợp của hệ thống pháp luật thể hiện sự
tương quan giữa trình độ của hệ thống pháp luật và trình độ phát triển của kinh tế xãhội Thực tiễn cho thấy rằng nếu như pháp luật bảo vệ quyền nhóm yếu thế khônggắn liền với thực tiễn thì sự điều chỉnh các quan hệ xã hội sẽ không có hiệu quả,thậm chí còn kìm hãm sự phát triển của xã hội Quyền con người nói chung vàquyền nhóm yếu thế nói riêng thực tế đã được ghi nhận trong pháp luật Việt Nam từlâu và đồng thời cũng phải tương đồng với các điều ước quốc tế về quyền conngười Điều này cũng đòi hỏi khi xây dựng pháp luật thì các cơ quan tổ chức cóthẩm quyền cần có sự chọn lựa những điều phù hợp với điều kiện Việt Nam
Thứ ba, về trình độ kỹ thuật pháp lý: Việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật
bảo vệ quyền nhóm yếu thế cần được tiến hành một cách khoa học, đúng nguyêntắc, thẩm quyền, nội dung Mỗi văn bản pháp luật về nhóm yếu thế cần có kết cấuhợp lý, phương pháp trình bày rõ ràng, dễ hiểu, dễ áp dụng
Tóm lại nếu như các tiêu chí về tính toàn diện, đồng bộ, phù hợp là nhữngtiêu chí về nội dung thì kỹ thuật pháp lý là tiêu chí về hình thức của việc hoàn thiệnpháp luật về bảo vệ quyền nhóm yếu thế Theo đó, hoàn thiện pháp luật về bảo vệquyền nhóm yếu thế phải được nhìn nhận một cách tổng quát, phù hợp với điều kiệnchính trị, kinh tế, xã hội của đất nước; góp phần tháo gỡ những khó khăn, vướngmắc trong việc điều chỉnh các quan hệ xã hội về nhóm yếu thế
Trang 38KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Trong chương này tác giả đã đề cập tới những vấn đề lý luận về quyềnnhóm yếu thế, quyền con người, trong đó đã nêu được khái niệm và đặc điểmcủa pháp luật về quyền nhóm yếu thế Đồng thời cũng đã khái quát được 4 nhómyếu thế là: Phụ nữ, trẻ em, người khuyết tật và người cao tuổi với một số quyđịnh của pháp luật quốc tế Khái quát được lịch sử hình thành và phát triển củapháp luật về bảo vệ quyền con người, quyền nhóm yếu thế trên thế giới Nhữngphân tích trên hoàn toàn nhằm mục đích giúp cho người đọc có được một cáinhìn tổng quát nhất về bảo vệ quyền nhóm yếu thế hiện nay, đồng thời làm cơ sởcho việc nghiên cứu thực trạng pháp luật và bảo vệ quyền nhóm yếu thế tại ViệtNam hiện nay ở chương 2 của luận văn
Trang 39Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ QUYỀN NHÓM YẾU THẾ
TẠI VIỆT NAM HIỆN NAY
2.1 Thực trạng quy định pháp luật bảo vệ quyền nhóm yếu thế
2.1.1 Pháp luật bảo vệ quyền nhóm yếu thế là trẻ em
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói “Trẻ em như búp trên cành/ Biết ăn, biết ngủ biết học hành là ngoan” [59] Trẻ em là chủ thể của hiện tại và là những người xây
dựng tương lai Đó là những người dễ bị tổn thương nhất và có ảnh hưởng lâu dài cả
về mặt sức khỏe cũng như tâm lý Việc ghi nhận quyền trẻ em nhằm bảo đảm tạodựng cuộc sống phù hợp bảo đảm lợi ích được phát triển toàn diện của trẻ em.Trong những năm qua, thấm nhuần lời dạy của Bác Hồ kính yêu, Đảng và Nhà nước
ta luôn coi nhiệm vụ bảo vệ và chăm sóc trẻ em là một trong những nội dung cơ bảncủa chiến lược con người, góp phần tạo ra nguồn nhân lực cho quá trình đẩy mạnh
sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Cụ thể chính là việc ban hànhcác bản Hiến pháp từ năm 1946 trở lại đây và những Luật nhằm bảo vệ quyền và lợiích của trẻ em như: Luật giáo dục (2005); Luật Quốc tịch Việt Nam (2008); Luật trẻ
em (2016); Bộ luật Dân sự (2015);…
2.1.1.1 Quyền được khai sinh và có quốc tịch của trẻ em
Quyền được khai sinh của trẻ em là một trong những quyền nhân thân quantrọng của cá nhân được pháp luật quy định và bảo vệ Tại điều 30 Bộ luật Dân sự
2015 quy định: “Cá nhân từ khi sinh ra có quyền được khai sinh” và Điều 13 Luật Trẻ em năm 2016 quy định: “Trẻ em có quyền được khai sinh, khai tử, có họ, tên,
có quốc tịch; được xác định cha, mẹ, dân tộc, giới tính theo quy định của pháp luật” và theo quy định thời hạn đăng ký khai sinh cho trẻ là 60 ngày kể từ ngày sinh
con; trong trường hợp cha mẹ không khai sinh cho con thì ông hoặc bà hoặc ngườithân thích cá nhân khác, hoặc tổ chức nuôi dưỡng có trách nhiệm đăng kí khai sinh
* Đối tượng có trách nhiệm đăng ký khai sinh cho trẻ em
Cha, mẹ, người chăm sóc trẻ em có trách nhiệm khai sinh cho trẻ em theođúng thời hạn pháp luật [17, Điều 97]
Trang 40Công chức hộ tịch xã phường có nhiệm vụ thường xuyên kiểm tra đôn đốcviệc đăng ký khai sinh cho trẻ em trên địa bàn trong thời hạn quy định [26, Điều 15]
Đối với UBND các cấp thì cần có sự phối hợp với các cơ quan ban ngànhnhằm tuyên truyền để cha, mẹ, người giám hộ, người hoặc tổ chức đang nuôi dưỡngtrẻ em đi khai sinh theo đúng quy định của pháp luật; tổ chức thực hiện các biệnpháp để đăng ký khai sinh cho trẻ theo đúng quy định tại những khu vực khó khăn,cần thiết thì thực hiện đăng kí khai sinh lưu động [26, Điều 71]
Quyền được khai sinh của trẻ em chỉ được thực hiện khi cơ quan Nhà nước
có thẩm quyền đăng ký khai sinh và cấp giấy khai sinh, đây là sự ghi nhận về mặtpháp lý tình trạng nhân thân của một người được sinh ra, là cơ sở để thực hiện cácquyền khác cơ bản của trẻ như: quyền có họ tên, quốc tịch
Quốc tịch là phạm trù chính trị - pháp lý, thể hiện mối quan hệ gắn bó, bềnvững giữa Nhà nước và công dân, là dấu hiệu để xác định và phân biệt công dân củanước này với nước khác, trên cơ sở đó làm phát sinh quyền, nghĩa vụ qua lại giữaNhà nước và công dân Theo như tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền năm 1948 đã
khẳng định: “Ai cũng có quyền có quốc tịch Không ai có thể bị tước quốc tịch hay tước quyền thay đổi quốc tịch một cách độc đoán” Ở Việt Nam, quyền này đã được Hiến định: “Công dân nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là người có quốc tịch Việt Nam” (Hiến pháp năm 1980, Hiến pháp năm 1992, Hiến pháp năm 2013).
Luật đầu tiên của nhà nước ta về quốc tịch là Luật quốc tịch Việt Nam năm 1988,tiếp đó là Luật quốc tịch Việt Nam năm 1998 (thay thế Luật quốc tịch năm 1988) vàhiện tại là Luật quốc tịch Việt Nam năm 2008 (thay thế Luật quốc tịch năm 1998)
Tại các Luật này đều ghi nhận: Ở nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, mỗi
cá nhân đều có quyền có quốc tịch.
2.1.1.2 Quyền được chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ em
Trẻ em có quyền được chăm sóc, nuôi dưỡng để phát triển thể chất, trí tuệ,tinh thần và đạo đức
Cha mẹ, người giám hộ là người chịu trách nhiệm đầu tiên với việc chăm sóc,nuôi dưỡng trẻ em, tuy nhiên khi gặp khó khăn không thể tự mình giải quyết được, họ