1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nguyên tắc giới hạn quyền con người theo Hiến pháp năm 2013

121 213 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 121
Dung lượng 715,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luận văn đã luận giải, làm rõ các cơ sở lý luận về nguyên tắc giới hạn quyền con người trong pháp luật quốc tế và theo Hiến pháp Việt Nam năm 2013. Bên cạnh đó, luận văn đã cho thấy tầm quan trọng của việc Hiến định nguyên tắc này. Từ đó, luận văn nêu lên những bất cập, hạn chế trong việc thể chế hóa và thực thi nguyên tắc giới hạn quyền con người. Luận văn kiến nghị các giải pháp nhằm khắc phục những bất cập trong công cuộc thể chế hóa nguyên tắc giới hạn quyền con người và nâng cao tính khả thi trong việc thực thi nguyên tắc này. Luận văn đã luận giải, làm rõ các cơ sở lý luận về nguyên tắc giới hạn quyền con người trong pháp luật quốc tế và theo Hiến pháp Việt Nam năm 2013. Bên cạnh đó, luận văn đã cho thấy tầm quan trọng của việc Hiến định nguyên tắc này. Từ đó, luận văn nêu lên những bất cập, hạn chế trong việc thể chế hóa và thực thi nguyên tắc giới hạn quyền con người. Luận văn kiến nghị các giải pháp nhằm khắc phục những bất cập trong công cuộc thể chế hóa nguyên tắc giới hạn quyền con người và nâng cao tính khả thi trong việc thực thi nguyên tắc này. Luận văn đã luận giải, làm rõ các cơ sở lý luận về nguyên tắc giới hạn quyền con người trong pháp luật quốc tế và theo Hiến pháp Việt Nam năm 2013. Bên cạnh đó, luận văn đã cho thấy tầm quan trọng của việc Hiến định nguyên tắc này. Từ đó, luận văn nêu lên những bất cập, hạn chế trong việc thể chế hóa và thực thi nguyên tắc giới hạn quyền con người. Luận văn kiến nghị các giải pháp nhằm khắc phục những bất cập trong công cuộc thể chế hóa nguyên tắc giới hạn quyền con người và nâng cao tính khả thi trong việc thực thi nguyên tắc này. Luận văn đã luận giải, làm rõ các cơ sở lý luận về nguyên tắc giới hạn quyền con người trong pháp luật quốc tế và theo Hiến pháp Việt Nam năm 2013. Bên cạnh đó, luận văn đã cho thấy tầm quan trọng của việc Hiến định nguyên tắc này. Từ đó, luận văn nêu lên những bất cập, hạn chế trong việc thể chế hóa và thực thi nguyên tắc giới hạn quyền con người. Luận văn kiến nghị các giải pháp nhằm khắc phục những bất cập trong công cuộc thể chế hóa nguyên tắc giới hạn quyền con người và nâng cao tính khả thi trong việc thực thi nguyên tắc này. Luận văn đã luận giải, làm rõ các cơ sở lý luận về nguyên tắc giới hạn quyền con người trong pháp luật quốc tế và theo Hiến pháp Việt Nam năm 2013. Bên cạnh đó, luận văn đã cho thấy tầm quan trọng của việc Hiến định nguyên tắc này. Từ đó, luận văn nêu lên những bất cập, hạn chế trong việc thể chế hóa và thực thi nguyên tắc giới hạn quyền con người. Luận văn kiến nghị các giải pháp nhằm khắc phục những bất cập trong công cuộc thể chế hóa nguyên tắc giới hạn quyền con người và nâng cao tính khả thi trong việc thực thi nguyên tắc này.

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

LƯƠNG THỊ THU DƠN

NGUY£N T¾C GIíI H¹N QUYÒN CON NG¦êI

THEO HIÕN PH¸P N¡M 2013

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2018

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

LƯƠNG THỊ THU DƠN

NGUY£N T¾C GIíI H¹N QUYÒN CON NG¦êI

THEO HIÕN PH¸P N¡M 2013

Chuyên ngành: Luật Hiến pháp - Luật Hành chính

Mã số: 8380101.02

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Cán bộ hướng dẫn khoa học: PGS.TS ĐẶNG MINH TUẤN

HÀ NỘI - 2018

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trinh nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất

kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoan thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi

có thể bảo vệ Luận văn.

Tôi xin chân thành cảm ơn!

NGƯỜI CAM ĐOAN

LƯƠNG THỊ THU DƠN

MỤC LỤC

Trang 4

GIỚI HẠN QUYỀN CON NGƯỜI 7 1.1 KHÁI NIỆM GIỚI HẠN QUYỀN CON NGƯỜI 7 1.1.1 NGUỒN GỐC CỦA QUYỀN CON NGƯỜI VÀ NGUYÊN

TẮC GIỚI HẠN QUYỀN CON NGƯỜI 7 1.1.2 CÁC KHÁI NIỆM CƠ BẢN 10 1.2 ĐẶC ĐIỂM CỦA NGUYÊN TẮC GIỚI HẠN QUYỀN CON

NGƯỜI 18 1.3 Ý NGHĨA, VAI TRÒ CỦA NGUYÊN TẮC GIỚI HẠN

QUYỀN CON NGƯỜI 24 1.4 ÁP DỤNG CÁC HỌC THUYẾT (NGUYÊN TẮC, PHƯƠNG

PHÁP) NHẰM ĐẢM BẢO TÍNH CÂN XỨNG CỦA VIỆC GIỚI HẠN QUYỀN CON NGƯỜI 26 1.5 ĐIỀU KIỆN ÁP DỤNG NGUYÊN TẮC GIỚI HẠN QUYỀN

CON NGƯỜI TRONG PHÁP LUẬT QUỐC TẾ 31 1.5.1 ĐIỀU KIỆN/MỤC ĐÍCH GIỚI HẠN QUYỀN CON NGƯỜI

31

1.5.2 PHÂN LOẠI CÁC LOẠI QUYỀN 34 1.5.3 CÁCH THỨC GIỚI HẠN QUYỀN CON NGƯỜI 38 1.6 TÒA ÁN ĐỐI VỚI VIỆC GIỚI HẠN QUYỀN CON NGƯỜI

40

1.7 HIẾN ĐỊNH NGUYÊN TẮC GIỚI HẠN QUYỀN CON

NGƯỜI 42 TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 45

Trang 5

CHƯƠNG 2: NGUYÊN TẮC GIỚI HẠN QUYỀN CON NGƯỜI

THEO HIẾN PHÁP VIỆT NAM NĂM 2013 46 2.1 SỰ CẦN THIẾT HIẾN ĐỊNH NGUYÊN TẮC GIỚI HẠN

QUYỀN CON NGƯỜI TRONG HIẾN PHÁP NĂM 2013 46 2.2 NỘI DUNG CỦA NGUYÊN TẮC GIỚI HẠN QUYỀN CON

NGƯỜI TRONG HIẾN PHÁP NĂM 2013 50 2.2.1 NHÂN QUYỀN – ĐIỂM SÁNG MỚI TRONG HIẾN PHÁP

2013 50 2.2.2 NGUYÊN TẮC GIỚI HẠN QUYỀN CON NGƯỜI THEO

HIẾN PHÁP 2013 53 2.3 NHỮNG VẤN ĐỀ PHÁP LÝ ĐẶT RA TỪ QUY ĐỊNH CỦA

NGUYÊN TẮC GIỚI HẠN QUYỀN CON NGƯỜI THEO HIẾN PHÁP 2013 60 2.4 NHỮNG VẤN ĐỀ PHÁP LÝ ĐẶT RA KHI THỂ CHẾ HÓA

NGUYÊN TẮC GIỚI HẠN QUYỀN CON NGƯỜI TRONG

HỆ THỐNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC THI TRÊN THỰC TẾ

64

2.4.1 VẤN ĐỀ THỂ CHẾ HÓA NGUYÊN TẮC GIỚI HẠN

QUYỀN CON NGƯỜI CỦA HIẾN PHÁP 64 2.4.2 NHẬN THỨC VỀ LOẠI VĂN BẢN CÓ THỂ QUY ĐỊNH

VẤN ĐỀ GIỚI HẠN QUYỀN CON NGƯỜI 65 2.4.3 CÁCH THỨC QUY ĐỊNH VÀ NỘI DUNG CÁC QUY

ĐỊNH VỀ GIỚI HẠN QUYỀN CON NGƯỜI 71 2.4.4 CƠ CHẾ XEM XÉT, PHÁN QUYẾT TÍNH HỢP HIẾN ĐỐI

VỚI CÁC QUY ĐỊNH, HÀNH VI GIỚI HẠN QUYỀN CON NGƯỜI 76 2.4.5 BẢO LƯU CỦA VIỆT NAM ĐỐI VỚI CÁC ĐIỀU ƯỚC

QUỐC TẾ VỀ QUYỀN CON NGƯỜI 78

Trang 6

TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 82

CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP GÓP PHẦN HIỆN THỰC HÓA NGUYÊN TẮC GIỚI HẠN QUYỀN CON NGƯỜI TẠI VIỆT NAM 83

3.1 Q UAN ĐIỂM CHUNG VỀ CÁC GIẢI PHÁP GÓP PHẦN HIỆN THỰC HÓA NGUYÊN TẮC GIỚI HẠN QUYỀN CON NGƯỜI 83

3.2 MỘT SỐ GIẢI PHÁP CỤ THỂ GÓP PHẦN HIỆN THỰC HÓA NGUYÊN TẮC GIỚI HẠN QUYỀN CON NGƯỜI 85

3.2.1 ĐỐI VỚI HIẾN PHÁP NĂM 2013 85

3.2.2 ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG SOẠN THẢO VÀ THẨM ĐỊNH VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT VỀ GIỚI HẠN QUYỀN CON NGƯỜI 90

3.2.3 ĐỐI VỚI CƠ CHẾ XEM XÉT, PHÁN QUYẾT TÍNH HỢP HIẾN CỦA CÁC GIỚI HẠN QUYỀN CON NGƯỜI 100

3.2.4 VỀ BẢO LƯU ĐIỀU ƯỚC QUỐC TẾ VỀ QUYỀN CON NGƯỜI 101

3.2.5 MỘT SỐ GIẢI PHÁP KHÁC 102

KẾT LUẬN 105

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 106

Trang 7

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT

CHLB Cộng Hòa Liên Bang

HRBA Human Rights Based ApproachICCPR Công ước quốc tế về các Quyền

Dân sự và Chính trịICESCR Công ước Quốc tế về các Quyền

Kinh tế, Xã hội và Văn hóaTCN Trước Công Nguyên

XHCN Xã Hội Chủ Nghĩa

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Một trong những điểm mới đáng chú ý của Hiến pháp 2013 là việc sửađổi, bổ sung các quy định về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản củacông dân Hiến pháp năm 2013 có quy định tại Khoản 2, Điều 14, Chương II-Quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân như sau: “Quyềncon người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trongtrường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xãhội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng” Nguyên tắc giới hạn quyền conngười lần đầu tiên được quy định trong Hiến pháp năm 2013 đặt một dấu mốcquan trọng trong tư duy lập hiến và bảo vệ quyền con người

Đối với những quốc gia đang phát triển như Việt Nam, việc hiến địnhnguyên tắc giới hạn quyền có ý nghĩa rất quan trọng bởi lẽ [19, tr.235]:

1 Nó làm rõ tinh thần của luật nhân quyền quốc tế là các nhà nước phảitôn trọng, bảo vệ và bảo đảm các quyền con người nhưng cũng được đặt ra và ápdụng những giới hạn cho một số quyền, nhằm thực hiên chức năng của nhà nước

là quản lý xã hội, bảo đảm các quyền, lợi ích hợp pháp của các cá nhân khác;

2 Nó ngăn chặn khả năng lạm dụng quyền lực nhà nước để vi phạm nhânquyền thông qua việc ấn định những điều kiện chặt chẽ với việc giới hạn quyền;

3 Nó phòng ngừa những suy nghĩ và hành động cực đoan trong việchưởng thụ, thực hiện các quyền

Tuy nhiên việc đồng thời xác định rõ những quyền tuyệt đối cũng rấtquan trọng, để tránh nhầm lẫn rằng nguyên tắc hạn chế có thể áp dụng cho tất

cả mọi quyền Trong pháp luật các quốc gia có những nguyên tắc và phươngpháp để xác định những quyền có thể bị giới hạn và các quyền không thể bịgiới hạn nhằm áp dụng và thực thi chính xác nguyên tắc này trong Hiến phápcũng như các văn bản pháp luật

Trang 9

Có một số ý kiến cho rằng quy định nguyên tắc giới hạn quyền chính

là làm trái chức năng của Hiến pháp là bảo vệ quyền con người, và kiểmsoát quyền lực nhà nước Tuy nhiên, giới hạn quyền là những yêu cầu xuấtphát từ thực tế cuộc sống mà đã được luật nhân quyền quốc tế ghi nhận, vớimục đích chính là để ngăn ngừa sự tùy tiện của các nhà nước trong việc thựcthi quyền con người, chứ không phải là để cung cấp công cụ cho các nhànước vi phạm các quyền đó

Bên cạnh đó thì mục đích giới hạn quyền là để bảo đảm, bảo vệ quyềncủa người khác, công dân khác, bảo đảm trật tự công cộng, bảo đảm lợi íchquốc gia, lợi ích dân tộc, bảo vệ đạo đức, luân lý xã hội Việc giới hạn nàyphải được ghi nhận trong Hiến pháp và các đạo luật

Ngoài ra, nguyên tắc giới hạn quyền cũng chính là cơ sở quan trọngnhằm bảo vệ quyền con người Nguyên tắc hiến định này là cơ sở lập luậnquan trọng để đảm bảo tính hợp hiến của việc giới hạn quyền ở các quy phạmpháp luật dưới hiến pháp Các hiến pháp có thể kế thừa các bộ luật quốc tế vềquyền con người hoặc học hỏi lẫn nhau để xây dựng một chương quy định vềquyền con người hết sức tiến bộ Tuy nhiên, những quy định đó sẽ mất ýnghĩa nếu các quyền vẫn bị các văn bản dưới hiến pháp “cắt xén” một cáchtùy tiện Vì vậy, có thể nhận định rằng, việc ngăn ngừa những giới hạn tùytiện đối với quyền con người quan trọng hơn ghi nhận các quyền đó [13]

Qua nghiên cứu Hiến pháp của một số nước phát triển, ngoài chế định

về quyền sống còn chế định khác đi kèm để bảo đảm cho việc hạn chế, tước

bỏ quyền đó trong những trường hợp đặc biệt không bị coi là trái pháp luật.Chẳng hạn khoản 1, Điều 20 Hiến pháp Liên bang Nga hiện hành (ngày 12-12-1993, sửa đổi, bổ sung ngày 30-3-2008) quy định về quyền sống của con

người thì tại khoản 2 có quy định: “Tử hình có thể được áp dụng bởi luật Liên bang với tư cách là hình phạt đặc biệt về tội phạm đặc biệt nghiêm trọng xâm hại đến đời sống con người trong việc cho bị cáo quyền được xét xử bởi Tòa án có sự tham gia của các vị hội thẩm”.

Trang 10

Việt Nam hiện là một trong số các nước còn áp dụng hình phạt tử hìnhđối với những người phạm vào tội đặc biệt nghiêm trọng nhưng Hiến pháp lạikhông hề có quy định về việc Nhà nước có quyền tước bỏ mạng sống của mộtngười vì lý do nào đó Theo Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi, bổ sung năm

2009, 21 tội danh có mức hình phạt cao nhất là tử hình Vậy việc tử hình cóphải đang vi phạm quyền sống của con người? Hay các bản án tử hình củaTòa án có bị coi là vi hiến?

Nước ta đang trong quá quá trình thống nhất và hoàn thiện hệ thống phápluật, và việc này phải dựa trên cơ sở tôn trọng và tuân thủ Hiến pháp Trongtrường hợp tình trạng khẩn cấp, để bảo đảm an toàn cho con người, công dân vàbảo vệ Hiến pháp, bằng một đạo luật có thể thiết lập những hạn chế đối với cácquyền con người, công dân với điều kiện phải quy định rõ phạm vi và thời hạncủa những hạn chế đó

Là một quy định trong Hiến pháp nên nguyên tắc này cần phải được ápdụng vào thực tế Mặc dù vậy, do những vướng mắc về mặt lý luận, kể từ khiHiến pháp 2013 được thông qua, về cơ bản quy định về giới hạn quyền vẫnchưa được thực hiện Điều này đòi hỏi phải có những nghiên cứu chuyên sâu

để làm rõ Trong thời gian qua ở nước ta đã có một số công trình nghiên cứu

về nguyên tắc giới hạn quyền con người, song do đây là vấn đề lý luận phứctạp nên vẫn còn những ý kiến khác nhau Vì vậy, đề tài luận văn này có tínhcấp thiết, và có ý nghĩa cả về lý luận cũng như thực tiễn

2 Tình hình nghiên cứu

Những vấn đề liên quan đến nguyên tắc giới hạn quyền con ngườiđược các nhà nghiên cứu khoa học pháp lý rất quan tâm cả trên thế giới vàViệt Nam Đặc biệt là những nhà nghiên cứu về nhân quyền

Trong đó, trong Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Luật học số 29, Số 3(2013) 51-61 về những giới hạn và hạn chế trong chế định quyền con người,

Trang 11

quyền công dân của Dự thảo Hiến pháp 1992, sửa đổi năm 2013 của PGS.TS

Vũ Công Giao có đề cập và nhấn mạnh việc đưa nguyên tắc giới hạn quyềncon người vào Hiến pháp 2013 là chính xác và cần thiết Ngoài ra vấn đề nàyđược nhắc đến trong các bài viết, các bài báo, tạp chí, sách chuyên khảo,…như Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp số 5/2011 về Cải cách chế định quyền vànghĩa vụ cơ bản của công dân trong Hiến pháp 1992 theo nguyên tắc tôn trọngquyền con người của GS.TS Nguyễn Đăng Dung và Ths Bùi Tiến Đạt; Nghiêncứu của GS.TS Hoàng Thị Kim Quế về Giới hạn quyền và tự do của con người,công dân và những vấn đề đặt ra trong sửa đổi, bổ sung Hiến pháp 1992, trong

“Sửa đổi, bổ sung Hiến pháp 1992: Những vấn đề lý luận và thực tiễn” (GS.TSPhạm Hồng Thái và các tác giả khác đồng chủ biên, NXB Hồng Đức 2012),

đáng chú ý có hai cuốn sách chuyên khảo về giới hạn quyền là: Giới hạn chính đáng đối với các quyền con người, quyền công dân trong pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam của TS.Nguyễn Minh Tuấn làm chủ biên (20150; và cuốn

Nguyên tắc hạn chế quyền con người, quyền công dân theo Hiến pháp năm 2013của TS.Nguyễn Văn Hiển và NCV.Trương Hồng Quang (2018)

Đi vào tìm hiểu vấn đề ta thấy việc thực thi nguyên tắc giới hạn quyền conngười trong Hiến pháp 2013 và làm sao để áp dụng vào pháp luật và thực tiễnnguyên tắc này một cách hiệu quả nhất thực sự khó khăn Do vậy, việc chọn đề tài

“Nguyên tắc giới hạn quyền con người theo Hiến pháp năm 2013” là một hướng

nghiên cứu mới và có tính cấp thiết

3 Mục tiêu nghiên cứu

+ Trên cơ sở luật nhân quyền quốc tế công nhận nguyên tắc giới hạnquyền con người, cùng với việc hiến pháp hóa nguyên tắc này tại các quốc giatrên thế giới để thấy được tầm quan trọng của việc thực thi nguyên tắc giớihạn quyền con người tại Việt Nam

+ Nghiên cứu những quan niệm về nguyên tắc giới hạn quyền conngười theo pháp luật quốc tế và việc áp dụng trong Hiến pháp 2013

Trang 12

+ Nghiên cứu lý do tại sao cần đưa nguyên tắc này vào Hiến pháp

+ Nghiên cứu những phương pháp xác định những quyền có thể bị giớihạn hay không thể bị giới hạn

+ Nghiên cứu những khó khăn khi đưa nguyên tắc giới hạn quyền conngười vào các văn bản pháp luật

+ Thực tế áp dụng tại Việt Nam và xu hướng

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Những vấn đề lý luận và thực tiễn của việc áp dụng nguyên tắc giới hạnquyền trên thế giới và trong Hiến pháp 2013 cùng với những quan niệm cơbản về vấn đề đưa nguyên tắc này vào Hiến pháp

- Phương pháp nghiên cứu:

Đề tài được nghiên cứu bằng phương pháp duy vật biện chứng và duyvật lịch sử cùng các phương pháp khác như phương pháp hệ thống, phươngpháp phân tích, phương pháp tổng hợp, phương pháp so sánh, gắn lý luận vớithực tiễn chọn lọc tri thức khoa học nghiên cứu về nguyên tắc giới hạn quyềncon người Bên cạnh các phương pháp truyền thống đề tài cũng áp dụng cácphương pháp tiếp cận đa ngành, liên ngành giữa khoa học hành chính và khoa

Trang 13

học pháp lý cụ thể:

+ Phương pháp phân tích, tổng hợp được sử dụng xuyên suốt trong toàn

bộ các chương của luận văn để giải quyết các vấn đề mang tính lý luận nhưcác khái niệm, quan niệm, đặc điểm, ý nghĩa cùng những nguyên tắc cơ bản

về quyền con người hay giới hạn quyền con người, đánh giá thực trạng ápdụng vào Hiến pháp 2013

+ Phương pháp so sánh được sử dụng để so sánh trên cơ sở lý luận vàthực tiễn áp dụng vào Hiến pháp của Việt Nam và các quốc gia trên thế giới

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

Luận văn là công trình nghiên cứu phân tích về vấn đề thực thi nguyêntắc giới hạn quyền con người với mục đích đưa ra các luận cứ khoa học vànhững quan điểm, giải pháp về mặt lý luận cũng như thực tiễn nhằm hoànthiện các quy định pháp luật về việc áp dụng nguyên tắc giới hạn quyền conngười trong Hiến pháp cũng như các văn bản pháp luật nhằm đảm bảo quyềncon người cũng như hạn chế sự lạm dụng quyền lực của nhà nước Kết quảnghiên cứu của luận văn sẽ góp phần bổ sung, hoàn thiện lý luận và thực tiễnthực thi nguyên tắc giới hạn quyền con người trong pháp luật Việt Nam

Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảocho các hoạt động nghiên cứu, giảng dạy, học tập về quyền con người nóichung và giới hạn quyền nói riêng

7 Cấu trúc luận văn

Mở đầu

Chương 1: Một số vấn đề lý luận về nguyên tắc giới hạn quyền con người Chương 2: Nguyên tắc giới hạn quyền con người theo hiến pháp Việt

Nam năm 2013

Chương 3: Một số giải pháp góp phần hiện thực hóa nguyên tắc giới

hạn quyền con người tại Việt Nam

Trang 14

Kết luận

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NGUYÊN TẮC GIỚI HẠN

QUYỀN CON NGƯỜI

Cùng với sự thành lập Liên Hợp Quốc (1945) và sự ra đời của Tuyênngôn toàn thế giới về nhân quyền (1948), quyền con người ngày càng trởthành mối quan tâm chung của nhân loại Mọi vấn đề của nhân quyền ngàycàng được chú trọng trong các mối quan hệ quốc tế Tuy vậy, kể từ khi LiênHợp Quốc thành lập đến nay, các quốc gia, theo từng khối, nhóm, chính thứchoặc không chính thức, hay trên phương diện song phương vẫn không ngừngtranh luận về các vấn đề liên quan đến quyền con người Và nguyên tắc giớihạn quyền con người cũng không nằm ngoài mối quan tâm của các quốc gia,

1.1 Khái niệm giới hạn quyền con người

1.1.1 Nguồn gốc của quyền con người và nguyên tắc giới hạn quyền con người

Ngay từ khi những quan điểm đầu tiên về quyền con người xuất hiệntrong lịch sử loài người, song song đó giới hạn quyền con người đã được đềcập tới như một điều tất yếu

Ý thức về những quyền lợi bẩm sinh đã xuất hiện trong các triết gia

Trang 15

Hy-lạp La-mã trước Kitô giáo Vào thế kỷ thứ năm trước công nguyên, ôngSôphôclê (k.497-405) trong tác phẩm Antigone có kể lại một thiếu nữ đãdám bất tuân lệnh của nhà vua cấm không được chôn cất người anh củamình can tội phản quốc Nàng dám khẳng khái tâu với vua rằng sở dĩ cô dámlàm trái lệnh của vua là vì có luật trời còn cao hơn nữa! Trong tiến trình đòihủy bỏ chế độ nô lệ, các triết gia Hy-lạp đã lập luận rằng con người sinh rađều bình đẳng với nhau; sở dĩ có người làm chủ nhân và có người làm tôimọi là do hoàn cảnh thời thế mà thôi Dù sao, có thể nói được là ý thức vềquyền lợi tự nhiên (hay bẩm sinh) đã chín mùi trong những cuộc đối khángchống lại những luật lệ bất công hay hà khắc [11].

Có hai trường phái trái ngược nhau về nguồn gốc của quyền con người.Những người theo học thuyết về quyền tự nhiên (natural rights) – mà tiêu biểu

là các tác giả như Zeno (333-264TCN), Thomas Hobbes, Thomas Paine(1731-1809), cho rằng nhân quyền là những gì bẩm sinh, vốn có mà mọi cánhân sinh ra đều được hưởng, chỉ đơn giản bởi họ là thành viên của gia đìnhnhân loại Các quyền con người, do đó, không phụ thuộc vào phong tục, tậpquán, truyền thống văn hóa hay ý chí của bất cứ cá nhân, giai cấp, tầng lớp, tổchức, cộng đồng hay nhà nước nào; và không một chủ thể nào, kể cả các nhànước, có thể ban phát hay tước bỏ các quyền con người [6, tr.22, tr.23]

Ngược lại, những người theo học thuyết về các quyền pháp lý (legalrights) – mà tiêu biểu là các tác giả như Edmund Brucke (1729-1797), JeremyBentham (1748-1832), cho rằng các quyền con người không phải là những

gì bẩm sinh, vốn có một cách tự nhiên mà phải do các nhà nước quy địnhtrong pháp luật Như vậy, theo học thuyết này, phạm vi, giới hạn và ở góc độnhất định, cả thời hạn hiệu lực của các quyền con người phụ thuộc vào ý chícủa tầng lớp thống trị và các yếu tố như phong tục, tập quán, truyền thống vănhóa, … của từng xã hội

Trang 16

Cho đến nay, cuộc tranh luận về tính đúng đắn của hai học thuyết kểtrên vẫn còn tiếp tục Việc phân định tính chất đúng, sai, hợp lý và không hợp

lý của hai học thuyết này không đơn giản do chúng liên quan đến một phạm

vi rộng lớn các vấn đề triết học, chính trị, xã hội, đạo đức, pháp lý, Mặc dùvậy, dường như quan điểm cực đoan phủ nhận hoàn toàn bất cứ học thuyếtnào đều không phù hợp, bởi lẽ trong khi về hình thức, hầu hết các văn kiệnpháp luật của các quốc gia đều thể hiện các quyền con người là các quyềnpháp lý thì trong Tuyên ngôn toàn thế giới về nhân quyền năm 1948, một sốvăn kiện pháp luật và văn kiện chính trị pháp lý ở một số quốc gia, nhânquyền được khẳng định một cách rõ ràng là các quyền tự nhiên, vốn có vàkhông thể chuyển nhượng được của các cá nhân

Triết gia người Anh, John Locke (1632-1704) được xem là người đặtnền móng cho những vấn đề liên quan đến quyền con người cho rằng: ngườidân hình thành nên xã hội, xã hội hình thành nên các chính phủ để đảm bảo

quyền được hưởng các quyền “tự nhiên”; nhưng chính John Locke cũng khẳng định “người ta có cái quyền tự do không có kiểm soát, để sắp đặt con người hay tài sản của mình, nhưng vẫn không được tự do hủy diệt bản thân

và ngay cả bất cứ sinh vật nào mà mình sở hữu” Rõ ràng, giới hạn quyền con

người là vấn đề đã được nhận thức ngay từ những buổi ban đầu của các kháiniệm về quyền con người Quyền con người thực sự nổi lên như một vấn đề ởtầm quốc tế từ những năm đầu của thế kỷ XIX, song song với cuộc đấu tranhnhằm xóa bỏ chế độ nô lệ và buôn bán nô lệ, đồng thời cải thiện điều kiệnsống cho người lao động [24, tr.22]

Cộng đồng quốc tế bên cạnh nhiệm vụ chủ chốt là bảo vệ quyền conngười cũng đặc biệt quan tâm tới việc đi tìm sự hợp lý trong sự giới hạnnhững quyền ấy Tuy nhiên, định ra một ranh giới hợp lý cho giới hạn quyềncon người không phải vấn đề dễ dàng để minh thị và còn gây nhiều tranh cãi

Trang 17

Quyền con người cần phải bị giới hạn đó là điều được thừa nhận nhưng giớihạn như thế nào để không chà đạp lên phẩm giá của con người, để không xâmphạm tới quyền con người đang là một câu hỏi cần giải đáp.

Ngày nay, hầu hết các quốc gia ở mọi khu vực trên thế giới, ở mọi trình

độ, đều khẳng định cam kết về quyền con người, đi kèm với đó là những ghinhận về việc giới hạn quyền con người Lần lượt các văn bản về quyền conngười trên trường quốc tế được ra đời như: Tuyên ngôn phổ quát về quyềncon người (UDHR) năm 1948, Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chínhtrị năm 1966 (ICCPR), Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội, vănhóa năm 1966 (ICESCR), Nghị định thư không bắt buộc thứ hai của ICCPR

về việc bãi bỏ hình phạt tử hình năm 1989, Từ năm 1948 đến nay, Tuyênngôn thế giới về quyền con người đã được sử dụng làm nền tảng cơ sở choviệc xây dựng và thông qua hàng loạt các công ước khác về quyền con ngườicủa Liên hiệp quốc về cấm và trừng trị những tội ác chống loài người nhưCông ước về trấn áp và trừng trị tội diệt chủng năm 1948; Công ước quốc tế

về xóa bỏ tất cả các hình thức phân biệt chủng tộc năm 1965; Nghị định thư

về sửa đổi Công ước về chế độ nô lệ năm 1953; Công ước về trấn áp việcbuôn người và bóc lột mại dâm người khác năm 1949; Công ước bổ sung vềxóa bỏ chế độ nô lệ, buôn bán nô lệ và các thể chế, tập tục tương tự như chế

độ nô lệ năm 1956; Công ước về tra tấn và những hành động đối xử hoặctrừng phạt mang tính độc ác, vô nhân đạo hay hạ nhục năm 1984 Trong đó,các vấn đề bảo vệ quyền con người cùng với giới hạn quyền con người đềuđược đề cập đến một cách nghiêm túc [57]

1.1.2 Các khái niệm cơ bản

1.1.2.1 Khái niệm quyền con người

a Khái niệm

Quyền con người – “nhân quyền” – là một trong những thuật ngữ phổ

Trang 18

biến nhất hiện nay trên thế giới và cả ở Việt Nam Nó phổ biến không chỉ bởi

vì được nhắc đến nhiều trong khoa học, những tranh luận chính trị hay thựctiễn, mà còn bởi nhân quyền là một giá trị phổ quát [55] Tính phổ quát củanội hàm thuật ngữ này vừa xuất phát từ thuộc tính tự nhiên vốn có của conngười, đồng thời được khẳng định bởi những văn kiện pháp lý mang chínhchất nền tảng của pháp luật quốc tế như Hiến chương Liên hợp quốc 1945(Chapter of United Nations), Tuyên ngôn quốc tế về quyền con người 1948(Universal Declaration of Human Rights), Công ước quốc tế về các quyềnchính trị dân sự 1966(ICCPR), Tuyên bố Vienna về quyền con người 1993(Vienna Declaration on Human Rights) và Tuyên bố Bangkok 1993…

Trong khoa học pháp lý, các quyền con người được hiểu đó là nhữngquyền mà pháp luật cần phải thừa nhận đối với tất cả các thể nhân Đó làquyền tối thiểu mà các cá nhân phải có, những quyền mà các nhà lập phápkhông được xâm hại Nhằm mục đích bảo vệ những quyền tự nhiên này củacon người những sự xâm phạm của bất kể chủ thể nào, nên xã hội loài người

đã phải tạo ra cho mình một thiết chế có trách nhiệm đảm bảo những quyềnnày Thiết chế được sau này gọi là nhà nước Đúng như những điều được ghinhận trong Bản "Tuyên ngôn độc lập" của Mỹ năm 1776 [58]:

"Chúng tôi khẳng định một chân lý hiển nhiên rằng, mọi người đềusinh ra có quyền bình đẳng Tạo hóa đã ban cho họ những quyền không ai cóthể xâm phạm được, trong những quyền đó có quyền được sống, quyền tự do

và quyền mưu cầu hạnh phúc

Rằng để đảm bảo những quyền lợi này, các chính phủ được thành lập ratrong nhân dân và có được những quyền lợi chính đáng trên cơ sở sự nhất trícủa nhân dân, rằng bất cứ khi nào một thể chế chính quyền nào đó phá vỡnhững mục tiêu này, thì nhân dân có quyền thay đổi hoặc loại bỏ chính quyền

đó và lập nên một chính quyền mới, đặt trên nền tảng những nguyên tắc cũngnhư tổ chức thực thi quyền hành theo một thể chế sao cho có hiệu quả tốt nhất

Trang 19

đối với an ninh và hạnh phúc của họ".

Bản Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền nổi tiếng của Pháp năm

1789 cũng khẳng định một nội dung tương tự:

Những người đại diện của nhân dân Pháp, tổ chức thành Quốc hội chorằng, sự không hiểu biết, sự lãng quên hay sự coi thường quyền con người, lànhững nguyên nhân duy nhất của những nỗi bất hạnh công cộng, của tệ hủ bạichính phủ đã quyết định nêu trong một bản Tuyên ngôn long trọng về nhữngquyền tự nhiên, không thể tước đoạt và thiêng liêng của con người; nhằm đểcho bản Tuyên ngôn này luôn nằm trong ý thức của mỗi thành viên xã hội vàluôn luôn nhắc nhở họ về những quyền và nghĩa vụ của bản thân; nhằm đểcho mọi hành động của quyền lực lập pháp và quyền lực hành pháp có thể bất

cứ lúc nào có thể đối chiếu với mục đích của mỗi thể chế chính trị đó và đượctôn trọng hơn; nhằm để cho các yêu cầu của mọi công dân nay được dựa trênnhững nguyên tắc đơn giản không thể chối cãi, sẽ luôn luôn hướng vào sự giữgìn hiến pháp và vào hạnh phúc của mọi con người

Tuyên Ngôn Nhân quyền và Dân quyền, 1789 của Pháp quốc

Từ những quyền con người của các nhà nước phát triển đã trở thànhquyền con người của Liên hợp quốc Quyền con người được luật pháp quốc tếbảo vệ Ngày 19-12-1966 Đại hội đồng Liên Hiệp quốc đã thông qua hai côngước quốc tế về các quyền con người Công ước thứ nhất có hiệu lực từ ngày23-3-1976 bảo vệ các quyền dân sự và chính trị Công ước thứ hai có hiệu lực

từ ngày 3-1-1976 bảo vệ các quyền kinh tế, văn hóa, xã hội

Quyền con người như những điều đã được phân tích ở phần trên đã trởthành đối tượng điều chỉnh quan trọng của Hiến pháp Một nội dung quantrọng của Hiến pháp Mục đích của quy định này như là một bản cam kết củanhà nước phải thực hiện an toàn và sự phát triển của con người

Về khái niệm quyền con người, hiện có nhiều định nghĩa khác nhau

Trang 20

Định nghĩa của Văn phòng Cao ủy Liên hợp quốc thường được sử dụng, theođó: “Quyền con người là những bảo đảm pháp lý toàn cầu có tác dụng bảo vệcác cá nhân và các nhóm chống lại những hành động hoặc sự bỏ mặc làm tổnhại đến nhân phẩm, sự được phép và tự do cơ bản của con người” Ngoài ra,quyền con người còn được định nghĩa một cách khái quát là những quyền bẩmsinh, vốn có của con người mà nếu không được hưởng thì chúng ta sẽ khôngthể sống như một con người Ở Việt Nam, một số định nghĩa về quyền conngười do một số chuyên gia, cơ quan nghiên cứu từng nêu ra cũng không hoàntoàn giống nhau nhưng xét chung, quyền con người thường được hiểu là nhữngnhu cầu, lợi ích tự nhiên, vốn có và khách quan của con người được ghi nhận

và bảo vệ trong pháp luật quốc gia và các thỏa thuận pháp lý quốc tế [8, tr.37]

b Các thuộc tính cơ bản của quyền con người

- Tính phổ biến: Con người dù ở quốc gia, dân tộc khác nhau nhưng

quyền con người được áp dụng chung cho tất cả mọi người, không phân biệtmàu da, giới tính, tôn giáo, độ tuổi, thành phần xuất thân

- Tính không thể tước đoạt: Quyền con người không thể tùy tiện bị tướcđoạt hay giới hạn một cách tùy tiện bởi bất cứ chủ thể nào, trừ trường hợpđược pháp luật quy định và lý do tước đoạt là hành vi vi phạm pháp luật củangười bị tước đoạt (Ví dụ: tù nhân bị giam do thực hiện hành vi phạm tội)

- Tính không thể phân chia: Quyền con người là phạm trù tổng hợp gồmcác quyền và tự do của con người vốn quan trọng như nhau và gắn bó chặt chẽvới nhau Tuy nhiên, tùy thuộc vào điều kiện hoàn cảnh xã hội khác nhau màmột số quyền con người được ưu tiên thực hiện hoặc được chú ý bảo vệ hơn

- Tính liên hệ và phụ thuộc lẫn nhau giữa các quyền: Các quyền conngười cụ thể không thể tồn tại một cách biệt lập, đều có mối liên hệ chặt chẽ vớinhau, việc thực hiện tốt quyền này sẽ là tiền đề để thực hiện quyền kia Ngược

Trang 21

lại, khi có một quyền bị xâm phạm thì sẽ ảnh hưởng đến các quyền khác.

1.1.2.2 Quyền công dân, mối quan hệ giữa quyền công dân và quyền con người

Theo một nghĩa khái quát nhất có thể hiểu quyền công dân là nhữngquyền con người được nhà nước thừa nhận và áp dụng cho những người cóquốc tịch của nước mình

Quyền con người và quyền công dân là hai phạm trù rất gần gũi nhưngkhông đồng nhất Với ý nghĩa là một khái niệm gắn liền với nhà nước, thểhiện mối quan hệ giữa công dân với nhà nước, được xác định thông qua mộtchế định pháp luật đặc biệt là chế định quốc tịch, quyền công dân là tập hợpnhững quyền tự nhiên được pháp luật của một nước ghi nhận và bảo đảm,nhưng chủ yếu dành cho những người có quốc tịch của nước đó Không phải

ai cũng được hưởng quyền công dân của một quốc gia nhất định, và cũngkhông phải hệ thống quyền công dân của mọi quốc gia đều giống hệt nhau,cũng như đều hoàn toàn tương thích với hệ thống các tiêu chuẩn quốc tế vềquyền con người

Xét trên nhiều góc độ, quyền con người là khái niệm rộng hơn quyềncông dân Về tính chất, quyền con người không bị bó hẹp trong mối quan hệgiữa cá nhân với nhà nước mà thể hiện mối quan hệ giữa cá nhân với toàn thểcộng đồng nhân loại Về phạm vi áp dụng, do không bị giới hạn bởi chế địnhquốc tịch, chủ thể của quyền con người là tất cả các thành viên của gia đình

nhân loại Nói cách khác, quyền con người được áp dụng một cách bình đẳng

với tất cả mọi người thuộc mọi dân tộc, không phụ thuộc vào biên giới quốcgia, tư cách cá nhân hay môi trường sống của chủ thể quyền [6, tr.43]

Về bản chất quyền công dân cũng là quyền con người nên sự phân biệtgiữa hai khái niệm này thường không cụ thể Trong khi các văn kiện của luậtnhân quyền quốc tế không đề cập đến khái niệm quyền công dân, mà chỉ quy

Trang 22

định cho phép các quốc gia được giới hạn áp dụng một số quyền cho các côngdân của mình; thì Hiến pháp của các quốc gia thường không đề cập đến kháiniệm quyền con người, mà chỉ quy định có những quyền áp dụng cho ngườinước ngoài hoặc cho cả công dân và người nước ngoài (hàm ý hoặc mặc định

đó là những quyền con người chung của mọi cá nhân)

1.1.2.3 Khái niệm giới hạn quyền con người

Bảo vệ quyền con người là một chức năng, nhiệm vụ quan trọng củaNhà nước và cũng là một đặc tính quan trọng của Nhà nước pháp quyền Tuyvậy, quyền con người không phải bao giờ cũng là tuyệt đối trong mọi trườnghợp Nói cách khác, quyền con người hoàn toàn có thể bị giới hạn hoặc giớihạn trong những trường hợp nhất định

Giới hạn quyền con người là quy định được ghi nhận trong Tuyên ngônphổ quát về quyền con người (UDHR) năm 1948 và một số điều ước quốc tế

về quyền con người mà bản chất của nó là cho phép các quốc gia thành viên

áp đặt một số điều kiện với việc thực hiện/hưởng thụ một số quyền con ngườinhất định [6, tr.72] Cụ thể, khoản 2 Điều 29 UDHR năm 1948 nêu rằng: “khithực hiện các quyền và tự do của mình, mọi người chỉ phải chịu những giớihạn do luật định (“determined by law”), nhằm mục đích duy nhất là đảm bảo

sự công nhận và tôn trọng thích đáng đối với các quyền và tự do của ngườikhác, cũng như đáp ứng những yêu cầu chính đáng về đạo đức, trật tự xã hội

và phúc lợi chung cho một xã hội dân chủ” Như vậy, giới hạn quyền là việccho phép nhà nước áp đặt điều kiện hay giới hạn về việc thực hiện/thụ hưởngmột số quyền con người nhằm bảo vệ lợi ích chung của cộng đồng Vấn đềnày được ghi nhận trong luật nhân quyền quốc tế và Hiến pháp của nhiềuquốc gia dưới những hình thức diễn đạt khác nhau và với mức độ khác nhau.Cũng phải lưu ý rằng, nếu có chứa yếu tố bất hợp lý, hay lợi ích đạt được thấphơn thiệt hại xảy ra thì giới hạn quyền đó sẽ bị coi là vi phạm

Trang 23

Như vậy, về tổng thể có thể hiểu giới hạn quyền con người là việc Hiến pháp hoặc một văn bản pháp luật khác của quốc gia có điều khoản giới hạn (limitation clause) cho phép giới hạn áp dụng một quyền, tự do cá nhân trong một mức độ nhất định, nhằm cân bằng giữa quyền, tự do cá nhân đó với lợi ích chính đáng, hợp lý của cộng đồng và quyền, tự do của cá nhân khác [24, tr.21].

Bên cạnh khái niệm giới hạn quyền con người còn có khái niệm hạnchế quyền con người Nội hàm của hai khái niệm “giới hạn” và “hạn chế”trong lĩnh vực nhân quyền lại có sự khác biệt Luật Nhân quyền quốc tế phân

biệt rất rõ ràng hai khái niệm “Limitation of human rights” và “Derogation of human rights” Theo đó, các quyền có thể bị giới hạn còn việc thực thi các

quyền ấy thì có thể bị hạn chế PGS.TS Vũ Công Giao đã phân tích rất thuyếtphục sự khác biệt và nguy hiểm khi đồng nhất hai khái niệm này Với nghĩa

“hạn chế” quyền thì có nghĩa là hạn chế trong việc thực thi, sử dụng, áp dụng các quyền con người, còn nghĩa “giới hạn” được sử dụng khi diễn đạt việc

thiết lập phạm vi, ranh giới mà trong khuôn khổ đó quyền có thể bị giới hạntrong các điều kiện, hoàn cảnh, mục đích xác định Từ “hạn chế” vừa có nghĩa

là “giới hạn” vừa có nghĩa là “nhược điểm” – nên khi sử dụng dễ gây hiểunhầm sang cách hiểu thứ hai Chính vì vậy, trong bài nghiên cứu này xinthống nhất sử dụng khái niệm giới hạn quyền

Giới hạn quyền thực chất là việc một người có quyền nhưng có thể bịgiới hạn vì một số lý do, mục đích hợp lý Ví dụ, công dân có quyền tự do đilại nhưng nếu có hành vi vi phạm và bị áp dụng hình phạt tù thì quyền tự do

đi lại của người này đã bị giới hạn Hoặc không thể dùng quyền tự do hội họp,biểu tình để gây mất trật tự an ninh xã hội; hay không thể dùng quyền tự dongôn luận để bôi nhọ người khác

1.1.2.4 Tạm đình chỉ quyền

a Khái niệm tạm đình chỉ quyền

Trang 24

Giới hạn quyền cũng khác với tạm dừng thực hiện/bảo đảm quyền (gọichung là tạm đình chỉ quyền) Giới hạn quyền không đồng nhất với tạm đìnhchỉ quyền Bản chất của giới hạn quyền là sự giới hạn phạm vi áp dụng củaquyền để cân bằng giữa lợi ích của cá nhân và của cộng đồng, vì thế nó được

áp dụng trong mọi hoàn cảnh với những điều kiện nhất định Trong khi đó,tạm đình chỉ quyền là việc bổ sung sự giới hạn quyền một cách tạm thời bằngcách tạm dừng thực hiện/bảo đảm quyền trong một khoảng thời gian nhấtđịnh khi công bố tình trạng khẩn cấp

Theo nguyên tắc của pháp luật quốc tế, các quốc gia có nghĩa vụ thựchiện việc đảm bảo quyền con người một cách liên tục Tuy nhiên, Điều 4ICCPR năm 1996 quy định rằng trong những bối cảnh khẩn cấp, đe dọa đến

sự an nguy của một quốc gia, các quốc gia có thể áp dụng những biện pháptạm thời đình chỉ việc thực hiện một số quyền trong Công ước này

Quy định về việc tạm đình chỉ thực hiện một số quyền chính trị, dân sựtrong một khoảng thời gian nhất định, về bản chất, được thực hiện do bốicảnh khẩn cấp của một quốc gia

Về hình thức, việc tạm đình chỉ thực hiện một số quyền con người cóthể thông qua các biện pháp cụ thể như: thiết quân luật (trên phạm vi cả nước,hoặc một khu vực, một địa phương); cấm biểu tình, hội họp đông người; cấmhoặc giới hạn hoạt động của một số cơ quan thông tin đại chúng như truyềnhình, phát thanh, báo đài, ; cấm đi lại, ra vào một khu vực hoặc xuất nhậpcảnh (đối với một cá nhân hay một nhóm người); Trên thực tế, tình trạngkhẩn cấp thường được tuyên bố khi xảy ra thảm họa thiên tai, bạo động hoặctuyên bố chiến tranh

b Điều kiện áp dụng việc tạm đình chỉ thực hiện quyền

Mặc dù cho phép các quốc gia tạm đình chỉ một số quyền con ngườitrong hoàn cảnh khẩn cấp, Điều 4 ICCPR đông thời đòi hỏi [6, tr.66]:

Thứ nhất, việc tạm đình chỉ quyền phải thực sự xuất phát từ tình huống

Trang 25

khẩn cấp, do tình hình bắt buộc phải làm để cứu vãn sự sống còn của quốcgia.

Thứ hai, các biện pháp áp dụng không được trái với những nghĩa vụkhác xuất phát từ luật pháp quốc tế, và đặc biệt không được mang tính chấtphân biệt đối xử về chủng tộc, màu da, tôn giáo, giới tính, ngôn ngữ hoặcnguồn gốc xã hội

Thứ ba, kể cả trong tình huống khẩn cấp, các quốc gia cũng không đượctạm đình chỉ việc thực hiện những quyền sau: quyền sống (Điều 6), quyền không

bị tra tấn, đối xử tàn bạo, vô nhân đạo hay hạ nhục (Điều 7), quyền không bị bắtgiữ làm nô lệ hay nô dịch (Điều 8), quyền không bị bỏ tù chỉ vì lý do khônghoàn thành nghĩa vụ theo hợp đồng (Điều 11), quyền được công nhận là thểnhân trước pháp luật (Điều 16), quyền tự do tư tưởng, tín ngưỡng và tôn giáo(Điều 18) Những quyền này là những quyền không thể bị đình chỉ

Thứ tư, khi quyết định tạm đình chỉ thực hiện quyền, phải thông báongay cho các quốc gia thành viên khác của ICCPR thông qua Tổng Thư kýLiên Hợp Quốc, trong đó nêu rõ những biện pháp cụ thể đã áp dụng và thờigian dự định chấm dứt các biện pháp đó

1.2 Đặc điểm của nguyên tắc giới hạn quyền con người

Không hề có quy định cụ thể nhưng dựa trên các Điều ước quốc tế vàHiến pháp các quốc gia, về cơ bản, nguyên tắc giới hạn quyền thể hiện nhữngđặc điểm sau:

i Bản chất của điều khoản giới hạn quyền

Điều khoản giới hạn quyền vừa cho phép, vừa kiềm chế hai chủ thể sauđây trong việc đưa ra những giới hạn cụ thể với một quyền cụ thể: Quốc hội(trong các nước theo hệ thống dân luật), và/hoặc Tòa án (trong các nước theo hệthống thông luật) Sự kiềm chế thể hiện ở việc điều khoản giới hạn quyền thường

Trang 26

đồng thời chứa đựng những mục đích (điều kiện) của việc giới hạn một quyền,nhằm ngăn chặn việc giới hạn quyền một cách tùy tiện, bất hợp lý [24, tr.28].

ii Nguyên tắc giới hạn quyền ghi nhận sự xung đột giữa quyền của người này với quyền của người khác.

Xét toàn diện thì một xã hội thiếu tự do sẽ không thể phát triển lànhmạnh, ổn định, xét cả về chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa Ở đâu thiếu tự do

ắt sẽ xuất hiện bất bình đẳng giữa các tầng lớp, giai cấp; sự tùy tiện, chuyênquyền, quan liêu, tham nhũng, sự vi phạm quyền con người và mất niềm tin.Nhưng ở đâu mà không có ổn định, trật tự xã hội thì ở đó chính những quyềnlợi của người dân cũng không được đảm bảo Khi thực hiện nguyên tắc giớihạn quyền thì việc xung đột quyền là điều không thể tránh khỏi vì bảo vệphạm vi tự do chính đáng của người này cũng chính là sự giới hạn tự do củangười khác Nguyên tắc giới hạn quyền đã hình thành nên thứ tự ưu tiên trongviệc thực hiện quyền Đây là điều tất yếu và là đặc điểm quan trọng nhất củanguyên tắc giới hạn quyền [24, tr 26]

iii Giới hạn quyền được thực hiện thông qua các quy phạm pháp luật dưới Hiến pháp

Trên thế giới, không phải bao giờ nguyên tắc giới hạn quyền cũng phảiđược ghi nhận trong Hiến pháp Việc một bản Hiến pháp không đề cập đếnnguyên tắc giới hạn quyền không có nghĩa quốc gia đó không có giới hạn đốivới các quyền trong những trường hợp nhất định Nguyên tắc này được quyđịnh cụ thể về nội dung, phương pháp thực hiện trong các văn bản quy phạmpháp luật dưới Hiến pháp Để thực hiện nguyên tắc giới hạn quyền một cáchđúng đắn, trước hết, việc nhà nước giới hạn các quyền phải được quy địnhbằng pháp luật rõ ràng, minh bạch và có lý do chính đáng - tức nhằm bảo vệquyền của người khác và lợi ích chung của xã hội Đối với những quyền màviệc thực hiện nó không làm ảnh hưởng tới người khác và lợi ích chung của

Trang 27

xã hội, các nhà nước không có lý do chính đáng để giới hạn.

Vậy, một câu hỏi đặt ra là có phải tất cả các loại văn bản quy phạm phápluật đều có thể quy định về giới hạn quyền? Ở tầm pháp luật quốc tế thì chưa

có câu trả lời thỏa đáng cho câu hỏi này Thuật ngữ “by law” nêu trong các quyđịnh liên quan đến giới hạn quyền của UDHP năm 1948 và ICCPR, ICESCRnăm 1966 (và cả Hiến pháp của các quốc gia trên thế giới) không được giảithích rõ ràng theo như các phân loại ở một số quốc gia (trong đó có Việt Nam):

đó là các đạo luật do nghị viện của một số quốc gia ban hành, hay các văn bảnpháp luật do cả Nghị viện và các cơ quan Nhà nước khác của quốc gia banhành? Theo các từ điển pháp luật phổ biến, “law” được hiểu là hệ thống quy tắc

xử sự do nhà nước ban hành để quản lý xã hội Tuy vậy, hiện nay vẫn có haicách hiểu về thuật ngữ này Có quan điểm cho rằng, “law” chỉ có thể là các đạoluật do Nghị viện/Quốc hội ban hành, trong khi quan điểm khác cho rằng “law”

có thể là bất kỳ văn bản pháp luật nào được ban hành bởi bộ máy cơ quan nhànước, không nhất thiết chỉ là các đạo luật của Nghị viện/Quốc hội [24, tr.31]

Tuy nhiên, cần thống nhất rằng, để trả lời câu hỏi trên cần xuất phát từquan niệm thẩm quyền mặc nhiên, tức là ai đưa ra quy định về quyền thìđương nhiên có quyền giới hạn quyền, nhưng phải thực hiện quyền này trongkhuôn khổ của nguyên tắc hợp hiến Do vậy, quyền được ghi nhận trong Hiếnpháp thì chỉ có thể bị giới hạn bằng các đạo luật do Nghị viện/Quốc hội banhành Điều này không có nghĩa chỉ duy nhất luật của Nghị viện/Quốc hội mới

có thể quy định về vấn đề giới hạn quyền Nghị viện/Quốc hội hoàn toàn cóthể ủy quyền cho Chính phủ quy định chi tiết về giới hạn quyền trong nhữngtrường hợp cụ thể

Một điều quan trọng là giới hạn quyền cần phải được quy định trongluật Không chỉ vậy, những quy định về việc giới hạn đối với việc thực hiệnquyền cần phải:

Trang 28

(1) Công khai với người dân và có chỉ dẫn thích hợp để mọi người cóthể hiểu sự giới hạn luật định đối với các quyền của họ như thế nào;

(2) Quy định về giới hạn quyền trong luật phải chính xác, rõ ràng đểngười dân có thể hiểu rõ và tự điều chỉnh hành vi của họ;

(3) Có những biện pháp thích hợp để phòng ngừa việc lạm dụng quyđịnh giới hạn quyền, hoặc việc tùy tiện đặt ra các giới hạn quyền

iv Nguyên tắc giới hạn quyền đòi hỏi bảo đảm nguyên tắc cân bằng, hợp

lý giữa quyền bị giới hạn với bảo vệ quyền của người khác và lợi ích chung

Đặc điểm này của nguyên tắc giới hạn quyền để đảm bảo rằng cácquyền công dân và các lợi ích chung phải được cân nhắc như sau

Trước hết, cần phải xác định liệu biện pháp giới hạn quyền có mục đíchchính đáng hay không Vậy mục đích chính đáng hay lợi ích chung chínhđáng là gì? ICCPR năm 1966 thường xuyên sử dụng một số thuật ngữ thểhiện mục đích chính đáng này và khẳng định việc giới hạn quyền là cần thiếtnhằm bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự công cộng, sức khỏe cộng đồng, các giátrị đạo đức, quyền và tự do của người khác trong một xã hội dân chủ Có thểsuy luận rằng những yếu tố này được coi là lợi ích chính đáng Một số học giảcho rằng khái niệm trật tự công cộng bao hàm tất cả các yếu tố khác của kháiniệm lợi ích chung chính đáng Hay nói cách khác lợi ích chung chính đángchính là trật tự công cộng

Tiếp đó là, việc giới hạn quyền phải phù hợp với mục tiêu Chẳng hạn,nhằm đảm bảo trật tự an toàn giao thông, nhà nước có thể phạt tiền người viphạm luật chứ không thể cấm người dân sở hữu xe Ngoài ra, việc giới hạnquyền cần vừa đủ nhằm đạt được mục tiêu Ví dụ, nhằm răn đe người vượtđèn đỏ, việc phạt tiền nghiêm khắc là đủ mà không cần phải phạt tù; nhưngđối với người uống rượu đua xe, phạt tù ngắn hạn là phù hợp

Cuối cùng, lợi ích của việc giới hạn quyền phải lớn hơn thiệt hại do

Trang 29

việc giới hạn đó gây ra Có thể lấy bài học về quyền tự do kinh doanh tại ViệtNam làm ví dụ Thời bao cấp, quyền tự do kinh doanh bị giới hạn khá lớn, đãkìm hãm nền kinh tế Theo đó, người dân chỉ có thể tham gia kinh doanh tậpthể của nhà nước mà không thể thành lập doanh nghiệp tư nhân Điều nàychứng minh việc giới hạn quyền là không hợp lý, trái với quy luật phát triển

sẽ không đem lại lợi ích mong đợi [56]

v Nguyên tắc giới hạn quyền nghiêm cấm việc giới hạn làm mất đi bản chất của quyền

Đặc điểm này nhằm đảm bảo những giới hạn đặt ra không làm tổn hạiđến các cá nhân trong việc hưởng thụ các quyền đó Đặc điểm này được quyđịnh trong một số bản Hiến pháp trên thế giới Ví dụ, khoản 2 Điều 19 Luật

cơ bản CHLB Đức năm 1949 có quy định: “Trong mọi trường hợp, việc giớihạn một quyền cơ bản nào đó không được làm mất đi bản chất cốt lõi củaquyền đó” Khi ban hành một đạo luật nhằm giới hạn quyền, Nghị viện buộcphải tuân thủ đúng những quy định về thẩm quyền, trình tự thủ tục, hình thức.Chính những ràng buộc phức tạp, khắt khe về mặt thủ tục, cùng với việc Luật

cơ bản trao cho Tòa án Hiến pháp liên bang quyền tuyên bố một đạo luật là vihiến nếu đạo luật đó trái với khoản 1 Điều 100 Luật cơ bản CHLB Đức năm

1949 sẽ góp phần giới hạn những đạo luật vi hiến hoặc làm mất đi bản chấtcủa các quyền cơ bản [24, tr.35]

vi Giới hạn quyền có mức độ phạm vi khá rộng, khác với các biện pháp bảo vệ quyền và không đồng nhất với việc cụ thể hóa quyền

- Mức độ phạm vi của giới hạn quyền khá rộng: có thể giới hạn về nộidung quyền (chủ thể, trách nhiệm, ) và kể cả đối với trình tự, thủ tục để thựchiện quyền Những nội dung này đều có thể quy định nhằm giới hạn quyền(với những lý do cụ thể)

- Các biện pháp bảo vệ quyền (ví dụ cơ chế khiếu nại, tố cáo, khởikiện, ) cũng khác so với giới hạn quyền Các biện pháp này được sinh ra

Trang 30

nhằm mục đích bảo vệ các quyền khi bị xâm phạm trong thực tế và không liênquan đến nội hàm của quyền.

- Việc cụ thể hóa quyền có thể bao gồm giới hạn quyền trong đó Ví dụ,khi cụ thể hóa nội dung của quyền tự do kinh doanh có thể có quy định chỉnhững chủ thể nào đáp ứng một số điều kiện thì mới có quyền kinh doanh mộtlĩnh vực nào đó (điều kiện kinh doanh phải đáp ứng các tiêu chí do luật đưara) Tuy nhiên, không phải bao giờ việc cụ thể hóa quyền cũng có quy định vềgiới hạn quyền vì không phải quyền nào cũng có thể bị giới hạn và nội dungcủa hoạt động cụ thể hóa quyền thường rộng hơn Chính vì vậy, giới hạnquyền không đồng nhất với việc cụ thể hóa quyền

vii Việc giới hạn quyền phải thực sự cần thiết

Đặc điểm này đặt ra yêu cầu rằng việc giới hạn quyền phải là biện phápcuối cùng được áp dụng khi không còn biện pháp nào khác nhằm đạt được mụctiêu đặt ra Có thể hiểu rằng phải bất đắc dĩ thì mới sử dụng đến giới hạn quyền

viii Sự giới hạn quyền có thể mang tính ngắn hạn hoặc dài hạn, có thể được áp dụng ở một phần hay toàn bộ lãnh thổ

Đặc điểm này tùy thuộc vào từng quyền bị giới hạn và mức độ, phạm vicủa việc giới hạn cũng như chủ thể có quyền bị giới hạn

ix Cần có một cơ chế thực sự đầy đủ, toàn diện để đảm bảo thực hiện nguyên tắc giới hạn quyền trong thực tế

Để vận hành được nguyên tắc giới hạn quyền con người rất cần có sựkết hợp của nhiều yếu tố: việc ghi nhận quyền trong Hiến pháp, luật; việc ghinhận nội dung của nguyên tắc giới hạn quyền; cơ chế phán quyết, đánh giá sựhợp hiến của một quy định hoặc hành vi về giới hạn quyền cụ thể, Về cơbản, cơ chế đánh giá tính hợp hiến này quan trọng hơn việc ghi nhận quyền cụthể hoặc quy định về nguyên tắc giới hạn quyền Các quy định của Hiến pháphay luật dù cụ thể đến đâu cũng không thể đề cập được toàn bộ các vấn đề

Trang 31

liên quan, ví dụ như nội hàm của các lý do/mục đích giới hạn quyền trongtừng lĩnh vực chuyên ngành Khi đó, việc có một phương pháp, cơ chế đánhgiá tính hợp hiến của các quy định/hành vi giới hạn quyền thực sự rất cầnthiết và quan trọng trong việc bảo đảm vận hành nguyên tắc giới hạn quyềntrong thực tế [24, tr.37].

1.3 Ý nghĩa, vai trò của nguyên tắc giới hạn quyền con người

Từ những lý luận nếu trên cho ta thấy Nguyên tắc giới hạn quyềnkhông hề xâm phạm tới các quyền con người mà đóng vai trò rất quan trọngtrong cơ chế bảo vệ quyền con người của các tổ chức quốc tế cũng như củamọi quốc gia

Thứ nhất, nguyên tắc giới hạn quyền vạch ra ranh giới một bên nhà nướckhông vi phạm và một bên Nhà nước vi phạm về quyền con người Nếu giới hạnquyền là chính đáng, hợp lý và cần thiết thì việc giới hạn của Nhà nước là phùhợp, không vi phạm quyền con người Ngược lại, nếu giới hạn đó không đápứng những tiêu chí vừa nêu thì Nhà nước đang vi phạm quyền con người Việclạm dụng giới hạn quyền, làm mất đi bản chất của quyền con người sẽ dẫn đến

vi phạm quyền con người Chính vì vậy, việc quy định nguyên tắc về giới hạnquyền sẽ định rõ ranh giới về vấn đề vi phạm quyền con người

Thứ hai, có thể nhận thấy rằng quyền con người và giới hạn quyền conngười là hai mặt của một vấn đề Việc giới hạn quyền cũng mang mục đíchsâu xa để bảo vệ quyền của cá nhân này trước sự lạm quyền của cá nhân kháchoặc bảo vệ lợi ích xã hội, lợi ích cộng đồng chính đáng, cần thiết Do vậy,nguyên tắc giới hạn quyền chính là cơ sở quan trọng nhằm bảo vệ quyền concon người tốt hơn, không phải là xâm phạm quyền con người một cách tiêucực, bất hợp lý

Nguyên tắc giới hạn quyền theo Hiến pháp là cơ sở lý luận rất quantrọng để đảm bảo tính hợp hiến của các quy phạm pháp luật dưới Hiến pháp

Trang 32

trong việc giới hạn các quyền con người Tuy nhiên, rất nhiều những quy địnhtrong các văn bản dưới Hiến pháp chưa thể hiện đúng bản chất của việc giớihạn quyền.Việc ghi nhận quyền con người trong Hiến pháp để bảo vệ nó làchính xác, tuy nhiên việc ngăn ngừa những giới hạn tùy tiện đối với nhữngquyền đó còn quan trọng hơn cả Việc định ra những nguyên tắc cho việc giớihạn quyền sẽ tạo ra cơ chế đánh giá một quy định của văn bản luật hay hành

vi nào đó có phải là giới hạn quyền hợp hiến hay không, từ đó có thể bảo vệquyền một cách hiệu quả, chính đáng

Thứ ba, giới hạn quyền đóng vai trò chủ chốt trong cơ chế bảo vệquyền con người Theo một số tác giả, hiện nay có bốn nguyên lý trụ cột của

cơ chế bảo vệ quyền con người được ghi nhận là [11]:

(1) Ghi nhận các quyền và tự do cơ bản trong Hiến pháp

(2) Hiến định nguyên tắc giới hạn quyền

(3) Áp dụng học thuyết nhằm đảm bảo tính cân xứng của việc giới hạn quyền(4) Xây dựng cơ chế phán quyết hữu hiệu về giới hạn quyền

Như vậy, nguyên tắc giới hạn quyền chiếm ba trong bốn nguyên lý trụ cột

về bảo vệ quyền con người hiện nay Trong bốn nguyên lý này thì nguyên lý số(3) rất quan trọng Nếu không có một căn cứ hữu hiệu làm cơ sở cho lập luậnpháp lý về giới hạn quyền thì các nguyên lý (1) và (2) dễ trở thành “treo” Hainguyên lý đầu không đủ mạnh để ngăn cản sự tùy tiện của người soạn thảo luật.Người soạn thảo có thể đưa ra các giải thích về lợi ích công cộng theo cáchthuận lợi cho họ Ngoài ra, cho dù người soạn thảo luật hiểu đúng đắn về lợi íchcông cộng nhưng có thể lạm dụng những lợi ích không thích đáng để đạt đượcmục đích Thậm chí, với mục đích và biện pháp đúng đắn, nhà làm luật vẫn cóthể không tính đến sự cân bằng giữa lợi ích và thiệt hại Chính vì vậy, cần cóphương pháp để đảm bảo tính cân xứng của việc giới hạn quyền [11]

Bên cạnh đó, nguyên tắc giới hạn quyền cũng góp phần quan trọng vào

Trang 33

việc ngăn chặn khả năng lạm dụng quyền lực nhà nước để vi phạm quyền conngười, quyền công dân, thông qua việc ấn định những điều kiện chặt chẽ việcgiới hạn quyền Nguyên tắc này có ý nghĩa quan trọng trong việc ngăn ngừacác cơ quan nhà nước tùy tiện giải thích và giới hạn các quyền hiến định, bởi

nó nêu rõ những lý do có thể được sử dụng để giới hạn quyền

Hơn thế, nguyên tắc giới hạn quyền con người còn là một cách phòngngừa những suy nghĩ và hành động cực đoan trong việc hưởng thụ các quyền

mà không chú ý đến quyền và tự do của người khác và cộng đồng

1.4 Áp dụng các học thuyết (nguyên tắc, phương pháp) nhằm đảm bảo tính cân xứng của việc giới hạn quyền con người

Trên thế giới có hai học thuyết điển hình để đảm bảo tính cân xứng củaviệc giới hạn quyền con người

Thứ nhất, học thuyết về tính cân bằng (xuất phát từ Hoa Kỳ) Các

quyền con người khi bị áp dụng nguyên tắc giới hạn sẽ phải trải qua một trong

ba hình thức kiểm tra: kiểmtra chặt chẽ (strict scrutiny), kiểm tra trung bình(intermediate scrutiny), và kiểm tra tối thiểu (minimal scrutiny) [11]

Mức độ kiểm tra chặt chẽ được áp dụng cho các quyền cơ bản(fundamental rights) theo cách hiểu của Hoa Kỳ, bao gồm: quyền không bịphân biệt đối xử dựa trên chủng tộc và nguồn gốc xuất thân, quyền bí mật đời

tư, quyền tự do ngôn luận, quyền biểu tình và hội họp, quyền tự do tôn giáo,quyền tự do đi lại và quyền bầu cử Một sự giới hạn quyền muốn vượt qua sựkiểm tra này phải đáp ứng hai yêu cầu:

(1) về mục đích, sự giới hạn là “thiết yếu để đạt được một mục tiêu cấpbách của nhà nước”;

(2) về phương tiện, sự giới hạn phải phù hợp để đạt được mục tiêu Yêucầu này được hiểu là biện pháp giới hạn phải là giải pháp xâm phạm đến quyền

ở mức thấp nhất; hay nói cách khác, không có giải pháp khác xâm phạm đến

Trang 34

quyền ở mức độ thấp hơn mà vẫn đạt được mục tiêu đề ra Như vậy, nếu mụcđích bị coi là không thiết yếu hoặc nếu phương tiện bị coi là không phù hợp thìđạo luật giới hạn quyền bị tuyên vi hiến Đây là một bài kiểm tra rất khắc nghiệt

vì thực tế cho thấy, tòa án thường tuyên các đạo luật vi hiến

Mức độ kiểm tra trung bình được áp dụng cho quyền bình đẳng giới,quyền bình đẳng của trẻ em ngoài giá thú, quyền bình đẳng về giáo dục củatrẻ em, quyền tự do ngôn luận thương mại và quyền tự do ngôn luận nơi côngcộng Đạo luật giới hạn quyền muốn vượt qua sự kiểm tra này phải đáp ứnghai yêu cầu:

(1) sự giới hạn phải “thực sự liên quan tới một mục tiêu quan trọng củanhà nước”;

(2) có sự liên quan chắc chắn giữa phương pháp giới hạn và mục tiêucần đạt được Như vậy, nếu mục đích bị coi là không quan trọng hoặc nếuphương tiện bị coi là không liên quan chặt chẽ tới mục tiêu thì đạo luật giớihạn quyền bị tuyên vi hiến

Mức độ kiểm tra tối thiểu, còn được coi là kiểm tra về tính hợp lý(rational basis test) được áp dụng cho các quyền còn lại Đạo luật giới hạnquyền muốn vượt qua sự kiểm tra này phải đáp ứng hai yêu cầu:

(1) sự giới hạn phải “có lý do chứng tỏ sự liên quan tới một mục tiêuchính đáng của nhà nước”;

(2) phương tiện áp dụng là biện pháp hợp lý để đạt được mục tiêu Nhưvậy, nếu mục đích bị coi là không chính đáng hoặc nếu phương tiện bị coi làkhông hợp lý thì đạo luật giới hạn quyền bị tuyên vi hiến Bài kiểm tra nàytương đối dễ dàng nên hiếm khi tòa án tuyên các đạo luật vi hiến

Thứ hai, học thuyết về tính cân xứng (xuất phát từ CHLB Đức).

Phương pháp phân nhóm quyền của Hoa Kỳ thường bị phê phán là quácứng nhắc và không lan tỏa rộng rãi trên tầm thế giới Trong khi đó, phương

Trang 35

pháp phân tích tính cân xứng khởi nguồn từ luật hành chính Đức từ cuối thế

kỷ 18 đã được áp dụng rộng rãi trong pháp luật Liên minh châu Âu và dunhập vào nhiều nước ngoài châu Âu Đây là một công cụ mang tính phươngpháp luận, được đánh giá ưu việt hơn phương pháp của Hoa Kỳ [11]

Mặc dù học thuyết cân xứng có một số biến thể khác nhau, nhưng mộtcách khái

quát, nó đưa ra một bài kiểm tra gồm bốn bước (hay còn gọi là giaiđoạn, yếu tố) để đánh giá một sự giới hạn quyền có cân xứng/hợp hiến haykhông Khác với phương pháp của Hoa Kỳ, bài kiểm tra bốn bước của họcthuyết cân xứng được áp dụng thống nhất cho mọi quyền tương đối Bài kiểmtra được thực hiện từng bước từ một đến bốn Nếu một sự giới hạn quyềnvượt qua bốn giai đoạn, nó được xem là hợp hiến Nếu nó thất bại ở một giaiđoạn, bài kiểm tra dừng lại mà không cần đánh giá tiếp ở giai đoạn sau, và hệquả là sự giới hạn quyền đó bị tuyên vi hiến

Bước 1: Mục đích chính đáng (proper purpose/legitimate aim)

Ahron Barak đã phân tích rằng, mục đích chính đáng của việc giới hạnquyền khởi nguồn từ các giá trị dân chủ Ở đây, các giá trị dân chủ thể hiện ở sựbảo vệ quyền của người khác và bảo vệ lợi ích công (public interest) Bảo vệquyền con người bao giờ cũng mang tính chính đáng nhưng không phải lợi íchcông nào cũng mang tính chính đáng Lợi ích công được coi là chính đáng nếu

nó nhằm đạt được các “mục tiêu xã hội quan trọng”, và sau đó nhằm đạt được

“nền tảng xã hội trong đó công nhận tầm quan trọng hiến định và nhu cầu bảo vệquyền con người” Barak đưa ra danh sách các yếu tố thuộc phạm trù lợi íchcông, bao gồm: sự tồn tại của nhà nước như một nền dân chủ, an ninh quốc gia,trật tự công cộng, phòng ngừa tội phạm, bảo vệ trẻ em, sức khỏe cộng đồng, sựkhoan dung, bảo vệ tình cảm con người, các nguyên tắc của hiến pháp và các lợiích khác không gắn với phạm trù quyền con người Nói một cách khái quát, việcgiới hạn quyền không có lý do chính đáng bị coi là vi hiến

Trang 36

Ví dụ: Một đạo luật (Lord’s Day Act) của Canada đã cấm các cơ sởkinh doanh bán hàng vào ngày chủ nhật với mục đích tạo điều kiện cho ngườilao động công giáo nghỉ làm việc để đi lễ nhà thờ Quy định này bảo vệ quyền

tự do tôn giáo của người công giáo nhưng đồng thời là sự giới hạn quyền nàyđối với người theo tôn giáo khác Bởi vì, luật buộc phải nghỉ làm ngày chủnhật, áp lực cạnh tranh đã làm những người theo tôn giáo khác không thể nghỉthêm một ngày khác ngoài chủ nhật để thực hiện nghi lễ tôn giáo của họ Tòa

án Tối cao Canada đã phán quyền đạo luật vi hiến vì mục đích của việc giớihạn quyền tự do tôn giáo này không chính đáng [20]

Bước 2: Sự phù hợp (rational connection) của việc giới hạn quyền vớimục đích cần đạt được [11]

Bước này đòi hỏi phương tiện nhằm giới hạn quyền phải phù hợp (cómối liên hệ đúng đắn) với mục đích cần đạt được Việc giới hạn quyền không

có mối liên hệ với mục đích bị coi là vi hiến

Ví dụ: Một đạo luật của Canada đã giới hạn quyền giả định vô tội khiquy định rằng người nào tàng trữ ma túy bất hợp pháp thì bị coi là có mụcđích buôn lậu ma túy Sự giới hạn quyền này được luận giải là nhằm phục vụcuộc chiến chống buôn lậu ma túy Tuy nhiên, Tòa án Tối cao Canada đãtuyên đạo luật này vi hiến với lập luận rằng, nếu một người chỉ tàng trữ mộtlượng nhỏ ma túy thì sự giới hạn quyền giả định vô tội không có mối liên hệhợp lý nào với cuộc chiến chống buôn lậu ma túy

Bước 3: Sự cần thiết (necessity) của biện pháp giới hạn quyền nhằm đạtmục đích

Yêu cầu về sự cần thiết đòi hỏi sự giới hạn quyền là biện pháp khả dĩnhất nhằm đạt được mục tiêu Hay nói cách khác, không có một phương ánkhác có mức độ giới hạn quyền thấp hơn (less restrictive means) mà vẫn đạtđược mục tiêu Việc giới hạn quyền không phải là giải pháp tốt nhất (trongcác phương án có thể lựa chọn) bị coi là vi hiến

Trang 37

Ví dụ: Một quy định ở Đức cấm bán những loại kẹo, vốn trước đây hayđược làm từ gạo, có chứa bột cacao Quy định này đã giới hạn quyền tự dokinh doanh của những nhà sản xuất kẹo Mục đích của quy định được coi làchính đáng nhằm bảo vệ người tiêu dùng tránh mua nhầm sản phẩm Và rõràng cũng có sự liên hệ giữa mục đích và biện pháp Tuy nhiên, Tòa án Hiếnpháp vẫn tuyên quy định vi hiến vì biện pháp này bị cho là không cần thiết.Hay nói cách khác, vẫn có thể áp dụng các biện pháp khác giới hạn quyền ởmức độ thấp hơn mà vẫn đạt được mục tiêu, chẳng hạn yêu cầu phải dán nhãncảnh báo trên kẹo thay vì cấm bán hoàn toan [11].

Bước 4: Sự cân bằng (fair balance) giữa lợi ích thu được và thiệt hại từviệc giới hạn quyền

Bước này quan trọng nhất Nó yêu cầu sự cân bằng giữa lợi ích thu đượccủa việc giới hạn quyền với những thiệt hại do việc giới hạn quyền gây ra

Ví dụ: Một quy định ở Canada (nhằm thực hiện Canadian HealthDisciplines Act 1980) đã cấm các nha sĩ đăng quảng cáo về dịch vụ của mình

Sự giới hạn quyền tự do ngôn luận này đã đáp ứng yêu cầu của ba bước trên.Tuy nhiên, Tòa án Tối cao Canada tuyên quy định này vi hiến vì lợi ích củaviệc giới hạn quyền (tăng cường sự chuyên nghiệp của nghề nha sĩ, ngăn ngừaviệc quảng cáo bừa bãi) không tương xứng (proportional) với thiệt hại màviệc giới hạn quyền này gây ra

Nguyên tắc này cho thấy mọi giới hạn quyền đều phải: (1) thật sự cầnthiết để đạt được mục tiêu hợp pháp, chính đáng; (2) biện pháp áp dụng chỉ đểthực hiện mục tiêu hợp pháp, chính đáng đó; (3) các biện pháp giới hạn khôngđược nghiêm khắc hơn mức độ cần thiết để đạt được mục đích của việc giớihạn quyền [11]

Như vậy, học thuyết cân xứng cũng hình thành nên phương pháp kiểmtra, đánh giá một quy định về giới hạn quyền Nếu một sự giới hạn quyền

Trang 38

vượt qua bốn giai đoạn, nó được xem là hợp hiến Nếu nó thất bại ở một giaiđoạn, bài kiểm tra dừng lại mà không cần đánh giá tiếp ở giai đoạn sau, và hệquả là sự giới hạn quyền đó bị tuyên vi hiến Học thuyết này đã chứng tỏ sự

ưu việt ở nhiều quốc gia Carlos Bernal Pulido khẳng định vai trò chuẩn mực

và toàn diện nhất của học thuyết này trong cơ chế tài phán về giới hạn quyềncon người và nhận định rằng, sự lan truyền của nó là “một trong những hiệntượng cấy ghép pháp luật thành công nhất”

Thực chất, học thuyết cân xứng không nhất thiết phải được diễn đạt rõràng trong Hiến pháp Những yếu tố cơ bản của nó được thể hiện bằng việchiến định mệnh đề giới hạn chung và bằng sự giải thích Hiến pháp Họcthuyết cân xứng còn khá mới mẻ với Châu Á Cho đến nay, chỉ có một vàinước và vùng lãnh thổ như Hàn Quốc, Ấn Độ, và Hồng Kông tiếp nhận nó

1.5 Điều kiện áp dụng nguyên tắc giới hạn quyền con người trong pháp luật quốc tế

1.5.1 Điều kiện/mục đích giới hạn quyền con người

Trong cả hai Công ước quốc tế cơ bản về quyền con người năm 1966,vấn đề giới hạn quyền đều được đặt ra Theo đó, Điều 4 ICESCR năm 1966ghi nhận các quốc gia có thể giới hạn các quyền ghi nhận trong Công ước, vớicác điều kiện/mục đích chung sau:

(1) Những giới hạn về quyền cần phải được quy định trong pháp luậtcủa quốc gia (determined by law)

(2) Những giới hạn đặt ra không được trái với bản chất của các quyền

Trang 39

thường có thể bị giới hạn bởi một số lý do sau: an ninh quốc gia (nationalsecurity); bảo đảm an toàn cộng đồng (public safety); đảm bảo sức khỏe hayđạo đức cộng đồng (public helth or moral); để bảo vệ các quyền, tự do hợppháp của người khác (rights and freedoms of others),

Như vậy, theo pháp luật quốc tế, có khá nhiều điều kiện/mục đích đểgiới hạn quyền Những mục đích của việc giới hạn quyền được giải thíchtrong các nguyên tắc Siracusa năm 1984 về giới hạn quyền và đình chỉ cácquyền trong ICCPR năm 1966 Tuy nhiên, cần phải khẳng định, các nguyêntắc này không có giá trị pháp lý cao mà chỉ có giá trị làm rõ thêm các căn cứmục đích của việc giới hạn quyền, tránh việc lạm dụng quyền của các quốcgia Trong Mục B, Phần I – Các Điều khoản giới hạn có ghi [27]

i. Trật tự công cộng

Khái niệm này được định nghĩa là tổng thể các quy tắc bảo đảm chứcnăng hoạt động của xã hội hoặc bộ các nguyên tắc cơ bản mà xã hội đượcthành lập dựa vào đó Tôn trọng quyền con người là một phần của trật tự côngcộng Trật tự công cộng phải được hiểu trong bối cảnh mục đích của cácquyền con người cụ thể được giới hạn trên căn cứ này Cơ quan hoặc côngchức nhà nước chịu trách nhiệm về việc duy trì trật tự công cộng phải chịu sựkiểm soát trong việc thực hiện quyền lực của mình thông qua Quốc hội, Tòa

án hoặc cơ quan có thẩm quyền độc lập khác [24, tr.39]

ii. Sức khỏe của cộng đồng

Đây có thể được coi là căn cứ để Nhà nước đưa ra các biện pháp giớihạn một quyền vì nếu thực hiện quyền đó có thể đe dọa nghiêm trọng đến sứckhỏe của người dân hoặc cá nhân thành viên của cộng đồng Những biện phápnày phải được nhằm cụ thể đến việc ngăn ngừa bệnh tật hoặc chấn thươnghoặc cung cấp sự chăm sóc cho các bệnh nhân và người bị thương Cần có sựquan tâm đầy đủ đến các quy định y tế quốc tế của Tổ chức Y tế thế giới

iii. Đạo đức cộng đồng

Trang 40

Vì đạo đức cộng đồng khác nhau theo thời gian và giữa các nền vănhóa, một nhà nước nên khi giới hạn quyền thì phải chứng minh được việc giớihạn này là cần thiết để duy trì sự tôn trọng đối với các giá trị cơ bản của cộngđồng Thẩm quyền này thuộc về các quốc gia không áp đúng quy tắc cấmphân biệt đối xử theo quy định trong Công ước.

iv. An ninh quốc gia

An ninh quốc gia có thể được viện dẫn để biện minh cho các biện phápgiới hạn một số quyền chỉ khi chúng được thực hiện để bảo vệ sự tồn tại củaquốc gia hay toàn vẹn lãnh thổ của nó hoặc độc lập chính trị chống lại việc sửdụng vũ lực hoặc đe dọa vũ lực An ninh quốc gia không thể được viện dẫnnhư một lý do nhằm áp đặt những giới hạn để ngăn chặn những mối đe dọađến pháp luật và trật tự trong phạm vi hạn hẹp (địa phương, vùng, ) An ninhquốc gia không thể được sử dụng như là một lý do để áp đặt những giới hạn

mơ hồ hoặc tùy tiện và chỉ có thể được viện dẫn khi có biện pháp bảo vệ đầy

đủ và có biện pháp khắc phục hiệu quả chống lại sự lạm dụng Các hành vi viphạm có hệ thống các quyền con người làm tổn hại an ninh quốc gia thật sự

và có thể gây nguy hiểm cho hòa bình và an ninh quốc tế Nhà nước chịutrách nhiệm về hành vi đó không được viện dẫn an ninh quốc gia như một sựbiện hộ cho các biện pháp sử dụng hành vi đàn áp chống lại dân chúng

v An toàn công cộng

An toàn công cộng được định nghĩa là bảo vệ chống lại sự nguy hiểmđối với sự an toàn của con người, đối với cuộc sống của họ hoặc toàn vẹn vềthể chất, hoặc thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của họ Sự cần thiết để bảo

vệ an toàn công cộng có thể biện minh cho những giới hạn quy định của phápluật Nó không thể được sử dụng để áp đặt giới hạn mơ hồ hoặc tùy tiện vàchỉ có thể được viện dẫn khi có biện pháp bảo vệ đầy đủ và có biện pháp khắcphục có hiệu quả chống lại sự lạm dụng

vi Các quyền và tự do của người khác

Ngày đăng: 09/11/2019, 20:38

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Albert P. Blaustein, Jay A. Sigler (2013), Các bản Hiến pháp làm nên lịch sử, Nxb Chính trị Quốc gia – Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các bản Hiến pháp làm nênlịch sử
Tác giả: Albert P. Blaustein, Jay A. Sigler
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia – Sự thật
Năm: 2013
12. Bùi Tiến Đạt (2015), “Hiến pháp hóa nguyên tắc giới hạn quyền con người: Cần nhưng chưa đủ”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, (Viện Nghiên cứu lập pháp), (5) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiến pháp hóa nguyên tắc giới hạn quyền conngười: Cần nhưng chưa đủ”, "Tạp chí Nghiên cứu lập pháp
Tác giả: Bùi Tiến Đạt
Năm: 2015
13. Bùi Tiến Đạt (2018), “Nguyên tắc giới hạn quyền con người: ý nghĩa, nhu cầu giải thích và định hướng áp dụng”, Tạp chí nghiên cứu lập pháp, Khoa Luật - Đại học quốc gia Hà Nội, http://www.nclp.org.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyên tắc giới hạn quyền con người: ý nghĩa,nhu cầu giải thích và định hướng áp dụng”, "Tạp chí nghiên cứu lậppháp
Tác giả: Bùi Tiến Đạt
Năm: 2018
14. Nguyễn Tiến Đức, Nguyễn Thu Hương (2014), “Bảo lưu điều ước quốc tế về quyền con người”, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, (Viện Nhà nước và Pháp luật), (12), tr.5-74, 84 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo lưu điều ước quốctế về quyền con người”, "Tạp chí Nhà nước và Pháp luật
Tác giả: Nguyễn Tiến Đức, Nguyễn Thu Hương
Năm: 2014
15. Trần Ngọc Đường (2016), “Đánh giá việc thể chế hóa quyền con người, quyền công dân trong các bộ luật, luật đã được ban hành theo tinh thần và nội dung mới của Hiến pháp năm 2013”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, (Viện Nghiên cứu lập pháp), (19), kỳ 1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá việc thể chế hóa quyền con người,quyền công dân trong các bộ luật, luật đã được ban hành theo tinh thầnvà nội dung mới của Hiến pháp năm 2013”, "Tạp chí Nghiên cứu lậppháp
Tác giả: Trần Ngọc Đường
Năm: 2016
16. Trần Ngọc Đường (2016), “Thực trạng và nhu cầu giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh ở Việt Nam”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, (Viện Nghiên cứu lập pháp), (14), tr.3-7, 43 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng và nhu cầu giải thích Hiến pháp,luật, pháp lệnh ở Việt Nam”, "Tạp chí Nghiên cứu lập pháp
Tác giả: Trần Ngọc Đường
Năm: 2016
17. Trần Ngọc Đường (2016), Bộ tiêu chí đánh giá sự phù hợp Hiến pháp năm 2013 về quyền con người, quyền công dân (bản dự thảo), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ tiêu chí đánh giá sự phù hợp Hiến phápnăm 2013 về quyền con người, quyền công dân (bản dự thảo)
Tác giả: Trần Ngọc Đường
Năm: 2016
18. Nguyễn Võ Linh Giang, Khoa Luật- ĐH Cần Thơ, Cơ chế bảo vệ và thúc đẩy quyền con người và một số kiến nghị, https://thegioiluat.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ chế bảo vệ vàthúc đẩy quyền con người và một số kiến nghị
19. Vũ Công Giao (2013), “Các cơ quan giám sát độc lập trên thế giới”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, (Văn phòng Quốc hội), (2+3), tr.117-124 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các cơ quan giám sát độc lập trên thế giới”,"Tạp chí Nghiên cứu lập pháp
Tác giả: Vũ Công Giao
Năm: 2013
20. Vũ Công Giao (2017), Vấn đề hạn chế quyền con người trong pháp luật các quốc gia trên thế giới, Tham luận Hội thảo khoa học: “Nguyên tắc hạn chế quyền con người, quyền công dân theo Hiến pháp năm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề hạn chế quyền con người trong phápluật các quốc gia trên thế giới
Tác giả: Vũ Công Giao
Năm: 2017
21. Vũ Công Giao, Lê Thị Thúy Hương (2014), Nguyên tắc giới hạn quyền con người, quyền công dân trong Hiến pháp năm 2013, trong cuốn“Bình luận Khoa học Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam năm 2013”của Viện Chính sách công và Pháp luật, Nxb Lao động – Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyên tắc giới hạn quyềncon người, quyền công dân trong Hiến pháp năm 2013", trong cuốn“Bình luận Khoa học Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam năm 2013
Tác giả: Vũ Công Giao, Lê Thị Thúy Hương
Nhà XB: Nxb Lao động – Xã hội
Năm: 2014
22. Lê Hồng Hạnh (2015), “Làm thế nào để Tòa án, thẩm phán độc lập trong thực thi công lý”, Tạp chí Pháp luật và Phát triển, (Hội luật gia Việt Nam), (1), tr.44-47 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Làm thế nào để Tòa án, thẩm phán độc lậptrong thực thi công lý”, "Tạp chí Pháp luật và Phát triển
Tác giả: Lê Hồng Hạnh
Năm: 2015
23. Phạm Hồng Hạnh (2015), “Pháp luật và thực tiễn Việt Nam về bảo lưu điều ước quốc tế”, Tạp chí Luật học, trường Đại học Luật Hà Nội, (12), tr.24-31 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp luật và thực tiễn Việt Nam về bảo lưu điềuước quốc tế”, "Tạp chí Luật học
Tác giả: Phạm Hồng Hạnh
Năm: 2015
24. Nguyễn Văn Hiển - Trương Hồng Quang (Đồng chủ biên) (2018), Sách chuyên khảo: Nguyên tắc giới hạn quyền con người, quyền công dân theo Hiến pháp năm 2013, Nxb Tư pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyên tắc giới hạn quyền con người, quyền công dântheo Hiến pháp năm 2013
Tác giả: Nguyễn Văn Hiển - Trương Hồng Quang (Đồng chủ biên)
Nhà XB: Nxb Tư pháp
Năm: 2018
25. Nguyễn Văn Hiển (chủ nhiệm) (2017), Nguyên tắc về quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong Hiến pháp năm 2013 và những vấn đề pháp lý đặt ra, Đề tài NCKH cấp Bộ, Bộ Tư pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyên tắc về quyền con người,quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong Hiếnpháp năm 2013 và những vấn đề pháp lý đặt ra
Tác giả: Nguyễn Văn Hiển (chủ nhiệm)
Năm: 2017
26. Nguyễn Văn Hiển, Trương Hồng Quang (2017), “Hoạt động thẩm định dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật của Bộ Tư pháp về quyền con người”, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, (2), tr.3-7, 13 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoạt động thẩm địnhdự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật của Bộ Tư pháp về quyềncon người”, "Tạp chí Nhà nước và Pháp luật
Tác giả: Nguyễn Văn Hiển, Trương Hồng Quang
Năm: 2017
27. Đoàn Thị Bạch Liên (2017), “Một vài kiến nghị về Pháp lệnh của Ủy ban Thường vụ Quốc hội hiện nay”, Tạp chí Quản lý Nhà nước, Học viện Hành chính quốc gia, (6), tr.38-41 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một vài kiến nghị về Pháp lệnh của Ủyban Thường vụ Quốc hội hiện nay”, "Tạp chí Quản lý Nhà nước
Tác giả: Đoàn Thị Bạch Liên
Năm: 2017
28. Hoàng Thế Liên (chủ nhiệm) (2016), Nghiên cứu xây dựng bình luận khoa học về Hiến pháp năm 2013, Đề án NCKH cấp Bộ, Bộ Tư pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu xây dựng bình luận khoahọc về Hiến pháp năm 2013
Tác giả: Hoàng Thế Liên (chủ nhiệm)
Năm: 2016
29. Đinh Văn Mậu (1995), “Những căn cứ cần có để phân định quyền lập pháp và quyền lập quy”, Tạp chí Luật học, trường Đại học Luật Hà Nội, (5), tr. 10-16 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những căn cứ cần có để phân định quyền lậppháp và quyền lập quy”, "Tạp chí Luật học
Tác giả: Đinh Văn Mậu
Năm: 1995
31. Hoàng Văn Nghĩa (2014), “Một số vấn đề lý luận về nhà nước pháp quyền và giá trị tham khảo đối với Việt Nam”, Tạp chí Lý luận chính trị, Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh, (2), tr.49-54 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề lý luận về nhà nước phápquyền và giá trị tham khảo đối với Việt Nam”, "Tạp chí Lý luận chính trị
Tác giả: Hoàng Văn Nghĩa
Năm: 2014

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w