1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nhiệm vụ bảo vệ công lý của Tòa án nhân dân và những vấn đề phát triển hệ thống pháp luật Việt Nam

98 328 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 98
Dung lượng 571,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trên cơ sở hệ thống hoá lý luận về công lý, quyền tiếp cận công lý, nhiệm vụ bảo vệ công lý của Tòa án, học viên đã phân tích đánh giá được vị trí, vai trò của Tòa án trong hệ thống pháp luật nói chung và nhiệm vụ bảo vệ quyền công lý nói riêng. Học viên đã phân tích đánh giá thực trạng hệ thống nguồn pháp luật, các quy định pháp luật liên quan đến việc tiếp cận công lý của người dân. Từ đó nhận thấy cần thiết phải một Hệ thống pháp luật thống nhất, đầy đủ để tạo khung pháp lý cho việc bảo vệ công lý cũng như quyền tiếp cận công lý của người dân.

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

NGUYỄN THỊ THIỆN PHÚC

NHIÖM Vô B¶O VÖ C¤NG Lý CñA TßA ¸N NH¢N D¢N

Vµ NH÷NG VÊN §Ò PH¸T TRIÓN HÖ THèNG PH¸P LUËT VIÖT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

NGUYỄN THỊ THIỆN PHÚC

NHIÖM Vô B¶O VÖ C¤NG Lý CñA TßA ¸N NH¢N D¢N

Vµ NH÷NG VÊN §Ò PH¸T TRIÓN HÖ THèNG PH¸P LUËT VIÖT NAM

Chuyên ngành: Lý luận và Lịch sử Nhà nước và pháp luật

Mã số: 8380101.01

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Giáo viên hướng dẫn khoa học: GS.TSKH ĐÀO TRÍ ÚC

HÀ NỘI - 2018

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn thạc sĩ này là công trình của cá nhân tôi Các kết quả được nghiên cứu trong luận văn chưa được công bố trong bất kì công trình, văn bản nào Tôi đã hoàn thành đầy đủ các môn học theo đúng quy định của Khoa Luật, trường Đại học Quốc Gia Hà Nội.

Vậy, tôi làm lời cam đoan này kính mong Khoa Luật xem xét

đề nghị để tôi có thể được bảo vệ luận văn.

Tôi xin chân thành cảm ơn!

NGƯỜI CAM ĐOAN

Nguyễn Thị Thiện Phúc

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Mục lục

Danh m c s ục sơ đồ ơ đồ đồ

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: KHÁI NIỆM CÔNG LÝ, TIẾP CẬN CÔNG LÝ, NHIỆM VỤ BẢO VỆ CÔNG LÝ CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN 7

1.1 Khái niệm về Công lý 7

1.1.1 Khái niệm công lý trong nền khoa học pháp lý thế giới 7

1.1.2 Khái niệm Công lý tại Việt Nam 17

1.2 Khái niệm quyền tiếp cận công lý và nội dung quyền tiếp cận công lý của người dân 22

1.3 Nhiệm vụ bảo vệ công lý của Tòa án nhân dân 26

1.4 Hoàn thiện Hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng nhiệm vụ bảo vệ công lý của Tòa án nhân dân 30

1.4.1 Khái niệm hệ thống pháp luật 30

1.4.2 Mối liên hệ giữa Hệ thống pháp luật với nhiệm vụ bảo vệ công lý của Tòa án nhân dân 33

Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT - CƠ SỞ PHÁP LÝ CHO QUYỀN TIẾP CẬN CÔNG LÝ VÀ NHIỆM VỤ BẢO VỆ CÔNG LÝ CỦA TÒA ÁN 36

2.1 Hệ thống pháp luật hiện hành trước yêu cầu bảo đảm và bảo vệ công lý 36

2.1.1 Vấn đề nguồn pháp luật bảo đảm nhiệm vụ bảo vệ công lý của Tòa án 36

2.1.2 Thực trạng hệ thống pháp luật tố tụng bảo đảm quyền tiếp cận công lý 42

Trang 5

2.2 Vị trí, vai trò của Tòa án trong việc bảo vệ công lý ở Việt

Nam hiện nay 63

2.2.1 Vị trí, vai trò của Tòa án trong cơ chế phân công, phối hợp và kiểm sát quyền lực 63

2.2.2 Thực trạng mối quan hệ giữa Tòa án với các cơ quan khác trong hệ thống cơ quan tư pháp 66

Chương 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN HỆ THỐNG PHÁP LUẬT BẢO ĐẢM NHIỆM VỤ BẢO VỆ CÔNG LÝ CUẢ TÒA ÁN NHÂN DÂN 69

3.1 Đa dạng hóa các loại nguồn trong hệ thống pháp luật Việt Nam .69

3.2 Nâng cao vai trò giải thích pháp luật của Tòa án nhân dân .72

3.3 Đảm bảo sự độc lập của Tòa án 77

3.4 Đơn giản hóa các thủ tục tố tụng 81

KẾT LUẬN 88

TÀI LIỆU THAM KHẢO 89

Trang 6

DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ

Sơ đồ 2.1: Mối quan hệ giữa các bên tham gia trong tố tụng hình sự 54

Sơ đồ 3.1: Tóm tắt thẩm quyền của 4 cấp Tòa hiện nay 79

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu

Nghị quyết Đại hội Đảng XI và Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủnghĩa Việt Nam năm 2013 đã chỉ ra rõ con đường xây dựng Nhà nước phápquyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân của nước ta Trong đó, Nhànước pháp quyền đầu tiên cần phải có một hệ thống pháp luật đảm bảođược lẽ phải, sự công bằng theo nghĩa đơn giản nhất mà ta hiểu được – đóchính là công lý

Công lý không phải là một thuật ngữ mới xuất hiện trong các lĩnh vực

xã hội nói chung và pháp luật nói riêng Ngay từ những ngày đầu tiên khi conngười ý thức được vai trò, vị trí của mình trong xã hội, ý niệm về công lý đãhình thành Công lý đã là nguyện vọng, là mong ước của con người, được đối

xử một cách công bằng, bình đẳng Ở thời sơ khai, nó được thể hiện ở việcchia các nguồn lợi phẩm (hoa quả, thú hoang) theo sự đóng góp của các cánhân trong những buổi đi săn bắt, hái lượm Ở thời kì trung đại, dưới sự ápbức bóc lột của giai cấp thống trị, người ta tìm đến công lý bằng những thầnthoại, những vị thần đem lại sự công bằng Điều này thể hiện khát khao lẽphải giữa những chèn ép của xã hội lúc bấy giờ Ở thời kì cận đại, những nhàtriết gia đưa ra những triết lý về một nền pháp luật công bằng liêm chính, chỉkhi đó Nhà nước mới có thể tồn tại

Đối với đồng bào công giáo, ta thường thấy xuất hiện khẩu hiệu:

“Không thể có hòa bình nếu không có công lý” Chính vì lẽ đó, Ủy ban Công

lý và Hòa bình đã được Hội đồng Giám mục Việt Nam thành lập Có thể thấyrằng, lịch sử phát triển của xã hội cũng có mối quan hệ tác động qua lại vớilịch sử thăng trầm của công lý Công lý vừa mang tính chất của vật chất, vừamang yếu tố tinh thần, vừa mang tính thế tục, vừa mang tính tôn giáo Công

Trang 8

lý cũng gần tương tự như quyền con người, phải được quy định trong phápluật, trong trường hợp không được quy định thì những cơ quan tiến hành ápdụng pháp luật như: Tòa án, cơ quan điều tra, viện kiểm sát phải suy nghĩ,xem xét để vận dụng trên thực tế,

Với mỗi quốc gia, hệ thống tư pháp trong đó có Tòa án đều đóng vaitrò rất quan trọng trong việc bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, đảm

bảo an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội Hiến pháp 2013 của Việt Nam

đã xác lập những cơ sở hiến định mới cho cuộc cải cách vì một nền tư phápliêm chính theo hướng chỉ rõ sứ mệnh trọng yếu của Tòa án là bảo vệ công lý,bảo vệ quyền con người, quyền công dân Tại khoản 3 Điều 102 Hiến pháp

2013 của Việt Nam đã khẳng định rõ: “Tòa án nhân dân có nhiệm vụ bảo vệ

công lý” Nói theo cách khác thì Tòa án là nơi bảo vệ cuối cùng người dân có

thể tìm đến mà không phụ thuộc vào địa vị kinh tế hay địa vị xã hội của họ.Hậu quả sẽ là rất nghiêm trong khi người dân không còn niềm tin vào nhữngngười thực hiện quyền công lý, đem lại công bằng cho xã hội Để đảm bảocho nhiệm vụ bảo vệ công lý của Tòa án thì cần thiết phải có một Hệ thốngpháp luật thống nhất, đầy đủ để tạo khung pháp lý cho việc bảo vệ công lýcũng như quyền tiếp cận công lý của người dân

Vì những lý do trên, tôi đã lựa chọn đề tài “Nhiệm vụ bảo vệ công lý của Tòa án nhân dân và những vấn đề phát triển Hệ thống pháp luật Việt Nam” làm đề tài cho Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Nhà nước và

Pháp luật của tôi

2 Tình hình nghiên cứu

Công lý nói chung và nhiệm vụ bảo vệ công lý của Tòa án trong quátrình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Namnói riêng đã được đánh giá đúng về tầm quan trọng, lần đầu tiên trong lịch sửlập hiến, sau 4 bản Hiến pháp: Hiến pháp năm 1946, Hiến pháp năm 1959,

Trang 9

Hiến pháp năm 1980 và Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001), đếnnay là bản Hiến pháp năm 2013, các giá trị cơ bản của công lý và nhiệm vụ bảo

vệ công lý của Tòa án đã lần đầu tiên được khẳng định và ghi nhận Đã có một

số tác phẩm nổi tiếng hay công trình nghiên cứu, bàn trực tiếp hoặc gián tiếp vềvấn đề công lý và nhiệm vụ bảo vệ công lý của Tòa án như:

- Cuốn sách: “The Philosophy of Law: A very short introduction” (Triết

học luật pháp) của giáo sư về Luật và Lý thuyết pháp luật của Đại học HồngKông Raymond Wacks (Phạm Kiều Tùng dịch năm 2011, Nhà xuất bản Trithức, Hà Nội) Giáo sư đã dành toàn bộ chương 4 để đưa ra những nét cơ bản

về nhận thức về công lý, mối quan hệ giữa công lý và pháp luật Tác giải viết:

“Lý tưởng về công lý vừa là mang tính khoa trương của những hệ thống pháp

lý nội địa và vừa khẳng định về tính phổ biến của nó, mong muốn vượt quachính luật pháp”

- Đề tài: “Quyền tiếp cận công lý và vai trò của Tòa án trong việc đảm

bảo quyền này” của PGS TS Vũ Công Giao đã nêu khái quát về khái niệm,

đặc điểm và nền tảng của quyền tiếp cận công lý Từ đó đánh giá vai trò củaTòa án trong việc đảm bảo quyền này Tác giả khẳng định Tòa án chỉ là mộttrong nhiều mắt xích của tiến trình thực thi quyền tiếp cận công lý, song vềbản chất, vai trò của Tòa án là rất quan trọng Bởi xét cho cùng, trong mọi nền

tư pháp, xét xử tại Tòa án luôn là phán quyết cuối cùng có hiệu lực pháp luật

và được đảm bảo thi hành đối với các bên tranh chấp

- Cuốn sách: “Quyền con người trong thi hành công lý” của Tòa án

nhân dân tối cao được xuất bản năm 2010 của Nhà xuất bản lao động - xã hội.Cuốn sách gồm tổng cộng 545 trang, trong đó có 15 chương, cung cấp nhữngthông tin cần thiết nhằm mang lại cho người đọc mà chủ yếu là cán bộ tòa án

có kiến thức tương đối sâu sắc và toàn diện về các quyền cơ bản của conngười và việc bảo đảm các quyền này trong quá trình thực thi công lý

Trang 10

pháp trong cơ chế quyền lực thống nhất, có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp”do GS.TSKH Đào Trí Úc cùng PGS.TS Vũ Công Giao, TS.

Đặng Văn Hải, ThS Đào Bảo Ngọc, TS Nguyễn Hải Ninh, TS Nguyễn ThịThủy cùng thực hiện Trong phạm vi nghiên cứu, đề tài đã thể hiện rõ yêu cầubảo vệ công lý, bảo vệ quyền Tư pháp và vai trò kiểm soát của quyền tư pháp

mà thể hiện rõ nhất là Tòa án Ngoài ra, đề tài cũng đã nêu đến những yêu cầu

cơ bản, các yếu tố đảm bảo để xây dựng nền tư pháp trong sạch, vững mạnh

để thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Công lý của bộ máy Tư pháp

- Đề tài: “Tòa án thực hiện quyền tư pháp, bảo vệ công lý, bảo vệ

quyền con người, quyền công dân” của GS.TS Nguyễn Đăng Dung, Ths.

Đặng Phương Hải trên tạp chí lý luận chính trị số 2-2015 Đề tài đã phân tích,

so sánh giữa Hiến pháp 1999 với Hiến pháp 2013, chỉ ra nhiều điểm đổi mớiquan trọng liên quan đến chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Tòa án nhândân Những thay đổi này nhằm tăng cường việc bảo vệ quyền làm chủ củanhân dân, quyền con người, quyền công dân; tăng cường hệ thống tư pháp đểxây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và bảo đảm vị trí “tốithượng” của pháp luật Đồng thời phân tích những giải pháp khắc phục mặthạn chế của Hiến pháp 2013 để Tòa án thực sự thực hiện quyền tư pháp, bảo

vệ công lý, bảo vệ quyền con người và quyền công dân theo tinh thần củaHiến pháp Nhiệm vụ cải cách, đổi mới tổ chức và hoạt động của Tòa án nhândân phải tiếp tục được nghiên cứu hoàn thiện theo hướng đề cao hơn nữa mụctiêu bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người và quyền công dân

- Báo cáo: “Chỉ số công lý - Thực trạng về Công bằng và Bình đẳng

dựa trên ý kiến của người dân năm 2012” của Chương trình phát triển Liên

hiệp quốc tháng 7 năm 2013 Bài báo cáo đã giới thiệu một hướng tiếp cậnmới để đánh giá kết quả tiến trình cải cách pháp luật và tư pháp đang diễn ra

Trang 11

trên thực tế Số liệu được thực hiện trên 21 tỉnh và thành phố dựa trên 5 nộidung chính về bảo đảm công lý và thực thi pháp luật, bao gồm: Khả năng tiếpcận công lý, liêm chính, công bằng, hiệu quả Bảo đảm các quyền cơ bản.Trong đó cũng nêu lên các hình thức khiếu kiện và tranh chấp mà người dânthường gặp phải và đánh giá của người dân về thể chế công quyền (Tòa án)thực hiện nhiệm vụ bảo vệ công lý trên thực tế.

3 Mục tiêu nghiên cứu

3.1 Mục tiêu tổng quát

- Làm rõ thêm lý luận khoa học các quan điểm về công lý, quyền tiếp

cận công lý và vai trò bảo vệ công lý của Tòa án nhân dân qua các thời kì

- Đánh giá tương đối thực trạng và vai trò các nguồn luật trong Hệthống pháp luật Việt Nam để đảm bảo pháp lý cho việc bảo vệ công lý vàquyền tiếp cận công lý để từ đó có thể đề ra một số giải pháp nâng cao tínhhiệu quả của hoạt động này

- Đánh giá tương đối thực trạng nguồn pháp luật và các đảm bảo quyềntiếp cận công lý thông qua hệ thống tố tụng được áp dụng tại Tòa án

3.2 Mục tiêu cụ thể

- Phân tích để làm rõ các quan niệm chung về công lý, quyền tiếp cậncông lý, nhiệm vụ bảo vệ công lý của tòa án trên phương diện lịch sử Nhànước và pháp luật

- Nghiên cứu và tìm hiểu, phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến nhiệm vụbảo vệ công lý của Tòa án ở Việt Nam hiện nay

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

- Hệ thống quan điểm lý luận về công lý trong nền khoa học pháp lý thếgiới và trong tiến trình phát triển của Việt Nam

Trang 12

- Hệ thống nguồn luật bảo đảm pháp lý quyền tiếp cận công lý vànhiệm vụ bảo vệ công lý của Tòa án.

- Các thủ tục tố tụng được sử dụng tại Tòa án

- Các giải pháp phát triển hệ thống pháp luật đáp ứng nhiệm vụ của Tòa

án nhân dân trong việc bảo vệ công lý

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Công lý là một khái niệm rộng lớn cho nên với phạm vi của luận vănthạc sĩ, đề tài tập trung nghiên cứu công lý, quyền tiếp cận công lý, nhiệm vụbảo vệ công lý trong tư pháp, gắn chặt với việc xét xử của Tòa án

5 Phương pháp nghiên cứu

- Đề tài sử dụng phương pháp lịch sử, cụ thể trong việc nghiên cứu, tìmhiểu các quan điểm về công lý và nhiệm vụ bảo vệ công lý của Tòa án qua cáctài liệu sưu tầm được

- Đề tài sử dụng phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp, diễn dịch đểphân tích làm sáng tỏ vấn đề cần nghiên cứu, đồng thời kế thừa có chọn lọckết quả của các công trình nghiên cứu của các tác giả khác có liên quan đếnvấn đề đang nghiên cứu

6 Kết cấu nội dung luận văn

Luận văn bao gồm 3 chương 9 tiết

Trang 13

Chương 1 KHÁI NIỆM CÔNG LÝ, TIẾP CẬN CÔNG LÝ, NHIỆM VỤ BẢO VỆ

CÔNG LÝ CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN

1.1 Khái niệm về Công lý

Trong suốt chiều dài lịch sử nhân loại, khái niệm công lý là khái niệmđược các học giả, các nhà khoa học tìm hiểu, nghiên cứu Lẽ phải, công lý,công bằng xã hội luôn là một đề tài giành được sự quan tâm đặc biệt

Khái niệm công lý cần được đánh giá và xem xét trên nhiều khía cạnh,trong khuôn khổ luận văn này tôi xin trình bày những quan điểm của mìnhdựa trên sự phân tích dựa trên nền khoa học pháp lý thế giới và các giai đoạncủa xã hội Việt Nam để làm sáng tỏ khái niệm về công lý

1.1.1 Khái niệm công lý trong nền khoa học pháp lý thế giới

Bàn về sự ra đời của công lý, các nhà nghiên cứu cho rằng trong giaiđoạn sơ khai, bán khai, xã hội tồn tại trong trạng thái mà người dân sống thưathớt và chiến tranh luôn rình rập, công lý còn chưa thực sự được coi là mộtphẩm hạnh quan trọng của mỗi cá nhân bởi nó còn phải nhường chỗ chonhững phẩm chất quan trọng của các chiến binh như sức mạnh, lòng quả cảm,

sự khéo léo hay kỹ năng sử dụng vũ khí thuần thục Pháp luật trong giai đoạn

đó dựa trên các giải pháp thô sơ là sử dụng “cường lực”, “bạo lực”, hay “bảnnăng”, lẽ phải sẽ thuộc về kẻ mạnh hơn, khỏe hơn và “mỗi cá nhân là viêncảnh sát của chính mình, người nào đủ mạnh thì dùng cách trả thù để xử tộitheo ý mình” [4] Khi chế độ thành bang được thiết lập, các cá nhân phải gắn

bó, liên kết, hợp tác, bảo vệ lẫn nhau, không được có những hành vi làmphương hại lẫn nhau để cùng tồn tại và phát triển Chính vì vậy, trong một xãhội văn minh, vai trò của “cường lực”, “bạo lực”, “sức mạnh” ngày càng phainhạt Loài người đã nhận ra rằng không thể để cho các cá nhân tự ý định đoạt

Trang 14

phân xử, trật tự xã hội cần phải được thiết lập trên cơ sở hòa bình và công lý.Những yêu cầu trong hình thái kinh tế -xã hội mới đó đã làm phai nhạt nhữngphẩm hạnh của các chiến binh và đưa công lý từng bước tiến tới vị trí trungtâm của hệ giá trị đạo đức của xã hội cổ đại.

1.1.1.1 Thời kỳ cổ đại.

Các nhà nước và pháp luật đầu tiên hình thành trong thời kì này, do đó

ý niệm công lý cũng bắt đầu được hình thành một cách sơ khai, đơn giản

a) Thời kì phương Tây cổ đại.

Dựa trên nền tảng của hai nền văn minh La Mã và Hy Lạp và sự pháttriển đông đảo của cư dân du mục, văn minh phương Tây cổ đại thời bấy giờ

đã có những bước phát triển nổi bật Điều kiện tự nhiên của La Mã và Hy Lạpvừa tạo ra nền tảng cho nền văn minh phương Tây cổ đại với những thành tựurực rỡ và điều kiện tự nhiên cũng là một yếu tố quan trọng đã mang nền vănminh phương Tây cổ đại truyền bá khắp thế giới bằng nhiều con đường khácnhau: chiến tranh hoặc hòa bình Do đó, khi đi sâu tìm hiểu một định nghĩachính xác nhất về công lý mà chỉ tìm hiểu ở hệ thống tư tưởng, quan điểm củacác nhà tư tưởng hay các triết gia nổi tiếng ở giai đoạn này ở phương Tây thìthật là thiếu xót Văn minh phương Tây thời cổ đại gắn liền với các thần thoại,truyền thuyết mà ở đó thể hiện sự kiến giải vũ trụ, con người và những khátvọng của người dân Công lý đối với những người dân cổ đại thời bấy giờchính là sự tồn tại các vị thần theo tín ngưỡng mà họ sùng bái

Ở Hy Lạp cổ đại thời bấy giờ, Nữ thần Thémis uyên thâm là người đãthiết lập ra quy luật, trật tự, sự ổn đinh và luật pháp trong thế gian để cai quản

và bảo đảm công lý Tính công bằng, chính trực và thói quen nghiêm minhcủa Thémis đã khiến người Hy Lạp cổ xưa khâm phục và biết ơn, tạc tượng vị

nữ thần một tay cầm cân, một tay cầm thanh kiếm, mắt bịt một băng vải đểchứng tỏ sự vô tư, không thiên vị Theo lệnh của Zeus, nữ thần Thémis triệutập các cuộc họp của các vị thần ở thế giới Olympe

Trang 15

Để theo dõi việc thi hành pháp luật còn có nữ thần Diké con của Zeus

và Thémis, Diké là vị nữ thần của chân lý, công lý, sự thật Nữ thần chuyêntheo dõi việc thi hành và giám sát luật pháp trong thế giới loài người để báo

về cho Zeus biết những việc đổi trắng thay đen, hà hiếp, bức hại người lươngthiện, bôi nhọ công lý, xuyên tạc, che giấu sự thật Vì thế Diké rất căm ghétthói dối trá, không trung thực Theo lệnh của Zeus, Diké phải chịu tráchnhiệm trừng phạt những kẻ đảo điên, ỷ thế chuyên quyền bất chấp công lý

Nữ thần phải với thanh gươm công lý của mình, đâm trúng trái tim những kẻcoi thường luật pháp của thần thánh Người Hy Lạp xưa kia thường tạc tượngDiké với cây chùy cầm tay Nhưng rồi vị nữ thần chính trực và đức hạnh nàykhông thể sống nổi với người trần chúng ta được Thời đại hoàng kim qua đi,con người ngày càng hư hỏng, đồi bại, quay quắt, đảo điên, trắng trợn đếnmức Diké bất lực Nữ thần bèn cùng với người bạn gái thân thiết là Liêm sỉ(Pudeur) bay về Trời Từ đây nữ thần đổi tên là Astrée (Thần thoại La Mã:Virgo) nghĩa là, “ngôi sao” hoặc “tinh tú” “tinh cầu” Như vậy có nghĩa làcông lý chân chính từ đó trở đi chỉ có thể tìm được ở bầu trời cao xa vời vợi,lấp lánh những vì sao

Ngày nay, Nữ thần công lý thường được biết đến với cái tên Lady Justice,

với một tay cầm cân – tượng trưng cho sự suy xét cẩn trọng và công bằng, mộttay cầm kiếm – tượng trưng cho sức mạnh cưỡng chế, và một dải băng bịt kínđôi mắt – tượng trưng cho sự vô tư, không bị tác động bởi ngoại cảnh LadyJustice bắt nguồn từ việc nhân cách hóa tư pháp trong nghệ thuật La Mã cổ đại

Từ thế kỷ II trước Công nguyên khi người La Mã thôn tính Hy Lạp, họ đã xâydựng Nữ thần công lý - Nữ thần Justitia dựa trên hình tượng của nữ thần Diké và

nữ thần Thémis Phần lớn giới nghiên cứu đều đi tìm nguồn gốc của biểu tượngnày ở vùng Địa Trung Hải, cái nôi của những nền văn minh rực rỡ trong lịch sửloài người Biểu tượng Nữ thần công lý ngày nay có nguồn gốc từ thần thoại Hy

Trang 16

Lạp và La Mã, nữ thần Justitia, trong tiếng Latin là Iustitia, là hiện thân của

công lý trong thần thoại La Mã (Roman) Bà là một trinh nữ sống giữa loàingười cho đến khi loài người trở nên tha hóa và hủ bại, buộc bà phải bay lêntrời và hóa thân thành chòm sao Xử nữ (Virgo) [43]

Trước người Hy Lạp và La Mã, người Ai Cập cổ đại đã có nữ thầnCông lý của mình Ma’at là nữ thần tượng trưng cho các giá trị sự thật, côngbằng, công lý, trật tự, pháp luật, đạo đức trong đời sống tâm linh của người AiCập cổ đại Bà là chủ nhân của phòng phân xử với tính cách thẳng thắn, côngminh khi phán xử một sự việc

Thật thiếu xót nếu nhắc đến nền văn minh Hy Lạp cổ đại mà khôngnhắc đến những triết gia nổi tiếng như Platon hay Aristotle Khi nói về phápluật, Platon nhấn mạnh đến luật tự nhiên, công lý với nghĩa trừng phạt những

kẻ vi phạm luật tự nhiên cũng mang tính tự nhiên Công lý làm cho người tanhận thấy cái sai, tâm phục khẩu phục và chấp nhận với các biện pháp trừngphạt tương ứng với những lỗi mà mình mắc phải Tức là kẻ làm sai cũng đồngthuận, vui vẻ với biện pháp trừng phạt áp dụng đối với mình [10] Đấy chính

là sự khác nhau giữa “trừng phạt” theo nghĩa hiểu thông thường và “trừngphạt” của “công lý tự nhiên” Theo nghĩa thông thường, trừng phạt có thể hiểu

là sự trừng phạt theo quy định của pháp luật, do nhà làm luật ban hành ra cácquy định, những người làm điều sai có thể không chấp nhận hình phạt Trongcuốn Bàn về Pháp luật Platon nêu ra rằng:

Nếu các người trở nên xấu xa thì sẽ phải vào chốn xấu xa, cònnếu tốt thì sẽ vào chỗ tốt Đó là công lý của trời, mà dù các ngươi haybất kỳ kẻ bất hạnh nào đó sẽ được vẻ vang khi tránh thoát; và là cái

mà quyền lực ban bố đã đặc biệt ban bố; hãy lưu tâm đến những điều

ấy, vì sẽ có ngày chúng sẽ lưu tâm đến các người [1]

Ở đây, Platon cho rằng, công lý nằm ở các vị thần Tư tưởng này của

Trang 17

Aristotle, có những điểm giống với tư tưởng của Phật giáo phương Đông vềluật nhân quả, gieo nhân gì, gặp quả nấy, thuận theo lẽ tự nhiên [18].

Còn theo Aristotle, thì công lý được chia thành công lý “phân phối” –cách thức phân chia thành quả làm ra để công bằng với mỗi người theo những

gì mà người đó xứng đáng được hưởng và “công lý cải tạo” - nơi mà toà ánvới các quyết định của mình nhằm sửa chữa lỗi lầm do một bên gây ra đối vớibên khác [10] Theo Aristotle thì công lý phân phối chính là điều mà các nhàlập pháp quan tâm hàng đầu, tuy nhiên, cũng cần hiểu rằng luật pháp và công

lý là hai khái niệm không hoàn toàn đồng nhất, thậm chí trong một số thời kìphát triển của xã hội, luật pháp đôi khi còn đối nghịch với công lý

b) Thời kì Phương Đông cổ đại.

Lưỡng Hà là cái nôi của văn minh nhân loại, nơi đã xuất hiện và pháttriển những xã hội tri thức đầu tiên ngay từ khoảng nửa sau thiên niên kỷ IVTrước công nguyên Người có công xây dựng Vương triều Babilon thànhquốc gia hùng mạnh, thống nhất cả khu vực Lưỡng Hà là vua Hammurabi(1792-1750 Trước công nguyên) Bằng các biện pháp vũ lực, ngoại giao khônkhéo và kiên quyết, vua Hammurabi đã lần lượt chinh phục các quốc gia lânbang Vùng đất Lưỡng Hà rộng lớn, thống nhất đó được gọi là Babilon Thời

kỳ tồn tại của Vương quốc Babilon (1894-1595 Trước công nguyên) là thời

kỳ huy hoàng nhất của lịch sử Lưỡng Hà Hammurabi là ông vua đầu tiên củaLưỡng Hà chế định một bộ luật thành văn hoàn chỉnh và áp dụng thống nhấtcho toàn khu vực Lưỡng Hà với tên gọi Bộ luật Hammurabi

Có thể nói, Bộ luật Hammurabi là văn bản viết thời cổ đại đề cập khá

rõ nét các tư tưởng, niềm tin, nhu cầu và khát vọng về công lý của con ngườithời cổ đại Phần trên bia luật Hammurabi có chạm hình của vua Hammurabiđang đứng trang nghiêm trước thần Mặt trời, ánh sáng và xét xử (Samat).Thiết lập công lý, bảo vệ công lý, đề cao hạnh phúc, chính nghĩa và công

Trang 18

bằng là tư tưởng xuyên suốt trong toàn bộ bộ luật Cụm từ “công lý” được sửdụng xuyên suốt phần mở đầu và phần kết luận của bộ luật Công lý như ánhsáng mặt trời cần phải “soi đến dân đen, tỏ ánh sáng khắp mặt đất” Ngay tạiphần mở đầu của Bộ luật, vua Hammurabi khẳng định sứ mệnh và mục tiêucủa mình trong việc cai quản đất nước, đồng thời khẳng định quyền của ngườidân được sống trong một chế độ công bằng, có trật tự:

Tại phần kết luận của Bộ luật, một lần nữa vua Hammurabi tiếp tục

nhấn mạnh đến những giá trị chân chính của bộ luật, một bộ luật dựa trên mộtnền tảng công lý chân chính: “Đây là pháp luật công lý (law of justice) do vuaHammurabi bách thắng đặt ra để đem lại hạnh phúc chân chính và đặt nền

thống trị nhân từ” [31].

Bộ luật Hamurabi xác định ý nghĩa, mục tiêu của công lý được đặt ra

là “vì hạnh phúc loài người” Bộ luật đã nhấn mạnh việc thiết lập công lý làviệc “phát huy chính nghĩa ở đời, diệt trừ những kẻ gian ác không tuân theopháp luật, làm cho kẻ mạnh không ức hiếp kẻ yếu” Công lý được định ra

để “đình chỉ phân tranh làm cho đất nước được hưởng hòa bình, nơi ăn chốn ở

của nhân dân được che chở, không có gì phải lo âu sợ hãi” [31] Công lý được đặt ra “để cho kẻ mạnh không hà hiếp kẻ yếu, để cho người cô quả có nơi nương

tựa, để cho toà án trong nước tiện việc xét xử, để cho sự tuyên án trong nước tiệnviệc quyết định, để cho những kẻ được trình bày chính nghĩa” [4] Như vậy,mục tiêu cơ bản của công lý là ngăn chặn kẻ mạnh ức hiếp kẻ yếu mà hàm ý là

sự đe doạ đáp lại mạnh mẽ yếu thế với những người tận dụng sự yếu thế củangười khác Công bằng xã hội là bảo vệ người yếu thế trước những đối xử khôngcông bằng như về địa vị pháp lý, quyền tài sản và các điều kiện kinh tế khác

Với niềm tin tuyệt đối vào công lý, vua Hammurabi khẳng định:

Trẫm khắc những lời vàng ngọc của trẫm lên cột đá của trẫmtrước bức tượng của trẫm cũng tức là bức tượng của một vị vua của

công lý và “Nếu có người dân tự do nào đi kiện mà bị oan khuất thì

Trang 19

đến trước bức tượng của trẫm tức là đến trước bức tượng của vị vuacông lý đọc cái cột đá mà trẫm đã khắc chữ, lắng nghe những lờivàng ngọc của trẫm, để cột đá của trẫm làm rõ vụ án cho người đó

để người đó được xử xét một cách công bằng [31]

Tuy nhiên, nguyên tắc công lý trong bộ luật này với cách hiểu là ápdụng hình phạt ngang bằng với thiệt hại mà kẻ phạm tội gây ra cũng được

áp dụng một cách triệt để, tàn khốc và cứng nhắc một cách cực đoan tại bộluật Nguyên tắc hình phạt ngang bằng (Talion) này bắt nguồn từ tập quán trảthù nguyên thủy, cho phép người trong thân tộc người bị hại đi truy tìm và trảthù kẻ làm hại người trong dòng tộc họ Cuốn sách “Nguồn gốc văn minh”của Will Durant đưa ra một ví dụ sinh động về cách phạt vạ khá tỉ mỉ, cẩnthận, của người Abysinie trong giai đoạn này như sau: “Nếu một đứa nhỏ trêncây té xuống đúng vào một đứa bạn của nó và làm cho đứa nhỏ chết thì mẹcủa đứa chết có quyền sai một đứa khác leo lên cây rồi buông tay cho téxuống đúng đầu đứa phạm tội” Trong bộ luật Hammurabi, Điều 196 Bộ luậtquy định: “Kẻ nào làm hỏng mắt của người dân tự do, kẻ đó sẽ bị người tachọc mù mắt” Điều 197 Bộ luật quy định; “Kẻ nào đánh gãy tay của mộtngười tự do, người ta sẽ đánh gãy tay của hắn” Điều 230 Bộ luật quy định:

“Người thợ xây xây nhà không cẩn thận làm đổ nhà chết con chủ nhà thì phảigiết con người thợ xây”…

Có thể nói mặc dù những tư tưởng tiến bộ tuy nhiên công lý trong giaiđoạn xã hội sơ khai này chỉ được hình thành dựa trên những truyền thuyết, thầnthoại Tuy nhiên, vẫn phải thừa nhận rằng đây chính là những viên gạch đầu tiên

để xây dựng những bộ luật thành văn hoàn chỉnh tại thời điểm hiện tại

1.1.1.2 Thời kì Trung đại

Augustine là một triết gia thời trung cổ Nói về công lý, ông có một câunói rất nổi tiếng là “Nếu không có công lý, nhà nước sẽ là gì nếu không phải

là một băng cướp có tổ chức?”, Augustine không đồng ý với bất cứ khái niệm

Trang 20

“thiên mệnh” nào của kẻ cai trị Ông cũng không tin rằng sự lập pháp hay

nghị định nên được thông qua mà không có sự bàn thảo Ông nói “Luật bấtcông không phải là luật”

Còn đối với Martin Luther là nhà thần học người Đức, nhà cải cách tôngiáo Thần học Luther đã thách thức thẩm quyền của Giáo hoàng Đức khi raogiảng rằng Kinh Thánh là nguồn vô ngộ (không sai lầm) duy nhất của địa vị

tư tế, thẩm quyền tôn giáo và được dành cho tất cả tín hữu (không chỉ dànhriêng cho giới tăng lữ) [10] Theo Luther, con người chỉ có thể được cứu rỗibởi sự ăn năn và bởi đức tin tiếp nhận Đấng cứu thế là Chúa Giêsu, mà khôngcần thông qua vai trò trung gian của Giáo hội Thần học Luther đã trở thành ýthức hệ dẫn đường cho cuộc Cải cách Kháng Cách và thay đổi lịch sử nền vănminh phương Tây thời bấy giờ Theo quan điểm của ông, công lý là thứ nhấtthời và cuối cùng cũng sẽ đi đến kết thúc nhưng lương tâm là vĩnh cửu và sẽkhông bao giờ lụi tàn

Theo triết lý của Thomas Aquinas – nhà triết học người Italia, thực tếnhững đạo luật do con người tạo ra có thể công bằng hay không công bằng.Công lý là một khái niệm cơ sở, có nội hàm rộng hơn khái niệm về luậtpháp Giá trị của công lý là cung cấp những tiêu chí cơ bản, quan trọng đểthẩm định, đánh giá các đạo luật thực định Luật pháp là luật được định hìnhdưới dạng văn bản, thể chế hoá lẽ phải bằng lý luận thực tế Do quan niệm

về lẽ phải được cụ thể hoá dưới dạng quy định pháp lý, áp đặt lên mỗi cánhân và được xã hội thực thi, nó trở thành một nghĩa vụ luật pháp mà nếunhư phớt lờ, người ta có thể bị trừng phạt Trong khi hiệu lực của luật phápdựa trên cơ sở sự cưỡng chế của xã hội (pháp chế), quy luật tự nhiên “bấtthành văn”, thông qua mệnh lệnh của lương tâm, đòi hỏi chúng ta tuân theocác nguyên tắc luân lý Vì thế, quy luật tự nhiên có liên quan đến nghĩa vụđạo đức hơn là nghĩa vụ luật pháp

Trang 21

tự do tự nhiên vốn có để tạo ra một xã hội ổn định trật tự Triết lý của Hobbesđặt trật tự lên trên công lý là có phần độc đoán.

Hoặc đối với nhà triết học người Pháp Jean Jacques Rousseau trongtác phẩm Khế ước xã hội, ông viết: “Đức Chúa Trời là nguồn gốc duy nhấtcủa công lý Mọi công lý đến từ Đức Chúa Trời, nhưng nếu chúng ta biếtcách tiếp nhận nguồn công lý cao siêu như vậy thì chúng ta sẽ chẳng cần đếnLuật pháp và Chính phủ” [14] Điều tất yếu là phải có một loại công lý từ lýtrí mà ra và có tính phổ cập đến tất cả mọi người; nhưng muốn được đôngđảo mọi người chấp nhận thì công lý này phải có tính công bằng giữa ngườivới người Những luật pháp của công lý thiên nhiên vì thiếu cơ chế bảo đảmhiệu lực thi hành là các chế tài nên không có hiệu quả với con người Do đópháp luật của công lý thiên nhiên có thể sẽ gây hại người tốt và làm lợi cho

kẻ xấu, vì người tốt thì tôn trọng luật pháp với tất cả mọi người, trong khi kẻxấu thì lại bất tuân luật lệ

1.1.1.4 Thời kỳ hiện đại

Trong xã hội hiện đại, những giải thích về công lý thường tập trung vàoviệc làm thế nào để xã hội có thể phân phối một cách công bằng nhất nhữngphúc lợi và gánh nặng trong đời sống xã hội

Trong cuốn Công lý: Đâu là việc đúng nên làm? (Justice: What’s the

Trang 22

right thing to do?) của giáo sư Đại học Havard Hoa Kỳ Michael J Sandel.Giáo sư cho rằng câu hỏi một xã hội có công bằng hay không chính là câu hỏi

về cách phân phối những điều chúng ta được hưởng thụ: Sự giàu có và thunhập; quyền lợi và trách nhiệm; quyền lực và cơ hội; chức vụ và danh dự.Một xã hội công bằng phân phối những thứ này đúng cách cho mỗi ngườinhận đúng phần họ xứng đáng được hưởng [25]

Trong tác phẩm Triết học luật pháp Giáo sư danh dự về Luật và Lýthuyết pháp luật ở trường Đại học Hồng Kông - Giáo sư Raymond Wacks,đưa ra một vài quan điểm về công lý, được trình bày như sau:

Công lý trong bất kỳ tình huống nào, không thể là một kháiniệm đơn giản, Công lý giữa những cá nhân với nhau cũng có phầnkhó giải quyết so với sự thách thức của công bằng xã hội: sự tạodựng những thể chế chính trị và xã hội để chia phần chiếc bánh mộtcách công bằng [17]

Những giá trị ưu việt, bền vững của công lý tiếp tục được bồi đắp vàlàm sâu sắc hơn trong quá trình phát triển của nền văn minh nhân loại Về cơbản, các tư tưởng, học thuyết về công lý đều cho rằng công lý là điều kiện tiênquyết cho cuộc sống tốt đẹp và cuộc sống tốt đẹp hơn và đây chính là điều màcông lý hướng tới Nội dung cốt yếu nhất của công lý là hoàn lại, trả lại chomọi người cái mà họ có quyền được hưởng và là mệnh lệnh để ngăn chặn mộtngười chiếm đoạt thứ mà thuộc về người khác hoặc ngăn chặn việc chiếmđoạt những thứ gì thuộc về mình Công lý còn được quan niệm như một hìnhthức đạo đức luân lý phổ biến mà bất cứ ai cũng phải tuân thủ Do đó, nghĩa

vụ đầu tiên của mỗi cộng đồng xã hội là phải bảo vệ và công nhận các giá trịnền tảng của công lý

Như vậy, các tư tưởng, học thuyết về công lý cho rằng thiên chứccủa công lý là nuôi dưỡng, bồi đắp một trật tự nội tại trong mỗi cá nhân mà

Trang 23

ở đó nguyên tắc của lẽ phải và sự khôn ngoan phải đứng trên mọi sự xô đẩy

và cảm xúc của con người Công lý có vai trò quan trọng trong việc tiếtchế, giữ cho mỗi thành viên của xã hội không có hành vi làm phương hạiđến người khác Một điểm cũng cần nhấn mạnh là trong khi các phẩm hạnhkhác giúp con người tự hoàn thiện trong mối quan hệ với chính mình (lòngquả cảm, sự khiêm tốn…) thì công lý lại giúp phát triển những phẩm chấtthúc đẩy mối quan hệ trong cuộc sống của một người với người khác Vìvậy, công lý là phẩm hạnh quan trọng giữ cho mỗi thành viên xã hội gắn bóchặt chẽ vì lợi ích chung của toàn thể xã hội Để đảm bảo sự ổn định vàphát triển, những đức hạnh tử tế, nhân văn và ấm áp, mà trong đó công lýchiếm một vị trí đặc biệt ưu tiên, cần phải được lan tỏa sâu rộng và mạnh

mẽ trong mỗi cộng đồng xã hội

1.1.2 Khái niệm Công lý tại Việt Nam

Trong xã hội phong kiến Việt Nam, khát vọng công lý của người dân từngàn năm qua đã đúc kết trở thành trong những tục ngữ, thành ngữ phê phánthói hư tật xấu của đội ngũ quan lại phong kiến thời bấy giờ như: Đất thấp trờicao (Hoàn cảnh trớ trêu, người có địa vị thấp kém khó có thể giãi bày, kêuoan với những người cầm quyền); Nén bạc đâm toạc tờ giấy (Công lý bị đồngtiền chi phối); Quan châu có quyền đốt đuốc, thiên hạ không được thắp đèn(Nhận xét về sự bất bình đẳng giữa kẻ có chức quyền và nhân dân); Quanthấy kiện như kiến thấy mỡ (Nhận xét về nạn tham nhũng của quan lại phongkiến) [4]… Có thể nói rằng, công lý, lẽ phải và sự công bằng đã trở thành ước

mơ, khát vọng từ ngàn đời nay của người dân Việt Nam

Năm 1919 tại bản “Yêu sách nhân dân An Nam”, những giá trị của mộtnền công lý chân chính, đích thực, nhân văn, vì con người cho nhân dân ViệtNam xuất hiện và được truyền bá về Việt Nam, do Nguyễn Ái Quốc thay mặthội những người yêu nước An Nam gửi đến trưởng đoàn các nước tham dự

Trang 24

Hội nghị Vécxây (Pháp) [16] Với thể văn vần, những giá trị của công lý đượcbiểu hiện qua tác phẩm: “Việt Nam yêu cầu ca” như sau:

Cậy rằng các nước Đồng minhĐem gương công lý giết hình dã man,hay Hòa bình may gặp hội này

Tôn sùng công lý, đọa đày dã man [16]

Năm 1925, tại bài viết “Bản án chế độ thực dân Pháp”, bản cáo trạngđanh thép tố cáo tội ác của thực dân Pháp ở Đông Dương, Nguyễn Ái Quốc

đã vạch trần nền công lý thực dân giả tạo, phi nhân tính qua hình ảnh của nữthần công lý Themis:

Công lý được tượng trưng bằng một người đàn bà dịu hiền,một tay cầm cân, một tay cầm kiếm Vì đường từ Pháp đến ĐôngDương quá xa, xa đến nỗi sang được tới đó thì cán cân đã mất thăngbằng, đĩa cân đã chảy lỏng ra, biến thành những tẩu thuốc phiệnhoặc những chai rượu ty, nên người đàn bà tội nghiệp chỉ còn lạiđộc cái kiếm để chém giết Bà chém giết đến cả người vô tội, vànhất là người vô tội [28]

Nguyễn Ái Quốc tiếp tục chỉ rõ nền cai trị phi công lý của thực dân Pháptại Việt Nam tại bản “Nước An Nam dưới con mắt người Pháp” như sau:

Khắp nơi, người ta vi phạm luật lệ của người An Nam, coithường phong tục, cướp bóc tài sản; mượn cớ đi trấn áp, nên quânlính "được thể" lại tha hồ cướp phá, giết chóc; thú tính xấu xa nhấtlại hoành hành; đến cái vẻ công lý cũng không còn [16]

Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, nhà nước cách mạngnhân dân ra đời, khát vọng của nhân dân về những giá trị đích thực của công

lý đã sớm được ghi nhận ngay tại bài huấn thị “Chính phủ là công bộc củadân” của Chủ tịch Hồ Chí Minh đăng trên báo Cứu quốc ngày 19 tháng 9

Trang 25

năm 1945, chỉ hơn hai tuần sau ngày Người đọc bản Tuyên ngôn độc lập vàSắc lệnh số 13 ngày 24 tháng 1 năm 1946 do Chủ tịch Hồ Chí Minh kýquyết định cách tổ chức Toà án và các ngạch Thẩm phán trong nước ViệtNam dân chủ cộng hoà Qua hai tư liệu nêu trên, có thể thấy rằng ngay tronggiai đoạn đầu của Nhà nước cách mạng nhân dân, Nhà nước Việt Nam đãsớm thừa nhận những giá trị ưu việt và tiến bộ của công lý Ngược lại, công

lý cũng đã trở thành vũ khí tư tưởng, pháp lý, chính trị sắc bén ngay từnhững ngày đầu của Nhà nước cách mạng của nhân dân, góp phần làm sáng

rõ tính chính nghĩa, hợp pháp, góp phần thể hiện rõ nét và sâu sắc bản chất

tư tưởng xây dựng Nhà nước của dân, do dân, vì dân ngay từ những ngàyđầu thành lập Nhà nước cách mạng

Sau một thời gian dài đất nước trải qua thời kì chiến tranh, vai trò củapháp luật trong quản lý xã hội bị coi nhẹ bởi nền hành chính quan liêu, mệnhlệnh hình thành, ngày này cùng với việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xãhội chủ nghĩa đang tiến hành, quá trình dân chủ hóa diễn ra trong mọi mặt đờisống kinh tế, văn hóa, xã hội, các giá trị của công lý lại tiếp tục được ghi nhậntrở lại Lần đầu tiên sau một thời gian dài, từ Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày

02 tháng 01 năm 2002 của Bộ Chính trị, Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02tháng 6 năm 2005 của Bộ Chính trị đến Chiến lược Cải cách tư pháp đến năm

2020 đã thể hiện được các giá trị của công lý về một số nhiệm vụ trọng tâmcông tác tư pháp trong thời gian tới Ngày 28 tháng 11 năm 2013, Quốc hộinước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, tại kỳ họp thứ 6, lầnđầu tiên đã hiến định những giá trị của công lý, nhiệm vụ bảo vệ công lý củaTòa án Những quy định này của Hiến pháp đã khẳng định và nhấn mạnhthêm rằng công lý đã và đang trở thành giá trị căn bản được Nhà nước ViệtNam và xã hội tiếp nhận và tôn trọng Trong quá trình xây dựng và hoàn thiệnNhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân

Trang 26

dân, đặc biệt là trong quá trình hoàn thiện hệ thống pháp luật về bảo vệ cácquyền dân chủ cơ bản và quyền tự do của người dân, yêu cầu bảo vệ công lýphải là những giá trị cốt lõi làm nền tảng cho mọi tranh luận không thể tránhkhỏi giữa các nhóm lợi ích và các cá nhân.

Công lý trở thành một tiêu chí quan trọng để đánh giá tính ưu việt củamột chế độ xã hội Tính chính đáng, chính nghĩa của sự xuất hiện và tồn tạicủa mỗi chính quyền cũng thường được đánh giá thông qua việc Nhà nước đó

có thừa nhận, bảo đảm và bảo vệ việc thực thi công lý hay không Các cơquan Nhà nước khi thực hiện các quyền lực của mình đều dựa vào công lý.Công lý không dựa vào quyền lực thì công lý không được thực thi; quyền lựckhông đi đôi với công lý thì trở nên tàn bạo Do đó cần có sự kết hợp hài hòagiữa công lý và quyền lực, với mục đích phải làm thế nào cho những điều hợpcông lý thì phải có đủ quyền lực hay những điều dựa vào quyền lực phải phùhợp với công lý Chính với vai trò to lớn trong việc tạo dựng tính chính nghĩa,đạo lý, lòng nhân ái và lẽ công bằng trong mỗi xã hội, ngày nay nhiều quốcgia trên thế giới đã ghi nhận công lý ngay tại Lời nói đầu trong Hiến pháp củaquốc gia mình như Hiến pháp Nhật Bản, Hiến pháp Cộng hòa Hàn Quốc,Hiến pháp Cộng hòa Ba Lan, Hiến pháp nước Cộng hòa Nam Phi

Khát vọng và tình yêu công lý đã được Đảng ta tiếp tục vận động,tuyên truyền trở thành mong muốn, ý nguyện của cả dân tộc và của nhân dân

ta Trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, một sốquan điểm của các nhà nghiên cứu cho rằng pháp luật không chỉ đơn giản làsản phẩm “độc quyền” của Nhà nước mà đầu tiên phải là sự kết tinh thiêngliêng từ những giá trị cao quý trong xã hội, dựa trên nền tảng dân chủ, lươngtri và đạo lý mà không một ai có thể bác bỏ được để trở thành lẽ phải đươngnhiên như bình đẳng, tự do, công lý Nhà nước phải thừa nhận và tuân theo lẽphải và công lý, lấy đó làm chuẩn mực để hướng tới sự hoàn thiện để củng cốniềm tin của nhân dân vào sự công bằng và minh bạch của mình

Trang 27

Trong chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 ở Việt Nam, những

giá trị của công lý có thể được nhận thấy rõ ràng trong các chính sách bảođảm công bằng trong phân phối thu nhập, bảo đảm công bằng xã hội, điềukiện thực hiện cơ hội và cơ hội phát triển và nhằm thoả mãn một cách hợp lýcác nhu cầu của các tầng lớp xã hội, các nhóm lợi ích, các cá nhân, xuất phát

từ khả năng hiện thực của những điều kiện kinh tế - xã hội nhất định Nhữnggiá trị của công lý cũng được biểu hiện trong các yêu cầu về xây dựng Nhànước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, hoàn thiện hệ thống pháp luật thống nhất,đồng bộ, khả thi, minh bạch, công khai, đẩy mạnh cải cách hành chính, cảicách tư pháp để phát triển toàn diện

Trong lĩnh vực tư pháp, một trong những mục tiêu căn bản được xácđịnh của Chiến lược cải cách tư pháp ở Việt Nam đến năm 2020 là công lý

và bảo vệ công lý Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ Chính trị ngày 02 tháng

6 năm 2005 về Chiến lược Cải cách tư pháp đến năm 2020 và Văn kiện Đạihội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng cũng khẳng định nhiệm vụ xâydựng hệ thống cơ quan tư pháp phải thật sự trở thành niềm tin, chỗ dựa củanhân dân trong việc bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người Chiến lược đãxác định rõ mục tiêu xây dựng nền tư pháp trong sạch, vững mạnh, nghiêmminh, dân chủ và bảo vệ công lý Trong đó, Toà án được xác định giữ vị trítrung tâm trong hoạt động xét xử và công tác xét xử là hoạt động trọng tâmcần được tiếp tục cải cách, nâng cao về chất lượng, bảo đảm có hiệu lực thi

hành và đạt được hiệu quả cao Thủ tục hành chính trong các cơ quan tư

pháp cần tiếp tục đổi mới và hoàn thiện nhằm tạo điều kiện thuận lợi chongười dân có thể tiếp cận công lý một cách dễ dàng, nhanh chóng và ít tốnkém chi phí Các thủ tục, quy trình tố tụng tại Tòa án cần tiếp tục được hoànthiện nhằm tạo một cơ chế tiếp cận công lý đạt hiệu quả cao, phù hợp vớiđiều kiện thực tiễn của Việt Nam

Trang 28

Từ những phân tích trên ta có thể nhận định, khái niệm công lý trongchiến lược cải cách tư pháp chính là công lý trong lĩnh vực tư pháp xét xử màvai trò chủ yếu ở đây là Tòa án Công lý được hiểu theo nghĩa đơn giản là yêucầu xử lý các vụ việc bằng các thủ tục tố tụng theo quy định pháp luật mộtcách công bằng nhằm bảo vệ lợi ích của xã hội và bảo vệ các quyền conngười một cách nghiêm minh Công lý trong hoạt động xét xử không chấpnhận hiện tượng còn để xảy ra tình trạng tồn tại án oan sai Công lý trong hoạtđộng xét xử cũng đòi hỏi sự đồng thuận cao của xã hội đối với các cơ quan tưpháp, cơ chế tố tụng và các bản án, quyết định của các cơ quan này Các giátrị lớn lao của lẽ phải, lẽ công bằng, đạo đức, lương tri, lòng vị tha, trắc ẩn vàcác giá trị tiến bộ xã hội khác cũng cần là chuẩn mực, là điểm tựa cho các bản

án, quyết định của cơ quan tư pháp mà quan trọng nhất là Tòa án

1.2 Khái niệm quyền tiếp cận công lý và nội dung quyền tiếp cận công lý của người dân

Tiếp cận công lý (Access to justice) là một khái niệm còn mới trong

khoa học pháp lý và có nhiều cách hiểu khác nhau

Ủy ban đảm bảo pháp lý cho người nghèo của Tổ chức Phát triển thếgiới cho rằng quyền tiếp cận công lý là một trong bốn trụ cột chính trong quátrình bảo vệ pháp lý cho người nghèo Trong Báo cáo của Ủy ban về đảm bảopháp lý cho người nghèo, các chuyên gia nhận xét rằng: “Điều tối quan trọng

là phải cải cách thể chế công và dỡ bỏ các rào cản pháp lý, hành chính vẫnđang ngăn trở người nghèo dành lấy quyền lợi của họ” Quyền tiếp cận công

lý là quyền của mỗi người dân được tìm kiếm và đạt được sự đền bù chínhđáng thông qua hệ thống cơ quan tư pháp chính thức hoặc không chính thức,phù hợp với các tiêu chuẩn quốc tế về quyền con người Ngày nay, quyền tiếpcận công lý thường được hiểu theo hai quan điểm chính:

Thứ nhất: Quyền tiếp cận công lý là quyền được xét xử công bằng.

Trang 29

Đây là cách hiểu mang tính truyền thống và cũng đã được quy định trongLuật quốc tế về quyền con người Theo cách hiểu này, quyền tiếp cận công

lý được gắn chặt với hoạt động xét xử của Tòa án và trọng tâm của quyềntiếp cận công lý là việc đảm bảo công bằng giữa các chủ thể trong vụ án, ví

dụ như quyền được bào chữa, quyền được hỗ trợ pháp lý, quyền đượckháng cáo Có thể thấy, hiện nay tồn tại việc nhấn mạnh vào các quy địnhcủa pháp luật đối với các chủ thể tham gia tố tụng và thực thi chúng chứkhông hướng tới sự công bằng thực chất khi áp dụng các quy định đó vàogiải quyết vụ án, cách hiểu này dường như hướng tới hoạt động lập pháptrong lĩnh vực tư pháp vậy, yêu cầu Nhà nước phải thiết lập được cơ chếxét xử đảm bảo các chủ thể tham gia tố tụng phải được đối xử công bằngvới nhau Và như vậy là chưa đầy đủ, phiến diện

Thứ hai: Quyền tiếp cận công lý là quyền tìm kiếm sự đền bù hoặc sự

khắc phục một cách hợp lý cho những bất công hay thiệt hại mà một chủ thể,đặc biệt là chủ thể thuộc những nhóm xã hội dễ bị tổn thương (người nghèo,người dân tộc thiểu số, người khuyết tật, người mắc bệnh hiểm nghèo ) phảigánh chịu do những chủ thể khác gây ra Đây thực sự là một quan điểm mở,

và theo quan điểm như vậy thì các bất công, thiệt hại được thể hiện khônggiới hạn ở trong tố tụng hình sự mà ở trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xãhội như kinh tế, lao động, dân sự Việc tìm kiếm sự khắc phục, đền bù đượcthực hiện thông qua việc tiếp cận với các thiết chế tư pháp chính thức hoặckhông chính thức Cách tiếp cận mới này được nhiều tổ chức quốc tế trên thếgiới sử dụng một cách rộng rãi So sánh hai quan điểm trên, chúng ta nhậnthấy rõ sự thay đổi về mặt nhận thức liên quan đến khái niệm quyền tiếp cậncông lý So sánh hai quan điểm truyền thống và hiện đại, chúng ta có thể thấydường như nguyên nhân chính tạo ra sự thay đổi nhận thức này là do nhữngbất cập, hạn chế trong giải quyết các tranh chấp trong xã hội của các thiết chế

Trang 30

tư pháp chính thức Đó là các thủ tục rườm rà, phức tạp; thông tin khó tiếpcận; nhiều định kiến đối với các nhóm xã hội dễ bị tổn thương; chi phí lớn; dễ

bị ảnh hưởng bởi các chủ thể khác… Đi sâu vào phân tích, tìm hiểu hai quanđiểm truyền thống và hiện đại trên, ta có thể thấy được quan điểm hiện đại đã

bù đắp, bổ sung được những mặt khuyết của quan điểm truyền thống

Về khái niệm, trong khi quan điểm truyền thống chỉ dừng ở mức coiquyền tiếp cận công lý chỉ là khả năng của cá nhân có thể sử dụng các dịch

vụ pháp lý để có thể được xét xử công bằng thì quan điểm hiện đại coi mụctiêu của quyền tiếp cận công lý là sự đền bù, khắc phục đối với những bấtcông, thiệt hại mà họ phải gánh chịu thông qua các cơ chế tư pháp chínhthức và không chính thức, phù hợp với các nguyên tắc và tiêu chuẩn quốc

tế về quyền con người Mặt khác, theo quan điểm hiện đại thì cả hai hệthống tư pháp chính thức và không chính thức đều có khả năng mang lại sựđền bù, khắc phục đó

Về đối tượng mà quyền tiếp cận công lý hướng tới, theo đó, quan điểmtruyền thống hướng tới tất cả mọi người, không nhấn mạnh một nhóm ngườinào cả Ngược lại, quan điểm hiện đại lại coi sự phân biệt đối xử giữa cácnhóm người trong xã hội là nguồn gốc của sự bất công trong việc tiếp cậncông lý Theo đó, quan điểm hiện đại về quyền tiếp cận công lý có trọng tâmhướng tới những nhóm người yếu thế trong xã hội như người nghèo, ngườidân tộc thiểu số, người khuyết tật, người mắc bệnh hiểm nghèo, người phạmtội (tù nhân), người không quốc tích, người tị nạn, người chuyển giới Ngoài

ra, theo quan điểm này, không những thể nhân, mà pháp nhân cũng là đốitượng được hướng tới Bởi vì pháp nhân trong xã hội hiện đại là một chủ thểđặc biệt quan trọng và xuất hiện ở hầu hết các lĩnh vực của đời sống xã hộinhư kinh tế, văn hóa, chính trị Việc nhóm đối tượng là cá nhân bị thu hẹplại và mở rộng về pháp nhân lại có ý nghĩa lớn trong việc đem lại công lý,công bằng cho mọi đối tượng trong xã hội

Trang 31

Về phạm vi tác động Theo quan điểm truyền thống, phạm vi tácđộng của quyền tiếp cận công lý chủ yếu là các thiết chế tư pháp chính thứcnhư tòa án, viện kiểm sát, cơ quan điều tra Cũng dễ hiểu bởi như đã phântích ở trên, quyền tiếp cận công lý theo cách hiểu truyền thống nội dung chỉbao hàm việc đảm bảo công bằng trong việc xét xử các hành vi vi phạmpháp luật, do đó, những thiết chế tham gia vào cũng là những thiết chế tưpháp chính thức được quy định trong các bộ luật tố tụng cụ thể Mở rộnghơn, quan điểm hiện đại thừa nhận sự tham gia của nhiều thiết chế, baogồm cả các thiết chế tư pháp không chính thức và các hệ thống cơ quangiám sát như Quốc hội, Hội đồng nhân dân, các tổ chức xã hội như Mặttrận Tổ quốc, Công đoàn Hệ thống này có nhiệm vụ để hiện thực hóa cácgiải pháp công bằng cho các tranh chấp đã được quy định trong hệ thốngpháp luật chính thức và không chính thức Mỗi cơ quan trên có chức năng,nhiệm vụ khác nhau, do đó cũng đảm nhận những vai trò khác nhau trongviệc bảo đảm thực hiện quyền tiếp cận công lý Cùng với việc thừa nhậnnhiều thiết chế tư pháp không chính thức, quan điểm này còn thừa nhận ápviệc đảm bảo công lý không những chỉ dựa trên cơ sở các quy định củapháp luật mà còn áp dụng các tập quán, luật tục thích hợp Theo các phântích dựa trên hai quan điểm truyền thống và hiện đại ở trên, quyền tiếp cậncông lý trong Luận văn được tiếp cận và phân tích dựa trên khía cạnh nhưsau: Quyền tiếp cận công lý là quyền của người dân được sử dụng nhữngthiết chế trong hệ thống pháp luật để qua đó tìm kiếm sự công bằng của cácbên trong việc giải quyết các tranh chấp Nói cách khác, quyền tiếp cậncông lý là nghĩa vụ của Nhà nước cung cấp các dịch vụ, các thiết chế phápluật để đảm bảo sự bình đẳng của các nhóm xã hội trong việc sử dụngchúng để tìm lại sự công bằng trong các tranh chấp.

Trang 32

1.3 Nhiệm vụ bảo vệ công lý của Tòa án nhân dân

Ngày 28 tháng 11 năm 2013, lần đầu tiên trong lịch sử, Quốc hội nướcCộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, tại kỳ họp thứ 6 đã hiến địnhyêu cầu “bảo vệ công lý” Khoản 3 Điều 102 Hiến pháp năm 2013 quy định

bảo vệ công lý là nhiệm vụ hàng đầu và xuyên suốt của Tòa án nhân dân - cơ

quan xét xử và thực hiện quyền tư pháp tại Việt Nam: “Tòa án nhân dân cónhiệm vụ bảo vệ công lý” Có thể nói, quy định này khẳng định công lý đã trởthành một giá trị căn bản trong cộng đồng xã hội Việt Nam và mỗi cá nhântrong cộng đồng đó có quyền được sống trong một xã hội trật tự, ổn định vàhợp tác dựa trên nền tảng những giá trị căn bản của công lý Cũng từ quy địnhnày, một triết lý tư pháp mới đã xuất hiện, đó là do tòa án là thiết chế cơ bảnchăm lo, bảo vệ công lý nên những cá nhân thành viên xã hội khi cho rằngmình đang chịu một bất công hoặc cho rằng đang hiện hữu những bất côngtrong xã hội và yêu cầu Tòa án bảo vệ thì Tòa án có nhiệm vụ thực thi mọibiện pháp để bảo vệ công lý chứ không chỉ thuần túy dừng lại ở việc áp dụngluật pháp đối với từng vụ việc cụ thể như quan niệm trước đây

Việc Hiến pháp năm 2013 quy định Tòa án có nhiệm vụ bảo vệ công lý

đã mang lại một triết lý tư pháp có phạm vi rộng lớn và sâu sắc hơn việc tòa

án chỉ thụ động, thuần túy áp dụng những luật pháp thực định hiện hữu để bảođảm và bảo vệ những quyền cơ bản của công dân như những quan niệm trướcđây Bảo vệ công lý, quyền con người, quyền công dân là thiên chức hàng đầu

và trở thành giá trị to lớn của tòa án Hoạt động xét xử trong tiếng Latin là:

“Jurisdicito” Tòa án cùng với hoạt động xét xử được gọi là tư pháp theo tiếngLatin là “Justitia” có nghĩa là công lý Như vậy có thể nói bản chất của tưpháp là công lý; những cặp khái niệm: Công lý – Tòa án; Tiếp cận công lý –Tiếp cận Tòa án là đồng nghĩa với nhau Quyền tiếp cận công lý có những nộidung cơ bản sau: Đầu tiên, đó là quyền được Tòa án xét xử kịp thời, bình

Trang 33

đẳng trước pháp luật Tiếp đến, quyền tiếp cận công lý của người dân tươngứng với nghĩa vụ của Tòa án mà biểu trưng rõ nét là việc Tòa án không đượcquyền từ chối giải quyết vụ việc

Việc lần đầu tiên Hiến pháp quy định Tòa án là cơ quan nhà nước cónhiệm vụ bảo vệ công lý không có nghĩa là các nhánh quyền lực khác nhưQuốc hội hay Chính phủ không liên quan đến việc thiết lập và bảo vệ công lý.Theo truyền thống pháp luật Việt Nam, công lý được hiểu là “sự công bằng,

sự đúng đắn, lẽ phải” và ban hành công lý là việc “Tòa án xác định điều đúng,điều sai trong một vụ việc nhằm thiết lập lại sự công bằng” Còn các nhà lậphiến Hoa Kỳ trên cơ sở học thuyết tam quyền phân lập cũng thường cho rằngviệc thiết lập công lý phải được giao cho một cơ quan có tính ổn định, lâu dài

và không bị ảnh hưởng bởi sự thay đổi của các yếu tố chính trị thoáng qua,nhất thời như các cơ quan được hình thành trên cơ sở bầu cử, đó chính là hệthống cơ quan xét xử

Khoản 3 Điều 102 Hiến pháp năm 2013 đã giao cho Tòa án nhân dânthông qua hoạt động xét xử để bảo vệ lẽ phải và thiết lập công lý Bàn về vấn

đề này, GS.TS Nguyễn Phú Trọng cũng đã từng nhận định: “Tòa án chính lànơi biểu hiện tập trung tính chất dân chủ và công khai trong hoạt động bảo vệpháp luật Ở đó, con người sẽ tìm thấy tính nhân đạo, cái thiện - ác, lẽ côngbằng một cách trực tiếp và cụ thể ” Với thiên chức thiết lập công lý đó, theoông, Tòa án cần “phải từng bước mở rộng thẩm quyền để hướng đến giảiquyết được hầu hết mọi tranh chấp xuất hiện trong đời sống xã hội” Vớinhững lập luận nêu trên, quyết tâm chính trị về xây dựng một xã hội dựa trênnền tảng công lý, trật tự, ổn định đang củng cố và mang lại niềm tin vữngchắc của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước Việc đề xuất mởrộng thẩm quyền của Tòa án để đáp ứng tốt hơn yêu cầu bảo vệ công lý, thiếtlập công lý sẽ tạo nguồn động lực mới, thúc đẩy, giải phóng lực lượng sản

Trang 34

xuất, từ đó góp phần huy động và sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực chophát triển đất nước trong giai đoạn tới.

Tuy nhiên, trong quá trình triển khai thi hành Hiến pháp năm 2013,nhận thức về vai trò của Tòa án trước yêu cầu “bảo vệ công lý” còn khánhiều ý kiến và chưa thực sự thống nhất, đặc biệt là trong quá trình rà soát,sửa đổi hệ thống pháp luật nói chung và rà soát, sửa đổi một số Bộ luật quantrọng của đất nước như Bộ luật dân sự, Bộ luật tố tụng dân sự, Luật Tổ chứcTòa án nhân dân nói riêng Phiên họp thứ 31 của Ủy ban Thường vụ Quốchội khóa XIII cho ý kiến về dự thảo Bộ luật Dân sự (sửa đổi) là một ví dụđiển hình Tại phiên họp, quan điểm của Ban soạn thảo cho rằng căn cứkhoản 3 Điều 102 Hiến pháp năm 2013 thì dự thảo Bộ luật cần phải tối đahóa mọi không gian, phát quang, mở rộng mọi con đường để người dân cóthể thụ hưởng đầy đủ những giá trị của công lý Ban soạn thảo lập luận việcbảo vệ công lý bao hàm rất nhiều nội dung, trong đó có việc Tòa án khôngđược từ chối yêu cầu giải quyết vụ việc của người dân với lý do không cóluật quy định Vì vậy, dự thảo Bộ luật Dân sự cần bổ sung quy định khingười dân có yêu cầu về giải quyết tranh chấp trong vụ, việc dân sự thì Tòa

án không được từ chối vì lý do chưa có điều luật để áp dụng hoặc điều luậtkhông rõ ràng Trong trường hợp chưa có điều luật thì Tòa án cần áp dụngquy định về án lệ, áp dụng tập quán pháp, các quy định chung của pháp luật,các nguyên tắc cơ bản được quy định trong Bộ luật dân sự và lẽ công bằng

để xem xét, giải quyết vụ, việc dân sự của người dân

Một số ý kiến nhấn mạnh về tính phụ thuộc của hoạt động tư pháp xét

xử vào hệ thống luật pháp thực định, thành văn hiện nay Theo đó, Hiến pháp,Luật Tổ chức Tòa án nhân dân và các luật về tố tụng hiện hành đều quy định

“Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật”.Như vậy nếu chưa có luật, chưa có quy định thì Tòa án và Thẩm phán không

Trang 35

thể giải quyết được các vụ việc Việc buộc Tòa án phải thụ lý tất cả các vụ,việc dân sự là không phù hợp với thực tế của Việt Nam Quy định này chỉ phùhợp với các nước áp dụng án lệ, Việt Nam việc áp dụng án lệ trong thực tiễncòn hạn chế, số lượng án lệ còn hạn chế nên chưa thể thực hiện được.

Phản biện những lập luận nêu trên, nhiều ý kiến cho rằng theo quy địnhcủa Hiến pháp, Tòa án nhất định phải là cơ quan bảo vệ quyền lợi của ngườidân, giải quyết mọi xung đột về quyền lợi và nếu người dân đến yêu cầu bảo vệquyền của họ thì Tòa án không thể nói không trước yêu cầu của người dân Cuộcsống luôn vận động nên nếu chờ thực tiễn nảy sinh mới sửa đổi, bổ sung luật thìmọi thiết chế đều trở lên thụ động Và khi có yêu cầu bảo vệ quyền của ngườidân khi chưa có điều luật áp dụng thì Tòa án cũng không thể chờ có chuyện xảy

ra thì các vị đại biểu Quốc hội lại ngồi vào họp bàn để thảo luận Người dân thực

sự khởi kiện đến Tòa án khi họ đã xử lý mọi cách mà không thể giải quyết,không có Tòa án thì xung đột không thể chấm dứt, vì vậy, tòa án phải xem xét đểgiải quyết chứ không thể nói tòa từ chối xử vì lý do chưa có luật quy định

Có thể nói cuộc tranh luận nêu trên đang đặt hệ thống pháp luật ViệtNam trước một câu hỏi mang ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc về cácbiện pháp thực thi và bảo vệ công lý theo tiêu chí của Nhà nước phápquyền xã hội chủ nghĩa

Tuy còn nhiều ý kiến khác nhau nhưng thực tế qua mười năm thực hiệnNghị quyết 49-NQ/TW, nhất là sau khi Hiến pháp 2013 có hiệu lực, đời sốngchính trị, pháp lý của nước ta có nhiều thay đổi Việt Nam đã và đang từngbước xây dựng một nền tư pháp vững mạnh, trong sạch Tòa án nhân dân là

cơ quan duy nhất có chức năng xét xử và là cơ quan thực hiện quyền tư phápđược tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc dân chủ, văn minh, công khai,minh bạch, bảo đảm các nguyên tắc của Nhà nước pháp quyền Việc xét xửcủa Tòa án được công khai, minh bạch hơn, Tòa án đưa ra các phán quyết

Trang 36

phải dựa trên quá trình xem xét, đánh giá chứng cứ và kết quả tranh tụng giữanhững người tham gia tố tụng tại phiên tòa.

Đảng và Nhà nước quyết tâm xây dựng xã hội dựa trên nền tảng ổnđịnh, trật tự, công lý là yếu tố quan trọng để củng cố niềm tin vững chắc của

nhân dân vào Đảng, vào Nhà nước Do đó cần thiết phải xây dựng, hoàn

thiện hệ thống pháp luật liên quan đến tổ chức và hoạt động tư pháp Cụ thểcần sửa đổi bổ sung nhiều quy định của pháp luật về dân sự, tố tụng dân sự,hình sự, tố tụng hình sự, hành chính, tố tụng hành chính và các thủ tục tốtụng tư pháp khác Các vấn đề liên quan đến pháp luật về thi hành án, luật

sư, công chứng, giám định tư pháp cần thực hiện theo đúng chủ trương, địnhhướng đã nêu ra trong Nghị quyết của Đảng Mở rộng và nâng cao thẩmquyền của Tòa án để đáp ứng tốt hơn yêu cầu bảo vệ công lý, bảo vệ quyền

và lợi ích hợp pháp của các cá nhân, tổ chức Từ đây sẽ tạo được khung pháp

lý vững chắc không những đối với mọi người dân, các tổ chức trong nước

mà còn đối với việc hội nhập quốc tế để phát triển Nhà nước, phát triển kinh

tế - xã hội trong tình hình hiện nay

1.4 Hoàn thiện Hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng nhiệm vụ bảo vệ công lý của Tòa án nhân dân

1.4.1 Khái niệm hệ thống pháp luật

Hệ thống nói chung được hiểu là một chỉnh thể bao gồm những ýtưởng, vấn đề hoặc bộ phận có liên hệ mật thiết với nhau, được sắp xếp theomột trình tự (trật tự) khách quan, logic và khoa học Khi nói đến một hệ thống

là phải đề cập cả bề rộng và chiều sâu của toàn bộ các vấn đề, các bộ phậnhợp thành cũng như mối quan hệ giữa chúng trong một chỉnh thể Nói cụ thểhơn, khi xem xét một hệ thống đó đồng thời cũng phải xét đến hình thức biểuhiện bên ngoài của nó, coi đó là hai mặt của một vấn đề thống nhất, dù cónhững khác biệt nhất định nhưng không thể tách rời nhau

Trang 37

Khoa học pháp lý hiện nay tồn tại những quan điểm rất khác nhau về hệthống pháp luật

- Nhiều nhà luật học có quan điểm truyền thống cho rằng hệ thống phápluật được hiểu là cấu trúc bên trong của pháp luật, hệ thống pháp luật đượchình thành và phát triển phù hợp với cơ cấu quan hệ xã hội Cần phân biệt rõgiữa khái niệm hệ hợp với khái niệm hệ thống pháp luật thực định vì hệ thốngpháp luật thực định (còn gọi là hệ thống văn bản pháp luật) là biểu hiện bênngoài cụ thể của pháp luật; hệ thống pháp luật thực định được hình thànhtrong quá trình ban hành các bộ luật, sắp xếp, tập hợp hóa các đạo luật và cácvăn bản quy phạm pháp luật khác…

- Có quan điểm khác lại cho rằng chỉ có một khái niệm hệ thống phápluật, không thể phân biệt rõ nét được hai khái niệm hệ thống pháp luật và hệthống pháp luật thực định Theo quan điểm này, hệ thống pháp luật có nộidung rất rộng, bao gồm hệ thống quy phạm pháp luật hiện hành và nhữngnguồn khác nữa của pháp luật tồn tại trong thực tế mà dựa trên cơ sở đó tínhhiện thực của pháp luật được bảo đảm và pháp luật phát huy hiệu lực Cácnguồn đó là các trào lưu pháp lý, kỹ thuật pháp lý, các nguyên tắc chính trị,triết học cũng như các phương pháp hoạt động của nhà luật học - thựcnghiệm… Cả hai quan điểm trên đều có những điểm chưa hợp lý bởi quanđiểm thứ nhất có hai điểm hạn chế là không xác định được thành tố nhỏ nhất(tế bào) của hệ thống pháp luật và hệ thống pháp luật thực định, đồng thờichưa giải thích được mối quan hệ mật thiết giữa nội dung và hình thức của hệthống pháp luật Còn quan điểm thứ hai lại dung hợp vào hệ thống pháp luật

cả những yếu tố bên ngoài mang tính kỹ thuật, rời rạc Cần dựa trên cơ sở của

lý thuyết hệ thống để xem xét khái niệm hệ thống pháp luật Hệ thống phápluật cần được hiểu là một chỉnh thể bao gồm 26 cả cấu trúc bên trong và hìnhthức biểu hiện bên ngoài của pháp luật Theo cách hiểu này, hệ thống pháp

Trang 38

luật được định nghĩa là tổng thể các quy phạm pháp luật có mối liên hệ nội tạithống nhất với nhau, được phân định thành các chế định pháp luật, các ngànhluật và được thể hiện thành các chế định pháp luật, các ngành luật và được thểhiện trong các văn bản do nhà nước ban hành theo những trình tự, thủ tục vàhình thức nhất định Theo định nghĩa này, hệ thống pháp luật là một kháiniệm chung bao gồm hai mặt trong một chỉnh thể thống nhất là hệ thống cấutrúc (bên trong) của pháp luật và hệ thống văn bản quy phạm pháp luật (hệthống nguồn của pháp luật)

* Hệ thống cấu trúc của pháp luật Hệ thống cấu trúc của pháp luật làtổng thể các quy phạm pháp luật có mối liên hệ nội tại thống nhất với nhau,được phân định thành các chế định pháp luật và các ngành luật Hệ thống cấutrúc có ba thành tố cơ bản ở ba cấp độ khác nhau là quy phạm pháp luật, chếđịnh pháp luật và ngành luật

- Quy phạm pháp luật: Quy phạm pháp luật là thành tố nhỏ nhất (tế bào)trong hệ thống cấu trúc của pháp luật, nó vừa có tính khái quát vừa có tính cụthể Quy phạm pháp luật có tính khái quát vì nó là quy tắc xử sự chung, dung

để áp dụng trên một diện rộng và trong một thời gian dài Đồng thời nó phải cụthể, vì đó là hình mẫu, là chuẩn mực để điều chỉnh quan hệ xã hội trong trườnghợp cụ thể đã được dữ liệu bằng phương pháp trừu tượng hóa

- Chế định pháp luật: Chế định pháp luật bao gồm một số quy phạm cónhững đặc điểm chung giống nhau nhằm để điều chỉnh một nhóm quan hệ xãhội tương ứng

- Ngành luật: Ngành luật bao gồm hệ thống quy phạm pháp luật có đặctính chung để điều chỉnh các quan hệ cùng loại trong một lĩnh vực nhất 27định của đời sống xã hội Nói chung, để xác định tính chất, nội dung và phạm

vi của mỗi ngành luật phải dựa trên hai căn cứ là đối tượng điều chỉnh (nhữngquan hệ xã hội có đặc điểm cùng loại cần điều chỉnh) và phương pháp điềuchỉnh (cách thức tác động vào các quan hệ đó)

Trang 39

* Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật Do tính hệ thống của phápluật, các văn bản quy phạm pháp luật dù rất phong phú, đa dạng và được banhành vào các thời điểm khác nhau nhưng đều hợp thành một hệ thống, nghĩa

là giữa các văn bản đó đều có mối liên hệ mật thiết với nhau Đối với hệthống văn bản quy phạm pháp luật, khi nghiên cứu cần xem xét ở hai góc độ(hướng) là theo chiều ngang và theo chiều dọc Xét theo chiều ngang, hệthống văn bản quy phạm pháp luật phù hợp với hệ thống cấu trúc của phápluật Nghĩa là các văn bản đó dù được hình thành như thế nào, thuộc hệ thốngthang bậc giá trị nào thì suy cho cùng cũng đều phải căn cứ vào đối tượngđiều chỉnh (từng loại quan hệ pháp luật) cho nên chúng hoặc là toàn bộ, hoặc

là từng bộ phận đều hợp thành các chế định, các ngành luật Xét theo chiềudọc, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật mang tính thứ bậc Tính chất đóphù hợp với thẩm quyền của các cơ quan ban hành chúng

Tóm lại, hệ thống pháp luật có nội hàm rất rộng lớn, trong khuôn khổphạm vi luận văn, tác giả chỉ tập chung nghiên cứu, phân tích hệ thống phápluật dưới khía cạnh nguồn pháp luật và hệ thống pháp luật tố tụng để đảm bảonhiệm vụ bảo vệ công lý của Tòa án nhân dân

1.4.2 Mối liên hệ giữa Hệ thống pháp luật với nhiệm vụ bảo vệ công

lý của Tòa án nhân dân

Hoàn thiện Hệ thống pháp luật là điều tất yếu để đảm bảo nhiệm vụ bảo

vệ công lý của Tòa án nhân dân bởi những lý do sau:

Pháp luật giúp cho công lý được thực thi, nếu không có pháp luật thì công lý sẽ không được bảo vệ và tuân thủ trên thực tế.

Dựa trên các yêu cầu, đòi hỏi của công lý, pháp luật thể chế hóa chúngthành các nguyên tắc xử sự chung có tính bắt buộc đối với mọi cá nhân.Người dân sẽ dựa trên các nguyên tắc đó để vận dụng, giải quyết các vấn đề

cá nhân, bảo vệ các quyền chính đáng cảu mình Tòa án dựa trên các quy định

Trang 40

của pháp luật để xét xử, đem lại sự công bằng, lẽ phải cho người dân đặc biệt

là các đối tượng yếu thế như: Phụ nữ, trẻ em, người cao tuổi, người tàn tật,dân tộc thiểu số

Có thể thấy rằng, nhờ có pháp luật mà công lý được bảo vệ, tuân thủ

và thực thi Tuy nhiên trên thực tế, trong một số trường hợp công lý khôngthể đạt được do những thiếu xót của hệ thống pháp luật, các văn bản phápluật chưa có quy định, hoặc quá nhiều văn bản pháp luật cùng điều chỉnhmột vấn đề dẫn đến tình trạng chồng chéo lẫn nhau Tòa án là nơi trực tiếpxét xử, áp dụng pháp luật và là nơi cuối cùng người dân tìm đến khi quyền

và lợi ích của họ bị xâm phạm Do đó cần thiết phải hoàn thiện hệ thốngpháp luật tạo thành khung pháp lý cho việc bảo vệ công lý cũng như quyềntiếp cận công lý của người dân

Công lý giúp cho pháp luật đúng đắn, hợp lý, nếu không có công lý, pháp luật sẽ trở nên tàn bạo, hà khắc.

Hệ thống pháp luật được xây dựng, ban hành bởi một hệ thống cơquan quyền lực nhà nước, do đó nếu pháp luật chỉ hoàn toàn dựa trên lợi íchcủa giai cấp thống trị thì sẽ không đảm bảo được nhu cầu cẩu người dân đốivới sự công bằng Bởi vậy, để pháp luật phù hợp với nhu cầu, lợi ích củangười dân, những nhà làm luật luôn phải xây dựng và hoàn thiện hệ thốngpháp luật đề cao các giá trị công lý thông qua việc truyền tải đầy đủ nhữnggiá trị đạo đức, nhân văn, nhân đạo, dân chủ, công bằng đảm bảo các quyềncủa con người

Ngày nay, công lý được coi là sự nhận thức đúng đắn và hành độngđúng vì chân lí, vì công bằng và lẽ phải, phù hợp với lợi ích chung, với đạo lícủa nhân dân, được xã hội và pháp luật thừa nhận Trong quá trình xây dựngnhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, một số quan điểm nghiên cứu đã chorằng pháp luật không chỉ đơn thuần là sản phẩm “độc quyền” của nhà nước

Ngày đăng: 09/11/2019, 20:49

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Benjamin Jowett & M.J.Knight (2008), The Essential Plato, Plato chuyên khảo, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Essential Plato, Platochuyên khảo
Tác giả: Benjamin Jowett & M.J.Knight
Nhà XB: Nxb Văn hóa thông tin
Năm: 2008
3. Bộ Tư pháp – Viện khoa học pháp lý (2006), Từ điển Luật học, Nxb Từ điển Bách khoa, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Luật học
Tác giả: Bộ Tư pháp – Viện khoa học pháp lý
Nhà XB: Nxb Từđiển Bách khoa
Năm: 2006
4. Nguyễn Đăng Dung (2018), Lịch sử tư tưởng về công lý, Tham luận Hội thảo về công lý và quyền tiếp cận công lý, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử tư tưởng về công lý, Tham luận Hộithảo về công lý và quyền tiếp cận công lý
Tác giả: Nguyễn Đăng Dung
Năm: 2018
5. Nguyễn Đăng Dung, Đặng Phương Hải (2015), “Tòa án thực hiện quyền tư pháp, bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân”, Tạp chí lý luận chính trị, (2) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tòa án thực hiện quyềntư pháp, bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân”, "Tạpchí lý luận chính trị
Tác giả: Nguyễn Đăng Dung, Đặng Phương Hải
Năm: 2015
8. Trần Văn Độ (2015), “Vị trí, chức năng của Tòa án trong Hiến pháp”, Tạp chí khoa học pháp lý, 08(93) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vị trí, chức năng của Tòa án trong Hiến pháp”,"Tạp chí khoa học pháp lý
Tác giả: Trần Văn Độ
Năm: 2015
10. Forrest E.Baird (2005), Tuyển tập danh tác triết học từ Plato đến Derrida, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập danh tác triết học từ Plato đếnDerrida
Tác giả: Forrest E.Baird
Nhà XB: Nxb Văn hóa thông tin
Năm: 2005
11. Vũ Công Giao (2009), “Tiếp cận công lý và nguyên lý của nhà nước pháp quyền”, Tạp chí khoa học đại học Quốc Gia, Luật học, (25), tr.188-194 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếp cận công lý và nguyên lý của nhà nước phápquyền”, "Tạp chí khoa học đại học Quốc Gia, Luật học
Tác giả: Vũ Công Giao
Năm: 2009
12. Vũ Công Giao (2018), Quyền tiếp cận công lý và vai trò của Tòa án trong việc đảm bảo quyền này, Hội thảo nghiên cứu cơ bản công lý và quyền tiếp cận công lý ở Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyền tiếp cận công lý và vai trò của Tòa ántrong việc đảm bảo quyền này, Hội thảo nghiên cứu cơ bản công lý vàquyền tiếp cận công lý ở Việt Nam
Tác giả: Vũ Công Giao
Năm: 2018
13. Nguyễn Văn Hiến, Hoàng Công Dũng (2014), Một số vấn đề về pháp luật, bản chất của pháp luật và nguồn của pháp luật, Bàn về hệ thống pháp luật, Nxb Chính trị Quốc Gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về phápluật, bản chất của pháp luật và nguồn của pháp luật, Bàn về hệ thốngpháp luật
Tác giả: Nguyễn Văn Hiến, Hoàng Công Dũng
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc Gia
Năm: 2014
14. Jean-Jacques Rousseau, dịch giả Dương Văn Hóa (2013), Khế ước xã hội, Nxb thế giới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khế ước xãhội
Tác giả: Jean-Jacques Rousseau, dịch giả Dương Văn Hóa
Nhà XB: Nxb thế giới
Năm: 2013
15. John Loke (2014), Khảo luận thứ hai về chính quyền – Chính quyền dân sự, Nxb Tri thức, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo luận thứ hai về chính quyền – Chính quyền dânsự
Tác giả: John Loke
Nhà XB: Nxb Tri thức
Năm: 2014
17. Montesquieu (1996), Tinh thần pháp luật, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tinh thần pháp luật
Tác giả: Montesquieu
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1996
18. Plato, dịch giả Đỗ Khánh Hoan (2012), Cộng hòa, Nxb Thế giới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cộng hòa
Tác giả: Plato, dịch giả Đỗ Khánh Hoan
Nhà XB: Nxb Thế giới
Năm: 2012
19. Đào Thị Mai Phương (2015), Đảm bảo quyền con người trong tố tụng hình sự đối với người bị tạm giữ, tạm giam, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đảm bảo quyền con người trong tố tụnghình sự đối với người bị tạm giữ, tạm giam
Tác giả: Đào Thị Mai Phương
Năm: 2015
20. Nguyễn Văn Quân, Mối quan hệ giữa nguồn pháp luật và đảm bảo quyền tiếp cận công lý tại Việt Nam, Công lý và quyền tiếp cận công lý, Nxb Hồng Đức, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mối quan hệ giữa nguồn pháp luật và đảm bảoquyền tiếp cận công lý tại Việt Nam, Công lý và quyền tiếp cận công lý
Nhà XB: Nxb Hồng Đức
21. Hoàng Thị Kim Quế (2017), “Bàn về “lỗ hổng pháp luật”, Tạp chí nghiên cứu lập pháp, Viện nghiên cứu lập pháp, 06(334) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về “lỗ hổng pháp luật”, "Tạp chínghiên cứu lập pháp, Viện nghiên cứu lập pháp
Tác giả: Hoàng Thị Kim Quế
Năm: 2017
22. Hoàng Thị Kim Quế (2018), Công bằng, bình đẳng, công lý, nhân đạo, đạo đức pháp luật và quyền con người, sự phân định tương đối và mối quan hệ tất yếu, Hội thảo nghiên cứu cơ bản công lý và quyền tiếp cận công lý ở Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công bằng, bình đẳng, công lý, nhân đạo,đạo đức pháp luật và quyền con người, sự phân định tương đối và mốiquan hệ tất yếu, Hội thảo nghiên cứu cơ bản công lý và quyền tiếp cậncông lý ở Việt Nam
Tác giả: Hoàng Thị Kim Quế
Năm: 2018
23. Quốc hội (2013), Hiến pháp nước Cộng Hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam , Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiến pháp nước Cộng Hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Tác giả: Quốc hội
Năm: 2013
24. Quốc hội (2014), Luật Tổ chức Tòa án nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Tổ chức Tòa án nhân dân
Tác giả: Quốc hội
Năm: 2014
28. Nguyễn Ái Quốc (2008), Bản án chế độ thực dân Pháp, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bản án chế độ thực dân Pháp
Tác giả: Nguyễn Ái Quốc
Nhà XB: Nxb Chính trịquốc gia
Năm: 2008

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w